Category Archives: Nhân Sự

Ai Nên Là Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh – Bài 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

10-5-2017

1) Nguyễn Thiện Nhân:

Sáng nay người dân cả nước biết tin qua phương tiện truyền thông đại chúng ai đã được Trung Ương cử vào thay thế Ông Đinh La Thăng làm Bí Thư Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc cử như thế lần đầu tiên cho thấy yếu điểm của các quy định nghiêm ngặt về tổ chức nhân sự của Trung Ương Đảng; theo đó, Bí Thư Hà Nội và Bí Thư Thành phố Hồ Chí Minh phải đồng thời là Ủy Viên Bộ Chính Trị và là Nghị Sĩ, thay vì lẽ ra nên là: Bí Thư Hà Nội và Bí Thư Thành phố Hồ Chí Minh ai lập được công trạng rõ nét tại nơi trấn nhậm sẽ được đưa vào Bộ Chính Trị.

Người vừa được đưa vào làm Bí Thư Thành phố Hồ Chí Minh là Ông Nguyễn Thiện Nhân, một kẻ bất tài vô dụng đối với toàn bộ các chức vụ trước đó. Đây là một sự thật mà bảo đảm không bất kỳ ai có thể phản bác lại được với những chi tiết công trạng cụ thể.

Điều hý hước ở đây là ngay khi đăng tin online thì nội dung loan báo đã bị cắt xén, bỏ hẳn những chi tiết nêu các phát biểu nào của ông ta mà truyền thông cho là quan trọng có thể làm tăng giá trị của ông ta về lĩnh vực giáo dục. Có thể nhận ra sự quẩn quanh quanh quẩn chẳng ra chi giữa một bên là những phát biểu nặng tình với giáo dục và một bên là những thất bại trong lãnh đạo ngành giáo dục của chính người phát biểu, tờ báo mạng ấy đã nhanh tay chùi vết tích để không bị cho là “nịnh bợ”. Hóa ra Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ có thể có một bản ghi những chức vụ từng nắm giữ mà thôi

NTN

trong khi các phát ngôn của ông mà vài tờ báo tôn vinh thành từng cột nhỏ như trên lại cho thấy sự giễu cợt vì:

– Phát Ngôn Nổi Bật 1: “Chúng ta phải chịu đau”: Chúng ta là ai? Sao lại lôi người dân vào “chịu đau” ? Và đã “bước xa hơn” đến đâu rồi?

– Phát Ngôn Nổi Bật 2: “Đoàn kết” với người “có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân” được cụ thể hóa ra sao và đã có những kết quả cụ thể như thế nào để chứng minh? Và việc Mặt Trận Tổ Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh đã theo lịnh của ai để tổ chức cài người vào buổi tiếp xúc cử tri của một ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV ngoài Đảng nhằm vu khống bôi nhọ để cho ra kết quả như ý của Mặt Trận thì đó có phải là “đoàn kết” kiểu Nguyễn Thiện Nhân hay không?

– Phát Ngôn Nổi Bật 3: Hóa ra cái người dân cần là đến năm 2020 thì số liệu thống kê chính xác về mức độ hài lòng của họ đối với cơ quan hành chính công quyền sẽ là mấy phần trăm ư? Chỉ có trí hóa tối tăm đần độn mới không biết rằng cái người dân muốn là liệu năm 2020 Việt Nam có sánh bằng Singapore chưa, có giành giật lại được đảo nào trong số các đảo đã bị chiếm đoạt ở Biển Đông chưa, cũng như… người ngoài Đảng “có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân” có đã được cái sự “đoàn kết” đưa vào nắm quyền lực trị chính để làm các Bộ Trưởng và nắm các tập đoàn nhà nước chưa, v.v. và v.v.

2) Vấn Nạn Thành phố Hồ Chí Minh:

Đối với một địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh vướng phải năm tiêu cực nghiêm trọng gồm:

a) Có những vụ khiếu tố kéo dài từ thập kỷ trở lên chứng minh từ 30-4-1975 đến nay đã chưa từng có Bí Thư Thành Ủy nào và Chủ Tịch nào của Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc thực sự giải quyết các khiếu tố đó – thậm chí có vị tối cao còn quẳng ra một câu phát ngôn vô thưởng vô phạt để rồi cả chính quyền thành phố khiếp vía không ai dám nhúc nhích, bỏ mặc cho gia đình của một cựu tướng lĩnh tài ba của cách mạng thời Chiến Tranh Đông Dương và Giải Phóng Miền Nam phải ngậm đắng nuốt cay hàng chục năm để bảo vệ thanh danh của Đảng (việc này Trưởng/Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh biết rất rõ: không cho phép lên lầu đáp ứng nhu cầu nhân khẩu gia tăng, chỉ vì sợ che mất tầm nhìn khoáng đãng của lãnh đạo tối cao ở biệt thự được cấp phía sau);

b) Có những nhân sự trong guồng máy chính quyền – kể cả Thành Ủy – chưa từng nêu gương sáng bất kỳ – trừ Ông Lê Mạnh Hà;

c) Không có sẵn lực lượng nhân sự đức tài nhưng luôn khoái lập các đại dự án như “chính quyền đô thị”, “xây dựng các Thành Phố Bắc/Thành Phố Nam/Thành Phố Đông/Thành Phố Tây” – bất kể không có tiền và bản thân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải co cụm lại vì ngập sau 20 năm nữa, “cơ chế đặc thù”, v.v. và v.v., mà dự án nào cũng tốn nhiều tỷ đồng cho chi phí soạn thảo, nếu có được trung ương phê duyệt thì chỉ là tạo thời cơ cho tham nhũng bòn rút tư lợi mà thôi;

d) Hạ tầng khủng khiếp: cái hào nhoáng của cao ốc sang trọng bị làm cho tắt ngúm bởi quy hoạch hỗn độn, bởi kẹt xe hỗn loạn bất kể thời gian và thời tiết, cũng như bởi sự hổn láo của một bộ phận quan chức/công chức/viên chức chuyên vòi vĩnh quan liêu đối với một bộ phận người dân và của một bộ phận người dân đối với một bộ phận quan chức/công chức/viên chức chuyên quan liêu vòi vĩnh – mà “bộ phận” nào cũng không hề nhỏ; và

e) Thói quen cục bộ chủ nghĩa, địa phương chủ nghĩa, anh em chủ nghĩa, vốn là mồi nhóm phát bùng cho lợi ích nhóm, nên chính quyền sẽ vui vẻ “vầy đoàn” “kết đoàn” với vị Bí Thư Thành Ủy nào xuất thân người Miền Nam và/hoặc đã có thời gian anh em hữu hảo đỡ nâng vui vầy ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh.

3) Giải Pháp Lê Mạnh Hà:

Vướng các tiêu cực trên, Thành phố Hồ Chí Minh cần một nhân vật như Ông Lê Mạnh Hà để thực sự đi lên.

Những điểm nổi bật của Ông Lê Mạnh Hà bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – những khái quát sau mà người dân đã biết quá rõ và có thể thẩm tra đễ dàng độ chính xác bằng các phương tiện thông minh:

 Le Manh Ha

a- Ông thuộc giòng dõi tinh hoa chính trị thực sự mà trong nguồn lực mạnh nhất của Đảng hiện nay chỉ có duy nhất hai người là ông và ông Nguyễn Thanh Nghị mà thôi.

Tất nhiên, rất nhiều quan chức cấp cao hiện nay là hậu duệ của những quan chức cấp cao, nhưng họ không thể – hoặc chưa thể – là nguồn lực mạnh nhất của Đảng để kế thừa sự nghiệp lãnh đạo Đảng vốn đòi hỏi một cá nhân phải kinh qua nhiều chức vụ lãnh đạo Đảng và Chính Quyền ở các địa phương và trung ương. Đây là tiêu chuẩn mà các ông Phạm Bình Minh (chỉ ở ngành ngoại giao) và Nguyễn Chí Vịnh (chỉ ở quân sự) cùng nhiều người khác không đạt được.

b- Ông Lê Mạnh Hà xuất thân là sĩ quan quân đội, đã từng là thành ủy viên Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, Giám Đốc Sở Thông Tin – Truyền Thông Thành phố Hồ Chí Minh, và trở thành một vị “hàm thứ trưởng” với chức vụ Phó Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ. Như vậy, ông thực sự đáp ứng cái mà chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh luôn chỉ quan tâm đến, đó là: phải là “người” của Thành phố Hồ Chí Minh,

c- Là con trai Chủ Tịch Nước Lê Đức Anh, ông đã không cậy thế lực của cha để leo lên cao trên bước đường chính trị: vào thời điểm cha còn ở tột đỉnh quyền uy, ông chỉ là một chuyên viên, bắt đầu”làm quan” sau khi cha nghĩ hưu được 6 năm.

d- Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh sẽ hân hoan chào đón “anh bạn” Nguyễn Thiện Nhân, chứ không thể chấp nhận ông Lê Mạnh Hà vì ông Lê Mạnh Hà thời còn ở Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra tay “trảm tướng” khi phát hiện bất công tiêu cực trầm trọng, và chính ông đã gần như là vị lãnh đạo duy nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh công khai vạch ra các tì vết nghiêm trọng của công trình Rác Đa Phước mà chỉ có sự làm ngơ của lãnh đạo cao hơn ông cùng với sự điều chuyển ông ra nhận công tác khác ở trung ương mới khiến mãi đến 2017 mới có vụ thanh tra Đa Phước – chẳng qua mùi hôi nồng nặc của Đa Phước đã ngập ngụa không thể nào che giấu được những khu cao cấp “đáng sống” như Phú Mỹ Hưng.

Như vậy, chỉ có ông Lê Mạnh Hà mới “trị” được các đại quan tiêu cực ở Thành phố Hồ Chí Minh, làm họ run sợ, khiếp sợ.

Như vậy, chỉ có ông Lê Mạnh Hà mới bảo vệ được thanh danh của Đảng, bảo vệ được môi trường “đáng sống” của Thành phố Hồ Chí Minh.

Và trên hết, chỉ có ông Lê Mạnh Hà mới bảo vệ được người dân.

Nếu Đảng thực tâm muốn Thành phố Hồ Chí Minh thực sự cất cánh, Đảng chỉ còn một cách duy nhất là cử ông Lê Mạnh Hà vào làm Bí Thư Thành Ủy, bất kể ông chưa là Ủy Viên Bộ Chính Trị – m ột chức danh mà Trung Ương Đảng có thể dành cho ông sau hai năm thi thố thực quyền, thực uy tại Thành phố Hồ Chí Minh – và bất kể ông không là Nghị Sĩ – một chức danh lập pháp không thực sự tối cần thiết cho người nắm quyền bính vì chẳng hạn như Chủ Tịch Nước Trương Tân Sang gần như chẳng dự họp tổ thảo luận dự án luật với đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh bao giờ còn các ông bà Bí Thư/Phó Bí Thư Lê Thanh Hải và Nguyễn Thị Quyết Tâm thì thường xuyên bỏ họp ở Quốc Hội để về họp ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đưa ông Lê Mạnh Hà vào làm Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh là phục vụ 6 mục đích gồm

(a) vinh danh người thực sự là vốn quý của Đảng về đức tài để làm gương cho toàn Đảng,

(b) chứng minh Đảng thực sự linh động vì luôn xem Thành phố Hồ Chí Minh trên hết,

(c) chứng minh Đảng hiểu rõ tâm tư tình cảm của người dân Thành phố Hồ Chí Minh,

(d) chứng minh Đảng sáng suốt trong công tác nhân sự,

(e) chứng minh Đảng biết chuẩn bị lực lượng kế thừa lãnh đạo Đảng bằng cách giao trọng trách có định lượng cụ thể cho nhân sự ưu tú, và

(f) chứng minh Đảng không bao giờ xem một địa phương cực kỳ quan trọng cho nền kinh tế quốc dân như Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tạm trú cho một kẻ bất tài đã thất bại ở vai trò trước đó nay đến ẩn náu cho đến lúc về hưu.

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bầy hầy tầy huầy khi có Bí Thư Thành Ủy là Nguyễn Thiện Nhân. Đây là lời khẳng định chính xác, không bao giờ sai. Ngay cả khi Nguyễn Thiện Nhân có thành công thì tất nhiên là nhờ đọc bài viết này, tự thấy xấu hổ, ra sức sửa sai, không “vầy đoàn” cùng đoàn quân lãnh đạo tài ba cỡ Phan Nguyễn Như Khuê.

Ngoài Ông Lê Mạnh Hà, không bất kỳ đảng viên cao cấp nào của Đảng Cộng Sản Việt Nam dù ở Thành phố Hồ Chí Minh hay ở đâu chăng nữa có thể lãnh đạo thành công cho một Thành phố Hồ Chí Minh thành công.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Tham khảo:

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng February 8, 2016

Về thực quyền, thực uy November 26, 2013

Rác Rến February 28, 2017

Ai Nên Là Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Bài 1

 

Hoàng Hữu Phước, MIB

Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

09-5-2017

 

Đó là Ông Lê Mạnh Hà:

Le Manh Ha 

 

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

 

Ghi chú:

Kính mời đọc tiếp Bài 2: Tại Sao?

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-5-2017

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Việt Nam không ở Mặt Trời, cũng chẳng ở Mặt Trăng hay Cửu Tinh (Planet Nine, quay một vòng quanh Mặt Trời mất chẵn 7.300.000 ngày Trái Đất tức 20.000 năm Trái Đất).

Nếu ở Mặt Trời thì người Việt Nam ắt đã đem đến khái niệm về Người Lửa Fireman hoặc Người Chói Ablazeman mà Hollywood chưa kịp nghĩ ra để bổ sung cho đội ngũ các siêu anh hùng truyện tranh hùng hậu đã từng mê hoặc trẻ em cư dân Sài Gòn trước 1975 như Siêu Nhân Superman, Dơi Nhân Batman, Sắt Nhân Iron Man, X Nhân X-man, V Nhân V-man, Mật Nhân Mystery Man, Dẽo Nhân Plastic Man, Báo Nhân Leopardman, Phút Nhân Minute-man, và…Xanh Lè Nhân Hulk, v.v., bán chạy hơn tôm tươi hốt bộn bạc xây dựng nên siêu cường quốc Hoa Kỳ

Screen Shot 05-05-17 at 08.20 PM

Nếu ở Mặt Trăng thì thiên hạ các nước ắt đã hàng đêm bắt ghế ngồi ngoài sân nhìn lên trển để thấy người Việt đang ca hát Bolero và bắn pháo hoa.

Nếu ở Cửu Tinh thì lẽ nào NASA đến giờ vẫn chưa chịu công bố đã phát hiện sinh vật giống con người đang sống trển?

Việt Nam ở Địa Cầu. Không cần phản biện. Tất nhiên rồi.

Thế nhưng, mọi thứ nói về thế giới như một tổ hợp riêng biệt còn Việt Nam đứng trơ vơ trong lãnh địa khác sẽ hoàn toàn điên khùng.

Bài này, do đó, nói về Việt Nam trong một thế giới chung. Và bao giờ cũng là điều đúng đắn nếu nói về mình trước tiên, tránh vết xe dính đầy phân lợn của Hillary Clinton kẻ luôn hằng năm ủn ỉn sủa về tình hình “nhân quyền” của toàn thế giới – mà thế giới ấy hoàn toàn không có Mỹ nên hoàn toàn vắng tên Mỹ trong cái gọi là báo cáo nhân quyền khắp cõi ta bà ấy.

A- Việt Nam Trên Hết

Cũng vì là một thành tố của thế giới, Việt Nam đã bày ra bao việc cho giống với thế giới, chẳng hạn cố nhét các thuật ngữ “quyền con người” vào Hiến Pháp – thay vì ra uy dạy cho nhân loại biết họ đã xâm hại “quyền con người” của người Việt ra sao – và cố ấn cái gọi là “luật biểu tình” vào cái gọi là “món nợ với nhân dân” – thay vì xuất chiêu dạy cho nhân loại biết Việt Nam khoái ngợi ca phấn đấu trở thành như Singapore mà anh Singapopre thì trở thành cường quốc nhờ ảnh dám triệt để cấm “biểu tình”. Ngoài ra, Việt Nam sính “đi tắt đón đầu” – dù việc “đi tắt” của Việt Nam luôn luôn cho thấy là Việt Nam đi lạc đi lộn sau khi vượt chặn ở khúc quanh vì thiên hạ không ngu gì không quẹo chỗ khác để khỏi bị kẻ láu cá chặn đầu đón ngõ.

Tuy nhiên, Việt Nam đã không “đi tắt đón đầu”, để vuột cơ hội bá chủ ngôn từ vào tay Donald Trump, người đã phất cao ngọn cờ Nước Mỹ Trên Hết làm gương cho nhân loại noi theo.

Đáng tiếc hơn thế, Việt Nam Trên Hết chưa bao giờ được thốt lên bởi bất kỳ vị lãnh đạo chính trị hoặc trị chính nào, dù của các triều đại phong kiến, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay, vì (a) Việt Nam là tiểu nhược quốc và (b) lãnh đạo người Việt chẳng ai có đủ dũng khí và giọng tốt để hét lên câu nói hùng biện dù võn vẹn có mỗi 4 nốt nhạc này.

Việt Nam Trên Hết là khẩu hiệu của thứ đạo đức cao nhất và đạo lý cao nhất của mỗi người dân Việt có đạo đức cao nhất, mà lẽ ra đã luôn phải được thốt ra bằng miệng – kèm nắm đấm vung lên – bởi tất cả những ai ở cấp lãnh đạo quốc gia dù là của Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản.

Câu duy nhất trong toàn bộ lịch sử Việt Nam chất chứa toàn bộ khẩu khí của Việt Nam Trên Hết chính là: Việt Nam Trên Hết.

Việt Nam Trên Hết chỉ bị những kẻ hoặc kém hiểu biết hoặc gian tà cho là mang ý nghĩa cực đoan, chống toàn cầu hóa.

Thậm chí, dù chẳng bao giờ xem Việt Nam Trên Hết để làm Việt Nam đẹp hơn, sạch hơn, giỏi hơn, trí tuệ hơn, trí hóa hơn, văn minh hơn, một số người chỉ cần nghe phong phanh gì đó láo xạo là đã sẵn sàng ra tay động thủ đánh đập tóe máu người nước ngoài nào bị cho là đang chưởi Việt Nam, hoặc xúm lại ném đá người nước trong nào bị Báo Xạo Fake News chính thống của Việt Nam cho là đã mắng  dân Việt Nam có dân trí thấp.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (2)

Chính bởi là một thành tố tạo nên thế giới, Việt Nam nhất thiết phải có slogan “Việt Nam Trên Hết” treo trước cửa theo mô hình Nước Mỹ Trên Hết do Donald Trump khởi xướng, nếu không muốn trở thành đơn độc lẻ loi không ai giống trong một thế giới mà ai cũng khôn khéo sử dụng chiêu bài toàn cầu hóa để phục vụ một mục đích duy nhất: dụ dỗ những nước nhược tiểu ngu muội mà số lượng ngày càng vơi đi thảm hại.

“Tên Quốc Gia + Trên + Hết” là công thức tu từ hiện đại mà Donald Trump đặt ra hầu khống chế tư duy chính trị toàn nhân loại, bắt đầu từ năm 2017 cho đến năm 2199 tức đến hết Thế Kỷ XXII nếu vào thời điểm đó vẫn chưa xảy ra cuộc di dân đến Hỏa Tinh Mars để bắt đầu cuộc sống mới của những cư dân đầu tiên trong môi trường thế giới cộng sản đại đồng Toàn Hỏa Hóa marsalization của Hỏa Tinh thay thế cho cái Toàn Cầu Hóa globalization của Địa Cầu.

B- Đinh La Thăng

Trong đất nước Việt Nam Trên Hết ấy không thể không ưu tiên nói đến Đinh La Thăng, và những điều sau nhất thiết phải được phân tích để phục vụ một Việt Nam Trên Hết.

1) Gương Trảm:

Ông là một tấm gương trị chính đặt vun những bệ đá đầu tiên cho nền trị chính Việt Nam, một đất nước có vô số “chính khách” mà những đấng này

a) thường lầm tưởng hễ là đảng viên Đảng Cộng Sản tức một đảng chính trị hợp hiến hợp pháp thì tức là bản thân tự động đương nhiên đang “làm chính trị” tức là “chính khách”;

b) dù vậy vẫn không dám công khai nhận mình là “chính khách” hay “làm chính trị” vì không muốn bị Đảng hiểu lầm mình đã xa rời thân phận tuyệt đối trung thành với Đảng để ngang hàng với Đảng;

c) cũng vì vậy mà ngay cả khi đã trở thành nghị sĩ vẫn không dè mình đã chính thức mang thân phận “chính khách” hay “làm chính trị” theo tiêu chuẩn hàn lâm thực tế thực hành thế giới;

d) mà cũng vì vậy mà dù là đảng viên cao cấp trong Quốc Hội hay Chính Phủ vẫn không sẵn có tự thân đủ đầy kiến thức chính trị (kiến thức chính trị không phải là hiểu biết thuộc nằm lòng chủ nghĩa cộng sản, nhuyễn nhuần các bài soạn của tuyên giáo để đạt trình độ cao cấp lý luận chính trị vốn chỉ để dùng nói chuyện thời sự với “đại cử tri” chứ không để hùng biện trực tiếp trực diện với dân chúng và với kẻ thù; mà là kiến thức tổng hợp về tất cả các lĩnh vực có liên quan thuộc các hệ thống chính trị khác nhau ở các nước chính trị khác nhau vận hành guồng máy chính trị khác nhau) cùng năng lực và kiến thức trị chính (tức tất cả các kiến thức có liên quan đến quản trị đời sống quốc gia bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – luật pháp, tư bản, kinh tế, sản xuất, kinh doanh, đầu tư, an ninh, quốc phòng, giáo dục, tôn giáo, v.v. và v.v.); và

e) do tất cả những đặc thù không rõ ràng được nêu rõ ràng ở trên, chỉ có thực quyền duy nhất trong tuyển dụng nhân sự ở cơ quan và quyết định chi tiêu ở cơ quan chứ không ai có bất kỳ thực uy nào để thi thố trừ việc ra uy xử bức cấp dưới nào dám chống các tiêu cực tiền bạc của mình, dám từ chối không thực hiện các thương vụ của riêng mình, hoặc dám sở hữu năng lực và trí tuệ có thể đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của mình.

Trước thực tế trầm kha trên, Đinh La Thăng đã xuất hiện như một điển hình của một chính khách đầu tiên có cả thực quyền và thực uy khi trảm tướng mà không sợ tướng ấy là con cái/thuộc hạ của đại nguyên soái nào, ngay cả khi trong tay không hề có thượng phương bảo kiếm để tiền trảm hậu tấu.

2) Công Bộc Chơi Cha:

Đinh La Thăng khi trảm tướng đã nêu bật một chân lý của muôn đời mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã chưa từng quan tâm áp dụng là

(a) luật pháp về phúc lợi xã hội là dành cho dân chúng chứ không dành cho công-bộc-của-dân tức quan chức/công chức chính quyền; do đó

(b) quan chức/công chức chính quyền phải quyết tâm bảo đảm luật pháp lao động được thực thi cho người dân chứ không phải quyết liệt đòi bản thân quan chức/công chức được luật pháp lao động bảo vệ; tương tự,

(c) những sai phạm của quan chức/công chức nhất thiết phải bị trừng trị ngay, xử lý ngay, gông cổ ngay, xử tội nghiêm khắc nhất ngay, vì liên quan đến an bình của dân chúng và an nguy của thể chế, không thể phải trải qua các bước quy trình luật pháp dân sự vốn chỉ áp dụng để xử lý sai phạm của dân chúng.

3) Định Nghĩa Lãnh Đạo:

Một lãnh đạo không dám trảm tướng chỉ có nghĩa

(a) đó không phải là lãnh đạo mà chỉ là hình nộm được đặt lên để thực hiện các mệnh lệnh của nhóm lợi ích,

(b) đó là lãnh đạo có tì vết trên cả nghiêm trọng trong quá khứ mà các tướng do biết rõ nên sẽ không có lãnh đạo nào dám trảm,

(c) đó không là người leo lên ghế lãnh đạo nhờ tài năng cá nhân mà do chạy chức chạy quyền nên phải cố bám ghịt lấy ghế bằng mọi giá kể cả làm ngơ không bao giờ trảm ai cả, hoặc

(d) đó là lãnh đạo lo chăm chỉ kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền trong suốt nhiệm kỳ nên để yên cho người khác cùng vầy đoàn kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền cho đông vui khí thế, v.v.

Như một nhà lãnh đạo thực thụ, Đinh La Thăng đã trảm tướng và những phát hiện cùng cáo buộc gần đây đối với Đinh La Thăng mới được hé lộ lại cho thấy sự nghiêm trọng cơ bản nhất lại không phải về “tiêu cực” hay “lam nhem tài chính” có thể có của Đinh La Thăng – vì việc trảm tướng cho thấy dường như Đinh La Thăng không có tiêu cực gì để che dấu hay để kẻ bị trảm moi ra trả thù – mà là một vấn nạn khác nguy hại hơn tỷ lần, liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam.

C- Đảng Cộng Sản Việt Nam

Như đã viết chi tiết trong một bài trước đây về các vũ khí dũng mãnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đinh La Thăng chỉ là một cái tên để đặt cho vấn nạn nhụt cùn của các vũ khí từng là bách chiến bách thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà đỉnh điểm bất tài vô dụng Việt Nam thời hiện đại đang gánh chịu là Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Nếu thực sự Đinh La Thăng đã có những sai phạm nghiêm trọng về tài chính từ trước khi trở thành bộ trưởng, phải chăng Trung Ương Đảng đã hoặc (a) muốn bao che cho Đinh La Thăng vì “đồng bệnh tương lân”, hoặc (b) tuân lệnh Bộ Chính Trị ém nhẹm các nội dung nhạy cảm, hoặc (c) cung cách làm việc đặc thù của Trung Ương Đảng là chưa ra tay nếu như ngân khố quốc gia từ tiền thuế của dân chưa bốc hơi đủ chẳn số nhiều chục ngàn tỷ, hoặc (d) chính Trung Ương Đảng mù quáng mặc định cho rằng đã là nhân sự lãnh đạo của Đảng tất nhiên tự động tài ba tự động liêm chính tự động là học trò giỏi của lãnh tụ Hồ Chí Minh, hoặc (e) Trung Ương Đảng không có – hoặc không dám – giám sát cán bộ cấp cao, hoặc (f) Trung Ương Đảng sợ bị vạch mặt tố cáo tham nhũng bởi những cán bộ cấp cao mà Trung Ương Đảng muốn xử tội tham nhũng nên cứ nấn ná cho đến lúc tầy huầy tanh bét sụp đổ vô phương cứu vãn trước công luận, và hoặc (g) Trung Ương Đảng quá tin tưởng vào Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam?

Do Việt Nam là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của thế giới, Đảng Cộng Sản Việt Nam đương nhiên cũng là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của chính trị thế giới, mà những tư vấn sau đây của tác giả bài viết này dứt khoát là những việc cực kỳ bình thường được áp dụng bởi nhân loại nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa hề được bất kỳ đảng viên cộng sản nào tư vấn tương tự khiến Đảng cứ bị ô danh một cách tự nguyện:

1) Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam:

Đinh La Thăng nếu phạm tội nghiêm trọng thì vì sao vẫn được Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử Quốc Hội trở thành nghị sĩ Khóa XI, XIII, XIV?

Phải chăng cụm công việc duy nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là

(a) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm theo dõi nhân sự của Đảng từ lâu trước đó để khi đúng thời điểm thì giới thiệu “đảng tài” (tức đảng viên tài, trên cả nhân tài hay hiền tài) cho Đảng và Quốc Hội những ứng cử viên tài đức ấy hoặc cản ngăn những ứng cử viên đảng viên bất tài hoặc vô đức hoặc bất tài vô hạnh mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nắm rõ;

(b) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm kiểm tra thẩm tra khẩn trương kiểu nước tới chân mày mới nhảy nghĩa là vào một hai tuần trước kỳ bầu cử hễ “trên gởi gắm” đảng tài nào thì Mặt Trận sẽ tích cực “giới thiệu” ngay chính đảng tài ấy cho Quốc Hội như những ứng cử viên tài đức vẹn toàn có hồ sơ cá nhân mỹ miều, và

(c) sau bầu cử Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp thì thư giản nghỉ ngơi chờ mỗi năm hai lần tổ chức tổng hợp ý kiến cử tri để Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc ra Quốc Hội thong thả đọc với giọng nhừa nhựa gây buồn ngủ phi-hùng-biện trong 45 phút hoặc mỗi năm chờ có thiên tai thì tổ chức xin tiền doanh nghiệp để đi cứu trợ?

Những người dân công chính ắt có ước mong lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam công khai những công việc thành tựu quan trọng nào đó mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã thực hiện vì không muốn chỉ khi lãnh đạo Mặt Trận hoặc qua đời hoặc bị tố tham nhũng mới kinh ngạc thấy báo chí chính thống liêt kê ngất ngút tràn ngập ngợi ca công đức công trạng công lao người quá cố hay kẻ phạm tội.

Trước thực tế về sự vô dụng của một tổ chức chính trị của Đảng mà hàng năm Quốc Hội phải thông qua lượng ngân sách khổng lồ cho hoạt động nhàn cư nhàn nhã nhàn hạ nhàn rổi của , nhưng lại vô trách nhiệm giới thiệu vào hàng ngũ nghị sĩ những kẻ như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Châu Thị Thu Nga, Vũ Huy Hoàng, v.v., và nay làm Đảng phải muối mặt xử lý vụ đầy tranh cãi của nghị sĩ Đinh La Thăng vốn cũng là một trong những người mà Mặt Trận hoan hỷ giới thiệu; đặc biệt là

Trước thực tế những tầy huầy lộ liễu đầy tì vết của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Cần Thơ, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Hà Tĩnh, v.v., về “giới thiệu nhân sự” cho Quốc Hội Khóa XIV, thậm chí có Phó Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nghị sĩ Nguyễn Thị Nguyệt Hường lại chối bỏ tổ quốc Việt Nam để ôm của cải ra làm công dân đảo quốc nọ đã làm lộ rõ sự bất tài vô dụng của chính vị Ủy Viên Bộ Chính Trị Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam;

Trước thực tế bất tài, thiểu năng, vô dụng của lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Bình Dương, Nghệ An, v.v., đối với các vụ “biểu tình” gây rối và bạo loạn, đặc biệt của giáo dân vốn là đối tượng dân vận của Mặt Trận Tổ Quốc;

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

i– Sa thải và cách chức Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở những tỉnh thành đã thất bại trong cả hai nhiệm vụ “giới thiệu ứng cử viên” Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp, và công tác dân vận địa phương.

ii- Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, từ nay có quy định trách nhiệm cụ thể nếu để xảy ra việc giới thiệu ứng viên bất tài vô hạnh và để xảy ra “biểu tình” bạo loạn ở địa phương.

iii– Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, theo đó sẽ không bao giờ dựa vào đảng tịch, chấm dứt quy định quái gỡ Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam phải là Ủy viên Bộ Chính Trị chỉ để ngồi cho đủ mặt trong Bộ Chính Trị, nghĩa là từ nay trao các chức vụ cao nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành cho những công dân yêu nước có đủ đức tài, dám nhận và chịu trách nhiệm đối với các chức năng nhiệm vụ của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, bất kể đó là người ngoài Đảng hay là đảng viên bình thường mà cả hai xuất thân này đương nhiên không bao giờ là Ủy viên Bộ Chính Trị vì chẳng có việc gì để làm trong Bộ Chính Trị.

iv– Ban Bí Thư Trung Ương Đảng phải đổi mới tư duy, không thể đem áp dụng vào Thế Kỷ XXI này lề lối tư duy những nhà cách mạng Thế Kỷ XIX trong dụng nhân và trách nhiệm, nghĩa là từ nay phải sử dụng đúng nhân sự trên cơ sở đức tài (luôn định lượng cực kỳ cụ thể được) chứ không trên cơ sở quá trình tu dưỡng chính trị (chỉ có thể định tính), và trách nhiệm từ nay là của chính Ban Bí Thư chứ không phải luôn là của cấp thừa hành mỗi khi xảy ra sai sót phải thi hành kỹ luật.

2) Truyền Thông Chính Thống Việt Nam:

Truyền thông chính thống của Việt Nam từ ngày Giải Phóng Miền Nam đến nay chưa hề có bất kỳ công trạng nào để chứng tỏ bản thân nó chính là công cụ tuyên truyền hiệu quả của Đảng, như minh chứng qua sự thật rằng đạo đức xã hội ngày càng suy vi, ổn định tư tưởng xã hội ngày càng xa vời, v.v.

Như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã từng nêu trong vài bài viết trước đây, chưa bao giờ truyền thông đưa được bất kỳ gương sáng thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần nào của bất kỳ quan chức cao cấp nào, mà chỉ thỉnh thoảng nêu vài tin về tài xế nào đó tiết kiệm xăng cho cơ quan, hay nhân viên cấp thấp nào đó trả lại tiền thừa của khách để quên, hoặc người dân thấp cổ bé miệng nào đó sống đời đạo hạnh đạo đức vì đạo lý, v.v., cứ như thể thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần là những đức tính chỉ của người thường dân chứ không hề được phép có nơi tầng lớp lãnh đạo vậy.

Ấy vậy mà mỗi khi có một chức sắc cấp cao nào đó bị vướng tiêu cực là đột nhiên báo chí làm dân chúng sững sốt ngạc nhiên khi đầu tư tâm huyết viết bài về những bí mật quốc gia tức là về cái “đạo đức” nào đó và cái “tài năng” nào đó mà vị chức sắc ấy đã từng lén thi thố (chỉ cho nhà báo biết) thật nhiều năm trước khi bị tố, rồi báo chí kêu gọi phải xét công-tội phân minh. Hóa ra cái tốt của một đảng viên tinh hoa chính trị chức sắc cấp cao là thông tin tối mật của truyền thông, mà nếu chức sắc ấy đừng bị tố thì thông tin sẽ mãi là bí mật để rồi một nhà báo nào đó sẽ viết thành sách dày cộm hốt bạc khi vị chức sắc ấy về với tổ tiên, trong đó nhà báo tác giả sẽ khoe chính mình là người gần gũi nhất, hiểu biết nhất, được nghe nhiều lời tâm sự thiết tha nhất của đấng đức tài quá cố ấy của Đảng.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

FAKE NEWS của truyền thông chính thống Việt Nam là một sự thật – như đã từng được chứng minh cụ thể qua việc truyền thông chính thống ấy đã từng nhét chữ vào mồm Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước bảo rằng chính ông ta mắng dân Việt Nam “dân trí thấp” nhằm hỗn láo gây áp lực tống cổ ông ấy ra khỏi Quốc Hội, hoặc qua các tầy huầy gần đây của truyền thông làm nhục Đảng qua các hành vi “tác nghiệp” đẻ ra toàn FAKE NEWS của bọn chúng. Vì vậy, nhất thiết Đảng phải hoặc dày công chấn chỉnh giáo dục lại truyền thông hoặc đơn giản sa thải các lãnh đạo của truyền thông nào bá láp bất tài vô dụng, rồi giao việc quản lý truyền thông cho thế lực mới của Đảng trong thời đại mới như nêu ở phần 5 dưới đây.

3)  Lãnh Đạo Việt Nam Về Chính Trị:

Đảng đã hoàn toàn đúng trong Thế Kỷ XX khi lãnh đạo chính trị giữ vai trò quyết định tuyệt đối và lãnh đạo chính trị cũng phải đồng thời là lãnh đạo trị chính.

Đảng đã không còn đúng trong Thế Kỷ XXI do lãnh đạo chính trị thời đại hiện nay nhất thiết phải chỉ về chính trị (thể chế quốc gia và ngoại giao) cùng vài thiết chế liên quan đến an ninh quốc phòng và an ninh tiền tệ, mà không là kiêm lãnh đạo trị chính – tức trị quốc – trên tổng thể. Điều này được lý giải trong phần 4 dưới đây.

Hậu quả nhãn tiền của việc không tự điều chỉnh các quy trình ngay từ đầu Thế Kỷ XXI là ngày càng nhiều đảng viên cấp cao được giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp nhà nước khổng lồ đã trở thành tội phạm làm tan nát các doanh nghiệp ấy. Còn Nghị Quyết Trung Ương Đảng 4 Khóa XII đã phải nêu rằng:

“…Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục…”

Điều này mặc nhiên thừa nhận sự thất bại trong choàng gánh việc trị chính tức trị quốc đối với những lĩnh vực chỉ dành riêng cho sự quản trị của những chuyên gia thực thụ, vì rằng sự bổ nhiệm những đảng viên cấp cao “choàng gánh” việc quản lý những lĩnh vực phát triển kinh tế-kinh doanh, xao nhãng phần quản lý “chính trị” tất nhiên dẫn đến nhận định cũng trong Nghị Quyết ấy rằng:

“… Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm…”

4) Quản Trị Việt Nam Về Trị Chính:

Xây một chiếc cầu mới hay sửa một chiếc cầu cũ: Đảng lẽ nào xăng tay áo lên lao động đích thân xây sửa, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Dạy tiếng Anh lẽ nào phải do Đảng đích thân giảng dạy, không chấp nhận đó là việc của các giảng viên chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc lắp ráp điện thoại di động hoặc thiết bị vệ sinh lẽ nào phải do Đảng đích thân lắp ráp, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc cứu nạn hay cứu hộ hoặc bắt giữ tội phạm gián điệp lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những công dân ngoài Đảng hào hiệp qua đường mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc giải phẩu thay gan lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những bác sĩ phẫu thuật chuyên gia ghép tạng ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Tất cả các chương trình cải cách giáo dục – kể cả cái dự án cải cách đang được soạn thảo – dứt khoát sẽ thất bại tuyệt đối như nhiều chục năm qua, đơn giản vì các dự án tiền tỷ ấy luôn được giao cho cùng một đội ngũ ngu xuẩn gồm chỉ các giáo sư tiến sĩ đảng viên cao cấp, hoàn toàn không có sự tham gia tư vấn chuyên nghiệp và tham gia soạn thảo chuyên nghiệp của những công dân ngoài Đảng có tri thức cao về chương trình giáo dục.

Đời sống xã hội rõ ràng có vô số những câu hỏi như thế cho vô số các hoàn cảnh, các yêu cầu, các lĩnh vực – kể cả lĩnh vực trị chính tức trị quốc – , v.v., mà phải có bàn tay của những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm.

Tất cả các Bộ trong guồng máy trị chính quốc gia như Kinh Tế, Công Thương, Kế Hoạch Đầu Tư, Giáo Dục, Y Tế, và Nội Vụ, cũng như tại các tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ có thể góp phần xây dựng Việt Nam thành cường quốc nếu được lãnh đạo bởi những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm, chứ không phải bởi các đảng viên cao cấp có bằng cấp tiến sĩ mà Đảng đã đặt để vào những chiếc ghế lãnh đạo cấp cao.

Một chân lý không bất kỳ ai có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị có thể phản bác lại được là: vĩnh viễn không bao giờ có chuyện Việt Nam trở thành cường quốc nếu lãnh đạo các cơ quan trên luôn phải là các đảng viên cao cấp của Trung Ương Đảng.

Đảng là để hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các đường lối ấy. Đảng dứt khoát phải giao việc định hướng/kiểm tra/giám sát cho những đảng viên Cộng Sản tài đức. Đảng dứt khoát phải giao việc thực hiện cho những công dân Việt Nam tài đức. Đây là cách dụng nhân duy nhất đúng cho một Việt Nam cất cánh bay cao đến thịnh cường.

5) Thế Lực Mới Của Đảng Trong Thời Đại Mới:

Đảng đã thành công tuyệt đối trong chiến tranh Thế Kỷ XX tuyệt đối nhờ vào thế lực những người tuyệt đối theo Đảng trung thành với Đảng  tức followers, một thế lực duy nhất lấp biển dời non. Những người tuyệt đối theo Đảng gồm một ít người được kết nạp Đảng và đông đảo người vì yêu nước, thù Tây, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đảng đã không – hoặc chưa – thành công trong hòa bình Thế Kỷ XXI vì Đảng vẫn không nhận ra thực tế rằng đã hình thành hai thế lực riêng biệt gồm followers (những người theo Đảng) và supporters (những người hết lòng vì Đảng).

Followers hiện chỉ gồm có những đảng viên dù trong quân đội, chính quyền, hay đoàn thể, cơ quan, nghĩa là thuộc guồng máy và dưới sự lãnh đạo chính trị của Đảng. Không thể mặc định Followersnhững người hết lòng vì Đảng vì có một bộ phận không nhỏ – chưa đến mức độ bầy sâu như cách dùng từ không đúng, phóng đại, không bằng chứng cụ thể mang tính pháp luật, của “the then president” (cựu) Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang – followers gây ra những vụ trọng án kinh tế hoặc trọng án phản quốc. Chưa kể, followers hiện nay không tự động mang ý nghĩa trung thành với Đảng, hết lòng vì Đảng, do chưa thể chứng minh định lượng được là các đảng viên cao cấp đã thấm nhuần lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh và noi theo gương sáng của Người. Followers, do đó, bao gồm cả những kẻ vào Đảng là do follow chạy theo quyền lực và lợi ích cá nhân.

Supporters hiện là

– Nhiều chục triệu người Việt yêu nước, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, yêu hòa bình, công nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản về chính trị, đánh giá cao những cống hiến và thành tựu của Đảng về chính trị và trị chính, v.v., sẵn sàng sử dụng ngôn ngữ để bảo vệ Việt Nam, chính thể Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhưng không thích sự ràng buộc hữu hình về đảng tịch với Đảng Cộng Sản Việt Nam; và

– Những người sống ở nước khác có thể chế chính trị khác với Việt Nam nhưng yêu công lý, yêu hòa bình, yêu lẽ phải, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, tôn trọng Hiến Pháp/luật pháp/thể chế chính trị Việt Nam, được cụ thể hóa qua những hành động ủng hộ đa dạng khác nhau.

Với phân tích như trên, supporters là thế lực đông nhất, mới nhất, và tốt nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời đại mới.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

a) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ followers để bảo vệ nước nhà và bảo vệ Đảng;

b) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ supporters để bảo vệ chính nghĩa của Đảng và phát triển nước nhà;

c) Đảng nhất thiết phải lịnh cho công cụ truyền thông của Đảng phải tuyệt đối công khai bảo vệ, công khai nhân rộng, công khai ủng hộ các hành động công khai của supporters;

d) Đảng nhất thiết phải trừng trị ngay và trừng trị công khai công cụ truyền thông nào của Đảng dám “nhét chữ vào mồm” supporters để vu vạ supporters, xách động thế giới mạng công kích hay đích thân sử dụng phương tiện của Đảng công kích supporters; mà hành động trừng trị của Đảng đối với truyền thông vi phạm là để khích lệ sự gia tăng của supporters, động viên cụ thể supporters, biến tập thể đông đúc supporter-thụ-động (“like”/naïve supporters) có lòng ái quốc tự nhiên và có tư duy ủng hộ Đảng thành đoàn quân supporter-chủ-động-toàn-tâm-toàn-ý (proactively involved/engaged supporters) có hành động ái quốc mạnh mẽ thể hiện qua hành động tích cực bảo vệ chính nghĩa quốc gia có sự lãnh đạo của Đảng; và

e) Đảng thể chế hóa nội dung tôn vinh và bảo vệ supporters trong các nghị quyết của Đảng, vì rằng các bản toàn văn của các nghị quyết của Trung Ương Đảng từ trước đến nay chưa bao giờ nêu nội dung này, khiến các nghị quyết ấy chỉ để các đảng viên tham khảo để thực hiện – nếu thực sự hiểu để được gọi là “quán triệt” và thực sự có năng lực thực hiện để nghị quyết tiếp theo không mãi nêu vài thành tựu của quá khứ xa xưa đã trở thành quen thuộc còn kỳ dư toàn những điều tồn tại cần khắc phục cho 5 hay 10 năm tiếp theo – chứ không là thứ người dân quan tâm tìm đọc để thấy chính mình trong đó.

Thực tế đời sống đã chứng minh nội dung thuần lý thuyết khi tiếp tục để người dân tài đức ở ngoài việc trực tiếp lãnh đạo trị chính tức trị quốc mà chỉ khuyến khích họ phản ảnh, tố giác, đấu  tranh, sẽ được lập đi lập lại trong các nghị quyết tiếp theo:

“…người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ trong cán bộ, đảng viên….xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’…”

D- ASEAN

ASEAN là minh chứng cho sự thành công vượt bậc của Việt Nam về chính trị.

Tuy nhiên, những yếu điểm nghiêm trọng của ASEAN đã khiến dấy lên những quan ngại làm tiền đề cho những cách đặt vấn đề như sau:

1) Hoàn Tất Vai Trò Lịch Sử

Từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa  – một thứ tương tự Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO cũng theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa – mà mục đích dựng nên là để chặn ngăn sự bành trướng của Bắc Việt xô đổ toàn vùng Đông Nam Á kiểu hiệu ứng domino, phong tỏa Việt Nam thống nhất, làm căn cứ địa cho các đoàn quân “phục quốc” đánh phá Việt Nam, sự tồn tại vươn lên mạnh mẽ trong hòa hoản hòa bình hòa hợp đầy ấn tượng của Việt Nam Cộng Sản đã làm SEATO sụp đổ, dẫn đến sự hình thành ASEAN theo phong cách hòa hoản hòa bình hòa hợp của trào lưu do Việt Nam khởi xướng, tiến đến ASEAN quyết định dẹp bỏ tất các căn cứ địa chống Cộng, đón Việt Nam vào tổ chức, tạo điều kiện cho Việt Nam chiếm ưu thế về chính trị trong ASEAN, tiến đến các vị trí cao trong những cơ quan quan trọng của Liên Hợp Quốc sau này.

Tuy nhiên, những gì đúng không phải luôn là chân lý bất di dịch, vì bản thân hoàn cảnh và môi trường tạo ra cái đúng ấy lại không bao giờ bất di dịch.

ASEAN đã trở thành lịch sử. Sự sang trang là lẽ thường tình và lành mạnh.

2) Sự Ngu Xuẩn Của ASEAN

Nếu NATO được lập nên để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Liên Xô” thì SEATO là để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Việt Nam”. Tuy nhiên, NATO là sự ràng buộc quân sự của một khối thống nhất EU, mà theo đó sự tấn công quân sự vào một nước thành viên sẽ bị xem như cả khối bị tấn công và cả khối sẽ cùng đáp trả. Trong khi đó, ASEAN chỉ là một “liên minh” lỏng lẻo thuần  kinh tế, với những thành viên được kết nạp dường như chỉ để “đông vui”, thậm chí có cả Con Ngựa Thành Troy sẵn sàng đánh phá từ bên trong, mà cụ thể là làm nhục Hoa Kỳ, khăng khăng phản đối sự “đồng lòng” ra tuyên bố chung về Biển Đông, v.v.

Như tác giả bài viết này đã nêu trong một bài viết trước đây, ASEAN đã cực kỳ ngu xuẩn khi trở thành một đối tác thành lập nên tổ chức ASEAN-Trung Quốc, cũng như đã cực kỳ xuẩn ngu khi sự “phản phé” đã tự lột mặt nạ trần trụi cho thấy ASEAN chỉ là một tổ chức có họp định kỳ, có tuyên bố vung vít cầu âu, không có sự đoàn kết hay gắn kết, và sẵn sàng chà đạp mối quan tâm của một nước thành viên chỉ để làm hài lòng Trung Quốc.

3) Bẫy Rập Vong Quốc Vong Thân

Mỗi khi có họp “thượng đỉnh” là ASEAN đều ra thông cáo chung hay tuyên bố chung – kể cả thông cáo của đương kim chủ tịch. Các thông cáo hay tuyên bố ấy, tất nhiên, mặc định có giá trị tiêu biểu cho ý chí tập thể, vì nếu không thì không ai gọi là “thông cáo chung” cả.

Là quốc gia thành viên của ASEAN,Việt Nam có khả năng sẽ vướng bẫy rập nếu như “thiểu số phục tùng đa số” nếu như chủ tịch ASEAN là  Con Ngựa Thành Troy The Trojan Horse thành công trong việc thông qua một thông cáo chung theo đó công nhận rằng Biển Đông thuộc quyền giám quản của Trung Quốc, rằng Trung Quốc có toàn quyền lập các vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông, và rằng ASEAN hoan nghênh việc Trung Quốc cho phép các nước được tự do đánh bắt trên Biển Đông và được hưởng phần chia lợi nhuận như nhau từ việc Trung Quốc khai thác dầu hỏa cùng tài nguyên khác của Biển Đông – nghĩa là những quốc gia thành viên không có biển hoặc có bờ biển chẳng dính đến Biển Đông cũng hân hoan thông qua thông cáo chung ấy, đẩy Việt Nam thành thiểu số, thì Việt Nam có tuân theo cái “chung” ấy để bị bọn chống Cộng có cớ chưởi bới “bán nước” còn dân chúng thì phẫn nộ không?

Trong một tập thể mà chỉ có Việt Nam là cố tình ngây thơ tin tưởng vào cái toàn cầu hóa và tự do thương mại xỏ lá ba que, kỳ dư ai cũng tôn thờ lời hiệu triệu Nước Mỹ Trên Hết của Donald Trump để hình thành Nước Phi Trên Hết, Nước Thái Trên Hết, v.v., thì việc Việt Nam phải đương đầu với nguy cơ sập bẫy không bao giờ là truyện giả tưởng.

4) Việt Nam Phải Rời Bỏ ASEAN

Vì những thực tế mang tính cảnh báo trên, Việt Nam nhất thiết phải rời bỏ ASEAN ngay lập tức.

Việt Nam có thể trở thành một đối tác kinh tế của một tổ chức mới, mang tên ASEAN-Vietnam, tương tự ASEAN-China.

Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đó, nhất thiết phải điều chỉnh lại hướng phát triển kinh tế cho một Việt Nam mới: nước Việt Nam Trên Hết, vì rằng Bất Cứ Dân Tộc Nào Có Lòng Tự Trọng Và Tự Tin Cũng Phải Đặt Chính Dân Tộc Mình Lên Trên Hết.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng February 8, 2016

Làm Chính Trị & Làm Loạn  January 12, 2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam January 18, 2017

Về thực quyền, thực uy November 26, 2013

Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN June 17, 2016

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore February 23, 2016

Bọn Con Nít Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-3-2017

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng Âu Mỹ thì “làm chính trị” nghĩa là làm nghị sĩ hoặc làm quan chức cao cấp trong chính phủ, nghĩa là người ta “làm chính trị” chỉ để phục vụ chính cái thể chế chính trị, cái chế độ hiện hữu của đất nước mình, bảo vệ hiến pháp với toàn bộ hệ thống luật pháp vận hành của nó. Kỳ dư, tất cả những ai lăng xăng hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, đều là đang thực hiện quyền tự do ngôn luận mà người công dân nào cũng có, chứ hoàn toàn không phải là “làm chính trị”. Và nếu các hành động hành vi hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, lại nhằm mục đích chống phá thể chế chính trị nước nhà, kích động bạo lực, sử dụng bạo lực, gây ra phá hoại an ninh trật tự, lật đổ chế độ hiện hữu thì đó dứt khoát là “làm loạn” nên nhất thiết phải bị pháp luật trừng trị theo đúng thông lệ quốc tế Mỹ Âu. Chính phủ nào không phân biệt được sự khác biệt này nên không dám sử dụng bạo lực để trấn áp đàn áp bức áp tất cả các hành động hành vi “làm loạn” là chính phủ đáng vất sọt rác, không biết noi gương sáng trị quốc của chính phủ Hoa Kỳ.

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng của tác giả bài viết này đã nêu rất rõ trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ thì “trẻ trung” hoàn toàn không dính dáng gì đến “tuổi trẻ”, “trẻ tuổi” nghĩa là thời gian để “làm người lớn” còn dài hơn nhiều so với những “người lớn” đã cao tuổi, và “trẻ nít” là cái phong cách tồi tệ nhất của người trẻ tuổi và người cao tuổi.

Quốc Hội Khóa XIII có mấy lão nghị sĩ con nít, kẻ thì thách Thủ Tướng có dám từ chức không, kẻ thì yêu cầu Thủ Tướng báo cáo công khai cụ thể trước Quốc Hội kế sách chống lại  Trung Quốc, kẻ thì bảo các nước trên thế giới “biểu tình” rất đàng hoàng nên Việt Nam cũng sẽ “biểu tình” đàng hoàng, kẻ thì phán như đinh đóng cột rằng “biểu tình” phát xuất từ Chicago, kẻ thì ngu đần không biết ý nghĩa của từ ngữ “ốc đảo” nên lớn tiếng tại Quốc Hội cho nó là hoang đảo, v.v. Đây là thí dụ rõ nét nhất về “bọn con nít làm chính trị”.

Để chuẩn bị nhân lực cho đội ngũ “làm chính trị”, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phát triển đảng viên, rèn luyện đảng viên, giáo dục đảng viên quán triệt các nghị quyết, đường lối, chủ trương, v.v., của Đảng. Song, như tác giả bài viết này đã từng nêu ra rất nhiều năm trước là Đảng đã bỏ lơ việc (a) giáo dục nhân cách con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho tư cách đảng viên vì đảng viên trước hết phải là con người, và (b) giáo dục đạo đức con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho đạo đức cách mạng vì đạo đức cách mạng chỉ có nơi con người có đạo đức con người cao nhất. Các đảng viên ở các địa phương làm lãnh đạo Đảng hoặc lãnh đạo chính quyền (hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các Sở Ban Ngành) là nguồn nhân lực Đảng chuẩn bị đưa ra “làm chính trị”. Do có sự lơ là đã nêu trên, một số đảng viên cấp cao đã không hề có chút tư duy nào về tư cách người lớn, tư cách bậc trưởng thượng, tư cách bậc thủ trưởng, và tư cách đảng viên, nên hành xử như con nít.

Đi ô tô tư ở nơi trấn nhậm thì muốn phải là Lexus và phải có bảng số xanh để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải trốn biền biệt trộn bên trong bột giấy của tờ truy nã toàn cầu khổ A4 hay khổ Letter của Interpol, mất luôn cơ hội trở thành Bộ Trưởng Công Thương trẻ tuổi tài cao của nhiệm kỳ Quốc Hội XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-11-41-am

Đi ngoạn cảnh chốn hoa viên mà trong tay phải cầm cành mai đào bề thế để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải ra sức thanh minh mà không đủ trí hóa để biết rằng (a) ngay cả khi đó là cành cây tự gãy do nó “tự sướng” thật thì đó cũng là tài sản của vườn hoa, như bên New Zealand du khách vào các nhà vườn hái táo hái lê tự do rồi xách xô ra tính tiền nhưng nếu lượm trái rơi đầy trên mặt đất để ăn thì bị đuổi ra khỏi vườn ngay lập tức vì đó là ăn cắp; rằng (b) nữ chức sắc mà cầm cành hoa chụp hình như nữ sinh tiểu học thì rõ là không có tác phong làm lãnh đạo; và rằng (c) đảng viên chức sắc mà không biết thù trong giặc ngoài luôn rình rập nhất cử nhất động của mình để khai thác tấn công thì thật là đáng thương cho đảng viên con nít và đáng quan ngại cho sự tồn tại của Đảng. Đã có đứa con nít ngu xuẩn nghe lời người lạ cầm cái khăn chụp vào mặt một người lạ khác ở Malaysia để rồi nay chờ đợi bản án tử hình treo cổ sắp tuyên. Sẽ có đứa con nít ngu xuẩn khác cầm dùm hành lý của một bà cụ nào đó ở phi trường Bangkok để rồi sẽ chịu án tử hình vì đó là va li bạch phiến. Vừa có một đứa con nít ngu xuẩn cầm cành hoa mai đào vật chứng phạm tội của người khác bẻ dúi vào tay. Một đảng viên không được phép là con nít, và hãy tống cổ ra khỏi Đảng những đứa con nít!

screen-shot-03-06-17-at-08-26-pm

Lãnh đạo một Ban Chỉ Đạo mà chỉ hiểu nghĩa đen của “trẻ hóa” nên đưa một đứa con nít “quá trẻ” chưa hề có kỳ công kỳ tích nào vào Vụ Kinh Tế ngồi trên đầu thiên hạ để lo đại cuộc phát triển kinh tế cả Miền và cả thành phố lớn, lờ đi sự thật là cái thành phố lớn ấy đang nhếch nhác lôi thôi lếch thếch với bao dự án địa ốc nham nhở dở dang mà cư dân chỉ gồm bò cái bò đực và những bóng đen thực tập sử dụng ống chích và kim tiêm.

screen-shot-03-06-17-at-11-46-am

Lãnh đạo ngân hàng mà chỉ lo vận dụng các chiêu thức của các bậc tiền nhiệm ồ ạt đổ tiền nhét chất đầy nghẹt đầy nhóc đầy tràn trong nhà mình để rồi khi bị phát hiện mất một núi tiền và một đồi vàng thì nếu không kịp có tên trên bảng truy nã toàn cầu của Interpol thì cũng ra đứng trước tòa nói rằng tội là của người khác, rằng bản thân vô tội, rằng hãy tha cho các nhân viên vì họ chẳng xơ múi gì, rằng xin không bỏ tù để bản thân ở ngoài xã hội làm lụng kiếm tiền khắc phục hậu quả.

Lãnh đạo đảng ở địa phương thì ngây thơ như con nít vô tư nhận ô tô đắt tiền do doanh nghiệp tặng để đi cho sướng đôi mông cao quý của cấp lãnh đạo, mà không biết rằng đó không thể không dấy lên sự ngờ vực ắt luôn có về sự thiên vị, có qua có lại, dành cho doanh nghiệp biết điều, để rồi bị cha mẹ – tức Thủ Tướng – mắng quở dạy cho bài học cực kỳ sơ đẳng là phải trả lại doanh nghiệp, mất luôn cơ hội được Đảng đưa ra “làm chính trị” kỳ Quốc Hội Khóa XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-08-44-pm

Và còn bao sự hoặc tày trời hoặc ngu xuẩn hoặc cả hai của đám đảng viên con nít  có ít nhất một bằng thạc sĩ và một bằng tiến sĩ gây ra!

Cũng do cái đạo làm người được mặc định là do cha mẹ mỗi người phải chịu trách nhiệm trước tổ tông và dân tộc tự dạy dỗ con cái, nên khi Đảng chỉ lo phụ trách về “chính trị” thì đảng viên nào có đã được mẹ cha dạy dỗ thì đó là ngôi sao ngời sáng của Đảng, còn đảng viên nào không được cha mẹ dạy dỗ – mà tiếng bình dân informal gọi là “mất dạy” – thì đó là kẻ sẽ làm Đảng phải bỏ ra vài thập kỷ truy lùng trên toàn thế giới. Đây là cái lỗ hổng “giáo dục” mà tác giả bài viết này đã luôn ngậm ngùi rằng đại cuộc nước nhà rồi sẽ suy vi.

Cũng do tự tin vào cái mặc định trên, cũng như tự tin vào tay nghề giáo dục “chính trị” của mình, Đảng đã ra sức đào tạo đội ngũ nhà báo hồng thắm lý luận chính trị cao cấp, và nghiệp vụ chuyên sâu cấp cao. Tuy nhiên, cũng như tác giả bài này đã bao lần nêu lên trong nhiều bài viết, đã có lỗ hổng rộng banh toát hoát trong ngôn ngữ ngôn phong tiếng Việt: trong khi các ngôn ngữ Âu Mỹ có nào là dạng thức phân định rõ ràng của ngôn ngữ thông thường informal, ngôn ngữ trang trọng lịch lãm formal, ngôn ngữ nói bình dân colloquial, ngôn ngữ từ lóng của giới tội phạm hay xó chợ đầu đường slang, ngôn ngữ văn học văn hóa literary, ngôn ngữ báo chí language journalism, ngôn ngữ khoa học hàn lâm academic scientific terms, v.v. và v.v., thì tiếng Việt vì chiến tranh đã trở thành phế tích hoang tàn cỏ dại.

Các biên tập viên báo hình, báo in, báo mạng, thản nhiên dùng từ “nhí” thay vì “thiếu niên”, “ngáo đá” thay vì “lậm ma túy”, “tự sướng” thay vì “tự chụp”, “phượt” thay vì “dã ngoại đường trường”, v.v và v.v, mà không biết rằng (a) đối với Âu Mỹ thì ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ mang phong cách cầu kỳ đặc thù được đào tạo rất riêng, với những chuẩn mực rất riêng tuy thoát thai từ trên nền tảng chung của formal, mà ngay cả khi buộc phải dùng – hay phải nói – một tiếng lóng thì luôn phải để trong ngoặc kép hoặc chỉ viết chữ cái đầu tiên còn các chữ cái tiếp theo thì dùng ký hiệu hoặc tắt phần âm thanh hay ghép một tiếng bíp vào miệng người nói để xóa sự phát âm của một từ phản cảm, nếu không muốn bị các bậc phụ huynh vừa tẩy chay chương trình vừa kiện ra tòa; và rằng (b) những gì mà “giới tinh hoa báo chí” Việt Nam dùng thì đương nhiên học sinh Việt Nam có quyền “noi gương” để rồi làm hỏng bét cả văn hóa văn học ngôn từ của các “tinh hoa trí thức” tương lai.

Vì vậy, với sự hòa âm điền dã của những đứa con nít “làm chính trị” và những nhà báo con nít đã quá quen thuộc với việc phỏng vấn những đứa con nít “làm chính trị” ấy, mới đây đã có một phóng viên con nít đã gọi một vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân một Quận ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng cụm từ “soái ca” mà không biết rằng vị Phó Chủ Tịch Quận ấy là một “người lớn” xứng đáng đứng vào hàng ngũ những người “làm chính trị” của nhiệm kỳ 2021-2026, hoàn toàn không phải là hạng người mà ai muốn dùng loại từ ngữ “tiếng lóng”, “đầu đường xó chợ”, gán ghép vào ông thì cứ gán.

screen-shot-03-06-17-at-08-46-pm

Chỉ có cha mẹ mới dạy được con cái liêm khiết và liêm chính, dũng tâm và hùng tâm, ái quốc và ái nhân, khôn ngoan và khôn khéo; đơn giản vì tất cả các đức tính ấy của con người chỉ được nẩy mầm vun quén từ tuổi ấu thơ, trong thời gian dài bên cạnh mẹ cha, với bài học từ bản thân cha mẹ, và lời giáo huấn mưa dầm của mẹ cha. (Mẹ cha cũng đồng nghĩa với người bảo hộ tốt đẹp – nếu một người vì họa tai không được sống với đấng sinh thành tốt đẹp).

Đảng chính trị dù bất kỳ đâu trên thế giới cũng không bao giờ đào tạo ra đảng viên liêm khiết, liêm chính, dũng tâm, hùng tâm, ái quốc, ái nhân, khôn ngoan, khôn khéo. Vì vậy, Đảng cần ra khỏi tháp ngà, vi hành vào nhân dân, chiêu dụ những con người tốt đẹp hội đủ ngần ấy thứ đức tính từ cha mẹ của họ để thỉnh mời vào Đảng, giáo dục họ về “chính trị”, rèn luyện đào tạo họ về “trị chính”, để họ trở thành những chính khách “làm chính trị”, mà không là “con nít làm chính trị.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn tham khảo các nội dung nhắc đến trong bài:

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Làm Chính Trị & Làm Loạn   12-01-2017

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy  30-12-2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Chìa Khóa Của Cường Thịnh    05-11-2016

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  20-11-2015

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.  04-12-2012

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt  18-6-2010

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân

Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội

dress 

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

27-12-2016

dress-2

A) Báo Chí Và Giới Tinh Hoa Việt Nam

Chính quyền Hà Nội vừa ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử dành cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước thuộc thành phố Hà Nội.

Ngay lập tức, đã có những phản xạ trên một số tờ báo thuộc truyền thông đại chúng chính thống cho thấy những phản xạ mang tính vấn nạn có thể liệt kê như sau.

1- Phản Xạ Chống Đối

Gọi là chống đối vì bất cứ khi nào cơ quan chức năng của Chính Phủ Việt Nam như một Bộ nào đó chẳng hạn, hoặc cơ quan chức năng của một địa phương lớn, ban hành một quy định nào đó là ngay lập tức các câu hỏi được báo chí nêu lên theo kiểu chõi lại thay vì chung sức giải thích cho người dân hoặc chí ít làm tỏa lan chủ trương chính sách tân kỳ mà bổn phận báo chí cùng các “viện” lẽ ra đã phải biết đó là nhiệm vụ của riêng mình mà bản thân mình đã ngữa tay nhận tiền lương tháng hậu hĩ để thực hiện mỗi việc giản đơn ấy. Đặc biệt dưới tác động của độc tố mang tên tự do dân chủ nhân quyền phiên bản Mỹ Âu BSE (bovine spongiform encephalopathy) thì kiểu nêu tương tự như “…liệu có vi phạm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân?” là thứ mang bản chất của sự xách động chống đối cực kỳ quen thuộc của báo chí chính thống Việt Nam nhằm tạo nên một phản ứng tự nhiên nơi độc giả mỗi khi nghe nói có quy định bất kỳ, dẫn đến phản ứng chống đối tự nhiên nơi độc giả đối với Chính phủ và chế độ như một tập thể chỉ biết sản sinh những quy định hay luật lệ thuộc hạng tồi, kém, vất đi.

2- Phản Xạ Công Thức

Gọi là công thức vì ngay lập tức phóng viên sẽ chạy đến – hoặc phone đến – những vị mà tên của họ đã sẵn có trong danh bạ “việc nào thì phỏng vấn ai” chẳng hạn luât sư nào, nhà sử học nào, nhà giáo nào, nhà văn nào, v.v., đến độ độc giả thì phát ngấy với những cái tên nhàm chán của giới tinh hoa vô dụng được báo chí tinh chọn từ số người tinh quái nhất song kém tinh túy nhất, nhưng tờ báo thì phát phì vì có bài vỡ lấp đầy chỗ trống. Thậm chí có nhiều lúc phỏng vấn bất kỳ ai miễn “cùng phe” nên hoàn toàn không có chút chất lượng nào trong các mẫu đưa tin có kèm phỏng vấn.

3- Phản Xạ Kiến Thức Zero

Thay vì cung cấp cho độc giả những lý giải sâu sắc, báo chí chỉ giáng thêm những câu hỏi, và bồi thêm những câu trả lời của những đấng tinh hoa mà những câu trả lời ấy hòa âm điền dã với câu hỏi của báo chí khiến câu hỏi – nếu có, hoặc bị báo chí khuấy động lên thành có – của độc giả từ giản đơn trở thành vấn đề. Sự việc của Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội vốn là điều cực kỳ bình thường của thế giới tư bản văn minh hiện đại lại trở thành lỗ hổng kiến thức của báo chí và của giới tinh hoa nào chấp nhận trả lời phỏng vấn của báo chí ấy theo hướng mà báo chí uốn nắn, biến cả báo chí cùng cơ quan của giới tinh hoa “Viện” Việt trở thành loại tầm thường không có kiến thức – tức kiến thức bằng không tức kiến thức zero – vì tất cả các cơ quan từ nhà nước đến công ty dù lớn dù nhỏ của tư nhân trong thế giới tư bản văn minh toàn cầu đều có Bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt để nâng tôn giá trị của chính mình và có thêm công cụ pháp lý trong đối nội và đối ngoại.

Sự thiếu vắng của các Bộ Quy Tắc Ứng Xử – vốn tương đương với cái gọi là Bộ Quy Tắc Đạo Đức Làm Việc – ở các cơ quan báo chí chính thống Việt Nam đương nhiên giúp lý giải cho (a) việc vì sao họ không hề đánh giá cao cái Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính Quyền Hà Nội, (b) vì sao các cơ quan truyền thông này vẫn chưa thể sánh vai với các cơ quan truyền thông Âu Mỹ về uy tín và “đạo đức”, và (c) sự vô đạo đức và/hoặc bất chuyên nghiệp và/hoặc vô chuyên môn của các nhân sự của họ từ tổng biên tập cho đến phóng viên lại quá hiển nhiên lồ lộ trơ trẻn đến trần truồng.

B) Thế Nào Là Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct

Khi nói nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt, có nghĩa là có sự phân định rạch ròi rõ ràng y như đối với “miễn thuế” và “thuế suất bằng không” vì bản thân hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau trong hoạt động xuất nhập khẩu, không dính dáng với nhau – nghĩa là ngay cả khi có sự thoáng cực kỳ thì vẫn phải ghi rõ nội dung chi tiết của và lý do cho cái sự thoáng cực kỳ ấy trong bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục của đơn vị, cơ quan, công ty, tổ chức.

Thế thì nếu lãnh đạo báo chí chính thống của Việt Nam và các vị ở “viện” của Việt Nam vốn đều đi nước ngoài như đi chợ Đồng Xuân, có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có bằng cấp nước ngoài, lại không biết gì về Code of Conduct và Dress Code của ngôi trường mà các vị ắt đã có đến “nhận” bằng cấp, các cơ quan hàn lâm mà quý vị ắt đã có đến họp hành “công vụ” bằng tiền thuế của nhân dân, nên phát biểu linh tinh trật lấc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội thì ắt các vị ấy thuộc một hoặc hơn một những loại sau: (a) học viên mất nết vô kỹ luật đi chơi nhiều hơn đến lớp nhưng chưa từng bị kỹ luật vì học viện ngoại chuyên cấp văn bằng “hữu nghị” cho “chức sắc tiềm năng làm lãnh đạo” của Việt Nam, (b) học viên đút đầu vào học viện đầu hàng chẳng thuộc danh mục các học viện/đại học hàng đầu, (c) học viên học quá giỏi  nên chỉ được chui đầu vào thực tập tại cơ sở hạng tai tiếng đầu hàng tức không thuộc danh mục các cơ quan/công ty danh tiếng hàng đầu.

Đã không đủ khôn ngoan che dấu sự thấp kém của mình, thay vì ngậm tăm đừng phê phán gì về “Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội” lại phô trương cái thấp kém đó trên mặt báo khiến di họa cho giới trẻ Việt Nam, các vị đã buộc tác giả bài viết này phải cứu nguy xã tắc bằng cách làm phiền những bậc thức giả khi diễn giải dài dòng các vấn đề cực kỳ sơ đẳng sau mà tất cả các bậc thức giả thực thụ của giới tinh hoa thực thụ đều đã tường tỏ vì đã thực sự “có đi làm việc đàng hoàng”, trong khi tất cả những ai đã thực sự “muốn đi làm việc đàng hoàng” đều đã tỏ tường từ lúc còn ở nhà trường.

1- Nội Dung Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct ở Âu Mỹ

Tại mỗi công ty/cơ quan/tổ chức, Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức Code of Conduct (còn được gọi là Code of Ethics hoặc Ethical Code, được phổ biến dưới tên gọi Code of Business Conduct hoặc Governance & Ethics) là bộ quy tắc phải có, không thể tách rời khỏi hoạt động của công ty/cơ quan/tổ chức, nhằm nêu bật các giá trị, đạo đức làm việc, mục tiêu, trách nhiệm, và danh tiếng của cơ quan, xây dựng nên văn hóa cơ quan, cũng như phản ảnh phong thái làm việc của công ty/cơ quan/tổ chức ấy.

Các công ty/cơ quan/tổ chức khi đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử là nhằm để nhân viên/viên chức/công chức quán triệt các kỳ vọng của lãnh đạo đối với tập thể nhân lực, cùng những chuẫn mực về phong cách làm việc mà tập thể phải bảo đảm đạt được trong làm việc hàng ngày tại công ty/cơ quan/tổ chức và tại bất kỳ đâu dưới danh nghĩa nhân lực của công ty/cơ quan/tổ chức, đồng thời cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn phải xử trí ra sao trong những tình huống đạo đức nhất định.

Việc tham khảo các Code of Conduct của các công ty quá lớn như Roche, Kraft, Verizon, Colgate-Palmolive, Baylor, Johnson&Johnson, Boeing, hoặc của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tuân thủ ICoCA), và của bất kỳ công ty quá nhỏ nào của Âu Mỹ, là cần thiết cho các lãnh đạo cơ quan/doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nào ở Việt Nam chưa từng nhận biết về tầm quan trọng đối nội và đối ngoại của một Code of Conduct (không thể được đối tác nước ngoài xem trọng nếu bản thân đơn vị thiếu vắng Code of Conduct minh định chi tiết trên trang web và trong brochure của đơn vị) để hiểu biết thêm về quan niệm chung và khác của các công ty/cơ quan/tổ chức ấy, từ đó nắm bắt được những yếu tố trọng tâm nào được đưa ra làm kim chỉ nam cho lĩnh vực hoạt động và dịch vụ, tính liêm chính của từng cá nhân, sự liêm chính của công ty/cơ quan/tổ chức, quy trình tuyển dụng, tài sản công ty, tinh thần trách nhiệm, những tiêu chuẩn hành xử thích hợp đối với cơ quan/đối tác của cơ quan/khách hàng của cơ quan/các nhân viên khác của cơ quan, và sự tuân thủ toàn vẹn với ý thức rằng các hành xử khác đi sẽ ảnh hưởng không những đến hình ảnh cơ quan mà còn cả đến sự nghiệp của nhân viên tại cơ quan, toát lên từ Code of Conduct còn mạnh mẽ hơn những lời quảng cáo phóng đại đầy tốn kém trên truyền thông.

Các Code of Conduct có khi chỉ dài 1 trang giấy khổ A4, có khi đến gần 20 trang, nội dung có thể nêu cả – song không chỉ giới hạn bởi – các vấn đề như quan hệ trung thực với nhà cơ quan nhà nước, tôn trọng môi trường, minh bạch sổ sách và báo cáo,  không đem bí mật kinh doanh nội bộ ra giao dịch với bên ngoài, quan hệ với đồng nghiệp/công ty/khách hàng/cơ quan Nhà Nước/luật pháp/xã hội. Code of Conduct còn quy định cách ứng xử của cá nhân các lãnh đạo cơ quan đối với nhân sự cơ quan và các nội dung khác tương tự như những gì nhân viên phải tuân thủ, khiến chặn ngăn các hành vi không phù hợp và buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm quản lý nhân sự tuân thủ Code of Conduct. Khi công ty/cơ quan/tổ chức phát triển mạnh, Quy Tắc Ứng Xử tức Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc của công ty/cơ quan/tổ chức có thể được được lồng ghép vào trong các thông điệp hoành tráng về sứ mệnh và giá trị của mình.

2- Vấn Đề Nước Ngoài

Nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được yêu cầu nghiên cứu Code of Conduct của cơ quan và được yêu cầu ký tên xác nhận đã đọc và cam kết tuân thủ, biến chữ ký đó thành  văn bản thỏa thuận được trữ lưu trong hồ sơ nhân sự mang tính ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động, dựa vào đó các hình thức kỹ luật và/hoặc các biện pháp kiện tụng ra tòa án được tiến hành.

3- Vấn Nạn Việt Nam

Sự thiếu vắng các Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức không có bất kỳ sự cương tỏa nào minh bạch hóa minh định hóa trong nội bộ các công ty/cơ quan/tổ chức ở Việt Nam, đã làm phát sinh 7 vấn nạn thường thấy như (a) tác phong phục vụ khách hàng kiểu ta-là-chúa còn khách-hàng-là-hành-khất, (b) khẩu ngữ trong phục vụ khách hàng kiểu ban-ơn-mưa-móc hay thí-cô-hồn, (c) khẩu ngữ trong sinh hoạt nội bộ như bác/cháu/em/anh Hai/chị Tư luông tuồng phi chuyên nghiệp, (d) tác phong làm việc gia-đình-trong-công-sở, (e) nhận thức xem danh tiếng của công ty/cơ quan/tổ chức là vấn đề vĩ mô của công ty/cơ quan/tổ chức mà mình không phải là ốc vít trong guồng máy ấy, (f) tính quan liêu, (g) sự bất minh/bất liêm/bất chính/vô văn hóa đơn vị/vô giá trị cơ quan ở từ cấp lãnh đạo cho đến nhân viên.

Với tính cách trên-dưới của quyền lực quản trị cơ quan/doanh nghiệp Nhà Nước/tổ chức luôn kèm theo quyền lực chính trị – nghĩa là chỉ có đảng viên cấp cao mới được bổ nhiệm quản trị cơ quan/công ty/tổ chức – việc có một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trở thành điều bất khả thi do giới lãnh đạo – và giới “con ông cháu cha” – không chịu để mình bị kềm tỏa bởi cái gọi là Bộ Quy Tắc đầy minh bạch và quá cụ thể ấy.

Vấn nạn còn ở chỗ:

a) Ngay cả truyền thông chính thống lại tự hỏi không rõ Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội có “vi phạm quyền tự do cá nhân”, mà không hiểu rằng trong thế giới văn minh Âu Mỹ thì cái quyền tự do cá nhân chỉ được thực thi ở trong nhà riêng, trong cộng đồng riêng, và khi chẳng đang làm việc không riêng. Làm việc tại cơ quan là làm việc riêng ư? Đi bộ ngoài đường là sinh hoạt riêng trong cộng đồng riêng nên muốn ăn mặc sao cũng được mà không cần đếm xỉa đến người xung quanh ư? Ngay cả người xứ “mọi” cũng không ai phát biểu như truyền thông chính thống Việt Nam đối với Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội.

b) Trong khi đó một tên giáo sư nguyên viện trưởng một viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại khuyên nên xem Bộ Quy Tắc là “phần cứng” để “ai có điều kiện, có thể theo được thì cứ theo, còn nếu ai vì lý do nào đó mà không theo được, thì có thể dùng những quy tắc ấy để tham khảo”. Giống như một nhà sử học Việt Nam vừa không bao giờ có kiến thức về thế giới sử và các ngành sử đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển môn Sử ở Việt Nam và tỏa lan môn Sử ấy ra khắp bốn bể năm châu, viện nghiên cứu văn hóa Việt ắt cũng vừa không bao giờ có kiến thức về tương quan văn hóa thế giới và các ngành văn hóa đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển văn hóa Việt Nam và tỏa lan văn hóa Việt Nam ấy ra khắp năm châu bốn bể.

Quy tắc là để hoặc tuân theo hoặc bị trừng phạt nếu vi phạm (kỹ luật, sa thải hoặc tù tội).

Quy tắc không là thứ chỉ để tham khảo mà là thứ phải thuộc nằm lòng để tồn tại và phát triển cá nhân.

Quy tắc là sức mạnh của đơn vị.

Ông nguyên viện trưởng đã làm viện trưởng vì đi ngang đi tắt vô bài bản, bất chuyên nghiệp, kiểu đang áp dụng ở Ban Quản Lý Tây Nam Bộ nên ăn nói nghô nghê thất học về “phần cứng”.

C) Thế Nào Là Quy Định Trang Phục Dress Code

1- Khách Hàng:

Một trong những nội dung của bất kỳ Bộ Quy Tắc Ứng Xử nào là nâng lên cao nhất vị trí của “khách hàng” như một thứ đạo đức cao nhất của làm việc (business = làm việc, kinh doanh, v.v.).

Khách hàng bao gồm: khách hàng theo nghĩa đen và khách hàng theo nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen, khách hàng là bất kỳ ai sử dụng dịch vụ của mình, cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho mình, mua hàng hóa của mình.

Theo nghĩa bóng, khách hàng là bất kỳ ai tìm đến mình, và với ý nghĩa này thì lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình cũng đều là khách hàng của mình.

Khách hàng là vua. Vì thế, khi tiếp khách hàng thì mình phải cúc cung tận tụy y như nhau dù đó là lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình, nhân viên cấp dưới của mình, hay khách đến từ bên ngoài.

Do khách hàng là vua, sự cúc cung tận tụy của mình là chính, và trang phục của mình là quan trọng. Đó là lý do Bộ Quy Tắc Ứng Xử – nếu không có Bản Quy Định riêng và rời về trang phục gọi là Dress Code – sẽ kèm theo các nội dung liên quan đến trang phục.

2) Đừng Đùa Với Lửa Dress Code:

Vào Tháng 7 năm nay, tại Anh Quốc, biên tập viên Lauren Tuck của Yahoo! Style có đưa tin về việc một nhóm nữ sinh viên thực tập bị đuổi khỏi nơi thực tập vì vi phạm Dress Code. Họ bị triệu tập vào phòng nhân sự, được yêu cầu phải nộp lại ngay thẻ ra vào (ID badge), thu dọn hết đồ đạc cá nhân, rồi rời khỏi khuôn viên công ty ngay lập tức.

Khi các nữ sinh này biện minh rằng họ đâu có được phân công tiếp khách hàng nên sao lại bó buộc phải tuân theo Dress Code, và sở dĩ họ mang dép đi làm dù biết Dress Code cấm, là vì họ thấy có một bà nhân viên cũng đi dép. Câu trả lời của lãnh đạo dành cho họ là: (a) nếu hiểu “khách hàng” chỉ là người từ bên ngoài đến thì rõ ràng các nữ sinh này không chuyên nghiệp và việc đào tạo ở đại học có khiếm khuyết, và (b) bà nhân viên ấy là cựu chiến binh bị mất một chân khi phục vụ quân đội Anh ở nước ngoài nên được ưu tiên mang bất kỳ loại giày dép nào có thể giúp người nhân viên khuyết tật ấy dễ dàng công tác hiệu quả nhất.

Sau bài blog trên Yahoo, nhiều người đã “comment” rằng công ty ấy đã xử lý thật tuyệt hảo (“the company handled it perfectly”), rằng cuộc sống thực sẽ có nhiều tàn khốc hơn vậy mà không giữ được mình theo các quy định giản đơn đối với trang phục thì phải bị loại thôi, v.v.

Không khuyết tật, không theo tôn giáo đặc thù, dứt khoát đừng hòng giỡn mặt với Quy Định Trang Phục Dress Code của nơi làm việc (“You better not be slacking with the dress code”).

3- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: định nghĩa rõ các loại trang phục

Từ sau những năm 1990, nhân viên ở Mỹ không còn được yêu cầu mặc trang phục trang trọng (formal attire) khi đến cơ quan làm việc, một phần do biến đổi khí hậu làm những tháng hè thêm oi bức, một phần do phát sinh những ngành nghề như công nghệ thông tin (mà sự giao tiếp với khách hàng – nội bộ và từ bên ngoài – gần như bằng không, và yêu cầu công việc đòi hỏi nhân viên ngồi tại chổ với máy vi tính suốt thời gian) và thị trường chứng khoán vốn liên tục tranh giành sôi động trên thực địa, v.v. Song, như đã nói, đã là nơi làm việc chuyên nghiệp thì không thể thiếu Dress Code; do đó, các loại trang phục được định nghĩa rõ hơn để phân định giữa nội hàm cho phép và không cho phép, bất kể Dress Code có thoáng hay không, khiến một thứ “trang phục trang trọng formal attire” duy nhất của ngày trước thì nay được phân biệt thật chi tiết chẳng hạn đối với nam nhân viên thành:

a) Trang Phục Dạo Phố Dân Sự (Street Wear): như áo thun ba lổ bỏ ngoài, quần đến gối, dép hay sandal. Cấm mặc khi đi làm.

b) Trang Phục Thường Nhật Dân Sự (Casual): như áo thun tay ngắn bỏ trong, quần dài, giày thể thao. Cấm mặc khi đi làm.

c) Trang Phục Thường Nhật Nhân Viên (Mainstream Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, quần tây dài vải thường, giày tây thoải mái.

d) Trang Phục Công Sở Bình Thường (Business Casual): áo sơ mi dài tay màu sáng hoặc sọc, bỏ trong, không cravat, quần tây dài, áo khoác jacket (không cùng màu với quần), giày tây. Đây là nội dung được ghi rõ nhất vì “bình thường” nghĩa là “bình thường để làm việc chuyên nghiệp” chứ hoàn toàn không có nghĩa là “bình thường bình dân vui chơi” thành áo có hình hoa văn màu sắc lòe loẹt theo kiểu thổ dân Hawaii hoặc đi dép lê khi đứng báo cáo, thuyết trình.

e) Trang Phục Công Sở Tươm Tất (Smart Business Casual hoặc Executive Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, đeo cravat, quần tây dài sậm màu, giày tây đen có vớ đen. Trong các loại “thoải mái tại công sở” (tức “casual”) thì Smart Business Casual thường được giới lãnh đạo thích nam nhân viên mặc hơn là Business Casual ngay cả khi Business Casual được cho phép trong Dress Code.

f) Trang Phục Đối Ngoại (Business Formal hay Business Attire): sơ mi dài tay, bỏ trong, đeo cravat, nguyên bộ veston hai phần (áo “vét” jacket và quần cùng loại vải cùng màu) sậm màu, giày tây đen, nâu sậm hoặc xanh đen, vớ đen.

g) Trang Phục Họp Hội Đồng Lãnh Đạo (Boardroom Attire): sơ mi trắng dài tay, cravat thanh lịch, bộ veston ba phần (áo “vét” jacket, quần tây dài, và áo “ghi-lê” waitcoat), giày tây đen có vớ đen.

h) Trang Phục Dự Lễ Nghi (Black Tie): áo sơ mi tuxedo kết ren ở ngục, thắt nơ đen, nguyên bộ veston ba phần đen, giày tây đen có vớ đen.

Tất nhiên,

– Không nơi làm việc nào chấp nhận cho nhân viên mặc Street Wear hay Casual vào cơ quan làm việc;

– Dress Code tùy cơ quan sẽ ghi rõ cho nam nhân viên được mặc Business Casual (khá thoải mái hơn) hay phải là Smart Business Casual (vẫn thoải mái nhưng trang trọng hơn);

– Dress Code có thể không ghi gì về Business Formal vì đây là trang phục tự động mặc bởi cấp quản lý, tự động mặc bởi dân đối ngoại chuyên nghiệp, và tự động mặc bởi bất kỳ nhân viên nam nào nghiêm túc muốn được thăng tiến.

– Dress Code sẽ không ghi về Black Tie vì văn hóa Âu Mỹ được mặc định là tất cả người nam đều hiểu rằng khi thay mặt công ty dự một lễ nghi trọng đại họ phải mặc bộ Black Tie .

– Dress Code có thể quy định trang phục thế nào trong các ngày làm việc và trong các ngày cuối tuần (“dress down day”) nếu phải làm việc tại công ty. Trong những ngày “dress down day”, các trang phục jeans, giày các loại, đều được cho phép miễn phải lành lặn, nếu công việc không gồm tiếp khách, và phải luôn ghi nhớ rằng áo nữ kiểu “thun dây” (tank/halter tops) và trang phục thun bó chạy bộ jogging dù kiểu nam hay nữ đều không được phép mặc vào làm việc tại công ty trong ngày cuối tuần/ngày lễ nghĩ.

4- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: Những Vấn Đề Quan Tâm Chính

Dựa theo các chi tiết nổi bật nhất của Bản Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội, những điểm sau như nêu trong các Dress Code ở Âu Mỹ được liệt kê dưới đây cho độc giả Việt Nam tham khảo với lưu ý rằng “khách hàng luôn là vua”:

a- Xâm Mình / Xiên Xỏ Mình (Tattoos & Piercings)

Xâm mình hay xiên mình là một thứ văn hóa mang tính sở thích và tự do cá nhân. Không bao giờ có Dress Code nào lại nghiêm cấm nhân viên xâm mình/xiên mình. Tuy nhiên, Dress Code có quyền quy định nhân viên có xâm mình/xiên mình phải che dấu các xâm mình/xiên mình ấy trong giờ làm việc. Lý do đơn giản: khách hàng là vua, và có thể có những khách hàng không thiện cảm với người xâm mình/xiên mình, có thể có khách hàng có chấn động tâm lý đối với những hình xâm/kiểu xiên đặc thù, và có thể con nhỏ tháp tùng của khách hàng khiếp sợ trước những hình xâm/kiểu xiên đặc thù ấy.

b- Nước Hoa (Perfume & Cologne)

Việc sử dụng nước hoa là một vấn đề quan trọng vì hương nước hoa đậm đặc có thể gây dị ứng khứu giác của khách hàng hoặc đồng nghiệp. Tốt nhất là sử dụng với lượng thật ít hoặc không sử dụng. Các nhà tư vấn Âu Mỹ còn cảnh báo rằng nhà tuyển dụng có toàn quyền từ chối tuyển dụng những ứng viên nào sử dụng nước hoa đậm đặc – thậm chí loại bỏ luôn ứng viên nào sử dụng đúng loại nước hoa mà bạn gái của nhà tuyển dụng đã dùng song người bạn gái ấy đã bội phản gây sốc nơi nhà tuyển dụng ấy – mà không vi phạm pháp luật về “kỳ thị”.

Tương tự, việc trang điểm đậm cũng được khuyến cáo nên tránh vì “khách hàng là vua” chứ không phải “ta đây là thượng đế”.

c- Hở Hang (Too Revealing Skin)

Trong khi có sự thông cảm cho nhân viên làm việc mùa Hè nóng nức không cần phải mặc veston mà chỉ cần mặc áo sơ mi ngắn tay cài đủ khuy, Dress Code lại nghiêm ngặt đối với việc nhân viên ăn mặc hở hang (vai, ngực, bụng, đùi), mỏng manh.

d- Trang Sức (Bling)

Đối với đa số công ty, việc đeo trang sức không là điều không nên, nếu như số lượng   vừa phải.

e- Jeans

Dù được dùng trong một số nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp cao như trong các lao động chân tay và các ngành kỹ thuật cơ khí, jeans không bao giờ được chấp nhận đối với những nhân viên ở các chức danh lãnh đạo và đối với nhân viên nói chung tại nơi làm việc trong giờ làm việc. Nói chung, các Dress Code xem mặc trang phục jeans như một điều kiêng kỵ tại nơi làm việc.

f- Trang Phục

Nhăn nheo: Trang phục không được nhăn nheo do không được ủi thẳng thớm vì sẽ được các Dress Code xem như biểu hiện của sự kém chuyên nghiệp của nhân viên, gây ấn tượng nơi khách hàng rằng nhân viên đã không có khả năng giữ cân bằng giữa làm việc và cuộc sống riêng, không quản lý thời gian tốt, không quan tâm đến thẩm mỹ chung, không quan tâm đến cảm nhận của khách hàng, và không quan tâm đến cuộc sống bản thân.

Trang Trọng: Khi dự các buổi hội họp quan trọng, các hội nghị, những triển lãm thương mại, hay gặp gỡ khách hàng, hầu hết công ty nào cũng muốn nhân viên mặc trang phục Business Formal.

Mũ (Headwear): Dress Code có thể quy định nhân viên không được đội mũ tại văn phòng trong giờ làm việc như là fan hâm mộ một đội bóng nào đó. Tuy nhiên, nhân viên là tín đồ một tôn giáo nào đó như nam nhân viên theo Đạo Sikh của người Sikh Ấn Độ có quyền đội turban, hay nữ nhân viên Đạo Hồi có quyền đội hijab, al-amira, shayla, khimar, và chador. Tuy nhiên đối với nữ ứng viên theo Hồi Giáo mang mạng che mặt  niqab hay trùm đầu burkas thì cần có giải thích rõ về quy định nhận dạng trên thẻ ra vào nên không thể được chấp nhận để tránh các khiếu kiện kỳ thị tôn giáo chốn pháp đình.

Giày: Dress Code cũng có thể quy định về loại giày, màu giày, cho nam và cho nữ nhân viên khi làm việc tại cơ quan.

D) Giới Trẻ Việt Nam Khôn Ngoan

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa đọc đến đoạn “Đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Dù là công chức Nhà nước thì họ cũng là công dân nên họ vẫn phải có những quyền cơ bản của công dân chứ” của một nhà văn nọ có tên trong “cẩm nang tìm người phỏng vấn” của các nhà báo truyền thông chính thống, thì có thể bật nói ngay rằng: “Thôi đi ông! Nhà văn là chuyên gia của thể loại tưởng tượng Fiction, biết quái gì về cuộc sống thực và pháp luật thiệt! Ai muốn thi thố quyền cơ bản của công dân thì hãy thi thố ở nhà, còn vào một công ty là thực hiện chuyên nghiệp nhất một ràng buộc hợp đồng lao động nghiêm ngặt nhất của những công dân trưởng thành trong một thế giới sinh nhai có thật mà các nội quy và quy định chính là quyền cơ bản đặc thù dành riêng cho nhân viên chứ người ngoài đường hoàn toàn không có cái đặc quyền tuân thủ đó.”

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa nghe tin về một quy định nào đó mới được chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương ban hành thì hoặc (a) sử dụng kiến thức sẵn có để nghiệm ra tính đúng đắn của các quy định đó, hoặc (b) kiếm tìm ngay các thông tin để so sánh với những tương tự ở nước ngoài, hoặc (c) đề nghị tác giả bài viết này giải đáp thắc mắc.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ đã biết rằng không bao giờ có cái “tự ý thức” (qua câu nói của nhà văn lếu láo: “tôi nghĩ bản thân mỗi công chức, viên chức cũng tự ý thức được phải ăn mặc thế nào khi đi làm việc, khi tiếp xúc với công dân cho phù hợp”) tự nhiên có nơi công dân bất kỳ siêu cường quốc nào, mà cái “tự ý thức” đó chỉ có khi “tự ý” tuân theo những quy định cực kỳ nghiêm ngặt sẵn có của quốc gia. Không có các quy định, quy tắc đầy uy lực trừng phạt thì sẽ không tạo ra tâm lý lo sợ vi phạm, không có tâm lý lo sợ vi phạm thì không có tâm lý tuân thủ, không có tâm lý tuân thủ thì không đời nào có tinh thần tự giác. Ý thức không từ trên trời rơi xuống như món quà Trời ban cho người này nhưng keo kiệt không bố thí cho người khác. Ý thức luôn đến từ một vô thức kết tụ từ sự kinh qua trải nghiệm nhuộm màu kinh sợ.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ không những không đọc các thông tin “chùa” trên không gian mạng mang tính chống đối mà còn biết miệt thị báo chí truyền thông chính thống nào không thể giải đáp thắc mắc mà chuyên đặt câu hỏi trống không để cùng hòa nhập vào số lượng độc giả nào mà báo chí hy vọng sẽ cùng không hiểu hoặc sẽ cùng không đồng tình – tức cùng chống đối – với các quy định ấy.

E) Đảng Cộng Sản Việt Nam Khôn Ngoan

Chính quyền Hà Nội đã đi đầu trong đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử chung của các cơ quan công quyền tại Hà Nội, biến Hà Nội thành thành phố đầu tiên đẳng cấp thế giới về nhận thức đối với tầm quan trọng tự thân của một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội sẽ thúc đẩy mỗi Sở, mỗi doanh nghiệp Nhà Nước, của Hà Nội tiến đến thành lập các Code of Conduct và Dress Code cho chính mình.

Nếu các Code of Conduct và Dress Code của các công ty lớn nhỏ của Âu Mỹ để gia tăng tính chuyên nghiệp và giá trị của công ty ấy cũng như tạo sự tin tưởng nơi khách hàng, thì Code of Conduct của Hà Nội sẽ đẩy nhanh tiến trình cải tổ hành chính của Hà Nội, đưa nội hàm bình thường của “Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc” trở thành một nội hàm mang tính bình thường, tự nhiên, để rồi sau một thập niên sẽ là thứ vốn có, sẵn có của con người Hà Nội văn hiến văn minh thanh lịch và kỹ luật cao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn ngoan khi khuyến khích và chuẩn thuận việc ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính quyền Hà Nội, qua đó đã (a) giúp làm lộ diện lỗ hổng kiến thức của giới tinh hoa, (b) giúp làm lộ diện các phản ứng mang tính công thức chung rất vô dụng của báo giới chính thống, (c) giúp toàn quốc trong cả hai khối quốc doanh và tư doanh quan tâm đến thế mạnh tự thân từ Code of Conduct khiến sự đoan chính nhiều và tiêu cực ít trong hoạt động kinh doanh sẽ dần được dựng xây theo năm tháng, và (d) giúp giới trẻ quan tâm đến các giá trị đủ đầy của tính chuyên nghiệp từ các Code of Conduct và Dress Code để trở thành công dân chuyên nghiệp và đạo đức.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

Tham khảo:

Fiction & Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Sự Thương Hại Dành Cho “Chuyên Gia Chuyên Nghiệp” 20-11-2016

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự 27-8-2014

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng 08-02-2016

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

How the Due Process of Proud Choice Turns into a Turmoil of Devastating Shame

Vì Sao Một Quy Trình Vinh Diệu Biến Thành Sự Hỗn Loạn Nhục Ô

Hoàng Hữu Phước, MIB

Chính Trị Gia (Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII)

14-12-2016

tay-nam-bo%cc%a3-2

Một hai tuần qua dấy lên sự việc của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ (gọi là “Cần Thơ” do cơ quan Đảng tọa lạc tại Cần Thơ, hoặc đối với dân Nam Bộ rặt thì “Hậu Giang” luôn là “Cần Thơ” vì Cần Thơ đã từng thuộc Hậu Giang, cũng như khi khen người Quảng Nam chân chất cũng có nghĩa gồm luôn người Đà Nẵng vậy) có liên quan đến cái tên Vũ Minh Hoàng.

Phải ghi rõ là “lãnh đạo Đảng” Cần Thơ vì (a) bản thân người dân Cần thơ không có lỗi gi cả; (b) nếu như cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh là quan tâm duy chỉ đến tự chủ đặc thù thì cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ lại là sự quan tâm đến duy chỉ tận dụng quy trình để hủy phá hệ thống; (c) lãnh đạo Đảng ở các tỉnh khác của Miền Tây dưới quyền Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thì không như vậy; và (d) có sự trùng hợp ở mức độ tầy huầy tại Cần Thơ – như vụ Trịnh Xuân Thanh và nay là Vũ Minh Hoàng – nên dù theo công tâm mà nói kỳ này của Vũ Minh Hoàng thì do Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ gây ra nhưng có dính trực tiếp đến địa phương Cần Thơ nên có manh nha cơ sở cho một ngờ vực rằng hoặc đã có sự càn quét bất trị của virus “xin đích danh” của Cần Thơ tác động đến Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoặc do chính Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã “chỉ đạo” Cần Thơ phát huy truyền thống “xin đích danh” để Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tiếp nhận một hậu duệ thế gia vọng tộc của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

Đồng thời, do có vài động thái trong giới báo chí chính thống dường như đang từ bi ra tay “cứu bồ” hoặc “viết theo chỉ đạo” hoặc “viết theo thuê mướn” nên đã có những thủ thuật phỏng vấn bằng cách dâng tặng mớm sẵn “bày cách  trả lời” – một biến cách biến thể biến dạng biến hình của thủ thuật “nét chữ vào mồm” như trường hợp nhét “dân trí thấp” vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến “Luật Biểu Tình” 2011 khiến nghị sĩ ấy đột nhiên thành tên miệt thị nhân dân – nay biến Vũ Minh Hoàng đột nhiên thành đấng thánh nhân tài ba tột đỉnh của dân tộc “biết nhiều thứ tiếng, đẳng cấp tiến sĩ, không chịu làm việc ở nước ngoài”, tác giả bài viết này buộc phải có ý kiến để giúp Đảng, giúp nước, giúp dân, và giúp giữ gìn chân lý trước nguy biến Đảng Loạn đã hiện rõ vì Loạn Đảng đã lộ chân tướng.

Đảng Loạn vì có đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoàn toàn mất kiểm soát, bị lừa bởi đảng viên cấp cao khác cũng của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mạo danh, mạo nhu cầu, mạo quy trình, mạo thủ tục, mạo hồ sơ, mạo hào quang, để đưa người lạ vào tổ chức cao cấp của Đảng, biến Đảng thành một thành trì khổng lồ vững chắc kiên cố hoàn toàn không có hào nước, không có hào chông, không có cổng, không có cửa, không có lỗ châu mai, không có đạn trong súng, và không có cả lính canh.

Loạn Đảng vì đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ chà đạp nguyên tắc tổ chức của Đảng, tự biến thành loạn thần tặc tử, tức thành phần cần và đủ cho một Loạn Đảng để chống lại Đảng. Những ai cho rằng một đảng viên Cộng Sản cấp cao làm Đảng Cộng Sản ô danh do “nôn nóng” không phải là trọng tội nên không nhất thiết phải khai trừ khỏi Đảng thì bảo đảm họ đích thị là những đồng bọn của hoặc đồng tình với Loạn Đảng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Việt Nam.

A- Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ Là Cái Gì?

1- Các Ban Chỉ Đạo: Vai Trò Lịch Sử Hiện Đại

Rất ít người trong xã hội loài người hiện đại chưa từng biết rõ rằng chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế.

Được thúc đẩy bởi sự thành công vượt bậc trong xây dựng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nghiệt ngã của tự lực cánh sinh lọt thỏm trong thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu của các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhà đất, khủng hoảng ngoại hối, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tín dụng v.v. trên toàn thế giới tư bản trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, cùng với sự đón bắt những thời cơ mới của hội nhập và hợp tác quốc tế, hòa chung nhịp phát triển kinh tế tăng cường ổn định chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khoanh ba vùng chiến lược rốn quốc gia, hình thành các Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên (năm 2002), Ban Chỉ Đạo Tây Bắc (2004), và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ (2004), để chỉ đạo, quản lý, giám sát các tỉnh của ba khu vực này, trong tham mưu cho Bộ Chính Trị của Đảng về phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và xây dựng chiến lược quốc phòng của ba vùng.

Những đảng viên cao cấp lãnh đạo quốc gia tuyệt đại đa số nhất thiết phải xuất thân từ chiếc nôi quyền lực lãnh đạo các Ban Chỉ Đạo quan trọng đa năng thuộc Bộ Chính Trị này để từ đó tiến vào Bộ Chính Trị mà những cái tên quen thuộc như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Văn Bình ở Ban Chỉ Đạo Tây Bắc; Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang, Tô Lâm ở Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên; và Nguyễn Sinh Hùng, Vương Đình Huệ ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ. Không có tầm quản lý vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia thì không thể lãnh đạo quốc gia. Đã ở vị trí lãnh đạo thành công vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia tất có tầm vóc quản lý cả quốc gia. Đã có tầm vóc quản lý cả quốc gia tất có một tỷ lệ nhất định cơ hội lãnh đạo cả quốc gia. Đây là sự đơn giản trường kỳ tuần tự tiệm tiến vững chãi của những lãnh đạo là danh nhân nước Việt của thời đại Thế Kỷ XXI như Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, và Nguyễn Xuân Phúc.

Từ đó suy ra bài học dành cho tất cả những kẻ hậu sinh khả ố thời hiện đại là: đại kế để trèo lên cao nhất, nhanh nhất, chắc chắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo quốc gia là phải bằng mọi giá nhảy vọt chen ngang ngay lập tức vào hàng ngũ lãnh đạo tại một cơ quan “dưới một người, trên cả vạn người” như Ban Chỉ Đạo, quyết không để mất ghế làm một lãnh đạo trong một Ban Chỉ Đạo vào tay kẻ khác mà số lượng đang rất đông cũng đang áp dụng chiêu trò ào ạt kiếm bằng cấp nước ngoài và chạy chọt chen ngang như mình. Đơn giản hơn theo hướng phản luận đề của trứng-cho-ra-gà và gà-cho-ra-trứng: chỉ cần ở ghế cao trong một Ban Chỉ Đạo là tự nhiên có tầm vóc quản lý cả quốc gia để quản lý cả quốc gia. Đây là sự đơn giản đi tắt đón đầu của những búp bê nhựa tái chế Vũ Minh Hoàng trong thời đại Thế kỷ XXI.

2- Các Ban Chỉ Đạo: Các Chính Phủ Trong Đảng

Tuy nhiên, mô hình các Ban Chỉ Đạo của Bộ Chính Trị có đầy đủ các ban bệ như Vụ Kinh Tế, Vụ Văn Hoá – Xã Hội, Vụ An Ninh – Quốc Phòng, Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo, và Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị, dưới quyền các Vụ Trưởng và Vụ Phó, lại cho thấy có những vấn đề mang tính vấn nạn hiệu quả của cơ cấu tổ chức của Đảng.

Trong thực tế, tổ chức của Trung Ương Đảng Cộng Sản đã sẵn có riêng các Vụ Kinh Tế Tổng Hợp, Vụ Xã Hội, Vụ Công Nghiệp, Vụ Nông Nghiệp – Nông Thôn, và Vụ Địa Phương. Tất nhiên, các Vụ này cũng phải có sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó.

Như vậy, với việc

(a) Chính Phủ có rất nhiều Bộ, mỗi Bộ có rất nhiều Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa;

(b) Trung Ương Đảng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó cùng một vai cơ quan ngang-Vụ dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; và

(c) Bộ Chính Trị có 3 Ban – mỗi Ban cũng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa tuy không hoàn toàn giống nhau ở 100% lĩnh vực hay tên gọi, cùng một vài cơ quan ngang-Ban cũng dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; thì

hoàn toàn không rõ “vụ trưởng” nào cao hơn “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào chỉ đạo “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào quyết định chiếc ghế “vụ trưởng” tương tự cho “vụ” tương tự ở cơ quan quyền lực khác, và quyền lợi/phúc lợi/chế độ của “vụ trưởng” nào hơn “vụ trưởng” tương tự ở cơ quan quyền lực khác.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Như Nhau thì quả thực cơ chế tổ chức của Đảng đã biến thiên thành Tam Đầu Chế tức cơ quan quyền lực nào cũng có “chính phủ” riêng: Cơ Quan Chính Phủ Trong Trung Ương Đảng, Cơ Quan Chính Phủ Trong Bộ Chính Trị, cùng tồn tại với Cơ Quan Chính Phủ trong Chính Phủ, hình thành môi trường đầy dẫy xung đột quyền năng, đầy tràn xung đột quyền lực, đầy ngập xung đột quyền lợi, đầy đủ xung đột hiệu năng, đầy ắp xung đột cơ chế, và đầy nghẹt xung đột quy trình.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Khác Nhau thì quả thực đã có sự bất lực của tổ chức guồng máy theo kiểu tài tử vô tư vô tâm vô bài bản, hoặc không chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” dậy sóng quan liêu như của Mỹ tương tự như hàng tỷ chi tiết “khác nhau” để vận hành một con tàu vũ trụ trên đường vượt Thái Dương Hệ đến Hỏa Tinh. Còn cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” không chút lăn tăn quan liêu như của Việt Nam hiện nay tương tự như một chiếc xe ô-tô con 3 chỗ dài 3 mét sơn 3 màu mang 3 nhãn hiệu khác nhau có 3 bánh xe kích cỡ khác nhau, 3 bánh lái vô-lăng khác nhau, 3 côn ly-hợp khác nhau, 3 phanh chân khác nhau, 3 phanh tay khác nhau, 3 bàn đạp ga khác nhau, xài 3 thứ nhiên liệu hiện đại khác nhau của pin-mặt-trời/xăng-hóa-thạch/điện-sạc, do 3 chủ nhân điều khiển khác nhau cùng vận hành cổ xe ấy chạy trên đường vượt Đê La Thành đến Hỏa Lò.

Tất cả, dù Như Nhau hay Khác Nhau, đều dẫn đến một cơ may và một thảm họa.

Cơ may là khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, giúp Đảng nhận ra ngay các bất phù hợp để điều chỉnh hợp lý hóa và thải loại các bất khả phù hợp để Đảng hầu hình thành những best practices tức phương cách thực hành tốt nhất của đẳng cấp ưu thế vốn được tôn tạo từ sự thường xuyên hoàn thiện và/hay không ngừng cải thiện.

Thảm họa là ngay cả khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, mà Đảng vẫn thản nhiên duy trì trong hệ thống tổ chức của Đảng những điểm bất phù hợp cùng những điểm bất khả phù hợp khiến liên tục tạo ra những sự việc như Trịnh Xuân Thanh ở Cần Thơ và mới đây nhất là Vũ Minh Hoàng cũng ở Cần Thơ.

B- Tham Gia Chính Trị

1- Các Vấn Đề Chính Trị Cơ Bản

Việt Nam có hai vấn nạn trầm kha về con người đối với (a) giáo dục/đào tạo và (b) chính trị.

Nền giáo dục/đào tạo dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, tức hướng đến (a) non-stop tức không bao giờ có điểm dừng của học hành mở mang trí hóa và truyền thụ tri thức, và (b) thành phẩm “con người” human beings chứ không phải mục đích là tạo ra “người ngợm” ape-like beings.

Một con người được thụ hưởng – và thụ hưởng thành công – một nền giáo dục/đào tạo hiệu quả hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, đặc biệt nếu thực sự đã học hành đàng hoàng và thành công khi đi du học ở một trường đại học thực sự danh tiếng Âu Mỹ sẽ có năng lực đồng bộ đồng nhất về bốn nội dung sau của “chính trị”:

(a) Hiểu Biết Toàn Bộ Ý Nghĩa Của Chính Trị:

i- Chính trị tức politics không chỉ là nắm quyền trị quốc như tuyệt đại đa số người Việt lầm tưởng khiến chỉ nghĩ đến “làm chính trị” như nắm quyền lực quốc gia. Politics hiển hiện mọi lúc mọi nơi mọi lĩnh vực mọi khía cạnh của đời sống kể cả chỉ trong nội bộ một doanh nghiệp bất kể nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Như vậy, chưa hề làm politics tức làm việc thật sự về quản trị chuyên môn thì không thể làm chính trị. Sự đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ của Donald Trump chỉ là một ngạc nhiên đối với những ai tuân theo sự mặc định lệch lạc bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở công ty luật tư nhân rồi tiến vào nghị viện) chứ không là sự ngạc nhiên đối với những bậc đại trí tuân theo quy luật đúng đắn bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở doanh nghiệp tư nhân nói chung). Vũ Minh Hoàng có đã làm politics dài lâu tại những đâu mà lại được đưa vào hệ thống làm chính trị quốc gia?

ii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải trước hết tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp mà Hiến Pháp không bao giờ chấp nhận sự ngự trị của bất tài vô hạnh tham quyền tiêu cực chạy vạy chạy tắt. Vũ Minh Hoàng có đã chạy vạy chạy tắt vi phạm Hiến Pháp hay không?

iii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải biết rằng theo thực hành thường xuyên tốt nhất của các nền dân chủ toàn cầu trong thời điểm hòa bình thì việc “làm chính trị” tất yếu phải qua con đường nghị viện: phải trở thành nghị sĩ – nghĩa là phải có danh tiếng về chuyên môn, có công trình về chuyên môn, có công trạng về chuyên môn, có sự nổi bật chung để được công chúng biết đến rồi từ đó nhận được phiếu bầu của công chúng ấy khi ra ứng cử hoặc được đề cử ứng cử. Vũ Minh Hoàng được bao nhiêu chục người dân biết đến tại Tây Nam Bộ mà được cho chen vào tắt trên bước đường “làm chính trị”?

iv- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải có kiến thức – và thể hiện được bằng hùng biện và thắng tranh biện – về những đề tài “chính trị”, chẳng hạn về từng trong số gần 20 hệ thống chính trị, về việc trong gần 50 loại hình dân chủ thì Việt Nam loại dân chủ nào và vì sao trong các cuộc chiến tranh khủng khiếp giữa các nền dân chủ thì người ta không liệt kê Việt Nam vào danh mục các cuộc chiến tranh giữa Mỹ với các nước khác suốt chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ, và về khả năng hùng biện tất cả các nội dung của Hiến Pháp Việt Nam trong đó có vị trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đường hướng chính trị của đất nước mà người “làm chính trị” bắt buộc không những phải có mà phải ở đẳng cấp cao nhất trong tranh biện ý thức hệ và luật pháp trực tiếp với nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài. Vũ Minh Hoàng có dám tranh biện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt với tác giả bài viết này về tất cả các vấn đề chính trị để khẳng định năng lực và năng lượng “làm chính trị”?

Như vậy, các lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có đã hiểu hết ý nghĩa của politics, có biết người “làm chính trị” phải nắm hết các nội dung trên, và có biết nhân vật Vũ Minh Hoàng “muốn làm chính trị từ nhỏ” ấy đã hiểu biết ra sao về “làm chính trị” hay chưa mà lại khinh miệt dân tộc bằng cách giao “chính trị” cho đứa hài nhi ấy “làm”?

(b) Có Thái Độ 1 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong thực sự hiểu rõ nhân vật hay các nhân vật mình sẽ chọn bỏ phiếu bầu cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương, thực sự có hiểu biết trách nhiệm bản thân trong việc bỏ phiếu bầu cử, thực sự có hiểu biết rằng nhân vật hay những nhân vật mình đã bỏ phiếu bầu cử sẽ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với mình, với “nhóm” mình, với địa phương mình.

(c) Có Thái Độ 2 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong tự ứng cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương với sự hiểu biết thực sự về trách nhiệm bản thân trong tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và nếu là nghị sĩ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với “nhóm” mình và với địa phương mình.

(d) Có Thái Độ 3 Đối Với Chính Trị: hiểu biết rằng mỗi khi có ai phát ngôn “không quan tâm đến chính trị” thì đó dứt khoát là người hoặc chống Cộng, hoặc không còn năng lực tâm thần, hoặc trọn đời sống bám, hoặc chưa từng được giáo hóa về ba điểm a và b và c nêu trên – vì rằng ngay cả người làm việc cơ mật như tình báo hay gián điệp cũng không bao giờ ngu dại tuyên bố kiểu tạo vỏ bọc đầy lộ liễu trước các tình báo viên lão luyện rằng “tôi không quan tâm đến chính trị”.

Hãy lấy công tâm mà nhận định cũng như hãy lấy thực tế từ bản thân đảng viên cốt cán, từ lực lượng hậu bị của Đảng, từ giới trí thức do Đảng “bảo bọc”, từ giới trí thức “tự túc”, từ giới tinh hoa bậc nhất của khoa giáo và truyền thông chính thống để chứng minh và khẳng định đã có hay chưa ai hay những ai trong tất cả các lực lượng này đã từng biết đến bốn điều a và b và c và d về chính trị kể trên. Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ sau khi nhuần nhuyễn về Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lenin, và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, nắm vận mệnh quốc gia dân tộc, leo lên đỉnh cao quyền lực trong  Trung Ương Đảng và vào Ban Chỉ Đạo, lại tự tung tự tác tự ý sản sinh ra những hài nhi chính trị như Vũ Minh Hoàng, tự tung tự tác tự ý đặt những hài nhi ấy vào ngôi cao lãnh đạo để tái tạo các phiên bản tép riu nội địa Trịnh Xuân Thanh phá hoại thanh danh Đảng Cộng Sản Việt Nam hoặc cho ra phiên bản loại tôm càng nhập khẩu Mikhail Gorbachev đặt dấu chấm hết cho quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Sẽ không ngoa nếu có kẻ chống Việt muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản lập luận rằng – mà không bất kỳ ai trong toàn Đảng kể cả tác giả bài viết này luôn ra sức bảo vệ Đảng có thể hùng biện chống lại – Trung Ương Đảng đang phó mặc buông xuôi cho các Ban Chỉ Đạo sử dụng quyền lực tối cao để tự quyết đội ngũ vây cánh, tự chủ tài chính, và tự lập lãnh địa hùng cứ một phương chờ ngày ly khai tam tứ ngũ lục phân thiên hạ.

2- Cải Cách Giáo Dục: Học Là Cái Gì? Du Học Là Cái gì? Bằng Cấp Là Cái Gì?

Không những lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mà cả Vũ Minh Hoàng đều không hiểu biết về giáo dục & đào tạo, về ý nghĩa của việc học, về lý do của du học, và về giá trị của các đẳng cấp của bằng cấp.

Do nội dung này đã được viết về rất đầy đủ như trong đường link được cung cấp ở phần tham khảo bên dưới, các điểm chính ngắn gọn sau được nêu lên để báo nguy về sự sụp đổ của tư duy giáo dục & đào tạo của Đảng:

a) Con người nhất thiết phải có lòng tự trọng

b) Vì lòng tự trọng, người ta học chữ hoặc học nghề để có thể tạo lập cuộc mưu sinh

c) Khi điều kiện tự túc có thể đáp ứng được, người tự trọng đi du học vì muốn tiếp cận ngành học không sẵn có ở Việt Nam, tiếp cận cách học hiệu quả để tự phát triển và nhằm áp dụng phương pháp mới lạ ấy vào sự đầu tư cho sự nghiệp chuyên môn của mình, tiếp cận nguồn tài liệu và nguồn giảng viên cao cấp hơn ở Việt Nam, và tiếp cận các cơ hội khác dù là tạo cơ sở tiếp cận các học bổng khác hay đơn giản chỉ để tiếp cận cơ hội việc làm cho một kế sinh nhai. Không ai có trí tuệ mà lại cho rằng đi du học là để có bằng cấp có giá trị hơn bằng cấp của Việt Nam vì đó là lập luận của kẻ bất tài vô hạnh chỉ có thể đi tìm việc tại Việt Nam ở các doanh nghiệp không quan trọng hoặc ở các cơ quan quyền lực mà điển hình là Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

d) Vì mục đích mở mang kiến thức giúp cho cuộc mưu sinh ít đi những khó khăn, người ta học nhiều hơn, chăm chỉ hơn, tập trung đúng năng lực trí tuệ và tài chính hơn, và theo đúng sở thích hơn cũng trên cơ sở năng lực trí tuệ và tài chính

e) Vì phục vụ sự học cao hơn đáp ứng một nhu cầu cụ thể và yêu cầu cụ thể của công việc chuyên môn, người tự trọng sẽ tự lo liệu thu xếp để đạt được đẳng cấp “thạc sĩ” để làm quen với việc nghiên cứu rộng hơn, làm quen với việc hợp tác nhóm qua đó lãnh đạo dự án nhỏ của nhóm và lãnh đạo nhóm, làm quen với việc đưa những kinh nghiệm thực tế làm politics ra trao đổi với các bạn trong nhóm, mà tất cả những động tác nghiên cứu, làm việc nhóm, làm dự án, quản lý công việc từ chương trình thạc sĩ sẽ giúp người đạt đẳng cấp ấy sẽ làm politics tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cao hơn của nơi thuộc kế sinh nhai ấy.

f) Chỉ với năng lực vượt trội về chuyên môn, thói quen nghiên cứu hàn lâm, kèm với khát khao theo con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học, người ta sẽ cố đạt trình độ một tiến sĩ.

Vũ Minh Hoàng học lung tung, học không cần hành (học một lèo không cần thời gian tối thiểu bao nhiêu năm làm việc sau tốt nghiệp đại học để đủ tiêu chuẩn học thạc sĩ, vốn là kiểu học truyền nhiễm từ Đông Nam Á hủy phá chất lượng đào tạo toàn bộ các đại học lừng danh Âu Mỹ) và học tiến sĩ vì “làm chính trị” có bằng tiến sĩ sẽ được coi trọng hơn.

Giáo dục, do đó, phải cải cách. Điều quái gở là đã có những đại cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam nhưng tất cả đều chưa bao giờ là cải cách, khiến “con người mới xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa hề được sinh ra kể từ 30-4-1975, khiến lạm phát số lượng “trí thức trẻ”, gia tăng số lượng thạc sĩ/tiến sĩ trên báo cáo số liệu của Việt Nam chứ không trên bản đồ tri thức của thế giới, khiến Vũ Minh Hoàng cắm đầu đi học một lèo lấy tiến sĩ chỉ vì thích làm chính trị từ nhỏ, và khiến lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nghĩ rằng:

– Đầu tư có nghĩa là chỉ cần đưa mấy anh Nhật đem tiền về Cần Thơ, bất kể sự thật là nhà đầu tư Nhật phải sinh lời trên điều kiện tiên quyết Cần Thơ phải hy sinh môi trường Cần Thơ, “đất vàng” Cần Thơ, phúc lợi Cần Thơ và cuộc sống Cần Thơ, bất kể sự thật là Cần Thơ chẳng còn gì về “nông nghiệp” để Vũ Minh Hoàng đưa luận án tiến sĩ phát triển nông nghiệp vào cuộc sống Cần Thơ, đưa mấy công ty nông nghiệp Nhật rót tiền vào Cần Thơ không biết để làm gì, bất kể sự thật là những nhà đầu tư nước khác nếu quan tâm đến Cần Thơ buộc phải tránh Cần Thơ do biết Vũ Minh Hoàng được ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho cắm dùi ở Nhật sẽ thiên vị Nhật Bản, bất kể sự thật là Vũ Minh Hoàng theo con đường “làm chính trị” đúng quy trình nên sẽ sớm chia tay Cần Thơ để  trấn nhậm làm lãnh đạo Tỉnh Ủy ở tỉnh khác rồi từ đó tiến vào Chính Phủ kể cả Bộ Chính Trị, khiến hậu duệ của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại sẽ phải noi gương tiền bối tiếp tục “nôn nóng” chèn ngang đứa hài nhi biết tiếng nước ngoài sắp có bằng cấp tiến sĩ vào làm Vụ Trưởng.

– Vũ Minh Hoàng nhất thiết phải có danh phận để trấn nhậm ở Nhật cuốn hút đầu tư Nhật; song, trước thực tế là luôn luôn có các “bằng cấp hữu nghị” tức không dựa trên thực tài thực lực học hành mà chỉ để tạo điều kiện hình thành tầng lớp lãnh đạo thân mình như Liên Xô cấp cho giới tinh hoa Miền Bắc (nên không có công trình nghiên cứu khoa học nào hữu dụng), Mỹ cấp cho giới tinh hoa Miền Nam (nên tất cả các lãnh đạo giáo dục Sài Gòn đều kém tiếng Anh so với tác giả bài viết này), và Fulbright cấp cho giới tinh hoa dự kiến của Việt Nam (nên đa số phơi bày chống Cộng chứ không trình bày trí tuệ chuyên môn), nên việc phong hàm vụ trưởng/vụ phó cho Vũ Minh Hoàng sẽ đồng nghĩa với việc Nhật sẽ cấp bằng cấp hữu nghị cho Vũ Minh Hoàng, biến Vũ Minh Hoàng thành chức sắc Việt Nam đem lại lợi nhuận và quyền lợi cho Nhật Bản.

3- Cải Cách Tiêu Chuẩn: Tiêu Chuẩn Là Cái Gì?

Vũ Minh Hoàng tuyên bố trình độ văn bằng của y là đáp ứng tiêu chuẩn.

Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải trả lời bằng văn bản cho Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước câu hỏi: quy định nào của Đảng ghi rằng Học không cần Hành, rằng bằng tiến sĩ không để nghiên cứu chuyên môn phục vụ phát triển kinh tế quốc dân mà để làm chính trị như cách để buộc các chính khách chính đảng nước ngoài phải cung kính “Thưa Tiến Sĩ” khi nói chuyện với đảng viên cao cấp Việt Nam?

4- Cải Cách Tham Gia Chính Trị: Tham Gia Chính Trị Là Cái Gì?

Thời đại mới của Việt Nam đòi hỏi những tư duy mới.

Tư duy mới không phải là về thể chế chính trị vì trên toàn thế giới bất kỳ sự đi ngược lại Hiến Pháp quốc gia đều là trọng tội, phản động, và phản quốc.

Tư duy mới phải theo thông lệ áp dụng toàn cầu: làm chính trị bắt đầu từ vai trò nghị sĩ Quốc Hội, vì rằng để trở thành nghị sĩ thì bản thân một người phải có trình độ học vấn, quá trình công tác chuyên môn, danh tiếng và uy tín với cộng đồng, và đặc biệt là được cử tri đặt vào tay người ấy trọng trách “làm chính trị”.

Theo tư duy mới ấy, sự tích cực sẽ được nâng cao tột đỉnh vì người dân có tài sẽ không phải chịu khuất thân dưới quyền quản lý của người khác chỉ vì người khác ấy có khả năng “học một lèo không cần làm lụng kiếm tiền lương nuôi thân với tư cách người tự trọng, có ô dù chở che tạo điều kiện chen ngang của thế gia vọng tộc tinh hoa của Đảng.

Từ tư duy mới nói trên, tầm vóc uy tín tuyệt đối của Đảng sẽ được nâng cao tột đỉnh vì

– Người công dân là chủ thể đích thực của nền dân chủ Việt Nam nên dù ngoài Đảng cũng không thể bị tập thể khác trong Đảng độc quyền làm lãnh đạo đại cuộc phát triển quốc gia;

– Người công dân là đối tượng đích thực của sự phục vụ của Đảng nên dù ngoài Đảng cũng không thể chỉ ở vị trí phục vụ những đảng viên được ưu ái chọn sẵn;

– Người công dân là đối trọng đích thực với Đảng tức trên cở sở và nền tảng của sự ngang hàng về vị thế, ngang bằng về sự kính trọng, và công bằng về quyền lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng việc chiến đấu hy sinh trên chiến trường khi nổ ra chiến tranh là của người công dân được tổng động viên chứ không phải của Đảng viên trong quân đội hay con em của các Đảng viên, vì rằng việc lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân là của người công dân yêu nước có năng lực cao chứ không phải họ tiếp tục luôn lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân để những đảng viên được ưu ái chọn sẵn làm lãnh đạo họ để hưởng thụ ngôi cao quyền trọng từ thành quả lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân của người dân ngoài Đảng; và

– Từ những lý do trên, việc “làm chính trị” là quyền của các công dân gương mẫu, nhiều thành tích, tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp, bảo vệ thể chế chính trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và được đắc cử minh bạch danh chính ngôn thuận vào Quốc Hội, từ đó tham chính, nghĩa là theo quy trinh tuyệt đối đúng của thời bình theo đó “Nghị sĩ (làm chính trị) ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức Chính Phủ (tham chính)“, chứ không phải theo quy trình thời loạn bấy lâu nay của “Đảng viên ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức trung ương (tham chính) ==> Quan chức Chính phủ (làm chính trị) ==> Nghị Sĩ“.

C- Vũ Minh Hoàng Muốn Là Được

Vũ Minh Hoàng tuyên bố từ nhỏ đã muốn tham gia chính trị.

Bất kỳ đứa bé thần kinh khỏe mạnh nào cũng nghĩ đến việc mình sẽ làm tổng thống.

Cái ý nghĩ ấy bắt đầu biến mất ở đa số đứa bé nào phát triển khỏe mạnh lên “tuổi teen”.

Phát triển khỏe mạnh ở “tuổi teen” nghĩa là hoặc bận rộn với tình cảm yêu đương, hoặc ý thức về những khó khăn trong cuộc sống gia đình với cha mẹ cùng các em mà mình là một thành viên nhỏ bé có ý thức trách nhiệm.

Tình cảm yêu đương khiến đứa bé không còn bé ấy miệt mài lặn ngụp với mộng mơ, xóa sạch cái việc “làm tổng thống” đã không còn là quan trọng cho cuộc đời.

Ý thức về trách nhiệm trước cuộc sống khó khăn của gia đình khiến người tuổi teen trưởng thành trước tuổi, nhận ra cuộc đời rất khó để có màu hống, và cái chính trong đời sống trở thành sự dằn vặt giữa sự tiếp tục lao vào miệt mài học tập để có được một kế sinh nhai có lý hơn và sự quyết định phải hy sinh việc học tìm một kế sinh nhai cụ thể hơn.

Những quá trình mang tính hành trạng tư duy ấy khiến người trẻ tuổi nhận ra giá trị của thực tế, và cái ước mơ “làm tổng thống” (tức “làm chính trị”) trở nên không bao giờ còn tồn tại hay được xem có giá trị theo đuổi hơn thu nhập cao và cao hơn. Chưa kể, trẻ em Mỹ dần nhận ra rằng không trở thành nghị sĩ giàu có và nổi bật nhất của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ; còn trẻ em Việt Nam dần nhận ra rằng không là đoàn viên cao cấp sẽ không thành đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà không là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành lãnh đạo Việt Nam.

Từ đó suy ra, việc Vũ Minh Hoàng vẫn còn duy trì ước mong từ nhỏ “tham gia chính trị” sẽ đồng nghĩa với việc:

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nâng niu ưu ái vẫn còn là đứa bé

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trao cho trọng trách chiến lược phát triển đầu tư kinh tế khu vực vẫn là unfinished person tức (a) người chưa trưởng thành do chưa từng yêu đương ai mơ mộng đến ai; (b) người không hấp dẫn về tính cách hào hiệp bản lĩnh do chưa từng được ai yêu đương; (c) người vô trách nhiệm do chưa từng bận tâm cho một công việc có thu nhập để phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhu cầu sống của gia đình, hay nhu cầu làm việc thiện của bản thân và gia đình; và (d) không có định hướng trí tuệ mà chỉ có mưu đồ “tham gia chính trị tắt” tức kiểu bị khinh miệt của political shortcutism như minh chứng của nỗ lực lấy Cử Nhân Chính Trị Quan Hệ Quốc Tế không để xin làm nhân viên Bộ Ngoại Giao, lấy Thạc Sĩ  Phát Triển Quốc Tế không để xin làm nhân viên phục vụ cơ quan Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, lấy Thạc Sĩ Hành Chính Công không để làm giảng viên đại học bộ môn này hay để xin làm công chức phục vụ cho Đảng trong đại cuộc cải cách hành chính quốc gia vốn đang dẫm chân tại chỗ, và đang chờ lấy Tiến Sĩ Kinh Tế không vì theo sự nghiệp nhà nghiên cứu hàn lâm mà muốn dựa hơi Khoa chủ quản của ngành kinh tế ấy là Khoa Nông Nghiệp để phù hợp với chiếc ghế sẵn có (lãnh đạo một Vụ) ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trên đó có chiêu bài “phát triển Miền Tây Nông Nghiệp” tức có cùng chữ “nông nghiệp” vậy.

Tuổi tác luôn có giá trị của nó:

– Lãnh đạo trẻ tuổi hay chuyên gia trẻ tuổi hoàn toàn thích hợp cho các công việc sáng tạo thích táy máy tay chân như trong ngành liên quan đến công nghệ thông tin hay cơ khí dân dụng;

– Lãnh đạo trẻ tuổi dù quy mô cá thể hay tập đoàn khổng lồ hoàn toàn thích hợp cho các đầu tư kinh doanh tự thân tự túc tự vay tự chịu trách nhiệm của bản thân và/hay gia đình ;

– Lãnh đạo trẻ tuổi không bao giờ thích hợp cho các cơ quan nhà nước mà hoạt động của chúng không liên quan đến kinh doanh/sáng tạo/chế tạo công nghệ thông tin hay cơ khí kỹ thuật dân dụng;

– Một giáo sư toán, một nhà đoạt giải toán quốc tế, một nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình, một chuyên gia trưởng phòng NASA xuất sắc có thể trẻ tuổi;

– Một giáo sư giải phẫu, một bác sĩ ghép tạng lừng danh, một nhà đoạt giải Nobel khoa học tự nhiên như Vật Lý/Hóa Học/Y Sinh, một nhà đoạt giải Nobel Văn Học hay Nobel Kinh Tế không bao giờ trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một cuộc cách mạng ở một nước nhược tiểu có thể trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một nền chính trị đã vững mạnh không thể trẻ tuổi;

– Các nhà tư vấn chính sách và tư vấn phát triển không bao giờ trẻ tuổi,

– Các nhà quản lý các đế chế kinh tài tư bản thế giới không bao giờ trẻ tuổi.

Lãnh đạo một hoạt động có mang tính chiến lược như “phát triển nông nghiệp Tây Nam Bộ” không thể trẻ tuổi.

Quản lý đại cuộc “kêu gọi đầu tư” không thể giao cho một người trẻ tuổi chưa hề thực sự quản lý công việc, chưa hề thực sự quản lý nhân sự, chưa hề thực sự quản lý phát triển thành quả học tập chuyên môn, chưa hề nhận được sự đánh giá khen-chê của bất kỳ “đồng nghiệp” cùng ngành đào tạo nào, cũng như chưa hề được những cư dân địa phương phó thác vận mệnh biết đến và/hay thán phục.

Vũ Minh Hoàng muốn là được, vì Đảng đã có những thành phần Loạn Đảng muốn làm Đảng Loạn nên sẵn sàng triệt hạ tất cả các nhân-tài-dân-dã để đóng sẵn ghế lãnh đạo cho các tinh-hoa-Đảng ngay cả khi nhân vật “Đảng” ấy chưa – và sẽ mãi mãi không – bao giờ là “tinh hoa”.

Tiếc cho người dân Việt Nam vì con em của họ cũng có những ước mơ –thậm chí ước mơ “tham gia chính trị” như Vũ Minh Hoàng – và cũng có những năng lực – thậm chí còn hơn Vũ Minh Hoàng cả vạn bậc ở chỗ có kinh nghiệm làm việc dồi dào và có nhận thức đúng đắn của cống hiến vì Đảng vì Nước vì Dân chứ không vì Ghế như Vũ Minh Hoàng – lại sẽ mãi ở kiếp nhân viên phục vụ nếu không thuộc gia đình Đảng viên cao cấp.

D- Chính Quyền Cần Thơ Muốn Là Được

1) Cần Thơ Tạo Nên Lịch Sử

Trịnh Xuân Thanh là dấu ấn thành công của Cần Thơ: Cần Thơ mà “xin đích danh ai” là sẽ được. Đây là ưu điểm mà tất cả các tỉnh không thuộc Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thèm muốn mà không được.

2) Cần Thơ Lập Lại Lịch Sử

Vũ Minh Hoàng lại nổi lên như một nhân vật vì Cần Thơ, chứng tỏ Đảng ưu tiên cho Cần Thơ bằng cách lôi từ trong bóng tối ra giao cho Cần Thơ một nhân tài không-cần-làm-cũng-có-sẵn-kinh nghiệm để “đem đầu tư Nhật về Cần Thơ”. Và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Tây Đô vì đã bỏ mặc tất cả các tỉnh còn lại của Tây Nam Bộ do không có tỉnh nào có tên mang chữ Tây (du học Tây) và Đô (USD tiền đầu tư) như Cần Thơ.

3) Cần Thơ Rút Kinh Nghiệm Lịch Sử

Rất có thể vì sự thất bại ê chề đầy tai tiếng của việc trực tiếp xin Trịnh Xuân Thanh, phải chăng Cần Thơ đã nhờ Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ xin giúp? Tất cả sẽ tồn tại như một thuyết âm mưu vậy.

E- Phải Hủy Bỏ Triệt Để Và Toàn Diện

Việc dựng xây luôn được tiến hành với nhiều hơn một yếu cầu như (a) xây mới từ nơi lựa chọn mới, (b) đào đắp gia cố lại nền móng, (c) khơi thêm tầng, (d) tháo dỡ bớt tầng, (e) mở rộng diện tích mặt bằng, (f) thu hẹp diện tích mặt bằng, (g) tạo khoảng sân vườn và/hoặc sân trời hay giếng trời, (h) lắp thêm mái hiên, (i) dựng cổng dựng rào, và (j) thay màu ngói hay tường.

Chỉ có kẻ dốt nát tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có người thành công vượt bậc mới đủ sức hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng mới mà dù theo cách nào bản thân vẫn là chủ nhân ông quyền lực duy nhất của gia tài.

Chỉ có bọn thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có một Đảng chính trị thành công vượt bậc mới đủ sức người sức của sức quản trị để hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng thêm kiến trúc mới mà dù theo cách nào bản thân Đảng vẫn là lãnh đạo duy nhất của quốc gia.

Chỉ có bọn truyền thông ngu đần thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình kiếm tìm chiếc mũ “phản động” để chụp lên đầu tác giả bài viết này, người đã như một tiền lệ kiểu Donald Trump đạp đầu dìm cổ truyền thông chính-thống-bất-chính-đạo xuống bùn nhơ.

Vì vậy, nội dung loại bỏ toàn diện sau đối với các Ban Chỉ Đạo là để sử dụng quyền lực ưu việt có thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam biến tổ chức Đảng thành siêu việt.

1) Loại Bỏ Tất Cả Các Ban Chỉ Đạo

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm các lĩnh vực xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và tất cả các Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc Mặt Trận Tổ Quốc hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm luôn cả lĩnh vực bảo đảm an ninh/quốc phòng, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của các Bộ đặc thù, và do đó không bao giờ nên – hoặc không bao giờ có thể – đặt ngoài sự giám quản của Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng,  Bộ Công An, và tất cả các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu. An ninh/Quốc phòng phải không được – và không bao giờ được phép – xem như thứ mà quá nhiều cơ quan được nhúng tay vào chỉ vì lý do duy nhất của “cùng là cấp cao ngang hàng của Đảng” nên không chịu mất phần quản lý lực lượng vũ trang để tạo vây cánh riêng.

Từ các phân tích xuyên suốt nêu trên,

trước thực tế

(a) Đảng có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(b) Chính Phủ có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(c) Mặt Trận Tổ Quốc có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(d) Các Ban Chỉ Đạo không có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(e) Tổ chức Đảng được minh định trong Điều Lệ Đảng

có thể khẳng định Chính Phủ trực tiếp điều hành đất nước và tổ chức Đảng không hề được hiến định là một Chính Phủ Cấp Trên của Chính Phủ.

Sự cải tổ cơ cấu tổ chức của Đảng do đó cần hợp lý hóa theo sát trào lưu hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm, đồng bộ, nghiêm ngặt, khoa học, nhất thiết nên xét đến hướng sau:

a- Trung Ương Đảng sẵn có bộ máy phục vụ Bộ Chính Trị đối với những nội dung như phân định cho các Ban Chỉ Đạo chứ không phải để Bộ Chính Trị thành lập riêng các Ban Chỉ Đạo ấy; do đó, giải thể các Ban Chỉ Đạo Tây Bắc, Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ;

b- Trung Ương Đảng có cơ quan quyền lực mang tên Ban Kinh Tế Trung Ương, và cơ quan này, nếu muốn, có thể thành lập các tiểu ban dưới quyền bao gồm các Ban Tây Bắc, Ban Tây Nguyên, Ban Tây Nam Bộ, Ban Đông Nam Bộ, hay Ban Bắc Trung Bộ, v.v., tùy hoạch định chính sách khi thực sự tối cần thiết;

c- Ban Kinh Tế Trung Ương, do đó, là cơ quan trí tuệ của Trung Ương Đảng và của Bộ Chính Trị mà không phải có sự phân chia ban bệ hình thành những “triều đình” tức những “chính phủ” khác nhau cho những cơ chế dường như chỉ cho cảm nhận tất cả không chịu tự đặt dưới quyền nhau; và như vậy

d- 3 Ban Chỉ Đạo bị loại bỏ do không còn bất cứ lý do chức năng tưởng tượng hay thực tế nào tồn tại vì

– Chuyền chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của 3 Vụ Kinh Tế của 3 Ban Chỉ Đạo về Ban Kinh Tế Trung Ương (trọn gói hoặc phân nhánh thành các tiểu ban hoặc tiểu phòng về Vụ Kinh Tế Tổng Hợp hay Vụ Công Nghiệp và Vụ Nông Nghiệp-Nông Thôn), hoặc giải thể hẳn nếu các nơi này không cho rằng việc thành lập các “tiểu ban chỉ đạo vùng” là cần thiết.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Văn Hoá – Xã Hội của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Xã Hội.

– Giải thể hẳn 3 Vụ An Ninh – Quốc Phòng của 3 Ban Chỉ Đạo vì lý do tối quan trọng của an ninh-quốc phòng do các cơ quan tối quan trọng đặc thù an ninh-quốc phòng đảm trách như Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, và các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Địa Phương, chưa kể Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam đang thất bại thảm hại từ việc xao nhãng công tác “dân tộc – tôn giáo” của họ, mà các vụ việc giáo dân “biểu tình” làm loạn không rõ thuộc trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc, của Trung Ương Đảng, hay của các Ban Chỉ Đạo.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị của 3 Ban Chỉ Đạo vì toàn quốc đã có hệ thống dày đặc các Đảng Ủy, Tỉnh Ủy, Thành Ủy vốn mặc định phải chịu luôn trách nhiệm xây dựng hệ thống chính trị của Đảng.

2) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Dụng Nhân Thất Học Kiểu Cần Thơ

Cần Thơ – gộp chung Lãnh Đạo Cần Thơ và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đóng ở Cần Thơ có những động thái nhét người vào Cần Thơ – đang chứng tỏ đã có sự dụng nhân thất học mang signature thương hiệu đặc thù của Cần Thơ. Các phân tích sau, do đó, cũng để gián tiếp khẳng định Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã chưa hề nhận ra và có bất kỳ động thái nào để tận dụng thời cơ cho Cần Thơ ngoại trừ phí bỏ thời cơ phát triển kinh tế mà chỉ lạm dụng thời cơ phát triển nhân sự kiểu nhét người mà lý do là “nôn nóng” chứ hoàn toàn bất tài vô dụng trong phát triển chiến lược toàn vùng Tây Nam Bộ.

a- Thực Lực Sức Mạnh Kinh Tế Quá Khứ Của Cần Thơ

Vào thời điểm cách nay 28 năm lúc tác giả bài viết này trở thành người “có công” giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam – do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Báo Tuổi Trẻ tôn vinh – thì những chuyến đi như con thoi đến các vựa gạo ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, và Hậu Giang, trong đó có Cần Thơ đã được ông ta thực hiện. Sau khi lựa chọn kỹ các công ty cung cấp gạo để ký kết các hợp đồng kinh tế bằng USD đầu tiên của Việt Nam về gạo như Imex Đồng Tháp của Tỉnh Đồng Tháp, Generalimex của Bộ Ngoại Thương, và Imexco của Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm điều tàu vào Cảng Khánh Hội để nhận gạo trở thành thời điểm ông theo sát các đoàn xe tải và các đoàn xà lan chở gạo từ Tây Nam Bộ, cho đến khi ba bộ chứng từ giao hàng Bill of Lading được ký xuất, mà hiệu quả của việc thanh toán cả 3 Letter of Credit cùng sự thành công về chất lượng hàng giao đến Ấn Độ đã làm ông được liên tục tiếp cận bởi các nhà nhập khẩu gạo ở nước ngoài – thậm chí từ Mỹ – ngay cả khi ông quản lý văn phòng đại diện CIMMCO International nên không  có quyền tự do tư vấn hay thực hiện môi giới kinh doanh gạo với bất kỳ ai khác ở hải ngoại.

Thế nhưng, sự tích cực tham dự các Hội Nghị Quốc Tế về gạo sau đó dù ở Cần Thơ hay ở Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự chủ trì cũng của Cần Thơ) chỉ khiến tác giả bài viết này nhận ra một điều: các Đảng Ủy chỉ tập trung hình thành đế chế quyền lực của cái gọi là Hiệp Hội Xuất Nhập Khẩu Lương Thực toàn là những vị (a) chưa hề trực tiếp làm việc với nước ngoài về xuất khẩu gạo, (b) chưa hề có uy tín đối thoại đàm phán đối với các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài, (c) chưa hề có các nghiên cứu nào có liên quan và có giá trị hữu dụng đến chiến lược nông nghiệp, cũng như (d) chưa hề nắm bắt gì về thị trường lúa gạo thế giới, dẫn đến hai thập kỷ liên tiếp sau đó trở thành đầu têu cho báo chí khi có những quyết định –  vô tình do dốt nát hay cố ý tạo lợi thế cho bàn tay vô hình của tư  bản nước ngoài – khiến Việt Nam mất nhiều cơ hội xuất gạo với giá cao hơn, mất một thị trường nhập khẩu đặc thù nào đó, mất sạch các cơ may để nông nghiệp Tây Nam Bộ trong đó có Cần Thơ cất cánh, và mất sạch các sự bảo đảm cho bất kỳ sự thành công nào của đại cuộc Phát Triển Tam Nông.

b- Sức Mạnh Quá Khứ Kinh Tế Chủ Soái Khu Vực Tây Nam Bộ Của Cần Thơ

Với thực lực trên, cùng với ưu thế của một địa phương được mặc định phát triển sớm nhất cả vùng về cơ sở hạ tầng đô thị hóa, cơ sở thủy lộ truyền thống, cơ sở sản xuất kinh tế nông-công-thương, cơ sở dịch vụ đô thị, và cơ sở sức mạnh tài chính, Cần Thơ lẽ ra đã giữ vị thế chủ soái của Tây Nam Bộ nếu như cơ sở Đảng của Cần Thơ chủ động tích cực tư duy ngoài-chiếc-hộp out-of-the-box đối với phát triển của địa phương trong tương quan vùng miền vì Trung Ương đặt để các vị vào vi trí nào là để các vị cung cấp cho Trung Ương các phân tích mang tính kế sách chứ không phải ngự trị chờ rót ngân sách, chở Trung Ương chỉ dạy phải làm gì, chờ Trung Ương ban cho kế sách gì, và chờ quỳ xin hay vận động Trung Ương rót thêm kinh phí, đưa dự án trọng điểm về địa phương, hoặc phân bổ phần bánh lớn hơn từ nguồn vốn ODA mà cả dân tộc Việt Nam phải cùng chung gánh nợ từ nay đến đầu Thế kỷ XXII.

c- Vấn Đề Ngày Nay Của Cần Thơ Về Kinh Tế Và Nhân Lực

Do nội dung kinh tế nông nghiệp chưa hề được phát triển phát huy;

Do những công ước quốc tế dường như chỉ được xem như mang thuộc tính vĩ mô hoàn toàn không là trách nhiệm nghiên cứu nhằm đưa vào kế sách cụ thể của các lãnh đạo Đảng ở địa phương nên các chi tiết của Công Ước Vienna 1985, Nghị Định Thư Montreal 1990, Công Ước Khung Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu 1992 đã chưa hề được tính đến, mà tình hình tự nhiên tác động hủy phá sự phát triển bền vững nông nghiệp vùng Châu Thổ Sông Cửu Long dù mang tính cảnh báo hiển nhiên từ lâu;

Sự sử dụng nhân sự và đầu tư cho nguồn nhân lực của Cần Thơ đã phát ra những tín hiệu khẩn báo cho sự sụp đổ ngay từ đầu của Cần Thơ.

Miền Tây Nam Bộ đã hài lòng với nhân vật kiệt xuất Giáo sư Tiến Sĩ Võ Tòng Xuân trong tạo ra các giống lúa, dù tác giả bài viết này hai chục năm trước đã viết rằng vị giáo sư ấy rồi sẽ chẳng giúp gì cho nông nghiệp Việt Nam do (a) các vấn nạn có thể hé lộ từ các vấn đề nêu lên trong các Công Ước và Nghị Định Thư nói trên chưa hề mang tính chiến lược rõ nét trong các hoạt động chuyên môn của giáo sư; (b) nông nghiệp không chỉ là cây lúa mà còn là cây ăn trái, thảm thực vật, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, (c) do đó giáo sư đã không ở vị trí tầm cỡ để có bất kỳ đóng góp hiệu quả nào trước thực tế thoái hóa giống tất cả các loại cây trái Tây Nam Bộ cũng như suy thoái môi trường từ hoạt động sản xuất công-nông và biến đổi khí hậu. Do vậy, miền Tây Nam Bộ ngoài có thêm vài giống lúa đã không thể làm nông nghiệp phát triển xanh và phát triển bền vững.

Trong khi một nữ nghị sĩ doanh nhân lớn ở Bình Phước (Quốc Hội Khóa XIII) đã nhận ra tác giả bài viết này tại Nghị trường, nhắc lại kỹ niệm về ông 25 năm trước, lúc ông lăn xả đàm phán và cung cấp tài liệu mật để giải quyết sự cố xuất khẩu hạt điều giữa Việt Nam và Ấn Độ tại 3 cuộc họp căng thẳng giữa đại diện Chính Phủ Việt Nam – cán bộ cao cấp Xích Hồng – và Đại Sứ Ấn Độ, mà kết quả là (a) tác giả đã đấu khẩu hùng biện buộc được tất cả 3 công ty Ấn Độ trong đó có CIMMCO International và Mount-a-Mount phải nhận toàn bộ lượng hạt điều đã ký mua của Việt Nam, (b) nông dân và các doanh nghiệp Sông Bé – nay là Bình Phước – thoát nạn trong đó có công ty của vị nữ chủ nhân sau này là nghị sĩ nói trên, còn hậu quả là (c) tác giả bài viết này mất ghế lãnh đạo văn phòng đại diện CIMMCO International do bảo vệ quyền lợi nông dân Việt Nam chống lại quyền lợi của các nhà nhập khẩu nông sản Ấn Độ; thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ như gà mắc tóc trong công tác nhân sự, không biết ai là ai và ai mới thực là người làm nên đại sự cho đại cuộc phát triển Tây Nam Bộ.

Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã hoàn toàn không ai có tầm cỡ chiến lược phát triển khu vực. Chính vì sự không biết, không hiểu, không học, không nhận ra các đòi hỏi cao cấp, nghiêm khắc, nguy nàn của thời gian, thời thế, thời cuộc, mà lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã hấp tấp phong vương cho Vũ Minh Hoàng bất kể

i- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự cần gì để phát triển;

ii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để phát triển;

iii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự có thể tạo mới cái gì để phát triển;

iv- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng nào để phát triển;

v- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;

vi- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để đầu tư ngoài nước;

vii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – vì điểm iv và v  ở trên mà đòi hỏi nhân sự được phong vương phải là tay kiệt xuất, dồi dào kinh nghiệm, đầy ắp công trạng, và phong phú tri thức cùng uy tín cực cao mới đối phó được chu toàn, mà tất cả những yêu cầu phải có này thì vĩnh viễn không bao giờ có nơi đứa trẻ chưa hề làm việc chưa hề được toàn Đảng biết đến, chưa hề thi thố tức đem ra hành hiệu quả cái đã học quả hiệu, và chưa hề được cả giới hàn lâm và bình dân nghe tên.

3) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Đào Tạo Ngợm Lực

a- Nhân Lực Resources & Nhân Lực Capital:

Từ ngàn xưa tất cả các triều đại – dù chính danh hay ngụy danh – đều dựa vào nguồn nhân lực để hình thành, tồn tại, và phát triển.

Nguồn nhân lực ấy luôn phải đặt trên sự nổ lực tự học, chăm hành, trau giồi đức dục của bản thân (tu thân); trong tạo nên và/hay bổ sung nội lực gia đình (tề gia); trong thể hiện cụ thể lòng hy sinh quyền lợi bản thân cùng hạnh phúc cá nhân để ra tham chính giúp vua với lòng trung quân ái quốc (trị quốc), và trong trở thành phân tử gắn kết đầy hữu ích cho xã hội (bình thiên hạ).

Nguồn nhân lực ấy phải lớn mạnh từ trên nền tảng của luật lệ hà khắc để uốn nắn đúng, giám chế đúng (giám sát và chế ngự), phát triển đúng, tưởng thưởng đúng, và trừng trị đúng. Rèn thép và tôi thép hay luyện cán thép không thể bằng phong thái tay trần nhào bột. Và rường cột chống đỡ cho mái nhà quốc gia không thể nào là cây bột hay thanh bánh bột rán.

Một người xuất thân từ human resources là người bình thường, vì bất kỳ ai cũng có thể là human resources đáp ứng cho một yêu cầu công việc nào đó. Và đó là lý do Phòng Nhân Sự HR tuyển dụng từ giám đốc cho đến tạp vụ.

Một người xuất thân từ human capital tức là viên ngọc quý hội đủ các bảo bối mang tên kiến thức, tài năng, kỹ năng, khả năng, sự thông minh nhạy bén, tài truyền thụ, tài đánh giá, và trí tuệ uyên bác, tất cả biến người đó thành một thứ tài sản quý báu của bất kỳ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, quốc gia nào.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những đảng viên nguồn nhân lực human capital nên đã chiến thắng.

b- Ngợm Lực:

Tuy nhên, những sự việc diễn ra ngày càng nhiều hơn, thường xuyên hơn về con người của Đảng đã cho thấy nguồn nhân lực của Đảng đã không còn trên cơ sở human capital mà chỉ là human resources tức không thể cao ngang bằng ngay cả với một doanh nghiệp sở hữu human capital.

Đặc biệt khi nguồn lực đã không trên cơ sở tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ mà lại còn trên bãi ươm mầm mang tên nhân đạo và giáo dục làm sinh sôi nẩy nở sự trây lờn tiến đến hòa trộn vào tội ác, thì chỉ có thể là nguồn ngợm lực (sources of ape-like beings) chứ không bao giờ là nguồn nhân lực (resources of human capital).

Khi sự việc Vũ Minh Hoàng bị công khai, các lãnh đạo của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã chống chế bằng 4 luận điểm ngu xuẩn đần độn sau:

(i) “Việc bổ nhiệm ấy không có hại gì cho Đảng, địa phương và nhân dân, mà chỉ vì sự phát triển chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Điều duy nhất đúng phải luôn là: Cái Gì Có Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Hãy Làm!

Nghĩa là: Cái Gì Có Bất Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Cấm Làm!

Cũng có nghĩa là: Cái Gì Không Có Hại Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân, Nghĩa Là Cũng Không Có Lợi Thì Làm Để Làm Cái Quái Gì?

Điều duy nhất chính xác luôn là: lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ không có gì chứng minh bản thân có tài chiến lược phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì đã “sốt ruột nóng lòng” vốn không bao giờ được phép có nơi người giữ vị trí chiến lược của Đảng, của quốc gia.

(ii) “Cơ quan phát hiện Vũ Minh Hoàng giỏi ngoại ngữ, khi sang Nhật có thể kêu gọi đầu tư được, có thể làm tốt vấn đề kinh tế đối ngoại”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cần phiên dịch nên ban cho phiên dịch viên chiếc ghế lãnh đạo ư?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tài cán đến đâu về ngoại ngữ mà khẳng định Vũ Minh Hoàng “giỏi” ngoại ngữ?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ phải chăng sẽ bổ nhiệm thêm 50 Phó Vụ Trưởng để cử đến 50 quốc gia khác để kêu gọi đầu tư? Vậy đó không phải là việc của các Tham Tán Thương Mại các Đại Sứ Quán Việt Nam? Hay các Tham Tán ấy chỉ giỏi tham làm tán gia bại sản quốc gia? Hay quả thực đã có Chính Phủ trong Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ?

– Nếu tác giả bài viết này xung phong không nhận bất kỳ “hàm” nào của Đảng hay Nhà Nước, làm xuất sắc công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại đầu tư phát triển Tây Nam Bộ, thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có vì Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân mà sử dụng nguồn human capital này không? Hay chỉ công nhận hậu duệ của các đảng viên cao cấp mới có cái thứ human capital mà thế giới tư bản siêu cường có đày ắp còn ở Việt Nam chỉ có Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mới có “nguồn” ấy?

(iii) Quy định bổ nhiệm cán bộ cấp vụ có nêu tiêu chuẩn thế này thế kia, nhưng sau văn bản đó cũng nêu “tùy do lãnh đạo ban quyết định và chịu trách nhiệm”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Đã làm sai còn vận dụng văn bản quy định mà không biết rằng

– Đó là hành động phơi bày điểm yếu chết người của cái gọi là “Quy Định Bổ Nhiệm” của Đảng

– Chỉ có kẻ thất học mới không hiểu rằng nội dung đó chỉ có nghĩa: ngay cả khi các tiêu chuẩn được đáp ứng đủ đầy thì lãnh đạo ban vẫn phải chịu trách nhiệm khi ký quyết định bổ nhiệm. Làm gì có chuyện trí tuệ của Đảng sau khi đề ra bao thành quách lũy hào lại kết rằng: dù vậy vẫn có thể bất kể các thành quách lũy hào trên và muốn chọn ai thì chọn miễn chịu trách nhiệm cho sự chọn ấy!

(iv) Tiêu chuẩn về chính trị có bằng cao cấp, nhưng còn tùy do lãnh đạo ban xem xét và chịu trách nhiệm chứ không phải cứng nhắc hoàn toàn.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại có kẻ đề ra rồi bắt toàn Ban chịu trách nhiệm ư?

– Tổ chức của Đảng mà xem nhẹ tiêu chuẩn chính trị ư?

– Tiêu chuẩn chính trị mà còn dám xem nhẹ thì ai bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của người được bổ nhiệm?

– Sự linh động luôn cần thiết cho một thực thể sống. Tuy nhiên, trong một cơ thể sống vẫn có những bất di bất dịch mà sự di hay dịch nếu xảy ra sẽ biến thành ung thư. Trong bài viết về Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình, tôi đã có tiến cử hiền tài cho Đảng và Nhà Nước, và Bộ Trưởng đã trả lời rất đúng nguyên tắc công bằng chuyên nghiệp. Nguyên tắc, sự công bằng, và tính chuyên nghiệp là những thứ xa xỉ hoàn toàn không bao giờ có tại Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

F- Kết Luận

Vũ Minh Hoàng không chỉ là một cái tên.

Vũ Minh Hoàng là thí dụ điển hình của sự thất bại của cả hệ thống về giáo dục, đào tạo, tư tưởng, trí hóa, nguồn nhân lực, quy trình dụng nhân, và lạm quyền.

Vũ Minh Hoàng mang tính khái niệm về Đảng Loạn.

Đảng Loạn vì Loạn Đảng.

Loạn Đảng là mầm mống khởi đầu của Diệt Đảng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Chủ Đề Quy Trình Dụng Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

14-9-2016 Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Chủ Đề Chính Trị Việt Nam:

18-5-2013 Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

02-7-2013 Tuyệt Thực

26-11-2013  Về thực quyền, thực uy

24-3-2014 Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

01-9-2014 Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

06-4-2015 Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

11-4-2015 Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

11-9-2015 Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

10-10-2015 Diệt Tham Nhũng

02-12-2015 Bôi Nhọ

16-12-2015 Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

25-12-2015 Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

14-01-2016 Chính Trị

02-02-2016 Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

27-4-2016 Bầu Cử

29-4-2016 Ngày 30 Tháng 4

19-7-2016 Tứ Trụ Bắc Việt

08-08-2016 Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

11-9-2016 Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Chủ Đề Chính Trị Hoa Kỳ:

15-02-2014 Nước Mỹ Bất Hạnh

29-3-2014 Nước Mỹ Vỡ Vụn

01-01-2016 Tôi Ủng Hộ Donald Trump

15-4-2016 Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam

17-5-2016 Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

19-6-2016 Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

27-9-2016 Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

25-10-2016 Hillary Clinton

14-11-2016 Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Chủ Đề Chính Trị Thế Giới:

11-3-2016 Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền

12-7-2016 Tôi và Saddam Hussein

25-7-2016 Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

23-7-2016 Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

29-10-2016 Rodrigo Duterte Dạy Cả Thế Giới Âu Mỹ

05-11-2016 Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Điểm Ngời Sáng, Điểm Tăm Tối, và Điểm Chói Chang

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-9-2016

nguyen-thai-binh

Điểm Ngời Sáng Cá Nhân

Ông Nguyễn Thái Bình là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016).

Do một sự ngẫu nhiên, tôi trong thời gian vài năm liền được bố trí một phòng ở cạnh phòng của Ông tại Nhà Khách Trung Ương Đảng số 8 Chu Văn An, Hà Nội, những khi tôi ra Hà Nội dự các kỳ họp quốc hội. Tôi được biết đó là căn phòng Nhà Nước cấp cho Ông vì Ông đã từ chối ở tại một “dinh” riêng mà các quan chức đồng cấp “bộ trưởng” như Ông đều được hưởng. Hàng ngày Ông xuống ăn tại canteen của Nhà Khách. Tất nhiên, Ông có ô tô riêng và tài xế đến đón Ông đến Bộ Nội Vụ làm việc; tuy nhiên, mỗi khi đến Kỳ họp Quốc Hội có nhiều đoàn nghị sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh và một hai tỉnh trú ngụ cùng tại 8 Chu Văn An thì Ông chuyên xin đi nhờ chung xe lớn với các đoàn. Cần nói rõ là Nhà Khách Trưng Ương Đảng chỉ có giá trị lịch sử chứ không có giá trị tiện nghi vì không sang trọng hiện đại như các khách sạn khác vốn được bố trí cho tất cả các đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh còn lại, và chỉ trong năm 2016 mới có một thang máy ngoài trời và là thang máy đầu tiên cho tòa nhà bốn tầng này. Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh luôn ngụ tại đấy từ kỳ họp Quốc Hội khóa đầu tiên sau ngày giải phóng.

Mỗi sáng Chủ Nhật, Ông thường sang gỏ cửa phòng tôi để cùng tôi đàm đạo chuyện quốc gia đại sự và chuyện đời, nhờ đó tôi biết thêm nhiều nét về Ông.

Ông ra Hà Nội nhậm chức nhưng vợ của Ông không tháp tùng cùng phu quân vì là một chức sắc Đảng phải công tác ở tỉnh nhà. Cũng vì vậy mà Ông từ chối nhận ở tại một “tư dinh” đòi hỏi quá nhiều người phục vụ và đội cảnh vệ theo tiêu chuẩn cao cấp của một bộ trưởng. Là người sống giản dị, thân thiện, Ông lại rất sâu sắc khi nói với tôi về những khó khăn của công tác Nội Vụ. Tôi hiểu Ông muốn ám chỉ những sự “đối phó” mà Ông rất có thể phải dùng bản lĩnh một vị tư lệnh một Bộ mà ai cũng biết rõ là quyền lực cao vời để hóa giải, vì Nội Vụ giống như cơ chế “điều binh khiển tướng” trong bố trí nhân sự lãnh đạo tại tất cả các địa phương trên toàn quốc, và do đó (a) không thể không có việc nhiều vị đương nhiệm hoặc tiền nhiệm ắt sẽ tìm đến gặp Ông để xin Ông “ban phát ân huệ” để có một chức vụ cho con cho cháu hay cho người quen, cũng như (b) Ông phải xử trí ra sao khi nguồn nhân lực để “bố trí” lại thiếu hụt về số lượng và/hoặc chất lượng cho một chức danh hay một chiếc ghế ở trung ương hay ở địa phương. Ông đã giữ được đức thanh liêm trong thời gian tại vị, không bị điều tiếng gì phương hại đến thanh danh gương mẫu của mình.

Là một chức sắc mẫn cán, ôn hòa, điềm đạm, Ông gần như thuộc nằm lòng tất cả các quy định luật pháp, các nội dung nghị định, các điều khoản thông tư, để khi trả lời chất vấn tại Quốc Hội có thể ứng khẩu để minh chứng đầy đủ cho một nội dung bất kỳ, đến độ nhiều lúc Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng phải cắt ngang, yêu cầu Ông phải nói ngay luôn vào ý chính, khiến hội trường phải cười ầm lên. Nhưng khi bị chất vấn như kẻ tội đồ đối với việc để mặc cho các Bộ có quá nhiều Thứ Trưởng, quá nhiều Vụ Trưởng, quá nhiều “hàm” Vụ Trưởng, Ông Nguyễn Thái Bình đã ứng khẩu thố lộ rằng Ông đã cải tổ Bộ Nội Vụ, gia giảm rất nhiều số lượng “các quan chức” để làm gương nhưng tấm gương đó đã không được “lan tỏa” ra các Bộ khác vì họ quyết không noi theo. Sự tiết lộ sự thật này của Ông làm cả hội trường nín lặng, hiểu Ông hơn, và những tràng vỗ tay tuy chầm chậm nhưng đầy cảm xúc ấy đã kích hoạt một phản ứng cảm thông: từ đó về sau cho đến khi chấm dứt nhiệm kỳ không một nghị sĩ nào muốn chất vấn Ông thêm nữa vì họ đã hiểu cá nhân vị bộ trưởng ấy đã có sự ngời sáng về trách nhiệm trong lẳng lặng làm gương, trong nắm thật chắc công việc quản lý nhà nước đa đoan, trong gìn giữ đức thanh liêm không để vướng các điều tiếng, và trong nếp sống cực kỳ giản dị và tiết kiệm khó thể thấy nơi một “đại quan”.

Điểm Tối Tăm Cơ Chế

Tuy nhiên, Ông Nguyễn Thái Bình là một excellent doer tức một nhà thực thi thực hành kiệt xuất trong giải quyết các yêu cầu cụ thể của công việc chứ không là một excellent thinker tức một nhà hoạch định chính sách tuyệt hảo; có thể vì ngoài sự tận tụy với công việc, sự tận trung với Đảng, sự tận hiếu với dân tộc, Ông không có thực quyền ở tầm vĩ mô, nghĩa là cơ chế chính sách đã được Đảng và Nhà Nước  đề ra như thế nào thì Ông cứ cúc cung tận tụy theo đúng các quy định ấy.

Có lần tôi giới thiệu với Ông một người trẻ tuổi có trình độ ngoại ngữ cao với hai bằng đại học đang làm việc cho một công ty tài chính nước ngoài, không phải đảng viên, nhưng có thể là một người tài giỏi lại có mong muốn được trở thành một công chức để phục vụ địa phương – mà cụ thể là ngành Ngoại Vụ – hoặc trung ương ngay cả khởi sự với chức danh một nhân viên văn phòng do có ý thích “phục vụ” nước nhà. Thế nhưng, Ông bảo tôi hãy nói với người ấy rằng ở địa phương nào và quan tâm làm công chức cho Sở nào thì cứ theo dõi các thông tin thi tuyển công chức tại đó để nộp đơn xin thi đúng theo quy định.

Ông hoàn toàn đúng khi nói như vậy vì (a) đó là quy định giấy trắng mực đen, và (b) Ông phải giữ đức thanh liêm trước mọi sự “nhờ vả” bất kể sự “nhờ vả” hay “giới thiệu” ấy có hay không có các quà cáp hối lộ hay đền ơn.

Tuy nhiên, chính các quy định giấy trắng mực đen mà Ông luôn tuân thủ lại có những khoảng tối mà cơ chế do vô tình hay hữu ý đã đặt ra khiến có lợi nhiều hơn cho các tâng lớp cao cấp của nội bộ Đảng. Chẳng hạn cơ chế ấy trong khi (a) không hề ấn định cách hành xử mỗi khi có sự “tiến cử hiền tài” từ người dân thì (b) lại ấn định sự cho phép mỗi đảng viên có quyền “tự tiến cử bản thân là hiền tài” cho một chức danh cao cấp cụ thể nào đó. Vụ việc của Trịnh Xuân Thanh vừa qua là một minh chứng cho sự tồn tại của một “quy trình” quái gở cho phép sự “tự tiến cử bản thân làm lãnh đạo” như thế. Tương tự, vụ của Vũ Quang Hải và Vũ Đình Duy chẳng khác nào sự tùy tiện “sử dụng nhân tài” của Bộ Công Thương lại càng khẳng định cho sự bôi tro trát trấu vào cái gọi là quy trình ấy.

Ông Nguyễn Thái Bình đã không là excellent thinker để có thể nghiệm ra những quái gở nào đang tồn tại trong “quy trình” của Bộ Nội Vụ, cũng như cơ chế đã không cho Ông cái empowerment thực quyền để đề xuất với Đảng và Nhà Nước  bãi bỏ những chi tiết quái gở cụ thể nào của hệ thống quy trình dụng nhân hiện hành.

Nghe đâu ngày xưa bên Tàu có vua này vua nọ phải tắm gội trai tịnh nhiều ngày để nhiều phen đến thảo lư của một người nào đó mà thiên hạ “đồn đại” rằng có thực tài để thỉnh mời về giúp triều đình “khởi nghiệp.” Chỉ mới nghe lời “đồn đại” thôi mà đã trọng thị như thế.

Vậy thì cơ chế hành xử của Đảng và Nhà Nước Việt Nam ít ra cũng nên là mỗi khi được “đại quan” hay “thường dân” tiến cử “hiền tài” thì

(a) gởi thư mời người được tiến cử ấy đến để tiếp xúc tìm hiểu theo kiểu mà Tây Phương gọi là interview tức phỏng vấn; sau đó

(b) thực hiện việc mà Phương Tây gọi là Work History Verification hoặc ngắn gọn là Background Check tức thẩm tra lý lịch tức việc mà Việt Nam thực hiện rất dễ dàng do không áp dụng các cấm đoán thẩm tra về “đời tư” như ở các nước tư bản tiến tiến, rất bài bản theo “quy trình” đối với đảng viên, và cực kỳ nghiêm nhặt đối với thường dân; và rồi

(c) áp dụng cơ chế mà Âu Mỹ gọi là probation mà ta gọi là thử việc để qua đó xác định đó là người tài thực sự hay chỉ là “đồn đại”.

Đã “đặc cách” cho phép đảng viên cấp cao được tiến cử con mình làm “hiền tài” thậm chí tự tiến cử chính mình làm hiền tài cho các chức danh lãnh đạo cao ngất, thì sao lại không thể “đặc cách” cho một người dân ngoài Đảng được ai đó tiến cử sẽ được mời đến gặp chức sắc cơ quan công quyền theo 3 bước nêu trên mà không cần phải chờ nộp đơn thi công chức cấp thấp khi nào có thông báo?

Điểm Chói Chang Chính Sách & Chủ Trương

Trọng dụng nhân tài là điểm chói chang của tất cả các chính sách cùng chủ trương của Việt Nam từ thời phong kiến xa xưa đến thời dân chủ hiện nay, được thường xuyên lập đi lập lại trong tất cả các phát biểu chính thức của tất cả các lãnh đạo.

Việc tự kiếm tìm nhân tài và tìm thấy nhân tài để rồi ra sức chiêu dụ nhân tài mới là việc đúng đắn và đầy lý tưởng. Việc một ông giám đốc một công ty nước ngoài đã thôi việc, không phải Đảng viên, vừa qua đã tự ứng cử và trúng cử vào Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh rồi được phong làm giám đốc một Sở ở Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “trọng dụng nhân tài” vì (a) đã không có sự ra sức chiêu dụ nào cho việc người ấy rời bỏ một công việc tốt đẹp đang có để về phục vụ nhân dân, và vì (b) người ấy đã là đại biểu Hội Đồng Nhân Dân. Vì thế, Thành phố Hồ Chí Minh chẳng có gì để tự hào về nội dung “trọng dụng nhân tài” cả.

Để “trọng dụng nhân tài” thì chỉ cần theo cơ chế hành xử ba bước như đã đề xuất ở mục trước, mà khi thực hiện các bước ấy, Đảng và Nhà Nước không những không phải “hạ mình” trai tịnh mà còn không phải đến tận nơi đón rước kiểu phong kiến ngàn xưa, nên vấn đề “thể diện” của Đảng và Nhà Nước không hề suy suyển.

Không có cơ chế “trọng dụng nhân tài” như vậy, Việt Nam sẽ chỉ có thể có được một Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Thái Bình có thể đi vào sử sách nước nhà như một đại quan thanh liêm mẫu mực được nhân dân kính trọng thương yêu; nhưng sẽ có rất nhiều Trịnh Xuân Thanh, Vũ Quang Hải, và Vũ Đình Duy cùng những tên tương cận gây họa cho cả dân tộc.

Kính biết ơn Ông Nguyễn Thái Bình vì đã là vị Bộ Trưởng đức độ của nước non này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết cùng thể loại “đánh giá cá nhân”:

Chính Khách:

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc

Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Nguyễn Thiện Nhân

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Thường Dân:

Giáo Sư Nguyễn Quang Tô

Giáo Sư Trương Tuyết Anh

Giáo Sư Lê Văn Diệm

Cô Lại Thu Trúc

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Tam Đầu – The Triumviri

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-8-2016

QH Iron Ladies (2)

Tôi không ưa kiểu gọi nội bộ của Việt Nam ngay sau ngày Giải Phóng Miền Nam, thống nhất đất nước: “Bộ Tứ”, vốn được sử dụng ở khắp mọi nơi, từ cơ quan quyền lực, đến doanh nghiệp quốc doanh, tại mọi nơi, và ở mọi lúc, để chỉ cơ sở Đảng, cơ sở Phụ Nữ, cơ sở Thanh Niên, và cơ sở Công Đoàn của những nơi ấy. Tất nhiên, “Bộ Tứ” là một cơ chế giám sát vô hiệu, vô duyên, vô ích, và vô dụng nên đã bị đào thải một cách âm thầm với thời gian; chẳng qua vì quyền lực quyết định nằm trong tay duy chỉ người có chức danh giám đốc hay vị đứng đầu của một cơ quan. Thí dụ như khi tôi bị Công ty FOSCO trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh xử bức (tiếng bình dân gọi là “đì”) thì Thanh Niên ngó lơ vì tôi không còn là thanh niên, Phụ Nữ ngó lãng vì tôi vừa không là…phụ nữ vừa dành tình cảm sâu đậm chăm sóc chỉ có vài nữ nhân viên cấp dưới diện yếu thế chứ không màng đến tập thể nữ cấp trên lộng lẫy uy quyền, Công Đoàn thì chỉ “bảo vệ” nhân viên trong khi tôi lại là lãnh đạo, và Đảng thì bảo tôi không phải là đảng viên để Đảng phải bảo vệ do tôi là mầm mống đe dọa các chiếc ghế quyền lực với bằng chứng là tất cả các đảng viên là nhân viên cấp dưới của toàn công ty đều ủng hộ giới thiệu tôi vào Đảng. Rốt cuộc, thời của “Bộ Tứ” là thời xuất hiện bao điều hư hại hư hỏng hư đốn hư banh bét của cả bốn thành phần cấu thành “Bộ Tứ”.

Tôi cũng chớ biết kiểu gọi “Tứ Trụ Triều Đình” là do ai sáng chế, có phải là dân hải ngoại chống Việt hay không, vì nghe qua thấy có vẻ giễu cợt như ngụ ý thâm hiểm (a) rằng có sự “cha truyền con nối” của hoàng tộc, dứt khoát không để quyền uy lọt vào tay con đỏ, dân đen, ngoài chốn hoàng triều; và (b) rằng Đảng chẳng khác nào một triều đình phong kiến phi dân chù. Bốn cột trụ lãnh đạo Việt Nam, tuy nhiên, vẫn là một thực thể thực tế tổ chức đúng đắn, nhờ đó đất nước trụ vững và phát triển, bất kể cái danh xưng giễu cợt của “tứ trụ triều đình” mà từ ngữ ấy vốn không được tạo nên một cách chính danh chính thức bởi nội bộ Việt Nam.

Tôi cũng khinh thường kiểu gọi hoàn toàn kém và thiếu tầm nhìn của báo chí Việt Nam khi gọi Thủ Tướng Margaret Thatcher của Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan là “Bà Đầm Thép” từ nguyên ngữ tiếng Anh của “The Iron Lady”. Hoàn toàn kém và thiếu tầm nhìn vì phải gọi thế nào nếu sau này một phụ nữ Á Đông – trong đó có Việt Nam – cũng được báo giới Âu Mỹ gọi là Iron Lady, vì những vị nữ nhân này không phải là “bà đầm” do “bà đầm” là dành gọi phụ nữ Phương Tây. Lẽ ra họ đã nên gọi bằng tiếng Việt là “nữ lãnh đạo thép” để có thể sử dụng đại trà, rộng khắp, phi biên giới, vô biên cương, bất biên chế.

Song, may mà tiếng Việt có từ “anh thư” để chỉ những vị nữ nhi hào hùng. Do đó, các “Iron Ladies” của hàng ngũ lãnh đạo sau đây của Việt Nam sẽ được tôi gọi là những vị “Anh Thư Thép”.

Riêng chữ “Tam Đầu” thì tôi tạo ra, nhưng không ám chỉ thể chế lãnh đạo chính trị của Đế Chế La Mã “The Triumvirate”, mà chỉ dựa vào đấy để gọi ba vị nữ anh thư thép lãnh đạo Việt Nam là “The Triumviri” với ý nghĩa ba vị đứng đầu riêng biệt với những đặc điểm và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau trên nền chung của phục vụ nhân dân.

Vị Iron Lady thứ nhất của Việt Nam: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

Những ưu điểm nỗi trội của Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã được tôi nêu rõ trong bài viết trước đây về Bà, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – thần uy thiên bẩm, biệt tài hùng biện, kinh nghiệm trị quốc, và khả năng quán xuyến bao trùm đối với cơ quan quyền lực tột đỉnh của quốc gia. Có thể nói với tất cả sự kính trọng và công tâm rằng chưa hề có vị nữ lãnh đạo chính trị nào trên toàn thế giới có thể sánh được với Bà về nhan sắc. Chính tất cả những điều tuyệt diệu tập trung nơi Bà đã khiến Bà thích hợp nhất với vai trò lãnh đạo Quốc Hội Việt Nam trong tương quan Nghị Viện Thế Giới để nâng cao vị thế không những của Quốc Hội Việt Nam mà còn của tổ quốc Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Bà là “The Iron Lady” như đã ra uy qua lời phê phán mạnh mẽ nhất đối với những thứ không giúp ích gì cho tổ quốc mà chỉ gây rối loạn dân tâm, lúc bà phát biểu về cái gọi là “biểu tình”.  Bà đã thể hiện quyền lực cực kỳ đúng đắn và ở đỉnh cao của sự cần thiết qua tuyên bố đó. Việt Nam cần có một Iron lady như Bà để tồn tại và phát triển, để vang danh và được vinh danh, để đất nước sẽ được Bà bảo vệ chốn nghị viện các châu lục, bằng khả năng hùng biện của Bà, bằng sự cứng rắn tối cần thiết của Bà trong tư thế một nhà lãnh đạo, và bằng dung nhan của Bà mà thế giới nghị viện sẽ luôn phải cung kỉnh lắng nghe, ngưỡng mộ. Bà đã xô ngả hoàn toàn cái mặc định rằng phụ nữ Việt Nam ở giai tầng lãnh đạo phải luôn thể hiện sự mềm yếu, dễ bị “bắt nạt”, không thể “tự vệ” trước các chiêu trò bẩn thỉu bôi nhọ rên rỉ hung hãn của kẻ thù của đất nước và chế độ. Dân tộc này muốn rằng khi người phụ nữ Việt Nam ở đỉnh cao quyền lực sẽ uy dũng, mạnh mẽ, kiên quyết, và cứng rắn như Nhị Trưng Vương và Nhụy Kiều Tướng Quân, nhất là khi sự an nguy của tổ quốc hiện đang bị dọa đe bởi bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc cùng các thế lực thù địch khác từ bên ngoài biên giới hay bên trong cương thổ nước nhà.

Vị Iron Lady thứ nhì của Việt Nam: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng.

Tất cả các nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam đều dễ dàng nhận ra những điểm đặc biệt rằng nếu như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân sử dụng thần uy thiên bẩm để lãnh đạo Quốc Hội đặc biệt trong đối ngoại làm vinh danh Quốc Hội Việt Nam chốn nghị trường quốc tế, thì Bà Tòng Thị Phóng sử dụng tài năng quản trị để lãnh đạo hoạt động nội bộ Quốc Hội đưa các hoạt động đối nội vào vị thế tối ưu bằng tính cách mềm mỏng nhưng cương quyết, dịu dàng nhưng dứt khoát, linh hoạt nhưng nguyên tắc, điềm đạm nhưng cứng rắn, và thân thiện nhưng nghiêm khắc của Bà.

Điểm đặc biệt của Bà Tòng Thị Phóng là giọng nói trầm ấm với nụ cười hiền hòa luôn nở trên môi, bất kể nghị trường đang có sự đồng thuận hay bất đồng chính kiến. Chính Bà lúc chủ trì các phiên họp toàn thể của Quốc Hội đã trổ tài quán xuyến, lèo lái các nội dung tranh luận vào đúng các quỹ đạo, và hóa giải mọi sự việc phát sinh bằng tất cả những thế mạnh của Bà như đã kể ở trên.

Bà Tòng Thị Phóng là “The Iron Lady” theo một cách đặc biệt, vì nếu như sự cứng rắn là để bảo vệ nguyên tắc cùng chân lý, thì nụ cười hiền hòa của Bà lại chính là sự cứng rắn ấy. Chính Bà là “Đầu Chế” thứ hai, vị anh thư thép thứ hai, một vị “Tể Tướng”, và Bà đã cùng Bà Nguyễn Thị Kim Ngân bảo đảm sự phân công phân quyền tuyệt diệu giữa một bên là cột trụ chống vững Quốc Hội Việt Nam về nội trị, và một bên là cột trụ không những đỡ nâng vị thế của Quốc Hội Việt Nam trên trường Quốc Tế mà còn thu hút sự ủng hộ của nghị viện thế giới dành cho Việt Nam, đem thần thái cùng nét đẹp Việt Nam tỏa lan ra thế giới.

Vị Iron Lady thứ ba của Việt Nam: Bà Trương Thị Mai, Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận sự thật rằng Bà Trương Thị Mai chính là “Đầu Chế” thứ ba, vị anh thư thép thứ ba, một vị “Nguyên Nhung” thực thụ, mà sự tình cờ của lịch sử nước nhà đã khiến quy tụ trong cùng thời gian cả ba vị anh thư thép cùng lãnh đạo nước nhà.

Trong thời gian làm Chủ Nhiệm Ủy Ban Các Vấn Đề Xã Hội của Quốc Hội, Bà Trương Thị Mai đã chứng tỏ tài hùng biện, sự xông xáo, trực ngôn, và trí tuệ trong tranh luận các dự án luật, mà những vấn đề Bà nêu ra luôn là những điểm lõi quan trọng, nêu bật lòng kiên trì đấu tranh vì sự phát triển của đất nước và ý chí vì cuộc sống của nhân dân. Là một chính khách tài ba, Bà đã khiến tất cả các nghị sĩ phải nể phục, và là điều tự nhiên khi Bà trở thành Ủy Viên Bộ Chính Trị, một vị trí chỉ dành cho các nhà lãnh đạo nổi bật của Đảng.

Bà Trương Thị Mai là “The Iron Lady” theo một cách đặc biệt, vì nếu như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân “cứng rắn” bảo vệ uy thế của Quốc Hội Việt Nam trên trường quốc tế một cách vươn rộng vươn xa  vươn cao và bao trùm, Bà Tòng Thị Phóng “cứng rắn’ bảo vệ hoạt động nội bộ của Quốc Hội Việt Nam từ trên xuống dưới, thì Bà Trương Thị Mai “cứng rắn” từ ngay bên trong nội bộ Quốc Hội nhằm bảo đảm sự vũng chắc của các cơ sở của nội bộ ấy từ dưới lên trên.

Bà Trương Thị Mai là chính khách duy nhất ở Việt Nam hiện nay thích hợp nhất để lèo lái con thuyền Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay (a) sự an nguy của tổ quốc đang dưới sự dọa đe của chiến tranh xâm lược khiến công tác dân vận trở nên quan trọng sống còn; (b) sự phát triển của đất nước trước ngồn ngộn những thời cơ khiến công tác dân vận trở nên tối quan trọng; (c) lòng dân đang bị thử thách trước tổng hợp của sự chống phá tư tưởng từ bên ngoài, sự chống phá tư tưởng từ bên trong, sự thiểu năng quản trị của các cơ quan hành chính công quyền mà toàn bộ nguồn nhân lực đều do có sự thông qua đầy tắc trách của tất cả các cơ sở Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam; và (d) sự yếu kém triền miên đã trở thành đặc điểm thâm căn cố đế kinh niên của Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam trên tất cả mọi phương diện, từ quản trị nhân sự của chính Mặt Trân Tổ Quốc, đến sai sót nghiêm trọng trong công tác bầu cử 2016, thất bại trong các nhiệm vụ lõi của Mặt Trận Tổ Quốc, và sự buồn cười của các chương trình hành động mà Chủ tịch Nguyễn Thiện Nhân mới đệ trình Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, trong đó nêu toàn là những “dự án vận động” không có gì đặc sắc, chẳng một chút khả thi, và không hề thực tế, bảo đảm sẽ thất bại tuyệt đối, hoàn toàn.

The Triumviri: Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam

Một nữ lãnh đạo của Thành phố Hồ Chí Minh là Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, đã phát biểu tại nghị trường Quốc Hội khi Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc trình danh sách các Bộ trưởng trong kỳ họp thứ 11 Quốc Hội Khóa XIII đầu năm 2016, nêu thắc mắc tại sao không có nữ nghị sĩ nào làm Phó Thủ Tướng hay Bộ Trướng. Tôi cho rằng Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm đã không có tầm nhìn chính trị, thiếu hiểu biết tổ chức, chẳng phân minh luật pháp, đã có tư tưởng hoàn toàn hạn hẹp cục bộ giới tính chủ nghĩa, và đã không nhận thức về trách nhiệm tuyệt đối cũng như quyền lực tuyệt đối Hiến Định của Thủ Tướng trong việc lựa chọn các thành viên chính phủ phù hợp nhất để cùng Ông gánh vác các phần việc nặng nề giải quyết các vấn nạn quốc gia.

Bình đẳng giới không có nghĩa là bắt buộc phải chia đều theo kiểu 50/50 hay chia sẻ bớt các chiếc ghế cho nữ giới để đạt tỷ lệ số học.

Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới luôn phải tôn trọng nữ giới, dành lấy những phần việc nặng nhọc hiểm nguy nhất để nữ giới được phát huy khả năng trong hoàn cảnh nhiều thuận lợi hơn.

Bình đẳng giới không có nghĩa là buộc phải có một phụ nữ làm “phó” cho Thủ Tướng cho bằng được.

Bình đẳng giới mang ý nghĩa rằng tất cả các “nam giới” khi làm lãnh đạo đều phải ưu tiên đầu tư tâm lực và trí lực dựng xây cho bằng được nền móng luật pháp và luật lệ thích hợp cho sự phát triển ưu tiên của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. (Tất nhiên, khi nói về “nam giới” và “nữ giới” là nói trên bình diện ngữ nghĩa phổ thông phổ quát và phổ biến, chứ không để tạo cớ cho sự lao xao láo xạo của bọn chống Việt rêu rao về các “giới” khác trong xã hội thực sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền.)

Bình đẳng giới thực sự sẽ luôn có nghĩa rằng vào thời điểm đặc thù của quốc gia khi thực sự xuất hiện các bậc hiền tài nữ giới thì tất cả các vị anh thư này đều ưu tiên nắm giữ quyền uy trị quốc, như làm Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quốc Hội, Thủ Tướng, Bộ Trưởng Quốc Phòng, v.v. và v.v., như từng diễn ra y như vậy tại các quốc gia khác trên toàn thế giới.

Chính vận nước hiện nay đã đưa đến sự xuất hiện của ba ngôi sao sáng nhất thuộc về nữ giới mà không bất kỳ vị nam giới nào trong toàn Đảng và trên toàn quốc có thể sánh bằng: đó là ba vị anh thư thép của Việt Nam, “The Trio of  Iron Ladies of Vietnam”: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bà Tòng Thị Phóng, và Bà Trương Thị Mai:

QH Iron Ladies (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thiện Nhân

                    Dụng Nhân Sai Lầm & Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-6-2016

NTNNTN1

A) Tôi Và Ông Nguyễn Thiện Nhân

Ông Nguyễn Thiện Nhân là một thí dụ điển hình về vấn nạn dụng nhân tại Việt Nam.

Trong tiểu sử của Ông công bố chính thức trên website của Quốc Hội Việt Nam, Ông có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tuy nhiên, sự thật lại không là như vậy.

Trong thời gian công tác ở Văn phòng Đại diện Công ty CIMMCO International (vốn là bộ phận xuất khẩu-nhập khẩu-dự án kỹ nghệ ngoài nước của CIMMCO Limited trực thuộc tập đoàn công-kỹ-thương-du Birla lừng danh của Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh), tôi thường đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với Phó Chủ Tịch Nguyễn Văn Huấn (Anh Ba Huấn) và Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu (Anh Sáu Hậu). Trong một lần thực hiện một gói GOI Credit (viện trợ của Chính phủ Ấn Độ – Government of India), theo ý của Chủ tịch D.K. Goyal tôi lập kế hoạch đưa  Giám Đốc Amit Kumar Saxena đến gặp một lãnh đạo Sở, và thư ký của tôi đã phone liên lạc với một công chức ở Sở ấy để lên lịch cuộc hẹn. Vị công chức giúp thu xếp cuộc gặp ấy là Nguyễn Thiện Nhân.

Một thời gian sau, khi làm giám đốc điều hành cho Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ 100% vốn nước ngoài của Mỹ (Bang California), trở thành hội viên của Phòng Thương Mại Mỹ AmCham ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được mời tham dự một sự kiện do AmCham tổ chức ở Khách Sạn Caravelle. Tại buổi gặp với một trăm doanh nhân các công ty Mỹ này, viên chức Mỹ đứng đầu AmCham đã giới thiệu Ông Nguyễn Thiện Nhân với mọi người. Ông đã nói về Ông Nguyễn Thiện Nhân như một ngôi sao học thành tài từ Mỹ về trở thành lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, và khiến mọi người cười ầm lên khi nói “Ngài Nhân đây có bằng cấp tiến sĩ về một cái ngành gọi là Cybernetics mà tôi chẳng hiểu nó là về cái mô tê gì sất.” Ông Nguyễn Thiện Nhân sau đó đã phát biểu bằng tiếng Anh với cử tọa, trước khi mọi người dùng tiệc trưa.

Như vậy, Ông Nguyễn Thiện Nhân là Tiến sĩ Cybernetics của Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Đông Đức chứ không phải là “nghiên cứu sinh” như chi tiết lý lịch trên web. Không rõ vì sao có sự dấu giếm này về học vị tiến sĩ của Ông, khiến có sự hồ nghi rằng Ông đã không có bất kỳ công trình nghiên cứu nào sau đó để thực hành xây dựng kỹ thuật tiên tiến cho đất nước, phát triển ngành Cybernetics tại Việt Nam, làm Ông trở thành người Việt Nam duy nhất biết thế nào là Cybernetics.

B) Cybernetics Kỹ Thuật Điều Khiển Học

Cybernetics là ngành Kỹ Thuật Điều Khiển Học. Đây là ngành được ứng dụng bởi quân đội Hoa Kỳ để chế tạo các vũ khí mà người ta ngày nay vẫn lầm tưởng chỉ là hư cấu do chưa thấy xuất hiện ngoài đời mà chỉ có thể thấy được trên các phim viễn tưởng hoành tráng kiểu Star Wars – Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao, hoặc gần đây nhất là những phim khoa học giả tưởng vĩ đại kiểu Avatar. Từ thực tế đã chế tạo xe bốn chân sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ như các dòng CAM (cybernetic anthropomorphous machine của công ty General Electric) có chiến sĩ “lái” (cổ xe to có 4 chân) nếu để tấn công,

NTN0

hoặc không người lái (to như một chú ngựa) nếu để tiếp liệu vũ khí đạn dược quân trang quân dụng ra chiến trường:

NTN3

đến những thăng hoa lấn vào tất cả các thiết kế dữ dội của phim ảnh Hollywood như những thứ vũ khí tấn công của tương lai với một chiến binh sử dụng không phải xe tăng mà là robot tăng cử động chính xác theo từng cử động tay (để sử dụng hỏa lực trên hai tay của robot) và chân (để đi, bò, chạy) của chiến binh bên trong “buồng điều khiển” tức “cabin”, người ta đều thấy hiện thực và tương lai của Cybernetics

NTN4NTN5NTN6

khiến từ chiếc CAM thành phẩm của thực tế người ta đã thiết kế ra mô hình các “chiến xa” hai chân, bốn chân, hay sáu chân mang tên AT-AT (Thiết Giáp Địa Hình), AT-ST (Trinh Sát Địa Hình), AT-DP (Phòng Thủ Địa Hình), AT-TE (Tiếp Viện Chiến Lược Địa Hình), AT-PT (Chuyển Quân Địa Hình), AT-AA (Phòng Không Địa Hình), AT-TR (Tấn Công Địa Hình), AT-XT (Thám Sát Địa Hình), AT-OT, AT-RT, v.v., mà chắc chắn sẽ tiến từ viễn tưởng sang thực tế như đã luôn xảy ra trước đó với tiềm thủy đỉnh, phi cơ, phi thuyền, hỏa tiển hành trình, và “drone” sát thủ bay không người lái, v.v., để phục vụ chiến tranh.

C) Dụng Nhân Sai Lầm

Thế mà thay vì Việt Nam có một nhà vũ khí học Nguyễn Thiện Nhân hoặc một giáo sư giảng dạy khai sinh ra ngành điều khiển kỹ thuật học Cybernetics lợi nhuận hàng triệu tỷ USD cho Việt Nam chỉ mới tính cho mỗi việc chế tạo thiết bị phục vụ người khuyết tật chi vận động trên toàn thế giới, người ta lại thấy con đường bình thường cực kỳ tầm thường mang tính cố tật cố hữu của cách “dụng nhân” của Việt Nam: hễ có bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ là được bố trí làm…lãnh đạo, dù là lãnh đạo quản lý trường đại học hay lãnh đạo quản lý trái ngành. Đây là lý do mang tính vấn nạn khiến Việt Nam

(a) thiếu chuyên gia công kỹ nghệ bậc cao,

(b) tạo tâm lý phổ biến nhanh lan tỏa rộng của thói hám hư danh thuần túy từ chương: học để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(c) học thạc sĩ hay tiến sĩ không để theo đuổi con đường nghiên cứu mà cũng chỉ để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(d) khiến chất lượng giáo dục đại học ngày càng xuống cấp vì các tiến sĩ lo giữ ghế quản lý và dành thời gian đi phát biểu ở các hội nghị,

(e) các tiến sĩ làm nhà tư vấn đẳng cấp quốc gia chỉ có thể cho ra các phát biểu sâu sắc phục vụ cho các bản tin báo chí hay phát hình chứ không có giá trị thực tiễn dựng xây phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và nghiêm trọng nhất là

(f) giáo sư tiến sĩ ngồi sai ghế.

Ông Nguyễn Thiện Nhân là thí dụ điển hình của sáu số chữ cái trên.

Vấn nạn lớn nhất ở đây còn là vì sao bao tiền bạc và cơ hội học tập chuyên ngành lại đổ dồn cho cá nhân một cán bộ, mà ở đây điển hình là Ông Nguyễn Thiện Nhân được ban cho các học bổng (dù cho sự tài trợ là của Đảng hay của nước ngoài) đi học tiến sĩ kỹ thuật điều khiển học hiện đại Cybernetics ở Đông Đức, học Kinh Tế Thị Trường tại Tây Đức, học Thạc sĩ Quản Lý Cộng Đồng ở Hoa Kỳ, học Thẩm Định Dự Án Đầu Tư ở Mỹ, thay vì dành cho 4 cán bộ khác nhau để Việt Nam có được một kỹ sư Cybernetics ra hồn, một chuyên gia kinh tế thị trường ra ngô, môt chuyên viên quản lý cộng đồng ra khoai, một nhà thẩm định dự án ra trò. 4 cơ may cho 4 ngành học khác nhau đã dồn về duy chỉ Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ để ông lên làm Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Phó Thủ Tướng. Đây là sự sai lầm nghiêm trọng trong đào tạo nhân sự và sử dụng nhân sự để rồi nhân sự tiếp tục đi lên, khoa học kỹ thuật cùng học thuật hàn lâm nước nhà thì tiếp tục đi xuống, và Đảng liên tục bị bể kế hoạch thời gian đối với “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ Trưởng Giáo Dục, các trường đại học mọc lên hơn nấm, khiến di họa cho đến tận ngày nay khi gần nửa ngàn trường đại học khó tuyển được sinh viên đến độ Bộ Giáo Dục phải cứu nguy bằng cách bỏ hầu hết các kỳ thi ở trung học và đại học để trường nào cũng có được người đi học, khiến số lượng cử nhân mà người ta ban tặng cho danh xưng “trí thức trẻ” gia tăng trong bảng thống kê không có việc làm “phù hợp” hoặc không có việc làm. Ông Nguyễn Thiện Nhân lẽ ra đã không nên được giao cho trọng trách Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Phó Thủ Tướng, mọi sự dưới quyền giám quản của Ông cũng không có gì để lưu danh hậu thế, để rồi Ông trở thành Chủ tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cho đến tận ngày nay.

D) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Điều cần đặc biệt quan tâm ở đây là: sức mạnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam được duy trì nhờ vào ba thế lực quan trọng của (a) các lực lượng vũ trang, (b) Tổng Liên Đoàn Lao Động, và (c) Mặt Trận Tổ Quốc.

Nếu như các lực lượng vũ trang vẫn luôn là thế lực hùng mạnh của Đảng, thì hai phần còn lại đã, đang, và sẽ có những vấn đề nan giải như sau:

1) Tổng Liên Đoàn Lao Động:

Đây là một tổ chức mang tính chính trị đặc biệt quan trong trong hệ tư tưởng chính trị Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít vốn xem trọng lực lượng lao động nói chung và công nhân nói riêng. Tuy nhiên, vấn nạn ở đây là (a) giới lãnh đạo Tổng Liên Đoàn hầu như chẳng ai xuất thân hay đang thuộc tầng lớp công nhân lao động để danh chính ngôn thuận là thế lực bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân lao động toàn quốc; và (b) với quy trình hội nhập toàn cầu, tham gia các hiệp định khổng lồ, trong đó có những hiệp định mới nhất và to nhất như Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP cùng Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Việt Nam – EU, v.v., thì tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải có quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn riêng, khiến lung lay vị thế của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, đặt Tổng Liên Đoàn từ vị trí độc tôn độc quyền xuống vị trí phải cạnh tranh ngang bằng bình đẳng lành mạnh với các tổ chức công đoàn khác của vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề này có nghĩa là Tổng Liên Đoàn phải hóa thân thành một thực thể đem lợi ích thực tế đến người lao động để thu hút người lao động xin vào hoặc muốn tiếp tục tồn tại dưới sự đùm bọc bảo vệ chở che của Tổng Liên Đoàn; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với sự thật rằng sẽ có một bộ phận hoặc nhỏ hoặc lớn trong tầng lớp lao động sẽ hoạt động tại những công đoàn khác, tại nơi họ làm việc, công tác.

2) Mặt Trận Tổ Quốc:

Đây là một tổ chức cực kỳ quan trọng, vì rằng nếu lực lượng vũ trang là những chiến sĩ chuyên nghiệp đặc thù và tổng liên đoàn lao động quy tụ toàn bộ lực lượng công nhân lao động của chế độ, thì Mặt Trận Tổ Quốc quy tụ toàn bộ dân chúng còn lại dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa. Với những chức năng đã được luật hóa, cộng với những thách thức khủng khiếp của thời đại, thời cuộc, thời gian, và thời thế, vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc và lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc càng trở nên cực kỳ nặng nề, cực kỳ đa dạng, cực kỳ cấp bách, cực kỳ quan trọng, cực kỳ quyết định. Lãnh đạo Mặt Trận, do đó, phải là những người mạnh mẽ, trí tuệ, uy tín, tài năng, có tầm nhìn thấu thị chiến lược được thể hiện cụ thể qua sự “biết lo trước cái lo của người dân”, những yêu cầu mà Ông Nguyễn Thiện Nhân không thể nào đáp ứng đủ đầy.

Trước tình hình mới và nhiều thách thức, Mặt Trận Tổ Quốc dường như biến mất tăm mỗi khi có tụ tập khiếu kiện bức xúc đông người, cứ như phó mặc cho ai khác phải chịu trách nhiệm, chứ hoàn toàn không thể hiện chức năng dân vận, và biến việc gần gũi với nhân dân bị đơn giản hóa thành công đoạn thu thập ý kiến của cử tri để đúc kết chờ đến kỳ họp Quốc hội bảo đảm vị Chủ tịch Mặt trận có nhiều chi tiết để báo cáo, trong khi bất kỳ người dân – cử tri – nào cũng có thể nêu ý kiến bằng thư bưu chính, bằng thư điện tử, bằng phát biểu tại các buổi tiếp xúc cử tri, hay qua báo chí và ở tất cả các phòng tiếp dân của tất cả các cơ quan hành chính các cấp, v.v., chứ không buộc phải gởi đến Mặt Trận để Mặt Trận mỗi năm chuyển tổng kết ra Quốc hội hai lần.

Mặt trận chỉ xuất hiện rầm rộ mỗi năm năm một lần vào dịp bầu cử toàn quốc.

Thậm chí có vị lãnh đạo Mặt trận của Thành phố Hồ Chí Minh lúc đương nhiệm thì chẳng ai biết đến, khi về hưu thì đột nhiên phát hành những bức tâm thư “viết trên giường bệnh” chống đối chế độ.

Dưới đây là một bài viết về Ông Nguyễn Thiện Nhân tôi đã đăng trên Emotino năm 2010 tức trước khi tôi trở thành nghị sĩ Quốc hội khóa XIII (2011-2016); xin đăng lại để chứng minh tầm lãnh đạo của Ông:

E) Bài Viết Năm 2010: 

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên — Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2010

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” và “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dựa trên câu đề xuất của tôi nhưng lại né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức … “chất lượng cao”. Người dân được mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác gặp khó khăn lại sẽ có các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào của Việt Nam không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng, để rồi sau cừng chục năm nữa sẽ phải chứng kiến toàn bộ hàng hóa của ngành công nghiệp bán lẻ ở Việt Nam sẽ tràn ngập hàng hóa của ngoại bang.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (1) có nhận thức đầy đủ rằng nhóm chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (2) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” .

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn là nan y trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

F) Giải Cứu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Vì vậy, Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nhất thiết phải (a) hiểu rõ trách nhiệm của Mặt Trận trong hoàn cảnh mới đặc thù của Việt Nam và (b) có vị chủ tịch mới để thay thế Ông Nguyễn Thiện Nhân là người chưa hề có chút công trạng cụ thể nào trong thực tiễn quản lý nhà nước của mình.

Bà Trương Thị Mai nên là tân Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài Bà Trương Thị Mai, Việt Nam không có bất kỳ ai đủ tầm, đủ tâm, đủ lực, đủ thần uy bằng Bà Trương Thị Mai để nắm quyền đưa một tổ chức đã có quá khứ vĩ đại như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam quay trở lại vị thế đáng tự hào như ban đầu của nó.

Đừng để một thế lực từng hùng mạnh vốn đã là chủ thể của đại cuộc giải phóng miền Nam nay chỉ còn là một tổ chức chỉ có hư danh mà người dân chỉ biết đến mỗi năm năm một lần qua cuộc bầu cử quốc gia – mà thậm chí ngay cả cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các câp nhiệm kỳ 2016-2021 này cũng không tổ chức ra hồn, không giám sát ra ngô, cho ra kết quả luộm thuộm chẳng ra khoai, và để lại vết nhơ chẳng ra thể thống gì cả của các sai sót và vi phạm pháp luật bầu cử sau ngần ấy thập kỷ tồn tại của mình.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghi-sĩ Đương-nhiệm Quốc-Hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Tham khảo:

Tôi và Lê Hiếu Đằng của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh  (bài đăng ngày 29-8-2013)

Phim tài liệu về “Xe Đi” của hãng GE Hoa Kỳ thử nghiệm năm 1965: https://www.youtube.com/watch?v=coNO9FpDb6E

Trẻ Trung

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2016

Trẻ Trung (2)

Cách nay ba ngày, một cô gái đến bắt tay tôi và nói vài năm trước Cô có đọc một bài viết về Tuổi Trẻ (bài Tuổi Trẻ – Định Tính và Định Lượng) mà Cô đã vừa in ra để đọc đi đọc lại trên đường công tác vừa chuyển tặng nhiều bạn bè của Cô trên không gian mạng. Đã vậy, cô còn phán rằng tôi rất trẻ trung. Được cô gái trẻ tuổi ấy gọi tôi là “anh” giữa chốn đông người thanh thiên bạch nhật thay vì là “chú” hay “bác”, tôi nghĩ ắt cô ấy trẻ trung nên cũng nghĩ rằng – hay thấy rằng – tôi trẻ trung qua những lời đối đáp khôi hài của tôi. Cái sự trẻ trung mà người đời hay tưởng lầm rằng chỉ cần qua quá trình trẻ hóa xóa bỏ vết nhăn ở mỹ viện là có thể đạt được, lại là thứ nơi người đàn ông mà phụ nữ có thể rất quan tâm đến.

Nhiều năm trước, cô em gái út của tôi có lần cho tôi biết “chính kiến” của nó về người đàn ông lịch lãm mà nó hy vọng sẽ được gặp trong đời để nên vợ nên chồng: đó là đấng nam nhi biết giữ gìn trau chuốt ngoại hình chẳng hạn như người luôn sạch sẽ tức biết trị cho dứt các chứng bịnh như gàu, hôi nách, hôi miệng, biết tránh xa việc hút thuốc để miệng không bị hôi còn răng không bị ố vàng hơi thở không bị nặng mùi, biết tránh xa việc nhậu nhẹt để dáng người không bị hỏng bét cái bụng, đầu óc không bị kém minh mẩn, và những thứ khác không bị tổn hại; tóc tai đàng hoàng, không vuốt keo dựng đứng hoặc chôm bôm kiểu hài nhi; trang phục nghiêm túc, giày vớ chỉnh chu, cộng với một tí thoang thoảng hương nước hoa nhẹ nhàng của phái nam và sự vui tính trẻ trung; v.v. Mà tất cả những điều này thì chẳng có mỹ viện nào ghi trong danh mục dịch vụ của họ cả; chỉ cần được như thế thì bất kể anh có phì nhiêu quá khổ hay gầy guộc, bất kể anh cao hai mét hay một mét bốn mươi nhăm, bất kể anh là đại gia hay là công nhân, bất kể trang phục của anh là sản phẩm của An Phước Piere Cardin hay của Dệt Nha Trang, bất kể anh đi ô tô bốn bánh hay xe máy hai bánh, bất kể dung nhan anh như Tom Cruise hay Mr.Bean, thì anh ấy sẽ là “nam giới đích thực” tức người đàn ông lịch lãm đáng yêu mà em gái tôi cho rằng đúng như liệt kê trong danh sách chuẩn hóa của nó để chọn chồng. Cô gái trẻ trên và đứa em gái út của tôi làm tôi nghĩ đến chủ đề trẻ trung và muốn viết đôi lời về cái sự này.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – không có nghĩa là khi vào tuổi 40+ hoặc 50+, các ông ăn mặc thời thượng hoa hòe như các cháu tuổi teen với nào là quần jean chẽn, áo bó bỏ ngoài, không cài đủ khuy hoặc chẳng cài khuy nào vì đã có áo thun ba lổ bên trong; để tóc dài hoặc tóc đinh hoặc không có tóc; đeo thắt lưng đầu lâu xương chéo; chạy mô-tô phân khối lớn chầm chậm vừa vì nặng quá, chống chân không tới, vừa vì muốn thiên hạ kịp nhìn thấy nhãn hiệu vĩ đại của chiếc mô-tô giá 200.000 USD, đội mũ bảo hiểm loại dành riêng cho người đi xe đạp; tham gia các sinh hoạt nhộn nhịp ngoài trời hay trong các vũ trường; sử dụng ngôn ngữ viết kiểu của con nít online và luôn xưng “anh” với các cháu teen, vân vân và vân vân.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện qua sự quan tâm đến an nguy của giới trẻ, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ chỉ biết đến bản thân, chỉ lo cho ngày tận thế của bản thân, hằn học ganh tức với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng tàn hại tuổi trẻ của người khác qua sự xúi dại, loạn ngôn, vô tâm, phó mặc, hoặc xâm hại tình dục, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được thể hiện qua tác phong làm việc tích cực, tháo vác, nhanh nhẹn, nhạy bén, hợp tác, chân tình, hòa thuận, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ trốn việc, tránh việc, đùn đẩy việc, ích kỷ, vị kỷ, vô tâm, hằn học tị hiềm với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng cản trở đường tiến thân của các cháu qua sự xúc xiểm, vu vạ, đơm đặt, cướp công, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hiển hiện qua cung cách của bậc trưởng thượng, vì rằng chỉ có kẻ tiểu nhân mới không ra sức bảo ban truyền thụ kinh nghiệm nhằm giúp người trẻ hơn làm việc tốt hơn, không chịu làm việc dưới quyền người trẻ hơn vì không có đủ tư cách để dám công nhận thực tài của người đó hơn mình, và trong một số trường hợp sẵn sàng gây mất đoàn kết nội bộ, làm phương hại đến sự đi lên chung của toàn đơn vị, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được xuất hiện cụ thể qua việc tương tác giữa một bên là người ấy luôn được các “cháu” tôn trọng trong vui tươi, gần gũi, và một bên là các “cháu” luôn được người ấy giúp đỡ ngay khi được yêu cầu, vì rằng nếu vắng sự “tương tác” như thế thì sẽ không thể có tính “giao lưu” như giữa hai người bạn, mà ông lão nam giới nghiêm trang nghiêm túc nghiêm khắc nghiêm nghị lại hòa đồng với các “cháu” vui vẻ vui tươi vui mừng vui hết biết thì ông lão ấy không trẻ là gì, còn các “cháu” không học được tính trưởng thượng là gì.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hô biến hiện ra ngay khi bạn không nghĩ gì đến việc trục lợi giới trẻ, vì rằng có như vậy bạn mới chứng tỏ được một điều quan trọng rằng bạn thực sự đã có thời làm người trẻ tuổi trong hạnh phúc, trãi qua những nghiệt ngã thời tuổi trẻ một cách thành công, để từ đó biết thương người trẻ tuổi, biết tôn trọng các nổ lực vượt khó của người tuổi trẻ, biết người trẻ tuổi cần gì cho sự vươn lên, và biết mình nên làm những điều đúng đắn nào để người tuổi trẻ được sống và làm việc trong hòa bình của đất nước, hạnh phúc của gia đình, và thành tựu của bản thân.

Sau cùng, sự trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện, thể hiện, hiển hiện, xuất hiện, và hô biến hiện ra ngay khi bạn – một lão nam – có cách sống theo lời của Lenin: học, học nữa, học mãi, vì rằng khi học mãi, bạn sẽ học ngay cả nơi người trẻ tuổi để cảm nhận được rằng mình đang trong thời tuổi trẻ. Trẻ trung, do đó, không là những cái tửng tửng chân nhảy nhót miệng nhồm nhoàm của trẻ nít. Hãy nhìn nội thất của những gia đình phú quý trẻ tuổi: họ có những trang bị hiện đại, và họ cũng có những cổ vật đắt tiền. Giới trẻ thành công luôn cần đến những bậc trưởng thượng dù họ có nhiều những bạn bè trẻ tuổi hiện đại khác. Bậc trưởng thượng rất khác với người già của hiện tượng vật lý hóa học. Giá trị của bậc trưởng thượng là ở chỗ tuổi đời càng chất chồng theo năm tháng thì họ lại càng trẻ trung hơn, sống động hơn, tích cực hơn, mạnh mẽ hơn, hữu dụng hơn cho đời, và do đó trở nên cần thiết hơn. Đó chính là điều mà người trẻ tuổi đoan chính luôn mong nhìn thấy nơi các lão nam để mình được thành công vậy.

Trẻ Trung (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-11-2011. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021)

Lời Đe Dọa Dành Cho Nghị Sĩ Đương Nhiệm Hoàng Hữu Phước và Ứng Cử Viên Tự Do Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-3-2016

Chỉ cần thực hiện 1.000% lời hứa vì nước vì dân qua khẩu khí tranh cử Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) rằng luôn biết lo trước cái lo của người dân (theo gương tất cả các hiền nhân quân tử từ ngàn xưa của Á Đông trong tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ), rằng luôn bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Namluôn bảo vệ thể chế chính trị của Việt Nam (theo thực hành thực tế của tất cả các nghị sĩ chính khách tại tất cả các quốc gia văn minh tiên tiến tư bản toàn cầu đối với thể chế chính trị của quốc gia họ), tôi đã nhận những lời đe dọa sau từ không gian mạng:

Baochi1

Trong thời gian qua, ngoài việc tích cực viết blog để phổ cập kiến thức chính trị và phổ biến các nhận định cá nhân về nhiều lĩnh vực khác nhau, tôi còn tích cực nhận lời mời đi dùng cà phê sáng với nhiều bạn trẻ quan tâm đến việc tham gia ứng cử vào Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh để giải đáp thắc mắc, trấn an, khuyến khích, hướng dẫn, cung cấp tài liệu – thậm chí tài liệu hồ sơ ứng cử của tôi với toàn bộ chi tiết kê khai về tiểu sử, lý lịch, và tài sản của tôi (để họ tham khảo và chuẩn bị trước cho riêng họ), và động viên họ tham gia tự ra ứng cử nhiệm kỳ mới (tức nhiệm kỳ 2016-2021 của Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân Thành phố). Mới đây tôi lại phải cố gắng thuyết phục họ hãy yên tâm khi họ dao động và bức xúc trước những thông tin trên báo chí:

BCQH5

Điều đáng ngạc nhiên là có kẻ không muốn tôi tiếp tục ra ứng cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) nên đã giả bộ gọi tôi là “Thầy” khi gởi tin nhắn sau đến trợ lý của tôi là Cô Lại Thu Trúc:

BCQH

Gọi là “giả bộ” vì đã là học trò của tôi thì phải biết một số phone thực tế của tôi mà khi bất kỳ ai trong họ gọi đến thì tôi luôn trả lời, luôn biết địa chỉ email loại “đặc biệt” của tôi mà không bất kỳ ai không phải học trò tôi được biết, chứ không phải vào web của công ty tôi rồi chỉ thấy số phone đường dây nóng dẫn đến cô trợ lý Lại Thu Trúc của tôi. Ngoài ra, kiểu nói “chính trị là lợi dụng” là kiểu nói thấp hèn, không bao giờ có nơi những học trò của tôi vốn luôn thuộc đẳng cấp tư duy cực cao; kiểu nói tôi bị “người ta lợi dụng” là xúc phạm trình độ và đẳng cấp của tôi mà đó là việc khiến người nói đương nhiên bị tất cả các học trò tôi nguyền rủa; chưa kể khi lôi ông Saddam Hussein ra và nói “giống” ắt hàm ý đe dọa tôi sẽ bị giết như Saddam Hussein  nếu dám cãi lời tiếp tục “làm chính trị nữa” tức là dám ra ứng cử trong khóa tiếp chăng.

Do họ không biết rằng:

1) tôi là chính khách “tu hành nhập thế” kiểu Việt [1];

2) đã mở miệng nói “vì nước vì dân” thì dù là ngồi ghế cao quyền trọng hay là thứ dân đều phải “vì nước vì dân” nên dù là nghị sĩ hay là không còn là nghị sĩ thì tôi vẫn tiếp tục đại nghĩa “vì nước, vì dân”, nghĩa là bất kỳ ai khi thực lòng “vì nước, vì dân” thì người đó phải ra sức bảo vệ Đảng Cộng Sản, thể chế chính trị Cộng Sản, quân đội Cộng Sản, để đất nước này, dân tộc này được bảo vệ mãi sinh tồn và trường tồn miên viễn;

3) một khi đã trải qua những năm kinh nghiệm sẻ chia, đồng cảm, thấu hiểu, và trực tiếp can thiệp cho những oan khuất, những bất bình của người dân cũng như biết rất rõ những nguyên nhân đưa đến các oan khuất và bất bình ấy để có thể mạnh tay giúp dân giúp nước hiệu quả hơn và bằng cách hiệu quả nhất;

4) một khi đã nêu gương liêm chính và liêm khiết từ thủa nhỏ cũng như trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII;

5) một khi đã ra sức động viên giúp đỡ hơn 50 công dân trẻ tuổi về mặt tư tưởng chính trị để gia tăng lượng ứng viên ngoài Đảng, có trình độ cao về năng lực và học vấn, kể cả động viên công dân diện yếu thế như nữ công dân và người khuyết tật ra ứng cử để dùng trí tuệ ra phục vụ quốc gia, dân tộc chốn nghị trường; và

6) một khi đã luôn nhận được lời động viên của người dân từ nhiều tỉnh thành trong cả nước cũng như của các “đồng chí” tức những bạn hữu và đồng nghiệp đồng tâm vì nước vì dân;

Tôi, Hoàng Hữu Phước, nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Khóa XIII, kính báo cùng quốc dân đồng bào là tôi đã nộp đơn ứng cử Quốc Hội Khóa XIV tại Sở Nội Vụ Thành phố Hồ Chí Minh lúc 16g20 ngày 07-3-2016, diện tự ứng cử, diện tái tranh cử, và diện ứng cử viên ngoài Đảng.

Đồng hành cùng tôi nộp hồ sơ ứng cử cùng ngày còn có Cô Lại Thu Trúc [2], ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), diện tự ứng cử, diện nữ ứng cử viên, và diện ứng cử viên ngoài Đảng. Cô Lại Thu Trúc từ năm 2011 đã nhận nhiều lời đe dọa đến tính mạng nếu tiếp tục làm việc tại công ty tôi. Cô Lại Thu Trúc cũng là người nhận tin nhắn đe dọa “Saddam Hussein” kể trên.

BCQH6

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

[1] Nghị sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/16/nghi-si-hoa-thuong-thich-chon-thien/

[2] Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2016

 TKTam (3)

Tổng Giám đốc Công ty Trần Liên Hưng Trần Khắc Tâm là nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội Tỉnh Sóc Trăng. Ông là chức sắc cấp cao của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (Ủy viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Sóc Trăng), Chủ tịch Hội Doanh Nhân Trẻ Tỉnh Sóc Trăng, và là Ủy Viên Hội Đồng Dân Tộc của Quốc Hội.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm được biết đến như một hình mẫu của một nghị sĩ miền Nam chân chất, giản dị, biết chăm lo cho dân chúng ở tỉnh nhà và cho đại sự quốc gia. Khi đem đến nghị trường cái lo lắng của Ông đối với nguy cơ nông dân Sóc Trăng bị thiệt hại từ thiên tai dịch bệnh trong nuôi trồng thủy hải sản, Ông đã khiến mọi người từ thói quen tập trung cho những điều có khi vĩ mô, có khi chỉ là sự đua đòi theo ngoại quốc cứ hễ thấy người ta có luật nào mình chưa có thì hăng hái đề nghị ra luật đó với lý do “trả nợ với nhân dân”, bắt đầu thấm thía thế nào là cái tâm thực sự của một nghị sĩ đối với “cái nợ thật sự” đối với dân. Ông lên tiếng kêu gọi trung ương lưu tâm đến tình cảnh nông dân Sóc Trăng phải gánh chịu trước những dọa đe đối với cuộc sống sinh nhai, từ đó áp dụng cho nông dân toàn quốc, thay vì những điệp khúc quen thuộc thường nghe thấy chốn nghị trường là xin ngân sách trung ương để xây cầu hoặc làm đường cho các địa phương. Ông còn là vị nghị sĩ độc đáo vì dường như chỉ có Ông là quá tâm huyết quá tự hào với sản vật địa phương mà nhân dân của Ông ở Sóc Trăng sản xuất, đến độ mỗi khi Ông đi họp Quốc Hội là hành trang Ông mang theo lủ khủ các bao nylon đựng tôm khô mà Ông gởi tặng các nghị sĩ khác để vừa dùng “lấy thảo” theo phong cách miền Nam, vừa để tự hào “khoe” tôm khô của Sóc Trăng là loại thượng hảo hạng tốt và ngon nhất. Khi tôi áy náy nói với Ông rằng người dân phía Bắc dường như ưa chuộng hải sản tươi sống hơn, thì Ông cười hào sảng trả lời rằng “Đâu có sao đâu anh Phước. Nếu ai nhận quà của em mà không xài thì họ sẽ đem cho người quen của họ, nên rốt cuộc con tôm khô của dân Sóc Trăng cũng sẽ đến tay người nào chịu ăn thử và nhờ vậy tôm khô Sóc Trăng và bánh pía của dân em làm ra sẽ được thưởng thức khắp nước và sẽ được khen mà!”. Cái “đắc nhân tâm” khoáng đạt, hồn nhiên và tự nhiên của Ông Trần Khắc Tâm làm tôi nhớ đến các bậc đại nhân thời xưa trong bộ Minh Tâm Bảo Giám.

Là một nghị sĩ tích cực, Ông Trần Khắc Tâm còn thường xuyên phát biểu tại nghị trường đối với các vấn đề vĩ mô mang tính kế sách quốc gia, đặc biệt đối với các chương trình nghị sự có liên quan đến các lĩnh vực Ông có nhiều kinh nghiệm thực tế như Mặt Trận Tổ Quốc, Công Đoàn, Lao Động, và Kinh Doanh, v.v., để thực sự đúng nghĩa một “nhà lập pháp” và là người tham gia giải quyết các vấn đề trọng đại của quốc gia mà nhân dân Sóc Trăng giao phó tín thác cho Ông qua lá phiếu của mình.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm đã hết lòng vì dân. Quốc Hội Khóa XIII đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong hoàn cảnh vận mệnh quốc gia phải đương đầu với bao thách thức lớn lao. Ông có quyền tự hào đã có góp phần vào đại cuộc ấy.

Tấm lòng luôn đau đáu vì cuộc sống của người dân Sóc Trăng, luôn vinh danh con người Sóc Trăng, luôn tìm cách giới thiệu với lòng tự hào các sản vật dù dân dã đơn sơ, thành quả kết tinh từ sự miệt mài lao động gian khổ của người dân Sóc Trăng, đã biến Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm trở thành người được mến mộ chốn nghị trường.

Kính chúc Nghị sĩ Trần Khắc Tâm sức khỏe, tiếp tục cống hiến dài lâu cho đất nước, cho nhân dân, để Sóc Trăng luôn được biết đến, còn người dân Sóc Trăng mà Ông luôn hết lòng phục vụ có thể tự hào có Ông là nghị sĩ dân cử của họ.

TKTam (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-02-2016

 TVhang2

Nghị sĩ Trần Văn Hằng là Ủy Viên Trung Ương Đảng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại đương nhiệm của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

Người dân có lẽ không nghe nói gì về Ông trên các phương tiện truyền thông đại chúng vì đối với dân chúng trong nước thì Bộ Ngoại Giao với người đứng đầu là Bộ Trưởng Ngoại Giao mới là thành viên quyền lực của Chính Phủ về công tác đối ngoại. Ngoài ra, công việc đối ngoại tại Quốc Hội dù bao trùm, năng động, tích cực, thường xuyên dàn trải căng thẳng, càng ít được biết đến vì vừa cơ mật, vừa âm thầm, vừa không trực tiếp liên quan đến nội vụ nội địa.

Ủy ban Đối Ngoại có lực lượng nhân sự hùng hậu, trẻ trung, và xuất sắc, công tác tại rất nhiều Vụ của Ủy ban Đối Ngoại, từ Vụ Đông Bắc Á, đến Vụ Nam Mỹ, Vụ Trung Đông, v.v., với công việc chính bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – nắm vững tình hình tại tất cả các quốc gia trên thế giới mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao, tất cả các văn hóa ngoại giao đặc thù của họ, tất cả các nội dung lãnh sự, v.v., để không những bảo vệ kịp thời kiều bào trên toàn thế giới mà còn bảo đảm tiên phong tiền trạm chuẩn bị tất cả cho các chuyến đi của các lãnh đạo, kể cả việc soạn thảo nội dung các văn kiện cùng bản dịch của các văn kiện đó ra ngôn ngữ của quốc gia mà lãnh đạo Quốc Hội Việt Nam có thể sẽ ký kết trong các chuyến công du ấy, và công tác phiên dịch. Có thể nói, phần lớn các chuẩn bị từ đầu cho đến khi các chuyến công du của lãnh đạo Việt Nam kết thúc đối với các mặt tham mưu mang tính tư liệu về đối tác cũng như thực hiện các thủ tục cùng văn bản, v.v., là do Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội thực hiện. Điểm đặc biệt duy nhất là các công việc ấy rất ít khi công khai, đội ngũ nhân sự của Ủy Ban thường rút vào hậu trường và do đó ít khi xuất hiện trên các hình ảnh của truyền thông đại chúng. Lãnh đạo cả tập thể nhân sự hùng hậu xuất sắc đó là Ông Trần Văn Hằng.

Dù không thể nói nhiều đến lĩnh vực bao trùm và phức tạp của Ông do tính bảo mật và nhạy cảm của thông tin, tôi chỉ có thể nêu ra một sự vệc để người dân biết được là những công việc ngồn ngộn thành công về đối ngoại của đất nước đã đến từ sự âm thầm làm việc của Ông và đội ngũ nhân sự của Ông hiệu quả như thế nào, đó là khi Trung Quốc băt đầu gây hấn ở Biển Đông với việc kéo đặt giàn khoan thăm dò dầu khí ở lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Lúc ấy, ngay tại Quốc hội có đại biểu TTN là một luật sư đảng viên chức sắc cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh đã hùng hồn đòi Quốc Hội phải ra nghị quyết về Biển Đông. Luật sư ấy đã không hiểu biết về luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế khi đòi hỏi như vậy, vì rằng nghị quyết của Quốc hội Việt Nam là để phải được thực thi chứ không để đơn giản nêu một ý kiến, trong khi một nghị quyết về Biển Đông là nhằm vào Trung Quốc mà Quốc Hội Việt Nam tất nhiên không thể và không có quyền bắt buộc Trung Quốc thực thi, khiến một văn bản của cơ quan quyền lực cao nhất Việt Nam có nguy cơ trở thành tờ giấy loại, vô giá trị, tự mình làm nhục mình. Đồng thời, luật sư ấy đã không hiểu biết gì về chức năng của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội. Trong thời điểm ấy, Ủy Ban Đối Ngoại đã tham mưu Thường Vụ Quốc Hội và Nhà Nước để thực hiện các công việc khẩn trương như soạn gởi các công hàm ngoại giao đến tất cả các Quốc Hội của các nước để kêu gọi sự lên tiếng về sự quấy rối của Trung Quốc, và đã đạt được kết quả như mong đợi khi Quốc Hội của các nước lần lượt lên tiếng ủng hộ Việt Nam và bày tỏ sự không bằng lòng với hành động gây căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là chiến thắng lớn về ngoại giao nghị viện khi chính nghĩa của Việt Nam được thế giới biết đến và chính thức ủng hộ, cũng như hành động của Trung Quốc bị thế giới chính thức lên án hoặc chí ít cũng là đề nghị Trung Quốc hãy tôn trọng Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển UNCLOS mà Trung Quốc là thành viên.

Trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016), tất cả những công việc quốc gia đại sự đều có sự đóng góp trách nhiệm tổ chức của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội như các hoạt động của Quốc Hội Việt Nam tại AIPA (Hội Đồng Liên Nghị Viện Các Quốc Gia Đông Nam Á), đặc biệt trong tổ chức hội nghị quốc tế đa phương Đại Hội Đồng Liên Minh Nghị Viện Thế Giới lần thứ 132 (IPU-132) do Việt Nam đăng cai tổ chức tháng 3 năm 2015 tại Hà Nội; cũng như các chuyến công tác của lãnh đạo Quốc Hội gây tiếng vang lớn đối với quốc tế mà điển hình là sự kiện Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng tham dự Hội Nghị Các Chủ Tịch Quốc Hội Thế Giới Lần IV tại New York, Hoa Kỳ, đồng chủ trì phiên thảo luận chuyên đề biến các mục tiêu phát triển bền vững SDGs thành hành động; và chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam trong đối ngoại song phương đã tác động sâu sắc đến cái nhìn đầy đủ, khách quan, thiện chí hơn nơi một số nghị sĩ Hoa Kỳ có nhận thức tiêu cực về Việt Nam, tranh thủ được sự ủng hộ có lợi cho Việt Nam, mở ra triển vọng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, nông nghiệp, v.v., giữa hai quốc gia, thúc đầy quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ, tạo đà cho việc ký kết Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP, v.v. Hoạt động thành công vượt bậc của lãnh đạo Quốc Hội với sự tổ chức tham mưu của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội đã cùng với các hoạt động thành công vượt bậc của lãnh đạo Đảng và lãnh đạo Chính Phủ trong suốt nhiệm kỳ qua đã chứng minh “hợp đồng tác chiến” trên liên mặt trận chính trị, nghị viện, ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc phòng dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công hiệu quả, mỹ mãn, giúp duy trì môi trường hòa bình, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Tương tự như tại cơ quan tình báo khi các chiến công của các sĩ quan tình báo và các điệp viên không bao giờ được công khai công nhận khi chưa qua thời gian rất dài cả đời người phải bảo lưu bí mật, các nhân sự xuất sắc của Ủy Ban Đối Ngoại mà Ông Trần Văn Hằng chỉ huy lập được bao kỳ công trong đối ngoại nghị viện quốc gia về chính trị, kinh tế, và bảo vệ kiều bào, v.v. Sự thành công hiển hiện hiển nhiên của nước nhà trước mắt người dân và quốc tế đã luôn có sự âm thầm tích cực và đóng góp hiệu quả lớn lao của Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội.

 TVHang1

Bài viết này như đôi dòng ngắn ngủi nói về chiến công thầm lặng của Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội dưới sự lãnh đạo của tư lệnh Trần Văn Hằng, nhà ngoại giao mưu lược, quyền biến, và khả kính.

Cảm ơn Ông đã luôn là tấm gương sáng của hoạt động ngoại giao nghị viện Việt Nam trên trường quốc tế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016)

Ủy viên Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội Khóa XIII

hhp 2016

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-02-2016

 Nguyen Thi Kim Tien

Tại Đại Hội Đảng XII vừa qua, ngành Y Tế không có lãnh đạo nào được bầu vào Trung Ương Đảng, kể cả Bộ Trưởng Y Tế đương nhiệm Nguyễn Thị Kim Tiến.

Với khát vọng quá lớn lao vì nước, vì dân, ngay từ ngày đầu giải phóng Miền Nam tiến tới thống nhất đất nước, mặc cho đất nước điêu tàn, kho tàng cạn kiệt, lòng người còn phân tán, xã hội còn lắm ly tan, Đảng và chính phủ Việt Nam đã cho áp dụng ngay lập tức các phúc lợi xã hội đồng đều, rộng khắp, từ giáo dục miễn phí đến y tế miễn phí cho toàn dân. Những nỗ lực vung tay quá trán vì nước vì dân này, cộng với việc đổ máu xương chống chọi với cuộc xâm lăng của Trung Quốc và cuộc xâm lược của Campuchia nhằm tiêu diệt nhanh gọn một Việt Nam ngỡ đâu đã suy tàn sau cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp và đánh Mỹ để rồi cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chính nghĩa duy nhất trên thế giới này cứu cả một dân tộc khỏi nạn diệt chủng lại bị Mỹ chụp mũ là xâm lược Campuchia để áp đặt lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc, khiến toàn bộ hệ thống giáo dục và y tế ngày càng lạc hậu, xuống cấp, thiếu thốn. Trong lúc ngay tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh vị Khoa Trưởng Khoa Ngoại Ngữ có học vị Thạc Sĩ Mỹ phải “phát huy sáng kiến” chế tạo giáo cụ trực quan bằng cách lấy bao bố đựng gạo dệt bằng sợi đay đem nhúng nước cho ướt sũng, treo lên bảng đen, rồi lấy mấy hình vẽ cắt trên giấy cứng đính lên vải bố để bị dính nước không rơi xuống đất, dạy sinh viên cách dạy học sinh trung học nhìn hình mà nói tên vật dụng bằng tiếng Anh, thì tại các bịnh viện lớn như ở Bịnh Viện Bịnh Nhiệt Đới ở Thành phố Hồ Chí Minh các y tá đẩy xe thuốc đên từng giường bịnh nhân viêm gan siêu vi không để vào dịch truyền, không để tiêm thuốc, không để phát thuốc trong vĩ, mà để rót từ chiếc bình thủy tinh khổng lồ trên xe ra ly một dung dịch đen đặc chiết xuất từ thân lá rể củ A-ti-sô cho bịnh nhân uống, kèm với vài viên thuôc trị bá bệnh Xuyên Tâm Liên từ trong bao nylon lớn tương tự chiếc bình A-ti-sô bên cạnh. Và giữa cái thế giới cả bạn lẫn thù đều ra sức bóp chết đất nước Việt Nam, chính người dân Việt Nam trở thành nạn nhân gánh chịu các đòn trừng phạt đó; đã vậy, biết bao vị bác sĩ hoặc vượt biên hoặc thất thời thất chí bất mãn bất phục bất hợp tác càng làm cho tình hình chăm sóc sức khỏe người dân càng không còn lối thoát.

Ấy vậy mà từng bước Đảng và Chính phủ Việt Nam vừa gượng dậy về kinh tế vừa tự lực cánh sinh khẩn trương đào tạo lớp cán bộ y tế bổ sung, vừa gia tăng chất lượng và số lượng cơ sở y tế đến tận phường xã. Đến nay thì mọi việc đã khá hơn về chất với số lượng các bịnh viện có yếu tố nước ngoài đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của người dân có thu nhập cao, cũng như với số lượng thuốc ngoại nhập khổng lồ mà tất cả các viện bào chế trên toàn thế giới đều đổ vào Việt Nam như nơi đến lý tưởng nhất để kinh doanh dược phẩm. Và Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhận lấy trách nhiệm trong một hoàn cảnh nền y tế không còn bi đát nhưng nảy sinh nhiều hệ lụy ấy cả về cơ sở vật chất, giá thuốc, sản xuất thuốc, dịch bệnh, và tác nghiệp của cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền.

Về cơ sở vật chất, do chủ trương chính sách từ ngày đầu giải phóng, các cơ sở y tế được mở ra đồng loạt hằng hà sa số đến tận từng phường, từng xã, trên phạm vi cả nước, khiến ngân sách dàn trải, không cơ sở nào không thiếu thốn, dẫn đến ngân sách cho các bịnh viện lớn “tuyến trên” tức tại các thành phố lớn cũng thiếu hụt, làm hạ tầng cơ sở ngày càng xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh, không có trang thiết bị y khoa hiện đại, còn y đức khó được trau giồi mãi trên nền duy ý chí. Khi điều kiện kinh tế đã khá hơn quá nhiều như hiện nay thì khó khăn mới lại càng đeo bám Bộ Trưởng Y Tế nhiều hơn: trong khi cơ sở y tế được xây dựng lớn hơn, nhiều hơn, sung túc hơn, hiện đại tối tân hơn, với số giường bệnh gia tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu săn sóc sức khỏe toàn dân, v.v., thì y đức hầu như đã thành vật xa xỉ quý hiếm nơi giới y bác sĩ. Thực tế xã hội này khiến Bà Nguyễn Thị Kim Tiến dù đã luôn hết lòng kêu gọi, nhắc nhở, thanh sát giám sát, vẫn phải chịu búa rìu dư luận khi vẫn xảy ra các hành xử vô văn hóa của cán bộ y tế đối với bịnh nhân nghèo, trình độ chữa trị đầy sai sót của các bác sĩ đẫn đến manh động của thân nhân bịnh nhân, cũng như việc kê toa của bác sĩ thường nhằm vào việc nhận hoa hồng nhiều hơn nơi công ty nhập khẩu cung ứng dược phẩm khiến bịnh nhân bịnh hơn và nghèo hơn, v.v. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về giá thuốc, đây là vấn đề từ tàn dư của chính sách sai lầm của các quan chức tiền nhiệm. Tác giả bài viết này từng cung cấp thuốc nguyên liệu bulk drug và thuốc thành phẩm cho Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ. Chất lượng thuốc luôn theo tiêu chuẩn Anh Quốc, công ty sản xuất luôn là công ty lớn, và chưa bao giờ có chuyện bất kỳ xảy ra về chất lượng thuốc và giá thuốc. Việc nhập khẩu là việc của các doanh nhân có quan hệ và kinh nghiệm với các nhà sản xuất dược nước ngoài, còn các doanh nhân này sử dụng đội ngũ chuyên viên dược là chuyện riêng của họ, cũng như các lô hàng họ cung ứng cho các cơ quan y tế đều luôn theo thử nghiệm của các cơ quan này đối với hàng mẫu thuốc và theo giá cả chính thức của hai bên. Thế mà Việt Nam bắt đầu quy định chủ nhân các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc phải có bằng cấp dược sĩ hay bác sĩ, khiến xã hội ồ ạt xuất hiện nhiều doanh nghiệp do số lượng đông sinh viên y khoa dược khoa tốt nghiệp ồ ạt kinh doanh dược phẩm, mạnh ai nấy tìm nguồn cung ứng giá thấp nhất rồi bán với giá cao nhất, tạo điều kiện làm giàu nhanh chóng cho các nhà sản xuất vô danh tiểu tốt ở nước ngoài, còn người dân Việt Nam thì chịu đựng chất lượng thuốc không cao, nơi sản xuất khả nghi, giá cả cao hơn, và báo chí thì lâu lâu lại đăng công bố của Bộ Y Tế thu hồi các lô thuốc nhập khẩu do có vấn đề về chất lượng. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không khoanh tay trước vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi đối với một sự việc mà căn cơ của nó đã bén rể thành cổ thụ qua bao thập kỷ. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về sản xuất thuốc, trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đề ra kế sách về thuốc generic, một việc mà nhiều thập kỷ nay đã chưa từng có vị Bộ Trưởng Y Tế nào trước Bà từng xem như một sách lược mang tầm chiến lược quốc gia. Đối với thuốc sản xuất trong nước thì như tôi đã từng viết blog, Việt Nam thay vì tập trung nghiên cứu các tư liệu cổ truyền dân gian để đưa vào sản xuất hiện đại chào bán ra nước ngoài, thì chỉ biết lo sao chép câu vớ vẩn của Cục Dược Phẩm Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA để ghi trên bao bì tất cả các “thực phẩm chức năng” sản xuất tại Việt Nam. Còn một nữ tiến sĩ dược được đưa lên tivi mấy ngày Tết Bính Thân 2016 để ngợi ca tài đức vì đã chế ra thuốc Trinh Nữ Hoàng Cung – dù Trinh Nữ Hoàng Cung là dược liệu từ thư tịch y học cổ và được sản xuất bởi nhiều cơ sở dược nhiều chục năm nay – cho thấy sự bối rối, dẫm chân tại chỗ của ngành dược đến độ buộc phải kiếm cho bằng được một vị để cho có đủ đầy các ngành cho mấy ngày Tết. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không phải không hiểu biết vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một xã hội mà sinh viên vào ngành Dược là để sau khi có bằng cấp là xin mở ngay hiệu thuốc để tham gia thị trường bán thuốc để được tiếp cận bởi các trình dược viên của các nhà sản xuất nước ngoài chứ không ai vào ngành Dược vì tâm niệm sẽ làm nên điều kỳ vĩ chế tạo thuốc cứu người, cứu đời. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và trước cái gọi là ý chí của sinh viên dược Việt Nam ngày nay đối với kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về dịch bệnh, trong nhiệm kỳ của Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, thế giới đã phải đương đầu với những bịnh tật triền miên. Tại Việt Nam, việc lạ vẫn xảy ra đối với Sốt Xuất Huyết. Nếu như vài tháng sau ngày giải phóng, đứa em gái áp út xinh đẹp Hoàng Thị Cẩm Thúy của tôi mất vì Sốt Xuất Huyết năm 1976 lúc mới 7 tuổi và chúng tôi chẳng hiểu đó là gì vì chưa từng nghe thấy ở Việt Nam Cộng Hòa, và chỉ thời gian ngắn sau đã nghe phác đồ điều trị của Bộ Y Tế rằng chỉ cần uống nhiều nước, uống nhiều nước chanh đường, giữ chế độ dinh dưỡng đầy đủ là sau một tuần sẽ khỏi, thì sau 40 năm tôi lại thấy tin tức dồn dập trên tivi và báo chí sự xuất hiện bùng phát dập dồn của Sốt Xuất Huyết, thậm chí với phim phóng sự nêu rõ sự “thờ ơ” của người dân không làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương, v.v. Như tôi đã từng nêu trong nhiều bài blog, cái sai của chính quyền là hay lạm dụng cụm từ “tuyên truyền giáo dục người dân” và “kêu gọi ý thức tự giác của người dân” vì tuyên truyền giáo dục không phải là phương pháp áp dụng cho tất cả mọi nội dung, mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi; thay vào đó, biện pháp chế tài nghiêm khắc mới là ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất như minh chứng ở Singapore. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng nếu ngay cả Sốt Xuất Huyết mà 40 năm qua vẫn không “tuyên truyền giáo dục” thành công thì nói gì đến các nguy cơ đại dịch khác; song, Bà khó thể làm gì được vì Bà chỉ có thẩm quyền đối với ngành Y Tế trong khi những thứ vĩ mô mang tính thực hành chung thì đến từ trung ương mà Bà không thể tự mình vượt qua được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn còn nhiều việc để làm để chấn chỉnh, chẳng hạn đối với Cục Quản Lý Dược là cơ quan đầy ắp quyền lực nhưng cạn khô trách nhiệm. Cục Quản Lý Dược là cơ quan quyền lực tột đỉnh đối với tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu dược và mỹ phẩm. Cục Quản Lý Dược là bộ mặt của Bộ Y Tế để chứng minh Bộ Y Tế có thừa hành đúng chỉ đạo của Đảng và chỉ thị của Chính Phủ trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh doanh kinh tế kinh tài hay không. Thí dụ dưới đây qua công văn số 18709/QLD-MP ngày 02-10-2015 khi một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh bị Hải Quan tạm giữ lô hàng mỹ phẩm do có các chi tiết không đúng 100% với chi tiết ghi trong giấy công bố sản phẩm do Cục Quản Lý Dược cấp, thay vì trả lời là lô hàng ghi chữ A và B và C theo như chi tiết D và E và F doanh nghiệp nêu trong công văn là chấp nhận được, thì Cục Quản Lý Dược lại dẫn Chương nào của Thông Tư nào quy định như thế nào. Để tránh trách nhiệm mang tính khẳng định cụ thể, Cục đã phải mất nửa tháng mới tìm ra Thông Tư đó để trả lời doanh nghiệp, vừa giúp Hải Quan có thêm thời gian thu thêm phí lưu kho của doanh nghiệp, vừa đá trái bóng qua Hải Quan để Hải Quan thay vì cho giải tỏa lô hàng của doanh nghiệp lại phải dành thời gian để đọc xem câu cú của Cục nên được hiểu như thế nào đối với danh mục mấy tá chủng loại hàng của doanh nghiệp; chưa kể công văn của doanh nghiệp có dẫn chứng về biên bản của Hải Quan nhưng Cục chỉ trả lời cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp phải sao y rồi trình cho Hải Quan xem, mà Hải Quan khó thể chấp nhận một bản photocopy không có dấu đỏ của Cục. Tất cả quy trình tránh né này dễ khiến doanh nghiệp tự hiểu ra rằng tốt nhất phải có “phong bì” đút lót cho Cục hoặc cho Hải Quan. Việc Bộ Trưởng Bộ Y Tế nên làm là (a) giao thực quyền cho các vị Cục Trưởng để họ phải bị xử lý nếu sai phạm hoặc để có sai phạm ở cơ quan họ trong tiến trình cải cách hành chánh, thay vì bám gấu áo của Bà, núp sau cái bóng của Bà để Bà phải gánh chịu mọi búa rìu dư luận trong khi họ vinh thân phì gia hoạnh họe doanh nghiệp mà Bà không biết đến; và (b) ra lịnh thay đổi cung cách ra văn bản vì Hải Quan và doanh nghiệp nói trên đều có trong tay các thông tư của Bộ Y Tế nên không lý do gì Cục lại dẫn ra các thông tư ấy, vì cái mà doanh nghiệp nêu là tại sao một tá mặt hàng mà họ cho là hợp lệ ấy lại bị Hải Quan tạm giữ và yêu cầu Cục cho biết một tá mặt hàng đó cái nào đạt, cái nào không đạt.

 qld

Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng cải cách hành chánh là một tiến trình gian nan đặc biệt với một Bộ như của Bà phải đối phó cùng lúc với nhiều vấn đề quan trọng và nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe toàn dân và y tế y học nước nhà, chưa kể lề lối làm việc thâm căn cố đế kiểu “con ông cháu cha” hoặc “anh anh em em kiểu Anh Hai Anh Năm Chị Sáu Chị Bảy” luông tuồng không thể một sớm một chiều có thể thay đổi được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước cung cách làm việc của “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi về quản lý. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Sẽ là một sự công bằng nếu như Chính phủ do Quốc Hội chuẩn y trong khóa XIV tiếp tục bổ nhiệm Bà Nguyễn Thị Kim Tiến làm Bộ Trưởng Y Tế thêm một nhiệm kỳ để Bà tiếp tục hoàn thành các dự án của Bà đối với sản xuất thuốc; mở rộng nâng cấp và hiện đại hóa các bịnh viện; hữu hiệu hóa cơ chế đảm bảo lượng vắc-xin chất lượng cho toàn dân; tối ưu hóa cơ chế chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo, dân chúng vùng sâu vùng xa, vùng hải đảo, chốn biên thùy; và trên hết là nâng lên được cao nhất y đức mà bản thân Bà đã trong suốt nhiệm kỳ qua đã gắng sức thể hiện tôn tạo tôn vinh. Sự nghiệp y tế nước nhà cần người trưởng ngành như Bà vì Bà có kinh nghiệm quản lý nhà nước, có kinh nghiệm đối phó với các vấn đề liên quan đến y tế toàn dân, có kinh nghiệm đề ra sách lược sản xuất thuốc theo công thức ngoại thay cho nhập khẩu để dân có thuốc chất lượng cao với giá không cao, và có uy tín chuyên môn y học với nước ngoài, nên hơn ai hết Bà cần tiếp tục vị trí đầu ngành để thực hiện kế sách Bà đã tâm huyết hoạch định vì nước vì dân.

Làm việc càng nhiều, giải quyết càng nhiều việc, đảm đương đa dạng phong phú các lĩnh vực trách nhiệm trên quy mô quá rộng lớn và liên quan đến tất cả các công dân của đất nước này thậm chí kể cả các công dân tương lai còn trong bụng mẹ, Bà càng là đích ngắm của các công kích, dèm pha, chê bai, bôi nhọ, mỗi khi có một sai sót nào đó đến từ bất kỳ ai thuộc ngành Bà quản lý.

Tôi tin tưởng rằng người dân sẽ nhận ra hiệu quả làm việc của Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nếu Bà tái cử vào vị trí tư lệnh ngành y tế Việt Nam.

Hiệu quả ấy sẽ là thứ y đức mà bản thân Bà dâng cho người dân Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

hhp 2016

A) Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Thực Phẩm Chức Năng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/30/thuc-pham-chuc-nang/

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

14-02-2015: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/14/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong/

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-02-2016

 Nguyen Phu Trong

Điều đáng thương hại cho nhiều người viết báo nước ngoài, từ nhà phê bình chuyên trang kỳ cựu columnists trên thế giới đến thực tập sinh Thạc Sĩ Báo Chí ở Hoa Kỳ có tên Việt, là luôn có khuynh hướng viết giống nhau như đúc do được đúc từ một khuôn ở một lò mang tên “báo chí tư bổn”, chẳng khác nào “lưỡng đảng” tư bản chủ nghĩa cầm quyền của Hoa Kỳ vậy, ở chỗ mỗi khi sắp có Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam để chuẩn bị cho một đội ngũ “tứ trụ triều đình” mới thì (a) luôn mặc định có sự đối đầu giữa các “phe” trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, (b) luôn mặc định rằng đầu não lãnh đạo Đảng gắn liền với nhãn mác “bảo thủ” và “thân Trung Quốc”, (c) luôn mặc định rằng các Thủ Tướng Việt Nam Cộng Sản là người của cải tổ và “thân Mỹ”, (d) luôn ra sức võ đoán về nhân sự nào sẽ lên ngôi, (e) luôn kết luận rằng đầu não “bảo thủ” của Đảng Cộng Sản Việt Nam rồi cũng phải thay đổi để ra mặt chống Trung Quốc nhiều hơn, thân Mỹ hơn, cởi mở dân chủ hơn, bó buộc phải cải tổ theo đòi hỏi của nhân dân, và (f) luôn vân vân và vân vân.

Sự thật là giữa thế giới Âu Mỹ mà Hoa Kỳ là đầu tàu và Việt Nam có sự khác nhau cực kỳ cơ bản về “đảng chính trị cầm quyền” song chẳng ai hiểu được thấu đáo để viết bình luận cho ra hồn.

Tại Mỹ, chỉ có hai đảng chính trị duy nhất được tham chính cầm quyền và mọi sự giật dây, tư vấn, chỉ đạo của đảng thắng cử đều được thực hiện từ sau bức màn nhung nặng chịch, còn Tổng Thống là người chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn và tuyệt đối trước mắt nhân dân, nghĩa là sự thất bại nếu có của một tổng thống trong thực thi sách lược trị quốc bình thiên hạ mà đảng đã “mớm” từ đầu sẽ không thể đưa đến một liên tưởng hay liên hệ của người dân tới sự thất bại của cái đảng của ông ta. Đây là điều quan trọng vì nếu vị tổng thống có bị mất điểm với nhân dân thì đảng của ông ta lại càng phải bỏ mặc ông ta chịu trách nhiệm cá nhân để đảng còn lo tập trung kiếm nhiều ghế cho đảng viên của mình vào các vị trí thống đốc các bang cũng như các ghế hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ để có thể kỳ vọng nào đó khả dĩ giúp cho cuộc tranh cử tổng thống tiếp theo cho ứng cử viên tổng thống khác của họ.

Tại Việt Nam, do thực tế lịch sử chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, dùng bạo lực cách mạng dành lấy chính quyền, thống nhất đất nước, nên Đảng Cộng Sản là đảng duy nhất và quân đội Việt Nam là quân đội “chính trị” thuộc quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, không bao giờ có chuyện “phi chính trị hóa” vô lý vô duyên vô đạo mà bọn chống Việt kêu gào đòi hỏi. Đây là điểm khiến Đảng Cộng Sản danh chính ngôn thuận có toàn quyền ngạo nghễ đứng ra trực tiếp nhận lấy toàn bộ trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, đem lại thịnh trị thái bình cho nhân dân, chứ không như thế giới Âu Mỹ đảng phải luôn núp sau tấm màn nhung sau lưng tổng thống. Cả tập thể Bộ Chính Trị chịu trách nhiệm tập thể trước Đảng và dân tộc, và không bất kỳ một cá nhân lãnh đạo nào trong chính phủ được phép làm trái các nghị quyết, chủ trương, mệnh lệnh của Đảng. Đảng đã trở thành đầu não hoạch định đường hướng như một chiếc la bàn chuẩn xác chuẩn mực, còn Thủ Tướng tức nhân vật chịu trách nhiệm cao nhất ở Việt Nam đối với việc thực hiện công cuộc lèo lái chèo chống con thuyền quốc gia theo la bàn định hướng của Đảng được Đảng tuyển chọn từ lực lượng nhân sự kiệt xuất nhất của Đảng để giới thiệu cho Quốc Hội xem xét bầu vào vị trí thuyền trưởng này. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng như tất cả các thủ tướng tiền nhiệm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng đã giao phó cho ông gánh vác. Và khi siêu hiệp định TPP Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương được ký kết giữa Mỹ và các nước lớn trong vành đai Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam là quốc gia đồng sáng lập, cũng như việc Việt Nam ký kết gia nhập tất cả các mô hình hiệp định / tổ chức khác từ WTO đến ASEAN và các FTA song phương và đa phương mà gần đây nhất là EU-VN FTA dều xuất phát từ sự chỉ đạo tham mưu thống nhất chuẩn y của Bộ Chính Trị. Ngay cả các hành xử đối với vấn đề lấn chiếm gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông cũng được Bộ Chính Trị chỉ đạo phân công cụ thể để thực hiện thắng lợi một cách bài bản nhuần nhuyễn để trên tất cả các mặt trận từ ngoại giao đến quân sự cùng luật pháp và kinh tế với tất cả các vũ khí hùng biện khác nhau, từ mềm mỏng đến cứng rắn, từ nhún nhường đến răn đe, để hợp đồng tác chiến phục vụ một mục đích duy nhất mang đậm tính chiến thuật chiến tranh chính trị, tâm lý chiến, quần chúng chiến: tập hợp được sự ủng hộ của thế giới, tập hợp được sức mạnh đồng thuận của toàn dân, bảo vệ được môi trường hòa bình ổn định để phát triển kinh tế cho nhân dân được sống bình an tránh được hiểm họa chiến tranh, đồng thời nâng cao nguồn thu đủ để mua sắm khí tài quân sự tối tân đảm bảo sức mạnh quốc phòng. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một “doer” xuất chúng trong lèo lái con thuyền quốc gia qua các nhiệm kỳ thì Bộ Chính Trị chính là “thinker” xuất chúng trong hoạch định đường hướng, chiến lược, chỉ đạo kịp thời, hợp thời, cũng như huy động các sức mạnh tổng lực khác để hỗ trợ Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đi đến thành công vượt bậc. Và đầu não của Bộ Chính Trị vĩ đại kiên cường xuất chúng ấy chính là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng.

Là vị Tổng Bí Thư của một nước Việt Nam trong hoàn cảnh hoàn toàn mới: khi những kẻ thù đã từng làm cho đất nước bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh và sau đó làm cho đất nước điêu linh thêm với các lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc và phong tỏa ngoại giao tàn độc nay trở thành những nhà đầu tư quan trọng chiến lược; còn những người bạn ý thức hệ thì kẻ tự tan rã từ lâu vì chọn nhầm nhân sự một gã có tên Ba Chớp Ba Nháng, thằng thì trở thành kẻ thù xâm lược đã từng xua hơn nửa triệu (hơn 500.000) quân tinh nhuệ ngập tràn toàn tuyến biên giới phía Bắc tàn sát dân Việt dù sau đó bị bảy mươi ngàn (70.000) quân thiện chiến của Việt Nam đánh cho đại bại phải tháo chạy lạch bạch thua vịt về bên kia biên giới nay thì xoay ra gây rối ở Biển Đông với kỳ vọng tránh được các trận Điện Biên phủ trên không và Điện Biên Phủ trên bộ, đứa thì sau khi vừa điên loạn giết sạch dân nó vừa tràn qua toàn tuyến biên giới Tây Nam tàn sát người Việt để giúp Trung Quốc diệt tiêu Việt Nam, bị Việt Nam tiêu diệt gọn trả lại sự thanh bình và chủ quyền quốc gia cho nó, thì nay nó lại tỉnh bơ nói nó không dính dáng gì đến Biển Đông nên không cùng hiệp lực với ASEAN đấu khẩu chống Tàu, Ông Nguyễn Phú Trọng đã trở thành vị tổng bí thư phù hợp nhất: không bao giờ vừa phát biểu mạnh mẽ vừa vung nắm đấm như Fidel Castro, giọng nói Ông luôn điềm đạm, gương mặt Ông luôn điềm tỉnh, nụ cười Ông luôn hiền hòa, chỉ có ánh mắt Ông là toát lên sự cương quyết, mạnh mẽ, cứng rắn, uy nghi, mưu lược. Thần uy ấy của Ông chỉ có những nhà chính trị Âu Mỹ lão luyện mới nhận ra và kính nễ, và Ông đã trở thành thượng khách của các vị tổng thống Âu Mỹ mà lễ nghi đón tiếp Ông là theo nghi thức chỉ dành cho các nguyên thủ quốc gia. Trong một bài viết blog, tôi có tỏ sự thán phục trước lời dõng dạc của Ông rằng “Việt Nam không cần đa đảng.” Đó là lúc hiếm hoi cả thế giới được biết đến thần uy khẩu ngữ khẩu khí mãnh liệt của Ông.

Việt Nam đang bước sang giai đoạn mới. Dưới sự lãnh đạo về đường lối, đường hướng của Đảng mà chính Ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư, chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm tổng chỉ huy đã thành công như ý: vị thế cùng uy tín của Việt Nam lên cao hơn bao giờ hết trên trường quốc tế, và các cơ hội cho sự bứt phá về kinh tế thu về dồi dào rộng khắp hơn bao giờ hết. Chính vì giai đoạn mới này đặt ra nhiều yêu cầu lớn hơn, nghiêm ngặt hơn, bản lĩnh hơn trong việc sau khi tiến từ đói nghèo sang ổn định, sau lúc tiến từ xây dựng kinh tế đến phát triển kinh tế, nay là giai đoạn xây dựng đất nước cường thịnh hướng đến trả cho được món nợ với dân tộc từ nhiều ngàn năm nay: biến Việt Nam thành cường quốc, Ông Nguyễn Phú Trọng được Đảng tái cử làm Tổng Bí Thư nhiệm kỳ 2016-2021 để tiếp tục cùng đội ngũ kế thừa trong Bộ Chính Trị hoạch định chiến lược nhân sự và kế sách quốc gia thực hiện đại cuộc mới từ nhũng kỳ tích mà chính phủ đương nhiệm đã đạt được cũng từ sự lãnh đạo về đường hướng của chính Ông.

Đó mới là Ông, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng mà tầm vĩ đại nơi con người Việt Nam tầm thước bình dị như Ông thì giới báo chí quốc tế sẽ không thể nào hiểu được

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Ghi chú: Bài viết trên sẽ được tác giả chuyển dịch sang tiếng Anh để đăng trên mạng doanh nhân thế giới LinkedIn

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

C) Tài liệu tham khảo của Hoàng Hữu Phước về phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”:

13-02-2011: Luận Về “Đa Đảng”: http://hhphuoc.blog.com/?p=167

20-4-2011: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

D) Tài liệu đọc thêm của Hoàng Hữu Phước về “Đa Đảng”:

18-5-2013: Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-02-2016

Nguyen Tan Dung

Khi tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS lần III và CLMV lần IV tháng 11 năm 2008, tôi gặp một sự cố tại hội trường lúc vừa phát biểu xong về đề xuất ý kiến bằng tiếng Anh với nội dung Trade Development through Russian-Styled Financial Tools for Bilateral Deals amongst ACMECS (phát triển thương mại theo kiểu tài chính Nga đối với các giao dịch song phương giữa các nước ACMECS, tức dùng đồng nội tệ của các nước với nhau), tôi ngồi xuống nhận lời khen của đoàn Thái Lan thì điện thoại rung nên lại đứng lên để ra ngoài hội trường. Gia đình tôi báo tin Ba tôi lại vừa được đưa đi cấp cứu. Tôi rụng rời, phone yêu cầu văn phòng bằng mọi cách lấy vé cho tôi về Thành phố Hồ Chí Minh ngay trong chiều, bỏ luôn buổi tiệc tối với các vị nguyên thủ. Trong lúc vội vàng, tôi đánh rơi điện thoại, văng ra làm ba mảnh gồm phần trước, nắp sau, và pin. Lắp ráp xong, tôi vào hội trường nao nao chờ tin nhắn xác nhận vé. Bất thình lình, điện thoại tôi reo vang, hóa ra khi lắp máy lại, tôi không biết nó đã thoát khỏi chế độ rung. Trong lúc lúng túng luồn tay vào áo veston lấy phone ra, tôi xấu hổ nhìn lên sân khấu nơi năm vị thủ tướng đang làm chủ tọa hội nghị, và bắt gặp ánh mắt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thủ Tướng nhìn tôi không với sự bực dọc đối với kẻ không chuyên nghiệp tại hội nghị thượng đỉnh, mà với sự trấn an như đối với người mà Thủ Tướng cho rằng ắt đang gặp phải vấn dề nghiêm trọng riêng cần phải bình tĩnh. Đó là bản lĩnh của nhà lãnh đạo: sự hùng biện thần uy qua ánh mắt.

Tại Quốc Hội Khóa XIII năm 2011, khi đại biểu DTQ vung tay gằn giọng thách thức Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “có dám từ chức không”, thì Thủ Tướng trở thành nhà hùng biện thần uy không thể bắt gặp tại thế giới chính trị tư bản qua việc Ông từ tốn trả lời gây sự xúc động mạnh mẽ nơi mọi người rằng tính đến ngày hôm ấy Ông đã phục vụ Đảng được bao nhiêu năm bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày như một đảng viên trung kiên luôn phục vụ đất nước và nhân dân theo sự phân công của Đảng và làm tròn trách nhiệm cùng bổn phận trước tổ quốc và dân tộc. Các nguyên thủ quốc gia cường quốc tư bản Âu Mỹ sẽ không trả lời – hoặc trả lời giễu cợt – đối với các câu hỏi bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, mà khán giả cử tri tư bản cũng sẽ cười chộ kẻ đặt câu hỏi thuộc loại bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, và cười ầm ủng hộ sự khôi hài của nguyên thủ, vì trách nhiệm thiêng liêng của nguyên thủ không phải là thứ để đem ra thách đố hay chấp nhận thách đố vớ vẩn cho cái việc “dám” hay “không dám”.

Nếu như các Thủ Tướng tiền nhiệm của Việt Nam lèo lái con thuyền quốc gia vượt qua bão tố chiến tranh giải phóng, sang giai đoạn vá víu đất nước thống nhất bị chiến tranh tàn phá, rồi lại phải đối phó thành công với sấm sét chiến tranh mới với Trung Quốc và Campuchia gặm nhấm bào mòn sinh lực quốc gia, đến khi chèo chống thành công con thuyền quốc gia cặp bến bờ bình yên để sửa chữa và đổi mới để thành con tàu vững chắc hơn, thì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng gánh lấy trách nhiệm mà Đảng và Tổ Quốc, Dân Tộc đã giao phó: điều khiển con tàu mới và mạnh mẽ ấy ra biển lớn để đến những bến bờ mới đem về cho bằng được những giá trị mới có trị giá lớn cho nước nhà. Dưới thời các nhiệm kỳ của Ông, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã là vị thống soái thống lĩnh các vị tướng tức các Bộ Trưởng trên tất cả các mặt trận, từ ngoại giao đến quốc phòng, từ kinh tế đến an ninh, từ tài chính đến giáo dục, và từ giáo dục đến phát triển nông thôn, v.v., và chính trong thời đại cầm quyền của Ông, Việt Nam đã có những vụ mùa thu hoạch thắng lợi về đầu tư nước ngoài, đầu tư ngoài nước, phát triển kinh tế, giữ vững và nâng cao nhất vị thế quốc gia, bảo vệ đất nước trước lằn ranh mỏng manh của chiến tranh và hòa bình, đặc biệt là đã ký kết được nhiều siêu dự án đa phương khu vực và đa phương quốc tế cho thời đại mới mà TPP và EU-VN FDA là điển hình.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Ông có thể tự hào trở về đời sống dân sự với hai điều to tát nhất là (a) Ông đã bổ sung cho minh chứng hùng hồn rằng những người dân Việt Nam bình dị khi trung kiên với Đảng theo lý tưởng cách mạng Hồ Chí Minh thì luôn được giáo dục, tôi luyện trở thành những người ưu tú, kiệt xuất như Võ Nguyên Giáp; và (b) chính Ông đã đến tất cả các châu lục để đưa được về cho đất nước con tàu đầy ắp những vật liệu xây dựng để vị thống soái kế nhiệm trổ tài dựng xây đất nước lớn mạnh, phát triển, hùng cường, theo yêu cầu mới của thời đại mới: thời đại Hậu-Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một danh nhân đất Việt mà các nguyên thủ thế giới phải nễ trọng. Ông trở thành mẫu mực cho các vị Thủ Tướng sau Ông trong trị quốc bình thiên hạ.

Nguyen Tan Dung 2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-02-2016

 Dinh La Thang (1)

Ông Đinh La Thăng là người luôn ở vị trí tâm điểm.

Có lúc ông là tâm điểm khi báo chí khai thác dồn dập các công kích ông khi ông cấm cán bộ lãnh đạo ngành giao thông vận tải chơi golf.

Có khi ông là tâm điểm của không gian mạng không thiện cảm đối với các nhúc nhích của Bộ Giao Thông – Vận Tải dưới quyền giám quản của ông, cũng như đối với các phát biểu mạnh mẽ đầy cá tính của ông, thậm chí ông còn bị gọi một cách đầy xúc phạm là “Đinh Tặc” không những bởi những kẻ dấu tên hay có tên trên không gian mạng mà còn của những người công khai dùng micro phát biểu tại những buổi họp chính thức.

Có lần ông là tâm điểm của các tranh luận vĩ mô đối với siêu dự án Sân Bay Long Thành.

Và nay ông là tâm điểm của thế giới vì ông trở thành Ủy Viên Bộ Chính Trị và Tân Bí Thư của Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh.

Ông ở tâm điểm nên ông vẫn điềm nhiên dấn bước tiến lên và tiến xa lan tỏa chứ không phải ở vị trí mép rìa để tiến vào chỗ hẹp châu chụm của hồng tâm.

Ông là tâm điểm, chính vì ông mới đúng là người đất nước này cần nhưng xã hội chưa thể cung cấp đủ đầy: biết rõ trách nhiệm và bổn phận để nghiêm khắc thực thi thực quyền, nghiêm túc thể hiện thực uy, nghiêm chỉnh thi thố thực tài, và nghiêm minh trong chịu trách nhiệm đối với các quyết định từ thực quyền thực uy của ông.

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, ông là tâm điểm vì ba lý do sau:

1) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng lộ rõ những trì trệ đang níu kéo làm chậm bước lao tới trước của nó, như qua (a) các vụ khiếu kiện kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ Quốc Hội, nhiều nhiệm kỳ Thành Ủy, nhiều nhiệm kỳ Hội Đồng Nhân Dân & Ủy Ban Nhân Dân vẫn vô phương xử lý do sự đùn đẩy trách nhiệm một cách đầy tỉnh táo, không chút hối hả; qua (b) thực tế khi chiến tranh thì hợp đồng tác chiến là tính ưu việt bậc nhất của hệ thống lãnh đạo, phối hợp, và giám sát, còn trong thời bình thì tính cách “sứ quân cát cứ” mạnh ai nấy phá là sự nhức nhối trơ gan cùng tuế nguyệt khi công ty cầu đường đầu tư nâng cấp mặt đường tráng nhựa mới tinh xong thì công ty điện lực đào đường mới ấy lên để đặt cáp xong tráng nhựa lại, rồi đến phiên công ty cấp nước đổ quân đến hăng hái đào đường đã được điện lực vá víu để thay ống nước mới và tráng nhựa lại tiếp, khiến tỷ tỷ tiền thuế của dân đã đổ ra chỉ để có con đường mới tinh vá víu mấp mô chờ năm tài khóa tiếp theo để các sứ quân lại xuất chiêu mạnh ai nấy đào để xài cho kỳ hết tiền rót từ ngân sách; và qua (c) thực tế hệ thống chính quyền địa phương toàn là đảng viên nhưng trong công tác tại cơ quan trong giờ hành chính phục vụ nhân dân vẫn gọi nhau là Anh Ba, Anh Tư, Anh Năm, một cách dân dã, phe nhóm, không chuyên nghiệp, chẳng nghiêm túc.

2) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng cần phải có sự thay đổi căn cơ nhằm thay đổi vĩnh viễn lề lối suy nghĩ địa phương cục bộ rằng vị trí lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh phải do các chức sắc của Thành phố Hồ Chí Minh hay từ các tỉnh phía Nam đảm trách, để từ nay người dân hiểu rõ rằng chỉ có người tài giỏi có tính cả quyết, có năng lực thống soái, có thần uy mới được Đảng giao nhiệm vụ trấn nhậm, quản lý.

3) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng cần phải có nhà lãnh đạo có hành động quyết liệt, cứng rắn, để chấm dứt vĩnh viễn lề lối làm việc chỉ dựa trên thuật nói chuyện hoặc hòa hoãn hoặc hùng hồn mà chung quy chỉ để xoa dịu quần chúng, trấn an người dân.

Ông Đinh La Thăng là nhân vật được kỳ vọng lớn cho Thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển lành mạnh vì trên thực tế Thành phố Hồ Chí Minh hiện không có bất kỳ ai có khả năng làm Thành phố Hồ Chí Minh thay đổi tích cực và tốt đẹp hùng mạnh thực chất hơn.

Ông Đinh La Thăng là nhân vật được kỳ vọng lớn cho Thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển lành mạnh vì trên thực tế Thành phố Hồ Chí Minh quá nhiều năm nay vẫn không có bất kỳ ai có (hoặc dám hành xử) quyền uy “trảm tướng” khiến các quan chức vẫn an nhiên tồn tại suốt nhiệm kỳ dù tình hình cải cách hành chính vẫn không khá hơn, và các khiếu kiện kéo dài của người dân vẫn tiếp tục tồn tại một cách quái gở.

Là công dân Thành phố Hồ Chí Minh, tôi kỳ vọng rằng với vai trò Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ông Đinh La Thăng sẽ giúp đưa Thành phố vào khuôn phép để trở thành một thành phố an toàn an ninh thịnh vượng; đưa các quan chức vào đúng vai trò quản lý nhà nước và công bộc của dân, không “giỡn mặt” với vị thống soái như ông; đưa hệ thống hành chính công quyền vào bước đường chuyên nghiệp hóa đúng nghĩa, văn minh thiệt, hiện đại thực, mà trước hết là ông cần phải ra lịnh cho tất cả các đảng viên phải gọi ông là “Bí Thư” cũng như không được gọi nhau bằng kiểu “Anh Hai”, hay “Chị Sáu” bên trong cơ quan Đảng và cơ quan hành chính công quyền trong giờ công tác chính thức; và chính thức xác lập thực quyền và thực uy của Đại biểu Quốc hội của Thành phố Hồ Chí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với các quan chức các Sở và các Ủy Ban Nhân Dân của Thành phố Hồ Chí Minh.

Là người ủng hộ ông ngay từ buổi đầu tiên bước vào Quốc Hội, tôi đã viết bài sau đăng trên Emotino ngày 22-10-2011 khi ông bị báo chí thi nhau đăng bài nói ông sai, dựa theo tuyên bố bá láp của Cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Lê Hồng Sơn:

Bộ Trưởng Đinh La Thăng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mấy ngày nay có các tin về phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng cấm cán bộ lãnh đạo ngành giao thông vận tải chơi golf, và Cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Lê Hồng Sơn tuyên bố Ông Đinh La Thăng đã ra văn bản sai thẩm quyền, vi phạm quyền của cán bộ, công chức. Là một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm về cái gọi là  “thẩm quyền”, tôi xin có nhận xét như sau.

Thật nhiều năm trước đây, ai vào làm cho BP ở Việt nam đều khoe là họ tự hào tuân thủ quy định rằng tất cả nhân viên BP bước lên ô-tô là phải cài dây đai an toàn ngay lập tức, và biết sự chế tài sẽ ra sao nếu ai đó dám vi phạm. Ông Lê Hồng Sơn nếu đã có mặt tại BP ắt sẽ tuyên bố quy định ấy vi phạm quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật Việt Nam không buộc thế.  Nhưng Ông Lê Hồng Sơn sẽ sai vì đó chẳng dính dáng gì đến luật pháp Việt Nam để phải viện dẫn luật Việt Nam, vì người tìm việc sau khi đọc nội quy công ty có quyền tự do nhận việc với lương cao, tự do nhận phúc lợi thật cao, tự do nhận thăng tiến thật công bằng, hay tự do vất tờ “job offer” vào sọt rác để từ chối nhận việc. Công ty ấy không dám và không có quyền ép buộc.

Thật nhiều năm trước đây, khi còn ở một công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài tôi đã cấp mũ bảo hiểm (mệnh giá thời xưa ấy đã là 200.000 đồng/chiếc, tức giá cao nhất trên thị trường đối với mũ ngoại nhập từ Taiwan, vào thời điểm chưa có quy định của nhà nước bắt phải đội mũ bảo hiểm) cho bất kỳ ai vào làm việc và yêu cầu họ phải đội mũ bảo hiểm khi đi đường bằng xe máy, và họ biết sự chế tài sẽ ra sao nếu ai đó bị tôi bắt gặp không đội mũ bảo hiểm. Tôi còn cấm nhiều nội dung khác, chẳng hạn tuy tôi phá quy định của công ty “mẹ” để nhân viên được lấy nhau hoặc được giới thiệu người nhà giỏi giang vào làm việc tại công ty tôi vẫn không cho nhân viên được công tác chung phòng ban với vợ/chồng/thân nhân, tức duy trì kiểu Tây nhằm đến sự công bằng, tránh thiên vị và xung đột quyền lợi; trong khi tại các cơ quan Nhà nước thì ai cũng “có quyền vô tư” đưa thân nhân vào làm việc. Ông Lê Hồng Sơn nếu đã có mặt tại công ty ấy ắt sẽ tuyên bố quy định đó vi phạm quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật Việt Nam không quy định như vậy. Nhưng Ông Lê Hồng Sơn sẽ sai vì đó chẳng dính dáng gì đến luật pháp Việt Nam để phải viện dẫn luật Việt Nam, vì người tìm việc sau khi đọc nội quy có quyền tự do nhận việc với lương cao, phúc lợi thật cao, thăng tiến thật công bằng, hay tự do vất tờ “job offer” vào sọt rác để từ chối nhận việc. Công ty ấy không dám và không có quyền ép buộc.

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người chiến sĩ bảo vệ đất nước để người dân lao động được hưởng chế độ mỗi năm đi du lịch một chuyến và có lương tháng 13, 14, thậm chí 15 hay 16, chứ bản thân người chiến sĩ không hưởng y quyền lợi như vậy. Đầy tớ của dân phải thuộc Luật để bảo vệ dân, bảo vệ quyền lợi của dân, đừng xâm hại vào quyền lợi của dân. Đầy tớ của dân không được hưởng quyền lợi tương tự dân. Vào thời điểm nhạy cảm khi vô số cử tri cực kỳ bức xúc, cực kỳ tức giận trước sự bất lực của cơ quan chức năng không giải quyết được trật tự giao thông, đào bới đường sá, và hủy phá ruộng đồng thu hẹp đất trồng lúa cho mấy cái sân golf vớ vẩn, sự cứng rắn của Ông Đinh La Thăng là có thể hiểu được, có thể đồng cảm được, và mọi lãnh đạo thuộc quyền của Ông sẽ phải cảm ơn Ông rồi vui vẻ tuân theo. Chơi golf để bàn chuyện đại sự với các đại gia tư bản, để xem nên đào xới tung đường sá lên ở những phố nào và mức hoa hồng sẽ như thế nào sao?

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người làm cha mẹ có quyền đối với con cái vì có nghĩa vụ và bổn phận nuôi dưỡng con cái nên người cho xã hội. Con tôi là công dân, được pháp luật bảo vệ, và tôi cấm nó không được tham gia lao động vệ sinh trường lớp từ thời tiểu học cho đến đại học, mặc cho điểm lao động có là zero đi nửa, vì tôi xem lao động như vậy là mị dân (quét rác mà là làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa sao, và tại sao làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ gồm lao động chân tay, và tại sao làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa không bao gồm việc được làm chủ số tiền khổng lồ lạm thu của ban giám hiệu nhà trường, v.v.?), hủy phá nhân cách trẻ thơ, và phơi bày bản thân trước bụi bẩn vi trùng dịch bệnh. Ông Sơn không có quyền tự do nói động đến quyền tự do của tôi đối với quyền tự do của con tôi. Tôi không cho phép Ông Sơn có quyền tự do ấy, bất kể Ông có là chức sắc giám sát cao đến đâu đi nữa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người sử dụng lao động có quyền đối với người lao động (đối với những quy định nghiêm ngặt làm cho môi trường hoạt động riêng của doanh nghiệp được tốt hơn, an toàn hơn, văn minh hơn, thực tế hơn) vì có nghĩa vụ và bổn phận đối với công ăn việc làm, phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, đào tạo bồi dưỡng họ, giúp họ tự hào có đặc quyền được đóng thuế thu nhập cho Nhà nước và giúp danh sách thất nghiệp của Nhà nước bớt dài hơn. Ông Sơn không có quyền tự do nói động đến quyền tự do của người sử dụng lao động (Ông Đinh La Thăng) đối với quyền tự do của người lao động của ngưới sử dụng lao động ấy, trừ phi Ông Sơn muốn mị dân, muốn tạo điều kiện dễ dàng hủy phá nhân cách công chức cao cấp, phơi bày thân thể của họ trước sự công kích của dân chúng. Tôi nghĩ Ông Thăng không cho phép Ông Sơn có quyền tự do ấy, bất kể Ông Sơn có là chức sắc giám sát cao đến đâu đi nữa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Muốn Tự Do Thì Đừng Làm Lãnh Đạo” là câu nói đẳng cấp của đạo lý, của sự thật, và của quy tắc mang tính chân lý của muôn đời, vì rằng ngay cả vị hoàng đế của thời phong kiến cũng không được tự do, chẳng hạn bị trói buộc vào lời răn “thiên tử bất hý ngôn” tức thiên tử không được phép nói giỡn chơi”, v.v. Từ câu nói của Ông Thăng, tôi muốn viết thêm vào bài viết “Thế Nào Là Đẳng Cấp[1] rằng muốn tự do đi giao lưu riêng với người mẫu thì đừng làm lãnh đạo doanh nghiệp.

Ông Thăng nếu là người mềm mỏng có thể trước tiên sẽ ra khuyến nghị nội bộ khuyên các vị phó của Ông (ắt đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón) nên tránh xa mấy sân golf trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm này; và nếu có ai đó chống lại, nhởn nhơ đi chơi, Ông có thể xét kỹ luật hay chuyển công tác hoặc sa thải khỏi ngành, tùy theo quyền hạn của Ông. Song, ngay cả khi Ông nóng nảy không nghĩ đến bước “khuyến nghị”, thì Ông vẫn không sai vì Ông đâu cấm cán bộ nhân viên mà chỉ cấm các vị lãnh đạo ngành của Ông có khi với mong muốn bảo vệ họ – và…bảo vệ chính Ông – trước búa rìu của công luận nếu vô phúc trong ngày Chủ Nhật xui xẻo nào đó có xảy ra đại họa liên quan đến giao thông-vận tải mà các quan lại bận chơi golf ở chốn non Bồng xa xôi nào đó.

Suy cho cùng thì Ông và các vị lãnh đạo ấy đều là đầy tớ của nhân dân, nên không lý gì Ông và các vị lãnh đạo ấy lôi Luật Lao Động ra như phao cứu sinh để đòi hưởng quyền tự do y như người … chủ trong khi hàng chục triệu người dân làm chủ nhưng nào dám dù chỉ một lần trong suốt cuộc đời làm chủ đòi hưởng chế độ đi xe ô-tô nhà nước y như … các vị đầy tớ để đến sân golf xem cỏ màu gì. Ông Thăng chẳng đụng đến người dân; Ông chỉ đụng đến vài ba vị đầy tớ sang trọng ngang hàng với Ông Thăng nên Ông Thăng không sai. Và tôi tin ắt nhiều người dân cũng không cho là Ông sai.

Ông Đinh La Thăng có đúng không? Không biết.

Ông Đinh La Thăng có sai không? Không sai.

Là doanh nhân có nhiều kinh nghiệm với doanh nhân nước ngoài hơn 30 năm nay, từ thời điểm chưa có người Việt nào khác làm việc tương tự, tôi có thể nói rằng tôi rất ngạc nhiên khi mãi đến tháng 10 năm 2011 này tôi mới được nghe lời cấm đoán được thốt lên bởi một người… Việt khác ngoài tôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 11-10-2011. Thế Nào Là Đẳng Cấp: Trò Chuyện Cùng Bạn Trẻ. http://www.emotino.com/bai-viet/19332/the-nao-la-dang-cap-tro-chuyen-cung-ban-tre. Sẽ sớm được đăng lại trên WordPress.

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-01-2016

 HHP 22Jan2016

Nguyễn Thị Quyết Tâm là Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016), Tân Phó Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà đương nhiên không là người khéo léo, hoàn toàn thiếu nữ tính, tuyệt đối thích phô trương quyền lực hoàn toàn không đúng lúc, hoàn toàn chẳng đúng nơi, tuyệt đối chớ đúng người.

Khi HTV9 đang trực tiếp truyền hình phiên họp Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh nơi Bà đảm trách chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bà đã quát bảo Đại Biểu Từ Minh Thiện ngồi xuống không được tiếp tục phát biểu. Đó là sự phô trương quyền lực không đúng lúc dễ khiến đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh liên tưởng rằng những cuộc họp không có trực tiếp truyền hình thì ắt Bà còn ra uy khủng khiếp đến đâu, vì ngay cả Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh do nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bầu nên mà Bà còn ra tay chẹn họng, tước quyền phát biểu, thì số phận người dân ắt phải cứ cam chịu kiếp dân đen do Bà từ chối cho họ làm con đỏ.

Khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong thời gian tham dự kỳ họp Quốc Hội có đăng một bài blog chỉ trích chê bai Trương Trọng Nghĩa là Đại biểu Quốc hội Khóa XIII nghe đâu có bằng cấp “luật”, nghe đâu đã từng có thời gian hành nghề luật sư, và nghe đâu là chức sắc của Hội Luật Gia hay Liên Đoàn Luật Sư gì đó, tất nhiên ngay lập tức Nghị sĩ Phước bị thế giới quyền lực phe nhóm có sự tiếp tay của báo chí ra tay đàn áp. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải tổ chức buổi họp Tổ để nghe Trương Trọng Nghĩa phát biểu “bức xúc” và nghe Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước “giải trình”. Cuộc họp đã không có sự tham dự của hai vị Ủy Viên Bộ Chính Trị là các Nghị sĩ Trương Tấn Sang và Nghị Sĩ Lê Thanh Hải đều của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi Trương Trọng Nghĩa phát biểu xong, Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập mời Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cho biết ý kiến. Nghị sĩ này vừa mở miệng nói có một câu thì Nguyễn Thị Quyết Tâm hét vào mặt Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập rằng “Anh Tư Lập! Nếu cứ tiếp tục như vầy thì tui sẽ bỏ đi về ngay!”. Vì lịch sự khi thấy vẻ mặt ngượng ngùng của Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tự động ngồi xuống, kéo phẹc-ma-tuya mồm lại, không nói gì thêm. Và Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập cho phát một văn bản đã soạn in sẵn cho mọi người có mặt ký tên và mọi người im lặng ký tên, kể cả Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cũng ký tên mà không thèm đọc – dường như đó là “biên bản cuộc họp xử lý Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.”

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã ra uy quyền một đảng viên cao cấp hơn các Nghị sĩ khác toàn là đảng viên – trừ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước – để quát bắt mọi người không được phép nghe những lời mà Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sắp trình bày.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã khiến Nhiệm Kỳ XIII của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh có một văn bản pháp quy mang tính chất của một tờ giấy hốt rác do không có giá trị pháp lý vì được sáng tạo ra từ đầu, vì do không bất kỳ nghị sĩ nào cùng ký tên xác nhận vào đấy hiểu biết ất giáp gì cả, và vì đấy là hành động lén lút sau lưng Thường Vụ Quốc Hội Khóa XIII của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã phạm một lỗi ngu xuẩn khi dám hỗn láo với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là người chưa bao giờ tha thứ bất kỳ cường quyền nào dám động đến sự đoan chính vì nước vì dân của Nghị sĩ này.

Một phụ nữ thiếu nữ tính, thiếu khôn khéo, thiếu khôn ngoan như Nguyễn Thị Quyết Tâm mà là chức sắc cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một sai lầm lớn của Đảng Bộ Thành phố Hồ Chí Minh vì không bao giờ có thể đặt sự lãnh đạo Nhà nước hay lãnh đạo chính trị vào tay người như Nguyễn Thị Quyết Tâm.

Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh không nên vì bài viết này mà phí công tổ chức buổi họp mời tôi đến trình bày để rồi yêu cầu tôi gỡ bỏ bài này trên WordPress vì tôi sẽ không đến dự cũng như không gỡ bỏ. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải lấy làm xấu hổ vì đã sáng tạo ra tờ giấy biên bản “xử lý” rác rưởi đó, và vì đã để một Đại biểu Quốc hội tầm thường như Nguyễn Thị Quyết Tâm khuynh đảo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Anh Ba Nguyễn Văn Huấn

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-01-2016

 QH Ky7 June2014 (33)

Ủy Viên Bộ Chính Trị Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân là Phó Chủ Tịch Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016)

Bà là nữ lãnh đạo xinh đẹp, duyên dáng, có khả năng hùng biện thu hút và tài lãnh đạo, đặc biệt sở hữu cái gọi là “excellent sense of humour” tức vũ khí vừa chứng tỏ người sở hữu nó có sức mạnh tinh thần lạc quan vừa phô diễn khả năng thu phục nhân tâm hóa giải những vấn đề quan trọng nhất là ở tầm vĩ mô. Tất cả những ưu thế vượt trôi thiên phú này dường như khó thể bắt gặp tương đồng tương tự nơi các nữ lãnh đạo khác của nước nhà.

Thật không dễ nói chuyện được với Bà. Có lần Bà tiến đến vừa chìa tay ra cho tôi ngoài hành lang hội trường Quốc hội vừa nói “Chào Phước. Anh khỏe không?”, tôi mừng vui với cơ hội bằng vàng này để trao đổi cùng Bà một ý kiến của tôi đối với nội dung phiên họp do Bà vừa chủ trì, nhưng tôi chỉ kịp nói “Dạ chào Chị. Cảm ơn Chị. Em khỏe. Chị ơi, em…” thì đã nghe tiếng ồn ào của nhiều vị nghị sĩ tiến đến vây quanh với những câu nói dồn dập “Chị Ngân ơi, chụp hình chung với chúng em nhé?” thế là tôi buộc phải ngưng nói, quay ra nhìn họ để lịch sự chào họ dù họ không lịch sự chen vào không cho tôi được trình bày ý kiến với Bà (khiến phóng viên chụp được tấm hình trên), rồi tôi lịch sự lùi bước tránh đám đông. Nhưng dường như không ai được trò chuyện với Bà vì mỗi khi Bà thay vì vào phòng nghĩ trong thời gian giải lao, lại bước ra hành lanh để gần gũi với mọi người, thì ngay lập tức mọi người bị cuốn hút lao đến bên Bà để xin chụp hình với Bà, khiến ngoài lần được cất tiếng cảm ơn lời hỏi thăm của Bà, tôi hoàn toàn không thể nói chuyện được với Bà ngoài hành lang Quốc Hội trong suốt nhiệm kỳ XIII.

Người dân theo dõi các phiên họp Quốc Hội do Bà chủ trì có trực tiếp truyền hình ắt dễ công nhận năng lực quản lý điều hành cuộc họp của Bà cũng như tác phong chuyên nghiệp, nắm vững đa vấn đề, khai thác xoay chuyển tình thế cuộc họp của Bà vốn luôn trong sự hòa quyện cùng lúc của tính dứt khoát, sự khéo léo, và “excellent sense of humour” thuộc bản lĩnh thuần Tây Phương.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân là điển hình của một nữ chính khách tuyệt vời của một nước Việt Nam hùng mạnh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/18/dai-tuong-do-ba-ty/

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-01-2016

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 được nói đến nhiều với sự chạy đua giữa Bà Hillary Clinton của Đảng Dân Chủ và Ông Donald Trump của Đảng Cộng Hòa.

Ai cũng cho rằng Hillary Clinton chắc chắn nắm chiếc vé ứng cử viên của Đảng Dân chủ và có triển vọng lớn nhất để trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.

Ai cũng cho rằng Donald Trump sẽ kém thế vì tính cách “nổi loạn” hoặc “hỗn loạn” hoặc “kỳ cục” hoặc “thù địch” hoặc bất kỳ từ ngữ tiêu cực nào khác mà người ta có thể tìm ra được nhằm hạ giá trị của Donald Trump.

Tôi từng dành ra hơn một năm để theo dõi các buổi truyền hình The Apprentice của Donald Trump và từng viết trên một bài blog rằng trên thế giới này chỉ có Donald Trump là “đại gia” thực thụ vì Ông có cùng lúc chín tài sản vĩ đại mà không bất kỳ ai có được tương tự như (a) sức mạnh tài chính, (b) sức mạnh trí lực phát triển kinh doanh, (c) sức mạnh hùng biện tích cực trước công chúng, (d) súc mạnh truyền thông khi chưa có điều tiếng gì phương hại đến tên tuổi của Ông, (e) sức mạnh cá tính thể hiện qua tính năng nổ và cả quyết tự tin cao nhất vào bản thân, (f) sức mạnh truyền thống gia đình qua sự thành đạt cả trên bình diện kinh doanh và quản trị kinh doanh của các đứa con trai tài gái sắc nhất là cô con gái cực kỳ bản lĩnh Ivenka cùng cha làm nổi bật danh tiếng thương hiệu dòng họ Trump, (g) sức mạnh thể chất sung mãn qua việc có thêm đứa con với người vợ trẻ nhằm gia tăng lực lượng quản trị cơ nghiệp nhà Trump, (h) sức mạnh thần uy thiên bẩm qua diện mạo và phong cách, và (i) sức mạnh ý chí tham chính qua việc tranh cử tổng thống lấn sân các chính khách gạo cội đầy kinh nghiệm của Đảng Cộng Hòa. Ngay cả Bill Gates cũng chỉ có mỗi một sức mạnh duy nhất ở khâu tài chính mà thôi.

Đối với tôi, nhân loại chỉ có một cầu thủ bóng đá duy nhất tài ba là Eric Cantona.

 Trump1

Đối với tôi, nhân loại chỉ có một huấn luyện viên bóng đá duy nhất tài ba là José Mourinho.

 Trump2

Và đối với tôi nhân dân Mỹ sẽ chỉ có một vị tổng thống duy nhất tài ba có thể làm Hoa Kỳ cường thịnh thật sự là Donald Trump.

 TRump3

Donald Trump là người duy nhất vì là nhà tài phiệt duy nhất đạt đủ 9 tiêu chuẩn cao nhất, trong khi hầu như tổng thống nào của Mỹ cũng xuất thân từ ngành luật, và chính vì xuất thân từ ngành luật mà các vị này đều biết cách chà đạp luật pháp quốc tế và đủ ma giáo để lách luật dù nội địa hay đối ngoại trong khi Hoa Kỳ thì cứ dẫm chân tại chỗ về sức mạnh kinh tế để Trung Quốc lấn sân.

Dân Mỹ sẽ sai lầm hoàn toàn nếu không dồn phiếu cho Donald Trump, cơ hội cuối cùng cứu vãn vị thế của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.

Dân Mỹ cần nhớ rằng năm thói quen như (a) thích nghe tranh luận giữa hai ứng cử viên tổng thống của hai đảng nên dễ đánh giá sai lầm trước sự lỡ lời của người lẽ ra đã có thể trở thành vĩ nhân nước Mỹ, (b) thích nghiêng theo mức độ chi tiền của mỗi vị ứng cử viên cho các chuyến đi vận động mà không cần biết nguồn tài chính từ tiền túi hay từ tiền của những tập đoàn “mua quyền” và những cá nhân “mua chức”, (c) thích tham khảo các thống kê của báo chí về tỷ lệ ủng hộ của mối ứng cử viên nên dễ bị bịp bởi truyền thông, (d) thích sự “chuẩn mực” mặc định về thể hiện nên dễ sa vào sự bị ru ngủ bởi ngọai hình rô-bô phi cá tính, và (e) thích thiên về cái gọi là kinh nghiệm tham chính đã có của mỗi ứng cử viên nên mãi sa vào tình thế niềm tin luôn sụt giảm ngay sau khi người mình chọn đắc cử tổng thống vì người đó luôn là công cụ của giới tài phiệt ở hậu trường.

Donald Trump là nhà tài phiệt dấn thân, đầy cá tính, nhiều kinh nghiệm, lắm thành công trong xây dựng đế chế quyền lực của riêng mình. Do đó, chính Donald Trump chứ không là bất kỳ ai khác có khả năng xây dựng Hoa Kỳ từ một đế chế hình nộm nhát quạ trở thành đế chế quyền lực thật sự thống trị toàn cầu.

Vì quyền lợi kinh tế của Việt Nam, tôi muốn tổng thống mới của Hoa Kỳ là Bà Hilary Clinton hoặc bất kỳ đảng viên nào khác của Đảng Dân Chủ, dù nước Mỹ sẽ suy tàn vì Hilary Clinton giống y hệt bao đời tổng thống trước đây nên không thể là gương mặt thích hợp cho nước Mỹ trong bối cảnh toàn cầu mới hoàn toàn bất lợi cho nước Mỹ.

Với tư cách nhà nghiên cứu chiến lược đánh bại Trung Quốc về kinh tế, tôi muốn tổng thống mới của Hoa Kỳ sẽ là Ông Donald Trump mà không quan tâm Ông thuộc đảng nào.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ngành Quản Trị Kinh Doanh

Bài viết thứ 33 của tháng 12-2015

Ngày đăng: 30-12-2015

Trong một bức thư gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi có nêu các định nghĩa cần thiết cho các cấp tú tài, cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ.

Gần đây báo chí có những bài nói về những bất cập trong “đào tạo” thạc sĩ và tiến sĩ, và tất nhiên không những vì các thạc sĩ/tiến sĩ ngoài một số trở thành giảng viên đại học thì đa số không rõ đang ở đâu vì không thấy họ ngự trong tháp ngà hàn lâm tức là dinh thự xây sẵn dành riêng cho họ tự bao đời nay để họ không ngừng nghiên cứu công trình, không ngừng viết lách công trình, không ngừng sáng tạo công trình, không ngừng giải quyết những vấn đề và vấn nạn tri thức hàn lâm có liên quan; mà cũng chẳng hề thấy họ xông xáo trong môi trường chuyên nghiệp thực tế có liên quan để hiện thực hóa lý thuyết có ghi trên bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ của họ vào đời sống kinh tế thực để cho ra kết quả thực; mà lại còn vì các nhà báo vừa thiếu hiểu biết vừa đa số cực kỳ “từ chương” khi chỉ biết cầm máy ghi âm dí vào mặt các vị – mà nhân dân thì không rõ các vị đang ở đâu, duy chỉ các nhà báo là có số phone để liên lạc – trên để phỏng vấn rồi viết lại thành bài mang tên mình để trả nợ quỷ thần cho tiền lương nhận được mỗi tháng từ tòa soạn; nên các “bất cập” tuy có thật nhưng nghe cứ như một thoáng mơ hồ vớ vẩn, mà vấn đề thì cứ được ghi nhận hoài hoài, viết ra thập kỷ này qua thập kỷ khác trong khi cái sự bất cập thì cứ tồn tại trơ gan cùng tuế nguyệt, phình to phập phù phổng phao phát triển vẩn vơ.

Nói thế cũng tội cho các nhà báo vì Đảng chỉ lo phần của Đảng là tổ chức các lớp lý luận chính trị cao cấp cho các nhà báo, trong khi các nhà báo lại không có được cái chủ động của những người có học thức: tích cực tìm tòi học hỏi những lĩnh vực hàn lâm khác nhau, xông pha vào những lĩnh vực khác nhau mang những vấn đề to tát khác nhau nên không có khả năng viết bài phân tích phê bình tức đẳng cấp cao nhất theo thang bậc của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài, mà chỉ có việc thủ cái máy ghi âm thậm chí chụp hình bằng điện thoại rất không chuyên nghiệp, rồi tự tiện cắt xén, đổi thay nội dung thật sự phát biểu của người được phỏng vấn, và đẻ ra cái tít thật giật gân để câu view là xem như đã tác nghiệp xong, tức là đẳng cấp thấp nhất theo bậc thang của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài – tất nhiên trừ những phóng viên chiến trường xông pha lửa đạn đồng hành cùng các đoàn quân trực tiếp chiến đấu. Phỏng vấn đúng người mà (a) chỉ có mình do nhanh trí lão luyện tuyệt vời mới nghĩ ra, trong khi các nhà báo đối thủ cạnh tranh mãi mê móc cẩm nang ai cũng có để xem hễ nội dung gì thì phỏng vấn ai, và (b) phỏng vấn mà sau đó không bị người được phỏng vấn cự nự bắt xin lỗi vì đưa tin sai, thì đó đúng là nhà báo kiệt xuất rất hiếm thấy ở Việt Nam. Chính vì công thức hễ liên quan đến Sử thì hỏi nhà sử học Dờ nên môn Sử trên bờ vực triệt tiêu, hễ liên quan đến ẩm thực thì hỏi anh Phờ nên ẩm thực nước nhà chẳng làm nên trò trống gì ngoài việc vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tồi tệ, hễ liên quan đến cà phê thì hỏi đại gia Trờ, hễ liên quan đến kinh tế tài chính thì hỏi giáo sư tiến sĩ Ngờ nên chẳng bao giờ thấy nội dung trả lời hùng hồn của vị ấy ấy phát huy tác dụng gì trong kinh bang tế thế dù đến tận nhiều năm sau đó, còn hễ liên quan đến giáo dục thì hỏi “thầy” ấy “cô” ấy nên giáo dục Việt Nam cứ phải cần nhiều chục ngàn tỷ cho mỗi lần của vô số lần cải cách mà vẫn chưa thể đạt yêu cầu. Chỉ cần nhà báo hiểu ra một điều giản đơn mang tính chân lý luôn luôn mang dấu ấn sức khỏe tâm thần ổn định rằng muốn biết rõ về giày thì hãy phỏng vấn anh nhân viên KCS kiểm tra chất lượng thay vì phỏng vấn anh giám đốc công ty giày, và rằng nếu trên đường đi tác nghiệp phỏng vấn mà xe SH bị hỏng thì hãy đến anh thợ sửa xe lề đường thay vì điên khùng vác xe đem về nhà đóng thùng gởi phát chuyển nhanh sang hãng Honda bên Nhật kêu nhà khoa học nào đã thiết kế SH ra vá lốp xe, thì coi như chất lượng công việc của nhà báo tự nhiên tăng cao về thực chất, hấp dẫn người đọc, thay vì để họ cứ mãi nhìn thấy công thức chán nhàm hễ hễ hễ hễ như đã nói ở trên.

Cũng vì vấn nạn trên của báo chí, tôi đành phải viết bài này để đưa sự việc cụ thể liên quan đến trình độ các vị học cao đối với kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến ngành nghề mà các vị ấy đã được đào tạo và đang tham gia đào tạo sau khi đã được đào tạo, mà mục đích nhằm cảnh báo các đơn vị Nhà Nước hay có thói quen thay vì đưa cho các nhà tư vấn chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn, lại mặc định giao cho các trường đại học nghiên cứu những đề tài đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn thương trường chứ không phải kinh nghiệm lý luận hay kinh nghiệm giảng dạy lý‎ thuyết.

Thí dụ có thật sau đây (đã thay đổi tên thành XYZ và ABC vì lý do bảo mật thông tin khách hàng và giữ uy tín cho trường đại học) cho thấy tổng công ty XYZ của Việt Nam có nhu cầu đào tạo về Quản Trị Quy Trình cho các chức sắc nên gởi đơn hàng đến trường đại học công lập ABC rất lớn của Việt Nam, và khi nhận được bản chào giá có ghi nội dung phác thảo của chương trình như sau của các giáo sư tiến sĩ, XYZ đã tá hỏa tam tinh:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của Đại Học ABC, Môn: Quản Trị Quy Trình (trong bài viết này không ghi lại các chi tiết không cần thiết về số tiết cho mối mục như đã thực ghi trong bản chào; phần ghi chú tiếng Anh là do Đại Học ABC thực ghi trong bản chào, dù chẳng biết tại sao phải ghi chú như thế):

 TrinhDo1TrinhDo2

Khi người của Công ty XYZ đến đưa tác giả bài viết này xem bản Outline kỳ dị đó do các giáo sư của Đại học ABC biên soạn, và đề nghị tác giả bài viết gởi một bản chào khác cung cấp chương trình đào tạo cho cùng chủ đề, tác giả đã ngay lập tức cho họ các nhận xét sau:

a- Hình thức bản chào không chuyên nghiệp do hỗn độn vì không có mục lục, không đánh số thứ tự mà chỉ gạch đầu dòng mỗi khi sang hàng cho mỗi mục nội dung, thậm chí sử dụng dấu chấm cho mỗi tiểu mục.

b- Nội dung trên của Đại Học ABC không phù hợp vì lồng ghép nội dung “tư vấn” (như: cải tiến dịch vụ Công ty XYZ) trong khi tư vấn thuộc dịch vụ khác, có tính phí riêng (thí dụ công ty nào đó về quản lý chất lượng sẽ tư vấn ISO theo phí của công ty ấy, còn công ty nào đó chuyên tư vấn cải tiến dịch vụ nhằm phát triển kinh doanh sẽ thu theo giá sàn của họ), không thể cung ứng miễn phí kiểu “cấy ghép” vào chương trình đào tạo nhưng lại qua phần học viên nêu phương hướng cải tiến, nghĩa là chính học viên “tư vấn” còn người giảng sẽ “tư vấn” xem “tư vấn” nào của học viên là khả thi một cách đầy hí hước.

c- Dàn bài phân bổ thời gian cố định bao nhiêu phút cho mỗi tiết và bao nhiêu tiết cho mỗi mục nên chẳng khác gì giáo án bậc tiểu-trung học.

Sau đó một tuần, tác giả bài viết này đã gởi bản chào chi tiết có nội dung sau đối với dàn bài:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của tác giả bài viết này cho Chuyên Đề: Quản Trị Quy Trình Chuyên Nghiệp Và Hiệu Quả

 TrinhDo3

Thí dụ trên cho thấy trong thực tế xã hội ở Việt Nam đang tồn tại hai vấn đề nghiêm trọng của (a) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lẽ ra phải quen thuộc với các yêu cầu dứt khoát phải có về mặt hình thức của một luận án hàn lâm thì lại dường như chẳng biết gì cả nên không những trong bản chào trên mà còn trong các thông báo nội bộ tại các đại học luôn có cách dùng dấu gạch đầu dòng và dấu chấm cho mỗi mục được nêu; và (b) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lại ít khi chứa bất kỳ một nội hàm nào rằng người ấy có kinh nghiệm thực tế cho dù bằng cấp có thể do trường đại học uy tín của nước ngoài cấp phát. Dựa theo nội dung các giải thích trong thư gởi Thủ tướng, học vị vừa cho biết mục đích của người học tiến sĩ là nghiên cứu để phục vụ các chuỗi nghiên cứu khác tiếp theo, dài lâu, vô hạn; vừa khẳng định học vị được cấp dựa trên kết quả của một công trình duy nhất nghiên cứu sâu một đề tài nhỏ cụ thể của một tổng thể, do đó tiến sĩ không thể là người chấm dứt sự nghiên cứu sau khi nắm trong tay văn bằng để rồi chỉ làm quản lý trường đại học và/hoặc chỉ dạy học, đồng thời không thể là người được tự động mặc định có hiểu biết về thực tế thực hành. Một giáo sư đại học là thạc sĩ quản trị kinh doanh hay tiến sĩ quản trị kinh doanh hoàn toàn không thể có hiểu biết và kinh nghiệm thực tế quản trị doanh nghiệp – nhất là quản trị cấp cao – nếu chưa từng làm lãnh đạo phòng ban hay cơ quan doanh nghiệp nên khó thể giảng dạy hiệu quả về các case study nước ngoài trên tương quan so sánh với sự việc cụ thể ở Việt Nam mà chính mình đã từng kinh qua vai trò CEO hay giám đốc hoặc quản lý cấp cao thật sự, hay giải đáp các câu hỏi của sinh viên về các vấn đề gặp phải trong kinh doanh hay đối với con người tức nhân sự ở doanh nghiệp cùng các đề xuất xử lý tình huống, thậm chí không thể hướng dẫn sinh viên trước và trong các kỳ thực tập mà sinh viên sẽ phải trải qua tại các doanh nghiệp, v.v. Điều mà các trường đại học ở Việt Nam nên đẩy mạnh áp dụng là phải luôn mời giảng viên từ những người có kinh nghiệm thực tế bất kể người ấy có học vị hoặc chẳng có học vị nào cả. Nếu sai lầm mãi mặc định rằng tất cả phải do giáo sư cơ hữu giảng dạy, rằng tiến sĩ đương nhiên phải biết tất cả, rằng tiến sĩ đương nhiên phải ở trình độ cao nhất nên đương nhiên biết tất tần tật về thực tế thực hành và có thể giải đáp mọi chất vấn của sinh viên, v.v., thì hậu quả sẽ luôn là sinh viên tốt nghiệp với hai cái không: (a) không xem trọng trình độ “thầy/cô” từ đó chẳng bao giờ “mang ơn thầy/cô” ngay sau khi tốt nghiệp, và (b) không đạt yêu cầu về “kinh nghiệm” từ đó mãi thở than không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp nước ngoài.

Ngày nào chữ “kinh nghiệm” từ thực tế làm việc của bản thân (first-hand knowledge) không được yêu cầu phải có nơi thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ lên lớp vốn chỉ truyền thụ cái “kinh nghiệm thực tế của người khác ở nước khác” (second-hand knowledge) như sẵn in trong sách vở nước ngoài hay sẵn cung cấp bởi “Quý Ông” Google, nhưng việc mời đội ngũ giảng dạy phi-cơ-hữu phi-học-vị từ thực tế công việc lại không hề được quan tâm thì sinh viên tốt nghiệp vẫn mãi là “tay mơ” khó thể kiếm được việc làm, dễ trở thành gánh nặng ngay cả đối với chính sách xã hội của quốc gia.

Việc truyền thụ kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp, v.v., không thể được thực hiện duy chỉ bởi các thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ cơ hữu trong các trường đại học vì các vị này đương nhiên thiếu kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp vốn chỉ có nơi người có thực tế làm các việc đó.

Tổng công ty XYZ là một pháp nhân với những điều kiện và môi trường cụ thể, phức tạp, đầy tính cạnh tranh cao, dưới sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia, công ước quốc tế, tình hình thế giới, vấn đề nội địa, kiến trúc thượng tầng vĩ mô hoặc vi mô, chuỗi các tranh chấp, phá sản doanh nghiệp, phát triển kinh doanh trong trì trệ kinh tế nói chung, v.v. và v.v. Ngần ấy thứ hoàn toàn nằm ngoài những gì mà một văn bằng thạc sĩ hay tiến sĩ có thể đảm bảo có được nơi sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của người sở hữu văn bằng. Và do đó, các công ty như XYZ sẽ nhận được những bản chào chương trình đào tạo yếu kém kỳ lạ như của trường đại học ABC đơn giản vì đó là yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp chứ không nằm trong danh mục những đề tài được giảng dạy chính thức ở trường đại học; và khi không có sẵn tài liệu giáo trình đúc rút từ kinh nghiệm thực tế thực tiễn thực chất và thực sự thì sự sáng tạo sẽ chỉ đưa đến những kết quả nhảy múa thăng hoa đầy vui vẻ với bao hậu quả và hậu hoạn mà thôi.

Tất nhiên, không phải tất cả các thạc sĩ/tiến sĩ đều được đánh đồng như nhau, phải đáp ứng các yêu cầu như nhau như kể trên đối với thạc sĩ/tiến sĩ quản trị kinh doanh, vì còn tùy thuộc vào chuyên ngành của vị thạc sĩ/tiến sĩ đó.

Tiến sĩ thiên văn, tiến sĩ vật lý, tiến sĩ hóa học, tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., của Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết chứng tỏ mình thực sự là tiến sĩ: có các công trình nghiên cứu sáng tạo đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài một cách thường xuyên hoặc có những công trình nổi bật thế giới phải biết đến trước khi ngưng nghiên cứu để làm viện trưởng các viện, nếu không thì chắc chắn chỉ là tiến sĩ giấy.

Thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam đang dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết: tạo trang blog cá nhân để viết bài bằng tiếng Anh, nếu không chắc chắn chỉ là thạc sĩ/tiến sĩ giấy mà sinh viên không bao giờ nể trọng. Cần nhớ rằng kể cả khi có tham gia dịch sách hoặc tự điển, hoặc viết sách văn phạm tiếng Anh thì cũng không được tính đến như trình độ thạc sĩ/tiến sĩ do sách vở văn phạm thì thừa mứa ngập tràn trên thế giới mà người soạn chỉ đơn thuần lập lại chứ không có gì mang tính sáng tạo, còn dịch thuật là công việc mà không bao giờ có ai phải miệt mài đi lấy bằng tiến sĩ để được hành nghề dịch thuật cả, nhất là dịch thuật không cho phép sáng tạo nội dung.

Nếu ở cơ quan bạn có mấy vị Em-Bi-Ê tức MBA tức thạc sĩ quản trị kinh doanh giữ chức trưởng phòng trở lên mà chẳng viết gì cho bản tin, tập san của cơ quan, hay trên blog cá nhân của người đó, thì tôi bảo đảm với bạn một điều chắc chắn là người ấy là chuyên gia copy bài và hưởng điểm của người khác do tất cả các chương trình Em-Bi-Ê (kể cả MIB tức thạc sĩ kinh doanh quốc tế) đều theo cung cách học nhóm, thảo luận nhóm, một người thuyết trình lấy điểm cho cả nhóm, và một người viết tiểu luận lấy điểm cho cả nhóm, tất nhiên trên nền lý thuyết mặc định không cần nhà trường giám sát kiểm tra: đã là bài thuyết trình thì ắt là công trình tập thể nhóm, đã là tiểu luận thì ắt là công sức đóng góp chung của cả nhóm.

Đã thực sự theo đuổi miệt mài thật sự cho một đẳng cấp thạc sĩ/tiến sĩ thật sự, người thực sự sẽ bị mê hoặc hoàn toàn bởi tiến trình nghiên cứu và viết lách đến độ nghiên cứu và viết lách trở thành thói quen, hơi thở, sẽ không bao giờ thực sự rời xa người thực sự ấy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Có một thực tế kỳ lạ ở các trường đại học và ngay cả các cơ quan làm luật của Quốc hội cũng như các cơ quan Chinh phủ là đã có cách đánh số thứ tự rất kỳ lạ, phản khoa học, trong các giáo trình, công văn, thông báo, v.v., chẳng hạn như (a) dùng dấu gạch ngang, dấu chấm, và dấu hoa thị, thay vì dùng các ký ‎hiệu chữ cái in như A B C, chữ cái thường như a b c, số La Mã in như I II III IV, số La Mã thường như i ii iii iv, số đếm như 1 2 3 4, v.v.; (b) khóa luận và văn bản pháp quy tiếng Việt lại không dùng mẫu tự tiếng Anh cho phù hợp cho tham khảo quốc tế lại sử dụng mẫu tự tiếng Việt làm k‎ý hiệu đánh số thứ tự như a b c d đ e nhưng không rõ vì sao lại loại bỏ ă â ê ô ơ ư và cũng không cần biết khi chuyển ngữ sang tiếng Anh thì đ sẽ biến thành gì; và (c) các đại học không quan tâm đến chuẩn mực reference tức thư mục tham khảo ở cuối mỗi công trình nên sinh viên Việt Nam trong luận văn tốt nghiệp vẫn theo kiểu kỳ lạ là viết các chức danh và chức vụ của các vị “tiến sĩ” Việt Nam nào có “công trình” mà sinh viên trích dẫn từ đó, tức kiểu cách không thể giúp sinh viên tốt nghiệp cử nhân có thể học thạc sĩ nước ngoài mà không phải được dạy lại về reference toàn thế giới hàn lâm nghĩa đã, đang, và luôn áp dụng là chỉ ghi tên họ của tác giả mà mình có sử dụng các trích dẫn. (Người viết bài này đã viết thư phản ảnh nội dung nêu trên đến Chủ tịch Quốc hội năm 2012, đề nghị xem lại cách đánh số thứ tự trong tất cả các đạo luật và văn bản pháp quy do Quốc hội soạn thảo và ban hành).

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2014. Thư Gởi Thủ Tướng

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài thứ 31 của tháng 12-2015

Đăng ngày 29-12-2015

Từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII đến nay, tôi trong hơn 300 bài viết của mình đã đăng nhiều hình ảnh mà phóng viên chụp tôi với các vị lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, Nhà Nước, Chính Phủ, Bộ Trưởng, và các tướng lĩnh, cùng các Đại biểu Quốc hội của các đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh.

Nhưng Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc là người tôi mến nhất vì Ông luôn là người tìm đến tôi để thân mật chuyện trò.

 Hanoi_HHP_QH (8)Nguyen Xuan Phuc (2)Nguyen Xuan Phuc (4)

Cách Ông nắm tay tôi vừa đi vừa trò chuyện càng biến Ông trở thành người dễ mến,

 Nguyen Xuan Phuc (3)

Có lần vào giờ giải lao, khi đang lửng thửng ngoài hành lang – do tôi không chủ động bắt chuyện với người lạ, né các lãnh đạo để không mang tiếng sáp vô dựa hơi cậy thế cậy nhờ, bản tính lại thích sự yên tĩnh trầm mặc – tình cờ thấy cách trước mặt tôi 25 mét Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đang trả lời phỏng vấn giữa vòng vây ít nhất 25 phóng viên báo đài với bao máy quay phim và máy ảnh cùng máy ghi âm. Tôi lập tức rão bước nhanh qua hướng khác để tránh xa đám đông. Bất thình lình tôi nghe một tràng liên thanh “Phước Phước Phước Phước Phước Phước” từ Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Thấy Ông kêu và giơ tay ra hiệu cần gặp “thượng khẩn”, tôi quay lại và tiến đến chào Ông. Tất cả các máy quay phim đều phải ngưng lại. Tất cả các máy ghi âm đều phải ngưng lại. Chỉ còn vài máy ảnh của vài phóng viên ảnh nhân hậu có thiện cảm với tôi là tranh thủ chụp hình để sau đó gởi email tặng tôi ảnh chụp. Bởi vì đang phát biểu mà khi nhìn thấy tôi từ xa Ông đã bỏ ngang không phát biểu tiếp để cất tiếng kêu ngay, chỉ để khi tôi đến gần, Ông chìa tay bắt tay tôi và nói như nổ liên thanh trước bao nhà báo: “Cho anh bắt tay em cái! Mấy hôm rồi ở Hội Trường tìm em để bắt tay mà không gặp em đâu hết!” Tôi lịch sự cảm ơn Ông ngắn gọn rồi rút lui, để Ông tiếp tục trả lời phỏng vấn.

Khi thay mặt Chinh Phủ đăng đàn trả lời chất vấn tại nghị trường, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chứng tỏ Ông là người có khả năng hùng biện trước bất kỳ câu hỏi khó nào của bất kỳ Đại biểu Quốc hội nào.

Hiện nay Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc giám sát Hải Quan và cơ quan Chống Buôn Lậu vốn là hai cơ quan nhạy cảm, phức tạp, nhiều sơ sót của đất nước.

Tôi chúc Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong đại cuộc phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của Ông.

Tôi sẽ đóng góp ý kiến giúp Ông củng cố cơ quan Hải Quan và Chống Buôn Lậu để chứng tỏ với Ông rằng thiện cảm và sự tôn trọng Ông trong suốt nhiều năm qua dành cho tôi, một đại biểu dân cử tự do ngoài đảng không thuộc hàng ngũ đại gia kinh tế tài chính, sẽ luôn nhận được sự đáp đền bằng thiện cảm và sự tôn trọng tương xứng dành cho Ông.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Nước Cộng-Hòa Xã-Hội-Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016)

Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

Hoàng Hữu Phước, MIB

Như đã nói ở bài trước về “Tứ Trụ Triều Đình”, nội dung nhân sự lãnh đạo Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm bình thường, khác thường, và dị thường của thế giới, tùy vào chủ thể của sự quan tâm ấy là ai hay là cái gì. Bình thường đối với hàng tỷ người đọc báo xem tin trên toàn thế giới mà tờ báo lớn hay trang tin lớn đều tải đăng vô số chuyện, chuyện nào cũng quan trọng như nhau. Khác thường đối với một số người như tỉnh ngủ, tiến từ giai đoạn ngủ đông trẻ thơ chẳng biết Việt Nam ở đâu trên bản đồ thế giới, sang giai đoạn trưởng thành có dư thừa kiến thức, có dư thừa bản lĩnh tài năng, và có dư thừa tiền bạc, quan tâm đến Việt Nam như miền đất hứa mình phải đến để đầu tư, để làm giàu, để lấy vợ Việt, để sống đế vương trong môi trường tuyệt diệu của ổn định chính trị và đầy đủ vắc-xin miễn nhiễm trước các suy thoái lụn bại kinh tế toàn cầu. Dị thường đối với dăm ba kẻ mông muội khi mừng rở thấy có dịp để tập viết tiếng Việt cũng như có tham vọng muốn có danh “nhà phê bình thời cuộc.” Bài viết này nói về cái phi thường rất đỗi bình thường ở Việt Nam, đối với người Việt Nam: nhân sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Gần đây tin tức chính thống Việt Nam cho biết vấn đề chuẩn bị nhân sự lãnh đạo nhân Đại Hội Đảng Cộng Sản XII năm 2016 đã được thực hiện như bao lần thành công trước đó. Tuy nhiên, đối với nội dung rằng có nhiều vị đã ở tuổi nghĩ hưu đã nộp đơn xin tiếp tục phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, tôi có các ý kiến sau về kinh nghiệm và yêu cầu.

Kinh nghiệm:

Thiên hạ tại các nước siêu cường, văn minh, hiện đại, thực tế thực dụng thực chất, đã từ rất lâu không còn bất kỳ ai rêu rao về tự do, ngợi ca cấp tiến, phất cờ đòi trẻ hóa. Tại tất cả các quốc gia siêu cường tư bản đó không có bất kỳ đảng phái chính trị nào dám đặt tên là Đảng Tự Do hay Đảng Cấp Tiến, vì rằng quốc gia càng cường thịnh, vị trí của Đảng Bảo Thủ càng vững chắc, vì rằng như đã nói trong bài Tranh Giành Ngôn Từ, “tự do” hoàn toàn kém về ý nghĩa chính trị so với “dân chủ”. Còn tại siêu cường Hoa Kỳ với nhiều trăm năm tuổi vẫn chỉ có sự lãnh đạo của một đảng chính trị duy nhất là anh em song sinh Dân Chủ với Cộng Hòa mà cả hai thì tất nhiên là cùng bảo thủ, tức trên nền tảng vững vàng đạt được từ xưa đến nay dứt khoát không cho phép bất kỳ một tên “tự do”, “cấp tiến” hay “trẻ nít hay trẻ quá hoặc trẻ hóa” nào lãnh đạo Hoa Kỳ. Tất cả mang ý nghĩa rằng việc trị quốc bắt buộc phải sau giai đoạn tu thântề gia vốn ngốn bao thời gian để một lãnh đạo quốc gia có thể bắt đầu trị quốc để bình thiên hạ.

Trị quốc rất khác với trị quốc để bình thiên hạ. Việt Nam đã trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo các địa phương, các ban ngành, đoàn thể chính trị, và nhiều nghị sĩ rất trẻ đã có mặt tại quốc hội. Đây là những người trẻ tham chính, tức tham gia trị quốc. Sau thời gian dài trị quốc, những chính khách thành công có thể trở thành nhân vật trị quốc để bình thiên hạ, nghĩa là lãnh đạo quốc gia (“tứ trụ triều đình”). Điều này nói lên một sự thật phải có – mà nói theo tiếng Anh là “it’s a must” – rằng kinh nghiệm là điều kiện tiên quyết của thời trị quốc bình thiên hạ, rất khác với thời chiến tranh vốn chỉ dành sự chiến thắng vẻ vang vinh dự cho bậc thiên tài ngàn năm có một. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo quân đội thời chiến tranh như một thiên tài. Thời trị quốc bình thiên hạ đòi hỏi một vị tướng phải kinh qua nhiều cấp bậc, nhiều thời gian, nhiều thành tích, nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức quân chính (quân sự và chính trị), nhiều xét chọn, nhiều thủ tục được lên một bậc tướng, khiến nhiều vị tá đại tài phải về hưu khi chưa kịp lên cấp thiếu tướng. Chính vì vậy, tôi hoàn toàn ủng hộ việc các vị đương nhiệm trong Bộ Chính Trị khi tự thấy vẫn còn sức khỏe để tiếp tục phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, nộp đơn xin ứng cử tiếp cho nhiệm kỳ XII. Đây là chuyện bình thường trên thế giới từ thời thượng cổ đến nay. Đây là chuyện quốc gia đại sự chứ không phải chuyện lãnh đạo một tỉnh ủy. Thiên hạ hay nói sai rằng người “già” nên nhường chỗ cho người “trẻ” như một khẩu hiệu chung, mà không phân biệt được chỗ ấy là chỗ nào, chỗ ghế lãnh đạo một công ty, ghế lãnh đạo một Bộ, ghế lãnh đạo chính phủ, ghế lãnh đạo Nhà Nước, hay ghế lãnh đạo tại Bộ Chính Trị. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một tổng thống trẻ măng của một nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Tổng Bí Thư trẻ măng của Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu như không đang nghĩ rằng có thể biến người đó thành một Gorbachev Việt Nam. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Chủ Tịch Quốc Hội trẻ măng của nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Và không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Thủ Tướng trẻ măng của nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Vì vậy, “trẻ hóa” chưa bao giờ là một “kế sách” được phát trên loa của các siêu cường. Đó là sự mặc định quá ư là rõ nét rõ ràng rõ rệt trên cả hiển nhiên.

Việt Nam là một đất nước có hai vấn đề miên viễn (thậm chí cho đến sau cả ngày tận thế) sau:

1) luôn là mục tiêu phá hoại sự ổn định chính trị của các thế lực thù địch, và

2) luôn có đa số người dân dễ “lờn mặt” với lãnh đạo “trẻ”, dù ở góc độ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, hay cơ quan hành chánh công quyền.

Vì hai vấn đề miên viễn trên, với thực tế là nhiệm kỳ 2011-2016 trải qua những biến động cực kỳ to lớn trước ngưỡng cửa chiến tranh với hay từ Trung Quốc, những biến chuyển khác thường về an ninh địa chính trị trên thế giới, và những nắm bắt được các vận hội cực kỳ quan trọng cho nhiệm kỳ tiếp theo, các lãnh đạo Bộ Chính Trị đã có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, cùng uy tín với thế giới cũng như sự nể trọng của thế giới, và do đó, nếu tình trạng sức khỏe cho phép và nếu không phạm các quy định nghiêm ngặt của Đảng về nhân sự, sự có mặt của các vị vẫn là một bảo đảm tốt hơn cho Việt Nam ở thời gian 2011-2021 tiếp theo, vừa tiếp tục đại cuộc mà các vị đã hình thành, nắm bắt, vừa hòa vào đội ngũ các vị kế thừa cùng được bầu vào Bộ Chính Trị để thực hiện phát triển đại cuộc ấy. Đây luôn là sự lành mạnh của trọng tâm trị quốc để bình thiên hạ: lực lượng lão luyện tài ba đang hay đã qua ngưỡng tuổi hưu phối hợp với lực lượng lão luyện tài ba còn nhiều năm mới đến tuổi hưu.

Yêu cầu:

Việt Nam vẫn còn tồn tại một thực tế về sự vô tâm vô tình vô cảm vô lý vô trách nhiệm của các lãnh đạo Đảng ở các địa phương, dù cố ý hay vô tình. Các thành viên Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh như Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Nguyễn Thị Quyết Tâm hay Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Lê Hoàng Quân vẫn bị một người dân cho rằng các yêu cầu đối thoại với các vị này để giải quyết các khiếu tố đã kéo dài quá nhiều năm của người ấy đã chưa từng được đáp ứng trong suốt nhiệm kỳ 2011-2016 của các vị, dù bởi trực tiếp vị lãnh đạo ấy hay gián tiếp với trợ lý của chính vị lãnh đạo ấy, thậm chí không có bất kỳ thư phúc đáp cụ thể nào của vị lãnh đạo ấy trong ngần ấy năm. Thành phố Hồ Chí Minh ắt không là ngoại lệ, nếu tính theo số lần có các vụ khiếu tố đông người từ các tỉnh đổ về Thành phố Hồ Chí Minh.

Các lãnh đạo tái cử và mới trúng cử của Bộ Chính Trị nhiệm kỳ mới do đó phải bảo đảm chấn chỉnh các cơ sở Đảng, giám quản các lãnh đạo Đảng ở địa phương bằng kỷ luật sắt, để giải quyết xong và dứt điểm tất cả các vụ khiếu tố đã kéo dài nhiều năm qua của người dân, nội trong nửa đầu nhiệm kỳ mới, và dứt khoát không để có sự dây dưa bất kỳ đối với vụ việc khiếu tố mới nào được kéo dài qua nhiệm kỳ sau đó (2021-2026). Đó mới là trị quốc để bình thiên hạ để thay thế cho trị quốc bây giờ còn bình thiên hạ là chuyện của nhiệm kỳ sau.

Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam gánh trên vai trọng trách (a) xây dựng Việt Nam dứt khoát thành cường quốc, (b) dứt khoát không để một nắm đất hay một hạt cát nào của Việt Nam bị chiếm đoạt bởi bất kỳ nước nào dù là man di quốc hay siêu cường quốc, (c) dứt khoát dùng trí tuệ và sự sáng suốt cùng sức mạnh để tái lập chủ quyền thực tế đối với các vùng lãnh thổ đã bị ngoại bang lấn chiếm trong lịch sử cận đại, và (d) dứt khoát dùng sức mạnh của Đảng để bảo đảm Đảng có đội ngũ kế thừa thực chất thay vì kế thừa danh xưng kiểu “Đoàn là đội ngũ kế thừa của Đảng” để chủ động đưa người giỏi trẻ tuổi ngoài Đảng vào Đảng mà không qua chuyến xe trung chuyển của Đoàn.

Bộ Chính Trị Việt Nam là một thực thể quyền uy mà Tông Thống Mỹ cũng như lãnh đạo các cường quốc phải công nhận và kính trọng như đã thể hiện trong những lời mời Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam sang thăm chính thức nước họ trong nhiệm kỳ qua.

“Tứ trụ triều đình” là một thực thể uy quyền, trong đó Tổng Bí Thư Đảng là một cột trụ cùng với ba cột trụ Chủ Tịch Quốc Hội (Lập Pháp), Chủ Tịch Nước, và Thủ Tướng (Hành Pháp và Tư Pháp) đều là thành viên của Bộ Chính Trị, thực hiện các kế sách chủ trương đối ngoại và đối nội của Bộ Chính Trị, tinh hoa của Ban Bí Thư Trung Ương Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhân sự lãnh đạo Bộ Chính Trị, do đó, không dựa theo tuổi để nói là đến tuổi hưu, quá tuổi hưu, hay còn trẻ tuổi; không dựa theo giới tính để cho ra tỷ lệ bao nhiêu phần trăm nam, bao nhiêu phần trăm nữ; không dựa theo sắc-tộc-chủ-nghĩa để cho ra tỷ lệ dân tộc bất kỳ. Tất cả chỉ dựa vào kinh nghiệm, uy tín, năng lực, trí tuệ, sự kiên định chính trị hiến định, và lòng ái quốc cao nhất. Sẽ là đại phúc của quốc gia nếu có những nhà lãnh đạo còn rất nhiều năm mới đến tuổi hưu nhưng đã hội đủ tất cả những tiêu chí quan trọng mang tính “đầu óc” này.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải là cường quốc kinh tế để hiện thực hóa hiện đại hóa quân đội để trở thành thủ lĩnh của ASEAN.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

a) Ghi chú:

Với tư cách nhà quản trị nhân sự học, tôi từng tư vấn cho các tập đoàn nước ngoài về đặc điểm số 2 ở trên để các tập đoàn này đừng bao giờ vướng phải do không hiểu biết về sự thật mang đặc tính dân tộc ấy, để rồi gặp khó khăn trong điều hành chi nhánh tại Việt Nam; nghĩa là dù dùng người ngoại quốc, Việt Kiều, hay người Việt cũng phải trên cơ sở ưu tiên chọn người đã đứng tuổi mới tránh được thất bại. Là người luôn giữ chức vụ lãnh đạo khi vẫn còn “trẻ” và dù luôn tạo điều kiện cho các nhân viên thuộc quyền còn trẻ lên nắm quyền trong các kế sách kế thừa succession plan, tôi vẫn khẳng định rằng sự già dặn là cực kỳ quan trọng, mà sự già dặn đến từ kinh nghiệm tích lũy phong phú dồi dào bất kể tuổi tác của người đó, nghĩa là người lớn tuổi hơn có nhiều cơ may có nhiều kinh nghiệm hơn còn người trẻ tuổi hơn buộc phải nỗ lực tối đa để có nhiều kinh nghiệm sớm hơn như đã nêu trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

b) Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 26-10-2013. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/10/26/dai-tuong-vo-nguyen-giap/

Hoàng Hữu Phước. 12-9-2014. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Hoàng Hữu Phước. 03-12-2015. Tranh Giành Ngôn Từ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/03/tranh-gianh-ngon-tu/

Hoàng Hữu Phước. 16-12-2015. Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/16/nhan-su-lanh-dao-tu-tru-trieu-dinh-tai-dai-hoi-dang-cong-san-viet-nam-xii/

Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Tôi có nhiều bạn hữu và học trò luôn là những công dân tốt đẹp, yêu nước, thành công, thành đạt. Hầu hết đều giống tôi ở chỗ yêu sự tĩnh lặng, yên bình, hòa bình, không xem không gian mạng là thứ đáng để quan tâm đến. Thế rồi, trước cảnh nhiều người phản Đảng, phản nước, phản dân, phản loạn, hoặc phát ngôn xằng bậy lung tung, hoặc chỉ chứng tỏ mình có dũng khí phán phê sau khi rời ghế lực quyền và được một đài nước ngoài khét tiếng nào đó phỏng vấn, còn lúc hùng dũng hiên ngang đứng trong Quốc hội thì phát huy sự năng động bằng cách ngợi ca cái vô lối vô đạo vô trí vô mưu đạp chà phong hóa dân tộc, tôi buộc phải xuất đầu lộ diện, rời bỏ tháp ngà, từ vị trí kín đáo chỉ biết miệt mài viết blog với hy vọng nhỏ nhoi giúp Đảng giúp nước qua việc cảnh tỉnh người dân trước các chiêu trò vu vạ xảo biện quậy phá tàn độc của ngoại nhân, giáo dục giới trẻ biết thế nào là nẻo chánh đường ngay, chống chọi lại các luận điệu xúc xiểm nước nhà, tôi đơn độc đường đường chính chính tiến ra xin bộ hồ sơ tự ứng cử Đại biểu Quốc hội để tích cực chặn ngăn những điều không tích cực. Tôi buộc phải yêu cầu bạn hữu và học trò thân thương ấy tuyệt đối không được ra mặt phản ứng gì mỗi khi thấy tôi bị “ném đá” vì tôi không muốn họ phải hứng “đá” vạ lây từ cái không gian mạng thấp hèn. Để bảo vệ họ, tôi sẽ không viết gì về họ, và chấp nhận sự nói chuyện thân tình phải toàn được thực hiện qua email, qua phone, qua những lần gặp nhau nhân những ngày lễ nọ lễ kia. Thế nhưng, hôm nay tôi viết về Lại Thu Trúc vì Cô không thuộc nhóm “trí thức nhân sĩ yêu nước ẩn dật” nói trên của tôi, vì Cô đã là người của thế giới phẳng hơn chục năm nay mà những doanh gia ưa thích viết blog sẻ chia những đề tài trí tuệ kinh doanh chuyên nghiệp trên mạng doanh nhân Emotino đều biết đến, và vì Cô cả chục năm qua luôn sát cánh cùng tôi như người cùng chí hướng vì nước, vì dân, vì Đảng, dù Cô cũng chẳng ô dù chở che, không quyền lực ra uy, không Đảng tịch hộ thân.

 LTT2

Trước đây, Lại Thu Trúc thường viết blog trên Emotino về những đề tài kinh tế, tài chính, thương mại, và … thơ văn. Tôi gặp Cô vô số lần trên trang mạng này.

 LTT3

Lại Thu Trúc cũng tham gia đăng vài bài blog bằng tiếng Anh trên mạng ấy, trong đó có bài tựa đề “Vài Ý Kiến Ngắn Về Sản Phẩm Dầu Hỏa” mà tôi rất có ấn tượng tốt đẹp vì nội dung đầy sáng tạo và đẳng cấp cao của bài viết ấy chẳng hạn như đề xuất ý kiến nhằm chế tạo một thiết bị phụ trợ an toàn hơn cho các bình gas gia dụng và dân dụng, đồng thời tư vấn miễn phí 4 slogan tiếng Anh cho công tác marketing sản phẩm dầu nhờn động cơ, v.v.., rất độc đáo, mang tính sáng kiến sáng tạo, vốn không là chủ đề thuộc thế mạnh của tôi

LTT4

Lại Thu Trúc cũng xuất hiện trên các báo và tạp chí cùng với các phát biểu của Cô khi được các phóng viên phỏng vấn, hoặc qua các bài viết dài của Cô như trên Kinh Tế Sài Gòn

 LTT5LTT6

Còn tại những hội thảo thí dụ như tại diễn đàn Kết Nối CEO do Báo Người Lao Động phối hợp với Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Phát Triển IDR tổ chức vào ngày Song Thất năm 2008 tại Dinh Độc Lập, Lại Thu Trúc đã trổ tài hùng biện nói chuyện trước công chúng, mà công chúng ở đây toàn là các CEO trong khi chủ tọa là các nhân vật nổi tiếng như Tổng Biên Tập Báo Người Lao Động Đỗ Danh Phương cùng các chuyên gia kinh tế như Phạm Chi Lan và Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, v.v.

 LTT7

Lại Thu Trúc còn là vị khách mời của Nhà Nước tại Hội Nghị ACMECS và CLMV, cũng như tại Hội thảo về gia nhập WTO

 LTT8LTT9

Những chi tiết nêu trên tôi đã từng viết trong bài “Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước, Góp Ý Về Đường Bay Vàng Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh”

Như đã từng nói trước đây trên nhiều blog, tôi có học trò là một sinh viên xuất sắc tên Trần Duy lúc ở Cao Đẳng Sư Phạm đã sáng tác thơ ca Anh Ngữ cùng tôi, thì nay có Lại Thu Trúc với khiếu thơ ca cổ điển Việt Nam giống như khuynh hướng sáng tác cổ điển của tôi, mà tôi phải nhìn nhận là hiếm có, chẳng hạn như những bài thơ Lại Thu Trúc đăng trên Emotino, trong đó nổi bật hai bài dịch thơ của vua Trần Nhân Tông:

 LTT10aLTT10b

hoặc họa lại các bài thơ của tôi, trong đó có bài đối họa giữa tôi, Luật sư Vũ Ngọc Dũng của Bắc Việt Luật Hà Nội, và Lại Thu Trúc như đã nêu trong bài Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng.

Khi các bài viết của tôi trên Emotino nhiếc mắng đài BBC Anh Quốc (tôi không đụng chạm gì đến BBC Việt Ngữ vì bọn này chẳng sạch sẽ gì cả để tôi phải sờ đến) bị một tên đạo tặc ba xu Việt gian phản quốc nô dịch hèn hạ lẻn vào xóa sạch dưới cái cớ chống lại tôi dám viết bài Tứ Đại Ngu nhiếc mắng ông tổ của hắn, tôi ngưng ngay việc xem Emotino như diễn đàn của cộng đồng doanh giới, rồi dựa vào hạ tầng tài nguyên mạng của blog.com – và nay là wordpress.com này – để tự mình lo liệu lấy một mình một cõi, không chung đụng với bất kỳ tập thể nào, thì Lại Thu Trúc cũng dần dần xa rời diễn đàn doanh nhân Emotino, chắc vì không thấy có đối trọng đối đáp đối đầu đối thoại trên không gian mạng. Thấy tiếc vì Cô ngưng viết, tức là ngưng việc giúp trau giồi kỹ năng cao cấp nhất và khó truyền đạy nhất trong học hành và truyền thông, tôi có khuyên Lại Thu Trúc vào blog.com hay wordpress.com để tạo blog của riêng Cô thì Lại Thu Trúc cho biết Cô đâu muốn là blogger mà chỉ thấy nơi nào sinh hoạt viết lách đàng hoàng thì Cô viết tham gia. Emotino rất đàng hoàng, nhưng dường như đã yếu về giám quản nhân sự vì tôi tin chắc một tỷ phần trăm rằng tên đạo tặc đó là một nhân viên vi tính quèn của Emotino. Quèn vì chỉ có học ít, trẻ người non dạ, mới không đủ trí tuệ mà hùa theo đám thích ném đá mạng mà cháu con của chúng ngày nay ném đá xe lửa xe khách vậy.

Với tính cách xông xáo, can đảm, tích cực, vì nước, vì dân, Lại Thu Trúc thay vì tiếp tục viết blog đã viết các kiến nghị gởi lãnh đạo Quốc Hội, Đảng, Chính Phủ nhờ tôi giúp chuyển đi như hành động cụ thể nhất đối với việc xây dựng đất nước

 LTT11a

chưa kể, Cô còn bao lần học theo cách người xưa khi gởi nhiều thư “tiến cử hiền tài” cho Đảng và Nhà Nước, viết góp ý các dự thảo dự án những bộ đại luật của quốc gia, dám tỏ sự không đồng tình với dự án khổng lồ xây dựng “chính quyền đô thị” của lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như khẳng khái ủng hộ những ý kiến của người khác mà Cô tâm đắc trên cơ sở luôn vì sự đoan chính.

 LTT10LTT11

Nhiều bài viết của Lại Thu Trúc trên Emotino được đọc nhiều như các bài Nhân Quyền Việt Nam, Luận Về Dự Thảo Thông Tư Quy Định Về Giá Của Bộ Tài Chính, Tham Luận Của Lại Thu Trúc Tại Hội Thảo Hợp Tác Đào Tạo Và Sử dụng Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Do Đại Học Quốc Gia Tp HCM và báo Người Lao Động Tổ Chức Ngày 23-10-2010 Tại Đại Học Bách Khoa Tp HCM, Nâng Sức Cạnh Tranh Với Hàng Ngoại, Sống Chung Với Lũ: Vấn Nạn Hàng Hóa Trung Quốc Và Thái Lan Tràn Vào Việt Nam Hơn Nước Vỡ Bờ, Chính Sách Hối Đoái Của Việt Nam, Tư Duy Tích Cực Và Đúng Đắn Về Công Tác Xúc Tiến Thương Mị Và Kích Cầu Thời Suy Thoái, Chính Sách Vĩ Mô Của Việt Nam: Nhận Định Và Đề Xuất Giải Pháp, v.v.

Lại Thu Trúc cũng tham gia trợ giảng cho tôi tại các buổi huấn luyện kỹ năng quản trị như tại Đà Nẵng:

 LTT12

Lại Thu Trúc rất chuyên nghiệp khi tiếp xúc với doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm như Tiến sĩ Trần Quý Thanh của Tập đoàn Tân Hiệp Phát để giới thiệu các dịch vụ tư vấn phát triển kinh doanh

 LTT13

và tự tin có mặt tại các triển lãm và hội thảo quốc tế hay tiếp xúc cơ quan ngoại giao như Tổng Lãnh Sự Quán

IM000218.JPG

IM000218.JPG

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Là người tôn trọng lẽ phải, yêu sự công chính liêm minh, Lại Thu Trúc luôn sử dụng các phương tiện thiết bị để “bảo vệ” tôi khi ghi nhận trữ lưu từng chi tiết một các nội dung phỏng vấn từ các nhà báo không thân thiện dù biết rõ sức mạnh hùng biện thiên bẩm của tôi.

LTT17

Lại Thu Trúc, người luôn sát cánh bên tôi cùng lo việc nước, tất cả vì dân

IM000114.JPG

IM000114.JPG

Quanh tôi luôn có những người dân công chính và yêu nước ủng hộ cùng những người tài giỏi như Lại Thu Trúc, tất cả trở thành nguồn lực và nguồn động viên đầy uy lực giúp tôi tự tin tự hào dấn thân vì đại cuộc đại nghĩa của quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016)

Kính mời tham khảo:

Lại Thu Trúc. 18-9-2014. Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước Góp Ý Về “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Tp HCM. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/18/co-lai-thu-truc-goi-thu-cho-lanh-dao-nha-nuoc-gop-y-ve-duong-bay-vang-ha-noi-tp-hcm/

Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

Hoàng Hữu Phước. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ Quốc Hội 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

Hoàng Hữu Phước. 09-10-2014. Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/09/tho-cung-ban-huu-tren-khong-gian-mang/