Category Archives: Quản Trị Chiến Lược

Hoàng Hữu Phước Chống 4.0

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-11-2019

Rất rất nhiều người ắt cho rằng tôi lạc hậu nên thường xuyên công kích Aitee (công nghệ thông tin).

Có không ít người còn nghĩ rằng tôi thường xuyên công kích Aitee (công nghệ thông tin) ắt vì năm 2012 một thằng aitee đần độn đã đột nhập vào blog của tôi trên trang mạng doanh nhân Emotino để xóa bài Tứ Đại Ngu (tức là bài chưởi thằng bố của bọn truyền thông đại chúng Việt Nam) và bài Nỗi Nhục Của BBC (tức là bài chưởi con mẹ của bọn đầy tớ liếm dép đám truyền thông đại chúng Phương Tây chống Cộng) đồng thời để lại “thông điệp” tầm cỡ chưa xóa nạn mù chữ của thằng aitee đần độn ấy viết gì đó chống tôi mà Cô Lại Thu Trúc phát hiện, báo lại tôi và cũng báo luôn cho Mr. Duy là chủ nhân Emotino.

Bài này để chứng minh cả hai cái “ắt” ở trên là sai be bét. Dưới đây là phần chứng minh quá khứ trước Tứ Đại Ngu, và tiếp theo là phần mới tinh khôi, mà tất cả là từ năng lực tiên tri thấu thị của nhà thấu thị hiện là duy nhất ở Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh thấu thị sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc mới nên kéo rốc đại binh vào đại cuộc giải phóng Miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, và thấu thị sự nông cạn của đa số các lãnh đạo Đảng sau này vốn sẽ cứ chuộng “giáo điều” hơn “vạn biến” nên ban cho cẩm nang “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến mà tiếc thay do không ai hiểu nghĩa nên đã không có việc mời Hoàng Hữu Phước ngoài Đảng vào tham chính nắm giữ tuyên giáo trong Trung Ương Đảng khiến truyền thông thì phản Đảng còn đất nước cứ mãi nhũn xèo do thất bại toàn diện trong tuyên truyền giáo dục.

Tứ Đại NguNỗi Nhục Của BBC xuất hiện sau khi tôi ngự trong tháp ngà Quốc Hội và lên tiếng chống dự án Luật Biểu Tình. Trong khi từ hàng chục năm trước đó tôi đã từng viết bao bài về Aitee trên Emotino đối với ba vấn nạn của (a) tư duy thấp lùn của những người học Aitee tức ai cũng hăm hở học để trở thành Bill Gates, giàu như Bill Gates, hoặc mở công ty phần mềm mà thực chất là mua đi bán lại máy vi tính sau khi “tốt nghiệp đại học công nghệ thông tin”; (b) tư duy chật chội của những nhà quản lý các công ty Aitee nhà nước cứ chú mục vào mỗi việc phát minh phần mềm “anti-virus”; và (c) tư duy chồm hổm của những nhà quản lý các công ty Aitee tư nhơn tập trung mua bán máy vi tính mà quy mô dễ tan biến bốc hơi chứ cơ nghiệp chả bằng cái anh chàng ở Đài Loan tổ chức lắp ráp rồi tạo nên cơ nghiệp Acer bứng luôn IBM chấn động địa cầu. Thấu thị như vậy, tôi luôn tư vấn cho các đại lý thành công của Manulife ở các chi nhánh các tỉnh mỗi khi tôi đi kinh lý và nói chuyện trước công chúng gồm toàn đại lý triệu phú và tỷ phú đang muốn đầu tư cho sự học cao của con cái rằng họ đừng nên nghĩ đến chuyện cho con qua Mỹ du học lấy “cử nhân aitee”. Lý do thực tế đầy thuyết phục – cộng với sự tự động thần thánh hóa sự thông tuệ của “Thầy Hoàng Hữu Phước” nơi các đại lý – tôi đã nêu chi tiết trong các bài viết thủa xa xưa ấy mà nay vẫn còn đúng y hiện thực dù tôi luôn phê phán cái gọi là Văn Học Hiện Thực Phê Phán. Ở đây chỉ xin biện luận – không phải tranh biện vì tôi thấu thị rằng không ai có thể “tranh” được với tôi về hùng biện (y hệt chuyện thằng cựu Giám Đốc Sở Tư Pháp Thành Phố Hồ Chí Minh len vô chiếm chỗ ngồi để làm đại cử tri ở Quận 3 năm 2012 đã đứng lên phát biểu công kích tôi vụ Luật Biểu Tình và tiến lên bàn chủ tọa gởi cho nghị sĩ Trương Tấn Sang, nghị sĩ Trần Du Lịch, và tôi mỗi người một bản kiến nghị vì sao nên có Luật Biểu Tình , để rồi cả ba chúng tôi do thông tuệ như nhau đã đều vứt các bản ấy vào sọt rác chứ không ai từng mở ra đọc, cũng như cho đến nay là Tháng Mười Một Năm Hai Ngàn Không Trăm Mười Chín mà toàn dân Việt Nam chẳng ai thấy cái Luật Biểu Tình ấy nó được chấp bút ra sao cả) như sau vì sao tôi chống 4.0:

1) Từ ngữ 4.0 là do một thằng nghị sĩ đần độn của Đức Quốc vĩ đại thốt lên chơi chơi thế mà toàn cầu nhao nhao hùa theo một cách đáng thương hại mà không biết rằng (a) cái gì cũng mang tính kế thừa, vậy hóa ra đã từng có cái 1.0, 2.0, và 3.0 hay sao vậy; (b) khi công nghệ thông tin xuất hiện, nhân loại tạo nên bao từ mới theo công thức hàn lâm mà một luận văn thạc sĩ bằng tiếng Anh của Hoàng Hữu Phước về Sự Nghiệp Acer từng sử dụng dẫy đầy, thế mà giới Aitee lại sau đó đẻ ra toàn những từ hạ đẳng như chuột “mouse” hoặc răng xanh “bluetooth” nên 4.0 cũng là phát minh hạ đẳng của bọn thấp kém về ngôn ngữ; (c) trong sự hân hoan về 4.0 thì có ai từng đặt câu hỏi nghiêm túc xem tổng kết thì Việt Nam đã đạt những thành quả nào suốt thời kỳ 3.0; và như vậy (d) đương nhiên 4.0 cũng sẽ thất bại tương tự kết luận của bảng tổng kết 3.0.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

2) Bây giờ nói về 4.0, vậy nghĩa là những gì trước khi toàn hệ thống chính trị Việt Nam lãi nhãi về 4.0 sẽ được gọi là 3.0. Thế thì trong thời đại 3.0 với công nghệ thông tin cực kỳ hiện đại với internet, băng thông rộng, điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy vi tính tối tân, đã xảy ra 3 việc (a) bao lần virus/mã độc tấn công đánh sập hệ thống Aitee của Việt Nam, (b) tin tặc tấn công bảng điện tử của các “sân bay quốc gia Việt Nam – không có “sân bay tư nhơn”, và (c) mấy thằng mấy con phụ trách Kiểm Soát Không Lưu nổi điên phát rồ rủ nhau bỏ phòng kiểm soát không lưu với bao thiết bị vi tính viễn thông hiện đại nhất thế giới để đi kiểm soát toilet hay kiểm tra lẫn nhau gì gì đó mà ngay cả Bộ Chính Trị cũng không bao giờ được báo cáo trung thực để biết lý do nào đã khiến mấy phi cơ với nhiều trăm nhân mạng dù đã thả bỏ lượng xăng ở hai cánh theo quy định của ICAO lại phải bay vòng vòng trên bầu trời Thành Phố Hồ Chí Minh những 30 phút do không nhận được trả lời của Kiểm Soát Không Lưu cho phép đáp xuống đường băng số mấy và theo tuần tự trước sau những chiếc phi cơ nào. 3.0 mà như vậy thì trông mong rằng 4.0 sẽ khá hơn ư? Thật là non nớt và non dạ xiết bao.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

3) Cách nay vài chục tiếng đồng hồ, có tin trên toàn cầu rằng hàng triệu tài liệu thông tin chi tiết của hàng triệu khách hàng của một ngân hàng Việt Nam bị đánh cắp và tiết lộ công khai trên internet.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

4) Khi các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trung ương đến địa phương mãi miết khí thế hùng hồn nói về 4.0, họ đã lờ đi những bốn-khâu-không-ra-chi gồm:

(a) Đại cuộc cải cách hành chính thời 3.0 hoàn toàn không đạt yêu cầu mà ba-khâu-không-ra-chi là (i) tư duy thấp kém của lãnh đạo, (ii) tư duy công vụ công bộc không có nơi công chức, và (iii) công cụ giám sát đúng quy trình lại hoàn toàn vô hiệu. Tất cả dẫn đến các đại án kinh tế, các tiêu cực, các khiếu kiện kéo dài của người dân; mà ngần ấy thứ này biến thể chế chính trị lẽ ra hoàn hảo vững vàng của Việt Nam trở thành dễ bị tổn hại vulnerable hơn bao giờ hết.

(b) Con người là thành tố quan trọng bậc nhất quyết định sự tồn vong của đất nước, chứ không phải thể chế chính trị và lý tưởng chính trị giữ vai trò đó. Một khi con người Việt Nam thời 3.0 chịu đựng 3 sự tấn công của (i) sự xem thường thiên Khổng của toàn hệ thống chính trị vốn chỉ biết có chủ nghĩa Mác-Lê/triết học Mác-Lê/tư tưởng Hồ Chí Minh/cao cấp lý luận chính trị khiến đạo đức con người bị bỏ mặc làm đội ngũ quan lại trở thành bọn bức hại lương dân phá tan xã tắc, (ii) sự xem thường các đầu tư tự túc vào học vấn cao của người dân khiến các công việc lãnh đạo khắp nơi đều nằm trong tay những đảng viên mà bằng cấp của họ được mua sắm từ tiền thuế của những người dân có con em ngoài Đảng đầu tư tự túc vào học vấn cao ấy khiến tạo nên bất công xã hội và bất mãn của người dân trước bọn bất tài có Đảng tịch, và (iii) sự hạnh họe của các công-bộc-hơn-đại-quan chỉ chuyên cần tích cực “kiếm ăn” và “kiếm chác”, thì cách chi mà cho rằng 3.0 đã kết thúc tốt đẹp để làm tiền đề tiến bước đến 4.0.

(c) Một khi các nhà hoạch định chính sách của Đảng không những chỉ chuyên cho ra những khẩu hiệu chỉ để Hoàng Hữu Phước bao lần công khai cười cợt nhạo báng trên các blog trước khi trở thành Nghị Sĩ Khóa XIII như “hợp tác bốn nhà” hay “đi tắt đón đầu” hoặc “sản xuất thuốc với giá cả hợp lý”, v.v., mà lại còn lười biếng không tìm đọc các bài viết của Hoàng Hữu Phước để biết ông ta từng phân tích rằng cấm vận của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận những khoa học hiện đại tối tân hơn lúc lịnh cấm vận ấy được gỡ bỏ, thì việc tập trung nói về 4.0 chỉ cho thấy sự lập lại của nhanh tay lẹ chân muốn “đi tắt đón đầu” và tất nhiên sẽ không bao giờ có thể thành công khi tổng kết để chúi nhũi vào thời 5.0.

(d) Cuối cùng, song không phải là điều kém quan trọng hơn, là nếu cái gọi là “chính phủ điện tử” được xây dựng thành công – nghĩa là hoàn tất việc mua sắm trang thiết bị tinh vi của nước ngoài tốn tỷ tỷ USD để có “thành phố thông minh” và cái gì cũng “thông minh” – thì việc xô sập Việt Nam dễ còn hơn động tác trở mặt của một bàn tay bằng cách ngồi tại cơ quan của chúng ở nước ngoài ra tay xóa sạch cơ sở dữ liệu quản trị quốc gia Việt Nam, thâm nhập hệ thống khai hỏa vũ khí Việt Nam tự bắn vào các cơ quan Nhà nước Việt Nam, phá nát hệ thống cảnh báo an ninh Việt Nam, mà không cần phải có đám người ngợm Việt Nam tương tự bọn ở Kiểm Soát Không Lưu Việt Nam phải bỏ đi kiểm soát lẫn nhau ở toilet hay gầm cầu thang mới làm Việt Nam sụp đổ.

Tóm lại, không có con người thiên Khổng làm lực lượng nòng cốt quản trị quốc gia, Việt Nam chỉ sẽ chứng kiến những hệ quả mà Hoàng Hữu Phước luôn cảnh báo mà thôi.

Hoàng Hữu Phước từng nhạo báng đại kế hoạch phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh thành các Thành Phố Đông/Tây/Nam/Bắc vì ông thấu thị rằng (a) dự án chỉ để bọn lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh có cớ chi tiêu nhiều tỷ đồng lập dự án chỉ để cho Bộ Chính Trị đồng tình rằng chúng có quyền xin thêm và xài thêm ngân sách, (b) Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có ai là nhà quản trị đại dự án, (c) làm gì có tiền xây mấy cái thành phố vớ vẩn đó, và (d) chỉ có điên mới xây như vậy do Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập ngụa khi nước biển dâng cao chỉ trong chưa đầy hai thập niên sắp tới.

Hoàng Hữu Phước từng nhạo báng toàn bộ lực lượng nhân sự ở các ghế lãnh đạo ở  Thành Phố Hồ Chí Minh, mà các bằng chứng còn nóng hổi tính thời sự gồm – song không chỉ có bấy nhiêu đây – vụ mất bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm, vụ nạn dân Thủ Thiêm, vụ Rác Đa Phước, vụ Nhà Hát Thủ Thiêm, vụ Học Viện Hành Chính Thành Phố Hồ Chí Minh, và những vụ đầu tư xây dựng mỗi dự án nhiều ngàn tỷ đồng để rồi bỏ dở dang trong nhiều năm khắp nơi trong thành phố trong khi tích cực xài tiền đòi đầu tư xây Nhà Hát Thủ Thiêmcó sẵn tiền cả chục năm qua (không gởi ngân hàng sinh lời mới lạ) được Bí Thư Thành Ủy Nguyễn Thiện Nhân lên tiếng ủng hộ trong khi chẳng ai – không một ai trừ Hoàng Hữu Phước – nghĩ đến việc xử lý thỏa đáng ngay lập tức các khiếu kiện chính đáng của người dân từ số tiền sẵn có ấy.

Chỉ có Hoàng Hữu Phước đơn độc đề ra biện pháp và xung phong tham gia giải quyết vụ khiếu kiện trường kỳ của nhà báo Hoàng Hữu Hiệp trong khi hàng trăm nghị sĩ trong nhiều khóa đã không thể làm gì trừ việc hoặc ký chuyển đon khiếu tố của công dân này cho rãnh nợ, hoặc không cần chuyển với lý do mọi lãnh đạo mị ban ngành đoàn thể đã nhận nhiều năm rồi nên biết rõ rồi.

Chỉ có Hoàng Hữu Phước đơn độc tích cực giúp lão công dân Lý Vĩnh Bá để rồi bị thư ký Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh văng tục thách thức cả vị nghị sĩ cùng lão công dân ấy.

Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có nhân lực quản trị ra hồn dù ở Thành Ủy, Mặt Trân Tổ Quốc, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, mà kỳ vọng cho cái gọi là 4.0!

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nghị-sĩ Khóa XIII, Ứng-cử viên Quốc-hội Khóa XIV, Tranh-cử viên Quốc-hội Khóa XV

Tham khảo (theo thứ tự alphabet):

Con người thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Cô Lại Thu Trúc: Tôi Và Cô Lại Thu Trúc 22-12-2015

Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến: Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”  27-10-2015

Đi tắt đón đầu: Đi Tắt Đón Đầu  08-9-2017

Học Viện Hành Chính Thành Phố Hồ Chí Minh: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Hợp tác bốn nhà: Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước 28-01-2016

Lão công dân Lý Vĩnh Bá: Nhớ Đến Những Người Dân 24-4-2019

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Nhà Hát Thủ Thiêm: Nhà Hát Thủ Thiêm  30-10-2018

Nguyễn Thiện Nhân: Nguyễn Thiện Nhân Đi Sau  31-10-2019

Nỗi Nhục Của BBC: Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  01-8-2016

Nhũn xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Rác Đa Phước: Rác Rến 28-02-2017

Sản xuất thuốc với giá cả hợp lý: Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân  14-10-2018

Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có nhân lực quản trị ra hồn: Khi Đảng Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Bất Lực  10-6-2019

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Trần Du Lịch: Nghị Sĩ Trần Du Lịch  22-4-2019

Truyền thông phản Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông 16-11-2016

Trương Tấn Sang: Trương Tấn Sang và Vương Đình Huệ  02-12-2018

Văn học hiện thực phê phán: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán  23-11-2015

Viết bao bài trên Emotino về Aitee: Hoàng Hữu Phước Thấu Thị Aitee Việt Nam  17-5-2019

Vụ khiếu kiện trường kỳ của Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp: Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp  17-10-2016

Về Sự Cố Của Thứ Trưởng Giáo Dục

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-10-2019

Vừa xảy ra vụ một vị Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong khi rơi từ lầu cao xuống ở Bộ Giáo Dục.

Xin khẳng định rằng bài này hoàn toàn không nhằm xúc phạm ông Thứ Trưởng Giáo Dục cùng gia quyến của ông, mà chỉ nhằm không để tai họa xảy đến cho ông trở thành cái bị sử dụng cho các mục đích không đúng cho tiền đồ tổ quốc Việt Nam mà ông là công dân và Đảng Cộng Sản Việt Nam mà ông là đảng viên.

Dù chưa có bất kỳ kết luận điều tra nào được cho ra để khẳng định sự rơi gây ra tử vong ấy là một vụ án mạng, một tai nạn, hay một vụ tự tử, thế mà báo chí chính thống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đồng loạt đưa tin ngợi ca tài đức của ông Thứ Trưởng Giáo Dục ấy cứ như một cố gắng nhằm định hướng dư luận và lèo lái kết luận điều tra nguyên nhân vậy. Sự nhanh nhảu mang tính đồng phục trong cung cấp thông tin tuyệt đối giống nhau về quá trình học tập + con nhà giòng dõi + quá trình thăng tiến + sự ngợi ca đức độ này đã khiến tạo ra sự ồn ào dày đặc phủ che các tiểu tiết cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ cuộc điều tra nào của bộ môn Khoa Học Hình Sự mà Đại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Châu Diệu Ái đặt nền móng dựng xây cho quốc gia cộng sản này, mà nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước có thể sử dụng thiên hướng cùng năng khiếu bẩm sinh đối với an ninh tình báo để cho ra rất nhiều câu hỏi mà một vài ý chính nhỏ nhất vụn vặt nhất mang tính đánh giá về các “tiểu tiết” ấy là:

1) Đánh Giá Tài Đức Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Đối với các “thân phận” khác nhau, các đánh giá “tài đức” được đặt vào các chuẩn định lượng khác nhau.

Đối với “thân phận” cấp thừa hành, các đánh giá luôn chỉ dựa theo Bảng Miêu Tả Công Việc Job Description để xếp một người vào một trong ba bậc gồm (a) không đạt yêu cầu, (b) đạt yêu cầu, hay (c) vượt yêu cầu, để dựa vào đó mà sa thải/đào tạo thêm/độngviên/tưởng thưởng/tăng lương/thăng chức/đưa vào hệ kế thừa succession plan.

Đối với “thân phận” cấp lãnh đạo, các đánh giá luôn chỉ dựa vào một trong hai – hoặc cả hai – kết quả gồm (a) ngăn chặn/lôi ra được những tiêu cực gì, và/hay (b) thúc đẩy/tạo nên/phát triển được các tích cực nào.

Dù đối với “thân phận” nào thì việc đánh giá luôn thường xuyên (hàng tháng, hàng quý, hàng năm), và công khai – trừ ngành tình báo/gián điệp/phản gián.

Ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong chưa từng được toàn dân biết đến do theo lề lối làm việc của Đảng thì (a) chỉ có Trung Ương Đảng mới có trong tay danh sách tối mật những ai là chuyên gia/nhà khoa học/nhân tài, (b) người dân chỉ biết ai là ai khi đọc bản tiểu sử ứng cử viên Quốc Hội vài tuần trước ngày bầu cử hoặc khi đọc tin ai được thăng chức làm gì ở Bộ nào nên chẳng ai kịp trở tay để kịp báo cho Đảng biết vị nào đã từng có quá khứ không ra chi ở những nơi đã từng được “điều chuyển” đến làm “công bộc của dân” theo đúng “quy trình”, (c) dù vậy người dân cũng chả biết gì về người được thăng chức/bổ nhiệm ngoài cái tên và vài thông tin sơ đẳng, bởi vì (d) trước đó không bất kỳ ai từng quen biết với đương sự hoặc chịu ơn sâu nghĩa nặng từ đương sự chịu thố lộ tiết lộ trên các mạng xã hội hay truyền thông đại chúng bất kỳ thông tin gì về “tài đức” của đương sự tất nhiên do chả biết đương sự có thực sự có “tài đức” như vậy hay không, (e) chỉ có truyền thông chính thống mới có trong tay tên tuổi của một người hay vài người sẵn sàng phát biểu về tài đức của đương sự nếu đương sự qua đời, và (f) rõ ràng rằng cho đến hôm nay là ngày 19-10-2019 vẫn chưa có thông tin nào cho toàn dân biết ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong đã ngăn chặn/lôi ra được những tiêu cực gì trong ngành giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và/hay đã thúc đẩy/tạo nên/phát triển được các chuyển biến tích cực cụ thể nào cho ngành giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì ông là một chính khách lãnh đạo chứ không phải là cấp thừa hành.

Không từng đánh giá bất kỳ về ông mà lại đua nhau bầy đàn tung các thông tin ngập tràn như mưa như thế để ca ngợi ông thì đó chính là xúc phạm nghiêm trọng đến ông. Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

2) Đánh Giá Xuất Thân Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Là người sinh ra và trưởng thành hoàn toàn ở Việt Nam Cộng Hòa, và cũng đã qua rất nhiều bài viết trên blog này về “nhà giáo Việt Nam Cộng Hòa” tôi từng cung cấp thông tin sự thật rằng ở Việt Nam Cộng Hòa những người theo “nghề giáo” vì họ đồng thời có 5 điểm sau: (a) đam mê nghề giáo,vì (b) quá giỏi giang với kiến thức sâu rộng đủ để làm thầy thiên hạ, mà (c) công việc toàn thời gian ngày 8 tiếng sẽ làm cùn nhụt hoang phí tài năng của họ nghĩa là (d) chỉ có “nghề giáo” mới cho họ có nhiều thời gian để làm nhiều “nghề tay trái” mà đa số là (e) sáng tác/trước tác/dịch thuật/viết sách đặc biệt là sách giáo khoa. Vì vậy, tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi báo chí cung cấp thông tin mà họ ắt cho là “nổi bật” rằng cha của Thứ Trưởng Giáo Dục là vị đã có viết sách Toán.

Đối với tôi và tất cả những nhà giáo thật sự tài năng, chúng tôi sẽ có sự kính nể nhất định nếu một vị nào đó của Việt Nam cho ra được một định đề mới về Toán Học khiến thế giới hình thành một hướng toán học mới, chứ còn việc viết sách giáo khoa Toán cho cấp tiểu học hay trung học hay đại học là chuyện bình thường của 100% các giáo viên dạy Toán tiểu học/trung học/đại học (tương tự, cũng là chuyện bình thường của 100% giáo viên Sử Địa, 100% giáo viên Anh Văn, 100% giáo viên Văn, 100% giáo viên Lý-Hóa, 100% giáo viên Triết, v.v. và v.v., viết sách giáo khoa cho bộ môn họ giảng dạy) thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đối với những ai chưa hề biết thế nào là hàn lâm gồm cả Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân và báo chí chính thống Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chỉ cần thấy có người đoạt giải quốc tế nhờ giải được một bài toán kiểu “đánh đố” mà trăm năm qua chưa ai giải được là vội vàng tung hô, thậm chí Bộ Trưởng còn lật đật lấy tiền thuế của dân thành lập ngay Viện Toán Học để thỉnh người ấy làm Viện Trưởng, cấp nhà cấp xe cấp đủ thứ, để rồi gặt hai hậu quả gồm nền Toán Học nước nhà vẫn là bọt xà phòng y như bản chất của Toán Lý Thuyết và nghe đâu cái vị viện trưởng ấy đột nhiên uất ức viết lách lung tung trên mạng xã hội mà nội dung chẳng mấy thiện cảm với Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nêu chi tiết rằng cha của vị Thứ Trưởng Giáo Dục đã từng viết sách giáo khoa Toán vốn chẳng dính dáng gì đến chuyện tử vong khủng khiếp của ông Thứ Trưởng Giáo Dục, truyền thông Việt Nam phải chăng đã đánh giá xuất thân của ông Thứ Trưởng Giáo Dục theo kiểu quẳng thông tin trên trời rơi xuống? Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

3) Quy Trình Đánh Giá Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Những thông tin về “tài đức” của ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong đang ngập tràn trên báo chí đã cho thấy báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay rất nhàn hạ. Họ đã xem các chi tiết sau là nhỏ nhặt chẳng đáng để họ làm theo kiểu mà các đồng nghiệp của họ ở  Âu Mỹ luôn làm:

a– Để rơi (dù do bị ném, tự sát, hay sơ ý) từ lầu cao canteen tức bếp ăn buổi sáng lúc 7 giờ, ông Thứ Trưởng ắt phải thức giấc lúc 5 giờ, rời nhà lúc 6 giờ;

b– Nếu sử dụng công xa, phải chăng ông Thứ Trưởng đã không màng đến thời gian cá nhân của tài xế vốn cũng là một “công chức” khiến tài xế cũng phải dậy sớm như ông Thứ Trưởng;

c– Nếu không sử dụng công xa, ông Thứ Trưởng đúng là người đạo đức; song, như vậy ông tự lái xe đến cơ quan hay đã sử dụng dịch vụ xe nào?

d– Dù sử dụng công xa/xe riêng/xe dịch vụ, ông Thứ Trưởng đến cơ quan vào sáng sớm để làm gì, gặp ai, và thời điểm đó thì canteen đã bắt đầu kinh doanh phục vụ thức ăn chưa?

e– Dù sử dụng công xa/xe riêng/xe dịch vụ, ông Thứ Trưởng đến cơ quan vào sáng sớm để làm gì, gặp ai, và theo sự dẫn dụ của ai – có thể qua tin nhắn hoặc cuộc gọi điện thoại – để cho ông vào bẫy hãm hại ông?

f– Bộ Giáo Dục là nơi mà Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân đã từng nổi điên khi một cậu bé học sinh tỉnh lẻ chui vào Web để gở bỏ vất mất hình ông Bộ Trưởng, vậy Bộ đã rút kinh nghiệm sâu sắc về sự vô tư vô tâm bất cẩn đó để trang bị camera CCTV khắp các tầng lầu chưa, hay là canteen – và các nơi khác trong Bộ – vẫn không có camera nên Bộ Công An rồi sẽ bó tay không tìm ra manh mối cho sự cố đã xảy ra cho ông Thứ Trưởng?

g– Nếu tất cả các câu hỏi về sử dụng xe đến Bộ vào thời điểm sáng sớm quá vô lý, thì phải chăng ông Thứ Trưởng đã ở lại làm việc suốt đêm ở Bộ Giáo Dục, và nếu vậy thì công việc ông đang phải tập trung xử lý cao độ đến như vậy là gì, có động chạm gì đến ai hay những ai hay không?

h– Sổ ghi chép – và camera – của bảo vệ cổng cơ quan cho thấy những tình tiết như thế nào về các thời điểm cụ thể chi tiết vào/ra của bất kỳ ai cụ thể từ chiều tối hôm trước cho đến sau khi xe cứu thương rời khỏi hiện trường;

i– Các dấu hiệu khác thường được nhận thấy nơi ông Thứ Trưởng ít nhất là một tuần trước tai họa gồm những gì; và

j– Cơ quan cảnh sát đã có quy trình như các đồng nghiệp nước ngoài: treo giải cho bất kỳ ai cung cấp thêm manh mối có liên quan?

Không hề màng đến 10 điểm trên mà vẫn điềm nhiên cung cấp thông tin chẳng dính dáng gì cả như tên tuổi, quá trình học tập, quá trình công tác, công trạng của người Bố đối với việc từng viết sách Toán, tình cảm của một người cụ thể từng chịu ơn người quá cố, và tình cảm được cho là của “tập thể’ trường và sinh viên một trường đại học dành cho người quá cố thì quả là báo chí Việt Nam quen thói đưa tin toàn từ trên trời rơi xuống. Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

4) Quy Trình Đào Tạo/Sử Dụng/Bổ Nhiệm Của Đảng: Trên trời rơi xuống

Dù đã luôn lập đi lập lại trên blog này về cung cách của Đảng đối với nhân tài/hiền tài, tôi vẫn không thể quen được khi đọc thông tin báo chí cung cấp về ông Thứ Trưởng Giáo Dục quá cố. Hóa ra, Đảng dùng tiền thuế của dân không để đào tạo người tài cho đất nước về chuyên môn mà chỉ để có lực lượng có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ để làm lãnh đạo thuần hành chính để danh thiếp của họ có chữ thạc sĩ/tiến sĩ khi trao ra cho đối tác nước ngoài của Đảng và Chính Phủ.

Nguyễn Thiện Nhân lấy bằng Cybernetics về chỉ để làm Bộ Trưởng Giáo Dục, rồi làm Phó Thủ Tướng, rồi làm Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc, rồi làm Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, và tất nhiên làm Ủy Viên Bộ Chính Trị. Thảo nào giáo dục hỗn loạn với nấm đại học mọc lan tràn đến độ thiếu sinh viên phải tiến đến bỏ luôn thi tuyển, học sinh xong lớp 12 hoặc xong đại học vẫn không giỏi ngoại ngữ, tư cách giáo viên thấp hơn bao giờ hết qua các bạo hành trọng án, bằng cấp không còn giá trị, và điểm thi dễ dàng được nâng đầy giễu cợt. Và thảo nào đến năm nay là 2019 mà Việt Nam vẫn không có ngành học phát triển mạnh nào mang tên Cybernetics cả.

Khi Ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong, tôi và người dân mới được biết thời gian dài qua ông đã được Đảng đầu tư đào tạo những ngành gì tại những quốc gia nào. Những thông tin trên trời rơi xuống này chỉ khiến tôi và người dân dễ dàng cho rằng Đảng đã vừa không hề quan tâm đến việc làm cho nền kỹ nghệ nước nhà phát triển, vừa quá “từ chương” khi cho rằng đã có bằng tiến sĩ của bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể làm lãnh đạo bất kỳ lĩnh vực nào.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

Tham khảo:

An ninh tình báo: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo  26-12-2015

Đại Tá Viện Trưởng Châu Diệu Ái: Đại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Châu Diệu Ái  07-10-2019

Đồng phục: Đồng Phục Học Sinh  30-01-2016

Nhà giáo Việt Nam Cộng Hòa: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Nguyễn Thiện Nhân lấy bằng cấp Cybernetics: Nguyễn Thiện Nhân  10-6-2016

Nhân tài/hiền tài: Hiền Tài  22-5-2019

Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân: Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân  14-10-2018

Tiến sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Từ chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Phụ Trang Của Bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự

Công Thức Nhân Lực Quốc Hội

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

02-10-2019

Bài này là phụ trang của bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự.

Trước thực tế không bao giờ có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ tin tưởng nhân dân Việt Nam như đối tượng chực chờ nhận ơn từ Nhà Nước, chỉ cho nhân dân quyền giám sát gián tiếp thông qua các “đại biểu” là đảng viên chức sắc cấp cao nhưng các nghị sĩ đại quan này thí dụ như ở Thành Phố Hồ Chí Minh không bao giờ tiếp “dân thiệt” cho ra hồn ra ngô ra khoai mà chỉ tiếp xúc với 2 loại dân duy nhất là “dân đại-cử-tri” có bài phát biểu soạn sẵn (có cả phong bì công xá đi họp) và “dân khiếu-tố-dai-dẳng-triền-miên” tầm cỡ Thủ Thiêm, chứ không hề tin tưởng nhân dân Việt Nam như đối tượng được phép thực thi dân quyền và nhân quyền cung truc tiep tham gia trị quốc;

Trước thực tế không bao giờ có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam không hề tin tưởng vào hệ thống luật pháp nhũn xèo của Việt Nam vốn không bao giờ đi vào đời sống nhân dân Việt Nam và đáp ứng đúng mong đợi của những người dân Việt Nam công chính;

Để đảm bảo Đảng viên Đảng Cộng Sản chiếm tuyệt đại đa số tại Quốc Hội mà vẫn giải quyết được (a) sự than vãn của Chủ Tịch Quốc Hội về vấn nạn nghị sĩ ồ ạt bỏ họp, (b) sự than vãn của chức sắc Thường Vụ Quốc Hội về thiếu nhân sự “chuyên trách” do các nghị sĩ đảng viên chức sắc cấp cao không muốn từ bỏ quyền lợi vinh thân phì gia ở  địa phương hoặc vì bản thân biết quá rõ mình không phải là tinh hoa trí tuệ của Đảng mà Đảng cứ ép buộc phải nhận bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ; (c) sự bôi nhọ của bọn “chống Việt” rằng Cộng Sản Việt Nam khiếp sợ viễn cảnh bị lật đỗ nên cấm cửa nhân-dân-ngoài-Đảng trực tiếp tham gia trị quốc; và (d) sự bảo đảm danh chính ngôn thuận của tôn trọng Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về dân quyền và nhân quyền;

Công thức sau do Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đề ra cho Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để Quốc Hội dựa theo đó mà tiến hành tu chỉnh các pháp luật có liên quan:

Khi mô hình lý tưởng mục tiêu đã đạt được, tỷ lệ nghị viện Việt Nam sẽ như sau:

– Đảng Cộng Sản giữ khoảng 55% ghế nghị sĩ Quốc Hội tức tối đa khoảng 275 nghị sĩ.

– Ngoài Đảng giữ khoảng 45% ghế nghị sĩ Quốc Hội tức tối đa khoảng 225 nghị sĩ.

Với mô hình nghị viện lý tưởng mục tiêu, tất cả các đảng viên Đảng Cộng Sản phải được Đảng giới thiệu ra tranh cử dựa trên năng lực thật sự của mỗi đảng viên theo điều kiện đã nêu ở bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  nghĩa là

1) Đảng viên được Đảng phân công ra ứng cử phải bỏ tất cả các chức vụ tại địa phương để trở thành 250 nghị sĩ chuyên nghiệp khi đắc cử tức làm nghị sĩ chuyên trách.

2) Đảng viên được Đảng chấp nhận cho phép ra ứng cử “theo nguyện vọng” được ra ứng cử làm nghị sĩ kiêm nhiệm để tranh nhau 24 ghế tại Quốc Hội. Những đảng viên này tất nhiên nếu đắc cử vẫn giữ nguyên chức vụ đang đảm trách tại địa phương hay cơ sở.

3) Sự lựa chọn của Đảng đối với các đảng viên để đưa ra tranh cử cho hai nội dung trên tất nhiên sẽ tự động trên cơ sở thực lực thực tài và tính cạnh tranh cao về uy tín và tư cách nhằm đảm bảo Đảng luôn chiếm ghế đa số tại Quốc Hội. Sự lựa chọn bất cẩn, vô trách nhiệm của Đảng , sẽ dẫn đến hậu quả ứng cử viên của Đảng không thể đắc cử, và làm Đảng mất thế đa số ở Quốc Hội.

4) Lời khuyên từ kinh nghiệm thực tế của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước và thực tế lịch sử nghị viện Việt Nam từ 30-4-1975 đến nay là Đảng nhất thiết phải hủy bỏ trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong “giới thiệu ứng viên” vì

(a) Đảng viên phải do Đảng giới thiệu. Mặt Trận không được phép mặc định Mặt Trận chính là “Đảng” tức một hình thái “đảng song song”;

(b) Đảng viên phải do Đảng chịu trách nhiệm. Mặt Trận đã chưa hề chịu trách nhiệm gì đối với những nhân sự mà Mặt Trận giới thiệu nay đang lúc nhúc trong chốn ngục tù hoặc hất sơn đen vào cờ Đảng;

(c) Mặt Trận không có quyền đóng dấu chứng nhận “giới thiệu ra ứng cử” vào tên của ứng viên tự do, ngoài Đảng. Mặt Trận không được phép mặc định mình là Bộ Công An khiến Việt Nam có “bộ công an song song” vì chỉ có Bộ Công An mới có quyền bút phê thuận OK hay loại rejected vào hồ sơ xin ứng cử của ứng viên tự do ngoài Đảng;

(d) Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh đã phá hoại buổi hiệp thương thứ nhất của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước năm 2016 như đã trình bày trong bài  Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân;

(e) Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh đã từng nảy sinh cái sự việc điên rồ của một thằng lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh mà Hoàng Hữu Phước đã nêu rõ trong bài Tôi và Lê Hiếu Đằng; và

(f) Đảng sẽ bị ô danh – dẫn đến sự thất bại trên mặt trận chính trị nghị viện toàn dân – nếu vẫn duy trì sự tồn tại của Mặt Trận Tổ Quốc vốn là một tổ chức đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó và hiện nay chỉ làm hao tổn ngân khố quốc gia, thậm chí uy tín của Đảng không thể nguyên vẹn khi người đứng đầu Mặt Trận tự dưng hưởng ghế Ủy viên Bộ Chính Trị trong khi đã, đang, và mãi mãi sẽ chẳng đóng góp bất kỳ được điều gì cho đại cuộc phát triển quốc gia trừ mỗi việc lom khom đi vận động xin tiền doanh nghiệp và hèn hạ mất dạy dám phá hoại buổi hiệp thương lần I của ứng cử viên nghị viện Hoàng Hữu Phước năm 2016.

Với mô hình lý tưởng mục tiêu, tất cả các nghị sĩ đảng viên và nghị sĩ ngoài Đảng đều tăng cường trui rèn đạo đức con-người-trước-dân (thay vì đạo đức cách-mạng-trước-Đảng), cạnh tranh thi thố tài năng, để đạt sự nể trọng và lòng tin của người dân. Dần dần, sẽ xuất hiện những nhân tố ngoài Đảng đắc cử nghị viện rồi được Quốc Hội chuẩn y bổ nhiệm vào các ghế Bộ Trưởng trong Chính Phủ. Tất cả đều phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, theo đường lối chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam với cung cách mới: tranh biện phản biện hùng biện để thống nhất sẽ thay thế cho kiểu cắm đầu thực hiện như cái máy. Nhà sử nghiên Hoàng Hữu Phước từng khẳng định trên blog này rằng Hội Nghị Diên Hồng được tổ chức trên cơ sở triều đình đã quyết tâm đánh giặc và muốn trình bày với các đại biểu của dân để quán triệt nghị quyết về cách đánh và dân phải đồng tâm thực hiện các yêu cầu của triều đình về sách lược đối phó, đáp ứng quân nhu, cảnh giác điệp báo, bảo vệ kho lẫm, phòng gian bảo mật, chứ hoàn toàn không để hỏi ý kiến đại biểu xem có đánh giặc hay không, vì chỉ có triều đình hạng vất đi mới không biết phải làm gì, phải hỏi đại biểu và nếu đại biểu muốn đầu hàng giặc thì triều đình sẽ nghe theo. Việt Sử không hề cung cấp các chi tiết như chương trình nghị sự, thành phần tham dự, số lượng tham dự, danh tính đại biểu các vùng miền, các diễn văn, các chủ đề luận bàn, các mẫu phiếu bầu, các báo cáo tổng hợp kết quả biểu quyết, v.v., của Hội Nghị Diên Hồng , tức những sử liệu bắt buộc phải có trong tàng thư Sử Quán triều đình. Thế nên đương nhiên nhận định và giải thích của Hoàng Hữu Phước về Hội Nghị Diên Hồng là bất khả tranh cãi. Từ đó suy ra Đảng Cộng Sản Việt Nam tất phải đề ra sách lược, chủ trương, và Quốc Hội như những Hội Nghị Diên Hồng lắng nghe các sách lược đó, phản biện các chi tiết, tham mưu cách thực hiện, v.v. và v.v. Từ trước đến nay các thực thi chính sách đều vấp váp vì các “đại biểu” đã không hiểu ý nghĩa thật sự của Hội Nghị Diên Hồng, cứ tưởng phải ngồi yên chờ Đảng hỏi “Làm hay không?” rồi gật đầu hoặc lắc đầu như cái máy theo lịnh Đảng. Chỉ có Quốc Hội theo mô hình lý tưởng mục tiêu do Hoàng Hữu Phước đề ra mới bảo đảm Quốc Hội thực sự là Hội Nghị Diên Hồng theo sự duy nhất hiểu đúng của nhà sử nghiên Hoàng Hữu Phước, cũng như bảo đảm rằng chế độ độc đảng Việt Nam vẫn sinh hoạt chính trị nghị viện lành mạnh, văn minh, chính đạo, hoàn toàn phù hợp bất kỳ chuẩn mực nào về dân quyền và nhân quyền tại bất kỳ quốc gia nào thuộc bất kỳ thể chế chính trị khác biệt nào trên toàn thế giới .

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Bôi nhọ: Bôi Nhọ  02-12-2015

Khủng hoảng nhân sự: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự October 2, 2019

Luật pháp nhũn xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Phá hoại buổi hiệp thương thứ nhất của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước năm 2016: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Thạc sĩ tiến sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Thằng lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh nổi điên: Tôi và Lê Hiếu Đằng  29-8-2013

Thủ Thiêm: Nhà Hát Thủ Thiêm 30-10-2018

Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự

Tứ Đại Vấn & Tứ Đại Kế

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

02-10-2019

Mới đây, có thông tin một nữ lãnh đạo một ủy ban của Quốc Hội thở than hai việc rằng không thể bớt nhân sự đội ngũ nghị sĩ chuyên trách vì các ủy ban sẽ gặp khó khăn trong hoạt động, và rằng không dễ có thêm nhân sự vì các nghị sĩ từ chối không muốn ra trung ương để làm chuyên trách.

Việc thở than như thế rất quái gở vì Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước rất thoải mái dễ dàng tham mưu ngay tại phòng họp của Thường Vụ Quốc Hội cho lãnh đạo Quốc Hội ngay cả việc quốc gia đại sự, sá gì chuyện cỏn con thế kia mà lại thố lộ với báo chí cứ như đã ở bước đường cùng không lối thoát vậy.

Do thấu thị được rằng Quốc Hội nước nhà sẽ triền miên lún ngập trong vũng lầy dù Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ ngập chìm trước Hà Nội đối với vấn nạn ấm lên toàn cầu khiến mực nước biển dâng cao 10 mét trong hai thập kỷ nữa, tôi đã tuyên bố trước rằng tôi sẽ tự do ra ứng cử nghị viện Việt Nam Khóa XV năm 2021 để nếu đa số người dân ủng hộ chế độ nên dồn phiếu cho tôi và nếu Đảng Cộng Sản thành công quét sạch bọn phản Đảng khiến chúng không can thiệp phá hoại kết quả bầu cử của tôi thì ở Quốc Hội tôi có thể thực hiện Tứ Đại Điều điều gồm

(a) giúp Quốc Hội lần đầu tiên sau khi Việt Nam thống nhất có được một nghị sĩ đức tài do Quốc Hội bấy lâu nay chỉ may mắn có dăm ba nghị sĩ có đức chứ chưa hề có bất kỳ nghị sĩ nào có tài cả,

(b) giúp uốn nắn Quốc Hội ở khâu làm luật đẳng cấp cao,

(c) giúp xây dựng Quốc Hội lần đầu tiên trở thành nghị viện có sinh hoạt sôi nổi không bị tràn ngập bởi những “nghị gật”, và

(d) đích thân soạn thảo đệ trình bộ “Luật Biểu Tình” nhằm giúp Quốc Hội chấm dứt trăn qua trở lại trọc trằn trước “món nợ với nhân dân” mà vài thằng nghị sĩ cốt luật sư ở Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh đã nêu lên rồi bỏ đó cho Quốc Hội gánh lấy từ năm 2012 đến tận ngày nay.

Trước khi đề xuất 4 ý kiến tham mưu, tôi có 4 thắc mắc tức Tứ Đại Vấn sau:

Đại Vấn 1: Đảng đã giáo dục đảng viên và phát triển họ theo kiểu gì và như thế nào mà đa số từ chối không chịu làm nghị sĩ chuyên trách tức bỏ tất cả các chức vụ và quyền lợi ở địa phương để ra Hà Nội làm việc cho một trong các ủy ban của Quốc Hội, mà khăng khăng bám lấy vị trí nghị sĩ kiêm nhiệm tức giữ tất cả các chức vụ và quyền lợi ở địa phương, được ở gần gia đình ở địa phương, được mỗi năm bỏ việc ở địa phương để có 1/3 tổng thời gian ra Hà Nội “phục vụ” Quốc Hội làm mỗi 8 việc là

(i) ngủ gật hoặc chơi game trong hội trường,

(ii) nhấn nút thông qua Luật khi thức dậy,

(iii) ăn uống no say,

(iv) nhận tiền hậu hĩ của Quốc Hội,

(v) nhận tiền hậu hĩ của các Bộ,

(vi) bù khú tiệc tùng với các “đồng đội” tức đồng nghiệp và với các “đồng chí” tức những tinh hoa của Đảng đã từng học chung lớp “cán bộ nguồn” là nơi đào tạo lãnh đạo tương lai cho Đất Nước,

(vii) chơi tennis hoặc chơi golf, và

(viii) tham quan các thắng cảnh toàn Miền Bắc bằng xe Quốc Hội có mô tô cảnh sát dẫn đường?

Đại Vấn 2: Mặt Trận Tổ Quốc đã “giới thiệu” ứng viên nghị viện theo kiểu gì và như thế nào mà các nghị sĩ Đảng Viên chức sắc khi đắc cử nghị sĩ lại từ chối làm nghị sĩ chuyên trách mà khăng khăng bám lấy vị trí nghị sĩ kiêm nhiệm?

Đại Vấn 3: Quốc Hội đã “chọn người” theo kiểu gì và như thế nào mà khi mời những đấng được chọn chosen ones ấy vào “chuyên trách” thì bị các đấng ấy dãy nãy chối từ?

Đại Vấn 4: Chung quy lại, phải chăng những tinh hoa trí tuệ của Đảng toàn là bất tài vô dụng không có trí tuệ để làm công việc thuần trí tuệ tại các ủy ban trí tuệ của Quốc Hội vốn lẽ ra là nơi chỉ dành cho những tinh hoa trí tuệ đến làm việc lập hiến và lập pháp, và vậy có phải chăng những tinh hoa trí tuệ của Đảng là hàng giả hoặc được cãi chầy cãi cối binh vực cho bằng được rằng chúng là hàng thật 100% chẳng qua bị kém chất lượng do nhiều tháng bị lưu giữ trong kho không có điều kiện thích hợp như thuốc trị ung thư của VN Phạc Ma?

Khi lãnh đạo Đảng, Mặt Trận, và Quốc Hội nghiền ngẫm xong 4 câu hỏi trên, quý vị sẽ buộc phải công nhận – dù e thẹn đỏ bừng đôi gò má không dám công khai nhìn nhận như vậy – rằng 4 ý kiến tham mưu sau của Hoàng Hữu Phước là tuyệt đỉnh, không bao giờ có thể sai, và không bao giờ có thể làm khác hơn được cho vấn đề khủng hoảng nhân sự Quốc Hội. Những ý kiến này thậm chí đã từng được nêu lên nhiều lần trong các bài viết trên blog này mà gần đây nhất là bài Thiên Khổng.

Tứ Đại Kế bao gồm:

Đại Kế 1: Chấm dứt giới thiệu ra ứng cử nghị viện các đảng viên chức sắc nào

(a) bản thân không ký giấy cam đoan “nhận bất kỳ nhiệm vụ nào do Quốc Hội phân công”, và

(b) không được cơ quan nơi công tác cấp giấy xác nhận bảo đảm hai điều rằng (i) ứng viên nếu đắc cử sẽ có 100% thời gian của 1/3 tổng thời gian công tác theo yêu cầu luật định để dự toàn thời gian kỳ họp Quốc Hội mà không phải trở về địa phương để dự họp cho bất kỳ công việc nào của Đảng hay của chính quyền, thậm chí ngay cả để triển khai “Nghị Quyết Trung Ương Đảng”; và rằng (ii) nếu nghị sĩ được mời làm “chuyên trách” thì cơ quan sẽ tự động làm hồ sơ miễn nhiệm ngay mà không cần lắng nghe ý kiến chấp thuận của nghị sĩ được mời.

Đại Kế 2: Gia tăng số lượng nghị sĩ chuyên trách lên nhiều lần theo bất kỳ yêu cầu nào về nhân sự của các ủy ban của Quốc Hội; đồng thời gia giảm số lượng nghị sĩ kiêm nhiệm xuống tối thiểu tức chỉ dành cho một ít đảng viên nào (i) hiểu được Đại Kế 1 muốn nói gì, (ii) biết bản thân đúng là tinh hoa trí tuệ của Đảng về lập hiến và lập pháp, (iii) biết bản thân sánh bằng hoặc hơn nghị sĩ khóa XIII Hoàng Hữu Phước, và (iv) bản thân đã đọc hai bài Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam của nghị sĩ khóa XIII Hoàng Hữu Phước.

Còn lại (tức lấy 500 trừ đi số “chuyên trách” đã gia tăng tối đa, trừ đi số “kiêm nhiệm” của cộng đồng đảng viên tối thiểu nói trên) thì tuyệt đại đa số nghị sĩ kiêm nhiệm sẽ là ứng viên ngoài Đảng, tự do.

Tham khảo chính trị Hoa Kỳ qua bài Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?, ta thấy Mỹ có rất nhiều cái gọi là “đảng”, nhưng chỉ có hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thay nhau nắm quyền trị quốc được gọi là hệ thống lưỡng đảng, và những “đảng” còn lại nếu có “đảng viên”muốn ra tranh cử thì phải mang thân phận “ứng viên tự do” chứ không với tư cách “đảng viên đảng nào” để không bao giờ có bất kỳ “đảng” nào khác được cạnh tranh với Lưỡng Đảng Cộng Hòa & Dân Chủ tại Hoa Kỳ.

Như vậy, Việt Nam gia tăng số lượng “ứng viên tự do” từ nhân dân ngoài Đảng (do đảng viên – kể cả đảng viên hưu trí – không được Đảng cho phép “tự do ứng cử”) tức từ những người có bản lĩnh về trình độ, có tự chủ về thu nhập, có quyền đối với thời gian cá nhân và thời gian công việc riêng, có mong muốn thực thi quyền công dân đối với phụng sự quốc gia tại nghị trường, có quyền tham gia làm chính trị công bằng, và có sự ủng hộ của nhân dân qua lá phiếu bầu của cử tri.

Việc làm trên đúng với Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về dân quyền và nhân quyền, đúng với bài bản quản trị quốc gia, đúng với yêu cầu thực tế, và đúng với chiến lược dụng nhân trong lập hiến và lập pháp trong thời đại mới.

Như vậy, người dân Việt Nam không được Đảng Cộng Sản cho gia nhập Đảng vẫn  không cần “Đa Đảng” để được phụng sự quốc gia theo con đường chính trị nghị viện, để không bao giờ có bất kỳ “đảng” nào khác được cạnh tranh với Độc Đảng Cộng Sản tại Việt Nam.

Phụng sự quốc gia trong lĩnh vực và môi trường chính trị nghị viện không bao giờ là đặc quyền chỉ dành cho Đảng Viên Cộng Sản.

Phụng sự quốc gia trong lĩnh vực và môi trường chính trị nghị viện là quyền và nghĩa vụ của tất cả công dân Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu luật định.

Đại Kế 3: Nếu các nghị sĩ chuyên trách bắt buộc phải được chọn từ các nghị sĩ kiêm nhiệm là đảng viên chức sắc cao cấp của Trung Ương Đảng, các Bộ/Ban/Ngành/Đoàn Thể/Địa Phương, thì trong trường hợp năng lực của lực lượng tinh hoa trí tuệ này của Đảng không cao như mong đợi từ kết quả đầu tư, Quốc Hội phải có cơ chế thoáng, theo đó những nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) nào có năng lực cao hơn có thể được Quốc Hội ký hợp đồng thời vụ cho một dự án luật cụ thể hay một công việc cụ thể phụ giúp các ủy ban của Quốc Hội, dưới tên gọi Hợp Đồng Tham Vấn Chuyên Gia, để các nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) không còn ở vị trí như bấy lâu nay (tức có mặt ở Quốc Hội chỉ để phục vụ số liệu thống kê nhằm khoe khoang với quốc tế rằng Quốc Hội Việt Nam có bao nhiêu nghị sĩ người dân tộc thiểu số, người ngoài Đảng, người làm doanh nhân, người có học vấn cao) mà sẽ thực sự là những nhà chính trị nghị viện có thực tài thực tâm phụng sự quốc gia dân tộc.

Dần dần, sau nhiều Khóa áp dụng Đại Kế này, Quốc Hội có thể mạnh dạn thử nghiệm đưa một nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) vào đội ngũ nghị sĩ chuyên trách tại một ủy ban ít nhạy cảm (chẳng hạn không phải Ủy ban An ninh Quốc phòng), rồi theo thời gian hoạt động nghị viện Việt Nam sẽ thay đổi nhiều hơn, thực tế hơn, hiệu quả hơn, hợp Hiến hơn và hợp pháp hơn.

Trước mắt, nếu áp dụng Đại Kế 2 và 3 này, Chủ Tịch Quốc Hội sẽ không phải liên tục than vãn Kỳ Họp Quốc Hội luôn có quá nhiều ghế trống. Đã không tài cán làm lập hiến và lập pháp, không quan tâm làm lập hiến và lập pháp, không ưa thích làm lập hiến và lập pháp, thế tại sao cứ phải ấn nhét nhồi tống số lượng nghị sĩ đảng viên ấy vào Quốc Hội cho bằng được, khiến tạo ra một thuyết âm mưu rằng do đảng viên phải tuyệt đối tuân lệnh Đảng nên các nghị sĩ đảng viên phải chiếm tuyệt đại đa số trong Quốc Hội để bảo đảm các luật lợi ích nhóm của các lãnh đạo sẽ được thông qua một cách danh chính ngôn thuận chăng?

Đại Kế 4: Cần nhớ một thực tế tại Quốc Hội Việt Nam rằng Quốc Hội có những nghị sĩ thuộc nhiều ngành khác nhau được mặc định rất đúng rằng họ có sự hiểu biết về ngành của họ. Song, chưa từng ai chịu hiểu một điều rõ ràng rằng một luật sư biết về các luật hiện hành chứ bản thân nghị sĩ luật sư không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; rằng một nhà tu hành biết về kinh kệ và đạo pháp hiện tu chứ bản thân nghị sĩ thầy tu không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; rằng một tướng lĩnh biết về chiến thuật bố trận bày binh chứ bản thân nghị sĩ tướng lĩnh không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; v.v. và v.v. Như vậy, việc bảo đảm “có đủ mọi thành phần” hóa ra sẽ vừa không bao giờ “đủ” (thí dụ không có nghị sĩ Tin Lành, không có nghị sĩ Bà La Môn Giáo, không có nghị sĩ thợ hầm lò, không có nghị sĩ chiến sĩ nhà giàn, không có nghị sĩ tuổi Teen, không có nghị sĩ hài nhi, v.v.) vừa không bao giờ bảo đảm công tác lập hiến và lập pháp đạt chất lượng cao như kỳ vọng vốn thiên về ảo tưởng; trong khi đó, ở Việt Nam còn có thêm khâu gởi các dự án luật cho tất cả các ban/ngành/đoàn thể/quần chúng nhân dân góp ý, thế mà chất lượng làm luật vẫn chưa bao giờ đạt yêu cầu. Lý do duy nhất là: Quốc Hội đã chưa từng có một nhà lập hiến và lập pháp đúng nghĩa, hoặc đã có một người ở Khóa XIII nhưng đã chèn ép người đó không có quyền được thi thố chẳng qua đó là người tự do, ngoài Đảng.

Do đó, nếu chẳng may do người dân chán ghét chế độ Cộng Sản nên không dồn phiếu cho ứng cử viên “thân Cộng” pro-communist Hoàng Hữu Phước, hoặc nếu chẳng may do Đảng thất bại hoàn toàn bó tay trước bầy sâu phản Đảng trong Mặt Trận Tổ Quốc khiến chúng tiếp tục ra tay phá hoại bầu cử làm ứng cử viên Hoàng Hữu Phước không có đủ số phiếu bầu khiến Quốc Hội Khóa XV tiếp tục không thể có một nhà lập hiến và lập pháp đúng nghĩa, thì Quốc Hội vẫn có thể ký Hợp Đồng Tham Vấn Chuyên Gia với nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước khi có các đại dự án luật hoặc khi có các hoàn cảnh khó khăn quốc gia đại sự mà bản thân các ủy ban của Quốc Hội và các nghị sĩ chuyên trách và kiêm nhiệm Khóa XV bó tay không thể đề ra các giải pháp tối ưu. Đại kế này như một cách có quân sư Hoàng Hữu Phước phi-Hoàng-Hữu-Phước vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Các Tứ Đại:

Tứ Đại Đần: Tứ Đại Đần  01-9-2017

Tứ Đại Điều: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Tứ Đại Hỗn: 9 Kẻ Đào Tẩu 26-9-2019

Tứ Đại Kế: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  05-8-2012

Tứ Đại Vấn: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Bài Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Đa Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?   18-5-2013

Giới nghị sĩ phải thay đổi: Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam  04-02-2018

Giới tinh hoa chính trị phải thay đổi: Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Không cần Đa Đảng: Luận Về “Đa Đảng”  13-02-2011

Làm chính trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Mặt Trận Tổ Quốc: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Phản Đảng: Đảng Ơi, Họ Lại Diễn Trò Cũ Rích Rồi!  05-6-2019

Ra tay phá hoại bầu cử làm ứng cử viên Hoàng Hữu Phước không có đủ số phiếu bầu: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Tuổi teen: Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

VN Phạc Ma: Pharma  29-9-2019

Hoàng Hữu Phước Bái Phục Nguyễn Nguyệt Linh

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2019

Tất cả những trẻ em hạnh phúc ở Âu Mỹ đều xem bố của chúng là những anh hùng (My Dad is my hero!).

Tôi đã là một đứa bé hạnh phúc.

Tôi xem Ba của tôi là một vị anh hùng dù ông là người đứng chỉ cao đến vai tôi, không tham vọng vươn cao, luôn thanh liêm chính trực. Song, hơn tất cả những trẻ em hạnh phúc ở Âu Mỹ từ khai thiên lập địa đến nay chưa hề xem mẹ của chúng là gì, tôi xem Má của tôi là một bà tiên thông tuệ dù bà học chữ chỉ đủ để biết thêu tên các con lên áo sơ mi hoặc áo dài khi con còn ở tiểu học/trung học, và để đọc thư của các con gởi về từ hải ngoại.

Đức tính của vị anh hùng là dũng mãnh xả thân bảo vệ người yếu thế. Ba tôi đã xả thân (theo nghĩa bóng) bảo vệ gia đình (vợ là phụ nữ nên thuộc cộng đồng yếu thế, các con thơ dại nên cũng thuộc cộng đồng yếu thế, Hoàng Hữu Phước tiên sinh sinh thiếu tháng nên càng ở thế yếu) tồn tại vững vàng an toàn tuyệt đối dưới chiếc ô dù của đạo đức thiên Khổng trong cơn mưa như trút nước nặng hạt của bao bụi bẩn, bùn nhơ, mầm bệnh. Ba tôi cũng đã dũng mãnh xả thân (theo nghĩa đen) bảo vệ những đứa bé gái trên dọc đường gió bụi.

Đức tính của bà tiên là dịu dàng xả thân bảo vệ người yếu thế. Má tôi đã dịu dàng xả thân (theo nghĩa bóng) bảo vệ gia đình tồn tại vững vàng an toàn tuyệt đối dưới chiếc ô dù của đạo đức thiên Khổng trong cơn mưa trút nước nặng hạt của bao bụi bẩn, bùn nhơ, mầm bệnh. Má tôi cũng đã dịu dàng xả thân (theo nghĩa đen) bảo vệ những người nghèo khó hoạn nạn trông xóm hay trên vạn nẽo quan san. Còn sự thông tuệ nơi bà là bà đã quá thông minh khi đặt lòng tin tuyệt đối không bao giờ suy suyển vào đạo đức thiên Khổng của cha mẹ và của chồng, thực hiện được đạo đức ấy, truyền được vào tâm trí của đàn con niềm tin vào đạo đức ấy, và làm cả gia đình được tôn kính tôn trọng trong cả cộng đồng dân cư nơi cư ngụ.

Tôi xem Ba của tôi là anh hùng, và xem Má của tôi là bà tiên thông tuệ. Nhưng tôi chưa bao giờ nói tôi xem Ba tôi hay Má tôi là thần tượng của tôi cả.

Thế tôi đã xem ai tại Việt Nam và trên thế giới là thần tượng của tôi để tôi bái phục? Chẳng bất kỳ ai cả. Tôi có thán phục vài ba người Việt Nam – trong đó có Lý Thường Kiệt, Hồ Chí Minh, và Nguyễn Phú Trọng, nhưng chưa hề thán phục bất kỳ ai thuộc huyền sử Tàu hay chính sử Tây dù đó là Quan Vân Trường, Trần Huyền Trang, Bill Gates, Khổng Tử, hay Albert Enstein, v.v., sá gì mấy thằng giặc A-Léc-Xăng-Đờ-Rốt hoặc Ríc-cha Ních-xơn. Chưa kể, “thán phục” và “bái phục” một ai không có nghĩa xem người đó là “thần tượng”. Còn mọi người thuộc giới “công nghiệp giải trí” như ca sĩ, diễn viên, nhạc sĩ, v.v., tôi đều xem như giới mà tôi bỏ tiền ra mua vé hay mua dĩa để chính tôi được họ phục vụ khi nào tôi “quởn” nên còn khuya mới có ai trong cái giới ấy khuynh loát được tâm trí của tôi để tôi bảo họ là thần tượng của tôi.

Song, tôi vừa nghĩ mình vừa có thêm một nhân vật để thán phục và bái phục: đó là Nguyễn Nguyệt Linh.

Cần nói rõ Nguyễn Nguyệt Linh trong bài này hoàn toàn không phải là cô bé được nói đến trong mấy cái trang web như Gia Đình Việt Nam hay Báo Mới là hai trong nhiều nơi đã “chạy tít online” rằng “Bé Gái 6 Tuổi Viết Thư Gửi Các Trường Học Đề Nghị Không Thả Bóng Bay Ngày Khai Giảng”. Làm gì có “bé gái 6 tuổi” – tức mới học lớp 1 – nào ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam theo cái hệ thống và chương trình giáo dục sai bậy của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà lại viết được thư như thế cơ chứ!

Lý do đơn giản vì duy nhất chỉ có học sinh tiểu học Hoàng Hữu Phước ở Việt Nam Cộng Hòa là học sinh tiểu học xuất sắc về viết văn làm trưởng lớp suốt 5 năm tiểu học rồi kiêm trưởng ban báo chí khi lên lớp 4 và lớp 5 (ngày xưa gọi là từ lớp Nhì đến lớp Nhất) trường Phan Đình Phùng, Quận 3, Sài Gòn, nghĩa là Hoàng Hữu Phước  bắt đầu “viết văn làm báo” từ năm 9 tuổi thì vĩnh viễn không bao giờ có chuyện em bé 6 tuổi lớp 1 lại viết thư tâm tình trí tuệ tại Việt Nam hay trên thế giới tức giỏi hơn Hoàng Hữu Phước cả! Dứt khoát là vậy.

Vì vậy, cần nói rõ ở đây rằng: người mà Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thán phục bái phục là nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh học lớp 5 (tức chừng 10 tuổi) trường Marie Curie, Hà Nội, chứ không phải bé “6 tuổi” nào đó tên Nguyễn Nguyệt Linh.

Nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh học lớp 5 giỏi hơn nam sinh Hoàng Hữu Phước học lớp 5, vì nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh viết về một điều của tuổi thơ ở Việt Nam hòa quyện vào bầu không khí bao trùm địa cầu trong khi nam sinh Hoàng Hữu Phước chỉ viết bình giảng tục ngữ ca dao và về lòng yêu nước.

Trong thế giới nhiễu nhương tạp nhạp này, Nguyễn Nguyệt Linh trở thành một ngôi sao ngời rạng.

Hiện nay bọn báo chí không-ra-chi trên toàn thế giới đang rầm rộ đưa các thông tin về cô bé 16 tuổi người Thụy Điển tên Greta Thunberg như sau:

(a) Greta Thunberg cách nay một năm “biểu tình” một mình trước Quốc Hội Đan Mạch về biến đổi khí hậu;

(b) Ngày nay “biểu tình” của hàng triệu người ủng hộ Greta Thunberg diễn ra trên toàn thế giới Âu Mỹ;

(c) Greta Thunberg vừa được mời phát biểu trước các lãnh đạo Châu Âu về biến đổi khí hậu;

(d) Greta Thunberg tại Liên Hợp Quốc lên án các chính phủ đã đánh cướp tương lai của nhân loại đối với đại nạn biến đổi khí hậu.

Nhà chính trị Việt Nam đoan chính duy nhất hoạt động trên các diễn đàn quốc tế là Hoàng Hữu Phước đã có các phản pháo bằng tiếng Anh trên Twitter chống lại bọn lợi dụng Greta Thunberg với các ý chính như sau:

(a) Ngay cả gia đình Greta Thunberg, hàng trăm nghị sĩ Thụy Điển, dân cư thủ đô,  cũng không ai ủng hộ cô, nên mới có chuyện cô “một mình” ngồi cạnh một ba-lô và một tấm bảng “biểu tình”;

(b) Nhiếp ảnh gia chụp hình Greta Thunberg ngồi một mình đã không điện thoại báo gia đình cô, báo cơ quan cảnh sát, mà chạy bay về tòa soạn để “post” ảnh gây chấn động địa cầu, bỏ mặc cô bé “biểu tình” có nguy cơ trở thành nạn nhân của một vụ cưỡng dâm có thể xảy ra;

(c) Vậy liệu bức ảnh được chụp ấy có phải đã được dàn dựng công phu với gia đình cô ấy đứng sau lưng “nhiếp ảnh gia”;

(d) Thế quý vị “làm chính trị”, vậy cách nay một năm quý vị có ai “biểu tình một mình” như Greta Thunberg không, nghĩa là cả đám quý vị “làm chính trị” mà chẳng có ai nghĩ gì về vấn nạn biến đổi khí hậu hay sao mà khi thấy có Greta Thunberg xuất đầu lộ diện là quý vị vội “ăn theo” đăng đàn tuyên bố hung hăng để kiếm phiếu bầu hay sao vậy; và

(e) Hỡi cháu Greta Thunberg yêu quý, có vô thiên lủng thứ gây hại cho sự biến đổi khí hậu, từ xe cộ, máy điều hòa không khí, máy bay, tàu thủy, hàng không mẫu hạm, chăn nuôi gia súc và thú cưng, sản xuất thực phẩm, sản xuất thép, sản xuất xi-măng, cho đến thủ nghiệm vũ khí, thử nghiệm thuốc men, tiêu hủy vũ khí, tiêu hủy thuốc men, du hành vũ trụ, v.v. và v.v. Vậy cháu muốn chống cái nào và lờ đi cái nào đây?

Như vậy,

a– trong khi Greta Thunberg nữ sinh lớp 9 của Thụy Điển mặt mày hung tợn nhăn nhó hung hăng gằn giọng phát biểu nảy lửa chung chung cứ như đang được cha mẹ hoặc một thế lực nào đó mớm ý dọn đường cho đại cuộc trở thành một nữ chính trị gia tầm cỡ Thủ Tướng Đức (German Chancellor) Angela Merkel sau hai năm nữa đủ 18 tuổi; và

b– được báo chí Việt Nam nhơi lại, tụng ca thành nào là “nhà hoạt động”, nào là “biểu tượng chống biến đổi khí hậu của thế hệ trẻ”, nào là “đại diện cho nhiều triệu người trên thế giới”, nào là “nhà đấu tranh cho nhân quyền”, nào là “xứng đáng cho giải Nobel vì Hòa Bình”, thậm chí nhắc đi nhắc lại cụm từ “nữ sinh lớp 9 bỏ học để biểu tình nâng cao nhận thức về sự nguy cấp của biến đổi khí hậu”, và cụm từ “kêu gọi giới trẻ xuống đường”, v.v. và v.v., cứ như thể muốn tác động vào giới trẻ Việt Nam rằng hãy thực tập xuống đường cho quen dần với “thế giới” đi, để sau này làm chính phủ Việt Nam phải đổi thay vì chính phủ “có tội”; mặc dù

c– Hoàng Hữu Phước mới là người đã trên thực tế nhận ra trước tất cả người Việt Nam về đại nạn ô nhiễm môi sinh nên đã thường xuyên công khai chống cái gọi là “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” (do hoàn toàn không thấy có các hạng mục xử lý chất thải/nước thải tại tất cả các nhà máy dệt nhuộm, các nhà máy xi măng, các nhà máy luyện cán thép, các nhà máy thực phẩm, các nhà máy dược phẩm, v.v. tại Việt Nam mà Hoàng Hữu Phước của TICO LTD (Japan) và CIMMCO International (India) đã từng đến thăm để điều nghiên về nhu cầu trang thiết bị và đầu tư trong cuối thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước), cũng như chống “phát triển ngành công nghiệp không khói” (do hoàn toàn thất vọng khi thấy vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước các đầu não tham mưu của Đảng chỉ biết mạnh miệng hăng hái vô tư như trẻ nít nói về SSS tức Sea-Sun-Sex tức phát triển du lịch dựa trên thế mạnh về Biển, Nắng và Đĩ, mà chẳng ai biết “đĩ” có do Nhà Nước đầu tư đào tạo kiểm tra chất lượng hay không và rằng du lịch mà lấn đến đâu thì môi trường hủy hoại đến đó), đồng thời chống xuất khẩu gỗ tròn gỗ xẻ wood log & timber từ lúc nhận bản chào giá của Savimex (do từ “lớp 5” tiểu học ở Việt Nam Cộng Hòa đã biết rằng tàn phá rừng sẽ tàn hại môi trường gây lũ lụt sát hại nhân dân), và luôn chống phát triển thủy điện (do biết Việt Nam hoàn toàn không có các kỹ sư và nhà quản lý đức tài nào, các đại họa sẽ ra sao khi núi rừng bị tàn phá, dòng chảy bị can thiệp, và bản thân đập thủy điện bị vỡ vì bất kỳ lý do nào); thế nên

d– Hoàng Hữu Phước cho rằng biến đổi khí hậu là do tác động của sự hủy hoại môi trường và ô nhiễm môi sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp rầm rộ đại quy mô của các cường quốc và các hoạt động sản xuất công nghiệp lạc hậu của các quốc gia nhược tiểu nên (i) không bất kỳ công dân Âu Mỹ nào – kể cả nữ sinh lớp 9 Greta Thunberg của Thụy Điển – có quyền lên tiếng về vấn nạn biến đổi khí hậu với tư cách “lương tri nhân loại” vì chính đất nước của Greta Thunberg và bọn tương cận Thụy Điển đã góp phần vào vấn nạn ấy để nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế nhằm cung cấp cho đám trẻ như Greta Thunberg cuộc sống viên mãn; (ii) các nước Âu Châu sống bám vào Mỹ một cách đê tiện và hèn hạ như đã bị Donald Trump vạch mặt như không đóng góp ngân sách cho NATO, được miễn thuế xuất khẩu vào Mỹ nhưng đánh thuế cao hàng hóa nhập từ Mỹ, nên tất nhiên nhao nhao phản đối việc Donald Trump rút ra khỏi Thỏa Thuận Chung Paris trong khuôn khổ UNFCCC khiến Châu Âu mất phần tài trợ khổng lồ của Hoa Kỳ cho các chương trình thong thả xa xỉ nghiên cứu của EU về vấn đề cấp bách của biến đổi khí hậu; nên (iii) Việt Nam hãy vì chính sự sinh tồn của Việt Nam mà chấn chỉnh lại hoạt động sản xuất, du lịch, v.v. cũng như mỗi nước hãy tự chủ động để chứng minh bản thân là một chính phủ có trách nhiệm với chính sự tồn vong của dân tộc mình, thay vì vô lý vô đạo vô duyên vô trí chống việc Donald Trump khạc nhổ vào bản Thỏa Thuận Chung Paris trong khuôn khổ UNFCCC;

mà với tất cả những điều trên thì Hoàng Hữu Phước cho rằng chỉ có Nguyễn Nguyệt Linh của Việt Nam mới nêu một vấn đề cụ thể, hoàn toàn khả thi, cực kỳ chính xác, từ một nội hàm đúng sát với phát triển tư duy sinh học chan hòa tình cảm trong sáng thiết tha của một nữ sinh lớp 5 đối với một thú vui vốn bản thân luôn thuần quyện với chính tuổi thơ: các quả bóng bay đầy màu sắc mang dấu vết đặc trưng văn hóa, tuổi thơ, và hạnh phúc.

Những quả bóng ấy cũng đã hình thành cốt truyện tuyệt diệu của một phim hoạt hình khổng lồ tuyệt vời “Up” của Walt Disney ngự trị trong lòng tất cả trẻ em và phụ huynh

Kêu gọi sự lưu tâm của người lớn đến vấn đề những quả bóng bay tiến đến vứt bỏ hẳn việc thả bóng bay, Nguyễn Nguyệt Linh can đảm rứt bỏ khỏi lòng mình một thú vui thuần khiết trẻ thơ của một hạnh phúc nhỏ nhoi: được cha mẹ dẫn dạo tung tăng nơi công viên với cổ tay buộc sợi dây có quả bóng bay mà mẹ cha dã chuộng chìu mua cho con trẻ. Rời xa quả bóng bay chính là hành động hy sinh cao cả mà chỉ có lòng hướng thượng tự thân, lòng nhân hậu với tha nhân, lòng nhân từ dành cho muôn loài, và sự nhân văn mà bản thân chỉ khi vượt lên khỏi tầm vóc của tuổi tác nớt non mới thấu hiểu được những thông tin tiếp nhận được từ truyền thông về vấn nạn biến mất của các chủng loài đa dạng sinh học, sự biến dạng của bề mặt Trái Đất từ những can thiệp thô bạo của con người cho các công trình thủy điện và phát triển du lịch hay sản xuất, mà tất cả tác động đến sự biến đổi khí hậu, để từ đó có những khắc khoải muộn phiền thố lộ tâm tư.

Khi con người thấu thị Hoàng Hữu Phước nhìn những chùm bóng bay, ông chỉ nghĩ hạn hẹp đến việc an nguy của các chuyến bay và các đường truyền tải điện. Đó là vấn đề an nguy của những hành khách sử dụng đường hàng không, và an nguy của nguồn điện cho dân sinh và phát triển kinh tế. Ông không có được trình độ tư duy nhân hậu nhân văn bằng được như Nguyễn Nguyệt Linh đã có: vấn nạn Nguyễn Nguyệt Linh nghĩ đến là sự sinh tồn của loài vật từ ô nhiễm môi trường mà vấn nạn này cũng quan hệ nhân-quả rất rõ ràng và cụ thể nhãn tiền đến sự sinh tồn của cả nhân loại. Nguyễn Nguyệt Linh không đỗ trách nhiệm cho ai. Nguyễn Nguyệt Linh không vung nắm đấm như Greta Thunberg kết tội các nguyên thủ quốc tế mà nội hàm đương nhiên có cả nguyên thủ Việt Nam. Nguyễn Nguyệt Linh không hung tợn đốp chát chống nhà ái quốc vĩ đại Donald Trump tại Liên Hợp Quốc như Greta Thunberg. Sự việc do Nguyễn Nguyệt Linh nêu lên là sự việc nhỏ nhưng hoàn toàn khả thi đối với Nguyễn Nguyệt Linh bằng cách hy sinh quyền hạnh phúc tung tăng với quả bóng bay và cũng có thể trở thành khả thi đối với các trường học nào nhận được nơi Nguyễn Nguyệt Linh sự lay động lòng người, mà một khi đã giải quyết được nhờ tính khả thi đó thì không có lý gì mà không có thể nói rằng từng vấn đề một lớn hơn quả bóng bay rồi cũng sẽ được tiệm cận, xử lý, ổn thỏa, ổn định. Biến đổi khí hậu được cho là phần lớn từ tác nhân của ô nhiễm môi trường. Quả bóng bay tưởng chừng vô hại nhưng tiềm tàng khả năng góp phần không nhỏ vào vấn nạn ô nhiễm môi trường. Và quả bóng bay góp phần gây hại cho biến đổi khí hậu. Một thứ nhân-quả giản đơn như một lẽ chân lý tuy cao vời và xa vời vẫn hoàn toàn thích hợp với tư duy trẻ thơ. Đó là điểm khiến Nguyễn Nguyệt Linh đúng đắn hơn, dễ thương hơn, thuyết phục hơn, gây xúc động hơn nơi lòng người có-trí-hóa-cao.

Rồi sẽ có những nhà trường cho rằng thế thì hãy đổi thành những quả bóng không bay để sau các buổi lễ sẽ chọc thủng tất cả rồi cho vào thùng rác có dán nhãn phân loại rác.

Thế thì sao không làm như thế này nhỉ:

1- Mỗi trường tiểu học và trung học tặng quà cho mỗi học sinh trong ngày Lễ Tựu Trường;

2- Món quà ấy là những chiếc dù đơn sắc mang tính biểu tượng của sự chở che từ kiến thức, sự bảo vệ của ngành giáo dục, sự vững tay nắm bắt nắm giữ kiến thức, sự nâng niu trân trọng những gì mà nền giáo dục nước nhà dành cho, tốt hơn nhiều so với việc phát cho học sinh chiếc bóng bay vô nghĩa;

3- Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên phải đơn giản, nhỏ, và nhẹ, với kích cỡ nhỏ gọn như đường kính 40cm, đẹp rực rỡ nhưng không là gánh nặng chi phí cho nhà trường;

4– Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên có in chữ thật nhỏ trên dù chi tiết tên trường và niên khóa để học sinh lưu trữ như kỹ vật chứ không để sử dụng che nắng che mưa và không là thứ để nhà trường quảng cáo;

5– Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên phải có màu đơn sắc như các quả bóng bay, tuyệt đối tránh việc nhà trường “phát huy sáng kiến” tạo hoa văn để tạo sự khác biệt giữa trường nhà với trường bạn;

6– Vào buổi Lễ Tựu Trường – tức Lễ Khai Trường cho năm học mới – các học sinh tập trung trên sân đều giương dù lên tạo cảnh đẹp rực rỡ nếu nhìn từ trên cao xuống;

7– Khi xong phần nghi lễ chính thức, có thể phát hiệu lệnh để các học sinh tung dù lên không – như học sinh trong lễ tốt nghiệp tung mão lên không – rồi chụp lại với nhận thức rằng chiếc dù nào màu sắc cũng đẹp và chiếc nào mình chụp được từ rừng dù tung lên rơi xuống mới là chiếc làm vật kỷ niệm trên kệ nơi góc học tập ở nhà cho mỗi năm học của mình; và

8– Mỗi trường cũng có thể treo dù giăng ngang sân trường như ảnh dưới đây và sau phần nghi lễ sẽ là thời điểm cắt dây để dù (dù nhỏ và nhẹ) rơi xuống cho học sinh chụp lấy thay vì phát cho mỗi học sinh khi vừa bước vào cổng trường dự lễ.

Nguyễn Nguyệt Linh đương nhiên cao quý hơn Greta Thunberg.

Nguyễn Nguyệt Linh thua Greta Thunberg chỉ ở chỗ Greta Thunberg có trò dàn dựng của truyền thông và sự tận dụng thời cơ ăn theo của bọn đầu cơ chính trị và của cả bọn thất nghiệp và đám trẻ ham vui đông vô kể không biết làm gì nên xuống đường la lối cho có miếng ăn (phát miễn phí ở nơi tụ tập) và vé xe buýt.

Nguyễn Nguyệt Linh còn thua Greta Thunberg ở chỗ Greta Thunberg không nói tiếng Việt.

Nguyễn Nguyệt Linh có tấm lòng. Nguyễn Nguyệt Linh có khả năng diễn đạt giỏi bằng tiếng Việt. Đó luôn là cơ sở để Nguyễn Nguyệt Linh giỏi tiếng Anh – theo kinh nghiệm và biện luận thuyết của Hoàng Hữu Phước về “học giỏi Tiếng Anh”.

Nguyễn Nguyệt Linh không cần – và không nên phí thời gian – quan tâm đến Greta Thunberg hay những cái phiếm phù mà thiên hạ đang ngợi ca Greta Thunberg. Đơn giản vì Nguyễn Nguyệt Linh thuộc một đẳng cấp khác, cao quý hơn nhiều. Đơn giản vì Greta Thunberg sẽ y như quả bóng bay màu sắc rực rỡ với sự tồn tại hoàn toàn vô nghĩa lý insignificant nonentity, trong khi Nguyễn Nguyệt Linh là chiếc dù rực rỡ sắc màu của đức hạnh. Đơn giản vì Greta Thunberg nếu có tiếp tục “hoạt động” như hiện nay thì quả bóng có bay cao cũng nổ xẹp rồi biến mất vào hư không nothingness của trò chơi chính trị, trong khi Nguyễn Nguyệt Linh nếu vẫn tiếp tục là trẻ thơ như hiện nay với lòng nhân hậu trưởng thành rồi dần trưởng thành theo năm tháng thì Nguyễn Nguyệt Linh sẽ là một khởi phát văn tài. Có xuất phát điểm như vậy, Nguyễn Nguyệt Linh sẽ ở trên vị trí cao vời mà một nữ giáo viên nọ dù lớn tuổi và chẳng biết lượm đâu ra cái bằng thạc sĩ Văn chỉ để đẻ ra trên mạng “chùa” một bài thơ rác rưởi cẩm ca cẩm lẩm hạ đẳng.

Giá như Viêt Nam còn có người thứ hai như Hoàng Hữu Phước ở Hà Nội để có thể giúp Nguyễn Nguyệt Linh thành nhà hùng biện tiếng Anh, vì ngoài Hoàng Hữu Phước thì không bất kỳ giáo viên nào của bất kỳ trường nào tại bất kỳ quốc gia nào có thể luyện Nguyễn Nguyệt Linh thành nhà hùng biện tiếng Anh và nhà văn nhà thơ tiếng Anh cả. Song, chỉ cần Nguyễn Nguyệt Linh đừng để bị cuốn hút vào các mạng xã hội rẻ tiền như Facebook và các mạng xã hội của các nước khác kể cả bất kỳ mạng xã hội nào của Việt Nam rồi dành thời gian áp dụng cẩm nang của Hoàng Hữu Phước, thì việc vươn lên về học vấn nói chung và ngoại ngữ nói riêng ắt sẽ vẫn trong tầm tay của Nguyễn Nguyệt Linh.

Và nếu như một Nguyễn Nguyệt Linh tâm đắc các lưu ý của Hoàng Hữu Phước rằng

(a) “biểu tình” dưới dạng xuống đường– kể cả các cuộc “xuống đường” của sinh viên học sinh Sài Gòn trước 1975 – là hành động hạ cấp hạ tiện và hạ đẳng vì gây cản trở giao thông, gây thiệt hại cho dân nghèo kiếm sống trên lề đường, đe dọa sinh mệnh sản phụ và bịnh nhân trên đường cấp cứu; và luôn là hành động vô hiệu, vô dụng, thuần phá hoại của bọn bất tài vô dụng; nhất là khi

(b) đang có sự bùng phát cái quỷ quái gọi là “mạng xã hội” vậy sao không “biểu lộ tình cảm” trên không gian mạng đi; chưa kể

(c)  đang là thế kỷ XXI với bao điều khoe khoang kỳ vĩ về tri thức, về trí thức, về văn bằng, về văn minh, về văn hóa văn vật văn vẻ, thì sao không trổ tài thảo ra các kiến nghị gởi đến đúng người đúng nơi; vì rằng

(d) lẽ nào đã xóa nạn mù chữ mà vẫn chưa đọc hoặc đọc không hiểu các bài viết của Hoàng Hữu Phước về “biểu tình” để biết Singapore trở thành cường quốc kinh tế nhờ tuyệt đối cấm “biểu tình”;

thì Nguyễn Nguyệt Linh sẽ không để bị lôi kéo vào những chiếc bẫy chính trị vốn đã nặn ra những hình hài vô dụng như Lê Công Định, Vu Cu (hình như trước khi thành người Mỹ thì có tên Vũ họ Cù), hay “Ngộ Quá Bà Bà” mà thôi.

Nguyễn Nguyệt Linh cứ vui hưởng tuổi thơ, và hãy để những hoa đức hạnh tự thân rộ nở tự nhiên theo thời gian. Đây mới là điều giúp đất nước này có được Nguyễn Nguyệt Linh làm gương sáng.

Kính cảm ơn hai đấng sinh thành của Nguyễn Nguyệt Linh đã cho Việt Nam được quyền kỳ vọng vào tiềm năng một nhân tài.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Anh hùng: Anh Hùng 29-11-2018

Cẩm nang của Hoàng Hữu Phước: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước 20-5- 2019

Chống phát triển thủy điện: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Đẻ ra trên mạng chùa một bài thơ cẩm ca cẩm lẩm hạ đẳng: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Hoàng Hữu Phước là học sinh tiểu học xuất sắc: Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi  11-8-2019

Hoàng Hữu Phước tiên sinh sinh thiếu tháng: Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo  24-10-2017

Học giỏi tiếng Anh: Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam  10-01-2016

Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam 11-9-2015

Hư không Nothingness: Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai 10-11-2014

Ngộ Quá: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng  14-02-2016

Lê Công Định: Tôi Và Lê Công Định  22-9-2014

Lý Thường Kiệt: 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975  30-5-2011

Singapore: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore 23-02-2016

Trưởng lớp suốt 5 năm tiểu học và kiêm trưởng ban báo chí: Đố Vui Để Học 18-3-2018

Tung mão: Hướng Dẫn Của Hoàng Hữu Phước Về Đội Mão  15-5-2019

Vu Cu: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011  18-5-2014

Vấn Nạn 567 Từ Cơ Quan Điều Tra Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-9-2019

Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước – tức Thế Kỷ XX – khi thế giới chưa ai nghe nói gì về chữ “internet” hay “world wide web” thậm chí cũng chưa biết là sẽ có thời điểm sẽ lòi nhú ra một cái đầy mê muội gọi là bốn-chấm-không dù trước đó không hề có một/hai/ba-chấm-không quái gì cả; còn Việt Nam chưa có các mục quảng cáo bất kỳ trên báo chí hay truyền hình, chưa người dân nào dám hó hé mở mồm hát hoặc công khai nghe “nhạc bolero”, thậm chí khách sạn chưa cho phép hai người khác phái ở chung phòng nếu họ không “xuất trình giấy đăng ký kết hôn”, và xã hội Việt Nam chưa có “luật sư” do chưa có đại học nào có Khoa Luật nên chỉ mới có “luật gia” mà tiêu chuẩn để làm “luật gia” và “thẩm phán” là có “đạo đức cách mạng” chứ không phải có văn bằng tốt nghiệp khoa Luật, thì tôi đã tận dụng cơ hội khi dạy môn Văn Minh Anh British Civilization (tức cái mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gọi là Đất Nước Học Anh) thấy có xuất hiện chữ MP trong giáo trình là tự động tự tung tự tác tự quyết định ứng khẩu thuyết trình luôn một mạch về MP, MOCNAR, nên có thể nói chắc chắn một-tỷ-phần-trăm rằng sinh viên của Hoàng Hữu Phước là những người Việt Nam đầu tiên được nghe nói đến đầy đủ và được nghe giải thích tường tận bằng tiếng Anh về sự khác nhau về tổ chức và tên gọi giữa các cơ quan lập pháp – tức “quốc hội” –  của ba siêu cường chính trị tiêu biểu mẫu mực hoàn toàn khác nhau trấn giữ thế ba chân vạc khác nhau gồm Anh ở Châu Âu, Hoa Kỳ ở Châu Mỹ, và Việt Nam ở phần còn lại của thế giới, mà trong đó cơ cấu của Mỹ và Việt Nam là độc nhất vô nhị trên thế gian này không hề có thể chế chính trị nào tương tự cả.

Với tư thế tiên phong như thế trên mặt trận tri thức lập pháp, tác giả bài viết này là “nhà làm luật” duy nhất có trình độ “làm luật” ở Việt Nam, do đó, có đầy đủ tư cách, trình độ, tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm, để cho ra các nhận xét khoa học, nghiêm túc, chính xác, và đầy đủ về hoạt động “cho ra kết luận điều tra” của Cơ Quan Điều Tra của Việt Nam.

A) 5 Điệu Múa

Từ xa lắc xa lơ, chữ Hán-Việt của “múa” là “vũ”.

Gần đây thôi, Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước có sử dụng trong một bài viết một câu thơ Hán-Việt “Phượng Loan Minh Vũ Nghê Thường Khúc” với chữ “vũ” nghĩa là “múa”. Cần nói thêm rằng câu thơ Hán-Việt trên là của Cử nhân Anh Văn Đàm Dược Côn, giáo sư trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn (đường Bùi Chu, Sài Gòn – nay  là trường Bùi Thị Xuân đường Bùi Thị Xuân, Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh), mà giáo sư ngâm trổ tài thi phú với Hoàng Hữu Phước là người học trò mà ông thấu thị vài chục năm sau sẽ “công khai” đứng đầu thiên hạ ở nước Nam này cả về thơ văn tiếng Anh và thi ca tiếng Hán-Việt. (Câu thơ đầy đủ của Thầy Đàm Dược Côn là:  “Phượng Loan minh vũ Nghê Thường khúc, Hoan lạc nhân gian đệ nhất chi”). Cần nói thêm rằng tôi chỉ thích hai vũ điệu “Tây” của hai anh môi hở răng lạnh là “Twist” của Mỹ do đặc tính độc lập sinh động dữ dội của nó và nhạc của nó, và Cha-cha-chá của Cuba do đặc tính độc lập sinh động dứt khoát của nó và nhạc của nó mà thôi. Còn mấy thứ khiêu vũ linh tinh nhũn xèo lệ thuộc như Waltz, Rumba, Mambo, Lambada, Merengue, Salsa, Cumbia, Tango, v.v. của thế giới, hay như khiêu khích nhảy múa diễn cướp ngang nhiên phạm pháp của Việt Nam mà tôi gọi là vũ điệu Rob-in-Hood (tức bọn cướp đội mũ trùm láu cá nhập nhằng đánh lận con đen với Robin Hood) thì tôi xem như thứ chả hay ho gì sất.

Vài năm trở lại đây có nhiều vụ múa may diễn cướp ngang nhiên phạm pháp giữa ban ngày thanh thiên bạch nhật ở Việt Nam mà trong những thằng những con thuộc “cõi trên” múa may phạm pháp giữa ban ngày đó có nhiều đứa họ hoặc tên và, tất nhiên, cùng những tên tương cận với đám phạm pháp này dù trong sinh vật học thì chúng thuộc những chủng loài khác nhau như giáp xác, bò sát, lưỡng cư, sâu bọ, tôm càng đỏ, ốc bươu vàng, bửa củi, hóa thạch, v.v., chứ không thuộc họ hoặc có tên gì cả.

Mới nhất là vụ của một tên vũ công Rob-in-Hood múa may phạm pháp giữa ban ngày có tên dịch ra tiếng Hán-Việt là Nhật Vũ.

Nếu đọc nội dung kết luận điều tra của cái gọi là “cơ quan điều tra” (như đăng trên “Tuổi Trẻ Online”) thì chỉ với mỗi vụ Nhật Vũ thôi thì “nhà làm luật Khóa XIII” Hoàng Hữu Phước đã nhận thấy kết luận ấy mặc trang phục xuyên thấu trên thảm đỏ để lòi nhú ra những 5 vũ khúc múa may loạn xạ gồm:

1– Chiếm đoạt tài sản Nhà Nước đương nhiên là chiếm đoạt tài sản của quốc gia dân tộc, nhưng chẳng bao giờ Nhà Nước dại dột công khai tuyên bố khẳng định tiền của Nhà Nước chính là tiền của quốc gia dân tộc vì theo lẽ đạo đức thường tình thì kẻ nào dám động đến tiền quốc gia dân tộc dứt khoát phải đối mặt với mỗi án tử hình mà không có kèm theo bất kỳ điều kiện kỳ quái nào gọi là “khắc phục hậu quả” để được giảm nhẹ hình phạt cả.

2– Các nhân vật quyền bính sử dụng quyền lực để thu lợi bất chính từ nhận hối lộlại quả nhưng Việt Nam không bao giờ coi hối lộ cùng nhận hối lộlại quả thuộc chung phạm trù với tham nhũng để xử tội nghiêm khắc cùng thang bậc y như tham nhũng.

3– Đem một phần tiền tham nhũng hoặc tiền múa cướp Rob-in-Hood đi bố thí chùa cho “Chùa” – không được cho “Nhà Thờ” – và cung cấp một phần tiền tham nhũng/ múa cướp Rob-in-Hood cho các phong trào xã hội của Nhà Nước sẽ được Cơ Quan Điều Tra xem là vô cùng thánh thiện y như Robin Hood rất xứng đáng được tính đến như những tình tiết giảm nhẹ nếu chẳng may bị phát hiện tham nhũng hoặc múa cướp Rob-in-Hood.

4– “Có công với cách mạng” đồng nghĩa với việc cả dòng họ có đặc quyền phạm pháp phạm tội trong ít nhất là một thiên niên kỷ, tức 1.000 năm.

5– Việt Nam quý trọng nhất thế giới nên chỉ cần nộp 500 triệu đồng Việt Nam khi chẳng may bị phát hiện tham nhũng (tức đồng nghĩa với hối lộ/nhận hối lộ/lại quả) 3 triệu USD sẽ được tự động xem như đã khắc phục hậu quả xong vì 500 triệu đồng có đến 9 chữ số so với 3 triệu USD chỉ có 7 chữ số, và vì Việt Nam chiến thắng đế quốc Mỹ nên Việt Nam là đại siêu cường quốc và đồng tiền Việt Nam là siêu tệ tức “tệ rất siêu” so với đồng tiền Mỹ chỉ là cái thứ tệ tệ tức “tệ rất tệ”.

5 vũ điệu Khinh Thường Khúc trên không những được ưa chuộng bởi tất cả các kẻ tham nhũng/hối lộ/nhận hối lộ/lại quả mà còn bởi các cơ quan điều tra tố tụng Việt Nam vì

(a) Bên đại quan thì hoặc hạ cánh an toàn do không bao giờ bị bại lộ, hoặc nếu “hy sinh đời Bố/cũng cố đời con” lấy thì vô thiên lủng trả lại thì chút ít thì cũng chỉ “hy sinh vì đại nghĩa” nín thinh chịu có vài năm sống đế vương trong tù ngục để dòng họ sống đế vương ngoài tù ngục cũng như để “nhóm quyền lực” không bị vạ lây, còn

(b) Bên Điều Tra thì tận dụng “luật pháp nhũn xèo” ra tay cứu gỡ tội trạng tội danh cho các đại quan, với sự nhận thức rất rõ ràng rằng ta đây (i) sẽ được bề trên cất nhắc thậm chí được Mặt Trận Tổ Quốc hoan hỷ cho vào Quốc Hội; (ii) sẽ được bề trên cứu nguy tương tự nghĩa là nếu bản thân cũng táy máy ngân khố y theo sách của đại quan mà xui xẻo bị bại lộ sớm thì bề trên sẽ trả ơn bằng cách cho hưởng y như nêu ở a ở ngay trên đầu đoạn này; và (iii) bất khả xâm phạm vì thân nhân có “công với cách mạng”, nhân thân có nhiều “đóng góp” cho sự phát triển của ngành dù chỉ phát triển theo chiều ngang tức bung tòe loe tanh banh, và bản thân có đem tiền ăn cướp tàn nhẫn trên xương máu và tương lai của dân tộc để thành tâm đãnh lễ dâng cúng cho chùa cầu an cho bá tánh và tặng cho nạn nhân chiến tranh/thiên tai để chứng minh Nhà Phật thật sự có luật nhân-quả lãng xẹt.

B) 6 Vấn Nạn Luật Pháp Việt Nam

Nguồn cơn tạo nên các sự múa may phạm pháp giữa ban ngày Rob-in-Hood như nêu trên sẽ dễ dàng khiến người dân có ngay mối hoài nghi rằng phải chăng đó là do mưu đồ của ai đó trong số các lãnh đạo của các thời kỳ muốn vừa

(a) vinh danh bản thân/gia đình/dòng họ để tranh phần với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ; vừa

(b) tạo khuôn luật pháp cung cấp sự an toàn tuyệt đối cho bản thân/gia đình/dòng họ, tức một kiểu tân-gia-đình-trị phi-gia-đình-trị (non-nepotistic neo-nepotism), tức không có việc truyền ngôi kế tập cho cá nhân một dòng họ nhưng có sự phát ban cho một tập thể Đảng rất nhiều cá nhân Đảng viên những tấm “miễn tử kim bài” (tức tha khỏi tội tử) núp ẩn trong các mật lệ của Đảng và công điều của tất cả các bộ luật có-liên-quan của quốc gia để bản thân cả nhóm đông người của họ/tất cả các gia đình của họ/tất cả các dòng họ của họ được “bất khả xâm đại phạm” (tức tội nếu chẳng may bị bại lộ sẽ không chịu án nặng); và vừa

(c) hình thành nhóm tinh hoa chính trị elite yên tâm hành sự vì được bảo vệ tuyệt đối bởi luật pháp nhũn xèo để hân hoan trung thành đối tuyệt.

Những chiêu trò luật pháp trong lập pháp ở Việt Nam không bao giờ là khả dĩ khả thi nếu như đất nước đã không gặp phải những vấn nạn sau đây.

1- Vấn Nạn Nhà Làm Luật Tay Mơ

Khi giảng dạy về hoạt động và tên gọi các Quốc Hội khác nhau của các thế lực chính trị khác nhau như Quốc Hội Mỹ Congress, Quốc Hội Anh Parliament, và Quốc Hội Việt Nam National Assembly, chỉ mới 6 năm sau Ngày Giải Phóng 30-4-1975, tôi đã lưu ý sinh viên của tôi rằng có một điều luôn giống nhau ở cả ba thế lực chính trị này: tất cả các nghị sĩ đều đương nhiên được gọi là những nhà chính trị và là những law-makers tức “nhà làm luật”.

“Nhà làm luật” law-maker tức nghị sĩ quốc hội dù Việt Nam gọi là RNA Representative of National Assembly, Mỹ gọi là MOC tức Member of Congress, còn Anh Quốc gọi là MP tức Member of Parliament, v.v.

“Nhà làm luật” hoàn toàn không dính dáng gì đến nghề nghiệp “luật sư”.

Trong một bài viết trước đây cũng trên blog này, tôi đã cung cấp số liệu thống kê những nghị sĩ đã hình thành nên bản Hiến Pháp Hoa Kỳ thuộc các nhóm nghề nghiệp nào, trong đó có một số đông chủ nô lệ, sĩ quan, thương nhân, cộng với hai ba “luật sư”, hai ba vị “có học luật nhưng không hành nghề luật”, v.v.

Cũng trong bài 9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam, tôi đã nêu các yếu kém của tuyệt đại đa số các “nhà làm luật” ở Việt Nam.

Trong bài này, tôi có các biện luận mới như sau:

Bác sĩ là người được đào tạo để chăm sóc sức khỏe khách hàng (bịnh nhân), giúp khách hàng vượt qua bịnh tật, bất kể khách hàng là thường dân hay tử tù, miễn được thanh toán chi phí bất kể từ tiền của khách hàng hay của cơ quan bảo hiểm y tế. Bác sĩ không tự tay chế ra ống nghe, ống tiêm, kim tiêm, chai dịch truyền, ống dẫn dịch truyền, kềm nhổ răng, máy chạy thận, máy chụp cắt lớp, v.v. Tương tự, giáo viên không tự mình rặn đẻ ra các định luật toán học, đặt tên cho các hành tinh, lặn xuống đáy biển thám hiểm đo đạc hố sâu nhất ở Thái Bình Dương, cũng như không mày mò đẻ ra tiếng Anh để dạy học môn tiếng Anh, không viết Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để dạy môn Sử. Và cũng tương tự, “luật sư” là người được đào tạo để chăm sóc quyền lợi khách hàng (nguyên đơn hay bị đơn), tận dụng các khe hở của luật pháp sẵn có để giúp khách hàng vượt qua tội danh để hoặc trắng án hoặc chịu án nhẹ nhất có thể được, bất kể khách hàng là thường dân hay tội phạm xuyên quốc gia thủng biên giới, miễn được thanh toán công xá bất kể từ tiền của khách hàng hay của cơ quan pháp luật Nhà Nước, chứ không bao giờ có chuyện luật sư là người soạn/viết/làm luật.

Như vậy, nhà làm luật – theo nội hàm phổ biến đương nhiên ở các nước văn minh – đơn giản là người (a) quan tâm sâu sắc đến việc “làm chính trị trong môi trường nghị viện” với “làm chính trị” chỉ mang ý nghĩa “chính thức phục vụ quốc gia và quốc dân về mặt lập hiến và lập pháp”; vì quan tâm nên người ấy (b) đầu tư nhiều nhất trong thời gian dài cho tri thức tổng hợp về các hoạt động đa dạng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và nền chính trị xã hội quốc gia trong tương quan với khu vực/thế giới/tổ chức song phương/tổ chức đa phương, trong đó có các bộ luật các quốc gia và các bộ quy tắc quốc tế thành văn trong xử lý các tranh chấp thương mại hoặc chủ quyền, rồi (c) sử dụng sự hiểu biết ấy vào công việc chính thức của mình để tích lũy kinh nghiệm và thu hoạch kết quả cũng như truyền bá/sẻ chia sự hiểu biết cùng tri thức ấy với vai trò tương đương một nhà tư vấn dù tại doanh nghiệp/cơ quan/trường học/lực lượng vũ trang, từ đó (d) tạo dựng tên tuổi được đủ số người dân biết đến để họ trở thành “cử tri” riêng khi bản thân đến thời điểm (e) quyết định dứt khoát từ bỏ công việc chính thức của mình để ứng cử vào nghị viện nước mình hầu theo đuổi bước đường “làm chính trị trong môi trường nghị viện”.

Theo 5 chuẩn mực trên, Quốc Hội Việt Nam chỉ có mỗi nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là “nhà làm luật” đúng nghĩa nhất. Kỳ dư, tuyệt đại đa số đại biểu quốc hội Việt Nam không có chất lượng cao do bị trì trệ bỡi 5 điểm đặc biệt chung sau:

(a) Không bất kỳ ai hoặc từ nhỏ hoặc từ lúc bước chân vào đời cho một cuộc sinh nhai đã quan tâm đến việc sẽ “làm chính trị trong môi trường nghị viện” với “làm chính trị” chỉ mang ý nghĩa “chính thức phục vụ quốc gia và quốc dân về mặt lập hiến và lập pháp”; vì không từng quan tâm nên

(b) Không bất kỳ ai đầu tư nhiều nhất trong thời gian dài và liên tục cho tri thức tổng hợp về các hoạt động đa dạng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và nền chính trị xã hội quốc gia trong tương quan với khu vực/thế giới/tổ chức song phương/tổ chức đa phương, trong dó các bộ luật các quốc gia và các bộ quy tắc quốc tế thành văn; chẳng qua vì

(c) Họ tuyệt đại đa số là Đảng Viên nên không bất kỳ ai có quyền tự ra ứng cử nghị viện mà phải tùy vào sự phân công của Đảng trong từng nhiệm kỳ Quốc Hội; và chính vì sự lệ thuộc vào việc “Đảng đặt đâu thì ngồi đó” này mà

(d) Không bất kỳ ai trong số họ tạo dựng được tên tuổi bất kỳ về “làm chính trị” để tạo cho mình có được đủ số người dân biết đến để những người dân này trở thành “cử tri ruột” cả, mà người dân chỉ biết khi đọc giới thiệu đầy hào quang trong danh sách ứng cử viên của mỗi kỳ bầu cử do Ủy Ban Bầu Cử phối hợp với Mặt Trận Tổ Quốc biên soạn;  chưa kể

(e) Không bất kỳ ai phải từ bỏ công việc chính thức của mình trừ phi được Đảng phân công làm Trưởng/Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội địa phương hoặc làm “đại biểu chuyên trách” các ủy ban Quốc Hội trung ương.

Chính vì hệ thống quy trình không chuyên nghiệp như vậy mà các “nhà làm luật” Việt Nam có 4 công việc chính là (i) lắng nghe trình bày các dự án luật do các Bộ có liên quan soạn sẵn, (ii) đọc phát biểu ý kiến tại nghị trường – mà theo bài bản văn bản quy trình của Bộ Tài Chính áp dụng cho Quốc Hội thì bài phát biểu đó là do sử dụng tiền Bộ Tài Chính để thuê “chuyên gia” viết giúp – hoặc tại tổ, (iii) nhấn nút thông qua dự án luật, và (iv) tiếp xúc cử tri để lắng nghe hoặc ý kiến cử tri để chuyển ra Thường Vụ Quốc Hội hoặc những chưởi bới của cử tri do đã có quá nhiều nghị sĩ lắng nghe qua quá nhiều Khóa Quốc Hội mà chả có giải quyết hay hướng dẫn xử lý gì cả.

Và cũng vì rất nhiều năm thiếu đầu tư chất xám cho “làm chính trị nghị viện”, không kinh nghiệm làm việc chuyên môn, chẳng nghiên cứu luật quốc tế có liên quan đến công việc chuyên môn ấy, nên (a) các bộ luật được các “nhà làm luật từ trên trời rơi xuống” này thông qua có tính khả dụng rất ngắn hoặc chưa đến thời hiệu áp dụng đã phải tu chỉnh; còn (b) các nghị sĩ có những người như trẻ thơ như khi nói về một luật quan trọng như Luật Biểu Tình chẳng hạn thì phát biểu oe oe giữa nghị trường rằng “thiên hạ biểu tình rất lịch sự thì Việt Nam cũng biểu tình được như vậy!”; (c) có nghị sĩ Chủ Tịch Công Đoàn Lao Động Việt Nam tự nhiên giựt mình sủa ăng ẳng giữa nghị trường về đại công của những “anh hùng Việt Nam Cộng Hòa” trong cái hoang đường gọi là “Hải Chiến Hoàng Sa”; trong khi (d) nghị sĩ khác thì do không hề đọc luật nên son phấn đậm đà đẫy đà như lạc đà lỡ đà đi lạc chui vào lỗ kim nhỏ xíu xìu xiu vô ngồi chình ình trong lòng Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam dưới thời một tên chủ tịch bất tài vô dụng để làm Phó Chủ Tịch Mặt Trận cho nó rồi cùng chồng và các con của ả lẻn nhập quốc tịch nước khác chờ ngày bôn tẩu; thậm chí (e) có nghị sĩ nắm quyền bính cực cao ở Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ biết vắt óc ngày quên ngủ đêm quên ăn để cuối cùng hý ha hý hửng hí vang trời đất khi tìm ra được phương pháp bịt miệng Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước bằng cách cà õng cà ẹo thị uy quát tháo Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập; ôi thôi đủ thứ bi hài v.v. và v.v. tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh vĩ đại.

Chính toàn là dân làm luật tay mơ nên mới đẻ ra những bộ luật nhũn xèo, tạo điều kiện cho các tay mơ làm chuyện chuyên nghiệp chuyên lừa Đảng, lừa Chính Phủ, lừa dân.

Chính vì có những bộ luật nhũn xèo mà Cơ Quan Điều Tra mới có cơ sở để kiến nghị áp dụng luật nhũn xèo ấy vào các trường hợp đại quan bị bại lộ đang làm trò cười cho thể chế quốc gia, thể thống quốc thể, và thể diện quốc dân trên trường quốc tế.

(Ghi chú: trường quốc tế ở trên không phải là trường quốc tế ở chỗ link này đâu

2- Vấn Nạn Học Đòi Tư Bổn Nửa Vời

Thủa mới xuất hiện cái gọi là điện thoại di động mobile phone (mà nếu áp dụng công thức chế tạo từ mới hiện nay thì phải gọi thứ phone đó là điện thoại ngu đần do chỉ có phone hiện nay mới có tên “điện thoại thông minh”), ngòai đường phố Thành Phố Hồ Chí Minh xuất hiện lắm kẻ quê mùa từ thằng thương nhân mặt mũi Đài Loan hay Singapore đi bộ ngoài đường tay cầm cục gạch tổ bố (mobile phone) để khoe khoang dù quàng cặp da sang trọng toòn teeng trên vai cho đến mấy con nhóc chạy xe máy một tay nắm ghi-đông xe rồ máy một tay cầm cục gạch bố tổ (mobile phone) cũng để khoe khoang dù máng giỏ xách toòn teeng ở ghi-đông. Hoàng Hữu Phước giám đốc FOSCO là bậc trưởng thượng quý tộc sang trọng nên hoặc đút luôn cục gạch tổ bố (mobile phone) vào túi quần hoặc nếu áy náy không muốn gây sự chú ý nơi phụ nữ trước cái sự cồm cộm khiêu khích lộ lồ ấy thì nhét luôn cục gạch vào chiếc cặp da Samsonitechị tôi bên Mỹ – người chị bị đuổi khỏi Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh vì dám mặc áo dài trắng tiểu tư sản đến trình diện “nhà trí thức cách mạng” đại diện Ủy Ban Quân Quản đến tiếp quản Đại Học Sư Phạm ngày 02-5-1975 như đã kể ở bài trước – gởi tặng.

Rồi đất nước lại xuất hiện lần lượt trước sau hai đám quê mùa hiện đại sau 30-4-1975 gồm:

a) Đám quê mùa thứ nhất là đám trong chiến tranh đi học đại học ở các nước xã hội chủ nghĩa, chưa từng ngày nào ăn cơm nắm dưới hầm trú bom cùng với nhân dân, để rồi sau giải phóng chiếm luôn các suất du học tư bổn thấy cái gì của tư bổn cũng tuyệt đẹp hơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa và hơn đất nước điêu tàn ở quê nhà, từ đó mơ màng đến các điều vĩ đại như bãi bỏ án tử hình, bãi bỏ sử dụng nhục hình, bãi bỏ lao động khổ sai, đề cao giáo dục giới tính, đòi hỏi luật hóa đĩ, v.v. và v.v. Tiêu biểu của đám này là bọn dở hơi ở lứa tuổi 50-70 hiện diện trong vị trí lãnh đạo/nguyên lãnh đạo ngay cả tại cơ quan lập pháp và truyền thông chính thống.

b) Đám quê mùa thứ hai là đám sinh ra sau 30-4-1975 có cơ hội kép từ (i) tổng hợp công gồm các siêu dự án ồ ạt “đào tạo nhơn tài” là con đỏ của các tỉnh thành nhớn từ tiền thuế của dân đen và các chính sách của Đảng và Nhà Nước trong tuyệt đối sùng bái bằng cấp từ chương; và từ (ii) tổng hợp tư gồm điều kiện làm giàu thông thoáng, việc du học là chuyện tài chính riêng của cá nhân và gia đình, và các trường đại học trên toàn thế giới tư bổn đồng loạt hạ cấp nghĩa là chấp nhận luôn chuyện du học thạc sĩ không cần giỏi tiếng Anh trước và không cần đã kinh qua quá trình làm việc thực thụ sau cử nhân. Tiêu biểu của đám này là bọn dở hơi ở lứa tuổi như Lê Công Định hay Ngô Di Lân trở về sau này, đứa nào cũng ngợi ca tự do – dân chủ nhơn quyền, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do biểu tình, xã hôi dân sự, mô hình giáo dục đào tạo của tư bổn, và đặc biệt là “làm chính trị để làm loạn” chống chính phủ, v.v. và v.v.

Chính bởi cái gốc của bọn quê mùa này là hoặc mục ruỗng trống phoọc do mối mọt hoặc là rau muống vừa rỗng ruột vừa có rễ chả bám vào đâu cho ra hồn ra vía nên dù có bằng cấp tư bổn, những thứ chúng tiếp thu được lại là thứ nửa vời, thảo nào với số lượng đông lúc nhúc các “nhơn tài” thạc sĩ/tiến sĩ tư bổn như thế mà đất nước Việt Nam này cứ mãi lung tung linh tinh lăn tăn lộn tùng phèo như hiện nay (một bộ phận không nhỏ người dân ăn bã tư bổn vẫn lảm nhảm đòi thay đổi chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa) chứ không thành cường quốc như Nhựt Bổn (toàn dân ăn đồ sống sít nội địa vẫn dứt khoát duy trì chế độ quân chủ thế tập cha truyền con nối đến muôn đời).

Với những thứ chúng tiếp thu được chỉ là thứ nửa vời với bằng cấp nửa vời, chúng ta có thể thấy 5 điểm rõ nét sau nơi chúng:

(a) không bất kỳ đứa nào sử dụng được ngoại ngữ ở cấp độ hàn lâm và ở đầy đủ các dạng hùng biện viết và hùng biện nói để làm gương tham khảo ngưỡng mộ cho triệu triệu người dân Việt đã và đang học tiếng Anh từ 30-4-1975 đến nay gần nửa thế kỷ và xuyên qua hai thế kỷ;

(b) bọn rao giảng về “tính nhân đạo” trong bỏ bớt án tử hình thậm chí bỏ hẳn án tử hình, đã ngu si không biết rằng (i) Châu Âu nhanh tay lẹ chân bãi bỏ án tử hình chỉ vì trong Đệ Nhị Thế Chiến Châu Âu hèn hạ toàn là bọn phản quốc cúng dâng đất nước của chúng cho Adolf Hitler với sự hân hoan ủng hộ của Vatican giết biết bao dân quân du kích cách mạng và bao triệu dân Do Thái nên án tử hình đe dọa tất cả bọn chính khách và đám tăng lữ ấy, và rằng (ii) cái nước Mỹ đã cấp văn bằng cho chúng sẽ vĩnh viễn không bao giờ bỏ án tử hình;

(c) bọn rao giảng về “nhục hình” và bao cái linh tinh khác trong đó có “biểu tình” thì  cái nước Mỹ cấp văn bằng cho chúng vẫn đang dùng nhục hình trong tra tấn (vì cái đạo lý duy nhất và cao nhất là phải tra tấn thật tàn bạo các nghi can để may ra moi được lời khai của chúng chẳng hạn về vị trí chúng đã đặt bom khủng bố có nguy cơ sắp cướp đi sinh mạng nhiều người thậm chí nhiều trăm ngàn người nếu vị trí đặt bom phá hoại là nhà máy điện nguyên tử hoặc thủy điện), và cũng đang cho phép “biểu tình” song hành với quy định phải chấp hành yêu cầu giải tán ngay của nhân viên công lực mà sự bất tuân sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu hoàn toàn hợp pháp là bị đánh đập, bị xử tù giam, hoặc trở thành mục tiêu của các cảnh sát chống bạo động bắn tỉa từ các nóc nhà;

(d) cái nước Mỹ cấp văn bằng cho chúng không bao giờ “luật hóa đĩ”; và

(e) còn biết bao sự thật khác mà mọi người dân không là thành viên bọn quê mùa trên đều biết rõ và đầy đủ.

3- Vấn Nạn “Có Công Với Cách Mạng”

Tổ Quốc Ghi Công là một cụm từ cao vời trên cả đạo lý đạo nghĩa.

Tổ Quốc Ghi Công cao vời trên cả đạo lý đạo nghĩa vì chỉ có Tổ Quốc Ghi Công mới khẳng định đạo lý đạo nghĩa ấy bao gồm hai đại nghĩa của sự hy sinh cái quý trọng nhất của đời người là sinh mạng bản thân cho nước cho dân hiện nay, và sự hy sinh cái quý trọng nhất của đời người là sinh mạng bản thân cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc mai sau.

Bản thân của cụm từ Tổ Quốc Ghi Công là đạo lý đạo nghĩa.

Bản thân của cụm từ đạo lý đạo nghĩa là phải bao hàm việc thực hiện Tổ Quốc Ghi Công đối với những công dân đã hy sinh sinh mạng bản thân cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc ngày nay và mai sau.

Có công bắt buộc phải được thưởng. Có tội bắt buộc phải bị trừng. Đây là nguyên tắc bất biến bất di bất dịch không những của phạm trù đạo lý đạo nghĩa mà còn của tất cả các tôn giáo.

Đối với những anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân, cái đạo lý đạo nghĩa của đất nước và người dân phải và luôn là

(a) đời đời vinh danh;

(b) đời đời không dứt khói hương tưởng niệm;

(c) đối với những liệt sĩ vô danh những liệt sĩ có danh tính nhưng không còn thân nhân, chế độ chính trị phải vì nước vì dân vì sự cường thịnh của quốc gia và vì danh dự của dân tộc để xứng đáng với anh linh của những liệt sĩ này;

(d) đối với những liệt sĩ có danh tính còn thân nhân, chế độ chính trị phải có đầy đủ các cơ chế chính sách để thay mặt các liệt sĩ này chăm sóc cha mẹ ông bà của họ về đời sống và y tế, dành sự ưu tiên hợp lý về học tập/đời sống/y tế/việc làm cho vợ/chồng/con của các liệt sĩ.

Ưu tiên hợp lý là trên 4 nguyên tắc:

(a) Thân nhân thuộc diện có khó khăn thực sự về kinh tế/đời sống. Không thể chấp nhận việc “cào bằng” cung cấp chế độ như nhau cho thân nhân nghèo khổ của liệt sĩ này và thân nhân giàu sang của liệt sĩ khác.

(b) Nhu cầu học tập của thân nhân phải dựa trên cơ sở năng lực học tập của thân nhân đó. Không thể chấp nhận việc cung cấp cơ hội “đào tạo nhân tài” cho thân nhân liệt sĩ bất kể thân nhân ấy có năng lực học tập hạn chế.

(c) Nhu cầu làm việc của thân nhân phải dựa trên cơ sở năng lực làm việc, kinh nghiệm làm việc của thân nhân đó với điều kiện có nhu cầu tuyển dụng trên thực tế, đáp ứng yêu cầu thực tế của nơi tuyển dụng. Không thể chấp nhận việc cung cấp cơ hội làm việc cho thân nhân liệt sĩ bất kể thân nhân ấy không có năng lực làm việc, không có kinh nghiệm làm việc, không theo quy trình xét tuyển của đơn vị tuyển dụng, đã vậy còn đưa vào vị trí quản lý.

(d) Phải chấm dứt sử dụng cụm từ “có công với cách mạng” vì đã và đang có sự nhập nhằng đánh lận con đen giữa “gia đình liệt sĩ” với “gia đình có công với cách mạng”, vì rằng cả đất nước và dân tộc chỉ có đạo lý đạo nghĩa phải gìn đối với liệt sĩ (vô danh, có danh không thân nhân, và có danh còn thân nhân) mà thôi. Còn đối với “gia đình có công với cách mạng”, bản thân cụm từ không mặc nhiên mang nội hàm có sự hy sinh tính mạng để trở thành liệt sĩ, bản thân cụm từ mang nghĩa rất rộng bao gồm  cả “công” nuôi giấu cán bộ/“công” cất giấu vũ khí/“công” cung cấp tài chính trong hoạt động kinh tài/“công” hoạt động nội tuyến/nội gián/“công” ám sát quan chức Mỹ/Việt Nam Cộng Hòa, v.v. Như vậy, trên nguyên tắc “Có công bắt buộc phải được thưởng” thì những người “có công với cách mạng” tức “có công với Đảng” thì Đảng có quyền tưởng thưởng bằng các ưu ái đặc quyền/chức cao/quyền trọng như liên tục từ 30-4-1975 cho đến tận ngày nay. Song, Đảng không có quyền buộc nhân dân phải tự động hiểu “có công với cách mạng” đồng nghĩa với “tổ quốc ghi công”, nhất là khi cái “có công với cách mạng” đó lại mặc định được kéo dài miên viễn, được kế tập truyền lưu, được trở thành “miễn tử kim bài” tức giấy phép tham nhũng/ăn hối lộ/nhận lại quả/phá tanh banh cơ nghiệp cơ quan, trong khi gia đình liệt sĩ có danh có thân nhân thì nhiều người sống trong cảnh nghèo với trợ cấp ít oi, gia đình liệt sĩ vô danh có thân nhân sống trong cảnh nghèo không trợ cấp vì không xác định được danh tính liệt sĩ, và hương hồn các liệt sĩ vô danh không còn thân nhân phải chứng kiến cảnh gia đình “có công với cách mạng” hưởng các ưu đãi ưu ái ưu tiên thậm chí có quyền làm nghèo đi đất nước và làm nhục cái chế độ mà họ đã cùng bao liệt sĩ vô danh khác hy sinh mạng sống để giữ gìn phụng sự.

Chưa kể, Đảng và Nhà Nước đã tập trung cho duy chỉ một vế của đạo lý đạo nghĩa: Có Công Bắt Buộc Phải Được Tưởng Thưởng Hậu Hỉ Không Được Chậm Trể; còn vế còn lại của Có Tội Bắt Buộc Phải Bị Trừng Trị Nghiêm Khắc Không Được Dung Thứ thì Đảng đã cho phép biến dạng biến hình biến thái thành “có nhân thân tốt, thuộc gia đình có công với cách mạng, có nhiều đóng góp cho cách mạng, và có làm công quả cúng kiến tài trơ cho tôn giáo chính và duy nhất của Đảng (Đạo Phật)” để xử phạt nhẹ hơn – nếu đại sự làm nghèo đất nước của chúng bị bại lộ.

Do vậy, ngay từ đầu thì cụm từ “có công với cách mạng” đã được khôn khéo đề ra nhằm vinh danh gia đình những cán bộ đảng viên không có thân nhân nào làm anh hùng liệt sĩ để những gia đình này được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, mà đương nhiên đa số các cán bộ đảng viên ấy không có thân nhân nào là anh hùng liệt sĩ.

Về phương diện tu từ, “có công với cách mạng” được tự động đứng chung đối vần thi phú với “có tội với nhân dân” như kiểu phát biểu của cán bộ đảng viên Cộng sản Việt Nam Lê Văn Toan khi nói chuyện với công dân Hoàng Hữu Phước. Tuy nhiên, bản thân “có công với cách mạng” không đồng nghĩa với “có công với đất nước” vì chỉ có “đất nước” mới được đi đôi với “nhân dân”.  Và như vậy, “có tội với nhân dân” dứt khoát phải bị trừng trị, còn “có công với đất nước” dứt khoát phải được tôn thờ tôn vinh tôn trọng. Suy ra, “có công với cách mạng” không thuộc phạm trù “dứt khoát phải được tôn thờ tôn vinh tôn trọng” bởi quốc gia dân tộc đến độ quyền lợi thì thượng đẳng, mang yếu tố kế tập, còn sự tận dụng lạm dụng sử dụng danh xưng “có công với cách mạng” lại chỉ nhằm cứu nguy giải cứu cho những trường hợp hèn hạ tởm lợm luôn bị loài người ở thế giới văn minh miệt thị rẻ khinh trừng trị: tham nhũng (bao gồm hối lộ/nhận hối lộ/lại quả/móc ngoặc/tham nhũng trinh tiết) và phản quốc.

Có công với cách mạng”, do đó, nhất thiết phải (i) được định nghĩa rõ bằng luật pháp và trong pháp luật; (ii) không được giới hạn ở chủng loại vì thời bình vẫn rất cần có những công dân “có công với đất nước” dù không phải đảng viên và dù việc “có công” thuộc các phạm trù đa dạng như bảo vệ chính nghĩa quốc gia, bảo vệ an ninh trật tự quốc gia, bảo vệ danh thắng, bảo vệ tài sản quốc gia, bảo vệ người yếu thế, tố cáo tham nhũng, tố giác tội phạm, ngăn chặn thảm họa, nêu gương sáng đạo đức gia phong thiên Khổng.

Không phân định rạch ròi về ngữ nghĩa tu từ cũng như không giới hạn ngữ nghĩa của “có công với cách mạng” và “có công với đất nước”, sẽ mãi mãi không chặn ngăn được tham nhũng (đồng nghĩa với hối lộ/nhận hối lô/lại quả/ăn lại quả/tham nhũng trinh tiết) vì sự việc tầy huầy tham nhũng không thể được xem là “có công với đất nước” nên chỉ có thể núp dưới ô dù tàn che phủ rộng của “có công với cách mạng” như một nhắc khéo rằng “đó cùng là đảng viên cộng sản cả thôi mà”.

4- Vấn Nạn “Khắc Phục Hậu Quả”

Trong một bức thư gởi Quốc Hội và Đảng (có đăng trên blog này), tôi có nêu ý kiến rằng để triệt tiêu tham nhũng, chỉ có thể bằng cách áp dụng sự cứng rắn theo đó một người tham nhũng 100 tỷ nếu bị bại lộ phải nộp lại đủ 100 tỷ, phải đóng phạt 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ, phải đóng thêm 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ để làm tiền thưởng cho người/những người tố giác tham nhũng, và đóng thêm 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ để tưởng thưởng cho  Cơ Quan Điều Tra. Vị chi: tham nhũng 100 tỷ, phải nộp cho Nhà Nước 400 tỷ và chịu đủ án tù giam theo luật định. Nếu tài sản đứng tên bị đơn không đủ 400 tỷ thì tịch thu tài sản của vợ và các con của bị đơn phát mãi thu về cho đủ 400 tỷ.

Bản thân luật pháp là giáo dục.

Chỉ có quốc gia nhược tiểu có quyền lực nhũn xèo mới tách bạch luật pháp và giáo dục thành hai phạm trù riêng biệt để cứ mãi “tuyên truyền giáo dục nhân dân về luật pháp”.

Hình luật kinh kiếp kinh khủng kinh hoàng của Hoa Kỳ luôn được công dân Mỹ gốc Việt có đầu óc khỏe mạnh và chưa lâm vào cảnh tuyệt lộ cùng đường tuyệt đối tuân thủ. (Xin đón đọc bài viết tiếp theo của Hoàng Hữu Phước chứng minh đám nhà quê du học Mỹ về đã có bằng cấp diễu hề ra sao và tình trạng tâm thần khủng hoảng ra sao khi để tâm trí chúng bị tẩu hỏa nhập ma do vỡ mộng thiên đàng trước luật pháp dữ-dằn-hơn-cộng-sản đến độ khi kẹp nách tấm văn bằng trở về Việt Nam thì quá uất ức hóa rồ thi nhau chống chế độ, chống chính phủ, chống Hoàng Hữu Phước, chỉ vì chế độ tốt hơn Mỹ, chính phủ nhơn đạo hơn Mẽo, còn Hoàng Hữu Phước thì được các bố Huê Kỳ của chúng thường xuyên đàm đạo chính trị chứ chả ma Mỹ nào thèm nói chuyện với chúng do chả thằng nào con nào nách kẹp văn bằng Thạc Sĩ/Tiến Sĩ Mỹ mà nói được tiếng Anh hùng biện hàn lâm.)

5- Vấn Nạn Hình Thức Phi Thực Tế

Thời gian qua có nhiều lãnh đạo Đảng tại các Bộ, các tổng công ty, các chính quyền địa phương, các quân binh chủng, vương vòng lao lý, bị xử lý kỷ luật, v.v. Thế nhưng, có một hình thứ kỹ luật rất tức cười của Đảng là “cách tất cả các chức vụ trong Đảng và trong chính quyền tron thời kỳ ABC và XYZ từ năm nào đến năm nào”.

Một Bộ Trưởng Bộ Tài Cán nếu bị xử lý như vậy cũng đâu có sao, vì nếu ông ta có tài cán (chẳng hạn có bằng tiến sĩ kinh tế Mỹ mà!) thì khi một ngân hàng Mỹ mời ông ta làm cố vấn cho chi nhánh ở Việt Nam thì ông ta vẫn có quyền khai trong CV tức “lý lịch khoa học hàn lâm” của ông ta rằng từ năm ABC ông ta đã làm bộ trưởng Bộ Tài Cán và rằng từ năm XYZ ông ta làm bộ trưởng Bộ Còn Nguyên của Việt Nam cũng có sao đâu, vì ngay cả “dân đen” Hoàng Hữu Phước mà các công ty Mỹ còn không bao giờ yêu cầu đi chứng nhận lý lịch/không bao giờ yêu cầu kèm giấy giới thiệu của bất kỳ cơ quan nào của Nhà Nước Việt Nam/không bao giờ yêu cầu nộp bản sao văn bằng mà chỉ hý ha hý hửng xin Hoàng Hữu Phước ký tên ngay vào hợp đồng lao lung, huống hồ là “quan đỏ”. Nói tóm lại, Đảng và truyền thông đại chúng không biết Hoàng Hữu Phước đã là ai, chứ các đại gia Mỹ biết các lãnh đạo Đảng tại các Bộ, các tổng công ty, các chính quyền địa phương, các quân binh chủng, vương vòng lao lý, bị xử lý kỷ luật, v.v., là những ai nên việc cách tất cả các chức vụ ở các thời kỳ trong quá khứ chỉ cho thấy vấn nạn phi thực tế của thứ kỹ luật mà bọn tham nhũng chẳng sợ gì sất. Cái mà chúng sợ là bị tịch thu tài sản và bị tử hình. Chúng tiếp tục thành bầy sâu vì chúng biết “khắc phục hậu quả kiểu Việt” sẽ triệt tiêu nỗi khiếp sợ “tịch thu tài sản”; còn “gia đình có công với cách mạng” (đảng viên nào chả vậy), “nhân thân tốt” (đảng viên nào chả vậy), “có nhiều đóng góp cho ngành” (nên mới được Đảng Bề Trên cất nhắc cho vào ngự trong lu gạo nếp Nhựt tha hồ ăn no nê và để lại đống phân trong đấy), và “có đóng góp thiện nguyện” (lập đại công chứng minh cộng sản Việt Nam chăm chỉ cúng dường Tam Bảo chứ không phải vô thần).

6- Vấn Nạn Bó Tay

Những vấn đề nêu trên tạo ra vấn nạn thứ sáu này, và đây là quan hệ Nhân Quả Dây Chuyền.

C) 7 Lời Phán Của Hoàng Hữu Phước

Vấn nạn “bó tay” nêu trên rất ngắn gọn vì bó tay là bó tay, còn viết lách giải bày biện luận thêm thế nào nữa được.

Song, do Hoàng Hữu Phước muốn trở thành người “có công với đất nước” trên cơ sở “không có tội với nhân dân” nên cố ra sức cho ra 7 nhận định sau, với hy vọng mong manh rằng có khi do lòng thành thấu đến Trời cao nên ngay cả khi Chùa Ba Vàng không được nhờ cúng giải oan gia trái chủ cho đất nước Việt Nam thì vẫn có khả năng bài này được một đấng nhơn tài ăn học đàng hoàng từ Mỹ về đọc rồi Eureka một tiếng mà tồng ngồng chạy bay đến gặp các lãnh đạo Việt Nam vấn kế định quốc an bang khiến thiên hạ thới bình muôn dân an lạc chỉ cần búng tay một cái là thu hồi Hoàng Sa Hải Đảo chăng.

1- Phản Cách Mạng

Tham nhũng (theo văn hóa văn minh Âu Mỹ thì bao gồm hối lộ/nhận hối lộ/đưa lại quả/ăn lại quả/móc ngoặc/biển thủ/tham nhũng trinh tiết) là hành vi/hành động nhơ bẩn, đê tiện của bọn thất học và mất dạy. Tham nhũng tồn tại cùng với quyền lực con người từ thủa khai thiên lập địa. Cách mạng là đổi mới dứt khoát. Tham nhũng, do đó, là phản cách mạng. Cách mạng không bao giờ bảo vệ tham nhũng. Chỉ có bọn thất học và mất dạy chui vào hàng ngũ những nhà cách mạng mới bảo vệ bọn phản cách mạng. Chỉ có bọn tham nhũng mới bảo vệ bọn tham nhũng.

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, chính là phản cách mạng.

2- Bao Che Cùng Phe

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, chính là phản cách mạng, chống cách mạng, vì bản thân những kẻ mở miệng biện minh cảm thông với bọn tham nhũng là cùng một giuộc với bọn tham nhũng.

3- Bất Công Xã Hội

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, biện minh cảm thông cho bọn tham nhũng, chính là hành vi tạo nên bất công xã hội (a) giữa người dân gia giáo thiên Khổng tạo nên ngân khố quốc gia mà không được hưởng gì với bọn chà đạp đạo lý đạo nghĩa xé nát tài sản quốc gia sống xa hoa xa xỉ; (b) giữa những anh hùng liệt si và gia đình của họ không thể được họ phụng dưỡng, với những kẻ ăn theo gia đình “có công với cách mạng” của họ để đẩy bao va-li chất cứng tiền mặt lấy từ tiền thuế của dân về cho cha mẹ của chúng mua sắm địa ốc biệt phủ xa hoa và con cháu mở siêu doanh nghiệp tự hào đẩy Tổng Thống Mỹ Donald Trump xuống chiếu dưới về tổng tài sản đô-la Mỹ; và (c) giữa những công dân gia giáo thiên Khổng giáo dục con cái thành những công dân đoan chính tài năng, với những kẻ ăn theo gia đình “có công với cách mạng” để không cần tư cách đoan chính và tài năng vẫn chiếm giữ vị trí lãnh đạo để rồi đàn áp ganh tỵ tài năng vói những công dân đoan chính tài năng con cái của những công dân duy trì nền nếp gia giáo thiên Khổng để làm chỗ dựa của Đảng.

Bất công xã hội có thể bị xóa bỏ mà không cần thay đổi các đặc quyền mà Đảng trả ơn cho những người có công với Đảng, chỉ cần thực hiện hai điều rằng (i) công-tội phải phân minh, cái gì phải ra cái đó, “công với Đảng” luôn không là gì cả so với “tội với dân”, nên không thể mãi lấy cái hào quang “công với Đảng” để ngụy biện du di cho sự phạm trọng tội với dân cứ như thể Đảng đáng quý trọng hơn dân; và do đó (ii) phần ban thưởng về quyền lợi và quyền lực đã cho ra để đền ơn “công với Đảng” thì không có gì bất công hay chưa đủ để mà tiếp tục bắt nhân dân tiếp tục đền ơn những người “có công với Đảng” bằng cách nai lưng gánh chịu thêm tất cả các hậu quả của sự suy đồi đạo đức của cán bộ lãnh đạo “có công với Đảng” cùng các hệ quả đời sống tiện nghi xã hội bị suy sụp suy vi từ hậu quả của sự phá hoại của các cán bộ lãnh đạo “có công với Đảng” ấy.

4- Phản Giáo Dục

Toàn bộ những nỗ lực giáo dục tuyên truyền của Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam đều đổ sông đổ biển do những vấn nạn như nêu ra trong toàn bộ bài viết này, biến tạo nên tư duy rằng những bài giảng về đạo đức cách mạng là những lời gian trá, vô hiệu, tự tạo hào quang, từ đó hình thành sự phản kháng xã hội hoặc bùng phát, hoặc ngấm ngầm, hoặc biến thành phản ứng cam chịu thụ động và phó mặc, mất lòng tin, biến những khoản đầu tư khổng lồ của Nhà Nước vào giáo dục tuyên truyền trở nên vô hiệu, thành một thứ phản giáo dục, vì càng tuyên truyền giáo dục càng tạo nên sự suy giảm về nhận thức, suy thoái về đạo đức cách mạng, suy tàn về lý tưởng cộng sản, và suy sụp nền nếp gia phong từ ngay chính phạm vi tế bào của xã hội.

5- Phản Đảng

Tất nhiên, học trò của Hồ Chí Minh không thể là những đại quan của Đảng đang lũ lượt ào ạt chúc chen trước vành móng ngựa chốn pháp đình đan tâm phá tan ba cột trụ đạo đức gồm cột trụ đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, cột trụ đạo đức truyền thống ái quốc của dân tộc và cột trụ đạo đức gia phong thiên Khổng của xã hội. Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc đã đặt để những kẻ phản Hồ Chí Minh, phản truyền thống ái quốc, và phản truyền thống gia giáo vào những vị trí chễm chệ ngôi cao tham chính và trị quốc. Không chỉ những kẻ phản phúc đó phản Đảng mà sự yếu kém cẩu thả vô trách nhiệm và ngu xuẩn trong đề bạt cán bộ sai và giám sát sai cán bộ cùng quản lý sai cán bộ của Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị cũng là hành vi phản Đảng.

Cách duy nhất để Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị chuộc tội trước nhân dân là ra lệnh khẩn cấp cho các cơ quan Đảng chấm dứt tất cả các hành vi như vừa diễn ra: phân bua chống chế viện dẫn về “nhân thân”, “có công với cách mạng”, “có khắc phục hậu quả”, “có đau yếu bịnh tật”, “có đóng góp kinh phí cho nạn nhân chất độc da cam”, “có đóng góp cho chùa”, v.v. và v.v., khi ra sức làm nhẹ tội danh của bọn tham nhũng đê hèn bẩn thỉu thối tha phản Đảng.

Công dân Lại Thu Trúc, người đóng góp ý kiến nhiều nhất trong toàn bộ dân chúng Việt Nam cho Đảng, từng nêu lên trong một bức thư gởi Đảng phàn nàn rằng đảng viên cao cấp Nguyễn Thị Quyết Tâm muốn “kiểm tra sức khỏe” các ứng viên nghị sĩ ngoài Đảng. Vậy Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị là chủ soái của Nguyễn Thị Quyết Tâm thì tại sao lại để những đảng viên đau yếu bịnh tật làm Bộ Trưởng làm gì để khi bại lộ tham nhũng thì chúng lập tức lôi nội dung bịnh tật ra làm yếu tố giảm nhẹ tội danh? Thế những công dân trẻ bất chấp bịnh tật đã xung phong ra mặt trận vệ quốc và cứu quốc để rồi trở thành những Chiến Sĩ Vô Danh không để lại ngay cả một lóng xương cho mẹ cha đến ngày nay vẫn còn khắc khoải trông chờ tin lành về mộ phần của con để thực hiện hy vọng cuối đời tàn tạ già nua là dựng được cho con một mộ chí xi măng đơn giản với bát hương ấm lòng hương linh bấy lâu lưu lạc, liệu có được ưu ái như bọn đại quan bịnh tật phạm trọng tội với dân không?

6- Phản Động

Tất nhiên, phản Đảng tức là phản-động-nội-bộ. Thật không bao giờ tổ tiên Việt Nam có thể thứ tha cho đại tội đại ngu khi bảo vệ bọn phá hoại từ bên trong.

7- Phản Quốc

Một khi việc phá hoại từ bên trong xảy ra mà không bị trừng trị tiêu diệt, cả chế độ bị diệt vong, làm tiền đề cho sự dẫn đến hậu quả chiến tranh lan tràn, mà cái kết sẽ tất nhiên là đất nước hoặc mất cả về tay Trung Quốc hoặc bị phân chia làm bốn miền với Miền Bắc bị Trung Quốc giết sạch người Việt rồi chiếm đóng sáp nhập vào các tỉnh cực Nam Tàu, Miền Bắc Trung Phần Cộng Sản lấy Vinh làm Thủ Phủ, Miền Nam Trung Phần Cộng Hòa lấy Cam Ranh làm Thủ Phủ, và Miền Nam bị Cambodia chặt đầu toàn bộ người Việt để chiếm đoạt làm Khu Tự Trị với Thành phố Hồ Chí Minh đổi tên thành Saigonville.

Bọn phản đảng/phản động/phản quốc đang được Đảng ra sức bảo vệ. Đó là chuyện quái lạ không bút mực nào tả xiết.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-Sư Anh Văn, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, “Nhà Làm Luật” Khóa XIII, Nhà Tư-tưởng Cộng-sản Dân-tộc Thiên Khổng, Nhà Ái Quốc (do người dân phong tặng)

A) Ghi chú:

Trường Nguyễn Bá Tòng: trường trung học tư thục lớn nhất Sài Gòn của Công Giáo ở số 73-75 Bùi Chu, Quận 1, Sài Gòn, dạy từ lớp 6 (lớp Đệ Thất) đến lớp 12 (lớp Đệ Nhất), có hai học khu gồm học khu nữ bên cánh trái và học khu nam bên cánh phải, và ở cấp Tú Tài (tức lớp 11 và 12) có đủ các chuyên ban A (sinh hóa), ban B (toán lý), và ban C (văn chương & ngoại ngữ). Đến năm 1971, trường chuyển thành nữ trung học, còn nam sinh được dời lên cơ sở mới là trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định. Hoàng Hữu Phước chuyển lên Nguyễn Bá Tòng Gia Định ở số 4 Hoàng Hoa Thám Gia Định học tiếp lớp 8, 9, và 10. Do nam sinh đa số bỏ trường do không chấp nhận đi xa, cơ sở vật chất của Nguyễn Bá Tòng Gia Định trở nên quá rộng, khiến nhà trường chia thành ba học khu gồm học khu nam, học khu nữ, và học khu tiểu học. Chuyện tình Hoàng Hữu Phước và Đinh Thị Mai Trâm kể trên blog này là trong khung cảnh Nguyễn Bá Tòng Gia Định. Hiện nay, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn là trường Bùi Thị Xuân ở số 73-75 Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh, còn trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định là trường Hoàng Hoa Thám ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Giáo Sư Trung Học: tại Việt Nam Cộng Hòa, các từ ngữ sau được tự động sử dụng (tức là không dựa vào bằng cấp, và càng không do “Nhà Nước” phong tặng hoặc phong cho hoặc phong ban): Giáo viên (dạy tiểu học), Giáo sư (dạy trung học), và Giảng sư (dạy đại học). Các học trò của Hoàng Hữu Phước trước 1975 sau này về thăm Việt Nam quen gọi Hoàng Hữu Phước là “giảng ” rồi tự hoán chuyển sang tiếng Anh thành “professor” là do ý nghĩa cực kỳ bình thường bình dân bình dị như vậy, chứ không ngờ ở Việt Nam có ý nghĩa đầy khủng hoảng khủng khiếp đến độ chỉ  có đảng viên dạy học được Nhà Nước ban cho mới được gọi là “giáo sư”. Vì vậy, các “giáo sư” Anh Văn của trung học Nguyễn Bá Tòng rất giỏi đồng thời Anh Văn, Pháp Văn, và Hán Việt, còn các “giáo sư” Sử của trung học Nguyễn Bá Tòng rất giỏi chữ Hán và chữ Nôm để làm dịch giả cho các áng sử nước nhà và tài liệu Á Đông (như thầy Nguyễn Quang Tô đoạt giải thưởng Phủ Tổng Thống cho công trình dịch thuật quyển Việt Nam Vong Quốc Sử của Phan Bội Châu, v.v.). Trong khi đó, các “giáo sư tiến sĩ” ở tất cả các đại học của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều dốt nát ngoại ngữ và không biết gì khác hơn tên phân môn ghi trong bằng cấp do không có nhu cầu nghiên cứu gì sất, mà bằng chứng là (a) chẳng thấy ai dám viết lách ngoại ngữ công khai như Hoàng Hữu Phước; và (b) chỉ thấy toàn thứ hoặc điên loạn bầy đàn ký tên kiến nghị loạn xạ, hoặc có thằng tửng tửng mặc tà-lỏn đi dạy đại học về “sáng tạo”. hoặc có đứa khùng khùng đề nghị thay đổi cách viết chữ quốc ngữ, hoặc có tên mơ màng đòi phong anh hùng những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu sát hại ở cái gọi là “Hải Chiến Hoàng Sa”, hoặc có nhúm lú lẫn bảo phải thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam, hoặc có bọn đần độn mất dạy không hiểu thế nào là “biểu tình dân chủ” nên hùa nhau trả lời phỏng vấn tấn công Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về “dự án Luật Biểu Tình”, v.v. và v.v.

B)Tham khảo các nội dung liên kết trong bài viết này theo thứ tự alphabet:

Bầy Đoàn Ký Tên Kiến Nghị: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam  20-8-2013

Bầy Sâu: Trương Tấn Sang và Vương Đình Huệ  02-12-2018

Cán Bộ Đảng Viên Cộng Sản Việt Nam Lê Văn Toan: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 26-12-2015

Chị Tôi Bên Mỹ: Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn  30-5-2016

Chủ Tịch Bất Tài: Nguyễn Thiện Nhân 10-6-2016

Chùa Ba Vàng Cúng Giải Oan Gia Trái Chủ: Cô Gái Giao Gà 25-3-2019

Chuyện Tình Hoàng Hữu Phước và Đinh Thị Mai Trâm: Hoàng Hữu Phước và Những Phụ Nữ Đẹp – Bài 3  21-01-2018

CV (Lý Lịch Khoa Học Hàn Lâm): Cách Thức Hai Công Ty Nước Ngoài Mời Tuyển Hoàng Hữu Phước  21-3-2019

Công Dân Lại Thu Trúc: Lại Thu Trúc 22-12-2015

Dân Chủ: Phải Có Luật Biểu Tình. 18-8-2016

Dự Án Luật Biểu Tình:  Luật Biểu Tình  26-5-2014

Đa Số Nghị Sĩ Không Có Chất Lượng Cao: Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam 18-01-2017

Đào Tạo Nhơn Tài: Hiền Tài  22-5-2019

Giáo Sư Trung Học/Giảng Sư Đại Học: Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam  10-01-2016

Hải Chiến Hoàng Sa: Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Hoàng Sa Hải Đảo: Hoàng Sa (Tàu-Mỹ-Ta). 30-3-2016

Kiểm Tra Sức Khỏe Các Ứng Viên Nghị Viện: Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm  05-3-2016

Ký Ngay Vào Hợp Đồng “Lao Lung”: Cách Thức Hai Công Ty Nước Ngoài Mời Tuyển Hoàng Hữu Phước  21-3-2019

Làm Chính Trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017,   Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Lê Công Định: bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Báo Nhân Dân ngày 06-9-2012 trên trang 8, và online tại http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Luật Hóa Đĩ: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Luật Nhân Quả Lãng Xẹt: Nhân Quả Nhà Phật  26-8-2019

Luật Pháp Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Mặc Áo Dài Trắng Tiểu Tư Sản: Bánh Trung Thu  02-9-2019

Nắm Quyền Bính Cực Cao: Nguyễn Thị Quyết Tâm  22-01-2016

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước: Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV 29-8-2019

Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập: Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập  25-8-2019

Ngô Di Lân: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân  07-3-2014

Nguyễn Quang Tô: Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô  22-02-2015

Nhà Ái Quốc: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Nhân Quả Dây Chuyền: Nhân Quả Nhà Phật  26-8-2019

Tham Nhũng: Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

Tham Nhũng Trinh Tiết: Tham Nhũng Trinh Tiết  23-4-2018

Thạc Sĩ/Tiến Sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

Thay Đổi Chữ Quốc Ngữ: Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt – Bài 2  29-12-2017   và Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt  28-12-2017

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Việt Nam: Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam  02-02-2016

Thấu Thị: Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

Thủy Điện: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Tổng Thống Mỹ Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Tự Do Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.  02-4-2015

Tự Do Dân Chủ: Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Tự Do Ngôn Luận: Điều Luật 258. 02-4-2016 , Đại Sứ Mỹ Ted Osius. 15-6-2016

Tửng Tửng Mặc Tà Lỏn Đi Dạy: Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Trung Quốc: Sát Tàu  07-7-2014

Trường Bùi Thị Xuân: Trường Bùi Thị Xuân

Trường Hoàng Hoa Thám: Trường Hoàng Hoa Thám

Trường Quốc Tế Ở Chỗ Link Này: Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi  11-8-2019

Vinh Danh Bản Thân/Gia Đình/Dòng họ: Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần  18-12-2017

Yếu Kém Của Các “Nhà Làm Luật”: 9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam  03-7-2016

C) Các diễn đàn thông tin vẫn đang sinh hoạt:

Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh)

Twitter: @RealHoangHPhuoc  (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh)

LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc  (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh)

WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com  (tham gia từ 2013 chủ yếu bằng tiếng Việt, sau khi blog tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước hoạt động từ 2006 tại Emotino.com và Blog.com bị bọn chống Cộng đánh sập 2012)

Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt)

Ý Lớn Gặp Nhau: Hoàng Hữu Phước, Gina Rinehart, Thái Hương, và Nguyễn Phú Trọng

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

30-8-2019

Những nhân vật hội đủ ba điều kiện gồm thông tuệ, thành công tự thân, và hùng biện tư duy chính trị sâu sắc, đều có chung các quan điểm. Các dẫn chứng sau sẽ cho thấy dù Hoàng Hữu Phước là người đã đưa ra các nhận định từ lâu trước đó và dù không ai trong ba nhân vật sau đây từng chịu ảnh hưởng bởi các nhận định của Hoàng Hữu Phước thì họ rồi vẫn sẽ có chung ý nghĩ với Hoàng Hữu Phước, đơn giản vì tất cả những bậc có ba điều kiện trên đều đi chung trên một con đường chỉ dành riêng cho họ.

Dưới đây là bài đăng trên mạng doanh nhân Emotino lúc 23g07 ngày 05-9-2012 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19678/y-lon-gap-nhau-ty-phu-true-milk-day-nguoi. Emotino đã đóng cửa. Bài viết do Cô Lại Thu Trúc chép lại lưu giữ trong tàng thư cá nhân. Cảm ơn Cô đã lục tìm, truy xuất, và cung cấp bản sao.)

Ý Lớn Gặp Nhau: Tỷ Phú – True Milk – Dạy Người

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

05-9-2012

Tôi và Tỷ Phú Gina Rinehart

Gina Rinehart, nữ doanh nhân Úc thừa kế vương quốc khai khoáng trị giá 19 tỷ USD được cho là người phụ nữ giàu nhất hành tinh hiện nay, vừa tuyên bố rằng người ta đừng nên ngồi đó mà trách phận than thân, mà hãy trở thành nhà triệu phú bằng cách dành thời gian ít hơn cho việc nhậu nhẹt hay hút xách, dành thời gian ít hơn cho việc đàn đúm trên mấy cái mạng xã hội, và dành thời gian nhiều hơn để làm việc (spend less time drinking or smoking and socializing, and more time working).

Tôi đã thường xuyên miệt thị mấy cái mạng xã hội, thậm chí còn khẳng định ngày tàn của chúng. Sự phát triển của công nghệ thông tin là (a) giúp con người học được nhiều hơn, nhanh hơn, dễ dàng hơn; (b) duy trì các mối quan hệ tình thân với gia đình nhiều hơn, nhanh hơn, rẻ hơn; (c) kiếm tìm những giềng mối cũ mà các cuộc chiến tranh đã gây đứt đoạn, mất khúc; và (d) giao lưu kiến thức cũng như những nghiên cứu khoa học nhân văn bản thân đã tiến hành với những công trình tương tự của những nhà nghiên cứu khác ở các nước khác. Thế nhưng, Facebook và những thứ tương cận trong tuyệt đại đa số các trường hợp biến thành môi trường vớ vẩn cho những kẻ luôn kiếm tìm “kết bạn” bốn phương chứ không hề đoái hoài tới ông bà, cha mẹ, anh chị em, thân tộc, hiện có, khiến có kẻ khoe mình đã kết bạn được với vài chục ngàn bạn hữu, gia nhập vài trăm câu lạc bộ, và với duy chỉ 24 tiếng đồng hồ của một vòng quay trái đất sẽ không sao kịp gởi lời thăm hỏi ân cần đến các bạn hữu ấy, nói chi đến ăn uống, học tập, hoạt động, nghỉ ngơi; trầm trọng hơn khi các mạng xã hội ấy lại là nơi mà những tên thảo khấu Lương Sơn Bạc thời hiện đại cho rằng có thể đàn đúm với nhau để bôi bẩn chế độ này, lật đổ chế độ kia, ăn bậy, nói bạ, suy đồi, suy vi, suy nhược, suy tàn, từ nhân cách đến tinh thần.

Tôi nhìn thấy nơi các mạng xã hội những đống rác bẩn chôn vùi tinh thần, thời gian, sức khỏe, bạc tiền của con người, trong đó giới trẻ chiếm đa số. Nữ tỷ phú Gina Rinehart có lẽ cũng thấy việc ngốn thời gian cho đàn đúm với mấy mạng xã hội là việc phí phạm sức khỏe, thời gian, khiến người ta không thể ngoi lên được kiếp giàu sang. Ý Lớn Gặp Nhau.

Nhiều người hỏi tôi cách để thành công. Tôi đã từng trả lời qua vài bài viết trước đây rằng bạn đừng hỏi ai cả vì các tỷ phú Việt Nam không bao giờ cho bạn biết phương pháp đã giúp họ thành tỷ phú; rằng bạn đừng hỏi ai cả vì mỗi người nghĩ khác nhau về ý nghĩa của hai chữ “thành công”, và tôi đã cho thí dụ về sự thành công của Khuất Nguyên trong việc khiến nhiều trăm năm nay đã trói buộc hàng tỷ tỷ người trên thế gian này năm nào cũng phải cúng Khuất Nguyên; và rằng nếu phải thực tâm trả lời bạn về phương pháp “thành công” của tôi thì đó sẽ là “phải học, phải học thêm, học thêm mãi” để không một thầy cô nào và không bất kỳ một người Việt cùng trang lứa nào với tôi có thể giỏi tiếng Anh hơn tôi, cộng thêm với “phải làm việc, phải làm thêm việc, phải làm việc mãi, phải vất bỏ hai chữ nghỉ hưu ra khỏi quyển từ điển cuộc đời mình”. Và bạn thấy đấy, hãy dành thời gian nhiều nhất cho công việc, chứ đừng cho mấy mạng xã hội, mấy quán cà phê, mấy quán nhậu, mấy cuộc thi hoa hậu, mấy buổi biểu diễn ca nhạc hay biểu diễn thời trang.

(Ghi chú: Tôi dịch socializing thành đàn đúm trên mạng xã hội là dịch đúng nghĩa. Người không biết tiếng Anh tra tự điển sẽ bảo đó là “xã hội hóa”. Chuyên gia trong ngành huấn luyện kỹ năng mềm soft skills như tại MYA BizCorp sẽ nói đó là chủ đề quan trọng của kỹ năng trình bày, kỹ năng ăn nói, v.v. của dịch vụ khách hàng. Cả hai đều đúng, vì vậy không thể dùng trong câu nói của Gina Rinehart vốn mang tính quy chụp, kết tội, khinh miệt.)

Tôi và Bà Chủ Thái Hương của True Milk

Đầu tháng 8 vừa qua, trong thời gian tham dự Hội Nghị Lần Thứ 4 Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Ba Nước Campuchia – Lào – Việt Nam về Vai Trò Của Quốc Hội Trong Việc Hỗ Trợ Tam Giác Phát Triển tại Nghệ An, tôi có dịp đến thăm Công ty Sữa TH ở Xã Nghĩa Sơn, Huyện Nghĩa Đàn. TH là công ty nổi tiếng không những ở quy mô có thể nói lớn nhất Việt Nam với vùng trồng cây nguyên liệu chế biến thức ăn mênh mông bát ngát, khu chăn nuôi bò rộng lớn hiện đại, và khu sản xuất sữa công nghệ tối tân, mà còn ở sản phẩm True Milk do là sữa tươi 100% có hàm lượng chất dinh dưỡng tất nhiên cao hơn rất nhiều so với sản phẩm “sữa tươi hoàn nguyên” từ sữa bột pha với nước hoặc từ sữa bột pha với một phân sữa tươi. Kể từ sau chuyến thăm TH, tôi luôn dặn vợ tôi mỗi khi mua sữa ở siêu thị phải chọn mua True Milk. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với tôi là trong bữa cơm chiêu đãi tại Huyện Ủy, tôi ngồi đối diện với bà Thái Hương, chủ nhân Công ty Sữa TH của sản phẩm True Milk. Đó là một phụ nữ thấp người, dáng gầy, và trong lúc đãi mọi người với các món đặc sản vùng biển, Bà Thái Hương chỉ dùng một ít xôi trắng. Và Bà đã làm tôi ngạc nhiên khi Bà nói về điểm yếu của việc “hợp tác bốn nhà” mà chính phủ phát động (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học), và theo Bà chỉ có “hai nhà” thôi, đó là nhà nướcnhà doanh nghiệp. Lắng nghe các lập luận của Bà Thái Hương, tôi tủm tỉm cười thán phục và vui khi thấy … Ý Lớn Gặp Nhau.

Thật ra, trong rất nhiều bài viết trên Emotino nhiều năm qua, tôi cũng đã nêu yếu điểm của “hợp tác bốn nhà” và lập luận rằng chỉ có “hai nhà” là nhà nướcnhà nông nếu muốn đại cuộc phát triển tam nông (nông nghiệp – nông thôn – nông dân) đi đến thành công. Gần đây, trên báo chí xuất hiện các đánh giá của các cơ quan nhà nước phân tích các lý do vì sao “liên kết hợp tác bốn nhà” đến nay vẫn “chưa” phát huy hiệu quả. Tôi vẫn cho rằng “hai nhà” của tôi vững hơn “hai nhà” của Bà Thái Hương, vì rằng “nhà doanh nghiệp” có hai điểm yếu:

Thứ nhất, đó là tập hợp của ba hạng người gồm doanh chủ tốt (kinh doanh y như Kim Sang Ốc của Hàn Quốc, tất cả vì sự phát triển của nền thương mại nước nhà, vì ích quốc lợi dân, vì sự vũng bền của chế độ), doanh chủ xấu (kinh doanh y như bọn qua bên Trung Quốc hốt hết xác heo, xác bò, xác gà vịt chết bịnh, chở về Việt Nam trên các chuyến xe tải “xuyên Việt” vô tận Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam để bán lại cho mấy nhà hàng, quán ăn, giết người không gớm tay), và doanh chủ không tốt không xấu (không qua Trung Quốc lượm xác thú chết, không buôn lậu, chỉ lo “găm” hàng để gây sốt giá như giá xăng dầu chẳng hạn), mà tỷ lệ không phải là lấy 100 chia cho 3.

Thứ nhì, tôi thường lập luận rằng ai cũng là doanh nhân, dù đó là học sinh hay hiệu trưởng, nhân viên hay giám đốc. Thế nên, nhà nông dưới góc nhìn của tôi nhất thiết phải được huấn luyện các kỹ năng để nhận ra chân giá trị “doanh nhân” của chính mình, để có trách nhiệm với chất lượng “hàng hóa” mà mình làm chủ, biết “đàm phán” với nhà “phân phối” hoặc “khách hàng”, rành sự tiếp cận các khoản vốn vay, nhuần nhuyễn cách lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch  kinh doanh, sử dụng vốn, tiếp cận khoa học canh tác và khoa học quản lý, theo dõi thông tin thị trường và biến động giá cả nguyên liệu vật tư, v.v., từ đó hình thành tầng lớp phú nông, hình thành nông trang, phát triển nông thôn, phát triển nông nghiệp nước nhà. Nhà doanh nghiệp thuần túy, do đó không bao giờ có thể thành đối tượng đáng tin cậy của “hai nhà” trong đại cuộc phát triển tam nông.

Tôi và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Vừa qua, các báo lớn ở Việt Nam có tải đăng lượt ghi bài phát biểu rất dài của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi làm việc với Bộ Giáo Dục và Đào tạo ngày 17-8, mà cốt lõi của tư duy mới là “Triết lý giáo dục của mọi thời đại giáo dục Việt Nam là dạy người, dạy làm người. Hãy sống và làm việc như một con người chân chính – đấy là điều nhân dân đòi hỏi…. Dạy người là dạy về nhân cách, về đạo làm người.”

Cách nay rất nhiều năm, tôi có “nạp” chi tiết tự khai về bản thân trên một số trang mạng (như Facebook, Multiply, LinkedIn, Anphabe, v.v.), trong đó ghi bằng tiếng Anh về “khuynh hướng chính trị” của tôi là Nationalist Communist (nhà Cộng sản Dân tộc chủ nghĩa) và Confucianist Communist (nhà Cộng sản theo khuynh hướng trọng Khổng), và lập luận trong những buổi trả lời phỏng vấn của nước ngoài về tầm quan trọng của “đạo làm người”.

Cộng sản vì khẳng định chế độ cộng sản là thứ duy nhất cần có để bảo vệ thành công sự tồn tại của nước Việt Nam trước nanh vuốt Trung Hoa.

Dân tộc chủ nghĩa vì không bao giờ tồn tại cái gọi là thế giới cộng sản của các quốc gia cộng sản vì mỗi quốc gia đều ưu tiên lo cho chính mình, và do đó Việt Nam phải luôn đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết.

Khuynh hướng trọng Khổng để duy trì được chế độ cộng sản dân tộc chủ nghĩa. Tôi đã trả lời phỏng vấn rằng do bọn thực dân Pháp thực thi chế độ ngu dân nên rất ít người Việt được học hành, và khi chỉ với sự căm thù giặc Pháp làm hành trang theo Đảng để đấu tranh võ trang giải phóng đất nước, rất nhiều những con người ít học đó lập nên công trạng hiển hách, trở thành đảng viên và được bố trí giữ những trọng trách trong chính quyền sau khi thống nhất đất nước, và nhiều người trong số họ đã trở thành tội phạm chỉ vì họ đã chưa được giáo dục về đạo làm người với các giềng mối của tư tưởng Khổng giáo, để biết xem trọng nhân-nghĩa-lễ-trí-tín, để biết đạo hiếu với mẹ với cha, để biết cái thứ tự lớp lang quan trọng của tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ, và để biết trọng dân theo kiểu dân-vi-quý-xã-tắc-thứ-chi-quân-vi-khinh. Không phải đảng cộng sản đã giáo dục những con người cộng sản đầu tiên của cách mạng Việt Nam, mà chính lòng ái quốc của các nhà chí sĩ xuất phát từ sự thắm đượm tinh thần trọng Khổng đã khiến họ sáng suốt lựa chọn con đường cộng sản vì đại nghĩa cứu nước cứu dân. Tôi cũng đã tâm sự với vài nhà báo trẻ rằng rất tiếc Việt Nam đã bình dân hóa một điều kỳ vĩ vốn đòi hỏi một trình độ tư duy cực cao khi sớm đem chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa cộng sản khoa học, và kinh tế chính trị Mác-Lênin vào giảng dạy trước trình độ thạc sĩ, khiến người tốt nghiệp thì vô số nhưng chẳng mấy ai thi thố được bất kỳ điều gì đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân hoặc trong việc nâng cao được uy thế của các điều kỳ vĩ đó, có chăng là sự xem nhẹ, xem thường chúng, đem chúng ra bỡn cợt, nhạo báng lúc phiếm chuyện bên bàn nhậu đầy ắp sự tha hóa suy đồi.

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ tránh xa điều tiêu cực mà không cần đọc mấy tấm áp phích đầy những giòng chữ vô nghĩa như “hãy nói không với…”

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ khôn ngoan không để bị kẻ thù của quốc gia lôi kéo vào những sự xách động bạo loạn, tránh xa các “diễn biến hòa bình” mà thực chất là đẩy đất nước vào chiến  tranh.

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ như các bậc tiền bối yêu nước với trí tuệ và sự khôn ngoan.

Và tóm lại, phải dạy học sinh về nhân cách, về đạo nghĩa, về đạo làm con, về đạo làm người, như những điều căn bản, ưu tiên, vì lý tưởng cộng sản chỉ có thể đơm hoa kết trái nơi những công dân đạo đức, trưởng thành, ưu tú, chứ không phải nơi những đứa bé già non nớt.

Ý lớn rốt cuộc cũng đã gặp nhau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

Xin mời tham khảo thêm (theo thứ tự alphabet):

Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước  20-5-2019

Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước 28-01-2016 có trích đăng lại phần “Hợp Tác Bốn Nhà” trong bài viết năm 2010 trên Emotino tựa đề “Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam” lập lại ý chính của bài “Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm, Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà” viết riêng phê bình đề tài “hợp tác bốn nhà” đăng trước đó cũng trên Emotino.

TH True Milk  11-11-2015

Thế Nào Là Doanh Nhân  15-12-2015

Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi

Bài Viết Dành Cho Lãnh Tụ Tương Lai Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Sử Nghiên, Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng Đẳng ở Việt Nam, Nhà Hoạt-động Chính-trị Dân-tộc Thiên Khổng

11-8-2019

Ghi chú đặc biệt: Bài Hiền Tài được viết dành cho cấp lãnh đạo quốc gia, còn bài Sự Cố Gateway Hà Nội này được viết dành cho cấp lãnh tụ quốc gia, không phải lãnh đạo chính trị, và có liên quan đến bài sẽ được viết về tương lai chính trị Việt Nam trong cụm bài Tiên Tri Thấu Thị.

Tất cả hình ảnh trong bài này được chụp bởi Hoàng Hữu Phước theo nguyên tắc trong Thùng Nước Đá.

A) Sự Cố Gateway – Giải Thích Từ Ngữ

Sự cố Gateway là tên gọi giản đơn về một sự cố cực kỳ phức tạp vừa xảy ra tại cái gọi là “Trường Quốc Tế Gateway ở Hà Nội” lột truồng những 4 vấn đề đã vượt qua lằn ranh cảnh báo đỏ của Hoàng Hữu Phước suốt 40 năm qua về vô số sai sót ổ vịt ổ heo ổ khổng tượng loophole mà nay tiến thẳng đến sự sụp lún thành vô số hố tử thần sinkhole chắc chắn sẽ gây ra sự sụp hầm sụp hố vô phương cứu chữa của cỗ xe chế độ gồm (a) sự xuống cấp của con người, (b) sự luống cuống của giới cầm quyền, (c) sự chà đạp luật pháp, và (d) sự thất bại hoàn toàn của hệ thống giáo dục-tuyên truyền vô dụng của Việt Nam.

Cỗ xe chế độ là cỗ xe có thiết kế hiện đại nhất thế giới, trang bị nội thất hiện đại nhất thế giới, hệ vận hành cơ khí hiện đại nhất thế giới, bên ngoài sơn phủ hào nhoáng dán đầy “sticker tranh cổ động 3D” nêu các lời năn nỉ van nài hãy tuân thủ luật giao thông, các “giáo dục tuyên truyền” toàn kiểu xài tiền thật nói lời ảo về ứng xử khi “tham gia giao thông”, được vận hành bởi những người không biết vận hành cỗ xe hiện đại nhất thế giới ấy chạy trên đường mòn trong khu Safari đặc-thù-Thành-Phố-Hồ-Chí-Minh tức lúc Thành Phố Hồ Chí Minh thấp hơn mặt nước biển Vũng Tàu còn Safari không còn là “Công Viên Dã Sinh” mà là chữ viết tắt thuần túy tiếng Anh của “Swamp for Ack-acks Relief” tức Đầm Lầy An Nghĩ Của Pháo Cao Xạ do chỉ có các pháo này mới nhú nhô được nòng lên khỏi mặt nước ấn chìm Thành Phố Hồ Chí Minh mà thôi chứ không phải hươu cao cổ Châu Phi như tại các Safari chính hiệu con nai vàng ngơ ngác khắp nơi trên thế giới chật hẹp một cách bao la hoang vắng lúc nhúc bao con người và con thú này.

Sự xuống cấp của con người là khi có sự biến mất hoàn toàn và triệt để của 2 thứ tinh thần trách nhiệm đạo đức tự thân và tinh thần trách nhiệm công việc nơi tất cả các chủng loại con người bao gồm giới thường dân từ người ăn xin trở lên, cấp lãnh đạo từ chủ tịch Nước trở xuống, và hạng tăng lữ tu hành bất kể từ đâu trở lên hay từ que (where) trở xuống. Sự cố Gateway lẽ ra đã không bao giờ có thể xảy ra nếu đã không có sự biến mất ấy.

Sự luống cuống của giới cầm quyền là khi thiếu vắng 4 năng lực không bao giờ được phép tách rời của (a) xử lý hiệu quả tình huống, (b) xử lý hiệu quả biến cố, (c) giám sát hiệu quả trong cảnh báo và ngăn chặn biến cố, và (d) biết lo trước cái lo của người dân” để từ đó chủ động đề xuất trước các biện pháp và quy định thay vì chờ sự việc xảy ra mới dựa theo đó mà giải quyết hậu quả. Sự cố Gateway đã khiến giới cầm quyền Hà Nội phát biểu vô duyên vô pháp rú rừng chỉ dựa trên từ vựng ngữ nghĩa rằng “Trường Quốc Tế Gateway không phải là trường quốc tế” mà không biết chữ trước chỉ là một chữ tiếng Việt mà bất kỳ người Việt nào cũng có quyền sử dụng còn chữ sau có ý nghĩa liên quan đến phạm vi thế giới – tương tự kiểu giải thích rằng “Ông Nguyễn Phan Mỹ Vượn không phải là loài vượn và không có quốc tịch Mỹ” vậy; và rằng đơn vị cung cấp dịch vụ đưa đón học sinh không có giấy phép cho hoạt động này. Chính sự luống cuống của giới cầm quyền cho thấy tình trạng vô chính phủ, vô luật pháp, đạp chà luật pháp. Mà tất cả đã lột tả sự thất bại hoàn toàn của hệ thống giáo dục-tuyên truyền của Việt Nam mà Hoàng Hữu Phước đã từng thấu thị.

B) Tại Sao “Lãnh Tụ”?

Khi nêu lời chua rằng đây là “bài viết dành cho lãnh tụ tương lai của Việt Nam”, tôi muốn nêu 3 sự thật rằng (a) Việt Nam hiện chỉ có tập thể lãnh đạo chính trị tuyệt đối ngang hàng nhau ở cấp cao nhất, (b) những bước ngoặc lịch sử của bất kỳ quốc gia quốc gia dân tộc nào cũng chỉ do một người duy nhất thực hiện thành công: đó là một vị lãnh tụ cách mạng, và (c) Nguyễn Phú Trọng là một vị lãnh đạo chính trị thuộc bậc nhân tài nhưng không ở cương vị lãnh tụ cách mạng (cách mạng Việt Nam có 3 vị hiền tài duy nhất là các ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Trần Đại Nghĩa; nhưng chỉ có Hồ Chí Minhlãnh tụ).

Chính vì có tập thể lãnh đạo chính trị “tuyệt đối ngang hàng nhau ở cấp cao nhất”, Việt Nam đã vướng 2 điều nghiêm trọng tối kỵ trong trị quốc gồm (a) không có vấn đề trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cao nhất của hệ thống chính trị trước pháp luật, dẫn đến hiện trạng đớn nhục ê chề như của Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay khi sẽ không bao giờ dẫn đến bất kỳ hình phạt trách nhiệm nào được áp dụng động được đến các Ủy Viên Bộ Chính Trị nào đã làm Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng từng xuất thân từ vai trò lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh vào thời điểm xảy ra các tiêu cực đớn nhục chề ê ấy, mà lý do tuyệt diệu cho sự bất khả xâm phạm ấy là hoặc họ đã quy tiên theo nghi thức quốc tang được các lãnh đạo thế giới thông qua các đại sứ đặc mệnh toàn quyền tiễn đưa hoặc đã về hưu từ lâu không còn thuộc thời gian khởi tố quy trách nhiệm; và (b) sự hình thành các phe nhóm phục vụ “lợi ích nhóm” và “tranh giành phiếu bầu”, vì nếu không đã chẳng có việc kỳ quái rằng người đứng đầu một tổ chức đã hoàn thành xong sứ mệnh lịch sử trong thời chiến của nó như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam lại phải làm Ủy viên Bộ Chính Trị chỉ để làm công việc cực kỳ tầm thường nhưng ngốn biết bao ngân sách quốc gia gồm mỗi năm năm một lần tổ chức “hiệp thương” chọn đặt những người-không-được-dân-biết-đến-hoặc-vi-phạm-pháp-luật-và-không-xứng-đáng vào danh sách bầu cử Quốc Hội từng địa phương cho dân từng địa phương chọn bầu sau khi đọc hoặc không cần đọc danh sách ứng viên, mỗi năm hai lần tranh giành với các đại biểu quốc hội ở địa phương để thu gom lượm lặt tập hợp các “kiến nghị của cử tri” để Chủ Tịch Trưng Ương Mặt Trận Tổ Quốc có cái mà đọc tại Quốc Hội dài-lê-thê-7-lần-7-bốn-mươi-chín-phút, mỗi năm vài lần xin tiền các doanh nghiệp để làm công tác xã hội, và mỗi thập kỷ một lần đề ra kế hoạch tuyên truyền vận động nhân dân trình Thủ Tướng phê duyệt cho phép sử dụng ngân sách từ tiền thuế thu của dân để tuyên truyền vận động người dân đã đóng thuế phải nên làm cái gì đó.

Các ý kiến của Hoàng Hữu Phước trong bài viết này, do đó, chỉ có thể ích lợi cho Việt Nam khi Việt Nam xuất hiện một lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam vươn lên làm lãnh tụ để tiến hành cuộc cách mạng đưa Việt Nam hùng dũng nhảy sang giai đoạn thịnh cường mà sự cường thịnh của Việt Nam luôn và chỉ nhờ vào nguồn nhân lực đức tài thông tuệ có gia giáo thiên Khổng, vốn là thứ của cải duy nhất cần thiết mà Việt Nam hy vọng sẽ sở hữu mới trong tương lai gần hoặc xa, nếu sự đã lỡ dại đánh mất lực lượng ấy chưa kịp xô Việt Nam lọt xuống hố thẳm diệt vong của muôn đời hư mất (topple down unto the unfathomable abyss of perennial perdition).

Tập thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có thể tạo nên các nâng cấp và đổi mới cho Việt Nam, bất kể các nâng cấp và đổi mới ấy có tốt hơn hay xấu đi, trong trước mắt hay dài hạn, với đặc điểm rằng sử sách không được ghi nhận gì nếu các nâng cấp và đổi mới dẫn đến hậu quả mà không là kết quả.

Chỉ có cá nhân lãnh tụ cách mạng Việt Nam mới có bản lĩnh và quyền lực tuyệt đối để có thể tạo nên sự thay đổi triệt để và toàn diện tại Việt Nam, mà các bước ngoặc luôn thành công miên viễn – ít nhất là về mặt lịch sử do luôn được ghi vào sử sách.

Vấn đề duy nhất cho dân tộc Việt Nam là: lãnh tụ cách mạng Việt Nam chỉ xuất hiện mỗi một lần sau mỗi vài thế kỷ mà thôi.

C) Tại Sao Hoàng Hữu Phước?

Thế tại sao Hoàng Hữu Phước phải là người đứng mũi chịu sào đặt vấn đề về các vấn nạn từ sự cố Gateway Hà Nội?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có nhiều trãi nghiệm thực tế uyên bác uyên thâm về lịch sử hai chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có dũng khí đấu tranh vì nước vì dân vì Đảng Cộng Sản “trong-thời-bình” như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có tinh thần thiên Khổng trong quốc trị của “biết lo trước cái lo của người dân”  như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai như Hoàng Hữu Phước có trình độ lý luận chính trị ở đẳng cấp ngồi chồm hổm trên đầu đội quân Loạn Kiêu Báo truyền thông chính thống bất tài vô dụng “trong-thời-bình” của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay sao?

Các phân tích Phần D dưới đây sẽ chứng minh 4 điều đơn giản trên cực kỳ chính xác một cách đơn giản nhất có thể được.

D) Vấn Nạn Tổng Hợp

Sự cố Gateway Hà Nội cho thấy các vấn nạn mang tính tổng hợp những vấn đề nan giải trầm kha (trầm trọng hết thuốc chữa) trầm tích (hóa thạch mất hút dưới các địa tầng) trầm lắng (cà lăm) trầm buồn (sầu rầu) sau:

1- Luật Pháp

Hóa ra Quốc Hội Việt Nam có toàn các nhà lập pháp tay mơ (amateurish lawmaker) nên mỗi khi xảy ra sự cố đều đổ lỗi cho 10 nội dung quen thuộc gồm (a) luật hiện hành còn bất cập, (b) còn thiếu các quy định cụ thể, (c) luật hiện hành có các chế tài không còn phù hợp do không có tính răn đe – ý nói luật nhũn xèo làm muôn dân nhờn mặt chớ còn sợ, (d) quy định có nhưng lực lượng quá xuyên thấu – ý nói mỏng te, (e) cái từ ngữ như “quốc tế” chẳng hạn thì đâu phải ai muốn dùng là dùng vì nó có nghĩa như thế như thế, (f) cái từ ngữ ấy bấy lâu nay chưa được quan tâm nên bây giờ các quan chức té ngữa giơ hai chân lên trời đầu hàng, (g) cái dịch vụ đưa đón học sinh ấy bây giờ mới phát hiện là chưa có giấy phép, (h) cái vụ việc này cho thấy chúng ta – không rõ là ai – chưa có quy chuẩn quy tắc quy trình – do 20 năm nay bận bịu bận rộn với cái “quy tắc ứng xử ở Biển Đông” không kịp chèo trở lại bến bờ, (i) ở nước ngoài thì xe đưa đón học sinh rất chuyên nghiệp bằng xe đưa đón chuyên nghiệp – bây giờ mới biết đấy, và (j) cần thiết phải có thêm vài trăm tỷ để đề ra các quy chuẩn quy tắc quy trình cho từng loại nhúc nhích một trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và hoạt động xã hội quốc gia nghĩa là vô thiên lủng thứ.

Thế đẳng cấp thấu thị bao trùm “Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân  lẽ nào chỉ tồn tại mỗi nơi Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay sao vậy?

2- Giáo Dục

Hóa ra “giáo dục” là dành chung chung một cách đầy tốn kém mà Nhà Nước trút hầu bao từ tiền thuế của dân ưu ái dành cho những ai còn đi học chứ đã đi dạy thì dù có “vô giáo dục” cũng không sao, sẽ được tôn vình. Bởi vậy mà có ả giáo viên họ Phết (làm thơ thảy lên Facebook) viết vớ vẩn về “Lạ Quá Phải Hôn Anh?”, có thằng thầy giáo tiến sĩ hiệu trưởng đại học viện trưởng viện này viện nọ họ Trần thà vi phạm Luật Bầu Cử chứ nhất quyết không bỏ buổi yến tiệc ở Ngân Hàng Nhà Nước vừa no say rượu nhiều chục triệu mỗi chai vừa hát Karaoke với ca nữ áo tứ thân phục vụ vừa nhận bao thư 10 triệu đồng lì xì của Thống Đốc, có “thầy cô” dẫn lớp đi tắm biển Cần Giờ làm đuối nước mấy học trò, có thằng hiệu trưởng họ Sầm dâm ô các nữ sinh rồi giáo dục đào tạo cả đám học trò phục vụ tình dục ngay tại trường cho các thằng quan chức giáo dục cấp Tỉnh đến vừa hưởng lạc thú thịt tươi máu đỏ vừa chuẩn bị nguồn nhân sự cung ứng cho các khu đèn đỏ ở các Đặc Khu Kinh Tế, có thằng hiệu trưởng đại học muốn nhanh chóng có một Đống Đô (La) nên bán bằng cấp cử nhân Anh Văn cho những thằng những con muốn đi tắt đón đầu học Thạc Sĩ-Tiến Sĩ từ tiền thuế của dân, và nay có ả giáo viên không thèm đếm xỉa đến sĩ số lớp khiến một học sinh lớp 1 bị bỏ quên đến chết ngạt trên xe đưa đón, v.v. và v.v. Bảo sao Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước chỉ cần thấy trình độ tiếng Anh của học sinh-sinh viên Việt Nam là con số zero là đã cho rằng đủ để cứ luôn mồm mắng mỏ miệt thị rằng giáo dục Việt Nam đã hỏng bét rồi.

3- Tuyên Truyền

Trong thời hiện đại ngày nay, báo chí của Đảng cần được xem như đã hoàn thành xuất sắc vai trò công cụ của Đảng trong thời chiến, vì thật là thơ ngây ấu trỉ khi cho rằng người dân vẫn đang đón đọc bản in của các tờ báo chính thống của Đảng như cách nay 30 năm.

Nếu báo chí vẫn còn là kênh thông tin/tuyên truyền/giáo dục hiệu quả của Đảng thì tại sao báo chí

(a) thất bại toàn diện trong chặn ngăn các cuộc biểu tình,

(b) thất bại toàn diện trong chặn ngăn công dân không sa vào các lọc lừa trên không gian mạng,

(c) thất bại toàn diện trong chặn ngăn được các sự hiểu sai lệch về các chính sách chủ trương của Đảng,

(d) thất bại toàn diện trong uốn nắn tư tưởng lệch lạc của giới trẻ/giới công chức.giới lãnh đạo,

(e) thất bại toàn diện trong “giáo dục tuyên truyền” và “hỗ trợ giáo dục tuyên truyền” người dân cho một cuộc sống xã hội tốt lành hơn và an toàn hơn,

(f) thất bại toàn diện trong đấu tranh – theo nghĩa đen – do không thể đánh bại các luận điệu phản động của nước ngoài bằng bất kỳ ngôn ngữ nào và đạt hiệu quả nhanh chóng tức thì,

(g) thất bại toàn diện trong đưa được bất kỳ thông tin nào về sự liêm chính liêm khiết của bất kỳ lãnh đạo cấp cao nào,

(h) thất bại toàn diện trong bảo đảm có đội ngũ lãnh đạo báo chí tài ba đức độ cho chính tòa soạn của mình,

(i) thất bại toàn diện trong bảo đảm một tờ báo phải có những phần mục chất lượng cực cao về thông tin/tuyên truyền/bình luận như báo chí bình thường của các nước văn minh Âu Mỹ thay vì chỉ toàn đưa tin giống nhau chỉ với các phỏng vấn và tràn ngập quảng cáo như phương cách kiếm ăn duy nhất chứ không dám bình luận chuyện quốc gia đại sự,

(j) thất bại toàn diện trong duy trì vị trí vũ khí ngôn luận sắc bén bảo vệ thành công Đảng và chính nghĩa quốc gia,

(k) thất bại toàn diện trong đạo đức nghề nghiệp của phóng viên và “nhà báo”,

(l) thất bại toàn diện trong tạo dựng uy danh với báo chí thế giới, và

(m) thất bại toàn diện trong vân vân và vân vân.  

Như đã nêu trong phần Kết Luận của bài Rượu, (a) Nhà Làm Luật Việt Nam phải chăng toàn là nhà giáo nên toàn nghiện xài chữ “giáo dục” và phải chăng vì họ cứ nghĩ Việt Nam đang trong thời chiến tranh khốc liệt nên sính xài hoài chữ “tuyên truyền”; và (b) Nhà Làm Luật Việt Nam và lãnh đạo các ban ngành đoàn thể phải chăng do quen xúc phạm nhân dân Việt Nam, xem họ có dân trí thấp nên hở ra cái gì là xoen xoét miệng mồm nói “phải ra sức tuyên truyền giáo dục nhân dân” về cái đó?

Vấn đề, do đó, là Đảng phải nhanh chóng dựng xây hệ thống vũ khí chính trị mới nhằm thay thế cho hai vũ khí đã cùn nhụt và trở nên hoàn toàn vô dụng là báo chí truyền thông chính thống và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Giáo dục/tuyên truyền hiện chỉ được tiếp tục xem như vũ khí chính trị của bọn chống chính phủ chứ không còn là vũ khí của bất kỳ chính phủ nào trừ chính phủ Việt Nam (do lầm tưởng nó vẫn sẽ phát huy tác dụng trong kiến quốc thời bình trong bất kỳ hoàn cảnh phát triển công nghệ vũ bão nào của toàn thế giới) và chính phủ Trung Quốc (do xem nó là thứ vũ khí để lưu manh chống Việt và cướp bóc).

Hệ thống vũ khí chính trị mới mang tính thay thế hiệu quả và thích ứng với môi trường thế giới mới ngày nay ấy nằm trong sách lược quốc trị của tác giả bài viết này mà lãnh đạo cao nhất của Đảng có thể lắng nghe sự trình bày trực tiếp – không thể tiết lộ khơi khơi miễn phí trên không gian mạng – nếu muốn Cộng Sản Việt Nam không tiếp tục thua tan nát về phương diện truyền thông chính trị chính thống chính đạo như từ đầu Thế Kỷ XXI cho đến nay.

4- Tư Tưởng

Như đã nói trong bài Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng, uy thế ưu việt của Việt Nam là có hệ tư tưởng ưu việt nhất nhân loại trong cả hai Thế Kỷ XX và XXI. Song, chính hệ tư tưởng ưu việt ấy lại là nguồn cơn đe dọa sự tồn vong của chế độ do nó tạo nên tâm lý tự mãn, cảm giác an toàn, mà tất cả chỉ dẫn đến sự mất cảnh giác đã bao lần đặt nền chính trị quốc gia vào sự đương đầu với các vấn nạn phải giải quyết một cách lẽ ra đã có thể tránh được, làm chậm lại tiến trình phát triển đất nước như kỳ vọng.

5- Con Người

Và nguyên nhân khiến hệ tư tưởng ưu việt nói trên không trở thành vũ khí ưu việt siêu đẳng là do các vấn nạn luật pháp, vấn nạn tuyên truyền làm cho hoặc bị trì trệ hoặc bị phá hoại, mà cái chính gây ra vấn nạn luật pháp và vấn nạn tuyên truyền đó là vấn nạn về con người nhất là con người trong đội ngũ lãnh đạo chiến lược quốc gia. Vấn nạn con người sẽ được phân tích rõ trong phần E dưới đây.

E)  Chân Lý Hoàng Hữu Phước

Trường Quốc Tế Gateway không phải là trường “quốc tế” – theo hé lộ công khai của một quan chức Hà Nội tại buổi họp báo. Thì “quốc tế” là chữ tiếng Việt, ai muốn đặt thì đặt, có hề chi. Còn Vinataxi là của nước ngoài, và chữ “Vina” có là “Vietnam” cũng chẳng hề chi. Sắp tới nếu có mấy cái “Đặc Khu Kinh Tế” thì liệu có xuất hiện các Vinagarbage tức Công ty Rác Việt Nam, Vinasewageclearance tức Công ty Thông Cống Việt Nam, Vinacasino tức Công ty Sòng Bạc Việt Nam, và Vinabrothel tức Công ty Nhà Thổ Việt Nam, v.v., hay không thì cũng chẳng hề chi. Tên mà! Đầu tư nước ngoài “minh bạch” mà! Có đóng thuế mà! Làm giàu “phú” cho cả nước “quốc” mà. Sướng như trên mây “vân” thiệt mà chứ có “đồn” đại gì đâu!

Tương tự, “Chân lý Hoàng Hữu Phước” không hề mang nội hàm cao đại mãn hào rằng tất cả những phán phê của Hoàng Hữu Phước đều là chân lý. “Chân lý Hoàng Hữu Phước” đơn giản chỉ là một công thức tu từ, theo đó, cái Hoàng Hữu Phước gọi là chân lý là do chính ông ta nêu lên chứ không được công nhận bởi bọn Kiêu Báo ngu đần và bọn Kiêu Đảng phản Đảng; và theo công thức hàn lâm Âu Mỹ thì tên của nhà phát minh có thể được đặt cho công trinh, cho hành tinh, cho Sao Chổi, cho thiên thạch, cho cả vi trùng và siêu vi trùng. Thế nên “Chân lý Hoàng Hữu Phước” như thuốc vắc-xin Sởi luôn chứa đầy vi khuẩn Sởi hấp hối, ai chích thì tốt, ai ngu như dân thành thị Âu Mỹ văn minh hiện đại thì ráng chịu. Tự do tự quyết tự chủ tự tiêu mà!

Thế thì, “Chân lý Hoàng Hữu Phước” đặt trên nền tảng con người vì chính con người quyết định sự tồn vong của cả một chế độ chính trị cùng sự tồn tại vật chất của đất nước của chế độ chính trị ấy. Chân lý, tất nhiên, luôn trên cơ sở những sự thật nào thật sự nhất.

1- Sự Thật Việt Nam Cộng Hòa

Như từng kể nhiều lần trên blog này, tôi lúc học ở trường Tiểu Học Phan Đình Phùng 491/7 đường Phan Đình Phùng Quận 3 Thủ Đô Sài Gòn (nay tên đường là Nguyễn Đình Chiểu, và ở đầu ngõ mới đây lại gắn bảng tên đường là Bàn Cờ, ắt nối dài với đường Bàn Cờ bên đối diện, biến bao nhà trong hẻm 491 này thành nhà…mặt tiền), tôi hai lần nhận phần thưởng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và một lần nhận giải thưởng “bé khỏe bé đẹp bé giỏi bé ngoan” duy nhất của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế tại Việt Nam Cộng Hòa (ở các thành phố lớn Việt Nam như ở Thành Phố Hồ Chí Minh hiện các trường lớn chỉ dám có danh xưng “bé khỏe bé ngoan” vì hầu như bé nào cũng mập ú ăn mặc “hàng hiệu” nên tất nhiên “đẹp” và bé nào cũng thuộc tập thể lớp luôn có 100% học giỏi mà).

(Cần nói rõ là một khi Nguyễn Văn Thiệu đã là “tổng thống” thì bất kỳ ai cũng sẽ gọi Nguyễn Văn Thiệu là “tổng thống”.  Một khi Barack Obama đã là “tổng thống” thì bất kỳ ai cũng sẽ gọi Barack Obama là “tổng thống”, chứ không phải gọi là “thằng nhóc Barack Obama” khi nói về giai đoạn Barack Obama học mẫu giáo – nghĩa là người ta sẽ nói “tổng thống Barack Obama lúc là học sinh ở trường mẫu giáo ABC ở Bang XYZ đã hay cướp giật bánh kẹo của các bé gái”. Phải giải thích ở đây như vậy vì bọn phản Đảng và bọn chống Việt rất cay cú do luôn thất bại trước tôi nên sẽ cố moi móc cộng trừ nhơn chia rồi hê lên rằng tôi nói xạo với bằng chứng của chúng có thể đưa ra là vào cái năm ấy năm ấy Nguyễn Văn Thiệu chưa làm Tổng Thống mà hình như chỉ mới là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Như vậy, Nguyễn Văn Thiệu là “tổng thống” do ông ta ăn ở chình ình trong “Dinh Độc Lập” với vợ ông ta chứ không “ăn nằm” với “thằng” lãnh đạo nào khác, và chức vụ cao nhất cuối cùng của ông ta là “tổng thống” nên ông ta luôn được gọi là “tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”).

Năm tôi học lớp Tư (hiện nay gọi là lớp 2) , phần thưởng tôi nhận được từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một chuyến tham quan Dinh Độc Lập để dự tiệc tối Tết Trung Thu ngoài trời với Tổng Thống và Đệ Nhất Phu Nhân. Gọi là “tiệc” chứ tôi chỉ được phát một túi ny-lông đựng hai chiếc bánh nướng và một chiếc bánh dẻo Bảo Hiên Rồng Vàng cùng một chai xá xị với một chiếc lồng đèn tròn giấy xếp màu đỏ cùng hai chiếc đèn cầy mà thôi. Tôi phải đứng núp ở hành lang vì cơn mưa dữ dội ập đến làm tiệc ngoài trời bị dẹp bỏ không kèn không trống. Nhưng tôi được chứng kiến một cảnh đẹp hơn phim hành động Hollywood khi đoàn xe mô tô Harley-Davidson của cảnh sát công lộ hộ tống xe tổng thống chạy ngược chiều đường Công Lý từ Sài Gòn về đến gần cổng Dinh Độc Lập thì bốn chiến sĩ trên 4 chiếc mô tô dẫn đường đồng loạt đứng lên giang hai tay rộng thẳng ra hai bên (hai xe đầu với hai chiến sĩ đứng hẳn trên yên xe, và hai xe sau với hai chiến sĩ đứng lên trên chỗ gát chân), 4 chiếc mô-tô tự động nghiêng lạng qua trái theo kỹ thuật cá nhân mỗi chiến sĩ đã được đào tạo thuần thục bên Mỹ để tự động rẽ trái vào cổng Dinh, theo sau là chiếc Mercedes tròn trịa to đùng màu đen bóng loáng của tổng thống. Lúc vào trong đường chạy lót sỏi của khuôn viên Dinh, 4 chiến sĩ mở đường mới ngồi xuống yên xe, đặt hai bàn tay lên tay cầm mô-tô để điều khiển xe lên đường cầu bệ vòng cung có mái che. Cảnh biểu diễn độc đáo hơn diễn xiếc ấy gây ấn tượng sâu sắc nơi tôi, cậu bé trưởng lớp tiểu học xuất sắc của thủ đô, cho đến tận ngày nay.

Năm lớp Ba (tức hiện nay gọi là lớp 3) , phần thưởng tôi nhận được từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một chuyến nghỉ mát 10 ngày ở Vũng Tàu. Tập trung tại Trường Tiểu Học Đinh Tiên Hoàng (nay là Trường Tiểu Học Nguyễn Thái Sơn, 12 Huỳnh Tịnh Của, Phường 8, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh) là 500 học sinh tiểu học toàn thủ đô. Mỗi ngày tại Vũng Tàu tất nhiên là có những buổi tắm biển và mỗi tối có sinh họat lửa trại. Những lúc tắm biển, nhiều trăm học sinh nô đùa dưới sự quản lý giám sát cực kỳ khủng khiếp của đội ngũ nam giáo viên: toàn bộ mấy chục thầy mặc quần đùi dàn hàng ngang mỗi người cách nhau khoảng 5 mét, tay giang ngang, nước đến ngang trên rốn dưới ngực, đưa lưng ra biển, mắt quét qua lại trong cung thị-trường-hình-múi-cam-25-độ trước mặt, không bao giờ rời vị trí trong suốt 3 tiếng đồng hồ từ 8 giờ sáng đến 11 giờ dưới ánh nắng gay gắt, hình thành bức-tường-biên-giới-Mỹ-Mê không thể vượt qua của học sinh bất kể chúng đông đến đâu, quậy phá tinh nghịch thế nào. Trên bờ là một nhóm các thầy khác đông tương tự cũng đứng dàn hàng ngang nhưng hướng mặt ra biển giám sát theo dõi các hoạt động trong cung thị-trường-hình-múi-cam-25-độ trước mặt để bảo đảm hai điều rằng không bất kỳ một học sinh nào được phép lên bờ rời khu vực tắm vượt qua bức-tường-Donald-Trump và không bất kỳ một học sinh nào gặp sự cố mà không được phát hiện ngay. Chỉ sau khi có còi tập họp thì bức-tường-biên-giới-Mỹ-Mê tiến lên lùa toàn bộ học sinh lên bờ để được điểm danh xướng tên đầy đủ trước khi được đưa đi tắm nước ngọt chuẩn bị ăn trưa; bức-tường-Donald-Trump tức các thầy đứng trời trồng ba tiếng đồng hồ trên bờ mới được phép nhảy ùm xuống nước bơi lội hay tắm táp tí chút trước khi đi ăn trưa sau mọi người.

500 học sinh tiểu học xuất sắc (chỉ mỗi trường Phan Đình Phùng thôi là đã có 5 cấp lớp, mỗi cấp lớp có 10 lớp, mỗi lớp có một học sinh xuất sắc, vị chi 50 học sinh được phần thưởng),10 ngày tuyệt đối an toàn an ninh an bình sinh hoạt vui chơi ở Vũng Tàu: tắm biển, thăm các thắng cảnh, sinh hoạt lửa trại. Không bất kỳ tai nạn đuối nước. Không bất kỳ tai nạn thương tật do đi xe ra Vũng Tàu, do leo núi, do rối loạn tiêu hóa. Không bất kỳ học sinh nào bị bỏ quên chết ngạt trên xe. Không bất kỳ học sinh nào bị bắt cóc hay mất tích. Không bất kỳ học sinh nào bị chó cắn hay sứa đốt hoặc cá mập ngoạm. Không bất kỳ tai nạn xâm hại tình dục nào. (Má tôi hiện vẫn còn đủ minh mẫn để thuật lại chi tiết đầy “danh dự” này của tôi và về việc em trai tôi khóc nhớ tôi đến độ Ba Má tôi phải đưa chị và hai em của tôi ra Vũng Tàu thăm tôi và tôi là học sinh duy nhất có gia đình đến thăm, được một thầy giáo làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa tôi rời trại học sinh trong 60 phút để đến khu lễ tân giao tận tay Ba Má tôi có ký nhận đầy đủ).

Tại bị vì bởi Việt Nam Cộng Hòa có quy chế quy định quy trình quy chuẩn bắt buộc trường học, nhà giáo, nhà xe, khách sạn, nhà hàng, v.v., ư?

Không hề!

Cái duy nhất thực sự hiện hữu ngập tràn tại Việt Nam Cộng Hòa là: nền nếp gia giáo thiên Khổng cả trong tư duy và thực tế đời sống, cái nền nếp mà các Đạo Chúa kiêng sợ e sợ khiếp sợ vì chính cái nền nếp ấy là bức tường thành thép chặn ngăn vĩnh viễn sự lớn mạnh thống lĩnh của các Đạo Chúa tại Việt Nam. Gia giáo thiên Khổng hình thành nhân cách con người rằng làm người phải có tinh thần trách nhiệm với bản thân/gia đình/xã hội, làm người phải có lòng tự trọng, làm người phải có ý thức về cùng hành động cụ thể trong bảo vệ người yếu thế, làm người phải biết trọng danh dự, và làm người phải có lương tâm chức nghiệp – bất kể giàu nghèo, bất kể chức vụ, bất kể nghề nghiệp, bất kể học vấn, vì rằng tiền bạc cao như núi/quyền lực cao ngất/nghề cao vời/văn bằng cao cấp hoàn toàn không hình thành nên gia giáo. Người gia giáo có đặc quyền tự cao để khinh bỉ khinh khi khinh thường khinh miệt người đẳng cấp cao không-gia-giáo. Người gia giáo luôn hiểu rằng người yếu thế là những công dân lương thiện nào là trẻ em, phụ nữ, người già, người khuyết tật, người nghèo, người gặp tai họa, người bị hại, người chưa xóa nạn mù chữ, người sắc tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, người neo đơn. Không gia giáo chỉ là thứ vất đi trong mắt mọi người có gia giáo. Chính cái gia giáo thiên Khổng ấy đã hình thành nên nhân cách các thầy giáo, các tài xế, các đầu bếp và phụ bếp, và mọi người từng tham gia tổ chức chuyến nghỉ mát ấy ở Vũng Tàu vốn là phần thưởng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa dành cho các “nhân tài tương lai của đất nước”. Bảo vệ học sinh vì (a) học sinh là người yếu thế, (b) học sinh là tương lai đất nước, (c) đó là bổn phận và trách nhiệm của tất cả các nhà giáo, (d) đó là bổn phận và trách nhiệm chỉ của nhà trường chứ không phải kiểu hiện nay kêu gào lôi kéo cả bổn phận và trách nhiệm của phụ huynh chẳng khác nào hãng hàng không phục vụ hành khách 14 tuổi trong máy bay nhưng vẫn gào lên rằng phụ huynh đang ở nhà cũng phải liên đới chịu trách nhiệm với sự an toàn của chuyến bay, (e) đó là bổn phận và trách nhiệm của lái xe và đơn vị cung ứng dịch vụ xe đưa đón và của đơn vị cung cấp suất ăn, và (f) đó là bổn phận và trách nhiệm của luật pháp và toàn xã hội.

Gia giáo không bao giờ được hình thành từ các “vận động tuyên truyền giáo dục” của bất kỳ cơ quan đoàn thể chính trị nào đang ngốn vô số tỷ USD của Nhà Nước Việt Nam.

Những người dân có gia giáo là nhân tố cho sự cường thịnh của quốc gia.

Việt Nam Cộng Hòa đã đại bại, bị xóa tên hoàn toàn khỏi bản đồ thế giới ngày 30-4-1975, không phải vì thiếu vắng người dân gia giáo. Sự tồn vong của bất kỳ quốc gia nào lại lệ thuộc vào ít nhất 5 nội dung không thể tách rời của (a) chủ trương, chính sách, tham vọng, tư duy của người đứng đầu; (b) các tác động ngoại lai mang tính địa chính trị, (c) các tác động ngoại lai mang tính khống chế chủ đạo bất kể cái ngoại lai ấy là siêu cường thế tục hay thế lực tôn giáo, (d) các tác động ngoại lai mang tính thời cuộc, và (e) các tác động nội tại mang tính “thiên định” hoàn toàn không thể không nhìn nhận. Ở Việt Nam còn có nội dung thứ 6 rất đặc thù cho sự tồn vong của quốc gia: nguồn nhân lực gia giáo trong nhân dân.

Chính những lãnh đạo không gia giáo ở Việt Nam Cộng Hòa đã tự nguyện đặt bản thân dưới sự khống chế của thần quyền tôn giáo ngoại laisiêu cường thế tục ngoại bang để rắp tâm nương theo đó mà tạo nên cơ nghiệp đế vương nội địa, khiến dân tộc điêu linh và “đất nước Việt Nam Cộng Hòa” điêu tàn bị diệt vong, gây hại cho những người dân gia giáo lẽ ra đã là nhân tố cho sự cường thịnh của quốc gia Việt Nam thống nhất từ hai hiệp định Geneve 1954Paris 1973.

2- Sự Thật Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Bài Hiền Tài đã nói rõ về nội hàm này. Ở đây chỉ cần nêu cái cốt lõi rằng chính vì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có rất nhiều người dân thuộc gia đình gia giáo mà lịch sử Việt Nam đã được khắc ghi dấu ấn với sự xuất hiện của thánh nhân Hồ Chí Minh và bao triệu liệt sĩ và vô số nhân tài xây dựng nên đất nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa làm nền tảng cho một Việt Nam thống nhất mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của thời đại mới.

Điều nhất thiết phải ghi rõ nơi đây là (a) nhờ thuộc gia đình gia giáo mà Hồ Chí Minh cùng Võ Nguyên Giáp và các anh tài anh thư khác đã ái quốc, vệ quốc, cứu quốc, và kiến quốc; và (b) đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công là nhờ có sự hy sinh xương máu của bao triệu người dân Việt Nam gia giáo cũng như sự hy sinh của bao triệu bậc làm cha làm mẹ của những anh hùng gia giáo vị quốc vong thân ấy.

Sự thật thật nhất ở đây là: đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công không bao giờ kèm theo quy định quy trình quy chuẩn rằng chỉ có Đảng Viên Cộng Sản mới được tổng động viên, mới được phép cầm súng đứng trong hàng ngũ quân đội, mới có quyền hy sinh và trở thành liệt sĩ.

Sự thật thật nhất ở đây là: đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công cũng không bao giờ kèm theo quy định quy trình quy chuẩn rằng nếu không là Đảng Viên Cộng Sản thì phải có tinh thần quốc tế vô sản Mác-xít Lê-nin-nít mới được tổng động viên, mới được phép cầm súng đứng trong hàng ngũ quân đội, mới có quyền hy sinh trở thành liệt sĩ.

Chính những người dân có gia giáo thiên Khổng – trong đó có cả Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, và Trần Đại Nghĩa – mới là nhân tố quyết định sự hình thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là vấn đề chân lý cốt lõi mà Hoàng Hữu Phước là người duy nhất trên thế giới nhận diện được và kiên quyết đề ra như nhận thức mang tính khuôn khổ nhất thiết phải có nơi người Việt nào thực sự yêu nước và yêu chân lý.

3- Sự Thật Việt Nam Ngày Nay

Việt Nam ngày nay có 3 điểm yếu.

a) Điểm Yếu Khách Quan:

Có một việc mọi người có thể đã biết – vì Hoàng Hữu Phước cứ lập đi lập lại bao lần trên nhiều blog trong hơn 30 năm qua – rằng Việt Nam lẽ ra đã sớm cường thịnh nếu như Việt Nam không gặp thằng đại ngu đầnthằng đại ác gian.

Mỹ là thằng đại ngu đần mà theo Hoàng Hữu Phước đã nêu thì lẽ ra Mỹ đã nên ngay sau 30-4-1975 đeo theo ve vản o bế Việt Nam, lăng xăng xum xoe “bồi thường chiến phí”, thay vì tập trung đầu tư vào Tàu và bao vây cấm vận Việt Nam, thì giờ đây cách chi mà có 3 vấn nạn của (i) Tàu trở thành cường quốc, (ii) Tàu làm bá chủ Biển Đông, (iii) Việt Nam lẹt đẹt về kinh tế khó thể tự bảo vệ được thân thì cách chi làm tiền phương che chắn cho khu vực ASEAN vốn đa số là đồng minh trước đây của Mỹ ở Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO tức cái tương tự Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO, (iv) Tàu lấn lướt Mỹ về hải quân trên phạm vi toàn cầu, và (v) Tàu sẽ chiếm Úc Đại Lợi từ hợp đồng thuê Cảng Darwin trong 99 năm.

Còn thằng đại ác gian là thằng Tàu. Ở đây chỉ nêu tóm tắt: Việt Nam đã bị thằng đại ngu đần làm cho khốn đốn một thời gian dài, và đang bị thằng đại ác gian làm cho khốn nạn chừng nào thằng Tàu chưa bị tiêu diệt.

Điểm yếu thứ nhất của Việt Nam là vậy đấy.

b) Điểm Yếu Chủ Quan:

Có một việc mọi người sắp biết – vì Hoàng Hữu Phước đang viết ở đoạn này đây rằng tài sản trên bình diện trị quốc phải luôn được hiểu bao gồm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, tài sản truyền thống, và tài sản tinh thần. Chỉ xem vật chất là tài sản, thì việc này sẽ trở thành điều ngu xuẩn tột cùng.

Sau khi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, thu giang sơn về một mối, những người cộng sản Việt Nam đã không hề đập phá đốt bỏ các dinh thự, các kho vàng, các kho tiền, các kho tàng, các kho vũ khí đạn dược, các cơ sở hạ tầng bao gồm các phi trường, hải cảng, cùng các chiến xa, các chiến hạm, các chiến đấu cơ, các đài vi-ba, v.v. và v.v. – tức những thứ thuộc tài sản vật chất tịch thu được từ sự thất trận của quân thù.

Thế nhưng, tại Thành Phố Hồ Chí Minh ngoài một số trường hợp bất khả kháng mà Ủy Ban Quân Quản phải chấp nhận tiếp tục sử dụng các giảng viên đại học Việt Nam Cộng Hòa nào chưa vượt biên, còn một lãnh đạo Đảng chịu lắng nghe ý kiến tư vấn của một nhân vật Việt Nam Cộng Hòa là Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh (Phó Thủ Tướng và Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa, người khi đã trở thành nghị sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa VIII đã chủ động đăng ký cuộc hẹn rồi đích thân tìm đến thăm Hoàng Hữu Phước năm 1990 để lắng nghe các nhận định của Hoàng Hữu Phước về tương lai khả dĩ khả thi nào của đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam – như đã thuật chi tiết trong một bài viết trước đây trên blog này) thì ngay sau 30-4-1975 đã có việc tịch thu đốt bỏ hàng triệu sách vở tài liệu thuộc quyền sở hữu của cá nhân người dân ở Thành Phố Hồ Chí Minh nghĩa là sách vở tài liệu đã không được xem là tài sản dù cân ký được và dùng làm chất đốt nấu ăn được; 5 năm tiếp theo chứng kiến sự cho nghỉ việc hàng loạt những nhân sự Việt Nam Cộng Hòa ngay cả ở những ngành kỹ thuật tân kỳ (như kiểm soát không lưu với lý do bảo đảm an ninh khu vực quốc phòng trọng yếu) hay kế toán tài chính (với lý do phải theo hệ thống kế toán hạch toán xã hội chủ nghĩa và sử dụng đồng rúp-đô-la) hoặc sản xuất kinh doanh (với lý do không chấp nhận hình thành tư bản bóc lột) thậm chí xử tử ngay trong vài tuần đầu giải phóng những doanh chủ sản xuất công nghiệp (với lý do tư sản mại bản phục vụ đế quốc Mỹ), và tiến hành đưa các gia đình tư sản đi “Vùng Kinh Tế Mới”. Những sự thật này cho thấy tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất/kinh doanh/thương mại/thương trường đã không được xem là tài sản.

Điểm yếu thứ nhì của Việt Nam là vậy: cùng với sự không xem trọng các tài sản tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm của chính quyền; sự ra đi ồ ạt của những người Việt vượt biên và của những người Việt gốc Hoa theo lời tuyên truyền của Giặc Tàu – tức hệ thống tuyên truyền của Việt Nam đã thất bại khiến Việt Nam mất đi nguồn tài sản quý báu của tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm cùng hệ thống sản xuất và mạng lưới phân phối có liên quan đến hoạt động tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm ấy, khiến Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn hơn.

c) Điểm Yếu Ý Thức Hệ:

cùng với việc chính quyền đã không xem trọng các tài sản phi vật chất như tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm, Việt Nam tự gây thêm cho mình một điểm yếu khác. Nếu như hai điểm yếu khách quan và chủ quan nêu trên chỉ làm chậm đi sự phát triển của Việt Nam mà theo thời gian thì Việt Nam vẫn có thể và thực sự đã vượt qua được, thì điểm yếu thứ ba lại tiềm tàng mối đe dọa đến sự sinh tồn của cả nền chính trị mà hiện nay hậu quả đã quá nhãn tiền: ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa về đạo đức cách mạng đã trở thành lấn lướt, độc tôn, đè bẹp, tiến đến xóa triệt tư duy về đạo đức gia phong và đạo đức cá nhân thiên Khổng kiểu “kiến ngãi bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” bị dán nhãn “đạo đức tiểu tư sản”.

Điểm yếu thứ ba của Việt Nam, do đó, là sự biến mất của đạo đức gia phong thiên Khổng, khiến ngay cả cán bộ cao cấp của Đảng dù là tướng lĩnh hay bộ trưởng chính phủ cũng trở thành tội phạm tham nhũng/tham ô/thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với số lượng con người đông và khối lượng tài sản gây hại khổng lồ, còn công chức và người dân đa số không còn sở hữu các đức tính mà không có nó thì Quốc Hội Việt Nam sẽ phải chi hàng tỷ tỷ USD để đài thọ việc đề ra hàng tỷ tỷ quy định quy chuẩn quy trình cho từng hoạt động một trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và sinh hoạt xã hội quốc gia, từ sản xuất tăm tre xỉa răng đến sản xuất xe bus đưa đón học sinh, từ bưng bê cà phê đến nhận học sinh lên xe đưa đón, từ cứu người bị nạn đến giúp người bị hại, từ đỡ đẻ đến cúi đầu chào chồng sản phụ, từ dẹp xích lô đạp đến cách tính tiền du khách Nhật, từ quay clip cảnh đánh nhau xé quần xé áo đến cảnh ở truồng dưới ao sen, vân vân và vân vân. Trong khi chỉ cần để yên cho các gia đình phát huy phát triển gia giáo thiên Khổng, Việt Nam lẽ ra đã không phải mất tiền, không bị mất người, không bị ô danh, và sẽ không mất chế độ.

F) Dẫn Chứng Hoàng Hữu Phước

Khác với toàn bộ người dân Việt Nam du lịch nước ngoài luôn chụp ảnh với các biểu tượng các nơi đến để chứng minh bản thân từng đến các nơi ấy, tôi chỉ chụp những ảnh đặc thù về sinh hoạt các nơi đến để làm tư liệu cho các bài viết trong tương lai. Tại Singapore, tôi chỉ chụp hình với kỳ hoa dị thảo trong Vườn Bách Thảo chứ không chịu chụp hình – và thậm chí chả thèm đến tận nơi dù chỉ để xem chơi – với tượng cái con quái thú đầu sư tử mình cá vì cho rằng qua hình ảnh xem trước khi đi thì đó là một tượng tầm thường, rẻ tiền, phi nghệ thuật, cực kỳ quê mùa thô thiển xấu xí do nơi miệng con quái vật đó nhú chìa ra cái ống nước bằng kẽm đen đúa loại phi 1000 ly từ đó nước phun ra xối xả. Cái con ấy mà bơi đi đâu được, nên Singapore chỉ còn cách dậm chân tại chỗ mà thôi với cái nền chính trị độc tài tàn bạo công khai của nó.

Tại New Zealand năm 2014 tôi chụp các bức ảnh sau ở Thủ đô Wellington vì tôi biết 5 năm sau tôi sẽ cần đến chúng để “lên lớp dạy đời” về Sự cố Gateway Hà Nội 2019:

Một trường tiểu học đưa học sinh tham quan Viện Bảo Tàng Quốc Gia New Zealand Te Papa Tongarewa . Trong bức ảnh, giáo viên mang ba-lô xanh là người đứng trụ tại điểm đó ở bãi đỗ xe để điểm danh từng nhóm học sinh khi giao quân và khi thu quân, và để làm mốc định vị xuất phát cũng như mốc định vị tập trung trở lại của các nhóm. Một nhóm tham quan xong được giáo viên đưa về nơi tập trung và chúng ta thấy quân số có 10 học sinh. Khi nhóm thứ nhì trở ra, ta thấy có thêm một giáo viên và quân số học sinh biến thành 20. Và cứ thế mà gia tăng lên 100 học sinh. Suy ra: mỗi nhóm 10 học sinh do 1 giáo viên chịu trách nhiệm giám quản. Suy ra: các học sinh “Tây” rất ngăn nắp và tuyệt đối kỹ luật, không như học sinh “Ta” mà Hoàng Hữu Phước đã miêu tả trung thực trong một bài viết trước đây rằng đám học sinh hàng trăm đứa học thể dục trong khuôn viên Sân Vận Động Quân Khu 7 (nơi “đóng đô” của công ty của Hoàng Hữu Phước trước 2009) đã la hét ồn ào điên loạn nhấn chìm tiếng la hét ào ồn loạn điên của mụ giáo viên thể dục suốt mấy tiết dạy và học thể dục ở đó, nơi mà thầy không ra thầy và trò chẳng ra trò do mất biệt cái tính chuyên nghiệp của người dạy và cái gia giáo của người học. Sự quan tâm của ngôi trường của đám đông người ngợm này ắt đặt vào chỗ khác.

Giáo viên New Zealand tất nhiên chớ biết “gia giáo Thiên Khổng” mà cái ông Hoàng Hữu Phước vớ vẩn ở Việt Nam nói đến là cái quái gì. Họ cũng chả màng đến cụm từ đao to búa lớn của “tinh thần trách nhiệm” mà người Việt hay rao giảng. Cái duy nhất họ có là tính chuyên nghiệp mà “trách nhiệm” là một bó buộc khắng khít mang tính định lượng không thể tách rời khỏi tính chuyên nghiệp. Còn ở Việt Nam, tính chuyên nghiệp nghĩa là có bằng cấp/chứng chỉ hành nghề có đóng dấu tròn kèm dán mã vạch và mã QR; còn “trách nhiệm” là một “tinh thần” mang tính định tính, ở dạng một lời kêu gọi, hoặc như chiếc phao làm cái cớ cho một đợt rút tiền mới từ tiền thuế của dân cho một tân siêu dự án tuyên truyền giáo dục mỗi năm song chưa bao giờ có báo cáo tổng kết thành tích đạt được từ sự tiêu xài ngân sách cho đại cuộc giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức về tinh thần trách nhiệm cứ như thể cái tinh thần ấy của Việt Nam đang ở dưới đáy Rãnh Mariana sâu muôn trượng ở Tây Thái Bình Dương mà mỗi năm cái tinh thần trách nhiệm được nâng cao 1 mi-li-mét nhờ đầu tư tỷ đô của Nhà Nước Việt Nam vậy.

Chính bởi vừa khác nhau trong tư duy từ chương về tinh thần trách nhiệm như nhà giáo New Zealand và Âu Mỹ, và thiếu vắng nền nếp gia giáo thiên Khổng kiểu Việt luôn chứa đầy ắp tinh thần trách nhiệm, mà ở Việt Nam vài năm trước tại Thành Phố Hồ Chí Minh một trường trung học nọ đưa mấy chục học sinh tắm biển Cần Giờ bị chết đuối mấy trò, còn năm nay ở Hà Nội một trường “quét té” kia bỏ sót một học sinh chết ngạt trong xe đưa đón. Phải chăng các nhà giáo nam nữ thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đến Cần Giờ lo khui các thùng bia mang theo để nhậu với cua ghẹ mực khô? Phải chăng giáo viên thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lo xem các video clip đánh ghen tuột quần lòi vú trên điện thoại thông minh để ngu đần bỏ sót học sinh? Và còn bao vụ đánh đập dã man học sinh, hiếp dâm học sinh, để học sinh chết vì khí độc CO2 sau hai ngày cuối tuần bị nhốt trong toilet? Cần nhắc lại một điều mang tính sự thật lịch sử mà chỉ có Hoàng Hữu Phước biết chính xác (do làm Trưởng Lớp suốt 5 năm tiểu học và 7 năm trung học dưới thời Việt Nam Cộng Hòa) và khẳng định (do chỉ chuyên nói về sự thật lịch sử)rằng trong suốt thời gian tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, toàn Miền Nam Việt Nam không hề có Ngày Nhà Giáo hay Ngày Thầy Thuốc quái quỷ gì cả. Và đó là lý do Hoàng Hữu Phước luôn buộc tội các “Ngày” đã gây ra sự sa đọa suy đồi trong xã hội Việt Nam ngày nay.

Các lãnh đạo Việt Nam ngày nay nếu có đội ngũ nhân lực “ra hồn” biết trân trọng những điều tâm huyết Hoàng Hữu Phước nêu ra ngày nay rồi đúc kết dâng lên lãnh đạo đọc qua để lãnh đạo tâm tư ngậm ngùi than tiếc bản thân họ không thể làm gì thì vẫn may ra có thêm những hiểu biết chiến lược kiến nhân và dụng nhân mà họ còn thiếu vắng, đồng thời nhận ra hiện trạng thực tế Đảng Loạn để may ra có những thay đổi nào đó.

Chỉ có lãnh tụ Việt Nam trăm năm sau nếu có đội ngũ nhân lực “ra hồn” biết trân trọng những điều tâm huyết Hoàng Hữu Phước nêu ra trăm năm trước rồi đúc kết dâng lên lãnh tụ đọc qua rồi lãnh tụ tâm đắc hừng hực thực hiện các thay đổi căn cơ  thì đương nhiên Việt Nam cường thịnh.

Có ngày Hoàng Hữu Phước sẽ là cái tên mới mà Nhà Nước đặt thay cho trường Tiểu Học Phan Đình Phùng của Thành Phố Hồ Chí Minh nơi mà phương tiện đi lại lúc ấy sẽ toàn bằng “bus ca-nô” cho học sinh vừa mặc áo phao vừa nghe cô giáo áp tải hướng dẫn cách câu cá đuối dưới nước mà không bị đuối nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Sử Nghiên, Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng-đẳng ở Việt-Nam, Nhà Hoạt-động Chính-trị Cộng-sản Dân-tộc Thiên Khổng

A- Ghi chú: Quý ông/bà nào xưa kia có tham gia dự tiệc Tết Trung Thu tại Dinh Độc Lập và chuyến nghỉ mát 10 ngày ở Vũng Tàu theo phần thưởng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu dành cho học sinh tiểu học xuất sắc của Thủ đô Sài Gòn, xin vui lòng xác nhận trên Facebook của quý vị rằng các chi tiết có liên quan trên là đúng. Lý do yêu cầu: (1) các thư báo của trường và giấy mời của Phủ Tổng Thống tôi giữ từ nhỏ đã bị mối mọt phá hủy hoàn toàn, và (2) bọn Kiêu Báo ở Việt Nam có thể nhao nhao rằng tôi tạo tin xạo Fake News để “câu view”.  Xin chúc sức khỏe và xin cảm ơn nhiều.

B- Tham khảo theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài:

1) Hiền Tài: Hiền Tài  22-5-2019

2) Tương Lai Chính Trị Việt Nam: Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước – Bài Số 2  13-6-2019

3) Tiên Tri Thấu Thị

Hoàng Hữu Phước Thấu Thị Aitee Việt Nam  08-3-2009

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  01-01-2011

Hoàng Hữu Phước Đã Nói Với Thế Giới Về Bitcoin 20-12-2017

Hoàng Hữu Phước Đã Gián Tiếp Dìm Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc Xuống Bùn Nhơ Vạn Đại 20-6-2018

Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước – Bài Số 2  13-6-2019

Lại Chậm Chân 11-6-2019

4) Thùng Nước Đá: Thùng Nước Đá và Blog 14-3-2013

5) Biết Lo Trước Cái Lo Của Thiên Hạ: “Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân” 11-5-2018

6) Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

7) Võ Nguyên Giáp: Đại Tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

8) Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam  11-9-2015

9) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn 11-10-2017

10) Chọn đặt những người-không-được-dân-biết-đến-hoặc-vi-phạm-pháp-luật-và-không-xứng-đáng: Chống Trọng 12-7-2019

11) Danh Sách Bầu Cử Quốc Hội: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

12) Hoàng Hữu Phước: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh 02-10-2014

13) Loạn Kiêu Báo: Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  (Loạn Kiêu Báo) 05-8-2016

14) Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

15) Ả Giáo Thạc Sĩ Họ Phết: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

16) Thằng Giáo Tiến Sĩ Họ Trần: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

17) Đi Tắt Đón Đầu: Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

18) Thạc Sĩ Tiến Sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

19) Tuyên Truyền: Rượu

20) Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

21) Đặc Khu Kinh Tế: Luật Đặc Khu – Phần 2  01-10-2018

22) Loạn Kiêu Đảng: Khi Cựu Quan Chức Cầu Cứu (Loạn Kiêu Đảng) 06-10-2016

23) Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: Nguyễn Văn Thiệu Trong Tương Quan Với Những Nhân Vật Lừng Danh Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới  01-5-2019

24) Phản Đảng: Khi Cựu Quan Chức Cầu Cứu (Loạn Kiêu Đảng) 06-10-2016

25) Chống Việt: Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng 09-6-2008

26) Luôn Thất Bại: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước 20-5-2019

27) Gia GiáoGia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần 18-12-2017

28) Chính cái nền nếp ấy là bức tường thành thép chặn ngăn vĩnh viễn sự lớn mạnh thống lĩnh của các Đạo Chúa tại Việt Nam:: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis 01-8-2017 (Bản Tiếng Anh: Letter to His Holiness Pope Francis August 1, 2017)

29) Mỹ Là Thằng Đại Ngu Đần: EU và Darwin 22-3-2016

30) Cảng Darwin: EU và Darwin 22-3-2016

31) Thằng Đại Ác Gian Là Thằng Tàu: Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại  25-6-2016

32) Sách cân ký được và dùng làm chất đốt nấu ăn: Tôi Và Bạn Nguyễn Minh Luân  05-10-2018

33) Ở truồng dưới ao sen: Ở Truồng Với Sen  22-6-2019

34) Singapore chỉ còn cách dậm chân tại chỗ mà thôi với cái nền chính trị độc tài tàn bạo công khai của nó: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore 23-02-2016

35) Sự quan tâm của ngôi trường của đám đông thầy trò này ắt đặt vào chỗ khác: Đồng Phục Học Sinh 30-01-2016

36) Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

37) Nhà Giáo Nam Nữ Thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Nhà Giáo 25-11-2017

38) Ngày Nhà Giáo: Ngày Nhà Giáo Việt Nam  20-11-2018

39) Hoàng Hữu Phước luôn buộc tội các Ngày đã gây ra sự sa đọa suy đồi trong xã hội Việt Nam ngày nay: Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11-2018

40) Thay Đổi Căn Cơ:

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam 02-02-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Luật Đặc Khu 20-7-2018

41) Đảng Loạn:

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn    14-12-2016

Hoàng Hữu Phước Nhận Xét Nhỏ Về Nội Tình Lớn Tổ Chức Chính Trị Việt Nam 01-12-2018

Hoàng Hữu Phước Đã Từng Nói Về Hai Vấn Đề Quan Trọng Của Chính Trị Việt Nam: Báo Của Đảng Và Trí Thức Của Đảng 10-5-2019

42) Áo Phao: Áo Phao 06-6-2016

43) Hướng Dẫn: Hướng Đạo Bài viết gởi Báo Tuổi Trẻ năm 1995

44) Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng Đẳng: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai 09-4-2015

Hy Vọng

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-7-2019

Hy vọng trong tiếng Anh là Hope.

Hope là tên đoàn thiện nguyện y khoa Mỹ hàng năm đến Việt Nam thực hiện các công tác khám chữa bệnh cho dân nghèo.

Hope do một trường đại học y khoa Mỹ thành lập. Hàng năm Hope đưa y sĩ và sinh viên y khoa của trường đi làm công tác thiện nguyện khám chữa bệnh phối hợp với thực tập y khoa. Hai nơi năm nào Hope cũng có chuyến đến công tác là Châu Phi và Việt Nam. Mỗi đoàn có hàng trăm thành viên gồm giáo sư bác sĩ và sinh viên. Mỗi thành viên phải đóng tiền để được tham gia.

Bức hình trên là khi Hope đến Việt Nam tháng 6-2019 này.

Cháu tôi có mặt trong bức hình trên.

Chúng tôi đón chờ cháu từ đầu năm. Đây là lần thứ năm cháu về Việt Nam, với lần đầu khi cháu mới lên sáu tuổi, và Chị Hai của tôi phải cột dây da cột từ ngang thắt lưng cháu nối với ngang thắt lưng chị để đề phòng cháu đi lạc hay bị bắt cóc giữa đám đông ở các phi trường. Cẩn trọng tuyệt đối là từ gene di truyền của giòng họ Hoàng chúng tôi – thế nên, thật tức cười và ngu xuẩn khi có đám nhà báo tức cười và ngu xuẩn đã dám bảo tôi bất cẩn khi nói “dân trí thấp”, chống “Luật Biểu Tình”, và viết “Tứ Đại Ngu”.  Đứa nào động đến cháu tôi sẽ bị chị tôi ra tay ngay đập cho vỡ mặt đến độ công an Việt Nam tài ba cũng không thể nào nhận diện được kẻ đó qua Chứng Minh Nhân Dân của hắn còn chị tôi từ “phòng vệ chính đáng” ắt bị kết tội “phòng vệ quá đáng” bởi luật pháp Việt Nam. Đứa nhà báo nào dám nhét chữ vào mồm tôi và kêu gào đòi Quốc Hội phải bãi nhiệm tôi sẽ bị tôi tiêu diệt như một lẽ đương nhiên.

Suốt một tuần ở Việt Nam, cháu làm việc thiện nguyện tại vài tỉnh ở Miền Nam, tối về đến hotel phải cùng tập thể ngồi phân chia gói ghém các cơ số thuốc để phát cho dân nghèo ngày hôm sau. Cháu chỉ có thể gởi tôi vài tin và vài hình ảnh qua phương tiện Viber. Cháu nói tội cho dân nghèo quá vì cháu khám phụ khoa – dù chuyên ngành của cháu là gân khớp – mà phòng khám trống hoác không có cửa kín rèm che gì cả. Cháu than thở là hôm trước đoàn khám bịnh cho hơn 200 dân, đến chiều bị phía Việt Nam thúc hối phải lên đường về Thành Phố Hồ Chí Minh, trong khi còn khoảng 50 dân nghèo đến chờ từ sáng sớm nay phải ra về mà không được y sĩ Mỹ khám phát thuốc, khiến lòng cháu bất an trên xe suốt đường về. Cháu hứa sẽ xin phép giáo sư trưởng đoàn để cháu được rời khách sạn lúc 22 giờ chạy đi thăm Cậu Ba chừng 30 phút – tất nhiên chẳng trưởng đoàn nào lại phản quản trị nơi đất khách quê người để cho phép như thế cả.

Việt Nam đối với cháu tôi không là một quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản.

Việt Nam đối với cháu tôi đơn giản nhất và có ý nghĩa nhất: là địa điểm duy nhất trên địa cầu mà cháu lưu luyến mến thương nhung nhớ phải quay về vì tại địa điểm duy nhất đó có Bà Ngoại và các cậu các dì – nhất là có Cậu Ba Hoàng Hữu Phước.

Các công dân Hoa Kỳ gốc Việt nếu sở hữu cùng lúc 4 điều không bao giờ tách rời của (a) có cha mẹ trí hóa cao nhân từ đạo đức Thiên Khổng cao, (b) có học vấn giáo dục bản lãnh cao, (c) có tổ tiên giòng họ toàn những người Việt yêu nước có trí hóa cao nhân từ đạo đức cao đang sinh sống làm việc liêm chính ở Việt Nam, và (d) có lòng tự hào về thân nhân của mình đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam, sẽ không bao giờ lảm nhảm chống Cộng tức chống Việt, nhảy loi choi chống Cộng tức chống Việt, hay về Việt Nam tham gia “biểu tình” sảng mê nhơn quyền dã quyền, dân chủ dân chưởi, tự do khỉ gió, để khi bị tóm thì vợ con đồng loại bên Mỹ tru hú dưới trăng đòi Việt Nam phải “thả ngay”.

Các bạn nghĩ sao về đoạn đối thoại sau đây giữa hai cậu cháu mà các bạn hãy chỉ nên cho đó là sản phẩm của tưởng tượng:

Cháu: Phải chi con làm bác sĩ ở đây.

Cậu: Đâu có gì khó đâu con. Thiếu gì bịnh viện nước ngoài và bịnh viện tư nhân ở đây. Chuyên khoa của con là một ưu thế. Biết tiếng Việt càng là một lợi thế.

Cháu: Mấy chỗ đó đâu dành cho dân nghèo. Con muốn khám chữa bịnh giúp đỡ bịnh nhân nghèo Cậu à.

Cậu: Thì con mở phòng mạch khám chữa bịnh buổi tối miễn phí cho dân nghèo, có sao đâu?

Cháu: Nhưng phòng khám nếu ở địa phương của bịnh viện nước ngoài hay bịnh viện tư nhân nơi con làm việc, vậy chỉ có dân nghèo thành thị được giúp, trong khi dân nghèo ở vùng xa vùng sâu khổ hơn thì làm sao tới mình được cậu?

Cậu: Thì con xin vô các bịnh viện Nhà Nước ở các tỉnh nghèo.

Cháu: Ở Việt Nam tỉnh nào nghèo vậy Cậu Ba?

Cậu: À hèm! Thật ra thì…tỉnh nào cũng báo cáo cuối năm thành công hoành tráng cả. Còn dân nghèo của họ thì hoặc tự do di dân kiếm ăn nơi khác hết rồi hoặc chờ các chương trình xây nhà xây cầu của các đài truyền hình khắp nơi tự do đến giúp chứ chính quyền địa phương chỉ tập trung lo những việc lớn hơn như đòi xây phi trường quốc tế, đòi đường sắt cao tốc chạy xẹt ngang, đòi xây cảng nước sâu, đòi gởi từ vài chục tới vài trăm con em cán bộ lãnh đạo ra nước ngoài đào tạo thạc sĩ tiến sĩ về làm lãnh đạo, v.v.

Cháu: Thì họ không gởi ai ra nước ngoài đào tạo kỹ sư bác sĩ mà chỉ đào tạo quản trị thì cứ để họ quản trị ngồi trên đầu dân chúng, còn những bác sĩ như con tình nguyện làm việc vùng sâu vùng xa chắc Nhà Nước sẽ queo-cơm hả Cậu?

Cậu: Cũng hơi khó, vì họ sẽ viện cớ vùng sâu vùng xa không có trang thiết bị y khoa hiện đại, và không có tiền trả lương cho con.

Cháu: Nhưng con đâu đòi lương cao. Người ta nhận lương thế nào thì con nhận lương thế nấy. Người ta sống được thì con sống được. Còn trang thiết bị y tế thì phải có chứ cậu vì đó mới chính là cách không để dân phải về “tuyến trên”.

Cậu: À hèm. Nhưng bịnh viện Nhà Nước khó nhận con làm “nhân viên Nhà Nước” lắm, vì còn các chế độ phúc lợi dành riêng cho khu Nhà Nước nữa… Riêng về thiết bị y tế thì phải Hope tiếp con à.

Cháu: Vậy con không thể Hope được chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo mình rồi…

Cậu: Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải Hope con à. Cách tốt nhất là con phải (a) ưu tiên trả xong nợ học phí cho chính phủ Hoa Kỳ vì đó là bổn phận công dân Mỹ nghiêm túc của con, (b) giữ gìn y đức khi tác nghiệp gương mẫu ở Hoa Kỳ qua đó trau giồi tay nghề một bác sĩ tài danh, và (c) dành dụm tiền bạc khả dĩ đem về sống được ở Việt Nam khi làm việc cho bịnh viện Nhà Nước, còn (d) cậu sẽ soạn dùm con một lá đơn bằng tiếng Việt gởi Chính Phủ Việt Nam trong đó con cam đoan làm việc cho bịnh viện Nhà Nước nhưng từ chối quyền bầu cử ứng cử để không đe dọa ghế lãnh đạo của ai và từ chối đòi hỏi các đặc quyền để bản thân chỉ còn chữ Việt chứ không có cái đuôi Kiều. Có như vậy thì người dân nghèo nước Việt mới Hope có ngày được con – và các bạn Mỹ có lòng như con – trực tiếp khám chữa bịnh con à.     

Cháu: Dạ…Nhưng như vậy con có bị biến thành kẻ khả nghi không cậu?

Cậu: Sao buồn xo vậy! Phải Hope. Sao lại không nghi kẻ lãnh đạo sau này làm mất đứt mấy chục ngàn tỷ chạy trốn ra nước ngoài làm ô danh chế độ, mà lại đi nghi người khước từ các quyền lợi chỉ để làm một bác sĩ của dân nghèo? Cậu Hope ngày ấy sẽ sớm đến để cậu lúc vẫn còn sức khỏe mỗi tối có mặt ở phòng khám từ thiện của con để làm công tác phát số thứ tự, gói phát thuốc miễn phí, giữ xe, gọi xe Grab chở bịnh nhân về, gọi xe cấp cứu chuyển nhập viện, dỗ dành chơi đùa với bịnh nhi… 

Cháu: Vậy con Hope sẽ không lấy vợ nhe cậu? Con mà có vợ thì đâu còn Hope được làm việc thiện nguyện cho dân nghèo Việt Nam…

Cậu:  Cậu Hope con sẽ không Hope thế về chuyện vợ con của con.

Hope rằng đất nước này ngày càng có những điều hợp lý hơn cho những tấm lòng vàng ròng thật tập hợp về đây nhiều hơn nhằm thay thế cho những sắt phế liệu han gỉ mà Thành Phố Hồ Chí Minh và Đà Nẳng vừa đầu tư tỷ tỷ gởi ra nước ngoài đào tạo chế biến hỏng bét rước về toàn thứ gọi bằng ngôn ngữ Hán-Anh là…vô-Hope.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Luật Biểu Tình:

Luật Biểu Tình.  26-5-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.   02-4-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu 05-8-2014

Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Có lòng tự hào về thân nhân của mình ở Việt Nam: Tâm Tình Một Phụ Nữ Việt Kiều  đăng trên Aspiration của Hoàng Hữu Phước năm 2005, đăng lại trên hoanghuuphuocvietnam của Hoàng Hữu Phước ngày 20-12-2015

Đường Sắt Cao TốcĐường Sắt Tốc Độ Cao  19-11-2018

Hãy Chọn Chim

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-7-2019

Lâu nay nghe rền vang chuyện nhà ái quốc Donald Trump bị mắng vang trời là “quân kỳ thị racist” chỉ vì ra tay ngăn chặn dòng người di dân bất hợp pháp ồ ạt tràn vào nước Mỹ. Nhiều người-Mỹ-chống-Trump đăng đàn Twitter nói rằng tổ tiên họ xưa là di dân và dựng xây nên Nước Mỹ, sao nay Trump lại xô sập cái truyền thống nhân văn lâu đời ấy của Mỹ thế. Thấy nhiều người-Mỹ-ủng-hộ-Trump chưởi bới những người-Mỹ-chống-Trump không được thuyết phục lắm, tôi bèn múa bút vẫy một câu trên Twitter đốp chát bằng tiếng Anh giúp Trump rằng hỡi cái bà có tổ tiên nhập cư kia ơi, bà dốt lịch sử Mỹ rồi, vì lúc tổ tiên nhà bà trốn chạy khỏi Anh Quốc trên con tàu Mayflower đến “Tân Thế Giới” thì đói khát bơ vơ vì chưa có nước Mỹ nên làm quái gì có luật pháp nhập cư và phúc lợi xã hội mà gọi là “tìm về đất hứa”; nay bà ví von như vậy hóa ra hàng triệu người nhập cư trái phép từ Nam Mỹ đang ùa vào nước Mỹ rồi sẽ làm nước Mỹ tanh banh vì họ sẽ noi gương tổ tiên của bà mà lấn chiếm đất đai tàn sát dân Mỹ tại chỗ để lập nên một quốc gia khác chứ gì?

Gần đây nghe nhỏ nhẻ thỏ thẻ chuyện một nữ đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh được nhỏ nhẹ thổn thểnh nêu danh trên báo chí do đã phát biểu gì đó về người nhập cư vào Thành Phố Hồ Chí Minh với ý kiến đề xuất rằng phải có các rào chắn yêu cầu khắt khe về chuẩn mực văn hóa vân vân và vân vân. Không ai mắng phụ nữ ấy để tôi bênh vực bà – do tôi yêu phụ nữ mà. Chẳng ai khen phụ nữ ấy để tôi phản đối bà – do tôi ghét người ngu mà.

Với tư cách một nhà quản trị quốc gia thiên bẩm nghĩa là sá gì làm cái việc cỏn con đàm nhiệm cùng lúc ba nhiệm vụ Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh và Thị Trưởng Thành Phố Hồ Chí Minh – tức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi đã từng chứng tỏ năng lực thấu thị chiến lược cách nay đúng 10 năm qua bài viết sau trên trang mạng doanh nhân Emotino. Kính mời quý độc giả thưởng lãm.

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Hoàng Hu Phước, MIB

29-8-2009

Trong hai ngày dự Hội Nghị Xúc Tiến Đầu Tư – Thương Mại – Du Lịch Vào Thành Phố Cần Thơ (ngày 27/8/2009 chính quyền Cần Thơ tổ chức đưa gần 200 doanh chủ và nhà đầu tư tham quan các công trình trọng điểm của Thành phố và dự yến tiệc tại nhà hàng Hoa Sứ, còn Hội Nghị diễn ra cả ngày 28/8) vừa qua, cũng như những lần tham dự hội nghị tương tự nơi này nơi khác, tôi thường nghe nhắc nhiều đến cụm từ “Đất Lành Chim Đậu”; song, chắc chẳng ai biết và nghĩ đến những đòi hỏi cực kỳ ghê gớm của cái sự lành và cái chuyện đậu này.

Nhiều năm qua, đàn bồ câu xinh đẹp biểu tượng của hòa bình và nhân ái đã trở thành thảm họa cho Italy (tức nước Ý hay Ý-đại-lợi – theo cách gọi Hán-Việt ở Miền Nam trước 1975 – mà nay dùng theo cách quái gở không giống ai và vô tổ chức ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là I-ta-li-a hoặc Italia). Quảng Trường Thánh Mark ở trung tâm Venice (tức quảng trường Piazza San Marco) và nhiều nơi tương tự trên đất Ý đã từng là nơi đặc biệt khi du khách và chim câu là bạn thiết. Nhưng chính ngài Thị Trưởng Venice lại đã ra lệnh phạt bất kỳ ai cho bồ câu ăn (ở mức phạt từ 80 USD đến hơn 700 USD) cũng như đề ra kế hoạch bẫy lưới chim với hy vọng giảm thiểu số lượng nhiều chục ngàn con hàng ngày phóng uế trắng xóa trơn trợt đường phố, làm ô uế các thánh tích cung đình, vấy bẩn đầu tóc du khách, và vô tư thả vào các tách cà phê đen của khách ở các quán vĩa hè truyền thống những chất lỏng màu sữa trắng tanh hôi. Người Ý và hơn hai triệu du khách đến Quảng Trường Thánh Mark mỗi năm đã phải che dù hay mặc áo đi mưa trong tiết trời nóng bức để tránh thảm họa từ loài bồ câu mà nay họ thóa mạ gọi là chim bẩn (dirty birds). Chim khác thì không bẩn, đơn giản vì có giống nào dám sống đàn sống lũ giữa chốn đông người như bồ câu.

Tương tự, khi nói “đất lành, chim đậu” tất phải phân định rạch ròi đó là chim gì, phượng loan minh vũ Nghê Thường Khúc, hay kên kên quà quạ kêu ré điếc tai; số lượng bao nhiêu; và sự tiêu hao nguồn sống sẽ như thế nào, việc vấy bẩn đất lành của thứ mà chim đậu bài tiết sẽ tính sao. Đủ thứ, và trăm công ngàn chuyện.

Nói xa nói gần, chẳng bằng nói thiệt, rằng ở Việt Nam dường như mới duy chỉ có thành phố Đà Nẵng biết rõ thế nào là “đất lành, chim đậu”, nên ở từng ngõ phố đều có treo bảng “cấm bán hàng rong”, “cấm đánh giày”, cấm nhiều thứ, và tuyệt nhiên chớ thấy cảnh bán rong hay đánh giày – nghĩa là dân Việt ở các tỉnh thành khác đừng có mà đổ xô vào Đà Nẳng “kiếm ăn” trong nhếch nhác, nghĩa là không có chuyện người nghèo khổ sống lang thang ăn xin, ngủ bờ ngủ bụi, và phóng uế bừa bải như chim bồ câu Ý. Ấy vậy mà Đà Nẵng chỉ có thể gia giảm những tai họa xảy đến cho cái danh “đất lành” chứ không thể giữ gìn sự trinh nguyên của vùng đât tuyệt diệu, vì con người từ nơi khác đến dù là công dân tốt, không phạm pháp, tìm đến nơi “đất lành” sinh sống, vẫn có thể thả chó phóng uế ngoài đường chung, hút thuốc phà khói ra bầu không khí chung, và giở trò ma mảnh không bất hợp pháp, vân vân và vân vân. Đầu tháng 8 này, tôi công tác tại Đà Nẵng, và đã gặp những con chim làm vấy bẩn Đà Nẵng một cách hợp pháp: một phụ nữ nói giọng Bắc chèo kéo tôi trong Siêu thị Big C, luôn mồm nói nhận ra tôi là người quen xưa cũ ở …Huế hồi thế kỷ trước, sao nay lại hững hờ với chị ta đến thế, rồi xin tôi năm trăm ngàn đồng mua vé tàu lửa về đất Thần Kinh; và khi tôi đi bộ nhanh như đô lực sĩ (mà thực chất là bỏ chạy ra khỏi Big C trốn tránh một phụ nữ chim bồ câu từ đâu đáp xuống xứ sở Sông Hàn) và chui vào một chiếc taxi trước Big C để rồi chạm trán một anh tài xế bản xứ nhưng lại giống chim bồ câu nhập cư (khi xe vừa chuyển bánh, nghe tổng đài nói có khách ở một khu phố nọ có nhu cầu đi đâu đó, anh vội chộp lấy máy và nói như hét rằng anh ta đang trên đường đến đón khách ấy ngay lập tức, trong khi hotel Bamboo tôi ở bên bờ Sông Hàn gần đó mà anh tưởng tôi không biết đường nên giở trò chạy lòng vòng hết 15 phút, vừa chạy vừa trả lời bộ đàm khi tổng đài nói khách vẫn đang chờ sốt ruột rằng anh “sắp đến” rồi). Anh tài xế nói giọng người Đà Nẵng, và anh đã phải chụp giựt như thế, rất có thể vì những đàn bồ câu lạ đã đến giở các chiêu tiểu xảo giựt giành miếng cơm manh áo của anh. Tôi nín thinh, trả tiền, lòng buồn khôn tả.

Nghe nói dân Hà Thành (Hà Nội) thanh lịch. Với tư cách người được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ của đất Sài Gòn và hơn 50 năm qua chưa hề di cư khỏi Sài Gòn, tôi khẳng định dân Sài Thành (Saigon) trước đây thanh lịch (ngay cả sĩ quan quân đội Cộng Hòa đóng quân ở Quận 3 khu nhà tôi lúc nào cũng nghiêm chỉnh, tóc húi cua thật cao, quân phục cực kỳ tề chỉnh, chứ không phải như trong phim truyện luôn tạo hình ảnh sai xạo cho diễn viên để tóc dài, ria mép, đi đứng cà khệnh cà khạng, quân phục cà xộc cà xệch, bụng bia cà chang cà bang – chúng ta chiến thắng vì chúng ta kiệt xuất, mạnh hơn kẻ thù, chứ không phải vì kẻ thù chỉ biết để tóc dài, hút thuốc hơn ống khói xe lửa đang chạy, nhậu nhẹt ở quán bar với đĩ điếm, và đánh bài các-tê, chửi tục). Nay thì tôi nghĩ dân Hà Thành ắt vẫn còn thanh lịch, chứ ở đất Sài Côn (tức Sài Gòn) này khó thấy người thanh lịch.

Chim đã đậu quá nhiều lên vùng đất lành, khiến đất chẳng còn lành. Trong khi đó, những vùng nguyên sơ bảo tồn sinh quyển nhờ không có chuyện chim bầy đàn đậu kiếm ăn nên vẫn chưa được diễm phúc là đất lành; song, ấy lại là cái phước của giống nòi Vạn Xuân này vậy.

Khi có một đứa con gái xinh đẹp, người ta thường không lo che chắn, bảo bọc, bảo vệ, nên ít thấy cô gái nào xinh đẹp mỹ miều mà học lực tri thức hơn người với tư cách đạo hạnh hơn người. Dưỡng Nam Bất Giáo Như Dưỡng Lư, Dưỡng Nữ Bất Giáo Như Dưỡng Trư (có con trai mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi một chú lừa, còn có con gái mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi một ả lợn) – thánh nhân đã phán như thế trong Minh Tâm Bảo Giám – Gương Báu Soi Sáng Tấm Lòng. Có vùng đất lành, nên tập trung bảo vệ, che chắn, đầu tư chính đáng, chọn lọc kỹ càng, luật lệ nghiêm khắc đủ đầy, thì sự lành của đất may ra sẽ được dài lâu hơn. Thiếu cái sự tập trung bảo vệ, che chắn, đầu tư chính đáng, chọn lọc kỹ càng, luật lệ nghiêm khắc đủ đầy, thì cái sự lành của đất nước hay của địa phương sẽ hỏng bét vô phương cứu chữa mà thôi.

Hãy chọn lọc chim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

****

Hóa ra Hoàng Hữu Phước đã nói về chọn lọc chim từ năm 2009. Còn Donald J. Trump đã nói về chọn lọc chim sau đó gần 10 năm.

Té ra những nhà ái quốc thực thụ thì dù kẻ trước người sau, dù thân phận thân thế có khác nhau, chẳng bao giờ gặp nhau trong đời, thì cũng có thể được xem như chí lớn gặp nhau vì cùng có sự sáng suốt như nhau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Thấu-thị Chiến-lược Quốc-trị

Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư-Tưởng và Lý Luận Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Chính-Trị, Nhà Sử Nghiên Chính-Trị

28-6-2019

Bài này không ham hố hàm hồ hăm hở hì hục gợi ý bất kỳ cái gì liên quan đến “tài năng thấu thị” cá nhân của Hoàng Hữu Phước, người Việt Nam duy nhất hiểu đúng nhất ý nghĩa của khiêm tốn trong tiếng Việt qua bài viết “Khiêm Tốn”.

Bài này chỉ đơn giản cho thấy Hoàng Hữu Phước đã đơn giản chỉ làm một việc rất nhỏ và rất đơn giản : tổng luận đơn giản nhất những sự thật rất hiển nhiên mang tính lịch sử và chân lý rất đơn giản luôn tồn tại ở đất nước Việt Nam, nơi dân tộc Việt Nam, trong lịch sử Việt Nam, và từ đời sống Việt Nam, mà bất kỳ ai còn sống trên toàn thế giới cũng có khả năng thiên phú dễ dàng nhận ra tương tự để hào phóng phức tạp viết về.

Điểm khác biệt, do đó, chỉ nằm trong chỉ một câu đơn giản nhất ngắn gọn nhất dễ hiểu nhất sau: trong cái cụm từ “toàn thế giới”đơn giản  ấy, Hoàng Hữu Phước đơn giản chỉ nhờ có chút may mắn cỏn con như hạt cát, nhỏ thua ngọn cỏ, mà trở thành người đầu tiên và duy nhất đơn giản nhận ra và đơn giản viết về vấn đề đơn giản sau với lợi thế đơn giản của võn vẹn năm ngàn năm trí thức tinh hoa trí tuệ của nhân gian mãi miết miệt mài rong chơi cuối trời quên lãng của định kiến trệ trì tạp phức.

I- Hai Giá Trị Thật Của Tất Cả Các Chủ Nghĩa Chính Trị Tại Việt Nam

A) Hành Trạng Tư Duy Về Kinh Tế Và Tiến Hóa Xã Hội

1- Việt Nam trong thời cận đại đã tập tễnh làm quen với các thứ “chủ nghĩa” trong chính trị một cách hoàn toàn vô thức trên hai cơ sở duy nhất của chủ nghĩa quân chủ chuyên chế (gọi mềm đi để ngụy trang là chủ nghĩa tôn quân) và chủ nghĩa dân tộc cực đoan (gọi mềm đi để ngụy trang là chủ nghĩa ái quốc) đã có tự ngàn xưa, khiến tất cả các lĩnh vực khác trong đời sống quốc gia và quốc dân đều trở thành thứ yếu trong đầu óc những đấng “làm chính trị” từ vua chúa đến bầy tôi của họ, rất mờ nhạt, hoặc không hiện hữu thành các ngành học để có các chức quan, và tất nhiên không bao giờ tồn tại trong kiến thức các đấng sĩ phu từng – hoặc mơ màng được – mang danh phò vua giúp nước, khiến Việt Nam trước thời đại Hồ Chí Minh chẳng thể thịnh cường.

2– Cụ thể của điểm 1 ở trên là: “Lục Bộ” của các triều đại quân chủ chuyên chế Việt Nam chỉ bao gồm Bộ Lại (tương tự “Bộ Nội Vụ”, có chức năng đề xuất phong quan tước, thăng quan tước, thuyên chuyển, tiến cử, ban thưởng, bổ nhiệm, bãi nhiệm, v.v.); Bộ Lễ (tương tự “Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Khảo Thí”, có chức năng lo việc lễ nghi, nghi thức, yến tiệc, học đường, thi cử, thiên văn, y tế, thi cử, v.v.); Bộ Hộ (tương tự “Bộ Tài Chính Và Tài Nguyên” với chữ “tài nguyên” bao gồm con người và sản vật, có chức năng lo về kho tàng, nhân khẩu, thuế vụ, điền thổ, thóc lúa, muối, sắt, v.v.); Bộ Binh (tương tự “Bộ Quốc Phòng”, có chức năng lo việc quân sự, quân binh, quân nhu, quân trang, quân dụng, quân lương, v.v.); Bộ Hình (tương tự “Tòa Án Tối Cao”, có chức năng lo việc luật pháp, xét xử, tuyên án, v.v.); và Bộ Công (tương tự “Bộ Xây Dựng và Giao Thông Vận Tải”, có chức năng lo việc xây dinh thự đền đài, xây cầu đường, quản lý thủy lộ, v.v.). Hoàn toàn không có “Bộ” nào lo việc “kinh thương”, “xuất nhập khẩu”, “tiếp thị”, “kỹ thuật”, “đầu tư”, “sản xuất/lưu thông/phân phối”, v.v., cho thấy cái tư duy khinh thường khinh khi khinh miệt thương mại, thương nhân, thương trường, vốn là tư tưởng chủ đạo thâm căn cố đế trong giới tinh hoa trí tuệ phong kiến và tiền-xã-hội-chủ-nghĩa Việt Nam.

3- Từ điểm 2 ở trên, dễ dàng nhận ra ngay lý do vì sao Phong Trào Đông Du đã đại bại, đã thất bại hoàn toàn, triệt để, trong đớn nhục ê chề như sẽ được chứng minh rõ trong các phần tiếp theo bên dưới.

4- Từ điểm 2 và 3 ở trên, dễ dàng nhận ra vì sao giới tinh hoa trí tuệ Việt Nam – nhất là những ai trong các đấng trí hóa cao vời sống vào “thời đại” Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu – khi “tiếp nhận tư tưởng Phương Tây” đã chủ động loại bỏ, chà đạp, chống phá cái mà trí tuệ nhỏ như cọng cỏ, nông cạn như chiếc hủ nhỏ nuôi cá hổ piranha mới được đẻ nhe răng dọa hù con trẻ, không thể hiểu được, tức cái xa lạ gọi là “kinh tế chính trị” và “biện chứng” trong hệ tư tưởng Mác-xít tân thời hiện đại – dù mới hơn và mới nhất trong hệ tư tưởng Phương Tây – đang có khả năng đánh bại hai đại chủ nhơn Pháp Quốc và Mỹ Quốc mà họ quỳ cả gối và đầu lạy lục xin được phép tôn thờ.

B) Hành Trạng Tư Duy Về Tính Thượng Đẳng Và Kỳ Thị

4 điểm nêu trên của Phần A cho thấy 4 sự bật rõ của kiểu tư duy rất cực đoan (“extremism”) kỳ thị  (“racism”) cho mình là thượng đẳng (“supremacism”) của giới tinh hoa trí tuệ cổ hủ Việt Nam như sau:

1- Chống chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít vì chẳng hiểu gì về kinh tế nhưng muốn làm đại chủ, chẳng hiểu gì về chính trị nhưng muốn làm tổng thống, chẳng hiểu gì về biện chứng nhưng hét hò chống Cộng, và xem thường mọi giai cấp nào bị xếp dưới đẳng cấp “sĩ phu” nhưng cứ luôn hào phóng gộp chung cái cụm bị xếp dưới này vào cụm từ mào dầu diễn văn mỗi khi diễn xuất “hỡi quốc dân đồng bào”. Từ đó, các luận điệu chẳng hạn như “Cộng sản khát máu” hoặc “Cộng sản nghĩa là tịch thu hết tài sản nhân dân”, hoặc tương đương, chỉ là những cụm từ đậy che sự ngu dốt về kinh tế chính trị, cũng như đậy che cái ngụ ý cao ngạo ngu xuẩn rằng “ta đây chỉ khát rượu đế vì có chơn mạng đế vương và sẽ lên làm tổng thống”.

2- Tuy thấm đượm thâm sâu chủ nghĩa tôn quânchủ nghĩa ái quốc của 5.000 năm lịch sử, tuyệt đại đa số giới “sĩ phu” Việt Nam lại ở một thái cực hoàn toàn khác lạ và quái lạ. Sau nhiều ngàn năm tích cực tư vấn tất cả các minh quân và hôn quân từ cách vơ vét vàng ngọc, châu báu, ngà voi, sừng tê, trầm hương, kỳ nam, lùng bắt trinh mỹ nữ, dí bắt nghệ nhân, gom bắt thầy bói, lùa bắt thợ thuyền, v.v., triều cống “Thiên Triều Tàu”; đến cách dâng đất đai cương thổ chủ quyền quốc gia cho “Địa Triều Pháp”, đã dẫn đến sự tự động nô dịch về tư tưởng đến độ các “nhà chí sĩ ái quốc” nếu muốn “cứu quốc” thì nghĩ ngay đến việc hoặc khuyên vua “tử tế biết điều” với Pháp để Pháp không nỡ “quánh” mình, hoặc lạy mời Nhật Bản vào đuổi Pháp và cử hàng trăm đấng văn nhân sang nước Nhật kỹ thuật tân kỳ chỉ để du học tiếng Tàu để rèn tay nghề xướng họa thơ văn chữ Hán với ước muốn khi tốt nghiệp sẽ trở về Việt Nam dùng chiếc cọ bút lông viết nên những vần thơ chữ Hán yêu nước láng lai khích lệ toàn dân hãy hy sinh xương máu vùng lên đuổi Pháp để ta đây lên nắm quyền trị quốc, chứ nhất quyết không thèm cậy đến lực lượng “lao động chân tay nghèo khổ thấp hèn nội địa” của gã phụ bếp họ Hồ có tên khởi thủy là Nguyễn Ái Quốc. Việc trị quốc, do đó, có nghĩa trần trụi là: nếu không còn nằm trong tay những quân vương mất nước thì phải thuộc về các vị quan hoặc các vị sẽ làm quan xuất thân tinh thông Hán Học, bất kể các vị quan hoặc các vị sẽ làm quan ấy bất tài vô dụng đã không thể giúp quân vương của họ thoát khỏi họa mất nước.

3- Lịch sử Việt Nam cận đại còn cho thấy “đại quan thượng thư” bất tài vô hạnh Ngô Đình Diệm do không hề đánh đuổi ngay cả một tên lính Pháp gốc Ma-Rốc để giành “độc lập tự do” nên đã rình rập thời cơ chờ gã phụ bếp vĩ nhân Hồ Chí Minh tiêu diệt xong quân đội thực dân Pháp giành được “độc lập tự do” thì nhanh nhẹn lăn lê trườn bò ra ngoạm lấy quyền bính “đế vương” bằng cách giương cao ngọn cờ Vatican và dựa dẫm tài lực Hoa Kỳ. Ngay cả tên võ biền Nguyễn Văn Thiệu do không hề đánh đuổi ngay cả một tên lính Pháp gốc Ma-Rốc giành “độc lập tự do” cũng mô phỏng theo Ngô Đình Diệm để chui vào chính cái tôn giáo ấy và dựa vào sức mạnh của chính cái nước ấy để ngoạm lấy quyền bính “chân mạng đế vương” từ tay “chân mạng thiên tử” Ngô Đình Diệm ra sao. Chính trị, đối với hai tên chuyên gia ngoàm ngoạm này, đều tất nhiên hoàn toàn không bao giờ dính dáng gì đến độc lập dân chủ tự do của quốc gia dân tộc Việt Nam. Chính trị, đối với hai tên này và những chính khách xôi thịt (tiếng lóng Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa) tương cận, chỉ dính dáng đến “chân mạng đế vương của cá nhân mỗi khứa”.

4- Cả hai tên Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không có hành trạng tư duy chánh trị, không hiểu biết gì về “đảng chính trị” tức “chính đảng” nên tên thì cố rặn ra “Đảng Cần Lao Nhân Vị” cho-có-với-người-ta-vì-không-lẽ-thua-dân-đen-Hồ-Chí-Minh mà bản thân cái tên của Đảng ấy đã là một hý hước ngôn từ của sự nhảy múa máng cám heo của lao động cho giống Ông Hồ trộn với nhân quyền cho giống Ông Mỹ; tên thì bậm môi hý hoáy viết mãi không xong mới láu cá chộp ngay chữ “Dân Chủ” trong quốc hiệu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để đẻ ra cái đảng có cái tên “Đảng Dân Chủ”, và chộp ngay lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để đẻ ra cái cờ vàng sao đỏ gọi là “đảng kỳ” đần độn cho cái đảng độn đần chỉ-có-đảng-trưởng-chớ-không-có-tới-một-đảng-viên-và-không-có-trụ-sở-đảng-cùng-cương-lĩnh-chính-trị ấy. Cả hai thứ hỗ lốn về chính trị này của hai tên đần độn đều dẫn đến một nền chính trị duy nhất kỳ quặc trên thế giới mà nhà hùng biện Hoàng Hữu Phước gọi là nền chính trị nhà nước “Zero Đảng” để hậu thế có thể dễ dàng nhận ra sự đường hoàng chính trị rất bài bản đường đường chính chính cực kỳ chuyên nghiệp của nền chính trị nhà nước “Độc Đảng” của Việt Nam Cộng Sản và nền chính trị nhà nước “Lưỡng Đảng” của Huê Kỳ Tư Bổn. 

II- Ba Lý Do Thất Bại Hoàn Toàn Của Chủ Nghĩa Cộng Sản Trên Thế Giới

A) Lý Do 1 Tại Châu Âu: Giai Cấp

Lý do thứ nhất khiến Chủ Nghĩa Cộng Sản thất bại hoàn toàn và triệt để ở Châu Âu là: chủ nghĩa cộng sản vướng phải các bất tương thích giữa ba yếu tố học thuyết, thực tế, và hoàn cảnh, tức yếu tố “thiên thời địa lợi nhân hòa” chỉ đã đạt trên cơ sở cục bộ thời vụ, theo các diễn giải lý luận dưới đây. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Âu, và thực tế hiện không có bất kỳ quốc gia nào ở Châu Âu là nước cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cả.

1- Học Thuyết:  Yếu tố “đấu tranh giai cấp” đã chỉ là một thấu thị mang tính thời vụ của Karl Marx, không có giá trị miên viễn. Thấu thị này chỉ đúng với sự thật một giai đoạn lịch sử rằng thủa ban đầu chỉ cần giương cao ngọn cờ của giai cấp công nhân – gọi là giai cấp vô sản – thì các thế lực chính trị ở nhiều quốc gia đã có thể hình thành sức mạnh quyền lực quyến rũ vô song phục vụ hữu hiệu các ý đồ chính trị của những cá nhân mà không có sự tham chính thống soái của bất kỳ ai xuất thân từ giai cấp vô sản bần cùng quý hóa ấy. Khi những cá nhân nắm được quyền lực trị quốc, đại cuộc đấu tranh giai cấp đương nhiên tan biến như thực tế lịch sử đã luôn chứng minh mà điển hình là Liên Xô. Đã không trực tiếp làm chủ soái chính trường, giai cấp công nhân cũng không bao giờ nắm quyền làm chủ soái tư liệu sản xuất vốn chỉ là một điều thuần lý thuyết luôn trái với thực tế hoạt động đầu tư-sản xuất-kinh doanh, vì giới công nhân đương nhiên phải luôn lệ thuộc vào “giới chủ” bất kể giới chủchủ nhân ông tư bản hay giới chủchủ nhân bà nhà nước. Không còn đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa cộng sản không còn nền móng cho lý luận cộng sản phát triển, lan tỏa, sinh tồn ở Châu Âu.

2- Thực Tế: Thế Giới Đại Chiến II đã làm toàn Châu Âu kiệt quệ cả về nhân lực và tài lực, hạ tầng và thượng tầng. Hầu như từ chính phủ các nước cho đến người dân của họ đều trở thành “vô sản” theo nghĩa đen của sự điêu tàn thống khổ điêu linh điêu đứng không chút điêu ngoa, khiến tự động xóa nhòa ranh giới mong manh của “giai cấp vô sản” so với các “giai cấp” khác, biến “đấu tranh giai cấp” trở thành tối nghĩa, mơ hồ, huyễn hoặc, dễ bị tổn thương, dễ bị đã phá bởi các nhà tư tưởng phi-cộng-sản. Không còn đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa cộng sản không còn nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Châu Âu.

3- Hoàn Cảnh: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa: Cách Mạng Tháng Mười Nga thành công nhờ có các lãnh tụ cách mạng có học thức, thức thời nắm bắt ngay triết thuyết cộng sản đầy mê hoặc mà tình cờ do thiên định đã xuất hiện ngay tại Châu Âu để phục vụ các mưu đồ chính trị sục sôi của thời đại Âu Châu, có Nước Nga Âu Châu tàn lụi của các Sa Hoàng, và có vấn nạn ngoại xâm trong nội bộ Châu Âu. Học thuyết mang tính thấu thị chi tiết cực kỳ chính xác của Karl Marx về đấu tranh giai cấp đã cuốn hút giai cấp công nhân, nhưng đồng thời cũng khai sáng giúp các chính phủ tư bản Châu Âu và Mỹ có được sự cảnh báo tối cần thiết để triệt tiêu sự cuốn hút ấy bằng 3 cách gồm (a) xóa dấu tích bóc lột bằng cách gia tăng cao nhất các phúc lợi tập thể có thể được cho giới công nhân để giai cấp này nhận ra rằng không nhất thiết phải theo cộng sản đổ máu đấu tranh mới có được các phúc lợi dồi dào ấy; (b) vài chính phủ Âu Châu dựng xây xã hội đầy ắp phúc lợi tập thể theo mô hình lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong khi Liên Xô do dồn sức cưu mang các nước Đông Âu trong cái gọi là Phe Xã Hội Chủ Nghĩa đã không thể đem lại cho dân chúng của họ những phúc lợi tương đồng khiến không còn hấp dẫn giai cấp công nhân nói chung ở Tây Âu, Nam Âu, và Bắc Âu; và (c) bao vây Liên Xô, bao vây Nga, cô lập các nước “cộng sản” để chôn vùi chủ nghĩa cộng sản. Không còn sự tồn tại của các quốc gia cộng sản ở Châu Âu, chủ nghĩa cộng sản chấm dứt sự phát triển, tỏa lan, sinh tồn của nó ở Châu Âu.

B) Lý Do 2 Tại Châu Mỹ: Ăn Theo

Lý do thứ hai liên quan đến nội dung Chủ Nghĩa Cộng Sản thất bại hoàn toàn ở Châu Mỹ là: sự ăn theo Chủ Nghĩa Cộng Sản dưới tên gọi kỹ xảo ngôn từ của Chủ Nghĩa Xã Hội. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Mỹ, và thực chất hiện không bất kỳ quốc gia Mỹ Châu nào là nước cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cả.

Chủ nghĩa cộng sản đã không thể tồn tại ở Cuba, đơn giản vì Cuba không phải là một quốc gia phát triển công nghiệp như các nước Tây Âu để hình thành tư bản để nhờ đó có được một giai cấp công nhân đủ về số lượng và về tầm vóc cho một cuộc cách mạng vô sản đúng nghĩa và thành công như cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga đã giúp Nga hùng mạnh chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc của họ rồi dựng xây Khối Xã Hội Chủ Nghĩa một thời hùng cứ. Sự ăn theo Liên Xô của Cuba mà xuất phát điểm là sự thèm khát thôn tính Cuba của Hoa Kỳ đã dồn Cuba vào tuyệt lộ, do đó đã không bao giờ phát huy tác dụng. Không có đấu tranh giai cấp, mà chỉ có sự chống Mỹ để tồn tại nhờ quan hệ với nước Nga mà nay đã không còn là cộng sản, chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là tên gọi ở Cuba, không là nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Châu Mỹ.

Chủ nghĩa xã hội cũng không thể tồn tại ở Venezuela hay bất kỳ quốc gia Nam Mỹ nào vì khu vực “đa đảng” này khét tiếng với những chính phủ tham nhũng, mà cách tốt nhất để triệt tiêu các đối thủ cạnh tranh trong quốc gia “đa đảng” của mình là phải khôn ngoan trở thành đối tác của Nga bằng cách giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa ngay cả khi Nga không còn là quốc gia cộng sản. Không có đấu tranh giai cấp, mà chỉ có sự chống Mỹ để tự bảo vệ lợi ích nhóm, cố tồn tại nhờ dựa dẫm vào quan hệ với nước Nga không cộng sản, chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là tên gọi, không là nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Venezuela hay toàn Châu Mỹ.

C) Lý Do 3 Tại Châu Á: Thao Túng

Phần này luận giải lý do thứ ba của sự thất bại hoàn toàn của Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Châu Á. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Á, và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là quốc gia duy nhất ở Châu Á vẫn còn sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản về mặt chính trị quốc gia chứ không trên bình diện giáo điều ý thức hệ.

Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện ở Trung Quốc dựa trên 5 đòn bẩy lịch sử sau:

1- Nhân Vật: Mao-Xế-Tùng hoặc Mao-Tiêu-Tùng (tiếng Anh phiên âm thành Mao Tse-tung được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Mao Trạch Đông nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu né tránh chữ “Xế” vốn có nghĩa bóng xế chiều tà không hợp “phong thủy”). Thành phần gia đình: phú nông. Quá trình công tác: lao động đồng áng toàn thời gian từ 13 đến 17 tuổi. Học vấn: tốt nghiệp trung học chỉ sau khi theo Sun Yat-sen. Nghề nghiệp: có giấy phép hành nghề dạy học nhưng không dạy học ngày nào mà xin làm phụ tá quản thủ thư viện Đại Học Bắc Kinh. Tính khí: bộp chộp, nhiều thèm muốn.

2- Thời Cơ Chính Trị: Mao-Xế-Tùng gia nhập quân đội của Xuân-Dật-Sen (tiếng Anh phiên âm thành Sun Yat-sen được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Tôn Dật Tiên nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu né tránh chữ “sen” vốn có nghĩa tỳ tất và ô-shin) lật đổ chế độ phong kiến vương triều thành lập Trung Hoa Cộng Hòa (thống nhất công thức tạo từ với cụm chữ Việt Nam Cộng Hòa).

3- Thời Cơ Tư Tưởng: nhờ làm việc ở thư viện có nhiều thời gian và có dịp tiếp cận  sách báo, Mao-Xế-Tùng có thông tin về sự thành công của cuộc cách mạng Nga hình thành nước Liên Xô cộng sản chủ nghĩa vĩ đại, nên nhanh chóng mô phỏng để cùng vài người thành lập Đảng Cộng Sản Trung Hoa, lấy tư tưởng Lê-nin sẵn có để chế biến nấu xào thành chủ nghĩa Mao lấy nông dân làm cốt lõi cho đại cuộc hình thành chủ nghĩa cộng sản riêng cho toàn Châu Á.

4- Thời Cơ Lịch Sử: Khi Xuân-Dật-Sen quy lụy kết liên với Mao-Xế-Tùng, y đã tạo điều kiện cho Mao-Xế-Tùng trở thành nhân vật quyền bính. Lúc Xuân-Dật-Sen qua đời, Chang-Kai-Sếch (tiếng Anh phiên âm thành Chiang Kai-shek được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Tưởng Giới Thạch nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu thân Việt Nam Cộng Hòa này đánh lại lãnh tụ Tàu thân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kia, đồng thời né chữ sếch nghe giông giống sếch-xi sexy thiếu nghiêm túc) tàn sát cộng sản. Mao-Xế-Tùng bèn đưa tàn quân toàn nông dân bôn tẩu trong cái mà sử sách thế giới gọi là Cuộc Trường Hành (tiếng Anh là Long March, giới tinh hoa Việt sính hoa lá cành và sính bái lạy Tàu nên gọi là Vạn Lý Trường Chinh trong khi cuộc tháo chạy của 100.000 người đã phải bỏ lại trên đường hết 70.000 xác thì “chinh” cái con khỉ khô, lẽ ra phải là Vạn Lý Trường Tẩu mới đúng) nhờ vậy nhiều thanh niên các vùng miền nghe danh – dù chưa có internetfacebook – cũng lặn lội tìm đến, giúp Mao-Xế-Tùng hình thành quân đội của những tân chiến binh thuộc nhiều ngành nghề. Đến khi Nhật xâm lược Trung Hoa, do chống không nổi, Chang-Kai-Sếch cầu viện Mao-Xế-Tùng, biến Mao-Xế-Tùng thành người hùng chống ngoại xâm thành công đuổi Nhật ra khỏi bờ cõi và nhân tiện đuổi luôn Chang-Kai-Sếch ra khỏi lục địa nương náu ngoài đảo nhỏ Tài-Quan (tiếng Anh phiên âm sử dụng toàn cầu là Taiwan, còn tiếng Việt do những trí thức thất nghiệp đặt cho cái tên lạ hoắc là Đài Loan nhằm tránh chữ Tài Quan giông giống …Quan Tài).

5- Thời Cơ Dân Chủ Tự Do: Cuối cùng, Mao-Xế-Tùng khi áp dụng phương thức “tự do biểu đạt” và “tự do ngôn luận” của dân chủ Tây Phương để mong nhận được các vấn kế định quốc an bang của giới trí thức tinh hoa trí tuệ trong nhân dân nhằm nhanh chóng dựng xây đất nước đẹp giàu, rốt cuộc chỉ tạo điều kiện cho bọn “bảo hoàng” (tôn thờ chế độ phong kiến hoàng triều), “ngụy quyền” (tôn thờ “tổng thống” Chang-Kai-Sếch đã bỏ chạy mất dép sang Tài-Quan), “mông muội” (muốn ta đây làm “tổng thống” như mấy thằng cỡ nhân tài Lê Công Định của Việt Nam hoặc mấy hảo hớn chạy mất dép ở hải ngoại đòi “phục quốc”), “ngu muội” (đi “Tây” học rồi bị tẩu hỏa nhập ma trở về muốn Trung Quốc phải “tự do” như Mỹ), nên làm các mong muốn áp dụng dân chủ Âu Tây của Mao-Xế-Tùng bị tàn xế tiêu tùng, khiến Mao-Xế-Tùng nổi giận, trở thành nhà độc tài tàn bạo tàn khốc tàn nhẫn, thành mối họa sẽ làm tàn tạ các lân bang.

Như vậy, ngay từ đầu, chủ nghĩa cộng sản đã trở thành bức bình phong đậy che sự thật về thao túng. Kẻ cơ hội nhưng ít học như Mao-Xế-Tùng không tài nào hiểu được cái thâm thúy của chủ nghĩa cộng sản. Y chỉ nắm bắt được rằng cái tư tưởng ấy dựa trên đấu tranh giai cấp mà giới công nhân bị tư bản bóc lột sẽ trở thành sức mạnh hình thành đế chế quyền lực mới. Trong điều kiện Tàu không có tư bản, không có tư bản bóc lột, không có giai cấp công nhân; nhưng Tàu lại có gần tỷ nông dân mà y cũng là nông dân, Mao-Xế-Tùng cho rằng dại gì không bê cái tư tưởng Lê-nin ấy, lấy chữ “nông dân” dán đè lên chữ “công nhân”, rồi gọi đó là Chủ Nghĩa Mác-Mao hay lấy tiết kiệm làm quốc sách thì gọi là Chủ Nghĩa Mao tức Maoism cho gọn nhẹ. (Kampuchea tuân theo cái Chủ Nghĩa Mác-Mao ấy nên toàn sử dụng cuốc xẻng của nông dân để hành quyết thị dân, gây ra cuộc đại diệt chủng đầy bịnh hoạn làm nhân hoại kinh hoàng run rẩy đứng như trời trồng nhìn Việt Nam vào cứu nạn, để rồi có thằng khi cử động được thì hét ngay là Việt Nam xâm lược nhất thiết phải bị cấm vận để bớt thói lưu manh, hoặc chờ đến năm 2019 mới dám ỏn ẻn lớn tiếng xun xoe nói Việt Nam đã vô cớ xâm lăng chiếm quyền trị quốc hợp pháp danh chính ngôn thuận của đám Khờ Me Đỏ Mao-ít thế giới tôn kính để khơi khơi tặng lại cho Hun-Sen.)

Và như vậy, từ khởi thủy cho đến ngày bài viết này được post, Trung Quốc chưa hề là một nước cộng sản. Thế giới chính trị hàn lâm tư bản liệt Trung Quốc vào danh sách các nước cộng sản chủ nghĩa là hoàn toàn sai. Mục đích của thế giới chính trị hàn lâm tư bản gọi Trung Quốc là nước cộng sản chủ nghĩa chỉ nhằm vào 3 lý do gồm

(a) che dấu sự xấu hổ nếu phải công nhận Trung Quốc là nước giàu có trong khi nước ấy không cần phát triển trên nền tư bản, đã vậy các nước tư bản phải chen chúc xin vào để “mần ăn”;

(b) ngụ ý cái nước cộng sản chủ nghĩa ấy nếu có “phất” thì cũng là nhất thời và chắc chắn rồi sẽ bị tiến trình dân chủ tại chỗ phá sập; và

(c) công khai cô lập về ý thức hệ rằng toàn thế giới hỡi hãy ghi nhớ rằng đó là một nước cộng sản chủ nghĩa, mà đã là chủ nghĩa cộng sản thì tất nhiên độc tài độc đảng; trong khi đó, chỉ cần xưng thần với tư bản phương Tây thi từ Park Chung-hee của Đại Hàn, Ferdinand Marcos của Philippines và Suharto của Indonesia cho đến Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu của Nam Việt có độc tài độc đảng hay có zero đảng thì cũng đều là những nhà ái quốc vĩ đại cả

Tương tự, bất kỳ quốc gia nào được Phương Tây ghi vào nhóm các quốc gia cộng sản chủ nghĩa cũng đều không đúng về mặt kinh tế, thực tế, và lịch sử. Còn chính trị ư? Chỉ có bọn trẻ nít mồm còn bập vào đầu vú mẹ mới không biết rằng trong chính trị thì mọi “chủ nghĩa” đều chỉ là tên gọi mà thôi. Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ có các đảng viên toàn giới thương nhân tài phiệt và một hai vị chức sắc trong cái “đảng” ấy có quen biết lâu năm với tác giả bài viết này và cứ xin tác giả bài viết này hãy chịu (a) đứng ra tác động thu xếp để đoàn của họ sang thăm Việt Nam được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho phép diện kiến, và (b) tham gia đội ngũ của đoàn để làm chủ soái công tác thông phiên dịch cho các lãnh đạo đoàn. (Ghi chú: tác giả bài viết này có báo chi tiết qua email để đùn đẩy qua Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ, nhưng dường như các đại sứ Việt Nam chỉ làm việc nếu có chỉ thị chỉ bảo chỉ dẫn chỉ đường từ Đảng chứ không tự làm gì sất ngay cả không tự báo cáo nếu sự việc không liên quan đến các chỉ thị chỉ bảo chỉ dẫn chỉ đường nên tác giả bài viết này cho rằng chắc ông ta phái sớm quyết định đứng ra giúp các đảng viên cộng sản Mỹ này thôi. Do không chuộng hư danh vốn dễ làm danh hư, chắc chắn tác giả bài viết này tại buổi gặp – nếu được phép diễn ra – sẽ nêu yêu cầu tiên quyết rằng không cho phép bất kỳ bố nhà báo hay mẹ nhà báo nào của các tờ báo nào đã từng ngu xuẩn dám tấn công ông ta trong đại cố “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu” được vào tác nghiệp kiếm cơm kiếm cháo.)

Tóm lại, chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn thất bại tại Trung Quốc do cái mà Trung Quốc đã/đang/sẽ theo đuổi không phải là chủ nghĩa cộng sản mà là chủ nghĩa bá quyền nước lớn do Quýnh-Xì-Hăng (tiếng Anh phiên âm thành Qin Shi Huang để sử dụng toàn cầu, còn các nhà trí thức thất nghiệp ở Việt Nam gọi là Tần Thủy Hoàng để giúp Tàu né ý nghĩa rất hại “phong thủy” của quýnh quáng xì hơi có mùi hăng chăng) khai sáng. Và chủ nghĩa bá quyền nước lớn kiểu Tàu sẽ có tiếng Anh là Qinnism hoặc Qinnism-Maoism tức Chủ nghĩa Tần-Mao. (Ghi chú: Lăng Tần không có nghĩa là cái lăng tẩm của Quýnh-Xì-Hăng, mà là phiên âm tiếng Phạn trong Kinh Lăng Nghiêm Nhà Phật tên gọi chú chim Ca-lăng-tần-già ngậm xâu chuỗi bay hầu Phật Bà Quan Âm, do Hoàng Hữu Phước yêu phụ nữ chỉ thờ Phật Bà không thờ Phật Ông, nên lấy tên chim làm bút hiệu. Tất nhiên, do đó, Lăng Tần của Ca-lăng-tần-già cũng không phải đại ca của phe nhóm lăng xăng lăng nhăng lăng tăn nào, mà cũng luôn trẻ đẹp chứ hơn 60 năm qua có già bao giờ đâu?)

III- Ba Lý Do Giúp Chủ Nghĩa Cộng Sản Chỉ Trụ Vững Ở Việt Nam

Như vậy, trên toàn thế giới này thì chỉ có Việt Nam là quốc gia duy nhất còn sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản được hiến định và luật hóa.

Dưới đây là sự phân tích 3 lý do chủ lực cho sự tồn tại kỳ vĩ độc nhất vô nhị này.

A) Trình Độ Tư Duy Chính Trị Của Giới Tinh Hoa Phi Cộng Sản:

Những định kiến “vọng ngoại” của giới tinh hoa cổ đã tồn tại song hành với sự tồn tại và phát triển của Việt Nam từ lúc định hình cương thổ ban đầu cho đến sau khi minh định xong biên giới trên đất và trên biển vùng cực Nam. Những định kiến của giới tinh hoa cổ ấy đã hòa quyện hòa nhập hòa tan vào hệ thống tư duy của người bản Việt, nên – giống như hầu hết các dân tộc trên toàn thế giới – không bao giờ hết cổ hủ để có thể chủ quan rằng mọi thứ sẽ tự động thay đổi theo đà tiến hóa chung.

Như đã nêu rõ ở mục I.A.2 ở trên, định kiến “vọng ngoại” là điểm mấu chốt trong tư duy của toàn giới tinh hoa trí tuệ Việt Nam, mà các thí dụ sau là minh chứng thuyết phục hùng hồn nhất. Lời khẳng định cần thiết ở đây là nếu như bài Hoàng Hữu Phước Đối Đầu Với Chu Văn An chỉ nhằm nêu bật vấn nạn trầm kha đối với mức độ tin cậy của sử liệu Việt Nam, mức độ tuân thủ luật pháp của các danh nhân Việt Nam, và mức độ an toàn của công tác tàng thư của các vương triều Việt Nam; thì các nhận xét dưới đây về Phan Bội Châu tất nhiên chỉ nhằm nêu bật vấn nạn trầm kha đối với mức độ tin cậy của sử liệu Việt Nam khi thông tin dược chọn lọc ghi vào sử sách chỉ để phục vụ mục đích chính trị của thời sau thay vì lẽ ra đã chỉ là ghi nhận thông tin thật đầy đủ, thật có thiệt, không dấy lên các tranh cãi về tính chính xác và các ngờ vực đối với tính trung trực trung ngôn trung thực của những nhà chép Sử.

1- Phan Bội Châu phát động Phong Trào Đông Du gởi 200 học sinh sang Nhật Bản du học. Theo sử liệu gia đình, thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đã viết một chi tiết trong bài Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản rằng: Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải mổ bụng tự sát hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện (tên thật ngoài Thanh Hóa là Lê Quốc Túy), một “nhân sĩ chí sĩ”đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị kiểu Tàu”, trở về hoạt động chính trị chống…“Cộng Việt”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ trong đó có quyển Minh Tâm Bảo Giám, trở thành một học giả năm nào cũng được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài quân sự khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài quân sự ấy…

Khi Pháp và Nhật ký hiệp ước với nhau năm 1908, Nhật trục xuất tất cả các du học sinh Việt Nam và Phan Bội Châu ra khỏi đất Nhật, biến Phong Trào Đông Du tan thành mây khói, sự cầu viện Nhật sang đánh đuổi Pháp biến thành bánh vẽ, còn Phan Bội Châu chấm dứt ca ngợi Nhật Bản như đã từng lầm lạc ngợi ca tận mây xanh trong tác phẩm Á Tế Á Ca. Nhà chí sĩ vĩ đại của Việt Nam đã “bé cái lầm”, song luôn được sử sách Việt Nam làm ngơ, cứ như thể ra chỉ thị “miễn phê phán”, “chớ phê bình”, “cấm chê bai”, kẻo Sử Ký nước nhà chẳng có ai là bậc hiền tài để dân tộc tự hào khoe với nhân loại cả.

2- Trước đó, Phan Bội Châu đã phải “đẫm lệ” với Lang-Kỳ-Chao (tiếng Anh phiên âm thành Liang Qichao sử dụng toàn cầu, còn các trí thức Việt chẳng biết dựa vào quy định nào trong sách nào mà đặt tên mang tính thần thánh hóa mỹ miều thành Lương Khải Siêu) thở than cho vận nước và mong muốn thỉnh mời Nhật vào giải phóng quê hương khỏi ách xâm lược của Pháp, chỉ để Lang-Kỳ-Chao trịch thượng cho ra một lời khuyên cực kỳ sơ đẳng nghe na ná giông giống cụm từ “đừng có ngu mà cõng rắn cắn gà nhà” mà đứa trẻ biết chữ nào của Việt Nam cũng thuộc nằm lòng.

3- Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản, Phan Bội Châu sang Tàu cùng 50 thanh niên cày cấy luyện tập võ nghệ chờ ngày về Việt Nam đánh quyền đá cước “phục quốc”, từ bỏ chủ nghĩa quân chủ hướng sang chủ nghĩa dân chủ kiểu Tàu, lập Đảng theo kiểu Tàu.

4- Mọi nhà trí thức đều biết Phan Bội Châu không những tôn thờ Lê-nin; viết sách về Lê-nin, chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội; ca ngợi Các-Mác, Lê-nin cùng với Khổng Mạnh; mà lại còn đặc biệt xem Nguyễn Ái Quốc là thánh nhân giáng hạ phàm trần.

Thế nhưng, mặc cho các điểm 1, 2, 3, và 4 ở phần III.A này về nhân vật Phan Bội Châu, toàn bộ “giới tinh hoa trí tuệ” của Việt Nam Cộng Hòa – và của bọn “tinh hoa trí tuệ” ba rọi nữa nạc nữa mỡ si mê “xã hội dân sự” và “lương tâm nhân quyền” tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – đều ngó lơ, không nhắc đến, chỉ luôn bù lu bù loa rằng Phan Bội Châu là nhà chí sĩ yêu nước đã lập nên Phong Trào Đông Du rồi chấm hết ngang xương lãng xẹt, khiến học sinh nào thông minh sẽ nhận ra ngay rằng các hào quang quanh đầu Phan Bội Châu trong sử sách Việt Nam Cộng Hòa đều là sản phẩm của….chiến tranh chính trị chống Cộng mà ra.

Và cũng thế nhưng, mặc cho các điểm 1, 2, 3, và 4 ở phần III.A này, mỗi khi nói về nhân vật Nguyễn Trường Tộ, người ta vẫn viết về ông như một người hết lòng vì nước vì dân. Không bàn về những luận điểm về nhân vật Nguyễn Trường Tộ mà biết bao người Việt Nam thông tuệ – trong đó có nhân tài nước Việt Trần Chung Ngọc – mắng là quân phản quốc, bài này chỉ nêu một sự thật chưa từng ai nói đến rằng xin đừng vì Nguyễn Trường Tộ nêu điều mới lạ mà bảo triều đình Việt Nam thủ cựu, “từ chương”, không nghe theo các tấu chương hiến kế “cải cách” của y, vì rằng ai là người ở cái đất nước Việt Nam này sẽ theo học “trường nghề” mà y kiến nghị hãy mở ra để dạy nghề đóng sửa thuyền tàu cơ chứ? Các “sĩ phu” chuyên chê bai lao động chân tay hạ cấp chẵng lẽ sẽ xếp bút nghiên theo nghiệp thuyền bè ư?

Chính yếu điểm quá lộ liễu này về trình độ tư duy chính trị của giới tinh hoa phi cộng sản mang tính lạc hậu, cổ hủ, phản tiến hóa, gian giảo, nơi những con người bất khả tư nghị và bất tài vô dụng, mà ngẫu nhiên tạo nên một lợi thế giúp Chủ Nghĩa Cộng Sản chỉ trụ vững ở Việt Nam khi tất cả những bậc hiền nhân quân tử thật sự thông tuệ ở Việt Nam đều dần nhận ra 4 chân lý rằng:

(a) Sự dựa dẫm vào một thế lực vật chất bên ngoài là điều đương nhiên của cách mạng, như Phan Bội Châu hết dựa vào Nhật đến Tàu, Ngô Đình Diệm dựa vào Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu dựa vào Mỹ, Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô. Do vậy, vấn đề là ai đã khôn ngoan chọn đúng thế lực để chiến thắng lưu danh thiên cổ, ai đã ngu xuẩn giao trứng cho ác để lưu xú vạn niên. Do vậy, việc công kích Hồ Chí Minh đã dựa thế lực bên ngoài như “Liên Xô hay Tàu” đều là việc làm của kẻ bại trận mất tư cách chiến binh, và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(b) Sự dựa dẫm vào một vũ khí tinh thần ngoại lai là điều đương nhiên của cách mạng, nhất là khi giới tinh hoa trí thức Việt Nam hoàn toàn không có hành trạng tư duy chính trị như đã phân tích ở Phần I để có khả năng đề ra bất cứ một tân triết thuyết chính trị nào. Phan Bội Châu hết dựa vào học thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản cùng sự thành công của Nhật Bản đến tư tưởng “dân quốc” của Tàu; còn Hồ Chí Minh dựa vào học thuyết cộng sản Mác-Lê, khôn ngoan không chấp nhận cái biến thể của chủ nghĩa Mác-Mao Tàu (Marxism-Maoism) hay chủ nghĩa Mác-Tito Nam Tư (Marxism-Titoism), đồng thời khôn ngoan lồng ghép với chủ nghĩa ái quốc hình thành nên Hệ Tư Tưởng Hồ Chí Minh thay vì tập trung cho một thứ mông muội gọi là chủ nghĩa Mác-Hồ (Marxism-Hoism). Chính Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu cũng dần nhận ra rằng không thể làm chính trị mà không có một đảng chính trị, nên kẻ trước tạo ra Đảng Cần Lao Nhân Vị còn tên sau đẻ ra Đảng Dân Chủ (mà chỉ có Hoàng Hữu Phước biết đến và nêu ra trên blog khiến bọn hải ngoại dựa vào đó sáng tạo lung tung cứ như thể cái Đảng đó có thật và chúng có biết, cũng như để tự cứu thể diện do Việt Nam Cộng Hòa bị Hoàng Hữu Phước gọi là quốc gia của bọn độc tài Zero Đảng). Cả hai tên này còn nhận ra rằng đảng chính trị phải có cương lĩnh dựa theo một triết thuyết chính trị nào đó; vì vậy Ngô Đình Diệm soạn ra cái gọi là chủ nghĩa cần lao nhân vị, còn tên võ biền Nguyễn Văn Thiệu nín thinh. Do vậy, việc công kích Phan Bội Châu hay Hồ Chí Minh đã dựa vào một vũ khí tư tưởng bên ngoài đều là việc làm của kẻ bại trận mất tư cách trí tuệ. Do vậy, vấn đề là ai đã khôn ngoan chọn đúng vũ khí tư tưởng để chiến thắng lưu danh thiên cổ, ai đã ngu xuẩn như Ngô Đình Diệm lấy Cơ Đốc Giáo làm tư tưởng soi đường chính trị hoặc Nguyễn Văn Thiệu xem hai chữ “chống Cộng” thay cho một hệ tư tưởng chính trị để rồi lưu xú vạn niên. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(c) Sự dựa dẫm vào một thế lực nhân sự bên trong là điều đương nhiên. Lenin và Stalin không thể thành công nếu không có lực lượng nhân sự bên trong nước Nga. Mao-Xế-Tùng không thể thành công nếu không có lực lượng nhân sự bên trong nước Tàu. Hồ Chí Minh không thể thành công nếu không có lực lượng bên trong nước Việt Nam. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều có lực lượng nhân sự bên trong nước Việt nhưng lại thất bại hoàn toàn. Vấn đề, do đó, chỉ đơn thuần là chất lượng của nhân sự bên trong ấy ra sao. Lực lượng nhân sự bên trong nước Việt Nam của Hồ Chí Minh được hun đúc bằng 6 sức mạnh của (i) chủ nghĩa ái quốc, (ii) chủ nghĩa cộng sản, (iii) tư tưởng Hồ Chí Minh, (iv) tinh thần chống Mỹ xâm lược, (v) tư thế của chính nghĩa quốc tế do Hiệp Định Geneve đem lại, và (vi) sự đồng tâm trên bình diện toàn dân toàn quốc. Lực lượng nhân sự bên trong nước Việt Nam của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu không được hun đúc từ một sức mạnh bất kỳ, vì chỉ có “chủ nghĩa” chống Cộng hoàn toàn phi-chủ-nghĩa, không có chủ nghĩa ái quốc mà chỉ có chủ nghĩa chư hầu muốn làm một “tiểu bang” của Mỹ, không có hệ thống chủ nghĩa tư tưởng chính trị chủ đạo nào bất kể tương đương hoặc tốt hơn chủ nghĩa cộng sản, không có tư tưởng uyên bác uyên thâm nào của tất cả các lãnh đạo quốc gia trừ câu nói bộc lộ sự ngu xuẩn khôi hài của kẻ ngu đần không hiểu binh pháp Tôn Võ rằng “đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, còn “chống Bắc Việt xâm lược” là một khẩu hiệu cực kỳ ngu đần tự lột mặt nạ quá khứ hủy phá Hiệp Định Geneve, ước ao chia cắt vĩnh viễn đất nước nên mới dùng từ “xâm lược” để phân định vĩnh viễn sự chia cắt xem “Bắc Việt” là “ngoại bang”, nhưng vẫn không tránh né được cái thực thể Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tồn tại ngay bên trong và tại toàn bộ Việt Nam Cộng Hòa, và hoàn toàn chỉ có sự đồng tâm của giáo dân Công Giáo di cư chứ không của toàn bộ dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(d) Sự dựa dẫm vào một thế lực nhân sự bên ngoài là điều đương nhiên trong lịch sử đó đây của loài người. Vấn đề ở đây sẽ chỉ là: ai dựa dẫm khôn ngoan nhất, chính đạo nhất, và thành công tuyệt đối. Lê Chiêu Thống dựa dẫm Tôn Sĩ Nghị của Tàu và lưu xú vạn niên. Quang Trung Nguyễn Huệ qua Tàu hành lễ bảo tất quỳ ôm gối Càn Long nhận Càn Long làm vua cha, được sử sách Việt Nam sáng tạo ra sự việc bảo toàn danh dự rằng Quang Trung Nguyễn Huệ cử người có ngoại hình giống mình đi thay trong khi người thông tuệ hiểu ngay rằng (i) ngay cả có việc cử người đi thay chăng nữa thì lẽ nào lại không được giữ làm thông tin tuyệt mật quốc gia không thể huỵch toẹt khoe ra để chọc giận “Thiên Triều”, (ii) nếu cái người đi thay ấy có thật thì lẽ ra đã bị thủ tiêu diệt khẩu, (iii) nếu cái người đi thay ấy có thật mà không bị giết diệt khẩu thì sau đó đã được thăng chức gì và con cháu người ấy hiện gồm những ai, và (iv) nếu cái người ấy “đi thay” thì cũng làm quốc gia bị ô danh rằng “vua Việt quỳ ôm gối vua Tàu” chứ nào tránh được sự đàm tiếu của nhân gian. Nguyễn Văn Thiệu dựa dẫm vào các cố vân quân sự Hoa Kỳ rồi đón các quân đoàn viễn chinh gần triêu người từ Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand vào Việt Nam đánh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, không những tạo cớ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố chính nghĩa chống xâm lược, mà còn biến lực lượng quân sự này trở nên vĩ đại vì chỉ mỗi du kích quân của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam thôi mà quân đội hỗn hợp Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand vẫn không sao thắng được. Đến khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kéo rốc đại binh chính quy ào ạt tiến xuống phương Nam hỗ trợ dân quân Mặt Trân Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam thì toàn bộ quân đội viễn chinh ngoại bang hỗn hợp với quân lực Việt Nam Cộng Hòa ấy tạo nên cuộc tháo chạy to nhất, nhanh nhất, điếm nhục nhất, hỗn loạn nhất, tàn tệ nhất, vô nhân tính nhất, trong toàn bộ lịch sử quân sự của loài người từ khi loài khủng long bị tận diệt cho đến lúc loài người bị Tận Thế. Trong khi đó, Hồ Chí Minh chỉ dựa dẫm vào một số ít các chuyên gia nước ngoài từ Liên Xô, Tàu, hay Triều Tiên cho những nhu cầu huấn luyện sử dụng khí tài quân sự hiện đại, không tạo cớ cho bất kỳ một xúc xiểm bất kỳ nào từ phía đối phương. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

B) Sự Bất Tương Hợp Với Học Thuyết Cộng Sản Chủ Nghĩa

Do Việt Nam chưa từng là một quốc gia phát triển để có tư bản, để có giai cấp công nhân, chủ nghĩa cộng sản trở nên bất tương hợp trên bình diện mô phỏng máy móc, áp dụng máy móc, và giáo điều máy móc.

Để đưa được chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam một cách tương hợp, Hồ Chí Minh đã sáng tạo hình thức tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc huy động toàn bộ nhân lực toàn dân cho đại cuộc chống ngoại xâm, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, dưới ngọn cờ thống lĩnh duy nhất của chủ nghĩa cộng sản.

Chính sự bất tương hợp của chủ nghĩa cộng sản đối với hoàn cảnh Việt Nam đã giúp các nhà lãnh đạo cộng sản phi-giáo-điều của cách mạng Việt Nam sáng tạo bổ sung, uốn nắn học thuyết customization, và chiến thắng, làm chủ nghĩa cộng sản trụ vững tại Việt Nam.

C) Đặc Thù Dân Tộc Tính: Cực Đoan

Đặc điểm mang tính dân tộc đặc thù của người Việt là cực đoan.

Tính cực đoan ấy toàn thế giới biết rõ nhất trong kinh hoàng khi nhận thông tin đáng tin cậy từ một công dân Việt Nam đáng kính rằng các tín đồ Thiên Chúa Giáo (Công Giáo và Tin Lành) ở Việt Nam kỳ thị tôn giáo, tự mãn thượng đẳng, bất tuân giáo luật, thờ phượng giáo phẩm, xâm hại nhân quyền, chà đạp tự do tín ngưỡng của cộng đồng, như thể hiện đầy ngạo mạn dưới triều đại mọi rợ man di của Ngô Đình Diệm và qua việc giáo dân cho đến Thế Kỷ XXI này mà vẫn còn tiếp tục tự bày ra các đòi hỏi buộc người phối ngẫu có tín ngưỡng khác phải vào đạo Thiên Chúa.

Tính cực đoan ấy cộng với mưu đồ quyền lực cá nhân đã như thể hiện rõ nét của Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp Định Geneve và của Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp Định Paris, thà để dân tộc điêu linh chứ dứt khoát không “sánh vai” với “Cộng sản Bắc Việt” trong bất kỳ cuộc tổng tuyển cử nào để thống nhất đất nước, dứt khoát không sẻ chia quyền lực trị quốc, không chấp nhận “Đa Đảng” với Cộng sản.

Chính sự cực đoan mang dấu vết dân tộc tính ấy đã đẩy Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu vào ngõ diệt vong, vì khi dựa dẫm vào sức mạnh cơ bắp để phát huy dân tộc tính cực đoan đối đầu với đối thủ, buộc đối thủ cũng phải thi thố cùng cái dân tộc tính cực đoan ấy thì phần thắng đương nhiên luôn thuộc về phía mạnh hơn và sự tiêu diệt là phần dành cho bên thua trận. Trong cuộc đối đầu không khoan nhượng trong cái mà thế giới gọi là Chiến Tranh Việt Nam thì phía mạnh hơn là bên mà phía Việt Nam Cộng Hòa gọi là “Cộng Sản Bắc Việt”. Kết quả này đã dẫn đến một nẽo đường đơn cực trong chính trị Việt Nam: không có sẻ chia quyền lực qua tổng tuyển cử mà chỉ có quyền lực trong tay bên thắng trận trong cuộc quyết đấu do Việt Nam Cộng Hòa khởi phát. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đã xé nát cơ hội cho một nước Việt Nam “đa đảng”. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu là “đầu têu” cho một cực đoan Việt Nam “độc đảng” hoặc “zero đảng” bằng cách phá hoại các hiệp định hòa bình quốc tế về Việt Nam và tập trung tiêu diệt Đảng Cộng Sản bằng mọi giá – kể cả mong muốn Mỹ sử dụng bom nguyên tử tấn công “Bắc Việt”. Rốt cuộc, Việt Nam Cộng Hòa vẫn chỉ là một thực thể Zero Đảng lưu manh đàng điếm chuyên gây hấn để tự gây ra họa diệt vong, và Đảng Cộng Sản Việt Nam bị buộc phải trở thành thế lực chính trị duy nhất còn lại ở Việt Nam, hình thành một nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “độc đảng” trên nền lịch sử một Việt Nam Cộng Hòa “zero đảng” hiếu chiến và hiếu sát bị tiêu diệt.

Có thể nói: cái dân tộc tính cực đoan độc tôn của Việt Nam đã thúc đẩy sự đối đầu không khoan nhượng, dẫn đến sự bĩnh trị độc tôn của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

IV- Ba Yếu Tố Đe Dọa Sự Tồn Tại Của Chủ Nghĩa Cộng Sản Ở Việt Nam

Tuy chủ nghĩa cộng sản trụ vững ở Việt Nam, vẫn có manh nha 3 dọa đe sau cho sự trụ vững ấy.

A) Sự Bất Khả Tương Hợp Của Lý Thuyết Và Thực Hành Trong Chính Trị Và Trị Chính

1- Chống Tham Nhũng:

Chỉ sau khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng nắm giữ quyền bính tối cao trong Đảng, đại cuộc chống tham nhũng mới bước từ lý thuyết trừu tượng bầy sâu ra thực tế đời sống những bản án chốn pháp đình dành cho những đảng viên cao cấp từ ủy viên Bộ Chính Trị như Đinh La Thăng đến các tướng lĩnh lãnh đạo trong Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An. Điều này cũng đồng nghĩa với nội hàm rằng từ 30-4-1975 cho đến sát trước Thời Đại Nguyễn Phú Trọng (The Nguyen Phu Trong Era) tham nhũng đã được tạo điều kiện cho sự lan tràn nhũng nhiễu mà các khiếu kiện kéo dài nhiều chục năm của lương dân ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các thất bại thất thoát thất kinh của các siêu dự án cũng của Thành Phố Hồ Chí Minh là minh chứng, và toàn bộ các lãnh đạo Đảng và lãnh đạo chính quyền của Thành Phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lẽ ra đã phải chịu trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc Việt Nam ngay khi họ nhúng chàm, không thể có đủ tư cách để sau đó ra trung ương trở thành lãnh đạo Nhà Nước và lãnh đạo chính phủ.

Hồ Chí Minh không thể là người đã rèn luyện nên những học trò tắc trách, vô trách nhiệm, đồng hóa tan chảy vào bãi đàm nhớt kinh tởm mang tên tham nhũng bất lương phản phúc phản Đảng phản quốc như thế.

2- Giám Sát Và Trách Nhiệm:

Những đấng nắm quyền lực trước Thời Đại Nguyễn Phú Trọng đã rắp tâm hủy phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng những hạ sách quái gở phục vụ lợi ích nhóm, trong đó nổi bật nhất là việc (a) trao cho “nhà báo” các “thượng phương bảo thẻ” được tự tung tự tác dìm đầu đè cổ trấn áp vô hiệu hóa uy lực của Công An hầu trở thành thế lực phục vụ cho thanh thế riêng cá nhân một lãnh đạo chính quyền để đương đầu với các lãnh đạo còn lại trong Bộ Chính Trị như phân tích trong Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn, và (b) sử dụng bọn con nít bất tài vô dụng nhưng dễ sai bảo như tỏ tường cũng trong bài ấy chỉ để dựng nên những đấng lãnh đạo có phong cách như đám con nít cà tửng cà tửng làm chính trị mà thôi. 

B) Sự Thất Bại Hoàn Toàn Của Chính Sách Và Thực Hành Trong Dụng Nhân

Phần IV.A.2 ở trên cho thấy vấn nạn đã trở thành nan giải đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam là trong cung cách kỳ thị cực đoan đối với khâu dụng nhân.

Về chính sách, Đảng đã sa lầy trong cái gọi là đào tạo nhân tài trong khi không hiểu nhân tài là gì và những gì cần và đủ để có được một nhân tài. Những kẻ đã tư vấn cho Đảng đầu tư khổng lồ vào đào tạo nhân tài dứt khoát chỉ vì muốn hưởng 4 lợi lộc của (a) đưa con em của chính mình vào danh sách du học nước ngoài bằng tiền thuế của dân, (b) tạo điều kiện cho con em của chính mình sau khi du học trở về có đủ cái gọi là “trình độ” để ngồi vào các vị trí quản lý cấp cao dù không kinh qua thực tế làm việc thành công bất kỳ, (c) có các suất du học để nịnh bợ cấp trên hoặc để vòi tiền hay đòi ân huệ từ những cán bộ cần các suất ấy cho con em của họ, và (d) nhận các “lại quả” từ các tổ chức kinh doanh du học nào thụ hưởng khoản USD khổng lồ do Đảng đầu tư từ tiền thuế của dân.

Trong thực hiện chính sách dụng nhân, Đảng đã sa vào bãi lầy tự tạo mang tên kỳ thị bất công khi gián tiếp phủ nhận thành quả học tập tự lập chủ động của con em các gia đình Ba Không (không có công với cách mạng, không là đảng viên, không được đào tạo từ tiền đầu tư khổng lồ của Đảng), mặc nhiên thừa nhận chỉ có sự đầu tư do Đảng bỏ tiền USD khổng lồ từ tiền thuế của dân ra đào tạo nhằm vào các đảng viên trẻ hoặc con em cán bộ cao cấp của Đảng thì đất nước mới có nhân tài. Bằng cách gọi các công chức trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa làm việc ở đâu là “trí thức trẻ”, Đảng đã khẳng định vừa xem quá nhẹ ý nghĩa và tầm vóc của nhà trí thức vừa muốn ngụ ý tất cả các đảng viên của Đảng đều là nhà trí thức do đa số có bằng cấp cử nhân, biến Đảng là tổ chức của toàn những nhà trí thức nên tự động đủ sức lèo lái con tàu đất nước trong thời đại mới tân kỳ phức tạp.  Qua việc “gởi ra nước ngoài đào tạo thạc sĩ tiến sĩ”, Đảng đã hé lộ rằng tư tưởng trọng bằng cấp đã trở thành lực chủ đạo khống chế công tác dụng nhân của Đảng, qua đó, bằng cấp thay vì chỉ là chứng thực kết quả một quy trình thi cử có các bài đạt cơ số tổng điểm yêu cầu của nhà trường đối với một môn hay ngành học cụ thể mà cá nhân học viên quan tâm riêng để hoặc thỏa mãn cái tôi hoặc có thể cạnh tranh cho một công việc có thể giúp thực thi cái đã học thì lại được Đảng xem như sự chứng nhận tài năng, đẳng cấp, tài ba quản trị cấp Nhà Nước để ngồi vào vị trí quản lý cấp cao mà không cần phải kinh qua thời gian làm việc hiệu quả như bó buộc đối với “con cái của dân đen”.

Chính sự dụng nhân kỳ thị cực đoan kỳ dị phản-Hồ-Chí-Minh như trên mà Đảng đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng trong đó có 3 vấn nạn nổi bật nhất gồm

1- Sự thờ ơ của toàn dân – do số lượng đảng viên chỉ là phần nhỏ so với dân số cả nước – đối với quy trình học tập trong nước-thi cử trong nước-tìm việc trong nước, dẫn đến tư tưởng mất niềm tin vào sự công minh công bằng, và thực hiện ngay khi có thể được việc xuất ngoại du học và tìm cách tìm việc ở ngoài nước, khiến tiềm lực nhân sự giỏi và nhân sự tài nếu có chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón thế mà nhân dân cũng không hề biết tên đầy đủ của ai và những ai đang ngồi xỗm trên các đầu ngón tay ấy.

2- Sự bố trí sai nhân sự do không có nhân sự đúng để bố trí mà ngay cả khi quy trình bố trí cán bộ có chặt chẽ và nghiêm minh nghiêm túc đến đâu chăng nữa (do số lượng nhân sự Đảng có trong tay – qua trực tiếp đầu tư đào tạo – thì không bất kỳ ai có kiến thức đầu tư đào tạo, có kinh nghiệm đầu tư đào tạo, và có chịu trách nhiệm về chất lượng đầu tư đào tạo) thì nhân sự chất lượng tồi đương nhiên không thể phục vụ đất nước nhân dân ở tầm vóc và hiệu quả mà Đảng kỳ vọng.

3- Các sai phạm va vấp tiêu cực thậm chí có cả trọng án ở tất cả các lĩnh vực từ giáo dục, y tế, pháp đình, quân đội, công an, công thương, đến đầu tư, tài chính, ngân hàng, công nghiệp, v.v., chứng minh Đảng đã sai vì có đội ngũ hoạch định chính sách dụng nhân tồi, đội ngũ tư vấn chiến lược dụng nhân tồi, đội ngũ thực hiện dụng nhân tồi, mà tất cả các nhân sự của các đội ngũ tồi tệ này đều do Đảng đào tạo, đánh giá, bố trí, và không chịu trách nhiệm về họ.   

C) Quyền Lực Nhũn Xèo

Phần này được phân tích trong bài Quyền Lực Nhũn Xèo

V- Ba Biện Pháp Để Cộng Sản Việt Nam Vững Vàng Tiến Được Qua Thế Kỷ XXII: Chủ Nghĩa Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng

A) Chủ Nghĩa Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng: Yếu Tố Định Luật

1- Bản Sắc Hồ Chí Minh:

Tuyệt đại đa số người Việt từ thời tiến hành cuộc Trường Di rời Động Đình Hồ xuôi vạn lý về phương Nam cho đến lúc Thế Kỷ XX bước vào ba thập kỷ cuối cùng thì vẫn luôn thắm đượm tinh thần tích cực, văn hóa tích cực, lối sống tích cực, và cách nhìn tích cực có ảnh hưởng tỏa lan tích cực. Sự tích cực ấy là từ tư duy và qua thể hiện tổng hợp của 8 phạm trù hiếu, dũng, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và tôn ty quân-thần/phụ-tử/phu-thê, tất cả hình thành các khuôn mẫu khuôn phép bài bản cho con người tiến ra xã hội với quy trình bất di bất dịch 4 bước miên viễn đúng tuyệt đối đúng của tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ. Tất cả ngần ấy thứ phạm trù tích cực và quy trình miên viễn đúng đều do từ giáo dục gia đình chứ không từ trường học. Gia đình là cha mẹ cùng các bậc trưởng thượng. Chính nhờ giáo dục gia đình mới tạo nên những người con hội đủ 8 phạm trù và có nhận thức về quy trình 4 bước. Và những người con như vậy tự trở thành những con người có trách nhiệm cao nhất, tiền đề cho sự hình thành những nhà ái quốc.

Lịch sử Việt Nam lưu danh bao vị anh hùng ái quốc. Và các phân tích ở trên phác họa tiến trình phải qua cùng những đức tính cao quý phải có nơi những nhà ái quốc.

Xuất phát từ gia giáo như thế, Nguyễn Ái Quốc là một nhà ái quốc, là người con của hai đấng sinh thành cũng là hai nhà ái quốc. Nhờ gia giáo, Phan Bội Châu là một nhà ái quốc, là người con của hai đấng sinh thành cũng là hai nhà ái quốc. Dù thành công hay thất bại, họ đều là những nhà ái quốc đã vì nước vì dân mà hy sinh các hưởng thụ cá nhân để gian nan lao lung kiếm tìm phương cách họ cho là tốt nhất để cứu nước cứu dân.

Tuy nhiên, không thể đoan chắc rằng học trò của Phan Bội Châu có gia giáo tương tự Phan Bội Châu để trở thành những nhà ái quốc nối chí Phan Bội Châu. Đó là lý do không bất kỳ ai dưới thời Việt Nam Cộng Hòa được thế giới biết đến như một nhà ái quốc Việt Nam.

Tất nhiên, không thể đoan chắc rằng học trò của Hồ Chí Minh có gia giáo tương tự Hồ Chí Minh để trở thành những nhà ái quốc nối chí Hồ Chí Minh. Đó là lý do chưa bất kỳ ai dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được thế giới biết đến như một nhà ái quốc Việt Nam.

Không có tính cách mang bản sắc Hồ Chí Minh, không đảng viên cộng sản nào là nhà ái quốc. Đã không có lực lượng nhân sự toàn là nhà ái quốc, Đảng chỉ có những đảng viên trong danh mục 11 loại đảng viên được liệt kê ở phần V.C tựa đề “Trị Quốc Theo Mô Hình Hoàng Hữu Phước” bên dưới, mà cả 11 loại này đều không thể giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam vững vàng tiến được qua Thế Kỷ XXII.

Định luật 1: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, các đảng viên Cộng sản phải là những nhà ái quốc hội đủ bản sắc Hồ Chí Minh.

2- Cộng Sản:

Chủ nghĩa cộng sản là tác phẩm trí hóa mới nhất của nhân loại. Từ sau sự xuất hiện của chủ nghĩa này trong đời sống chính trị thế giới, cho đến nay chưa hề có một hệ tư tưởng nào khác, bất luận hệ tư tưởng ấy nghiêm túc hay diễu hề. Đặc biệt, chủ nghĩa cộng sản phát huy tác dụng một cách đầy thuyết phục và cực kỳ khủng khiếp trong 9 mặt sau:

a) Tiêu diệt hoàn toàn tất cả các đế quốc thực dân toàn cầu, dẫn đến giải phóng toàn bộ các thuộc địa trên toàn thế giới;

b) Tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ;

c) Hình thành siêu cường đối trọng của toàn thế giới tư bản: Liên Xô;

d) Tiêu diệt Đức Quốc Xã, quyết định sự kết liễu Đệ Nhị Thế Chiến, khiến Mỹ phải vội vàng sử dụng bom nguyên tử với Nhật Bản để giành lấy cơ hội chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản để được mang danh có vai trò to lớn tương tự Liên Xô.

e) Hình thành Khối Xã Hội Chủ Nghĩa Đông Âu;

f) Trở thành công cụ hữu hiệu hình thành siêu cường bành trướng bá quyền Trung Quốc đe dọa sức mạnh Hoa Kỳ và dọa đe toàn thế giới;

g) Trở thành công cụ hữu hiệu trong tay những nhà ái quốc Việt Nam trong tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa, oanh liệt đuổi xua tống khứ các quân đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh trong cuộc tháo chạy tán loạn hỗn loạn chưa từng có tiền lệ trong lịch sử quân sự của nhân loại, hình thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thống nhất trở thành quốc gia không những tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ Kampuchea, đánh tan cuộc xâm lược của Trung Quốc, đánh bại lịnh cấm vận của Mỹ và đồng minh để vươn lên giữ vị thế đối tác chiến lược của các cường quốc trong phát triển kinh tế, quan hệ đối ngoại, và chặn ngăn sự bành trướng của bá quyền Trung Quốc xuống Nam Bán Cầu;

h) Biến đổi hoàn toàn thế giới tư bản từ chủ nghĩa bóc lột giai cấp vô sản sang chủ nghĩa dân túy dựng xây nhiều hơn các phúc lợi cho người lao động, nghĩa là khiến giới tư bản toàn cầu buộc phải chi ra nhiều hơn từ các lợi nhuận; và

i) Lột mặt nạ thế giới Âu Mỹ rằng đã chưa hề có chủ nghĩa chống Cộng mà chỉ có chủ nghĩa bài Nga do Nga đã không còn là quốc gia cộng sản; qua đó chứng minh chống cộng là nội hàm xằng bậy, không có thật, mà chỉ có chống Việt hay bài Việt, biến tất cả các phe nhóm Việt phản động trở thành bọn hề xuản ngốc cực đoan do nhân loại chưa từng có ai chống đất nước của mình bao giờ.

Do hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa có sức mạnh khủng khiếp đến vậy, Việt Nam nhất thiết phải duy trì hình thức của chủ nghĩa cộng sản trong thể chế chính trị của mình. Đây là một yếu tố quan trọng, song chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ. Liên Xô và toàn bộ Khối Xã Hội Chủ Nghĩa bị diệt vong do đã không hội đủ 4 yếu tố mang tính định luật như nêu trong phần V.A. này.

Định luật 2: Muốn Việt Nam tồn tại trước nanh vuốt Trung Quốc được hỗ trợ bởi bọn người Việt và người gốc Việt chống Việt, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải không bị tiêu diệt ở Việt Nam.

3- Dân Tộc:

Chủ nghĩa dân tộc luôn tồn tại mang tính trỗi vượt rõ nét nơi những người yêu nước và những nhà ái quốc. Theo luận cứ trong bài này, người yêu nước không phải là từ thuần Việt của nhà ái quốc. Người yêu nước tồn tại ở tất cả các quốc gia ở tất cả các thời đại. Hitler, Stalin, Tito, Kim Jong-un, Donald Trump, Xì-Dính-Bình, v.v. là những người yêu nước. Hồ Chí Minh là nhà ái quốc. Những nhà ái quốc đều đồng thời mặc nhiên là những người yêu nước; song, người yêu nước cần phải có các bản sắc cao vời mới trở thành nhà ái quốc. Do tất cả những nhà ái quốc và những người yêu nước đều dân tộc chủ nghĩa từ bản chất, bất kỳ nhà chính trị nào cổ súy cho chủ nghĩa đại đồng hoặc biến thể hiện đại của nó là chủ nghĩa toàn cầu hóachủ nghĩa hội nhập đêu là hoặc (a) ngu xuẩn bầy đàn, hoặc (b) gian ngoan ngụy trang. Và một khi chủ nghĩa dân tộc từ vị trí tàng ẩn tự nhiên tự thân nơi tư duy con người tiến ra ngạo nghễ tự hào công khai thách thức thế giới chính trị toàn cầu như đang thống lĩnh sinh hoạt chính trị hiện nay, những lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhất thiết phải đặt Việt Nam Trên Hết làm tư tưởng chủ đạo cực đoan. Hãy hoặc công khai tự hào như Donald Trump và Hoàng Hữu Phước, hoặc gian ngoan ngụy trang. Không bao giờ được phép ngu xuẩn bầy đàn thực tâm ngợi ca cái xảo ngụy của chủ nghĩa toàn cầu hóachủ nghĩa hội nhập vốn chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có thật.

Định luật 3: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải tuân theo xu hướng thống lĩnh thế giới của thời đại mới mà Hoàng Hữu Phước đã cổ súy hơn 30 năm qua trên các diễn đàn tự do ngôn luận tại Việt Nam: khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa cho một tư duy duy nhất đúng của Việt Nam Trên Hết.

4- Thiên Khổng:

Hồ Chí Minh và những nhà cách mạng Cộng sản ái quốc cùng thời với Hồ Chí Minh đều xuất thân từ nền gia giáo thiên Khổng. Ngay cả nhiều người trong đám đông chống Hồ Chí Minh cũng có xuất thân tương tự.

Hồ Chí Minh dựng xây Đảng Cộng Sản Việt Nam và giáo dục đảng viên về đấu tranh giai cấp, về chủ nghĩa cộng sản, về đấu tranh chống thực dân đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc tiến đến thống nhất đất nước, về không có gì quý hơn độc lập tự do cho dân tộc, về tinh thần quốc tế vô sản, và về nội dung cụ thể phải làm vì nước vì dân. Hồ Chí Minh không bao giờ dạy bảo rèn luyện cán bộ về 8 phạm trù khuôn phép cùng 2 bước quy trình tu thântề gia, vì tất cả những nội dung này chỉ có từ tự thân và từ gia giáo. Hồ Chí Minh dựa vào những con người sẵn có các tố chất bản sắc người tài ấy để tạo điều kiện cho họ trị quốc để lãnh đạo họ vào đại cuộc bình thiên hạ. Cái uy đức của thánh nhân nơi Hồ Chí Minh giúp quy tụ quanh Người vô số những nhà ái quốc tạo nên lực lượng bất khả chiến bại.

Trong thời đại mới này, Đảng Cộng Sản Việt Nam khi kết nạp Đảng, sử dụng nhân sự đảng viên, bố trí giao việc lớn trị quốc trong guồng máy chính quyền các cấp cho cán bộ đảng viên, chỉ thuần trên 6 nội dung của 

(a) đúng quy trình kết nạp/dụng nhân/bố trí của Đảng;

(b) đạt yêu cầu “tư tưởng chính trị” qua các khóa “cao cấp lý luận chính trị” của Đảng;

(c) đạt yêu cầu “bằng cấp” do chính Đảng đài thọ chi phí đào tạo;

(d) đạt yêu cầu “thời gian/vị trí/nơi công tác của Đảng” dù không bao giờ làm việc từ cấp thấp đạt kết quả mỹ mãn mang tính nghiệp vụ chuyên môn theo thời gian mà chỉ ngồi ngay vào ghế lãnh đạo cấp cao để thừa hưởng thành quả dâng lên từ cán bộ thuộc quyền cấp thấp tại đơn vị “công tác”;

(e) đặt ưu ái cho thành phần đảng viên thuộc gia đình có công với cách mạng chứ không trên cơ sở gia đình gia giáo thiên Khổng; và

(f) Đảng không phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ hậu quả nào của việc kết nạp sai, đào tạo sai, sử dụng sai, bố trí sai.

Khi Đảng không hề có và không thể có chức năng rèn luyện đào tạo cán bộ Đảng có được 8 phạm trù khuôn phép cùng 4 bước quy trình, Đảng phải không được quên tầm quan trọng dứt khoát phải được tôn trọng của gia giáo.

Chưa kể, học đường là nơi phổ biến kiến thức và kiểm tra kiến thức chứ cũng không hề có và cũng không thể có chức năng rèn luyện 8 phạm trù khuôn phép đạo đức con người nhằm đáp ứng 4 bước quy trình bước vào xã hội một cách có tư cách và trách nhiệm của công dân. Việc rứt học sinh ra khỏi giáo dục gia đình bằng cách gia tăng thời gian ở trường của học sinh, giảm thiểu thời gian sinh hoạt ở nhà của học sinh, ngợi ca quá đáng vai trò giáo dục đạo đức của trường học mà bản thân học đường không bao giờ có, đã khiến làm biến mất toàn bộ cái gọi là gia giáo mà lẽ ra học sinh có quyền chính đáng được thụ hưởng, dẫn đến hậu quả là đạo đức học đường xuống cấp nghiêm trọng, đạo đức xã hội suy đồi, và Đảng không còn có thể có được lực lượng kế thừa nào trong sạch vững mạnh minh bạch liêm khiết tài năng.

Nghiên cứu tất cả các bài viết của Hoàng Hữu Phước về giáo dục và đào tạo, áp dụng mô hình trợ cấp cho những người vợ làm “nội trợ” như cơ chế từng có tại Việt Nam Cộng Hòa hay đang có tại nhiều cường quốc kinh tế Tây Âu, là những biện pháp nên làm để dần dần tái lâp sự giáo dục của gia đình đối với con cái của chính họ, dù ngay cả khi đề xuất vấn kế này có được áp dụng ngay trong tuần này thì cũng đã quá muộn màng: Việt Nam từ nay không thể có nhân tài và càng không thể có hiền tài – trừ khi Đảng tự đề cao ai đó hoặc tác giả bài viết này tự đề cao chính y như một hý hước của một nhà châm biếm bậc thầy duy nhất còn sót lại ở Việt Nam.

Định luật 4: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, các đảng viên Cộng sản phải là những nhà ái quốc hội đủ bản sắc Hồ Chí Minh, mà bản sắc ấy hình thành chỉ từ gia đình thắm đượm tinh thần ái quốc từ khuynh hướng thiên Khổng chủ đạo chứ tuyệt nhiên không bao giờ có được từ sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa của Đảng Cộng Sản. Không trên nền thiên Khổng trong tu thân tề gia, dứt khoát không bao giờ nhận được sự tôn trọng tôn kính tôn sùng của người dân Việt để có thể nắm quyền trị quốc.

B) Áp Dụng Tuyệt Đối Cẩm Nang Trị Quốc Duy Nhất Đúng Miên Viễn Của Hồ Chí Minh

Vạn vật đều biến đổi. Thương hải biến vi tang điền. Trăm năm biển cả biến ruộng dâu. Ấy là khi xưa người ta tư duy còn hạn hẹp nên có khi cho rằng trăm năm ấy đã rất dài, còn có lúc lại cho thời gian chỉ như như bạch câu quá khích bóng câu vút ngang qua khe cửa hé mà thôi. Thế nên, miên viễn dùng trong phần này không với ngụ ý vĩnh cửu tức chống lại mọi định luật của tự nhiên, mà chỉ đơn giản mang nội hàm của một chân lý có thể áp dụng dài lâu nhất.

Hồ Chí Minh đã một cách thông tuệ để lại cho các học trò của Người một cẩm nang trị quốc có giá trị đúng miên viễn, và đó là câu “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Tuy nhiên, cái sự học nhiều đọc nhiều biết nhiều bằng cấp nhiều chỉ có thể đẩy một người vươn lên hàng ngũ người giỏi, song chỉ có quá trình hiểu đúng, diễn giải đúng, truyền đạt đúng, truyền bá đúng, áp dụng đúng, đạt hiệu quả đúng trong trị quốc mới biến người giỏi ấy thành bậc thông tuệ nhân tài và được lưu danh trong sử sách như những bậc hiền tài. Các đảng viên đẳng cấp cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam đều là học trò thật của Hồ Chí Minh, học trò tự nhận của Hồ Chí Minh, hoặc những người hiếu học luôn giương cao biểu ngữ học tập theo gương Hồ Chí Minh dù thực tế chỉ cho thấy sự ngỡ ngàng của người dân không rõ các vị hiếu học ấy học cái gì của Hồ Chí Minh và học được gì từ Hồ Chí Minh mà “học” mãi không thuộc và “hành” thì suy bại đến thế; song, dù thuộc bất kỳ nhóm nào trong các nhóm chuyên gia học tập này thì không có bất kỳ ai thông tuệ để vừa hiểu bí kíp thông tuệ ấy của Hồ Chí Minh vừa đem ứng dụng được cái sự hiểu ấy vào trị quốc để duy trì phong cách bách chiến bách thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã tự hào tạo dựng.

Trong bài Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam ở phần “Cẩm Nang Bửu Bối Của Hồ Chí Minh”, tác giả Hoàng Hữu Phước có giảng giải rằng: “…tôi thấy cần khẳng định lại hai lập luận của tôi trong nhiều chục năm qua là: (a) tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng thực tế đời sống đã khiến những khái niệm hay quan niệm trước đây trở nên hoặc obsolete không còn phù hợp hoặc cần có các upgradation chỉnh lý nâng cao tương thích, và (b) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng tiên tri thấu thị về những đổi thay mang tính thời đại mới ấy nên để lại cho các học trò một bửu bối trong trị quốc bình thiên hạ: đó là câu “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” với đại ý rằng cái gì có lợi cho độc lập dân tộc và quốc gia ổn định cường thịnh thì cứ biến hóa ra vạn cách để làm, ngõ hầu thực hiện cho được mục tiêu ấy chứ không cớ gì phải bám theo sát sàn sạt từng chữ một tất cả những lời Người đã dạy.”

Thực tế lịch sử Việt Nam hiện đại đã chứng minh, chứng kiến, chứng nhận các thành quả của hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam từ “Dĩ Bất Biến” trong xác quyết ấn định cố định con đường dựng xây đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đến “Ứng Vạn Biến” thiên hình vạn trạng mà vài thí dụ điển hình như sau:

1- Ứng Vạn Biến 1: Không cần đánh tiếng trước với thế giới, chủ động đưa đại quân vào lãnh thổ nước Kampuchea “cộng sản anh em” để tiêu diệt quân Khmer Đỏ xâm lược, lật đổ chế độ diệt chủng của Pol Pot, giải phóng hoàn toàn Kampuchea khỏi họa diệt vong. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

2- Ứng Vạn Biến 2: Vừa đánh tiếng với thế giới về sự xâm lược của Trung Quốc, vừa chủ động không đưa quân vào lãnh thổ nước Trung Quốc “cộng sản anh em” truy sát tàn quân Trung Quốc chiếm lấy Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông; từ chối không noi gương Lý Thường Kiệt xưa kia (vừa công bố Phạt Tống Lộ Bố Văn vừa chủ động đưa quân vào lãnh thổ nước Trung Hoa “thiên triều” đánh chiếm Khâm Châu, bức hạ Liêm Châu, thu nạp Bạch Châu, san thành bình địa Ung Châu, tàn phá Tân Châu). Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

3- Ứng Vạn Biến 3: Tham gia tổ chức ASEAN mà tiền thân là SEATO Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á (đứa con sinh sản vô tính từ Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO), đầy thù địch (không những gởi quân sang tham chiến tại Việt Nam dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mỹ mà còn cho Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự để xuất kích các cuộc oanh tạc tàn phá “Bắc Việt”, và sau khi tất cả tháo chạy lạch bạch như vịt khỏi Việt Nam thì cho các phiến quân hải ngoại đến lập căn cứ để tung các “Kinh Kha” đột nhập vào Việt Nam để phá hoại hòa bình ổn định của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam). Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

4- Ứng Vạn Biến 4: Noi gương Phong Trào Perestroika của “đàn anh” Liên Xô để tạo ra Tiến Trình Đổi Mới của riêng Việt Nam, điềm nhiên chứng kiến nước “cộng sản anh em” Liên Xô bị Perestroika làm cho bị tiêu diệt, rồi tự tin thúc đẩy Đổi Mới làm bệ phóng cho Việt Nam Cộng Sản trở thành đầu kéo duy nhất của chủ nghĩa xã hội không có toa tàu nối đuôi. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

5- Ứng Vạn Biến 5: Mở rộng cửa bang giao hữu hảo với tất cả các cường quốc tư bản từng là đại thù, khép bớt cửa với cường quốc bá quyền từng là hữu hảo. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

6- Ứng Vạn Biến 6: Chủ động đề ra học thuyết kinh tế “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để phát triển kinh tế cộng sản trong môi trường toàn cầu tư bản. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

7- Ứng Vạn Biến 7: Biến chủ nghĩa cộng sản thành tư tưởng chính trị chủ đạo của trị quốc theo đường hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa của thời đại mới, thay cho các vai trò nguyên thủy, nghĩa là nay không đấu tranh giai cấp vì giai cấp công nhân ở mọi nơi không màng gì đến đấu tranh giai cấp, không theo phe nhóm chống đối chủ nghĩa tư bản như Khối Xã Hội Chủ Nghĩa và các Quốc Tế Cộng Sản vì toàn bộ các nhóm đã tiêu vong mà Việt Nam chẳng chống chủ nghĩa tư bản, không hô hào thế giới đại đồng vì thế giới vĩnh viễn không bao giờ đại đồng trong khi Việt Nam không bao giờ dại dột đứng lên hô hào như vậy, không kêu gọi vô sản các nước đoàn kết lại vì chẳng vô sản nào còn nghe theo trong khi Việt Nam chẳng hề muốn lãnh đạo dưỡng nuôi bảo bọc vô sản các nước, v.v. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

Và còn nhiều các “ứng vạn biến” khác.

Tuy nhiên, các “ứng vạn biến” do chưa trên quy mô đầy đủ toàn diện, khiến hạn chế tầm phát triển suông sẻ của Việt Nam, thậm chí đã và đang đẩy Việt Nam tiến gần hơn đến miệng vực của trì trệ, thất bại. Tất cả những suy đồi suy sụp suy vi qua các đại án kinh tế đang hằn vết nhơ lên lá cờ chủ soái của Đảng là do những sai lầm mang tên “không bao giờ áp dụng ứng vạn biến trong dụng nhân” mà ra.

Phần dưới đây liên quan đến “ứng vạn biến” trong dụng nhân như mẫu ghép cuối cùng nhưng lại là quan trọng nhất vì là phần ghép đế móng của tòa tháp chế độ mà lẽ ra đã phải được ghép đầu tiên và trước hết.

C) Trị Quốc Theo Mô Hình Proxy Governance Của Hoàng Hữu Phước

Từ bản chất Hồ Chí Minh đã nêu trên ở phần V.A.1. , từ cẩm nang trị quốc mang tên “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” của Hồ Chí Minh, và từ chính thực tế dụng nhân của Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng việc trị quốc theo mô hình dụng nhân sau đây của Hoàng Hữu Phước hoàn toàn tương hợp, nhất là khi thực tế hiện nay chứng minh toàn bộ các lãnh đạo cộng sản cấp cao ở tất cả các mặt trận của nền kinh tế quốc dân đều chỉ thuộc một trong 11 hạng gồm

(a) trung kiên với Đảng,

(b) không có tì vết,

(c) tội phạm bị phát hiện,

(d) tội phạm tiềm tàng sẽ bị phát hiện trong tương lai gần hoặc xa hay rất xa,

(e) phạm tội nhưng không bao giờ thành tội phạm,

(f) không bao giờ thỏa hiệp với tiêu cực nhưng không bao giờ tố giác tội phạm,

(g) thực tâm không xem chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng,

(h) không bao giờ có tâm thức “phục vụ quốc gia dân tộc”,

(i) xem kiếm tiền là mục đích chính của mọi chức vụ đảm nhiệm,

(j) không có chồng/vợ/con có “gia giáo” tức đã không có năng lực “tề gia”, và

(k) không bao giờ có danh thanh liêm chí công vô tư tức đã không hề “tu thân”.

Khi rõ ràng rằng cả 11 hạng cán bộ cộng sản nêu trên tất nhiên không mang bản chất Hồ Chí Minh, không là người giỏi khiến chưa từng có ai là nhân tài – kể cả nhân tài trong giỏi phát hiện và giỏi diệt trừ tham nhũng – từ khi thống nhất đất nước cho đến nay, và do đó tất nhiên những cán bộ này không thể sử dụng thành công cẩm nang trị quốc của Hồ Chí Minh, thậm chí có khi tích cực “ứng vạn biến” chỉ để phục vụ lợi ích nhóm cán bộ cấp cao và quyền lợi cá nhân cán bộ cấp cao, rời xa vĩnh viễn “dĩ  bất biến”, đặt chế độ cộng sản chủ nghĩa đối diện với nguy cơ bị diệt vong từ sự bất mãn của người dân trước sự thật rằng các lãnh đạo ở Bộ Chính Trị, ở Trung Ương và ở tất cả các tỉnh thành trong thời đại “mở cửa hội nhập” đều chưa có ai hữu tài hữu dụng nổi bật công khai để dân chúng thán phục như “nhân tài” cả – trừ nhân vật Nguyễn Phú Trọng.

1- Mô Hình Hoàng Hữu Phước:

Mô hình trị quốc Hoàng Hữu Phước tức mô hình national proxy governance mang yếu tố “dĩ bất biến, ứng vạn biến” bao gồm 5 điểm căn bản sau:

a) Dĩ Bất Biến: Đảng Cộng Sản thống lĩnh các mặt tư tưởng chính trị, thể chế chính trị, chủ trương, hoạch định đường lối, chính sách chiến lược quốc gia trong đối nội và đối ngoại, với mô hình quyền lực Đảng từ trung ương (Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng) đến địa phương (thành ủy, tỉnh ủy; xóa bỏ các cấp chính trị “ủy” ở quận/phường/xã).

b) Dĩ Bất Biến:Đảng Cộng Sản trực tiếp thống lĩnh các lực lượng vũ trang quốc gia.

c) Dĩ Bất Biến: Đảng Cộng Sản trực tiếp thống lĩnh mặt trận ngoại giao.

d) Ứng Vạn Biến: Toàn bộ ban lãnh đạo chính quyền đối với các mặt lãnh đạo chính phủ trung ương (từ Thủ Tướng đến các Bộ Trưởng – trừ các Bộ Quốc Phòng, Công An, và Ngoại Giao), lãnh đạo nhà nước địa phương (các ủy ban nhân dân và các hội đồng nhân dân các cấp) đều do người giỏi ngoài đảng đảm trách. Người giỏi ngoài đảng phải tự ứng cử, ra tranh cử, được người dân bầu lên qua các cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức theo các luật hiện hành có liên quan. Người giỏi trong đảng cũng phải tự ứng cử, ra tranh cử, nếu được Đảng cho phép và nếu chỉ có các chức vụ trong Đảng, được người dân bầu lên qua các cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức theo các luật hiện hành có liên quan. Đối với tranh cử vào Quốc Hội, những người giỏi ngoài đảng tự ứng cử và những người giỏi trong đảng tự ứng cử khi đắc cử sẽ tiến hành bầu ra ban lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo chính phủ từ những nghị sĩ vừa đắc cử chứ không theo danh sách khống chế đề ra bởi Bộ Chính Trị nhưng chưa hề có ai trong Bộ Chính Trị phải chịu trách nhiệm về nhân sự do mình đề cử.

e) Ứng Vạn Biến: Tuyên bố ghi ơn và chấm dứt vai trò lịch sử của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

2- Nhị Ưu Việt Của Mô Hình Hoàng Hữu Phước Tức Mô Hình Lãnh Đạo Ủy Nhiệm National Proxy Governance:

a) Điểm ưu việt thứ nhất: Chức năng được phân định

Với thực tế từ 30-4-1975 cho đến nay chỉ chứng kiến sự suy đồi của quá nhiều quan chức và tướng lĩnh mà tất cả đều là đảng viên, do Đảng giáo dục rèn luyện và do Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu, đã chứng minh:

(i) Đảng viên không thể là nhân tài chỉ với sự giáo dục của Đảng mà không cần có sự giáo dục tự thân, của cha mẹ – nếu thủa ấu thời còn cha ẹm –  hay bậc trưởng thượng trong gia đình;

(ii) Đảng không thể thay cha mẹ hay bậc trưởng thượng trong gia đình đảng viên để giáo dục tư cách nhân cách con người ngay từ tuổi ấu thơ của đảng viên;

(iii) Đảng không có lực lượng đảng viên người tài để có thể sử dụng đảng viên nắm các chức vụ quản trị nhà nước rất đa dạng đa ngành trong hoàn cảnh mới của Việt Nam;

(iv) Đảng đã thất bại trong giám sát kỷ cương cán bộ do chính Đảng rèn luyện, đầu tư, phân công;

(v) Đảng không thể gạt phần dụng nhân ra khỏi cẩm nang “ứng vạn biến” trong trị quốc của lãnh tụ Hồ Chí Minh;

(vi) Đảng đã bất lực không xử lý được đảng viên sai phạm trong rất nhiều năm qua do cơ chế bảo vệ đảng viên của chính Đảng; và

(vii) Đảng không có quyền để Đảng bị ô danh vì chính sự dụng nhân “bất biến” của Đảng.

Với mô hình ủy trị quốc gia national proxy governance, điểm ưu việt thứ nhất sẽ là sự cộng hưởng của 4 thành tố gồm:

– Đảng thực hiện phần chức năng Đảng thực sự hùng mạnh, có kinh nghiệm tuyệt đối, và có thể chịu trách nhiệm (trực tiếp thống lĩnh các mặt tư tưởng chính trị, thể chế chính trị, chủ trương, hoạch định đường lối, chính sách chiến lược quốc gia trong đối nội và đối ngoại, với mô hình quyền lực Đảng từ trung ương đến địa phương);

– Đảng chấm dứt trực tiếp điều hành Nhà Nước tức chấm dứt nắm quyền lực Nhà nước ở các cơ quan Nhà Nước và Chính Phủ, để tập trung thực hiện phần chức năng Đảng chưa bao giờ có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy đã từng đạt hiệu quả trong thời đại mới: giám sát kỷ cương trị quốc;

– Những chức sắc ngoài Đảng khi sai phạm bị sự giám sát của Đảng đưa ra chịu tội trước pháp luật sẽ không làm Đảng bị ô danh, nâng cao vị thế của Đảng trong nhận thức của người dân, triệt tiêu hoàn toàn các cáo buộc tiêu cực về sự dung túng của Đảng đối với đảng viên; và

– Người giỏi có cơ hội tham chính mà không cần vào Đảng, khiến đất nước có cơ hội có được người tài, và sử sách có thêm danh mục các bậc hiền tài từ sự “ứng vạn biến” này trong khâu trọng yếu của Đảng: dụng nhân. 

b) Điểm ưu việt thứ hai là sẽ có sự lột xác của giới tinh hoa chính trị Việt Nam như phân tích trong bài Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021 , biến giới này từ trạng thái vô hình vô cảm vô tâm vô tích sự từ 30-4-1975 đến nay sẽ trở thành lực lượng ưu tú chuyên nghiệp có trách nhiệm của Đảng trong chức năng thống lĩnh mặt trận tư tưởng và thể chế quản lý thượng tầng và giám sát từ thượng tầng. Tương tự, như thấu thị chiến lược của Hoàng Hữu Phước, sẽ phải nhanh chóng có hệ Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam một khi người giỏi ngoài Đảng và người giỏi trong Đảng tự ra ứng cử Quốc Hội mà không dưới ô dù của Đảng hay Mặt Trận Tổ Quốc, để trở thành nghị sĩ và từ đó bước lên vị trí lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo chính phủ, lãnh đạo Nhà Nước đường hoàng trong tư thế và tư cách phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện các định hướng chủ đạo của Đảng và dưới sự giám sát của Đảng.

Dĩ bất biến, ứng vạn biến” luôn là cẩm nang tự có trong vô thức của tất cả những nhân vật thành công – hoặc muốn thành công – trong lịch sử loài người. Đó là tinh thần linh hoạt linh động ứng phó ứng đối xử trí xử lý hoàn cảnh vì mục đích đã được xác quyết.

Song, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất của loài người minh định công khai cẩm nang ấy thành ngôn từ mang tính chỉ thị thấu thị truyền lưu, biến “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” thành phát kiến riêng thuộc về Hồ Chí Minh, người con kiệt xuất nhất của nước Việt.

Phát kiến ấy của vị lãnh tụ cộng sản Việt Nam duy nhất lừng danh duy nhất vĩ đại  Hồ Chí Minh, do đó, không thể không được tuân thủ áp dụng triệt để bởi những đảng viên cộng sản được cho là đang tích cực học tập theo lời dạy của chính Người.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng và Lý Luận Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Sử Nghiên Chính-Trị

Liên kết tham khảo các bài viết của Hoàng Hữu Phước theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài trên:

Tài Năng Thấu Thị: Tin Quảng Bá  20-10-2018

Khiêm Tốn: Khiêm Tốn  22-02-2015

Làm Chính Trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Gã Phụ Bếp Họ Hồ: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam 11-9-2015

Ngọn Cờ Vatican: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017

Chính Trị: Chính Trị  14-01-2016

Tự Do-Dân Chủ: Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Đảng Chính Trị Tức Chính Đảng: Việt Nam Cộng Hòa – Đảng Chính Trị 18-9-2017

Zero Đảng, Độc Đảng, Lưỡng Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. 14-4-2015

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu 05-8-201

Hoàng Hữu Phước Đối Đầu Với Chu Văn An: Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo”  25-4-2019

Phong Trào Đông Du:  Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Đi Tắt Đón Đầu: Đi Tắt Đón Đầu  08-9-2017

Lập Gia Đình:  Đám Cưới  09-12-2015

Nhà Chí Sĩ Lê Quốc Túy (Lê Phục Thiện):  Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Nhân Tài Nước Việt Trần Chung Ngọc: Trần Chung Ngọc

Đừng Nghe Những Gì Cộng Sản Nói Mà Hãy Nhìn Những Gì Cộng Sản Làm:  Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”  26-12-2014

Đừng Nghe Những Gì Bọn Chống Cộng Nói Mà Cũng Đừng Nhìn Những Gì Bọn Chống Cộng Làm:  NHỮNG LẬP LUẬN KỲ QUÁI CỦA NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ TS TRẦN MINH HOÀNG  25-01-2014

Quân Đội Viễn Chinh Gần Triệu Người Từ Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand: Tứ Trụ Bắc Việt  19-7-2016

Quỳ Ôm Gối: Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu  11-9-2016

Cộng Sản Buộc Phải Trở Thành Thế Lực Chính Trị Còn Lại Duy Nhất Ở Việt Nam: Luận Về “Đa Đảng” 27-6-2019

Tham Nhũng: Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

Nhà Báo: Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  05-8-2016

Đảng Loạn: Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn 14-12-2016

Bọn Con Nít Làm Chính Trị: Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Các Công Chức Trẻ Vừa Tốt Nghiệp Đại Học Là “Trí Thức Trẻ”: Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình  14-9-2016

Nhà Trí Thức: Thế Nào Là Nhà Trí Thức 14-02-2014

Quyền Lưc Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017

Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến: Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”  27-10-2015, và  Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam  02-02-2016

Người Giỏi, Nhân Tài, Hiền Tài: Hiền Tài May 22, 2019

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam: Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Phạt Tống Lộ Bố Văn: 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975 30-5-2011

Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi: Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021

Chuẩn Mực 46: Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam  04-02-2018

Lại Chậm Chân

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

11-6-2019

Như đã luôn được nhắc đến trong 500 bài trên blog này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không may vướng phải 6 hoàn cảnh trầm kha trong đại cuộc kiến quốc gồm (a) đã không bất kỳ đảng viên nào thông tuệ ngộ ra được quy trình người giỏi-người tài-nhân tài-hiền tài trước thạc sĩ Hoàng Hữu Phước; (b) vì không biết nên đã không có kế sách phù hợp trong dụng nhân; (c) vì không có kế sách phù hợp trong dụng nhân nên đã chưa hề có được trong tay bất kỳ nhân tài nào phục quốc tức phục vụ quốc gia; (d) vì không có nhân tài lãnh đạo thực hiện kiến quốc nên lãnh đạo Đảng vốn toàn là những vị “thinker” tức chiến lược gia cho ra bao kế sách vĩ đại song đã không có các “doer” tức các nhân tài thực hiện khiến phải nghe lời tư vấn của những kẻ nếu xách dép cho nhân tài chỉ làm thối bẩn đôi dép ấy để tiêu tốn biết bao tỷ USD cho “đào tạo nhân lực” chỉ để sản xuất ra những sản phẩm tương tự Tề Trí Dũng và những tên tương cận chứ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề nêu lên được bất kỳ một cái tên nào cao hơn Tề Trí Dũng về tài năng kiến quốc cụ thể từ các đại sư đoàn bí mật thụ hưởng “chương trình đào tạo nhân tài” tỷ tỷ USD đó; (e) tư tưởng nông nô lấn át nên thậm chí chẳng đảng viên nào hiểu cái câu “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” có nghĩa thâm thúy rằng hãy bỏ công sức vô bao sỏi đá vác đi bán cho các công trường xây dụng lấy tiền mua cơm chứ nào phải mang nghĩa hì hục cuốc vào đá sỏi kiên trì thế nào nó cũng phải mọc lên cây lúa, mà với cái tư tưởng nông nô như vậy đã dẫn đến việc chỉ xài người của Đảng do Đảng đầu tư; và (f) cũng vì ngần ấy thứ a bê xê dê e ấy mà nước nhà cứ phải mãi chậm chân.

Bài này viết về một cái chậm chân.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Tháng 8-2007, Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Sheraton Hotel Thành Phố Hồ Chí Minh về chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới. Hoàng Hữu Phước là một trong số 2000 người khắp nơi trên thế giới đóng tiền dự thính.

Tháng 8-2007, đột nhiên báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng rằng Philip Kotler cho Việt Nam một lời khuyên về “thương hiệu quốc gia” là “Việt Nam: Bếp Ăn Của Thế Giới”.

Tháng 8-2007, tất cả các báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng đua nhau đề xuất Phở là món ăn “thương hiệu quốc gia”, và với nhiều món ăn khác, Việt Nam hãy trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới.

Tháng 8-2007, một nữ đảng viên chức sắc ở Thành Phố Hồ Chí Minh về báo chí và thương mại (cũng là một “trí thức” xuất thân từ lực lượng sinh viên “nằm vùng” đấu tranh chống Mỹ tại Sài Gòn trước 1975) than rằng Việt Nam đã chậm chân, vì Thái Lan đã đoạt mất danh hiệu Bếp Ăn Của Thế Giới rồi.

Tháng 11-2007 (ngày 5), thấy thiên hạ bị tẩu hỏa nhập ma vì truyền thông chính thống của Đảng, Hoàng Hữu Phước vội vàng không thể không ra tay cứu độ, lập tức đăng đàn trên blog Aspiration HoangHuuPhuoc tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc (đã đóng cửa) viết một bài bằng tiếng Anh khẳng định rằng Philip Kotler đã không hề khuyên Việt Nam hãy lấy “Nhà Bếp Của Thế Giới” làm “thương hiệu quốc gia”, rằng Thái Lan và toàn cầu chả có nước nào có thương hiệu quốc gia là “Nhà Bếp Của Thế Giới”, rằng cái cum từ ” Nhà Bếp Của Thế Giới” là tên một cuộc thi nấu ăn của một khách sạn hạng xoàng ở Bang Kok tổ chức cho du khách trú ngụ tại đó vui chơi, rằng Phở nào có ra chi mà đem lại cái thương hiệu quốc gia ấy cho Việt Nam, rằng có nhiều lý do vì sao không bao giờ có quốc gia nào có cái thương hiệu ấy, và rằng nếu báo chí Việt Nam quá thèm muốn có một thương hiệu quốc gia thì tôi đây xin vấn kế, và rằng, và rằng.

Tháng 8-2008 (ngày 7), thấy báo chí của Đảng vẫn còn tẩu hỏa nhập ma do toàn bộ lực lượng báo chí và trí thức của Đảng mới có 33 tuổi sinh ra ngày 30-4-1975 chưa kịp trưởng thành để học tiếng Anh cho ra ngô ra khoai, tôi dịch bài ấy ra tiếng Việt và đăng tại  http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam (đã đóng cửa) dưới tiêu đề dài dòng Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới. Bài này được báo Tuổi Trẻ đăng lại dưới dạng rút ngắn. Tôi cũng đăng lại riêng phần tiếng Anh tựa đề National Branding: Vietnam, the Campus of the world tại http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world (đã đóng cửa)

Tháng 1-2015 (ngày 14), tôi đăng lại gộp chung cả hai bài viết Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world ngay trên blog WordPress này bằng song ngữ Anh-Việt. Các bạn quan tâm xin mời đọc tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ để biết Hoàng Hữu Phước đã đề xuất kế sách xây dựng nước nhà ra sao để có thương hiệu quốc gia “Ngôi Trường Của Thế Giới” làm giàu cho Việt Nam, làm Việt Nam lừng danh, làm Việt Nam hưởng lợi thế nào về đào tạo, làm các dự án đầu tư đại công nghiệp khỉ gió tàn hại môi trường lung lay chế độ không bao giờ còn được nhắc đến ở Việt Nam.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Chao ôi, lại chậm chân.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước doer từ 2007 thì nay cứ thong thả lấy tiền thu học phí của 2007-2018 xây cho xong mấy cái dự án chống ngập Thành phố, chống thối Đa Phước, chống chậm Suối Tiên; còn nhín ra tiền thu học phí 50.000 tỷ của chỉ một năm 2019 này thôi cũng dư bù cho mấy cái chết tiệt mất sạch mất hút mất tiêu núi tiền đồi vàng ở các ngân hàng nước Việt.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước làm doer thì đất nước của Lạc Long Quân nào cứ chậm chân lạc lỏng xà quẫn xà quần mãi thế kia.

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

Tham khảo:

Người giỏi-Người tài-Nhân tài-Hiền tài: Hiền Tài  22-5-2019

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world – song ngữ Anh-Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2019

Bài viết sau đây được đăng trên trang mạng doanh nhân emotino lúc 4 giờ sáng ngày 08-01-2010 với mã số 18358.

Việc đăng lại hôm nay chỉ để chứng minh nếu một người thực sự là thạc sĩ/tiến sĩ, người ấy dứt khoát không sao dứt được niềm say mê nghiên cứu tài liệu nước ngoài và viết lách vì nghiên cứu và viết lách là đặc điểm của đẳng cấp luôn để sẵn tua mão bên phía trên vai trái của mình. Nếu lãnh đạo cơ quan của bạn là thạc sĩ/tiến sĩ mà hắn ta/ả ta chẳng hề yêu nghiên cứu viết lách hàn lâm để sẻ chia hành trạng tư duy chuyên nghiệp của mình với tập thể, mà chỉ khoái làm con nít cà tửng cà tửng trên Facebook và/hay Instagram hoặc chỉ khoái là đại gia tức đi siêu xe ở siêu hang quen siêu gái khoái siêu bợm hưởng siêu quyền (cho xe xồng xộc vào đón vợ/chồng ngay chân cầu thang máy bay dù vợ/chồng không phải là tổng thống/đệ nhất phu quân/đệ nhất phu nhân), thì bạn có thể chắc chắn một tỷ phần trăm rằng bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ của hắn ta/ả ta có được là do nhờ người thi hộ, nhờ trường không tên tuổi cấp cho miễn có chường mặt mũi đủ số giờ ngồi trong lớp, nhờ được Gà Rừng cung cấp theo giá rao trên mạng, hoặc xem bằng cấp là đồ trang sức để “cho có với người ta”, hoặc thấy mình thấp kém ngỡ có bằng cấp sẽ đương nhiên biến thượng lưu, hoặc nhờ “phe ta” ở ngay trong nội tình phe nhóm tiến sĩ ở Việt Nam chấm đạt rồi cấp bằng theo chỉ đạo của hệ thống chính trị để ngồi vào các chiếc ghế cao quyền lực kinh-tài của chế độ để sau đó tạo điều kiện cho các cơ quan công tố/công an/toà án/trại giam có nhiều việc để làm để trau giồi tay nghề cho hoàn hảo hơn.

Ắt không cần nhắc thêm rằng bài lập lại dưới đây –như rất nhiều bài đăng lại khác – được viết trước khi tác giả Hoàng Hữu Phước có danh-vị-trọn-đời “Nghị Sĩ Khóa XIII” của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-01-2010

I. Dẫn Nhập: Các Ngộ Nhận Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản

Thường thì khi nói về Nhật Bản, nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới, người Việt Nam hay nghĩ đến đất nước hứng chịu hai quả bom nguyên tử đầu tiên và duy nhất – tính đến ngày 08 tháng Giêng năm 2010 – của nhân loại, đến cảnh điêu tàn của Hiroshima và Nagasaki, đến sự đầu hàng của Nhật cùng với sự sụp đổ của Khối Trục Đức-Ý-Nhật của Đệ Nhị Thế Chiến, đến thương hiệu Japan chiếm lĩnh vị trí độc tôn đồng nghĩa với hàng công nghiệp cao chất lượng cao – xóa sổ vĩnh viễn sự kiêu hãnh của Đức và dập tắt ngay cả khát vọng mong manh vươn lên của Hoa Kỳ, và đến vị trí thống lĩnh kinh tế toàn cầu. Tất cả dẫn đến sự cảm phục, thán phục, rồi thần phục, cứ như dân tộc Nhật ấy thật sự là con Trời, không biết rằng còn có nhiều sự thật khác đã không được bàn đến, khiến những sự thật được nêu bấy lâu nay đưa người ta đến với ngộ nhận. Một đất nước chỉ có hai thành phố bị san thành bình địa chứ không phải từ Bắc Chí Nam từ Đông sang Tây, từ đảo lớn đến đảo nhỏ bị san thành bình địa, nên khác rất xa cảnh hoang tàn tang thương ngẫu lục người ta hay tưởng tượng trong cảm thương. Một đất nước đã bạo tàn thu tóm của cải khổng lồ của các quốc gia trải dài từ Đông Bắc Á – kể cả Trung Quốc – đến Đông Nam Á – có cả Việt Nam – đem về chính quốc, thì việc hai thành phố bị bom nguyên tử tàn phá cũng giống như một tên kẻ cướp chở chuyên về quê nhà vô thiên lủng ngọc ngà châu báu, mua sắm đất đai đồng ruộng mênh mông thẳng cánh cò bay, tậu biệt thự và địa ốc cao cấp khắp chốn, thì cái garage chứa hai chiếc Rolls-Royce Phantom và Rolls-Royce Ghost có cháy rụi thành Rolls-Royce Spectre và Rolls-Royce Spook cũng khó làm tên kẻ cướp nghèo đi. Duy chỉ có chuyện đầu hàng Mỹ mới luôn là nỗi nhục nhã của một dân tộc hãnh diện với tinh thần võ sĩ đạo: nhanh chóng đầu hàng Mỹ chỉ vì sợ sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản sau sự phản công vũ bảo của Hồng Quân Liên Xô đánh bật Nhật Bản khỏi Mãn Châu, giải phóng cả khu vực rộng lớn Đông Bắc Á, ắt sẽ cùng Hồng Quân Trung Quốc vượt biển chiếm đóng Phù Tang.

II. Sự Thật Về Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản

A) Đôi Dòng Lịch Sử

1- Nhật và Khối Trục Quốc Xã Đức- Phát Xít Ý- Quân Phiệt Nhật

Trước sự lấn lướt về ý thức hệ cộng sản đang chiếm thế thượng phong và sự lớn mạnh của Liên Xô, Quốc Trưởng Hitler của Đức Quốc đã cùng Thủ Tướng Nhật Bản Hiranuma k‎ý hiệp ước năm 1936 cam đoan bảo vệ nhau nếu Liên Xô tấn công, và Ý cùng tham gia k‎ý kết năm 1937 để dựa oai hùm, tạo thế ba chân vạc với Quốc Xã Đức – Phátxít Ý – Quân Phiệt Nhật. Song, với việc Hitler khôn ngoan k‎ý riêng với Liên Xô vào năm 1939 một hiệp định không gây hấn lẫn nhau, khối Trục chuyển hướng với hiệp định mới vào tháng 9/1940 cùng nhau chống Mỹ. Khi thấy anh-em-ba-chân-vạc Đức chiếm Pháp Quốc lập nên chính phủ Vichy, Nhật Bản thừa cơ hội xua quân “hưởng sái” chiếm đoạt Đông Dương thuộc Pháp (gồm Việt Nam, Lào, và Cam-bốt tức Cambodia)

2- Vì Sao Nhật Xâm Lược Đông Nam Á và Tấn Công Trân Châu Cảng

Năm 1895 sau khi dễ dàng đánh bại Trung Quốc, chiếm cứ Đài Loan, Nhật Bản bắt đầu tấn công Liên Xô dành quyền kiểm soát bán đảo Hàn Quốc và Mãn Châu, chiếm được Nam Mãn Châu và bán đảo Sakhalin, tạo nên tâm l‎ý tự tin bá quyền nước lớn, cho mình có bổn phận bảo vệ các quốc gia Châu Á khỏi chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây. Từ năm 1937, Nhật xâm lược đánh chiếm Bắc Kinh, Thượng Hải, Nam Kinh, và thâu tóm gần hết vùng lãnh thổ Đông Bắc Trung Quốc, đặt 300 triệu dân Trung Quốc ở những nơi chiếm đóng dưới sự cai quản bạo tàn của 600 ngàn quân Nhật. Sự tiến quân xuống phương Nam đến vùng Đông Nam Á chỉ là chuyện của thời gian.

Thấy Nhật đã nuốt gọn Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt kêu gọi thế giới cấm vận nhiên liệu với Nhật Bản, nhằm buộc Nhật rút quân hoàn toàn khỏi Trung Quốc và Đông Dương, khiến Nhật quyết định tấn công các thuộc địa giàu dầu mỏ tại Đông Nam Á của Anh Quốc, Hà Lan, và Hoa Kỳ (như ở Mã Lai, Indonesia, Philippines) đồng thời tung 535 chiến đấu cơ xuất kích từ 6 hàng không mẫu hạm đánh phủ đầu răn đe Mỹ tại căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Habour, đảo O’ahu, Hawaii) ngày 07/12/1941, và Cuộc Hành Quân Mật Danh Z này đã làm Mỹ mất 18 chiến hạm, 188 chiến đấu cơ, 2.402 sĩ quan và binh sĩ hy sinh, và 1.282 quân nhân trọng thương, trong khi số thiệt hại của Nhật ở mức tối thiểu, với 29 phi cơ bị bắn rơi, mất 5 tàu ngầm tiếp tế, 65 binh sĩ thương vong, và một thủy thủ bị bắt làm tù binh. Cuộc tấn công này đẩy nước Mỹ trực tiếp tham dự vào Đệ Nhị Thế Chiến.

3- Kế Hoạch Marshall: Mỹ và Châu Âu

Kế hoạch Marshall được đặt theo tên của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall, là kế hoạch tái thiết Châu Âu trong thời gian 1948-1952 với gói viện trợ 13 tỷ USD mà Hoa Kỳ dành cho Áo, Bỉ, Luxemburg, Đan Mạch, Pháp, Tây Đức, Hy Lạp, Iceland, Ái Nhĩ Lan, Ý, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm triệt tiêu mầm mống trỗi dậy đầy hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản tại các nước này sau Đệ Nhị Thế Chiến. Và hàng hóa của Hoa Kỳ, quốc gia chẳng những chẳng có tổn hại đáng kể nào trong Thế Chiến mà còn hưởng lợi từ sự điềm nhiên tọa thị của bạng duật tương trì để trở thành nhà cung ứng hàng tiêu dùng và nguyên liệu hàng đầu thế giới, được bán cho các quốc gia nhận viện trợ từ Kế Hoạch Marshall.

4- So Sánh Một Kế Hoạch Marshall Nhỏ: Mỹ và Nhật Bản với Douglas MacArthur

Đại tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương bắt đầu tổng tấn công Nhật giải phóng lần lượt các đảo New Guinea, New Britain, Solomons, Admiralty Islands, và Philippines, trước khi bệ vệ chứng kiến Nhật k‎ý văn kiện đầu hàng trên chiến hạm Missouri ngày 02-9-1945, và đổ quân chiếm đóng Nhật Bản, thực hiện các chương trình cải cách nhằm biến Nhật thành một quốc gia theo thể chế dân chủ. Thế nhưng cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn với sự tham dự chủ lực của MacArthur từ năm 1950 đã tạo cơ hội cho Nhật Bản trở thành hậu phương cung cấp hàng hóa và nguyên liệu chủ lực cho Liên Hợp Quốc và bốn năm của cuộc chiến đã đem lại cho Nhật Bản một nguồn thu khổng lồ mà không bất kỳ quốc gia Tây Âu nào hưởng được tương tự từ Kế Hoạch Marshall. Ngoài ra, cuộc chiến Nam-Bắc Hàn cũng làm Hoa Kỳ nhận ra một tiềm tàng nguy hiểm của sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nên gia tăng đầu tư vào Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Hàn Quốc, đồng thời khôn ngoan cách chức MacArthur khi vị tướng này chưa đánh thắng Bắc Triều Tiên đã vội tuyên bố tấn công Trung Hoa lục địa để tiêu diệt Trung Cộng.

5- Cùng Một Giuộc

Học giả Noam Chomsky, người mà các sinh viên Ban Anh Văn ở Việt Nam đều học biết các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học của Ông – nhưng ít ai biết Ông đã đến được Hà Nội trong thời gian chiến tranh Chống Mỹ của Việt Nam ở cao trào khốc liệt, để nói lên tiếng nói nhà trí thức Mỹ ủng hộ nước Việt Nam của Tổng Thống Hồ Chí Minh, đã mĩa mai rằng số tiền Hoa Kỳ viện trợ cho Pháp và Hà Lan đã được hai nước này dùng cho đại cuộc tái xâm lược Đông Nam Á, mà điển hình là Hà Lan tái chiếm Indonesia, cùng với quân Anh nhảy dù chiếm thủ đô Jakarta và quân Úc đổ bộ giải giới quân Nhật, dù Indonesia đã tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 sau khi quân Nhật đầu hàng đồng minh. Những trận chiến đẫm máu kéo dài cho đến khi quân Hà Lan k‎ý văn kiện công nhận nền độc lập của Indonesia ngày 02-11-1949, chấm dứt sự hiện diện của các đoàn quân ngoại bang vừa thoát thảm họa Đức Quốc Xã, vừa nhận tiền của Mỹ đã ngay lập tức xua quân trở lại nhằm áp đặt nền đô hộ lên toàn Đông Nam Á, thậm chí một quốc gia loại cò con theo đóm ăn tàn như Hà Lan cũng gây nợ máu với nhân dân Indonesia, chứng tỏ dù những quốc gia Tây Âu này là nạn nhân của chủ nghĩa Quốc Xã Đức hay Phát-xít Ý, vẫn không có một ranh giới định hình rõ nét giữa họ với những kẻ tội đồ gây ra Thế Chiến Thứ II, có chăng chỉ là vị trí bọn cướp thắng với bọn cướp thua.

B) Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản – Những Gì Việt Nam Không Có, Muốn Có, và Không Muốn Có

1- Tài Chính và Cơ Hội Từ Kẻ Thù

Người dân Nhật không thể nào quên mối thâm thù khi phải đầu hàng Hoa Kỳ và để quân Mỹ đổ bộ chiếm đóng xứ sở Mặt Trời Mọc. Nhưng không thể phủ nhận chính sự chiếm đóng của Hoa Kỳ và việc MacArthur xóa sổ quân đội Thiên Hoàng đã giúp đất nước Mặt Trời Mọc tiết kiệm được ngân sách khổng lồ lẽ ra phải chi ra cho quân đội và chiến tranh, khiến tổng sản lượng quốc gia GNP của Nhật tăng đến 73% (trong khi Tây Đức tăng 28,5%, Pháp 18,7%, Anh 12,7%  và Mỹ 8%) và Nhật hàng năm chỉ sử dụng 1% của GNP cho chi phí của Cục Phòng Vệ. Ngoài ra, dù bảo hộ mậu dịch cao, Hoa Kỳ vẫn mở rộng cửa thị trường cho Nhật, giúp Nhật trở thành đối tác lớn với các ưu đãi thuế quan, được mua nhiên liệu và nguyên liệu với giá thấp để phát triển công nghiệp Nhật Bản. Thêm vào đó những số tiền khổng lồ Mỹ trả trước để đặt hàng phục vụ cuộc chiến ở Hàn Quốc chiếm đến 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, khiến tài lực của quốc gia này được ưu ái gia tăng mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính nhờ có cơ hội này từ kẻ thù, Nhật Bản có được đà cất cánh bay cao về kinh tế trong những năm sau đó.

2- Quyết Tâm Của Chính Phủ

Chính phủ Nhật đã có quyết tâm cung cấp tài chính cho nền kinh tế và những sự hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp, hình thành một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, trên cơ sở xuất khẩu tối đa hàng hóa sản xuất được, và ngoại tệ nhận về tập trung cho mua sắm công nghệ, đầu tư quản trị, nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng để gia tăng phát triển kỹ nghệ, trong hoàn cảnh đất nước không có nhiều nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp và thậm chí không có trữ lượng dầu mõ nào (trừ vài phát hiện có mức độ nhỏ sau này). Các ngân hàng tư nhân và nhà nước sử dụng tiền tiết kiệm cá nhân của dân để cho các doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi. Để đầu tư vào kỹ nghệ. Việc tập trung phát triển doanh nghiệp tư nhân và hình thành các tập đoàn độc quyền zaibatsukeiretsu nhằm hạn chế cạnh tranh và gia tăng thế mạnh trên thị trường quốc tế là một số đóng góp mang tính nhà nước trong việc đem lại cho Nhật Bản cơ sở có được sức mạnh kinh tế thần kỳ.

3- Quyết Tâm Của Người Dân

Đáp lại lời kêu gọi của Chính Phủ hy sinh tất cả để đất nước chiếm lĩnh vị trí kinh tế cao trên thế giới, người dân Nhật đã chấp nhận mua hàng tiêu dùng sản xuất trong nước với giá cao cắt cổ, trong ‎ý thức chính họ mới là giống dân cao qu‎ý nhất trong giống da vàng và thậm chí cao hơn cả dân da trắng, không đoái hoài đến hàng hóa rẻ mạt của nước ngoài. Sự cam chịu khủng khiếp này của thời hậu chiến đã hình thành nơi người Nhật đức tính trầm tĩnh, không nói về những lo lắng, căng thẳng, tức giận, hay về xung khắc tôn giáo, khi toàn dân là một, đồng lòng mua hàng nội hóa với giá cao để các công ty Nhật có thu nhập cao đủ bù đắp cho họ yên tâm bán hạ giá sản phẩm của mình trên thị trường hải ngoại, từ đó chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ngoài ra, người lao động Nhật chấp nhận lương thấp, đổi lại được hưởng cơ chế làm việc trọn đời, được huấn luyện nghề nghiệp, về sau góp phần quan trọng vào sự cất cánh về kinh tế của nước Nhật thời hậu chiến. Ngoài ra, rất đông dân chúng Nhật chấp nhận làm bán thời gian tại vô số các xí nghiệp nhỏ, không có an sinh xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào khác, nhận lương bèo, tạo điều kiện cho các công ty lớn như Toyota và Sony sử dụng dịch vụ của các xí nghiệp nhỏ này với chi phí rẻ mạt, giúp chính Toyota và Sony và các công ty lớn thu lợi nhuận nhiều hơn và nhanh hơn, hình thành tư bản.

4- Giai Thoại Samurai

Samurai là những quân nhân kỵ binh dũng cảm, quên thân, phục vụ hết lòng chủ soái của mình, đích thị là những người xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đa số các samurai do chiến công hoặc đơn giản vì sự phục tùng của họ có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại của các sứ quân nên trở thành những nhà qu‎ý tộc. Ở đây, tinh thần samurai được cho là hòa quyện vào ý chí của người Nhật trước các biến động: hết lòng phò tá quân vương phục vụ chiến tranh, và lúc chiến bại thì hết lòng phục vụ nước nhà cho một danh dự đoạt lại hay một danh dự mới khác. Đối với Đệ Nhị Thế Chiến thì việc bị giải giáp và bị cấm có quân đội riêng đã đưa người Nhật từ cuộc chiến chiếm đoạt lãnh thổ sang cuộc chiến chiếm lĩnh thị trường bằng hy sinh mọi giá.

5- Giai Thoại Ninja

Trong chiến tranh chống Mỹ, người ta thường nghe nói nhiều đến những chiến sĩ đặc công (thời trước gọi là “đặc công Việt Cộng”), những siêu nhân xuất quỷ nhập thần, đến độ cảnh sát Sàigòn khi điều tra hiện trường phát hiện mảnh lựu đạn loại tự sát (loại rút chốt là nổ ngay, không phải loại tấn công có thể ném trong năm giây) là gấp sổ lại ngay và kết luận do đặc công Việt Cộng gây ra vì chỉ có đặc công Việt Cộng mới có khả năng dùng lựu đạn tự sát để sát thương kẻ thù rồi…phi thân tẩu thoát toàn vẹn. Ninja là những tay đặc công mặc trang phục toàn nâu sậm, chuyên lợi dụng đêm tối để ngụy trang đột nhập, do thám, dùng kiếm và phi tiêu để ám sát theo lịnh của chủ nhân. Và dù không thuộc đẳng cấp qu‎ý tộc samurai, các ninja nhất nhất thực hiện mệnh lệnh và bắt chước các samurai tự sát khi kế hoạch bất thành để bảo vệ bí mật về chủ nhân. Tuy không là quân nhân và chỉ là các sát thủ, không đáng để ngợi ca, song do dân Nhật có cái hay là không bao giờ dè bỉu chê bai đồ bản xứ và ra sức đánh bóng thương hiệu để thống trị thế giới nên cái tinh thần ninja cũng được truyền bá như một điểm cao qu‎ý của đức tính phụng sự và hy sinh cá nhân cho nghĩa lớn.

6- Giai Thoại Du Học Sinh

Đã có nhiều truyện truyền khẩu mang tính giai thoại về những du học sinh Nhật tại Hoa Kỳ thời hậu chiến, chẳng hạn có quá nhiều ca tử vong kiểu hara-kiri (mổ bụng tự sát) trong giới du học sinh Nhật trong thời gian dài, để rồi về sau giới chức Chính phủ Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ, theo dõi, kiểm tra, mới biết các xác chết hồi hương về Nhật Bản có chứa các tài liệu khoa học, kỹ thuật cao, tình báo kinh tế dấu trong các bọc nylon bên trong ổ bụng của kẻ tự sát đã được khâu lại. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đã hình thành những phi đội Thần Phong Kamikaze (gồm những phi công cảm tử chỉ cần được huấn luyện lái máy bay rồi xuất kích với lượng nhiên liệu đủ tiếp cận mục tiêu mà không cần học kỹ thuật hạ cánh) lao chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero mang đầy bom vào ngay tử huyệt (giữa tháp điều khiển và ống khói các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ) đủ để đánh gảy xương sống chiến hạm nhấn chìm nó xuống biển sâu. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đi du học để lấy thân mình chuyển tài liệu về cho các nhà khoa học nghiên cứu, hầu có kết quả nhanh hơn là chờ đến khi họ tốt nghiệp sau những năm dài du học đầy tốn kém cho quê nhà. Đối với các kamikaze có thật và các du học sinh là giai thoại do không bên nào xướng nhận sự thật của các vụ mổ bụng tự sát, người ta có thể thấy toát lên từ cái cực đoan của tinh thần samuraininja chỉ biết có chủ nhân – sau này chủ nhân có nghĩa là đất nước Nhật Bản – là sự tự hào dân tộc, xem thường dân da trắng phương Tây, và chủ tâm lấy cái cực hay của Tây để thống trị Tây, chứ không bao giờ lấy cái tàm tạm của Tây để rồi hoặc bỏ quê hương hoặc trở về chê bai thóa mạ quê hương, đòi thay đổi thể chế và lật đổ chính quyền đang lèo lái quê hương qua cơn quốc nạn. 

III. Kết Luận: Chân Giá Trị Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Như vậy, nếu Nhật Bản có 7 điều kiện cực kỳ đủ để cất cánh phô trương sức mạnh kinh tế thần kỳ như:

a- có sẵn kho tàng cướp được từ các quốc gia bị chiếm đóng vùng Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương, trong đó có Việt Nam;

b- được kẻ thù không đội trời chung cung cấp tài lực để trở thành tiền đồn ngăn cản sự bành trướng của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, bảo vệ sự an nguy cho đất nước Hoa Kỳ về mặt Thái Bình Dương;

c- được kẻ thù không đội chung trời cung cấp cơ hội sản xuất và xuất khẩu làm giàu trên xương máu dân nước khác trong cuộc chiến Nam-Bắc Hàn;

d- chính phủ không cần chăm lo cho đời sống nhân dân và chỉ phải tập trung xây dựng tập đoàn kinh tế;

e- nhân dân cam chịu sống trong cảnh củi quế gạo châu, không dám mở miệng chống đối;

f- tinh thần SamuraiNinja chỉ biết cúc cung tận tụy thực hiện mệnh lệnh cấp trên; và

g- giới trẻ du học để nắm kiến thức khoa học kỹ thuật về phục vụ phát triển kinh tế đất nước chứ không bao giờ muốn lật đổ chế độ quân chủ ở quê nhà hay “phản biện” cung cách chính phủ đang điều hành kinh tế đất nước;

thì Việt Nam mới thực sự có được sức mạnh siêu thần kỳ vì trong điều kiện

a- không có bất kỳ kho tàng nào cướp được của lân bang để làm vốn đầu tay “tự có”;

b- bị kẻ thù cô lập chính trị, cấm vận kinh tế, bôi nhọ thanh danh Việt Nam từ đất nước duy nhất trên hành tinh cứu nguy dân tộc Campuchia thoát nạn diệt chủng kinh khủng điên rồ trở thành kẻ xâm lược quốc gia của Khờ-Me Đỏ;

c- không còn nhận được sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa, đã vậy còn bị siêu cường Trung Quốc gây hấn, tấn công quân sự;

d- chính phủ thực hiện lời dạy của thánh nhân trong trị quốc: minh quân thương dân như con đỏ, chăm lo đến từng miếng ăn cái mặc cho toàn dân trong khi hoàn cảnh kinh tế đất nước ngặt nghèo, bảo đảm thiếu hụt lúa gạo có ngay bo bo, lấy bao cấp làm quốc sách chứ quyết không để nhân dân phải chịu đựng như dân Nhật Bản mua củi đắt hơn quế nấu gạo đắt hơn châu, và trong nhiều chục năm trời không dám đưa giá điện và nước lên đúng giá thành sản xuất, chỉ để sao cho nhân dân được sống ít khó khăn hơn trong thời gian dài hơn một phần ba thế kỷ;

e- người Việt thích đôi co, tranh luận mọi việc, khiến ngay cả việc đơn giản có văn hóa cực cao như đội mũ bảo hiểm cũng nhao nhao “phản biện” thay vì răm rắp thực hiện quy định của nước nhà; và

f- không ít người trong giới trẻ du học kiểu bá đạo, chưa thành nhân đã tự xưng nhân tài, chưa đóng một xu thuế đã lo thu nhập bị hao hụt, không học kỹ thuật dính dầu mỡ sản xuất nhọc nhằn mà chọn quản trị kinh doanh và luật sang trọng để dùng mớ kiến thức sách vở nào cũng có để phỉ báng chính phủ không biết tăng gia sản xuất làm kinh tế, vi phạm nhân quyền và dân quyền, đòi áp dụng luật ngoại lai, quăng ném bã dân chủ-tự do-đa đảng-đa nguyên thiu ôi cũ rích mà không một công dân trí thức trẻ nào tại các nước tiên tiến xem trọng, và đòi thay đổi cả thể chế chính trị nước nhà, mong làm Tổng Thống ngồi trên đầu thiên hạ;

Việt Nam vẫn tồn tại được suốt 35 năm qua, đánh bại quân đội siêu cường Trung Quốc, cưu mang cứu mạng dân tộc Campuchia, tiêu diệt Khờ-Me Đỏ, chặn bắt toàn bộ các toán Kinh Kha của bọn Việt Kiều Mỹ-Thái-Úc đột nhập toan sát hại lương dân, kiên trì giáo dục người dân, xây dựng kinh tế ổn định phát triển, tạo uy thế chính trị cao vời, uy tín quốc tế gia tăng mà đất nước mang tên Việt Nam chưa bao giờ có được trước đó, mới thấy sức mạnh kinh tế của Việt Nam thực sự trên cả thần kỳ.

Tóm lại, mỗi khi ai đó trong cộng đồng người Việt chúng ta trầm trồ về sự thần kỳ hay kỳ tích kinh tế của một quốc gia nào khác, nên biết rằng người dân nước đó phải đồng cam cộng khổ hy sinh nhiều đến dường nào cho đất nước họ phồn vinh, rằng người dân nước Việt có đã và đang thắt lưng buộc bụng tự nguyện gánh chịu tất cả vì sự sinh tồn nòi giống và danh dự quốc gia, và có đã và đang hiểu biết chính phủ của mình đã và đang thực hiện có hiệu quả những kế sách kinh tế chưa từng được nêu lên tại các học viện hàn lâm trên thế giới, với cung cách, tư cách, và uy thế của những nhà giáo cấp thấp, chân quê, từng đánh thắng các tướng lĩnh thế gia vọng tộc ngôi sao sáng chói của các học viện quân sự Hoa Kỳ, xây dựng kinh tế Việt Nam phát triển mà chưa một tiến sĩ hàn lâm nước ngoài nào có thể làm điều tương tự tại Việt Nam Cộng Hòa.

Có như vậy mới đúng là người tôn trọng sự thật, yêu lẽ công bằng, và mới biết Đảng đã thương dân như con đỏ quá sức và quá mức như thế nào,

để nhận ra rằng chính Bụt chùa nhà mới thực sự thiêng liêng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

*PhantomGhost đều có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt được hãng Rolls-Royce dùng đặt tên cho hai model xe ô-tô đắt tiền của họ (dường như đã có hai chiếc Rolls-Royce Phantom ở Việt Nam). Đây là kiểu đặt tên nghèo nàn thường gặp ở các nhà sản xuất Âu Châu vốn rất kiêng kỵ với văn hóa trí hóa cao ở Việt Nam, và tôi nương theo đó mà dùng hai từ SpectreSpook cũng có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt để nhạo bọn Rolls-Royce, chứ trên thị trường thế giới chỉ mới có thêm phiên bản Rolls-Royce Phantom Coupé chứ chưa có xe Rolls-Royce SpectreRolls-Royce Spook.

Bài viết về Nhật Bản sau khi trở thành Nghị Sĩ Khóa XIII:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Tham khảo liên kết có nhắc đến trong bài:

Hướng Dẫn Của Hoàng Hữu Phước Về Đội Mão 15-5-2019

Bằng Giả – Đại Học Gà Rừng  28-9-2010

Mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern Và Lời Khuyên Cho Đảng Cộng Sản Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

08-5-2019

                         Mục Lục

A– Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

B– Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

C– Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

D– Năm Điều Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

E– Năm Lòi Khuyên Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

A- 3 Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

1) Thế giới Âu Mỹ mụ mẫm không có gì để làm nên đã xúm lại ngợi ca mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern. Đó chính là vấn đề. Và vấn đề là đang có một công thức hành xử kiểu hai-trong-một được thiết lập cố định cho giới lãnh đạo Phương Tây rằng (a) hãy chống Tổng Thống Các Tiểu Quốc Thống Nhất À-Mế-Rì-Ka – cái quốc gia mà những kẻ mông muội thủa chưa học rành Tiếng Việt và chẳng đủ trình độ dịch thuật tiếng Pháp tiếng Anh tiếng Bồ nhưng học đòi làm trí thức đã đặt tên là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà thời Việt Nam Cộng Hòa đám “trí thức” cải lẫy chí chóe rằng lẽ ra đã phải là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ mới đúng –  Donald J. Trump vì đó là đấng dám có luận điệu tương tự ý kiên định của Hoàng Hữu Phước rằng EU hèn hạ sống ký sinh vào Hoa Kỳ, và (b) hãy ve vản dân nhập cư Hồi Giáo để vừa che đậy quá khứ nhớp nhúa của tiền nhân EU bao phen xua quân “Thánh Chiến” đánh phá/cướp bóc/hãm hiếp/miệt thị/tàn sát/bắt nô lệ người dân các nước Hồi Giáo xa xưa, vừa lạy mong các chiến binh Hồi Giáo Cực Đoan hùng mạnh hiện nay bớt thực hiện những đại cuộc khủng bố báo oán kinh hoàng trên toàn cõi trời nước Chúa.

2) Hình ảnh của mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern ôm chầm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi được chiếu lên tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa (829 mét) ở Dubai thuộc UAE (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) được báo chí toàn thế giới tải đăng. Đó chính là vấn đề.

Và vấn đề ở đây là (a) sự mất tư cách mất tư thế của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất khi hóa ra điều cực đoan mà một đất nước Hồi Giáo hùng mạnh như UAE thèm thuồng đến nỗi dễ dàng tôn vinh ngay Jacinda Ardern là khi có bức ảnh mụ ta đội khăn Hồi Giáo ôm chầm một nữ công dân New Zealand đạo Hồi cùng những tuyên bố đầy cảm xúc dành cho dân Hồi Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Thiên Chúa Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Hồi Giáo, (b) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Vatican và lãnh đạo các nước Âu Mỹ qua việc không bất kỳ ai trong số bọn chúng đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước họ theo Thiên Chúa Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Thiên Chúa Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố do những tên Hồi Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Thiên Chúa Giáo hoặc do hậu quả của các cuộc choảng nhau giữa hai bọn Công Giáo Cực ĐoanTin Lành Cực Đoan ở Châu Ân dù đã có Bức Tường ngăn cách mà Hoàng Hữu Phước đã từng nêu lên trong bài Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới, (c) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Liên Hợp Quốc và lãnh đạo các quốc gia đang ngợi ca “toàn cầu hóa” qua việc không bất kỳ ai trong số bọn họ đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước Myanmar theo Phật Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Phật Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Hồi Giáo Cực Đoan Myanmar gây ra chống các tín đồ Phật  Giáo Myanmar, và (d) hầu như do đã không nghe lời Hoàng Hữu Phước của Việt Nam hai thập kỷ trước đã thống thiết kêu gọi đừng động đến Saddam Hussein và Muammar al-Qaddafi là hai vị chúa tể duy nhất của toàn nhân loại có tài dìm đầu khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan mà toàn thể giới chính trị gia Âu Mỹ ngày nay phải run sợ khiếp sợ kinh sợ khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan đến độ phải làm đủ mọi trò hề kêu gọi sự thương yêu và chỉ dám tập trung lên án những tên da trắng thượng đẳng kỳ thị chủng tộc/giới tính/màu da chứ không dám gọi tên “Thiên Chúa Giáo Cực Đoan” khiến khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan thêm tức giận như bị châm thêm dầu vào lửa và khiến khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan càng lộng hành như được khuyến khích động viên làm toàn thế giới bất ổn bất an bất…thành văn (tức…cạn lời).   

3) Tên tuổi của mụ Jacinda Ardern được đề xuất cho giải Nobel Hòa Bình. Đó cũng chính là vấn đề. Và vấn đề là Giải Nobel Hòa Bình là một giải dù cho đến nay đã trao 99 lần cho 106 cá nhân và 27 tổ chức vẫn mang một công thức hai-trong-một mặc định gồm (a) tổ chức thắng giải phải là tổ chức của Liên Hợp Quốc hoặc tổ chức do Mỹ tài trợ chính; và (b) cá nhân đoạt giải phải có “tư cách cao trọng” rằng phải  chống lại thể chế chính trị của quốc gia mà cá nhân ấy là công dân đang ngụ cư và phải đạt hiệu quả ở chỗ vi phạm luật pháp quốc gia để bị bỏ tù, hoặc phải thành công đi hay chạy hay bơi hay bay ra khỏi nước ây để tiếp tục “sự nghiệp chửi”; hoặc cá nhân đoạt giải phải có giá trị “thí cô hồn” cho một đại sự dành riêng cho cường quốc đang chống lại thể chế chính trị của quốc gia của kẻ bị “thí cô hồn” ấy – thí dụ như bọn giám khảo Giải Nobel Hòa Bình 1973 buộc phải “thí” ½ giải cho Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để danh chính ngôn thuận “ban” ½ giải tôn vinh Henry Kissinger của Mỹ qua đó gián tiếp khẳng định Mỹ không xâm lược tàn phá Miền Bắc cũng không thuộc địa hóa biến Miền Nam thành tay sai Mỹ, mà đến Việt Nam với chính nghĩa đầy tự hào dựng xây nền “hòa bình” lâu dài cho một Việt Nam mà nội bộ “hai chính phủ” của “hai nước” cứ hục hặc mãi gây nên “nội chiến” kinh hoàng khiến nhân dân Việt Nam của “hai nước” cứ mãi thống khổ điêu linh còn nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới mà Mỹ là đại diện cứ mãi đau lòng xót xa rơi lệ ngày quên ngủ đêm quên ăn đến độ bộ đồ lòng không có gì cho cơ quan tiêu hóa làm việc để khỏi bị bít bón. Cái tên Jacinda Ardern xuất hiện như một cứu tinh cho ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 trong nổ lực cứu nguy cho EU bằng cách chứng tỏ với thế giới Hồi Giáo rằng đã luôn có sự quan tâm đến và đánh giá cao các hành động ve vuốt thương yêu tín đồ Hồi Giáo ở nội bộ ủy ban này của Tây Âu.

B- Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

Ngày Thứ Sáu 15-3-2019, một tên sát thủ da trắng 28 tuổi tên Brenton Tarrant từ Úc sang đã tìm đến xả súng vào các tín đồ Hồi Giáo đang cầu nguyện tại hai nhà thờ Hồi Giáo ở Christchurch thuộc Đảo Nam của New Zealand, giết chết 51 người và làm trọng thương 50 người khác. Hắn có quay phim cuộc tấn công và phát trực tiếp trên Facebook. Nạn nhân trẻ tuổi nhất là các cháu bé mới chập chững biết đi.

Nhà nghiên cứu chính trị thế giới Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thấy cần nhắc lại những điểm sau mà rất ít người Việt Nam bất kể là công dân Việt Nam gốc, công dân Việt Nam mới nhập tịch chủ động hay thụ động, người có gốc gác Việt Nam dù muốn hay không muốn, công dân Việt Nam mất gốc hoặc mục gốc, đang ở Việt Nam hay đang ở nơi nào khác trên thế giới từng biết đến hay nghe về:

1) Úc (Australia) không bao giờ hết tự ti mặc cảm đối với Tân-Tây-Lan (New Zealand) vì giữa hai quốc gia thì New Zealand nhỏ bé lại có danh tiếng toàn cầu là

a– dân tộc thông minh hơn;

b– dân tộc đôn hậu hòa hiếu thân thiện văn minh văn hóa cao hơn;

c– dân tộc biết “phải quấy” hơn với người bản địa Maori: luôn ngợi ca, tôn trọng, phát triển tối đa và tự hào về văn hóa bản địa và truyền thống tập tục của “thổ dân” Maori, nên trở thành quốc gia “văn minh” nhất thế giới trong hệ thống siêu cường vốn luôn đàn áp, miệt thị, tàn diệt, bần cùng hóa“thổ dân”;

d– quốc gia phát triển mạnh trong hòa bình, an ninh trật tự, với người dân an cư, lạc nghiệp, và nền giáo dục nhân văn thượng hạng;

e– quốc gia phát triển kinh tế vượt bậc với các thứ hạng được xếp cực cao về hạnh phúc, môi trường thiên nhiên, môi trường kinh doanh, môi trường giáo dục, v.v. dù diện tích cực nhỏ so với diện tích khổng lồ của Úc; và do đó là

f– quốc gia thu hút được cảm tình của khách du lịch Âu Tây và toàn thế giới.

2) Từ những mặc cảm tự ti trên đã hình thành nơi Úc sự ganh tức nhỏ mọn dẫn đến các hành vi hèn hạ chơi bẩn, chẳng hạn như:

a– buộc du khách phải nộp đơn xin visa và mõi mòn chờ đợi đóng phí visa dù chỉ ghé quá cảnh ở Úc trên đường sang New Zealand khiến rất nhiều du khách Âu Tây buộc phải bỏ tuyến New Zealand do căm ghét kiểu “tận thu” của Úc vốn không giống bất cứ nước văn minh nào khác trên thế giới đối với hành khách “quá cảnh” (miễn thị thực visa nhập cảnh cho diện “quá cảnh” vì hành khách “quá cảnh” chỉ lởn vởn bên trong phi trường chờ chuyến bay chuyển tiếp connecting flight chứ không “nhập cảnh”);

b– trong gần một thập niên qua, Chính phủ Úc đã ngu xuẩn trong quốc phòng khi cho Trung Quốc “thuê” cảng Darwin – mà nhà nghiên cứu địa chính trị Hoàng Hữu Phước đã khuyến cáo từ rất rất lâu 20 năm trước vào năm 1999 ngay cả trước khi cái tên Darwin được nhắc đến trên báo chí Việt Nam và thế giới rằng hãy quan ngại vì  Trung Quốc ắt đang ngắm nghía Darwin do Trung Quốc sở dĩ gây hấn với Việt Nam và chiếm Biển Đông chỉ để nhắm đến lục địa Úc Châu mà Darwin “khỉ ho cò gáy” sẽ là bàn đạp từ sự ngu xuẩn của Úc không chịu nhận ra giá trị của Darwin– và đã ngu xuẩn vừa theo đuôi Mỹ hò hét lung tung chống các nước Hồi Giáo vừa chẳng lo quốc sự trong an ninh khi cho dân nhập cư Hồi Giáo vào ra thoải mái nên dẫn đến tình trạng khủng bố thảm sát xảy ra thường xuyên ở Úc, khiến Úc càng “mất giá” và “mất phẩm giá” so với New Zealand; và hệ quả là

c– từ các thói “chơi bẩn’ của chính phủ Úc đã hình thành nơi những công dân Úc Thiên Chúa Giáo Khủng Bố Cực Đoan tư tưởng cuồng nộ muốn “chơi bẩn” làm mất danh tiếng New Zealand nên thay vì gây thảm sát ở các nhà thờ Hồi Giáo nhan nhãn tại Úc, đã bay sang New Zealand bắn giết các nhà thờ Hồi Giáo tại đó nhằm tạo nên thế “cá mè một lứa” rằng New Zealand cũng đâu có an ninh gì.

C- Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

Trước thực tế một Nhà Nước Úc luôn hèn hạ, “chơi bẩn” công khai với New Zealand, đã sản sinh ra những tên khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan vô duyên vô cớ hèn hạ lặn lội sang nước láng giềng New Zealand sát hại công dân Hồi Giáo New Zealand, Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern đã thay vì cực lực chống lại nước Úc rộng mênh mông, siết chặc các biện pháp an ninh đối với những tên “láng giềng” bịnh hoạn Úc, lại vội vã đội khăn nữ Hồi Giáo ôm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi để được “lên hình”, tuyên bố những câu mà nhà chính trị Hoàng Hữu Phước cho là hoàn toàn vô nghĩa điên khùng hạ đẳng như;

1) “Điều tôi nghe được từ cộng đồng Hồi Giáo là chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu.” – Jacinda Ardern

Hóa ra, cũng như ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 và lãnh đạo các nước Âu Mỹ, Jacinda Ardern mong đợi một vụ khủng bố xảy ra trên nước mình với số thương vong của dân mình càng cao càng tốt để có cơ hội đến thăm cộng đồng Hồi Giáo nạn nhân nhằm “lắng nghe” và qua đó “thấu hiểu” xem cái cộng đồng ấy muốn gì. Nhà chính trị cộng sản dân tộc thiên Khổng Hoàng Hữu Phước cho rằng lãnh đạo quốc gia mà không ở tầm thế có tâm thế và trí thế “biết lo trước cái lo của người dân” thì chỉ là kẻ cơ hội mà giới “đối lập” ở Việt Nam Cộng Hòa đã đặt một cái tên cực kỳ chính xác mỹ miều về ngôn ngữ là “chính khách xôi thịt” mà thôi. Nghĩa là chỉ sau khi cuộc thảm sát xảy ra, Jacinda Ardern mới biết cộng đồng dân New Zealand theo Hồi Giáo chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu, nghĩa là vẫn không hề dám nói rằng “nó” vừa “đến” từ Úc. New Zealand đã suy vi từ khi Chiếc Chìa Khóa từ bỏ chính trường lui về vui thú điền viên không còn lãnh đạo quốc gia!

2) “Tôi không thể kể cho các bạn rõ sự việc thất bại đắng cay đến dường nào khi biết rằng một gia đình tìm đến đây vì sự an toàn và nơi ẩn náu thì lẽ ra họ đã nên được ở an toàn tại đây.” – Jacinda Ardern

Hóa ra Jacinda Ardern công khai cho rằng sự thất bại đắng cay đó là do “chúng ta” đã không bảo vệ được những con người đáng thương ấy có cuộc sống “an toàn” tại New Zealand. Đã từng có một con người nào – ngoài Hoàng Hữu Phước của Việt Nam – kêu gọi Jacinda Ardern hãy từ chức vì (a) chính Jacinda Ardern và chính phủ do Jacinda Ardern thành lập đã thất bại đắng cay không bảo vệ được những công dân New Zealand có cuộc sống an toàn tại New Zealand chứ không phải nhân dân New Zealand thất bại cay đắng, vì (b) Jacinda Ardern qua phát biểu của mụ ta đã biến những công dân New Zealand theo Hồi Giáo dù xuất thân từ tình trạng dân nhập cư thành những ai đó của một cộng đồng xa lạ tìm đến New Zealand để tìm nơi tá túc, nghĩa là (c) Jacinda Ardern xem các công dân “hạng hai” hay “hạng bét” đó là chủng loại mà chính phủ của mụ phải cưu mang nên chỉ có thể một cách giới hạn dành cho họ sự thương cảm mà thôi chứ không có trách nhiệm gì đối với vụ thảm sát đó cả.

3) Để tung hỏa mù sáng rực mù mịt hơn sự việc Sân Hàng Đẫy, Jacinda Ardern đã tung ra ba quả đại pháo gây điếc tai mù mắt nhân dân New Zealand gồm:

a– Khoe khoang rằng khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump gọi điện chia buồn, hỏi có thể giúp gì cho New Zealand sau khi xảy ra vụ thảm sát ở Christchurch, mụ ta đã cho ra thông điệp rằng ông ấy hãy dành sự thông cảm và tình yêu cho tất cả các cộng đồng Hồi Giáo. Với điều này mụ ta mong có thể lái người dân New Zealand từ vị trí buồn đau kinh hoàng trước cuộc thảm sát sẽ chuyển sang vị trí “hã dạ” trước việc nữ thủ tướng của mình cực kỳ can đảm dám vuốt râu hùm, dạy cho Donald Trump vĩ đại bài học vỡ lòng về tình yêu thương.

b– Công kích bình luận của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan khi ông này không những chỉ trích vai trò của Anzacs (quân đoàn phối hợp của 20.000 lính Úc và 8.500 quân New Zealand đã cùng các cánh quân Anh và Pháp đỗ bộ lên Gallipoli) trong chiến dịch Gallipoli (thời Đệ Nhất Thế Chiến, khi quân Anh cùng “đồng minh” Khối Anh đổ bộ lên bán đảo Gallipoli thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, với hậu quả nặng nề cướp đi sinh mạng của gần 220.000 binh sĩ “Anh” chỉ trong một năm từ 1915 đến 1916) mà còn lớn tiếng cảnh cáo bất kỳ “ai” có tư tưởng chống Hồi Giáo dám đến Thổ Nhĩ Kỳ. Người có sức khỏe tâm thần bình thường đều thấy các tuyên bố của Tayyip Erdogan hoàn toàn ái quốc và bình thường. Ấy vậy mà mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern cho rằng “Erdogan đã đưa ra những lời đe dọa đối với người Úc và người New Zealand, những người sẽ tưởng niệm ký ức về Anzac của chúng ta” trong khi Tayyip Erdogan chỉ cảnh cáo những tên Úc-Tân Tây lan Anzacs nào cực đoan chống Hồi Giáo định đến gây án ở Thổ Nhĩ Kỳ chứ không đe dọa người Úc và người New Zealand, cũng như chống đối câu Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ đe dọa rằng những người Úc chống Hồi giáo đến thăm đất nước của ông sẽ trở về nhà trong những chiếc quan tài giống như ông nội của họ. Hóa ra Jacinda Ardern ra sức cứu nguy cho Úc, xóa khỏi nhận thức của người dân New Zealand rằng chính tập đoàn quân Anzacs đã từng riu ríu tuân lịnh Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ, rằng một tên sát thủ công dân Úc của cái tổ tiên Anzacs lừng danh ấy nay  gây ra cuộc thảm sát tại đất nước của hậu duệ quân đoàn Anzacs, nhắc nhở người dân New Zealand rằng trong quá khứ tổ tiên họ đã từng cùng tổ tiên Úc hình thành nên quân đoàn Anzacs lừng danh sát cánh tiến được ra thế giới nhờ được kêu đến núp dưới lá cờ chủ soái vinh diệu của Vương Quốc Đại Anh chiếm đóng bán đảo Gallipoli, làm cho người dân New Zealand phải đồng cảm với sự nổi giận rằng khi Tayyip Erdogan đe dọa các sát thủ tương lai của Úc đã nhắc đến các “ông nội” nghĩa là ám chỉ mắng chưởi luôn “ông nội” của người dân New Zealand vì chửi bới quân đoàn Anzacs tức là chửi luôn tiên tổ của người New Zealand, vì vậy mụ muốn dân New Zealand hãy tập trung chưởi cha Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan (đang thân Nga, chống Mỹ) thay vì chưởi bố thằng sát thủ Úc Đại Lợi “anh em đồng chí”.

c– Sử dụng bài phát biểu đầu tiên của mình trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern trực tiếp thách thức quan điểm về thế giới do Tổng thống Mỹ Donald Trump vạch ra trong bài phát biểu trước đó. Mụ kêu gọi một trật tự thế giới khác, tức một thứ trật tự gì đó đặt “lòng tốt” lên trước chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Để chống lại chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc do Donald Trump khởi xướng, Jacinda Ardern cảnh báo rằng hậu quả của việc Mỹ từ bỏ các thể chế, định chế, và thỏa thuận sẽ là “thảm họa” cho nhân loại. Hóa ra, Jacinda Ardern đã lờ đi trước 3 sự thật lịch sử rằng

(i) “Lòng tốt” là từ ngữ hào nhoáng bị tất cả các “chủ nghĩa” lợi dụng, tồn tại song hành với lịch sử loài người, từ “lòng tốt” muốn giáo hóa các dân tộc man di mọi rợ của các đế quốc mà vó ngựa gieo rắc kinh hoàng của các binh đoàn của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn, của Trung Quốc, của Nhà Thờ Công Giáo La Mã, của các Nhà Nước Đế Quốc Thực Dân Anh/Pháp/Bồ/Hà/Tây/Mỹ/Nhật v.v., đã chà đạp bao vùng cương thổ, xóa sạch bao nền văn hóa, cướp trắng bao bảo vật quốc gia, tuyệt diệt bao tinh hoa trí tuệ, sát hại hàng triệu triệu con người, bắt hàng triệu triệu con người làm nô lệ, v.v. “Lòng tốt”, do đó, chỉ được độc quyền sử dụng bởi kẻ làm chính trị gian tà. Nói về “lòng tốt”, Jacinda Ardern đã tự lột trần trụi cái cốt gian tà của mụ. “Lòng tốt” là một thứ hỏa mù của các chính khách dân túy. Một kẻ ngu xuẩn đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(ii) Vì sao cái chủ nghĩa cô lập tức chủ nghĩa “bế quan tỏa cảng”, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tưởng đã chỉ còn trong sử sách hóa ra lại còn tồn tại đến Thế Kỷ XXI này đến độ Jacinda Ardern phải kêu gào chống lại như thế? Phải chăng Jacinda Ardern ngu xuẩn xác nhận công khai rằng toàn bộ nền văn hóa văn minh dân chủ tuyệt diệu của Phương Tây đã thất bại thảm hại như lời tiên tri thấu thị của Karl Marx và lời ủng hô ông của các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa theo khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa? Chủ nghĩa cô lập mà mụ nêu lên là do “tự cô lập” hay do được Mỹ “giúp cô lập” bằng các lịnh cấm vận? Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đâu có xuất phát từ hoặc lan tràn tại Châu Á, vậy mụ Jacinda Ardern muốn ám chi một hai nước rất rất thiểu số nào đây mà mụ do hèn nhát đã không dám nêu tên? Một kẻ hèn nhát đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(iii) Chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc không phải do Donald Trump khởi xướng. Donald Trump chỉ là người tái lập. Đó là hai hình thái nghiêm túc đã có từ xưa cho đến khi nảy sinh ra cái gọi là toàn cầu hóa và sự xuất hiện của cái tổ chức vô dụng gọi là WTO. Cái thế giới phẳng mà hình tượng dựa vào cái màn hình máy vi tính để hình thành một tư duy sáng tạo về trật tự thế giới mới khoáng đạt hơn đã bị nhà ngôn ngữ Hoàng Hữu Phước thấu thị tiến trình tiến tới vô dụng của nó, vì cái màn hình vật chất từ hơi phẳng đã biến thành siêu phẳng rồi siêu phẳng mỏng rồi cong và sẽ tiến đến giai đoạn gấp lại làm hai làm ba làm tư hoặc cuộn lại thành ống, nghĩa là cái “toàn cầu hóa” sẽ gặp các vấn nạn problems không thể cứu vãn của nó. “Toàn cầu hóa” chính là môi trường hun đúc các chiêu trò đậm chất bảo hộ chủ nghĩa của các nước giàu qua những cái gọi là “điều tra bán phá giá”, dẫn dụ các quốc gia nghèo khổ vào cái thòng lọng “lòng tốt” của tập thể các cường quốc để trở nên nghèo hơn, giúp bọn siêu giàu trở nên “ngoại hạng siêu giàu”. Ngay khi WTO trở nên trần truồng vô dụng không còn che dấu được ai, khiến xuất hiện các mối đe dọa vào sự thịnh vượng của các cường quốc, họ lập tức đẻ ra những cái tổ chức khác nhỏ hơn, trong đó có Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mà sau đó đúng như lời tiên tri thấu thị của Hoàng Hữu Phước về cái sự lấy vải thưa mà che mắt thánh của nó đã phải đổi tên khác thành Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương CPTPP. Và trước sự vùng vẩy của những kẻ thù nhằm thoát ra xoáy nước kinh hoàng của WTO, Trung Quốc cũng lập tức hình thành một tổ chức khác mang tên Sáng Kiến Một Vành Đai, Một Con Đường BRI nhằm lôi kéo những quốc gia còn lại. Phải nói chính xác là: chính sự ăn bám của EU vào Mỹ và sự “chơi cha” của EU và các nước khác trong đó có Trung Quốc đối với Mỹ đã khiến Mỹ thiệt hại khổng lồ mà một nhà đại ái quốc có tư duy kinh doanh đại sáng suốt tài ba như Donald Trump không thể không tái khởi động chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc để bảo vệ đất nước và dân tộc Mỹ.

Những tuyên bố của Jacinda Ardern, do đó, cho thấy mụ ta là một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc.

Bất tài vô dụng vì mụ ta đã không đề ra được chính sách phù hợp đặt an ninh quốc gia, an toàn lãnh thổ, an bình dân sinh, lên trên hết.

Cơ hội chủ nghĩa vì mụ ta lợi dụng ngay cuộc thảm sát để đánh bóng tên tuổi như lãnh đạo đầu tiên của thế giới tư bản dám ra luật cấm sở hữu vũ khí, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới “dạy” Donald Trump bài học về đạo làm người, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới biến mình thành tiên phong cho một “trật tự thế giới mới”, là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây được một nước Hồi Giáo chiếu hình ngưỡng mộ trên tòa nhà cao nhất thế giới, và do đó là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây lợi dụng thành công một thảm họa trong chính đất nước mình để đưa chính mình lên vũ đài chính trị toàn cầu thậm chí cho một đề cử Giải Nobel Hòa Bình 2019. Cụ thể, một tài khoản Twitter mang tên Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum đã viết rằng: “Cảm ơn Thủ tướng @jacindaardern và đất nước New Zealand vì đã có lòng thương cảm cùng sự hỗ trợ khiến một tỷ rưỡi người Hồi Giáo kính phục sau vụ tấn công khủng bố làm chấn động cộng đồng Hồi Giáo toàn thế giới.”

Phản quốc vì dưới sự lãnh đạo của mụ ta, New Zealand đã trở nên vulnerable dễ bị tổn thương, không còn là thiên đường của sự an bình, an vui, an toàn, của những người dân lương thiện an cư lạc nghiệp và hạnh phúc.

Một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand! 

D- Những Gì Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

1) Theo ngữ nghĩa thì tất cả những gì Jacinda Ardern tuyên bố rõ ràng là được dành cho những kẻ kỳ thị ở nước khác một cách nhẹ nhàng mang tính khuyên lơn toàn cầu. Đây là một sự kỳ quái. Với sự thật rằng vụ thảm sát không do một công dân New Zealand gây ra do đó không cần có lời kêu gọi người dân New Zealand hãy có lòng thương người và đừng kỳ thị tôn giáo, Ardern lại thay vì lẽ ra đã hoặc đòi Úc phải chịu trách nhiệm về vụ công dân của họ gây án tại New Zealand hoặc đòi Quốc Hội phải tu chỉnh luật hình sự để tăng án cho kẻ thủ ác đến gây họa cho lương dân New Zealand tại chính New Zealand, thì lại một cách kỳ quặc khuyên lơn toàn thế giới hãy dành tình thương cho người Hồi Giáo trên toàn cầu và đích thân mụ ta làm biến mất tên thủ ác trong lương tâm của người dân New Zealand và người dân thế giới – trong đó có báo chí toàn Việt Nam. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

2) Những gì Jacinda Ardern làm cho New Zealand là tước đi quyền sở hữu vũ khí tấn công của những người dân nổi tiếng hiền hậu của New Zealand chỉ mua vũ khí tấn công để làm vật trang trí trong nhà. Một khi khủng bố không còn là sự đe dọa tiềm tàng mà đã là một hiện thực tại New Zealand, đồng thời với sự thật là lực lượng cảnh sát New Zealand đã chưa hề được trang bị vũ khí để chống kẻ ác gây họa cho lương dân thì hoàn toàn không có bất kỳ lý do gì để tước đoạt quyền sở hữu vũ khí – bất kể loại tấn công assault hay không tấn công – của người dân. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

Hoàng Hữu Phước, New Zealand, 2015

3) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo ái quốc tầm cỡ Donald Trump thì mụ Jacinda Ardern nên tuyên bố ngay và trước hết tăng cường các biện pháp an ninh sàng lọc từ tình báo, lập danh sách cấm nhập cảnh những kẻ hô hào siêu đẳng da trắng, kỳ thị di dân, bất kể kẻ hô hào đó có là chính khách nước ngoài và thậm chí có là Donald Trump hay không. Kế đến, ra tay cải tiến lực lượng cảnh sát, trang bị vũ khí tận răng. Tiếp theo, cải tổ luật pháp gia tăng hình phạt để bất cứ ai định vào New Zealand gây án dù là trọng án hay khủng bố phải suy nghĩ lại.

Đó mới là việc bảo vệ nhân dân mà Jacinda Ardern lẽ ra đã phải làm. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

4) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo có “từ tâm” như mụ đang cố gắng thể hiện thì lẽ ra cứ mỗi lần đâu đó trên thế giới – mà điển hình là tại Mỹ – xảy ra các vụ thảm sát thì Jacinda Ardern đã nhanh nhảu khuyên lơn “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Thiên Chúa Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Nhà Thờ Charleston ở Bang South Carolina năm 2015 và “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Phật Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Chùa Waddell Wat Promkunaram ở Bang Arizona năm 1991, v.v. Phải chăng mụ xem những nạn nhân Mỹ bị sát hại chẳng đáng một xu vì đó là chuyện “nội bộ” của Mỹ không phải là đại sự để mụ kêu gọi các sát thủ hãy có “lòng tốt”, và đợi cho đến khi một thằng Úc vào giết dân New Zealand Hồi Giáo của mụ thì mụ mới lập tức ôm hôn người dân Hồi Giáo và kêu gọi toàn thế giới hãy có “lòng tốt” với dân nhập cư Hồi Giáo? Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

5) Tuyên bố vung vít ôm chầm phụ nữ Hồi Giáo, trùm khăn Hồi Giáo, cấm bán vũ khí, đó là hành động của một con hề chính trị!

Trong một vụ xả súng năm ngoái ở Mỹ tại nhà thờ First Baptist như đã nêu trong bài Hoàng Hữu Phước kể về ông da trắng mập lùn Stephen Willeford đang chăm sóc cây kiểng nghe tiếng súng liền vô nhà xách súng chạy đến đấu súng với tên thủ ác. Tên ấy phải ngưng cuộc tàn sát, chạy ra chỗ đậu xe với vết trọng thương. Thấy hắn ta lái xe bỏ trốn, ông mập lùn lúp xúp xách súng rượt theo thì một anh da trắng ốm nhom cao nhòng Johnnie Langendorff chạy xe bán tải ngang tắp vô cho đi ké để truy đuổi với tốc độ vi phạm luật liên bang. Cả hai đã dí ép chiếc xe kẻ thủ ác lao vào trụ đèn đường cao tốc đền tội ác. Không có khẩu súng bán tự động Colt AR-15 của hai lương dân Mỹ cỡ Hớn Minh và Lục Vân Tiên (người sử dụng đại đao người xài song kiếm) ấy, nạn nhân của vụ thảm sát ấy đã không dừng lại ở con số vài chục. Sở hữu vũ khí là quyền tự vệ của công dân đất nước nào đã và đang được luật pháp chế định. Luật pháp New Zealand chỉ cần quy định hình phạt tử hình nếu dùng vũ khí giải quyết tranh chấp, cướp bóc, gây bạo động hay khống chế hãm hiếp, hoặc bán lại vũ khí hợp pháp của mình cho người khác rồi kẻ đó gây khủng bố. Xử chung thân chủ sở hữu hợp pháp làm mất vũ khí. Đó mới là những gì Jacinda Ardern phải làm để bảo vệ dân New Zealand, bảo vệ quyền của dân New Zealand. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

E- Năm Lòi Khuyên Thấu Thị Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

Có hai công thức luôn đúng, một rất mới của Hoàng Hữu Phước, và một rất cũ của năm nữ nhi có hiểu biết rất rõ về Hoàng Hữu Phước – một làm việc tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, hai làm việc tại FOSCO, và hai tại Manulife. Công thức do Hoàng Hữu Phước đề ra cho rằng tất cả các chính khách nào mở miệng chống đối ‘anh” Donald Trump đều là bọn hề, bất tài vô dụng, và có kết cuộc không ra gì. Công thức này có thể ít chính xác vì Hoàng Hữu Phước là thiểu số. Công thức còn lại do năm phụ nữ đề ra cho rằng tất cả những ai có hành vi chống lại “anh” Hoàng Hữu Phước đều là bọn ngu đần, bất tài vô dụng bất lương bất học, và cuộc đời có cái kết chả ra gì. Công thức này có thể cực kỳ chính xác vì họ có hai thế mạnh của nữ quyền từ thời mẫu hệ (đang được xã hội xã hội chủ nghĩa tôn vinh và đang được thế giới tư bản nhơi lại) và là đa số (năm trên một).

Do công thức của Hoàng Hữu Phước là thiểu số, đốt đuốc tìm khắp nơi trên toàn thế giới cũng chỉ có thể tìm ra mỗi ba thí dụ cho sự chính xác của công thức Hoàng Hữu Phước mà thôi, gồm ba đứa không ra gì dưới đây: đương kim tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đương kim thủ tướng Canada Justin Trudeau, và đương kim thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern.

Tất nhiên, ai cũng có quyền “làm chính trị” theo quy định của luật pháp mỗi nước, nhưng sẽ là thảm họa nếu bọn con nít làm “lãnh đạo quốc gia”3 bằng chứng cụ thể là.

a) Thằng nhóc Emmanual Macron đang làm nước Pháp khốn đốn với thủ đô Paris bị phá hoại nát tan trong hơn nửa năm trời từ tháng 10-2018 cho đến tận ngày nay bởi các cuộc “biểu tình.” Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

b) Thằng nhóc Justin Trudeau đang vướng bao scandal mà chỉ mới gần đây thôi đã có thêm vụ tham nhũng SNC-Lavalin, vụ địa phương chủ nghĩa Quebec, và tình trạng từ niềm tự hào mỵ dân có nội các đa nữ đã đích thân vất các nữ bộ trưởng vào sọt rác khiến xô đổ thành trì truyền thống tự động ngưỡng mộ lãnh đạo quốc gia của người dân Canada. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

c) Con nhóc Jacinda Ardern đang vướng vào tình thế bị Hoàng Hữu Phước của Việt Nam vạch trần trụi cái hạ đẳng của mụ. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

Từ ba thí dụ điển hình trên của ba tên nguyên thủ ở ba cường quốc kinh tế Phương Tây Pháp-Gia Nã Đại-Tân Tây Lan, Lăng Tần có 5 lời khuyên sau dành cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và Quốc Hội Việt Nam:

1- Lời Khuyên Thứ Nhất: Không tự động đưa những lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh vào hàng ngũ những nhà lập pháp Việt Nam, tức đưa vào (tất nhiên qua cái “hình thức” giới thiệu ứng cử Quốc Hội) cơ quan “quyền lực nhất” Việt Nam. Đơn giản vì

(a) Quốc Hội không bao giờ đáng phải duy trì hình thức trẻ con bấy lâu nay là một thứ sân khấu chỉ để cho thiên hạ thấy Việt Nam có đầy đủ các “thành phần” giới tính, tôn giáo, tuổi tác, lĩnh vực, dân tộc, nghề nghiệp, Đảng/ngoài Đảng;

(b) “Thanh niên” không bao giờ được tự mặc định tự động đương nhiên đã trải qua thời gian dài học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài học tập cao chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài thực hành cho một-kế-sinh-nhai ở môi trường từ thấp đến cao liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài đạt các thành tích trong thực hành các học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân tại các cơ quan liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân; từ đó rõ ràng rằng “thanh niên” phải vượt qua tuổi “thanh niên” mới may ra có đủ trình độ trí tuệ làm “nghị sĩ”, và rằng nếu đã vượt rồi và đạt rồi mà vẫn núp dưới danh nghĩa “thanh niên” để đầy đủ thành phần sẽ là sự lừa mỵ dân và lừa mỵ cả thế giới;

(c) “Thanh niên” không bao giờ được xem là một nghề sinh nhai mà chỉ là một tổ chức phục vụ riêng chỉ cho Đảng Cộng Sản, không có “hợp đồng lao động”; do đó, ứng cử viên chính trị là “thanh niên” xem như thiếu chi tiết ở mục “nghề nghiệp” mà ngữ nghĩa đủ có thể được hiểu bởi thế giới hàn lâm;

(d) Đảng và Quốc Hội triệt tiêu sự nghiêm túc trong học tập của giới trẻ, biến sự quan tâm đến trình độ học tập chất lượng cực cao tụt xuống thấp hơn sự quan tâm đến trình độ chính trị vai vế cực cao trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh để từ đó tiến vào Quốc Hội và leo lên Bộ Chính Trị hoặc trở thành các Tổng Giám Đốc Nhà Nước, các Chủ Tịch Tập Đoàn Nhà Nước, v.v., chỉ toàn đẩy đất nước vào các vũng lầy kinh tế, chính trị, đạo đức xã hội, v.v. (bằng chứng: từ 1975 đến nay chính Đảng cũng chưa hề vinh danh bất kỳ một đảng viên cấp lãnh đạo quốc gia nào xuất thân từ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh là đấng tài đức vẹn toàn anh tài nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả);

(e) “Lập Pháp” là công việc đòi hỏi nghị sĩ có trí tuệ bao trùm tất cả hoặc chí ít là đa số các lĩnh vực sống còn của quốc gia chứ không phải là việc phân theo tuổi tác, giới tính hay giai cấp (Quốc Hôi Khóa đầu tiên của Việt Nam Thống Nhất tức Khóa VI có đại biểu Lê Thị Thêu là công nhân Sở Vệ Sinh Thành Phố Hồ Chí Minh thuộc Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh, đại diện cho “giai cấp công nhân”); và

(f) Chỉ vì bảo đảm ghế nghị sĩ phải dành cho một nữ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh tại Thành Phố Hồ Chí Minh và cho một nam tiến sĩ lãnh đạo cơ quan Nhà Nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh cũng xuất thân từ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cho Quốc Hội Khóa XIV mà Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh do Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Quốc Hội Khóa XIV Thành Phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cũng đồng thời là ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (việc mà không bất kỳ quốc gia văn minh nào trên thế giới cho phép đảm nhiệm lộ liễu như vậy) đã để xảy ra sự cố 2016 tại buổi “hiệp thương” lần 1 của đương kim nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước, ứng cử viên tự do Quốc Hội Khóa XIV như đã nêu rõ trong Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân, cùng với nó là sự phẫn nộ của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho đến tận ngày nay.

2Lời Khuyên Thứ Nhì:  Nghị sĩ đương nhiên buộc phải thuộc đẳng cấp “biết lo trước cái lo của người dân” (khẩu hiệu của tất cả các bậc hiền tài thời Khổng Tử và là khẩu hiệu tranh cử của ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong bầu cử Quốc Hội Khóa XIII năm 2011) chứ không phải thuộc đẳng cấp “nếu ở lứa 50 tuổi thì chỉ biết lo cho dân lứa 50 tuổi” nên cần phải có nghị sĩ “thanh niên” để có người “lo cho người dân lứa thanh niên”; càng không phải nghị sĩ nữ không lo cho dân chúng nam; càng không phải cần có những nghị sĩ thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh để lo cho dân chúng thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh; càng không phải cần có các nghị sĩ lão niên để lo cho dân chúng lão niên; càng không phải cần có các nghị sĩ tu sĩ để lo cho dân chúng có tôn giáo khiến Việt Nam kỳ quái thành quốc gia duy nhất cho tu sĩ làm chính trị (Mỹ không đánh thuế “thu nhập” các tài sản tiền vàng dồi dào khổng lồ của các cơ sở tôn giáo với điều kiện luật định rằng không bất kỳ một kẻ tu hành nào được làm chính trị nhằm bảo đảm sự “công bằng” cho “lưỡng đảng” trong tranh thủ phiếu bầu). Do đó, nhất thiết phải xóa bỏ hình thức chỉ tiêu/tỷ lệ thành phần để tập trung sao cho Quốc Hội Việt Nam có toàn nghị sĩ có năng lực “làm luật” bao trùm thuộc đẳng cấp trí tuệ “biết lo trước cái lo của người dân”, nhờ vậy (a) những ứng viên tự do như Hoàng Hữu Phước năm 2011 hoặc như Hoàng Hữu Phước đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ năm 2016 sẽ không bị lén lút triệt hạ như trường hợp ứng-viên-đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ Hoàng Hữu Phước ấy, và (b) Việt Nam không còn khét tiếng là đất nước có cái Quốc Hội chuyên cho ra những bộ đại luật chưa kịp đến thời điểm có hiệu lực đã phải tu chỉnh hoặc vừa có hiệu lực thì các nhà làm luật đã phải nhao nhao đòi thay mới do vấp phải sự phản đối của công luận dù dự thảo đã được đưa ra lấy ý kiến công luận cả năm trước đó tốn bao tỷ tỷ đồng mà tất cả được mỹ miều hóa đầy cảm động thành “có khả năng thay đổi nhanh chóng nhằm theo kịp với thay đổi của hiện thực hoặc đáp ứng ngay yêu cầu của nhân dân” chứ tuyệt đối không công nhận đẳng cấp làm luật của mình thấp kém đến độ nào.

3- Lời Khuyên Thứ Ba: Với sự tuyệt diệu của việc chủ tịch Đảng kiêm tổng thống, và với các đại biến mới đây liên quan đến nhân sự lãnh đạo đất nước, nhất thiết phải thay đổi luật rằng

(a) Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh không cần có đại biểu thành viên là “Chủ Tịch Nước”;

(b) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và theo luật thì nghị sĩ phải dành bao nhiêu phần trăm tổng thời gian cho công việc Quốc Hội, trong khi tất cả các chủ tịch nước tiền nhiệm buộc phải làm thành viên Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh thì đều vi phạm luật do thường xuyên vắng mặt khi họp thảo luận luật tại Tổ ở Hà Nội hay tại Đoàn ở Thành Phố Hồ Chí Minh;

(c) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và khó thể chấp nhận việc tạo điều kiện cho nước ngoài dè bỉu khi lãnh đạo cùng lúc làm “lập pháp” cùng lúc làm “hành pháp” khống chế cả “tư pháp”;

(d) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì lượng công việc mang tính trách nhiệm cực cao của lãnh đạo quốc gia không thể làm vị lãnh đạo ấy bị bào mòn sức khỏe tận cùng đến suy kiệt nếu gia tăng thêm việc làm luật không thuộc chuyên môn của vị ấy và việc tiếp xúc cử tri vớ vẩn chỉ để báo cáo kết quả cuối mỗi kỳ họp Quốc Hội hoặc lắng nghe tâm tư cử tri trước mỗi kỳ họp Quốc Hội; và

(e) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước phải làm những việc trọng đại: đề ra chiến lược, hoạch định thực hiện chiến lược, chỉ huy chiến lược, điều chỉnh chiến lược, thông qua chiến thuật, giám sát chiến thuật, sử dụng nhân sự chiến lược, xử lý tiêu cực, vận hành guồng máy, thì không thể rời trung tâm chỉ huy tối quan trọng y như chiếc cặp-hạt-nhân đó chỉ để đi thăm các địa phương thuộc các đới nhiệt độ khác nhau, thăm các cơ sở sản xuất có thể bất ngờ xảy ra chập điện vốn là việc thường xuyên xảy ra một cách bất trị ở Việt Nam, tiếp xúc nhân dân thay vì đơn giản từ trung tâm ra lịnh triệt hạ bọn đã gây ra họa cho dân chúng Thủ Thiêm và cho dân chúng các nơi khác, v.v, chỉ để chứng minh “gần gũi” với nhân dân, v.v., vì tất cả việc “kinh lý’ các địa phương phải và chỉ được thực hiện bởi thủ tướng và các bộ trưởng mà thôi, do những vị này có trách nhiệm chuyên biệt liên quan đến chức trách chuyên biệt của họ trước vị chủ tịch Đảng kiêm chủ tịch Nước, chứ không phải ngược lại;

4- Lời Khuyên Thứ Tư: Toàn bộ các vị như thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư Đảng, chủ tịch/phó chủ tịch hội đồng nhân dân/ủy ban nhân dân các cấp, lãnh đạo các ngành an ninh/quân đội/ kinh tế/tài chính Nhà Nước không được phép được giới thiệu ra ứng cử đại biểu quốc hội, chỉ được ra ứng cử nếu từ bỏ chức vụ trước khi ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, vì rằng tất cả họ đều vừa vi phạm luật pháp do không dành đủ thời gian luật định phục vụ Quốc Hội, vừa không được phép rời xa trận địa quan trọng mà họ gánh vác dù chỉ trong một phút huống hồ một tháng và nhiều hơn thế nữa;

5- Lời Khuyên Thứ Năm: Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam không có quyền giới thiệu ứng viên tu sĩ vì đây là sự lộ liễu rất trái thông lệ quốc tế, và các giáo hội cũng không có quyền giới thiệu tu sĩ ra tranh cử vì không những trái với sinh hoạt chính đạo của tôn giáo mà còn sai hoạt động do giáo hội hoàn toàn không phải là một “đảng chính trị” để có quyền tham chính; nghĩa là tu si do là công dân Việt Nam và do ý thức của bản thân ông ta/bà ta nghịch lại với giáo lý của tôn giáo mà ông ta/bà ta là tu sĩ nên muốn làm chính trị thì có quyền công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – không phải “thần quyền” do Phật hay Chúa ban cho – ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, nhằm công bằng với ứng viên tự do Hoàng Hữu Phước mà Mặt Trận Tổ Quốc không cần phải triệt hạ để chiếm đoạt ghế cho tu sĩ nào đó mà Mặt Trận giới thiệu để đạt “cơ cấu thành phần” vốn là công việc duy nhất mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả sau ngày thống nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

Tham khảo theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài trên:

Saddam Hussein: Tôi và Saddam Hussein 12-7-2016

Muammar Gaddafi: Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?  25-7-2016

Bức Tường: Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới  25-11-2016

Darwin: EU và Darwin  1999

Đối Lập:  Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập  06-8-2015

Chiếc Chìa KhóaChìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

Sân Hàng Đẫy:  https://thethao.tuoitre.vn/treo-san-hang-day-1-tran-phat-clb-ha-noi-70-trieu-vi-phao-sang-cdv-hai-phong-20190424120040595.htm

TPP: Đả Đảo TPP  30-5-2017

CPTPP: CPTPP  05-11-2018

BRI: Một Vành Đai, Một Con Đường  24-5-2017

Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ: Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ  23-7-2016

Khẩu Colt AR-15: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Thấu Thị:  Tin Quảng Bá  20-10-2018

Emmanuel Macron: Hoàng Hữu Phước Điểm Báo Việt Nam Đầu Năm 2019  01-3-2019

Justin Trudeau: Cảnh Báo: Nguyên Thủ Canada  10-02-2018

Làm Chính Trị: Chính Trị  14-01-2016

Bọn Trẻ Con Làm “Lãnh Đạo Quốc Gia”: Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn  14-12-2016, Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014, Viexit- Bọn Con Nít Làm Chính Trị  05-7-2016

Sự Cố Hiệp Thương 2016: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Lưỡng Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Muốn Làm Chính Trị : Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Chủ Tịch Đảng Kiêm Tổng Thống: Hoàng Hữu Phước Nhận Xét Nhỏ Về Nội Tình Lớn Tổ Chức Chính Trị Việt Nam  01-12-2018

Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Sử Liệu

Lời nhắc nhở các đấng làm chính sách quốc gia về giáo dục

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, Nhà Tư-Tưởng Xã-Hội Chủ-Nghĩa Thiên Khổng, Nhà Sử Nghiên*

04-5-2019

A) 12 năm căn bản nền tảng của giáo dục là để một đứa bé trở thành công dân có đủ tri thức căn bản – theo đích ngắm đầy trọng vọng của công tác giáo dục & đào tạo tại các cường quốc Âu Mỹ – để (a) trước hết người công dân đã qua 12 năm cơ bản nền tảng đó có thể “sống được và sống đúng” trong cộng đồng bao gồm trong gia đình, tại địa phương, ở chỗ làm việc, ở nơi học tiếp lên cao, hoặc chốn quân trường; và (b) thâm sâu thâm thúy hơn cả là người công dân này từ ý thức trách nhiệm với tinh thần dân tộc được hun đúc suốt 12 năm ấy đã hình thành lòng ái quốc tự thân mà không bất kỳ giáo điều hoặc giáo lý hay chủ nghĩa nào có thể dựng xây nên được.

“Sống được” là bản lĩnh có từ sự trang bị kỹ năng mềm tổng hợp của (i) phản ứng phù hợp, (ii) ứng phó trước thử thách, (iii) ứng đối như một vũ khí tìm việc/làm việc, và (iv) các hiểu biết từ phần cứng của sự hiểu biết rộng khắp từ nhiều chục môn học của 12 năm.

“Sống đúng” là (i) tư cách công dân có giáo dục với lòng tự trọng, và điều trước hết và trên hết mà giáo dục đem lại là (ii) tinh thần trách nhiệm cùng ý thức thượng tôn luật pháp như tiền đề cho sự giữ gìn phẩm giá cá nhân và quốc thể.

Cái thâm sâu thâm thúy nêu ở phần b ở trên có liên quan mật thiết đến bản lĩnh “sống đúng”, chủ yếu đến từ những gì có liên quan đến Môn Sử chứ hoàn toàn không phải các môn nào khác, kể cả không phải môn “Giáo Dục Công Dân”; và nền tảng cho sự phát triển Môn Sử do đó dứt khoát phải bao gồm 5 thành tố: (a) vị trí được tôn trọng đối với Môn Sử trong hệ thống giáo dục 12 năm, (b) sách vở đẳng cấp cao của Môn Sử, (c) chương trình đẳng cấp cao của Môn Sử, (d) đẳng cấp cao của giáo viên dạy Môn Sử, và (e) tư cách cao trọng của giáo viên dạy Môn Sử.

Tuy nhiên, Môn Sử lại trở thành vấn nạn tại nước Việt Nam thống nhất kể từ 30-4-1975 còn tại bị vì bởi 7 vấn nạn khác, đó là

1– Chính phủ không hề nhớ sự thật đớn đau rằng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, học sinh chỉ học 9 năm chứ không phải 12 năm, nghĩa là không có đủ thời gian để học đủ, biết đủ, cơ thể lớn đủ, và trí lực mạnh đủ để vào đại học, khiến tất cả các “sinh viên” tốt nghiệp đại học sau 3 hay 4 năm thành những vị “cử nhân đại nhảy vọt” nhanh chóng trèo lên “tiến sĩ” với lổ hổng 3 năm thể lực/trí lực/tâm lực, quá đủ để giải thích vì sao trong số lượng “trí thức” khổng lồ được đào tạo trong nước và “gởi” sang nước ngoài đào tạo bằng tiền thuế của dân đen, chẳng có lực lượng đông đảo nào hoạt động ra hồn về chuyên môn đã được đào tạo cả, dù về tài chính, kinh tế, tiếng Anh, kỹ thuật, hay…Sử, mà oái oăm thay gần như đa số bị “tẩu hỏa nhập ma” đi học toàn những ngành hoành tráng để rồi về thực hành toàn những cái tạp nhạp quái đản của “dân chủ”/“nhân quyền”/“xã hội dân sự”/“biểu tình”/sáng tác thơ “nước mình ngộ quá phải hông tía?”/xả rác trên facebook và nếu bất tài không làm được bất kỳ những tài gì vừa được nêu trên thì hóa ra lại có tài ảo thuật biến bao ngàn tỷ Việt Nam Đồng thành bụi mịn để rồi hoặc tiến thẳng một lèo vô tù hoặc đi một vòng lắt léo ra hải ngoại cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ rồi mới quay về cố quận đút đôi tay mũm mĩm vào còng số 8. Tóm lại, các nhà sử học Việt Nam tuyệt đại đa số đều tóc bạc hưởng bao phúc lợi vinh hiển từ tiền thuế của nhân dân nhưng vẫn còn thiếu nợ nhân dân cái sự học lớp 10, 11, và 12. Nhà sử học thực thụ có tri thức uyên bác không cần học thêm lớp 10, 11, và 12 là người đã dám lên tiếng ngay để ủng hộ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến Luật Biểu Tìnhđại biến Tứ Đại Ngu.

2– Chính phủ không hiểu biết gì về trọng lượng khủng khiếp của 12 năm căn bản nền tảng mà chỉ cắm cúi phát triển số lượng khủng khiếp các trường đại học để rồi hình thành trong nước 5 vấn nạn vượt ngoài tầm kiểm soát gồm (a) sự chạy đua thần phục “từ chương” tức trọng bằng cấp dẫn đến “thừa thầy/thiếu thợ” mà ngay cả từ ngữ trong “thừa thầy/thiếu thợ” mà chính truyền thông chính thống quốc gia lãi nhãi ngày đêm cũng cho thấy sự xem thường giới đối trọng của “thầy”, (b) nỗ lực cung cấp “đầu vào” tức người đi học cho số lượng các trường đại học đã phát triển hơn nấm bằng cách bỏ bớt các kỳ thi vốn sẽ dẫn đến việc “đầu ra” của đại học không thể là nguồn nhân lực ra hồn để cung cấp cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, (c) sự muối mặt cắt giảm số lượng các ngành tuyển sinh đã phát triển hơn nấm tại các trường đại học mà số lượng các trường này cũng đã phát triển hơn nấm, (d) sự chê bai của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các “sản phẩm” nội địa vốn được tạo ra từ sự xem nhẹ 12 năm căn bản nền tảng, và (e) sự thật rằng tuyệt đại đa số “sinh viên” Việt Nam chỉ là những “học sinh” lớp 13, 14, 15, 16.

3– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” xem nhẹ Môn Sử nên đã gạt bỏ Môn Sử khỏi các yêu cầu phải có đủ tri thức căn bản để sống được và sống đúng.

4– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” đã không xem Môn Sử phải như các môn học khác nghĩa là việc học Môn Sử phải được xem trọng hoàn toàn, việc phải có Môn Sử là không thể đảo ngược, và việc học Môn Sử phải kiểm chứng được qua thi cử hẳn hoi.

5– Chính phủ không hề nhận thức được rằng Việt Nam hiện không có bất kỳ “sử gia” nào cả.

6– Việt Nam hiện có quá nhiều “nhà sử học” toàn do tự phong hoặc do báo chí chính thống tự gọi “phe đồng minh” hoặc do Nhà Nước tự ban “phe ta” để lấp lửng lấp liếm sự thật Việt Nam vắng bóng hàn lâm Sử, và tất cả các “nhà sử học” này kỳ lạ thay chỉ “học” mỗi môn Việt Sử để lên tivi hỗ trợ “Đường Lên Đỉnh Olympia” hoặc trả lời phỏng vấn hành lang Quốc Hội những gì có liên quan đến Hoàng Sa hoặc nổi điên đòi tôn vinh công đức Gia Long hay A-Léc-Xăng Đờ Rốt, vân vân và vân vân, chứ chả biết gì về Thế Giới Sử và cả ngàn môn “Sử” khác. Các “nhà sử học” kiểu này đương nhiên hoàn toàn không đủ trình độ “nghiên cứu” phù hợp với việc hoạch định soạn thảo giáo trình Môn Sử cho đại cuộc 12 năm căn bản nền tảngđã nói ở trên. Ngoài ra, học sinh không biết có biết bao “Sử” để dành đam mê trở thành một sử gia cho một trong số 261 ngành Sử học vinh diệu đầy hấp lực tầm cỡ thế giới ấy.

7– Chính phủ đã hoàn toàn sai khi sau 30-4-1975 biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành. Trên nguyên tắc hàn lâm về Sử, Lịch Sử Đảng là lịch sử một tổ chức chính trị, là nguồn sử liệu cực kỳ quan trọng để hình thành phần bổ sung vào Lịch Sử Việt Nam, mà Lịch Sử Việt Nam cần thời gian tối thiểu 50 năm nghiên cứu thu thập tổng hợp đánh giá tư liệu từ nhiều nguồn sử liệu thế giới có liên quan đến thời kỳ của Lịch Sử Đảng để đúc kết chính thức đưa vào Lịch Sử Việt Nam. Việc biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành, đã hình thành nơi học sinh tâm lý không những không còn xem trọng Lịch Sử Việt Nam trước 30-4-1975 mà còn không xem Lịch Sử Đảng còn tính hấp dẫn kế tục kế thừa vinh diệu của chuỗi lịch sử dân tộc, biến nó thành phương cách đơn giản trả nợ một môn học bình thường nhàm chán nhất mà thôi.

B) Vấn nạn các nhà sử học Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với Môn Sử tại Việt Nam có thể được làm rõ qua sự thật họ thiếu vắng 3 hiểu biết (a) về ý nghĩa của công việc một Sử Gia, (b) rằng Sử không chỉ là các chi tiết về những cái tên hay những con số ghi năm tháng trong vài quyển sử Việt cũ hàng trăm năm tuổi vì nếu thế chẳng ai ở Việt Nam – trừ các phóng viên báo chí – cần đến các nhà sử học kiểu Việt cả, và (c) ý nghĩa của từ ngữ “sử liệu” cùng tầm quan trọng của sử liệu.

Sử liệu không chỉ là tư liệu ghi trong những quyển sử hàng trăm năm tuổi vốn không được tự động mặc định là chỉ toàn chứa chất các sự thật đã được kiểm chứng hay đã có bằng chứng. Sử liệu còn là những tài liệu chưa được chính phủ một nước công bố khi chưa hết thời hạn 50 năm hay100 năm mà luật pháp nước họ quy định, và ngay cả khi được công bố sẽ dẫn đến các nghiên cứu hàn lâm/điều tra thực địa/thẩm định chuyên sâu/đánh giá chuyên biệt trước khi một sử liệu được chính thức ghi thêm vào sách sử để bổ sung/thay thế/chỉnh sửa/tiếp tục dán nhãn “còn gây tranh cãi”. Sử liệu còn là những ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau. Và giá trị của Sử trong tương lai sẽ được tôn vinh cao nhất nhờ hiện tại có đầy đủ trang thiết bị giúp nghiên cứu/điều tra/ghi nhận từng sự việc một để các chi tiết lịch sử trong Môn Sử của tương lai đều có tài liệu chứng minh có thực và thực có.

Công việc đặc thù liên quan đến Sử của một sử gia/“nhà sử học”/công chức “viện sử học” có bao gồm cả việc ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau ấy. Vậy thử hỏi ngoài cái việc chăm bẳm vào chỉ mỗi việc “Thành Đô” theo đà tạo sóng của bọn chống Việt trong khi chả có tài liệu quái gì cả do chưa đến thời hạn công bố tài liệu mật quốc gia của Trung Quốc và Việt Nam theo thông lệ quốc tế để kiểm chứng so sánh tổng hợp, thì đã có “nhà sử học” nào ở Việt Nam quan tâm lưu trữ sử liệu cho hậu duệ?

Tôi có tình cờ quen một bác cao niên trên 80 tuổi tên Nhi khi thăm một người quen tại một bịnh viện ở Thành Phố Hồ Chí Minh cách nay vài tháng. Do tính cách từ nhỏ luôn tạo thiện cảm nơi người đối diện bằng cung cách ăn nói lễ độ trí hóa cao cùng tác phong đĩnh đạc cũng như khuôn trung luôn biểu cảm sự quan tâm chăm chú xem trọng ý kiến người đối diện, tôi không bao giờ chịu trao danh thiếp để không phải “hé lộ” thông tin “bí mật” mình là Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế, Nghị Sĩ Khóa XIII. Nếu được hỏi, tôi chỉ cho biết tôi tên Phước. Only this and nothing more – nghĩa là chỉ thế thôi. Bác Nhi ở Phú Yên, được con cháu đưa từ Nha Trang vào Thành Phố Hồ Chí Minh chữa bịnh. Bác khoe tôi xem hình bác chụp đen-trắng ố vàng xưa cũ, rất đẹp trai, trong quân phục quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Khi bác nói đó là quân chủng Biệt Động Quân, tôi nói hồi nhỏ mỗi chiều nghe radio phát sóng chương trình của quân chủng Biệt Động Quân và có nhớ bài hát dữ dội có lời “…Biệt Động Quân: SÁT!..”, thì bác Nhi lè lưỡi lắc đầu nói rằng bác không có “sát” ai hết do bác chỉ là một quân nhân hành chánh làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ hồi đó gọi tắt là DMRTC mà thôi. Bác nói bác đi Mỹ hoài để thăm các con các cháu, có khi ở vài ba tháng, nhưng bác từ chối sang bên đó sống, trong khi vợ bác thì chịu sang ở theo lời năn nỉ của cháu con. Bác cho biết hình như có cán bộ tình báo gián điệp Việt Cộng thâm nhập vào đội ngũ làm việc ở DMRTC nên khi giải phóng, bác chia tay gia đình ra trình diện ủy ban quân quản, khai báo trung thực vào hồ sơ tập trung đi “học tập cải tạo” dài lâu, nhưng lại được “cán bộ cộng sản” cho về ngay do có một vị nào đó sau rèm đã bút phê rằng bác không “có công với cách mạng” nhưng cũng không thuộc diện DMRTC “ác ôn có tội với nhân dân”. Bác nghĩ chắc là có một cán bộ cộng sản bí mật nào đó trong thời gian thâm nhập DMRTC đã nhận thấy bác là một “binh sĩ văn phòng” có tư cách, làm việc không đụng đến vũ khí, và không tham gia rèn luyện các “sát thủ bậc nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa”, nên đã chiếu cố cho bác sống đời sống dân sự bình an tuyệt đối ngay lập tức. Bác nói “Biệt Động Quân tụi nó dữ lắm” và kể rằng khi chiến sự diễn ra ác liệt, quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã trên khắp các mặt trận các vùng chiến thuật Miền Trung, bác bỏ quân phục, chạy khỏi DMRTC trà trộn theo các đoàn thường dân lánh nạn, và bác nhiều lần chứng kiến việc các binh sĩ Biệt Động Quân xả nguyên băng đạn tiểu liên bắn nát ngực hay lưng thường dân nào có xách va-li “Samsonite” vì trong đó bảo đảm có chứa vàng ngọc và đô-la Mỹ. Họ không chĩa súng đe dọa hét bảo đưa các va-li đó, chẳng qua vì họ biết nếu không nhanh tay giết-cướp-chạy ngay ắt sẽ bị chiến hữu Biệt Động Quân khác bắn nát lưng mình để cướp-của-cướp. Khi tôi hỏi khi chạy tán loạn như vậy thì ai cũng ngụy trang thành thường dân thì sao bác biết các sát thủ đó là binh sĩ Biệt Động Quân, bác nói đó là do nhận diện nhờ có kinh nghiệm thâm niên phục vụ DMRTC, cứ nhìn sắc mặt, đầu tóc, vũ khí, cách cầm vũ khí, cách sử dụng vũ khí, và cách im lặng giết người nhanh gọn ngay lập tức của họ khi gặp “đối tượng” là biết ngay; thậm chí đang chạy mà bác nghe…“tiếng súng của Biệt Động Quân” là bác kêu dân chúng hãy chạy theo bác rẽ sang hướng khác rời xa đường tháo chạy của Biệt Động Quân, còn nếu tiếng súng nghe không giống “của Biệt Động Quân” thì bác hối dân chúng chạy nhanh lên phía trước hoặc tiếng súng quá gần thì nằm dạt ra hai bên đường. Cũng tại khiếp sợ Biệt Động Quân khét tiếng “khát máu” thật, mà bác đã dẫn một đoàn dân chúng chạy thục mạng vào rừng sâu, chấp nhận nguy cơ gặp một thế lực bị Cộng Hòa tuyên truyền rằng“hung tàn khát máu” có tên “Việt Cộng” mà bác chưa từng nhìn thấy cái “khát” đó được “Việt Cộng” thể hiện ra sao.

Trên là những “sử liệu” mà không rõ có công chức nào của Nhà Nước ở các “viện” sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” ruột thịt của Nhà Nước chịu khó tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” hay chưa.

Nếu những đấng hưởng lương và phúc lợi từ tiền thuế của dân và tài nguyên quốc gia là công chức của Nhà Nước ở các Viện sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” của Nhà Nước muốn tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” thì chỉ có thể tìm gặp những người nào như bác Nhi, vì tháng trước bác phone cho tôi hỏi thăm sức khỏe của tôi và thều thào nói bác đang cảm thấy rất mệt. Ngày hôm sau, con trai lớn của bác Nhi đã điện thoại cho tôi báo hung tin bác đã đột ngột qua đời. Hóa ra đó là cuộc gọi cuối trước lúc ra đi của bác cho tôi, người tâm giao xa lạ lúc chào bác ra về đã giơ nắm đấm chúc bác khỏe mạnh như một cựu binh “Biệt Động Quân” cho ca đại phẫu hôm sau. Tôi đã thầm xin lỗi vì đã không trung thực đầy đủ với bác, không cho bác biết tôi là ai, dù bác nói trông tôi có phong cách một “ông giám đốc” hay một “ông lớn” nào đó chứ không phải chỉ là một “dân đen tư nhân nghỉ hưu không lương hưu tên Phước” như tôi đã cho bác biết như thế về mình.  

C) Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, không hề ngờ vực bất kỳ chi tiết nào trong đó.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều không rõ ràng cũng được tự động mặc định không thể làm gì hơn cho một định thẩm cứu nghiên.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều vô lý vô pháp vô thiên không có bất kỳ sử liệu gì chứng minh cũng không khiến người ta chấm dứt sự tôn vinh đã lỡ lầm trao tặng cho ai đó như trường hợp Chu Văn An.

Người ta chỉ mặc định xem những gì bọn chống Việt – gồm bọn người Việt chống Cộng cùng bọn Tàu và Anh Mỹ vân vân – nêu lên về Hoàng Sa, Trường Sa, Thành Đô, là những vấn nạn Sử duy nhất tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem những gì liên quan đến quốc hiệu của Việt Nam cộng sản hiện nay trong tương quan so sánh với quốc hiệu của Việt Nam – cũng cộng sản – trước đây, là những vấn đề Sử duy nhất cao quý tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem việc điêu ngoa nói nhăng nói cuội chống lại kiến thức “uyên thâm uyên bác” về “biểu tình” của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước là hành vi duy nhất xứng đáng cho công ăn việc làm duy nhất của những nhà sử học Việt Nam từ đường hang chốn tháp ngà sử học chui ra chốn nghị trường lập hiến và lập pháp Việt Nam.

Người ta không hiểu một chân lý rằng chính các sử liệu thu thập được từ những cựu chiến binh như Bác Nhi ở Phú Yên mới là thứ vũ khí có sức công phá hủy diệt cực kỳ ghê gớm triệt hạ các thế lực thù địch chống Việt Nam, vì các sử liệu ấy (a) củng cố chính nghĩa của Cộng Sản Việt Nam để đánh bại bọn “tự diễn biến” nội địa, (b) bóc trần sự nhơ nhớp của “Cộng Hòa” để đánh bại “tàn dư” của “Cộng Hòa” tại hải ngoại, và (c) đó mới là những “sự thật” làm tư liệu phong phú cho việc phát hành bộ  Việt Nam Sử Ký Toàn Thư năm 2075 nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Chiến Thắng.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Sử Nghiên

Ghi chú:

1) Nhà Sử Nghiên là…nhà nghiên cứu sử. Nhà Sử Nghiên cao hơn “Nhà Sử Học” chín bậc cửu trùng vì “nhà sử học” ở Việt Nam (a) chỉ biết học Việt Sử mà thôi, (b) chỉ biết học Việt Sử từ các quyển “sử” cũ đã có trong quá khứ được dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, (c) không biết rằng theo hàn lâm Âu Mỹ thì Sử bao trùm nhiều lĩnh vực như đã được Hoàng Hữu Phước nêu rõ trong bài Thế Nào Là Sử Gia , (d) học lực chỉ ở mức Lớp 9 nhảy lên đại học vốn là nơi để một người được đào tạo cho một nghề chứ không bao giờ đào tạo ra một “nhà” nào cả vì “nhà” là do “nghiên cứu” mà được trở thành, (e) không dám xưng là “Sử Gia” mà cũng chẳng được ai gọi là “Sử Gia”, và (f) chẳng bao giờ được các “Sử Gia” nước ngoài xem trọng do chẳng bao giờ nói được ngoại ngữ –  kể cả tiếng Hán – và chẳng có công trình nghiên cứu tầm cỡ “phá băng” tức điều tra chứng minh giải tỏa được những khúc mắc trong lịch sử dù chỉ trong nội tình lịch sử của chính nước mình để giới sử gia thế giới hiểu tường tận hơn.

2) “Hết sức uyên thâm uyên bác” là lời khen tặng của một đại tá công an họ Võ dành cho Hoàng Hữu Phước bằng tin nhắn và khi đến văn phòng Công Ty MYA thăm Hoàng Hữu Phước và Lại Thu Trúc ngay sau đại biến Luật Biểu Tình; hoàn toàn không phải lời tự phong của Hoàng Hữu Phước dù cho con mèo của ông ta thực sự có cái đuôi rất rất dài.

Tham khảo các bài về Sử của Nhà Sử Nghiên Hoàng Hữu Phước:

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  11-2011

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia   05-02-2014

Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam  04-10-2014

Các tham khảo khác:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh  29-5-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo” 25-4-2019

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Điều Cấm Vận

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

03-5-2019

                   Mục Lục

A- Truyền Thuyết Điều

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

C- Điều Triều

A- Truyền Thuyết Điều

Như điều bắt buộc phải có nơi một nhà giáo đã được nêu cực rõ trong bài “Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai nghĩa là phải có lòng tự trọng mà với lòng tự trọng đó một người sẽ không bao giờ cố len chân chen chúc vào làm “nhà giáo” nếu nhận thấy (a) kiến thức của mình chưa đạt mức uyên thâm, chưa ở thế bao trùm, chưa làm chủ đa dạng, không có khả năng dùng ngôn ngữ hùng biện thật cuốn lôi dẫn hấp để vừa truyền tải ngần ấy sự uyên thâm/bao trùm/đa dạng/cuốn lôi đến với học trò vừa làm bản thân trở thành thần tượng nơi học trò để học trò ngưỡng mộ noi theo tiếp bước trở thành những nhà giáo đúng nghĩa; cũng như khi nhận thấy (b) bản thân vừa không có niềm đam mê trở thành một nhà giáo tài ba chân chính, vừa cho rằng mình không có khả năng quán xuyến được điều kiện sống của bản thân và gia đình để có thể đeo bám cái nghề ấy mà không bao giờ nhỏ lệ buồn than tức tưởi trách phận thân sao lương tiền không dào dồi như ý.

Để trở thành một giảng viên Anh Văn đúng nghĩa một nhà giáo, tôi đã phải ngay từ lớp 6 trung học vừa phát huy năng lực “tấu thư” sáng tạo giàu tưởng tượng, vừa tìm đọc và lắng nghe biết bao câu truyện và câu chuyện của Việt Nam và thế giới để phục vụ hai mục đích gồm (a) hiểu biết thật nhiều với vốn từ thật nhiều, và (b) khi trở thành nhà giáo ngoại ngữ sẽ kể lại cho học trò bằng tiếng Anh những câu truyện và câu chuyện nào thú vị để vừa luyện nghe và luyện nói cho các em, biến tiết học “Luyện Nghe Tiếng Anh” chán phèo không những thành tiết sinh hoạt giải trí hấp dẫn dù theo kiểu tự soạn tự quyết về biết bao chuyện gồm cả kiểu dựa vào thần thoại Cổ La-Hy như Chuyện Tình Của Thần Vệ Nữ Venus và Bán Thần Adonis, kiểu lập lại  truyện dân gian như Đức Ngài Râu Xanh, kiểu biến tấu từ cái tên kinh dị có sẵn như Ác Quỷ Frankeistein, hay kiểu hiện đại hóa truyện rùng rợn Ba Điều Ước từ nguyên tác Cái Vuốt Khỉ, hoặc kiểu phỏng theo truyện tranh tiếng Anh Chiếc Hộp Kinh Hoàng, v.v. và v.v. mà chỉ có tôi mới không những biết mà lại còn kể được chuyện để làm các sinh viên tỉnh ngủ gật, tập trung hồi hộp lắng nghe, ớn lạnh sống lưng, tay viết hý hoáy các từ mới vào tập, miệng phá ra cười ha hả khi tôi biểu diễn thể hiện bộ tịch, dùng âm vực mô phỏng âm thanh và cuồng nộ của yêu tinh quái thú quỷ yêu, mà lại còn sử dụng cái “tấu thư” để kết thúc mỗi truyện kể bằng những lời khuyên mang tính đạo đức với gương mặt “thầy” cực kỳ nghiêm túc “tỉnh bơ” tấu hài mà chẳng cười gì, thậm chí còn trố mắt giả vờ ra vẻ ngạc nhiên tột độ không hiểu vì sao cả lớp lại có cái sự “cười bò” giải tỏa quá trình hồi hộp đứng tim trước đó, khiến cả lớp lại  thêm tức cười biến thành “vỡ rạp” làm phiền các giáo viên các lớp gần bên.

Đoạn trên gồm chỉ một câu duy nhất, tức chỉ có một dấu chấm hết ở cuối câu, sau chữ “gần bên”. Đây là kiểu hành văn viết – ngay cả nói khi thuyết trình – của tôi dù bằng tiếng Anh hay tiếng Việt, mà tôi chịu ảnh hưởng từ văn phong phức tạp cầu kỳ của Edgar Allan Poe (1809-1849), đại văn hào tiểu thuyết kinh dị trinh thám hình sự và nhà thơ vĩ đại trường phái lãng mạn của nền văn học Mỹ cận đại, có ảnh hưởng sâu sắc tác động đến các đại văn hào khác như Jules Verne (tác giả của Du Hành Vào Lòng Trái Đất) và Sir Arthur Conan Doyle (tác giả của bộ Thám Tử Sherlock Holmes), cũng như đến tôi, truyền nhân duy nhất của Thầy Lê Văn Diệm.

Tất nhiên, có những truyện không có cái kết có hậu và cũng hoàn toàn không có tiếng cười mà là sự lắng đọng suy tư nơi sinh viên. Một trong những truyện loại này có tựa đề “Điều” mà tôi đọc được trên một tờ báo ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa nay xin tóm tắt như sau để dẫn nhập vào một vấn đề chính trị mà thế giới vừa qua rất quan tâm.

Truyện kể rằng ở một làng nghề thủ công nọ tại Việt Nam chuyên về làm đồ mỹ nghệ sơn mài, có quy định trai gái của làng dứt khoát không được kết hôn với gái trai các làng khác. Quy định này để ngăn ngừa vấn nạn “mất nõ thần” tức mất bí quyết pha trộn các hóa chất phục vụ vẽ sơn mài. Thế rồi oái oăm thay, cô Mỵ Châu là “con một” xinh đẹp nhất làng của gia đình ông “Hương Quản”, một chức sắc ắt tương đương với “chủ tịch hội đồng nhân dân xóm”, lại bị “rù quến” bởi một thanh niên đẹp trai tên Trọng Thủy ở làng khác. Không may cho đôi uyên ương ấy, vụ việc bị nhanh chóng phát hiện do sau bữa cơm tối lúc nhà thắp đèn cầy tối hù chuẩn bị đi ngủ, ông hương quản cầm chiếc đèn dầu hỏa Huê Kỳ đi kiểm tra trước sau phòng ốc, thấy phòng của ái nữ mình yêu quý hơn châu ngọc có chiếc gối ôm được phủ chăn trên giường trống trơn tăm tối, bèn hô vang kêu gia nhân cùng tá điền đốt đuốc đi cài răng lược băng đồng tìm kiếm. Khi thấy đoàn quân tiến đến dù không có lông thiên nga hay lông vịt dẫn đường, chàng trai bỏ chạy nhanh nhất có thể, nhảy ùm xuống sông bơi qua cù lao tẩu thoát vào đêm trường tịch mịch. Cô gái bị bắt trói giải về. Khi mở phiên xử trước sân nhà, nghe cô con gái bày tỏ sự tin tưởng vào tình yêu cao đẹp của chàng trai, vào lời thề thốt của chàng rằng chàng chỉ yêu nàng vì nàng tốt bụng và nhân hậu chứ không phải vì nàng xinh đẹp nõn nà hay vì nàng là con nhà giàu có hoặc tại anh ta mơ tưởng chiếm hữu bí quyết pha dầu sơn mài, thậm chí nàng có già nua xấu xí tật nguyền chàng vẫn yêu thương suốt đời, v.v., rồi khi nghe con gái lạy xin cha đừng chia thúy rẻ quyên, ông hương quản nổi điên lắc đầu mắng con ngu dại, rằng “lỗi tại ta có con gái mà không nuôi dạy nên chẳng khác nào nuôi heo” – tức dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư – rồi tiện tay vung gậy quất con gái đến máu chảy thịt rơi. Khi gậy gảy, ông ngồi xuống phản, tuyên bố sẽ cho phép con gái được làm vợ chàng Trọng Thủy ấy, và ra lịnh thực hiện gia quy trước khi cho con gái được tự do, tức là quát tháo sai đặt cô gái nằm ngữa trên đất, lột trần áo xống xuống thắt lưng, bảo bốn gia nhân lực lưỡng quỳ gối tỳ đè lên hai đùi và hai vai của cô, trong lúc đó bốn gia nhân khác nhóm lửa, quẳng vào lửa vài nắm hạt điều còn nguyên vỏ, rồi cầm gắp sắt kẹp từng hạt điều bị cháy khét đang chảy dầu ra chèm nhẹp, dí các hạt điều ấy thoa lên toàn bộ gương mặt của cô theo những đường ngang lối dọc và dí luôn lên đầu hai nhũ hoa của cô, mặc cho tiếng thét la đớn đau thảm thiết của cô vang dội cả đêm đen. Tờ mờ sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy vì cái lạnh của sương mai, cô gái bò quơ tay vớ được tấm vải bên cạnh che vội thân thể đầy thương tích rồi khập khiểng dọ dẫm bước đi. Cứ thế, cô lết bộ lần từng bước một vừa đi vừa hỏi khi nghe tiếng lộp cộp vó ngựa đến gần, may được người xa phu thương tình cho quá giang một đoạn đường mới sang được làng bên đến tận nhà chàng Trọng Thủy nhân hậu chung tình. Khi chàng kình ngư bơi nhanh hơn rái cá này bước ra, anh ta thảng thốt kinh sợ thét lên trong nỗi kinh hoàng kinh khiếp kinh sợ gào lên xua đuổi rồi bỏ chạy nhanh hơn đà điểu khi nhìn thấy gương mặt bị hủy hoại nhăn nhúm chảy xệ mù lòa toàn thân đẫm máu ghê rợn của cô. Câu chuyện kết thúc ở đoạn truyện đăng trên báo viết rằng người ta tìm thấy cô khi cô nổi bập bềnh theo con nước tắp vào bờ sông mấy ngày sau đó.

Trước khi đi vào nội dung chính trị mà câu truyện “Điều” trên dẫn nhập, kính mời các bạn xem tiếp Phần B dưới đây.

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

30 năm thì một cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1964-1994).

41 năm thì một cấm vận vũ khí sát thương Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1975-2016).

Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành.

C- Điều Triều

Hạt điều thuộc cây công nghiệp mà hạt của nó đem lại cho nền kinh tế Việt Nam thu nhập rất cao từ xuất khẩu hạt điều nhân (cashew kernels), điều thô (raw cashew nuts) hoặc hạt điều thành phẩm đã qua rang muối và chế biến bánh kẹo.

Một sự thật hầu như chưa từng được bất kỳ ai nói đến là không bất kỳ quốc gia nào xuất khẩu hạt điều thành phẩm cho người tiêu dùng thực phẩm – ngay cả xuất khẩu hạt điều “thô” – mà không lột bỏ vỏ của nó. Không chỉ vì từ lớp vỏ ngoài của hạt điều người ta có thể trích ly những thứ hóa chất dù độc hại (như phenolic lipids, anacardic acids, và cardanol) nhưng phục vụ nhiều ngành công nghiệp (từ dược liệu đến thuốc diệt nấm mốc, thuốc diệt mối gỗ, lớp sơn lót công nghiệp, v.v. ), kể cả ngành thủ công mỹ nghệ chế tác phẩm vật sơn mài, mà tất cả đều gây thương tổn cho da, đặc biệt nghiêm trọng nếu người tiêu dùng tự nướng hạt điều rồi chờ nguội đưa lên miệng cắn ăn thì xem như môi bị acid làm cho bị phỏng nặng tiêu tùng. Do đó, khi đối tượng nhập khẩu là để dùng hạt điều như thực phẩm thì bên xuất khẩu sẽ phải tổ chức thuê mướn nhân công bóc vỏ hạt điều. Vỏ ấy sẽ bị vất bỏ nếu như không có xí nghiệp hóa chất nào quan tâm tìm mua như thứ phẩm của hạt điều.

Cấm vận của Mỹ giống như bản chất của hạt điều.

Hạt điều rất ngon và có giá trị cao. Những hứa hẹn cho một sự “ngon ăn” hoặc “ăn ngon” của việc chấp nhận đổi một thỏa thuận nào đó để lấy sự “xóa cấm vận” tức lấy “hạt điều”, hoặc tin vào hứa hẹn đó, cũng chỉ là việc bất khả. Không ai ăn sống hạt điều. Vỏ hạt điều nhất thiết phải được bóc tách (tất nhiên có sản phẩm hạt điều còn vỏ đã bị nướng cháy đen, được làm khô ráo không còn vương các acid, như đang bán tại các siêu thị như một cách chế biến quái đản chỉ có ở Việt Nam). Và hạt điều phải được rang nướng. Sự cấm vận của Mỹ áp đặt lên Việt Nam đòi hỏi rất nhiều công sức “chế biến” qua thời gian rất dài, từ vài năm đến vài chục năm. Phải mất 30 năm sự cấm vận ấy trên trận địa thương mại mới được gỡ bỏ, và phải mất 41 năm mới có việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí sát thương. Hạt điều thô đã nướng chảy acid, dù để nguội lạnh vẫn tàn phá da thịt con người. Cấm vận đã ban, các đàm phán theo sau, các cánh cửa hé mở cho các cuộc thăm viếng, nó vẫn tàn hại làm cả một đất nước điêu linh.

Đối với Mỹ, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên các quốc gia khác là một thứ “gia quy” khắc nghiệt, hoàn toàn không phải là thứ chỉ để hù dọa đơn thuần. Đó là đòn trừng phạt ghê gớm nhất, phức tạp kéo dài nhất, và nhằm đến sự ưu tiên đạt đỉnh điểm một hệ quả thảm khốc bậc nhất. Một lệnh cấm vận được ban ra không bao giờ để được gỡ bỏ nhanh chóng sau đó. Đây là lý do Tổng Thống Donald Trump hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ dành cho Bắc Hàn, ngay cả việc gỡ bỏ chỉ một phần, và ngay cả khi Tổng Thống Donald Trump có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ vừa nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Đối với Bắc Hàn, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên Bắc Hàn không bao giờ có một tương lai giải quyết sớm hơn và tốt hơn. Việc tiền trao cháo múc chứ không phải tiền trao lúa múc đối với Bắc Hàn mới là việc mua bán đương nhiên công bằng: đồng tiền có thể xài ngay và cháo có thể ăn ngay. Bắc Hàn không thể chấp nhận tận hủy tất cả những tài sản nguyên tử quý báu đang có (trao hết tiền), chỉ để dài cổ trông chờ sự giao hàng của một lô lúa mà người dân Bắc Hàn nếu nhận được phải gieo trồng, phải dẫn thủy nhập điền, phải bón phân, phải gặt hái, phải phơi phóng, phải xay giã, phải xay xát, v.v. và v.v., rồi phải đi mót cũi mới nấu thành cháo để múc ăn. Đó là sự chơi trác của tiền trao rơm rạ múc. Chưa kể, sẽ luôn có sự ngụy tạo quen thuộc (như Mỹ đã luôn kiếm mọi cớ đối với Việt Nam, như láo xạo vu vạ Việt Nam lén giam giữ hàng trăm binh sĩ Mỹ, sát hại thoải mái các tù binh Việt Nam Cộng Hòa trong các “trại cải tạo”, và xâm lược cướp bóc chà đạp “nền dân chủ” Kampuchea, v.v., để lờ đi lời hứa bồi thường chiến tranh cho Việt Nam và để áp đặt lịnh cấm vận mới khác chống Việt Nam) rằng Bắc Hàn vẫn còn đang chứa vũ khí hủy diệt tại chốn thâm sơn cùng cốc nào đó mà Mỹ phái điều tra cho ra chân tơ kẽ tóc nên chưa thể gỡ bỏ các cấm vận được ngay cả khi toàn bộ vũ khí nguyên tử có bị Bắc Hàn lỡ dại tiêu hủy hết rồi. Đây là lý do Chủ Tịch Kim Jong Un  hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ, ngay cả khi đó là sự nhượng bộ cho phép các thanh sát viên IAEA vào điều nghiên tại chỗ, và ngay cả khi Chủ Tịch Kim Jong Un có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc thì ông cũng không có quyền chấp nhận đánh đổi tất cả mà không nhận được sự trao lại tương đồng ngay lập tức từ phía Mỹ, tức việc Mỹ gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ-vừa-nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Câu truyện tiểu thuyết về cô gái bị thoa dầu acid chảy ra từ hạt điều tàn phá dung nhan dẫn đến cái kết rất tàn nhẫn và tàn khốc, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ phía “trên cơ”, trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như các “gia quy” hãy ràng buộc rằng bí quyết sản xuất không được giao cho con gái dù đó là con một nên việc con gái có đi làm dâu nơi khác cũng chẳng hề chi, rằng bí quyết sản xuất phải được chia thành nhiều phần nhỏ cho nhiều người tín cẩn trong thân tộc mà chỉ có sự tụ họp đủ các phần ấy lại mới có thể tạo nên được công thức sản phẩm bí truyền, hoặc rằng ông bà hương quản phải tôn trọng luật pháp triều đình để từ đó biết xem quốc gia cương thổ là trọng chứ không phải biến lãnh địa chật hẹp ao làng thành khu biệt lập nội bất xuất, ngoại bất nhập, v.v. Nghĩa là các nhượng bộ đều có thể được đề ra, dù cho có thể sự nhượng bộ có khi chỉ trên cơ sở phải lựa chọn giữa cái rất kém và cái kém nhất – mà trong trường hợp này thì cái rất kém là trọng nam khinh nữ phân biệt giới tính chẳng hạn, vẫn có thể thà chấp nhận còn hơn so với cái kém tàn tệ là việc hủy hoại cuộc đời và mạng sống đứa con gái trong truyện và những người con gái tương tự trong đời.

Câu truyện có thật về cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim ngày 27-02 vừa qua đi vào bế tắc dẫn đến cái kết quả quá thất vọng so với sự kỳ vọng đầy hy vọng và phấn khích của nhân loại, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ hai phía trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như thay vì chỉ là một văn bản soạn sẵn dài có hai trang in trên giấy khổ Letter quái gở mà trên thế giới hầu như chỉ có Mỹ dùng, có nội dung nêu lên những gì Bắc Hàn phải thực hiện như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, có thể kiểm chứng được, thì văn bản ấy lẽ ra nên là quyển tài liệu dày cộm vài trăm trang đề xuất một lịch trình cụ thể hai bên phải thực hiện theo một lộ trình tuần tự trước-sau kéo dài trong ít nhất hai năm cho những nội dung bao gồm vài ý chính như:

(a) các cuộc họp cấp chuyên viên cũng như cấp cao về các nội dung theo tuần tự thời gian và bao gồm những chi tiết chẳng hạn như các thời điểm cho cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp chuyên viên tại Bình Nhưỡng để trao nhau bản chi tiết các yêu cầu của mỗi bên, trình bày các lý do đòi hỏi phải có các yêu cầu đó;

(b) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại New York để trao nhau bản chi tiết các đòi hỏi yêu cầu giữ nguyên, các đòi hỏi nay đồng ý gỡ bỏ khỏi danh mục các yêu cầu, và các đòi hỏi nay đồng ý điều chỉnh nhằm giảm bớt các cách biệt giữa các yêu cầu của hai phía;

(c) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng trao đổi các ý kiến của lãnh đạo cao nhất của mỗi bên;

(d) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật tại Seoul nhằm tạo điều kiện cho Hàn-Nhật đề ra các cam kết cụ thể đối với các hỗ trợ xây dựng kinh tế dành cho Bắc Hàn, đồng thời nêu ra các vấn đề quan ngại mong Bắc Hàn giải đáp và giải tỏa;

(e) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA tại Seoul nhằm giải đáp các vấn đề quan ngại của mỗi bên, tạo điều kiện cho mỗi bên đề ra các cam kết cụ thể, nêu ra các yêu cầu cụ thể, giải đáp giải tỏa tại chỗ – nếu có thể – các quan ngại, thảo luận cách tiến hành thanh sát, nội dung thanh sát, giám sát thanh sát, báo cáo thanh sát, giải quyết kỹ thuật việc tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho công tác tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho việc giải tỏa mặt bằng và bồi thường người dân liền kề khu vực tiêu hủy, v.v.;

(f) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng về các dự án phát triển thuộc các lĩnh vực nào, nội dung các gói viện trợ/cứu trợ, và các hợp tác kinh tế cụ thể nào có thể thực hiện ngay thay vì chờ đến sau ký kết thông báo thượng đỉnh cũng như các hợp tác kinh tế cụ thể nào sẽ thực hiện ngay sau khi ký kết thỏa thuận thượng đỉnh;

(g) các hoạt động ngoại giao bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, v.v. tại Bình Nhưỡng;

(h) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA lần chót để rà soát tất cả các vấn đề và nội dung đã nhất trí thỏa thuận được;

(i) các biên soạn tài liệu họp thượng đỉnh, đàm phán về địa điểm họp thượng đỉnh và thời gian họp thượng đỉnh;

(j) họp thông qua bản nháp văn kiện họp thượng đỉnh cùng các vấn đề liên quan; và

(k) họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 3 tại Hà Nội, Việt Nam, ký kết thỏa thuận phi hạt nhân hóa hoàn toàn Bán Đảo Triều Tiên, trước sự chứng kiến của các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên Hợp Quốc, và IAEA.

Cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 2 tại Hà Nội đã thất bại. Nó đương nhiên thất bại. Tất nhiên các phát biểu trước cuộc họp ấy của các nhà phân tích chiến lược chính trị gạo cội của Việt Nam trên tivi đều chỉ dựa trên mong mõi mong muốn mong chờ mong đợi thiết tha của họ chứ không ở tầm cỡ phân tích chính trị chiến lược quốc tế. Tất cả các phát biểu đã thất bại, đơn giản vì không bất kỳ ai trong số họ nhớ đến một sự thật trần truồng (naked truth) rằng:

“Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành”.

Không một tổng thống nào của Mỹ đã từng dám nhanh chóng xóa một lịnh cấm vận ngay cả khi lịnh cấm vận đó là của vị tổng thống tiền nhiệm thuộc đảng đối thủ đối nghịch đối đầu.

Người ta có thể kỳ vọng vào những điều sau đây nơi Donald J. Trump:

(a) Donald J. Trump là vị tổng thống ưa chuộng tạo ra các tiền lệ cho hậu thế;

(b) Donald J. Trump không xem trọng các tổng thống tiền nhiệm, luôn khẳng định công khai chính Donald J. Trump mới là tổng thống vĩ đại nhất Hoa Kỳ (mà cho đến nay thì trong toàn nhân loại chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận xét như thế về Donald J. Trump trước cả khi Donald J. Trump tuyên bố như thê);

(c) Donald J. Trump không xem trọng các quyết định quan trọng nào đã có trước đó và do đó luôn muốn ký ban hành các quyết định thay thế để có dấu ấn của ông trong lịch sử nước Mỹ;

(d) cũng vì ba điều trên mà ắt Donald J. Trump có đủ thông minh để nhận ra rằng Mỹ không phải là “ông Hương Quản” của một cái “ao làng”, rằng “cấm vận” không phải là “hạt điều nướng chảy acid” gì ghê gớm mà thí dụ điển hình là chính “cấm vận” đã thúc đẩy Việt Nam trở thành vận động viên nhảy sào để vượt qua “cấm vận” trở nên giàu mạnh và hùng mạnh giữa sự bủa vây của kẻ thù Trung Quốc và hàng xóm ASEAN vốn thoát sinh từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO điên cuồng chống Cộng, và rằng “kẻ thù của Mỹ” không phải là “con gái của Mỹ” để Mỹ dí hạt điều nướng cháy vào đầu vú – nhất là khi “kẻ thù” ấy còn ghê gớm hơn cả Việt Nam vì có vũ khí nguyên tử không những đe dọa sự sinh tồn của các “đồng minh” quan trọng như Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn đe dọa cả an ninh quốc phòng của chính lục địa nơi có nước Mỹ; và

(e) cũng vì bốn điều trên mà tốt hơn hết nên có sự việc Donald J. Trump là tổng thống đầu tiên sẽ làm một việc chưa từng có tiền lệ: dỡ bỏ ngay một phần cái gọi là “lịnh cấm vận”, và nếu như cho đến nay vẫn làm ngơ “xù” luôn khoản “bồi thường chiến tranh” cho Việt Nam thì sẽ không dám không dành ngay cho Bắc Hàn những viện trợ cần thiết nhằm xây dựng một “lòng tin” … như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, vững bền, và có thể kiểm chứng được.

Chỉ khi lớp áo vỏ của hạt-điều-cấm-vận bị bóc tách thải loại, các hóa-chất-chính-trị có thể gây phỏng xót xa cho bên thực thi bị loại trừ, sự cấp bách hối hả cực đoan bị loại bỏ, sự lựa chọn điều rất xấu thay cho điều xấu tàn tệ được ưu tiên, và sự chấp nhận xem là hợp lý khi chọn ngay cả một hướng tiêu cực miễn sao nó ít trầm trọng hơn một điều tiêu cực tệ hại khác, thì hạt điều chính trị sẽ không thể làm bỏng cháy thịt da người ăn, và các bên của cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ không bị hụt hẫng trước một kết cuộc bất thành, tệ hại.

Cuối cùng, lẽ ra Mỹ đã phải nhận ra rằng một tập văn bản kế hoạch dày một gang tay kiểu Hoàng Hữu Phước diễn giải nêu trên nếu đã được soạn thảo ắt đã được vui vẻ ký kết tại Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Triều lần II tại Hà Nội thì đó cuối cùng vẫn sẽ đáp ứng đúng các ý đồ của Mỹ do thời gian hai năm là quá đủ để (a) sự thâm nhập thực địa của IAEA và Mỹ vào Bắc Hàn được tiến hành “từ đồ dần dà” hầu hoạt động công khai từ đó nắm đầy đủ nhất về các nguồn còn lại của mối đe dọa nguyên tử để có các biện pháp loại trừ hữu hiệu ngay khi bùng phát một hiện thực nguy cơ, và (b) sự tác động vào dân chúng Bắc Hàn trong tư duy về “tự do dân chủ” được thực hiện qua tiến trình ngụy trang của viện trợ Mỹ và giao lưu văn hóa cùng hoạt động thể thao với Mỹ từ đó có thể tạo nên tâm lý thiên Mỹ nơi dân chúng Bắc Hàn làm tiền đề cho sự trở nên bớt vững chắc hơn của chế độ Bắc Hàn. Đơn giản hơn: từ hai sự thật rằng một lịnh cấm vận không thể bị xóa ngay bởi một vĩ nhân kiệt xuất như Donald J. Trump luôn bị Quốc Hội ngu xuẩn phá hoại trói tay, và một sự tiền trao mà cháo không múc không thể là hành động bất cẩn của một vĩ nhân kiệt xuất như Kim Jong-Un được hun đúc từ tiền bối thông minh, thì một ký kết giản đơn kiểu mệnh lệnh ngắn gọn áp đặt lên Bắc Hàn tại Hà Nội nếu biến thành hiện thực mới là điều kỳ quái điên rồ nhất từng xảy ra trong cái nhân loại điên rồ do Thượng Đế nặn ra này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

Tham khảo:

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Nhà Giáo  25-11-2017

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm 22-02-2015

Vì Sao Hà Nội?

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-02-2018

Từ mấy tuần nay, kể cả khi Hà Nội được chọn làm nơi tổ chức cuộc họp thưởng đỉnh Trump-Kim, báo chí toàn quốc Việt Nam – bất kể báo giấy, báo hình, báo tiếng, hay báo mạng – đều tải đăng những bài viết lấy thông tin từ nước ngoài có tiêu đề mang tính giải thích như “Vì Sao Việt Nam Nên Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Việt Nam Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Hà Nội Được Chọn Làm…”. Toàn bộ các bài thông tin ấy đều dựa theo các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của báo chí nước ngoài, các giáo sư của viện nghiên cứu chiến lược hay các viện đại học nọ của nước ngoài, mà tất cả các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của họ đều xoay quanh 5 điểm gồm (a) “Hà Nội” nằm trong phạm vi bán kính bay của chuyên cơ của Chủ Tịch Kim, (b) “Hà Nội” có kinh nghiệm bảo vệ yếu nhân như chứng minh khi tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (c) “Hà Nội” có kinh nghiệm tổ chức các sự kiện trọng đại như chứng minh từ việc tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (d) “Hà Nội” từng có quá khứ căng thẳng với Mỹ nay đã hòa bình phát triển vượt bậc như một khuôn mẫu cho “Bình Nhưỡng”,và (e) “Hà Nội” có quan hệ ngoại giao tốt với cả “Oa-sinh-tơn” và “Bình Nhưỡng”.

Một lưu ý quan trọng từ các điểm trên là theo công thức thuần túy thuật ngữ báo chí Phương Tây thì Tên Thủ Đô một quốc gia = Chính quyền quốc gia của thủ đô đó hoặc dùng thay cho tên gọi của quốc gia đó. Từ đó có kiểu gọi như Washington = Chính quyền Mỹ hoặc Nước Mỹ, Bắc Kinh = Chính quyền Trung Quốc hoặc Nước Trung Quốc, Caracas = Chính quyền Venezuela hoặc Nước Venezuela, hay Moscow = Chính quyền Nga hoặc Nước Nga, v.v. Do vậy, từ “Hà Nội” trong các tiêu đề báo chí nêu trên chỉ mang ý nghĩa “Chính Phủ Việt Nam” hoặc “Nước Việt Nam”. Ngoài một ví von rằng “ Nội có Đại Sứ Quán Triều Tiên nên Chủ Tịch Kim yên tâm hơn” trong đó “Hà Nội” chính là “Thủ Đô Hà Nội” thì không bất kỳ ai từng thấy trên báo chí ở bất kỳ đâu dù trong hay ngoài nước có các phân tích cho nội dung “Vì Sao Thủ Đô Hà Nội Được Chọn Làm Nơi Họp Thượng Đỉnh Trump-Kim” cả.

Bài viết này như dưới đây, do đó, là bài đầu tiên và duy nhất trên thế giới đề ra những lý giải vì sao Thủ Đô Hà Nội của Việt Nam được chọn làm nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019, chứ không là Thành phố Đà Nẵng hay bất kỳ nơi nào khác trên toàn cõi Việt Nam.

Hai biện luận nhận xét đánh giá sau được đề ra bởi Thạc sĩ Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho câu hỏi trên:

1) Ở Việt Nam, chỉ có Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất của quyền lực trị quốc trung ương, hội đủ các điều kiện lịch sử và địa chính trị đặc biệt phục vụ đúng mục đích chiến lược của cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim. Lý giải thêm:

a– Tầm cỡ của hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn đang nắm giữ trong tay sự an nguy tồn vong của nhân loại không thể nào thích hợp cho một cuộc hội kiến tại một địa điểm thuần du lịch như Thành phố Đà Nẵng vốn hoàn toàn không có bất kỳ thế mạnh lịch sử & địa chính trị nào khác. Chưa kể, Đà Nẵng đã là nơi những đoàn quân Mỹ đầu tiên từ các chiến hạm hùng hổ đổ bộ vào Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh thảm khốc chống Việt Nam nên sẽ mang ngụ ý cực kỳ tiêu cực như một răn đe dành cho lãnh đạo Bắc Hàn về một cuộc đổ bộ tương tự để tấn công Bắc Hàn vốn hoàn toàn không bao giờ thích hợp cho nội dung của cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim. 

b– Cả hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn nhất thiết phải cùng bày tỏ sự tôn trọng kính trọng vị nguyên thủ Việt Nam qua việc cùng đến tận thủ đô nơi đặt tổng hành dinh của vị chủ nhà tối cao của Việt Nam để chứng minh sự có mặt của vị này rất cần thiết như một thực thể trung gian mang hội tụ đầy đủ sức mạnh lịch sử dân tộc vượt qua nghịch cảnh đối kháng, sức mạnh thời cuộc quốc tế thôi thúc những hòa hợp nhân nhượng mang tính toàn cục vì đại cuộc toàn cầu, và sức mạnh thần uy tự thân một nhà lãnh đạo tài ba có đóng góp cụ thể nhất vào tiến trình hòa giải lớn lao cho một kết quả cụ thể lớn lao cho cuộc họp thượng đỉnh này.

cHà Nội tượng trưng cho sự tôn trọng các bên và sự các bên được tôn trọng. Hình ảnh Chủ Tịch Nguyễn Phú Trọng đứng giữa Tổng Thống Donald Trump và Chủ Tịch Kim Jong-Un sẽ phát đi một thông điệp cực kỳ khúc chiết rõ rằng và tốt đẹp rằng thể chế chính trị Việt Nam được Mỹ tôn trọng, sự hợp tác phát triển kinh tế Việt-Mỹ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định, và vị thế Việt Nam cùng lãnh đạo Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới; nghĩa là thể chế chính trị Triều Tiên cũng sẽ được Mỹ tôn trọng tương tự, sự hợp tác phát triển kinh tế Triều-Mỹ sẽ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định tương tự, và vị thế Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên cũng sẽ được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới.

d– Thủ đô Hà Nội là một chứng nhân lịch sử bi tráng của sự tàn phá hủy diệt từ bom đạn của Mỹ trong chiến tranh mà Phố Khâm Thiên là một trong những khu vực điển hình bị san thành bình địa, và là chứng nhân của sự vươn mình phát triển hiện đại đầy tự hào và đáng ngưỡng mộ như hiện nay sau khi chiến tranh kết thúc. Ngụ ý sâu xa từ quá khứ của Thủ đô Hà Nội là: sự xung đột vũ trang trong một cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia thù địch đã làm tiêu hao biết bao nguồn nhân lực vô giá và nguồn tài lực khổng lồ lẽ ra đã có thể giúp cho hai đất nước nhanh chóng phát triển hùng mạnh hơn, cường thịnh hơn, hạnh phúc hơn. Và thay vì phải chờ đợi đến khi có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thương đau từ những hệ quả hoang tàn và hệ lụy đầy ám ảnh của chiến tranh, Tổng Thống Trump cùng Chủ Tịch Kim có thể nhìn thấy ở Thủ đô Hà Nội một tham khảo cụ thể cho thôi thúc đạt cho được một kết quả đồng thuận cụ thể với một quyết tâm chính trị cụ thể mà tất cả vì sự hùng mạnh, cường thịnh, và hạnh phúc cho hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, cho nhân dân hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, và cho nhân loại.    

2) Ở Việt Nam, với cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim, Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất cho vai trò trở thành địa điểm của các cuộc hòa đàm khu vực và thế giới như một thành phố toàn cầu (global city), một trung tâm ngoại giao thế giới (worldwide centre for diplomacy), và là một Geneva của Việt Nam (Vietnam Genève).

Vì vậy, những vấn đề mà Việt Nam nên tập trung thực hiện cho cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019 bao gồm:

1) An Ninh: nghiêm cấm sử dụng “máy bay không người lái” toàn khu vực các tỉnh Miền Bắc trong suốt thời gian Tổng Thống Trump và Chủ Tịch Kim đến Thủ đô Hà Nội. Bắn hạ tất cả các “máy bay không người lái” vi phạm lịnh cấm này.

2) Quốc Phòng: tổ chức phi đội chiến đấu cơ bảo vệ phi cơ của Chủ Tịch Kim, kiên quyết không cho phép chiến đấu cơ không quân Trung Quốc được vào không phận Việt Nam.

3) Đối Ngoại: nghiêm cấm báo chí Việt Nam sử dụng các thông tin từ bất kỳ hãng thông tấn nào bị Tổng Thống Trump liệt vào hạng Fake News tức Báo Chí Ba Que Xỏ Lá.

3) Nhân Sự: Sau cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim, Việt Nam đầu tư xây dựng đội ngũ những nhà đàm phán, những nhà hòa giải, để tích cực chủ động tham gia giải quyết các vấn đề xung đột thế giới, đưa các cuộc họp thượng đỉnh vì mục đích này đến Hà Nội, biến Thủ đô Hà Nội thành một Vietnam Genève.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Chính-trị Xã-hội Chủ-nghĩa Thiên Khổng, Nhà Nghiên-cứu Chiến-lược & Chính-sách Quốc-gia

Tham khảo:

A) Chủ Tịch Kim Jong-Un:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn 12-9-2017

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý  24-9-2017

B) Tổng Thống Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump  01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump  12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Chính Thống Việt Nam Lõa Lồ  10-4-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ  04-4-2017

Donald Trump Phơi Bày Gót Chân Achilles Của Giới Lãnh Đạo Chính Trị Việt Nam April 17, 2017

Donald Trump Phơi Bày Thân Phận Người Mỹ Gốc Việt Chống Việt  27-4-2017

Donald Trump Và Trần Đại Quang  12-5-2017

Tiếng Anh Trong Bức Thư Của Tổng Thống Donald Trump  30-5-2018

C) Bài Viết Của Tác Giả Khác:

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump  19-10-2017

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump 19-10-2017

Luật Đặc Khu – Phần 2

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp & Lập Hiến Khóa XIII Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

01-10-2018

 LDK2LuatDacKhu2 (1)

Dẫn Nhập Cho Phần 2

Một tên tiến sĩ óc bùn đại ngu khi trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ, một tờ báo chính thống đại đại ngu của Đảng Cộng Sản Việt Nam từng dám cả gan tấn công nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, đã nói về sự cố bạo loạn gây ra từ Luật Đặc Khu rằng: “Luật đặc biệt nhưng giải thích không rõ nên dân bức xúc”.

LuatDacKhu2 (2)

Tên đại ngu trên đang là nghị sĩ Khóa XIV Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh mà sự tồn tại của nó trong Quốc Hội đã trở nên khét tiếng qua các chi tiết như đã nêu tại Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tên đại ngu trên còn đang là cố vấn cho Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Khoan nói đến việc một tên đại bất tài đại vô dụng đại vô hạnh như nó mà tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng thì đất nước này chỉ có con đường duy nhất là suy vong suy kiệt suy tàn về kinh tế, chỉ cần qua lời phát biểu ngu đần của nó đã thấy lồ lộ bốn điều kinh khủng rằng:

(a) nó bất tài vô dụng không hề biết gì về những hiễm họa khôn lường trong cái gọi là Luật Đặc Khu để tư vấn cho Thủ Tướng các biện pháp phòng ngừa/hóa giải/tuyệt trừ mà cái khả năng thấu thị ấy thì bất kỳ ai thực sự thuộc tầm cỡ cố vấn nhà nước loại kinh bang tế thế dứt khoát phải sở hữu dưới dạng thiên phú tức có-không-do-thọ-giáo-từ-bất-kỳ-ai-khác, rằng

(b) nó bất tài vô dụng không hề phát biểu hoặc – như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay làm là – gởi thư cho lãnh đạo Quốc Hội để cảnh báo về những hậu quả khôn lường về an ninh quốc gia chắc chắn sẽ xảy ra nếu nó và đám người ngợm như nó không biết phải giúp Đảng và Quốc Hội giải thích về Luật Đặc Khu như thế nào cho người dân khỏi bức xúc, rằng

(c) nó dám xúc phạm toàn dân tộc khi ám chỉ rằng dân trí của dân tộc Việt Nam này kém đến độ thông tin về Luật Đặc Khu được in bằng tiếng Việt mà vì đọc vẫn không hiểu gì sất nên mới bức xúc làm loạn, và rằng

(d) nó dám bao che cho bọn lưu manh phản loạn bằng cách đổ tất tần tật lỗi cho sự “giải thích không rõ” mà toàn Đảng, toàn Chính Phủ, toàn Quốc Hội phải chịu tội về cái sự “giải thích không rõ” ấy.

Ở một xó xỉnh khác thì một tên thạc sĩ óc sình đại đần nghị sĩ Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh Khóa XIV – lại là Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng! – khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo chính thống khác đã tư vấn rằng “nên làm trước một đặc khu để rút kinh nghiệm”.

LuatDacKhu2 (3)

Tên nghị sĩ đại đần này phải chăng muốn ám chỉ rằng:

(a) cái đặc khu kinh tế đầy quan trọng vì phải thọ nhượng biết bao tài nguyên hữu hình tangible như cảnh quang thiên nhiên và tài nguyên vô hình intangible như toàn bộ hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia và tương lai bất định/vô định/phi định của cả dân tộc lại có thể cứ hoạt động mà không cần phải có bộ luật chính thức về đặc khu kinh tế hay sao, rằng

(b) cái đặc khu kinh tế mà muốn có nó thì Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải bỏ ra toàn bộ của cải kho tàng ngân khố quốc gia để xây dựng thành thiên đường vật chất tuyệt mỹ hạ giới trước để dâng cho nhà đầu tư tà tà bước vô hưởng thụ vui chơi trác táng cờ bạc đỉ điếm trong “99 năm” lại chỉ để rút kinh nghiệm sau “99 năm” – hoặc 98 năm – ư, và rằng

(c) nếu như sau “99 năm” có cuộc tụ họp đại hội nghị ở tòa nhà Quốc Hội đúc rút kinh nghiệm mà thấy thất bại thì Quốc Hội sẽ hùa nhau tuyên bố hủy bỏ kế hoạch thông qua Luật Đặc Khu rồi kéo nhau đến mộ phần những đứa nào trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, những đứa nào trong Chính Phủ, những đứa nào trong Quốc Hội mà cách đó “99 năm” – hay 98 năm – đã cổ súy cho cái Luật Đặc Khu, để chưởi cha vào bia mộ của chúng hoặc tổ chức đóng xiềng xích sắt quanh mộ của chúng – y như kiểu Nhà Nguyễn đã hành xử đối với mộ phần Lê Văn Duyệt – do có đại tội với nhân dân đã làm mất sạch của dân tộc toàn bộ kho tàng ngân khố quốc gia và đại tội chuyển hóa thời gian “99 năm” – hay 98 năm – thành rác thải ư?

Vì vậy, (a) trước sự ngu-muội-có-pa-tăng-cầu-chứng-tại-tòa-thương-mại-quốc-tế của hai tên nghị sĩ nêu trên của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng, (b) trước thực tế không bao giờ có chuyện người dân Việt Nam do dân trí thấp đã không hiểu cái dự án Luật Đặc Khu nó nói cái gì và đặc biệt chỗ nào mà Toàn Đảng/Toàn Chính Phủ/Toàn Quốc Hội khinh rẻ dân chúng chẳng thèm giải thích nên bức xúc vùng lên đốt phá, và (c) cũng như trong Phần 1 của bài Luật Đặc Khu có giải thích kỹ về mọi ngóc ngách của ngôn từ như một thói quen cố hữu – dù khi viết hay nói bằng tiếng Anh hay tiếng Việt – mang tính chuyên-cá-nghiệp personal professional signature  của Thầy Phù Thủy Ngôn Từ Hoàng Hữu Phước, Phần 2 này có tiêu đề “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” cũng không thể không cần đôi lời giải thích như dưới đây.

Ở đây, tiêu đề được đặt ở trên là “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” chứ hoàn toàn không phải và không đồng nghĩa với “Luật Đặc Khu Của Việt Nam” đơn giản vì tác giả bài viết này chưa hề cầm trong tay bản copy nào của cái dự thảo luật ấy để đọc xem nó tròn méo như thế nào. Ngay cả khi có toàn văn bản dự thảo ấy trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật của Giám Đốc Luật Sư Vũ Ngọc Dũng là vị tôi trước đây hay xướng họa thơ ca trên trang mạng doanh nhân Emotino thì tôi cũng không click vào để đọc xem cái dự thảo luật ấy nó tròn méo ra sao.

Lý do của “chưa hề cầm trong tay bản dự thảo ấy để đọc xem nó tròn méo ra sao” vì như đã nêu trong bài viết trước đây về chi phí hàng năm cao khủng khiếp của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh cho khâu in ấn các dự thảo dự án luật để gởi sâu rộng đến các cơ quan/ban/ngành/đoàn thể/địa phương để lấy ý kiến đóng góp sâu rộng của chuyên gia và các tầng lớp nhân dân cho từng dự thảo dự án luật rồi Văn Phòng tổng hợp chuyển tải cho Thường Vụ Quốc Hội nghiên cứu xem xét hoàn thiện dự án luật, thế nhưng kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII chưa bất kỳ một bản in nào như thế được Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh gởi đến Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cả – tất nhiên, bảo đảm các nghị sĩ khác của các khóa tiền nhiệm đều đã và đang nhận được các bản photocopy các dự thảo dự án luật ấy do các ông các bà nghị sĩ này là đảng viên chức sắc cao cấp của Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh trong khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là nghị sĩ ngoài Đảng.

Trên là chi tiết đơn giản nhất giải thích vì sao tiền của của nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã đổ sông đổ biển trong rất rất nhiều thập kỷ qua, mà bằng chứng hiển nhiên nhất là do cái dự thảo dự án Luật Đặc Khu ấy dù tiêu tốn tỷ tỷ tiền thuế của người dân để “lấy ý kiến” của người dân và các ban ngành đoàn thể Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn lồ lộ cái tiêu cực hiển nhiên của

(a) hao tốn điện/giấy/mực/môi sinh/bưu gửi,

(b) ắt có sự gia tăng thu nhập của cơ sở in ấn lợi ích gia đình – nếu như sự in ấn được thực hiện bên ngoài Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh,

(c) tất cả các ý kiến đóng góp của đại diện các ban/ngành/đoàn thể tại buổi họp ở Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh – tức những người dự họp đều có nhận phong bì tiền bồi dưỡng – đều vô bổ và vô ích vì té ra chả có gì ra hồn để “chuyển tải” ra chốn Nghị trường Quốc Hội cả, mà bằng chứng lồ lộ là cái nguyên nhân chính được chính mồm một tên nghị sĩ Khóa XIV của Thành Phố Hồ Chí Minh nêu lên trên báo nhằm lý giải cho sự thúc thủ (tức bó tay chịu trận) toàn diện – may mà  chưa thất thủ (tức bị lật đổ) – của Thành Phố Hồ Chí Minh và những tỉnh có “biểu tình” là do người dân chưa nắm rõ hay hiểu biết rõ về cái Luật Đặc Khu ấy;

(d) tất cả các bài vở thông tin trên báo chí về Luật Đặc Khu đã đều vô bổ và vô ích vì té ra ngay tại Thành Phố Hồ Chí Minh cực lớn và tại vài tỉnh có danh tiếng đã có nhũng cuộc “biểu tình” làm ô danh chính quyền, hóa ra báo chí Việt Nam chính thống tại Thành Phố Hồ Chí Minh rõ ràng hoàn toàn thất bại, hoàn toàn vô dụng, hoàn toàn là thứ vất sọt rác, không còn là vũ khí chính trị ra hồn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thông tin, giáo dục, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân của Thành Phố Hồ Chí Minh ủng hộ các quyết sách của Đảng, nên mới có chuyện càng đọc báo giấy và báo mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam người dân càng chẳng hiểu gì hết về Luật Đặc Khu và luật pháp nói chung nên mới bức xúc rồi tự do biểu tình tự do đốt phá.

Vì tất cả các vấn nạn trên, các nội dung bình thường sau xin khép nép được rón rén nêu ra đây trên trang blog bình dân này cho công luận đồng bào nghiền ngẫm cuộc vuông tròn của vấn đề Luật Đặc Khu tại Việt Nam, còn để vấn đề Luật Đặc Khu của Việt Nam tôi xin nhân đây giao nhiệm vụ cho các nhân-sĩ-trí-thức-tiến-sĩ-thạc-sĩ là đảng viên của Đảng đang hiện diện lúc nhúc trong các viện/cơ quan hoành tráng sang trọng của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải giải thích cho quốc dân đồng bào được rõ.

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

A- Thế Nào Là Đặc Khu Kinh Tế

1) Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Đặc Khu Kinh Tế thoát thai từ cụm từ tiếng Anh Special Economic Zone viết tắt là  SEZ.

Đặc Khu Kinh Tế (viết hoa, với chữ viết tắt là SEZ) ở trên là theo phạm trù từ nguyên học.

Còn theo thực tế ngữ nghĩa học thì đặc khu kinh tế tức khu kinh tế đặc biệt (viết thường, không viết tắt là SEZ) đã xuất hiện từ lâu, lan tràn, rộng khắp, và dưới các tên gọi quen thuộc khác nhau như Free Port FP, Free Zone FZ, Bonded Area, Foreign-Trade Zone hoặc Free Trade Zone FTZ, Free Economic Zone FEZ, Free Economic Territory FET, Export Processing Zone EPZ, Special Customs Control Area, Customs Zone, hay International Zone, v.v. và v.v. Trong rừng tên gọi trên, ắt đại đa số người Việt nhận ra ngay cái khu kinh tế đặc biệt mang tên Export Processing Zone EPZ (tức “khu chế xuất”) đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay. Trong khi đó, dù Hoa Kỳ có hơn 230 khu kinh tế đặc biệt chính với 400 khu kinh tế đặc biệt phụ mà khu đầu tiên xuất hiện năm 1937, họ vẫn cứ vui vẻ với tên gọi tiếng Anh Foreign-Trade Zone FTZ, tức Khu Ngoại Thương, với một phong cách triết nhân rằng con người hay dùng thời gian nhàn rỗi của kẻ thất nghiệp để đẻ ra các tên gọi mỹ miều, biến thiên từ manager sang general manager sang director sang managing director sang general director sang cái mới nhất là CEO cho oách rồi sang cái quái gì nữa thì cũng chỉ là tên gọi khác nhau của anh giám đốc, mà cái chính duy nhất là công ty có ra chi không, và tương tự, cái khu kinh tế đặc biệt có ra chi không chứ chẳng phải nó nên có chữ tiếng Anh viết tắt là gì, EPZ, FTZ, hay mới nhất là SEZ cho thật oách mà chỉ để lùng bùng lổ tai.

Thế là sau thời gian dài loài người tạo ra hết hình thức khu kinh tế đặc biệt này đến khu kinh tế đặc biệt kia, người Tàu không cam tâm bắt chước thiên hạ nên đã ra sức  kiếm tìm, thiết kế, rồi hình thành một hình thức mới khác của khu kinh tế đặc biệt và lần này họ đặt tên là Special Economic Zone SEZ mà tiếng Việt dịch sát nghĩa đen luôn thành Đặc Khu Kinh Tế với nội hàm chủ đạo rằng cả công việc kinh doanh và luật pháp kinh doanh đều khác biệt so với phần còn lại của quốc gia.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ là một khu vực trong một quốc gia, bản thân nó có những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt so với luật pháp chung/chính/chuẩn của chính quốc gia đó. Những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt như vậy nhằm – và chỉ nhằm – thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, với món quà ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng mang tên nhà đầu tư đương nhiên được giảm thuế rất rất nhiều và nhà đầu tư đương nhiên gia tăng thu nhập cùng lợi nhuận rất rất nhiều.

Sự khác biệt giữa các Đặc Khu Kinh Tế SEZ và các khu kinh tế đặc biệt là ở chỗ:

(a) Các khu kinh tế đặc biệt có trước các Đặc Khu Kinh Tế SEZ;

(b) Các khu kinh tế đặc biệt ở Việt Nam không được gọi là đặc khu kinh tế, mà được gọi theo cách dịch ra tiếng Việt các cụm từ tiếng Anh của EPZ trong tập thể các cụm FP, FZ, FTZ, FEZ, FET, EPZ, v.v.

(c) Các khu kinh tế đặc biệt cũng nhận được các ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng về thuế và lợi nhuận nhưng phải hoạt động bên trong tường rào của một khu đất riêng mà theo địa giới hành chính địa phương được gọi là “Khu”, trong khi các Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoạt đông tại một vùng mà theo địa chính trị trung ương quốc gia được gọi là “Đặc Khu”;

(d) “Khu” của các khu kinh tế đặc biệt có một “ban quản lý” do địa phương của thành phố hay tỉnh lập nên các “Khu” ấy cử đến làm công tác quản lý bình thường của các công chức cấp cao bình thường; trong khi Đặc Khu Kinh Tế SEZ có “ban lãnh đạo” với luật pháp riêng; và

(e) Các nhà đầu tư tại các khu kinh tế đặc biệt chỉ có những nghĩa vụ về trả tiền thuê đất, đóng thuế – kỳ dư, không có bất kỳ quyền hành nào khác vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp chung của nước sở tại; trong khi đó, các nhà đầu tư tại các Đặc Khu Kinh tế SEZ được hành xử quyền hạn vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp

2) Đặc Khu Kinh Tế SEZ Trên Thế Giới Có Giá Trị Gì?

(a) Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên:  Như đã sơ giải ở trên, Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên trên thế giới được cho là do Trung Quốc hình thành tại Shenzhen (Sen Gien – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Thâm Quyến” hoặc “Thẩm Quyến”) dưới thời Deng Xiaoping (Đen Xạo Bình – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Đặng Tiểu Bình”) vào những năm đầu của thập kỷ 1980. Mô thức này thành công vượt bậc và dần được lũ lượt noi theo bởi Ấn Độ năm 2007 và lan ra nhiều nước trên thế giới.

(b) Sự Bùng Nổ Của Các Đặc Khu Kinh Tế SEZTheo số liệu không đồng nhất về năm thống kê ở từng quốc gia thì đơn cử vài ba  nước sau có nhiều Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Tên Quốc Gia  –  Số Lượng Đặc Khu Kinh Tế SEZ  – Ghi Chú

Bangladesh   46

Cambodia     22

Ấn Độ          187    ngoài 634 SEZ đã được cấp giấy phép thành lập

Philippines   208

Ba Lan          44

Thái Lan       14

Ukraine         12

(c) Chủ Nhân Các Đặc Khu Kinh Tế SEZCần lưu ý rằng nhiều quốc gia khác như Bắc Hàn (Triều Tiên), Cuba, Congo,  Indonesia, Iran, Jamaica, Malaysia, Mexico, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Panama, Ai Cập, Hy Lạp, v.v. mỗi nước đều có từ 1 đến vài chục các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong đó đơn cử Uzbekistan và Zambia có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nhưng tất cả nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc vì không bất kỳ nhà đầu tư quốc tế nào khác chịu tìm đến “đầu tư” cả.

(d) Tên Gọi Đặc Khu Kinh Tế SEZ:  Cũng cần lưu ý rằng hơn 70 quốc gia khác (8 ở Châu Phi, 19 ở Châu Á, 29 ở Châu Âu, và 14 ở Châu Mỹ) trong đó có nhiều cường quốc và siêu cường quốc đơn cử như Hàn Quốc, Anh, Nga, và Hoa Kỳ đều không màng đến việc mở ra cái gọi là Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì họ xem những khu kinh tế đặc biệt đang có mà họ gọi là Khu Kinh Tế Tự Do/Khu Kinh Tế Ngoại Thương FEZ là đã quá đủ cho đại cuộc chấn hưng kinh tế nước nhà. Ngay cả một tiểu quốc như Bahamas nằm trong số các quốc gia giàu nhất Châu Mỹ cũng tự hào có Khu Kinh Tế Tự Do FEZ tên Freeport thành lập từ năm 1955 mà không hề đoái hoài đến việc bắt chước dựng xây Đặc Khu Kinh Tế SEZ mô hình Trung Quốc.

(e) Những Đặc Khu Kinh Tế SEZ Như Shenzhen Thành Công Như Shenzhen: Điều oái oăm là không bất kỳ ai có thể nêu tên một Đặc Khu Kinh Tế SEZ nào khác thành công tương tự cái SEZ tại Trung Quốc, trong số hơn 4300 Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động trên toàn cầu cả.

(f) Tuyên Bố Của Chuyên Gia Về Số Phận Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: Nhà tư vấn chính sách quốc gia Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước cả quyết rằng Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoàn toàn không có giá trị chung đồng nhất đồng dạng đồng phục trên toàn cầu. Mục A.2.b. ở trên chứng minh hùng hồn rằng số lượng nhiều trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở một quốc gia không hề làm quốc gia ấy cường thịnh mà trái lại dường như đẩy chính quốc gia đó vào nẽo đường vô định bấp bênh.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được đặt kỳ vọng sẽ cuốn hút đầu tư nước ngoài, phát triển kỹ nghệ nội địa, và thúc đẩy cải cách thể chế, mà tất cả nhằm đến sự tham gia tích cực vào nền kinh tế toàn cầu. Nhân tố hỗ trợ sự thành công của SEZ bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam có chấp nhận mô thức quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập áp dụng cho nhân vật được phân công quản lý một Đặc Khu Kinh Tế SEZ; và (ii) nếu không chấp nhận nguy cơ phát sinh nhà nước trong nhà nước/chính quyền trong chính quyên/lãnh thổ trong lãnh thổ từ thói quen táy máy tiêu cực lạm quyền của tuyệt đại đa số các cán bộ cao cấp một khi lọt thỏm vào môi trường quyền lực kinh tài, liệu Việt Nam sẽ hủy bỏ kế hoạch Đặc Khu Kinh Tế SEZ, biến đổi SEZ thành một mô thức mới với tên mới, hay chấp nhận sự tham vấn của chuyên gia Hoàng Hữu Phước như nêu ở phần D dưới đây về hình thức SEC?

B- Đảng Cộng Sản, Chính Phủ, Và Quốc Hội Việt Nam Đã Sai Ra Sao Đối Với Dự Án Luật “Đặc Khu Kinh Tế?

1) Sai Về Nhận Thức Thực Tế

Trước sự thành công của Trung Quốc khi đẻ ra mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ với cái tên Shenzhen chấn động thế giới kinh tài, hầu như quốc gia nào cũng cố mở ra cho mình ít nhất là một SEZ. Thậm chí có những quốc gia mở từ 200 SEZ trở lên ở nước mình, trong đó có Ấn Độ là nước đang sở hữu bom nguyên tử và Philippines quốc gia công giáo đang dưới quyền cai trị của vị tổng thống từng chửi “đù mẹ Đức Giáo Hoàng”.

Việc Việt Nam bắt chước mở SEZ sau thiên hạ cho thấy đã có sự cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phục vụ quốc gia đại sự chỉ có thể được tiến hành bởi những đấng anh tài trí hóa cao, trong khi Đảng chỉ có các viện nghiên cứu hoành tráng có nhiều bàn ghế cho nhiều người ngồi làm việc mà tất cả những người này không ai là bậc anh tài trí hóa cao, mà bằng chứng là Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội đã bị dắt mũi vào mớ lùng nhùng rối ren rối rắm rối tung rối loạn của dự án Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Thực tế Shenzhen thành công đã cung cấp 6 thực tế sau mà tiếc thay chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra được từ lâu:

a) Thực Tế 1: Chỉ Có Shenzhen Của Trung Quốc Thành Công

Trên blog Aspiration của nền Yahoo!3600 của Hoàng Hữu Phước cách nay 20 năm viết các tiểu luận kinh tế/chính trị/giáo dục/xã hội/kinh doanh chỉ bằng tiếng Anh, thì bài “People Say Chindia, I Say Vietnam” (tạm dịch: Quý Vị Cứ Khen Chindia! Tôi Khuyên Quý Vị Nếu Khôn Hãy Vào Việt Nam!) nêu rõ nhận định của Hoàng Hữu Phước rằng giới hàn lâm quản trị kinh doanh quốc tế Âu Mỹ đã hoàn toàn sai khi đánh giá Trung Quốc và Ấn Độ (China + India = Chindia) là hai thị trường duy nhất mà giới sản xuất tư bản toàn thế giới nên đổ xô vào ngay để chụp lấy thời cơ vàng lúc hai nước bảo thủ này trải thảm đỏ mở toang cửa mời đón đầu tư. Thời cơ vàng ấy là: sản xuất tại Chindia với ưu đãi về thuế quan thấp với lượng “khách hàng” sẵn có tại chỗ mỗi nơi có hàng tỷ người dân, khỏi phải đi bán ở đâu xa. Hoàng Hữu Phước đã biện giải rằng đó là nhận định ngu xuẩn của giới hàn lâm Âu Mỹ, vì rằng việc đổ xô vào Chindia sẽ dẫn đến hai nghịch lý và một kết luận sau:

(i) Ấn Độ thất bại và Âu Mỹ thất bại vì môi trường văn hóa đặc thù của Ấn tự thân chất chứa những bất an xung đột thường trực thường xuyên về chính trị/xã hội/tôn giáo/an ninh, chưa kể mưu lược của Ấn chỉ nhằm vào điều “sản xuất thay thế nhập khẩu” mà Hoàng Hữu Phước luôn cho là ngu đần tự hủy, còn tư thế của Ấn Độ luôn cho rằng ta đây giỏi giang uy trấn thiên hạ nên luôn xét nét các hoạt động của nhà đầu tư hải ngoại, cộng với việc lãnh đạo quốc gia hoặc không có thực quyền, hoặc có quyền hạn luôn bị các đảng đối lập chính trị thách thức gây cản trở hoặc dọa đe thay thế;

(ii) Trung Quốc thành công và Âu Mỹ thất bại vì thuận lợi tuyệt hảo của Trung Quốc là ở chỗ chính quyền Trung Quốc nắm toàn quyền lãnh đạo quốc gia, tạo thế ổn định tuyệt đối về chính trị mà Hoàng Hữu Phước khi trả lời phỏng vấn của Đài Châu Á Tự Do kể cả khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và gần đây là trả lời phỏng vấn của Đài Phố BolsaTV đã từng nêu rằng các nhà đầu tư Mỹ ưa chuộng sự ổn định chính trị, không có biểu tình bạo loạn ở Việt Nam và do đó sẽ giúp Việt Nam nắm bắt thông tin tình báo hầu đập tan các manh động của bọn chống Cộng nhằm gây rối loạn tại Việt Nam gây hại cho đại cuộc làm ăn của họ. Suy ra tương tự, Âu Mỹ hóa ra giúp sức cho Trung Quốc ổn định hơn, dần có uy hơn trên trường kinh tế thế giới một khi hàng hóa hàng hiệu Âu Mỹ tràn ra thế giới với dòng chữ Made in China vinh diệu. Còn mưu lược của Trung Quốc dễ thành công ở chỗ Trung Quốc trong tư thế hoàn toàn yếu về sản xuất công nghiệp và sản xuất tiêu dùng nên các nhà đầu tư tiến vào đã mất cảnh giác khi thấy mình được kính trọng và mình đến để truyền dạy kinh nghiệm của các bậc thầy. Các dự án đầu tư đều ở quy mô từ lớn đến rất lớn đã nhanh chóng đem đến các nhà đầu tư nước ngoài những nguy cơ loại một lần và mãi mãi tức mang hệ lụy kết liễu như bổng dưng giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu lực lượng lao động khổng lồ có tay nghề cao, còn việc ăn cắp công nghệ tại các nhà máy Âu Mỹ đang mọc lên hơn nấm giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều xuất hiện các tổ hợp sản xuất hoặc các công ty tư nhân nội địa tung ra các sản phẩm có thiết kế tương tự với quảng cáo chúng tốt hơn các sản phẩm của các nhà máy Âu Mỹ và ở mức giá hủy diệt; và khi đã mất khách hàng thì các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải bán tháo bán đổ nhà xưởng thiết bị chạy khỏi Trung Quốc khiến Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu các nhà máy hiện đại sản xuất hàng hóa tung ra tràn ngập ASEAN, vừa biến Trung Quốc chính thức thành quốc gia công nghiệp hàng hóa hiện đại lấn chiếm thị trường hàng hóa từng có của các hãng thương hiệu lớn của Âu Mỹ, vừa lũng đoạn khống chế thị trường hàng hóa các nước ASEAN, biến Trung Quốc chính thức thành cường quốc kinh tế,bước đầu cho đại cuộc biến đồng Nhân Dân Tệ thành đồng tiền tự do chuyển đổi trong giỏ tiền tệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB, ngang hàng với các Đồng Mỹ Kim, Đồng Đức Mã, Đồng Bảng Anh, Đồng Phật Lăng, và Đồng Yên Nhật, v.v.

(iii) Trung Quốc thành công và Việt Nam thất bại vì mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ là do Trung Quốc đề ra trên cơ sở quyền năng thực tế, quyền năng tiềm tàng, quyền lực thực tế, quyền lực tiềm tàng của riêng Trung Quốc trong thế lực tuyệt hảo của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, vào đúng thời điểm các siêu cường Âu Mỹ đột nhiên ngu xuẩn rơi vào bẫy của thiên định rằng phải ngu xuẩn để tạo đà cho sự vùng lên của Trung Quốc. Mô hình ấy hoàn toàn không phù hợp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Bài tập cho trận đấu của võ sĩ quyền anh hạng nặng hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp tham dự Grand Slam không bao giờ dành cho trẻ em mười tuổi tập quyền anh tại nhà văn hóa thiếu nhi Thành Phố Hồ Chí Minh hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp Challenger. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Trung Quốc phát triển đè bẹp thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Việt Nam mời mọc thêm các đầu tư nước ngoài mà “nước ngoài” ấy có cả Trung Quốc vốn sẽ đương nhiên chiếm lĩnh vị trí hoặc mạnh nhất hoặc độc tôn khi lấy thịt đè người đuổi xua toàn bộ các nhà đầu tư các nước khác ra khỏi các SEZ ấy của Việt Nam.

b) Thực Tế 2: Không Nên Có Các Đặc Khu Kinh Tế SEZ Ở Bất Kỳ Quốc Gia Nào Khác

Từ thực tế số 1 ở trên, có thể nói Đặc Khu Kinh Tế SEZ do Trung Quốc khai sinh chỉ có thể thành công tại Trung Quốc. Sự thành công tương tự Shenzhen có thể lặp lại tại tối đa từ một đến hai SEZ khác cũng tại Trung Quốc với điều kiện những SEZ này cũng xuất hiện hoặc cùng thời hoặc không có khoảng cách lớn về thời gian so với Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mạnh mẽ sắt máu như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mưu lược và có thế mạnh kinh tài tự thân như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có lượng khách hàng nội địa khổng lồ như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực đàm phán “ngang cơ” với các siêu cường trong giải quyết các vấn đề địa chính trị như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực trấn áp làm chủ khu vực về kinh tế như Trung Quốc đối với ASEAN, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như thiên hạ sau khi đọc các phân tích này của Hoàng Hữu Phước, sẽ hoặc không đoái hoài đến các SEZ ở Việt Nam hoặc sẽ tận dụng các ưu ái ưu đãi ưu tiên của Việt Nam để vào Việt Nam hưởng thụ, hưởng lợi, rửa tiền, bần cùng hóa Việt Nam, thay đổi chế độ Việt Nam trước thời điểm “99 năm” chỉ bằng cách rời bỏ các SEZ sau vài năm nghĩa là khiến Việt Nam sụp đổ về kinh tế do mất trắng toàn bộ ngân khố ngân sách quốc gia đã bỏ vào đầu tư hạ tầng cho các SEZ và phải chịu khối nợ công khổng lồ của quốc gia, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ, biến Việt Nam con nợ thành một thứ “chư hầu” hoặc của chủ nợ Mỹ hoặc của chủ nợ Tàu hoặc của bất kỳ ai – kể cả Cambodia – mà đã từ lâu họ không còn quan tâm đến việc mở các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội Việt Nam nay trước các thấu thị của Hoàng Hữu Phước có sẽ làm một việc duy nhất đúng là quẳng dự án Luật Đặc Khu vào sọt rác hay không?

c) Thực Tế 3: Shenzhen Thành Công Vì Không Có 4.0

Cuối cùng, song lại có tính thời sự bậc nhất: Shenzhen thành công nhờ là một SEZ của các tập trung đầu tư vào những phạm vi công nghệ kỹ thuật của thời đại cách xa thời 4.0. Cần lưu ý rằng không phải cứ do Đen Xạo Bình Deng Xiaoping chi đạo là các Đặc Khu Kinh Tế SEZ cùng thời và cùng khu vực với Shenzhen như Zhuhai, Shantou và Xiamen tức ven bờ biển phía Nam gần Hong Kong và Macao, cũng thành công tương tự Shenzhen.

Từ một làng chài với dân số chưa đến 30.000 người, Shenzhen trở thành một thành phố với 12 triệu dân theo số liệu năm 2015. Như vậy, dân số gia tăng đáp ứng nhu cầu lao động tại các cơ sở sản xuất chế tác y phục, đồng hồ, nữ trang, thiết bị điện tử, kim khí điện máy, v.v., tức những ngành có nhu cầu từ cao đến rất cao về lực lượng lao động.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) những ngành Việt Nam đang tưởng tượng ra rằng các nhà đầu tư sẽ mang vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam là gì, có thuộc loại cần nhiều lao động không; (ii) có cần phải dành cho họ sự ưu đãi kéo dài “99 năm” cho các ngành nghề đó không; và (iii) nếu các Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam thành công thành công đại thành công thì quy mô hạ tầng của Bắc Vân Phong, Vân Đồn, và Phú Quốc sẽ cơi nới lấn ra như thế nào khi dân số “đất lành chim đậu” tăng lên mỗi nơi hàng chục triệu con người như Shenzhen? Trung Quốc phát triển SEZ để biến làng chài thành thành phố vĩ đại tầm cỡ trung tâm tài chính thế giới. Việt Nam xây dựng SEZ để có các sòng bạc và động đĩ phục vụ 4.0 chăng?

d) Thực Tế 4: Shenzhen Không Phải Là Thiên Đường

Shenzhen đang đối mặt với những vấn nạn nhức nhối về nhân mãn với 9 triệu dân lao động nhập cư, và nhiều dân ngụ cư bất hợp pháp, tệ nạn tham nhũng, tình trạng ô nhiễm môi sinh, sự mọc lên các khu ổ chuột, điều kiện lao động tệ hại, và sự bất lực của chính quyền trong xử lý các vấn nạn này. Thậm chí, cách xử lý bao gồm cả biện pháp ngăn chặn gia tăng nhập cư bằng cách bãi bỏ các cắt giảm thuế từ năm 2000 khiến từ dạo ấy đã không còn tồn tại khái niệm hay ý niệm gì về Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Shenzhen. Với một Trung Quốc phát triển kinh tế toàn diện và đa dạng, các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã không còn có ý nghĩa gì trong thực tế.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam phải chăng đang quan tâm đến cái thứ mà ngoài Shenzhen chưa có bất kỳ SEZ nào khác trên toàn thế giới thành công tương tự, và (ii) Việt Nam với những nhà lãnh đạo tài ba như của Thành Phố Hồ Chí Minh bó tay thúc thủ – không phải thất thủ – trước kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch nhưng sẽ đột biến trở thành nhà lãnh đạo “mĩu” tài ba thực thụ nếu được Đảng treo trước mặt miếng mỡ to tướng mang dòng chữ SEZ đảm bảo cái vấn nạn muôn đời của kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch sẽ là chuyện lạ của ai khác chứ không phải của lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ?

e) Thực Tế 5: Shenzhen Thành Công Vì Là Đối Trọng Ý Chí Quyền Lực Của Trung Quốc Với Hong Kong

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được khai sinh tại Trung Quốc dựa theo chiến lược tạo nên một đối trọng mang tính ý chí quyền lực đầy ngạo nghễ đối với Hong Kong, làm hạ phẩm giá của Vương Quốc Anh và thế giới tư bản phương Tây khi cận kề thời diểm giao trả “nhượng địa” Hong Kong cho Trung Quốc. Ý chí quyền lực không bao giờ là vũ khí của bất kỳ ai. Lịch sử nhân loại đã chứng minh ý chí quyền lực chỉ có nơi những nhà độc tài bẩm sinh. Thế thì, ý chí của Việt Nam là gì, và liệu đó có phải là xây dựng Phú Quốc thành một đối trọng với Singapore? Thế còn Vân Đồn là đối trọng với ai, và Bắc Vân Phong là đối trọng với ai? Thiếu vắng một đối trọng cụ thể, không thể có được chất xúc tác cho manh nha một thành công,như đã được minh chứng từ 4.300 SEZ trên toàn thế giới, mà số lượng mới nhất có thể là 4.303 nếu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc được hình thành và xuất hiện trong danh sách cập nhật của thế giới.

f) Thực Tế 6: Shenzhen Thành Công Nhờ Sức Mạnh Nội Tại Của Trung Quốc

Với sức mạnh nội tại tổng hợp của kinh tài, kế hoạch, quyết tâm chính trị, nguồn nhân lực lao động, dư địa tài nguyên, và ý chí khởi nghiệp, Shenzhen đã ươm nghén thành công các đại công ty lừng danh thế giới như Shenzhen Electronics Group SEG, Beijing Genomics Institute BGI, Build Your Dreams BYD, Zhongxing New Telecommunications Equipment ZTE, Huawei, và Tencent, v.v. Có thời điểm 70% tổng lượng điện thoại thông minh toàn thế giới được sản xuất tại các Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Trung Quốc và 80% điện thoại thông minh toàn Trung Quốc xuất phát từ Shenzhen.

Đặc biệt, Shenzhen thành công do Trung Quốc sẵn có vô số các cơ sở cung ứng công nghiệp phụ trợ khiến những nhà đầu tư vào Shenzhen không bao giờ phải tự thân vận động kiếm tìm hay nhập khẩu nhiêu khê.

Cần lưu ý rằng Shenzhen thành công hoàn toàn không có nghĩa tất cả các mục tiêu đều đã đạt được. Những thất bại của Shenzhen đã được che đậy bằng (i) tài lực dồi dào khổng lồ của Trung Quốc, và (ii) hình ảnh “phần cứng” hoành tráng của cơ sở hạ tâng. Thất bại của Shenzhen bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – không bảo đảm có công việc tốt, không bảo đảm có lương cao, không bảo đảm có phát triển công nghiệp hiện đại; chưa kể phát sinh vấn nạn quản lý kém đầy tiêu cực.

Tất cả làm bật một chân lý hiển nhiên rằng việc bỏ tiền khổng lồ đầu tư vào hạ tầng chuẩn bị cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thu thuế cực ít từ việc hạ mức thuế thấp nhất trong thời gian cực dài kèm các ân hạn, và hy sinh quyền lợi/phúc lợi của người lao động do luật pháp chung của quốc gia không thể can thiệp vào hoạt động của nhà đầu tư trong các SEZ, v.v., khiến gia tăng khủng khiếp nợ công, và việc kinh tế địa phương cùng kinh tế quốc gia phát triển nhờ có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ chỉ là ảo tưởng để dối người và lừa mỵ nhân dân.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) sức mạnh nội tại của Việt Nam là gì, (ii) các doanh chủ đại gia Việt Nam có vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Việt Nam hay Việt Nam chỉ chầu chờ các nhà đầu tư nước ngoài bất kể đó là nhà đầu tư nhỏ hay nhà đầu tư lớn của Tàu, và (iii) liệu các SEZ Việt Nam sẽ ươm nghén thành công các đại công ty Việt Nam lừng danh thế giới tương tự kỳ công của Shenzhen?

2) Sai Về Nhân Lực

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hoàn toàn không có bất kỳ ai là nhân sự phù hợp cho các chức danh quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Từ khi Việt Nam thống nhất 1975 đến nay, Đảng chưa hề công bố thành quả xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân và trong nội bộ cán bộ Đảng/Đoàn. Chưa hề có bất kỳ ai được vinh danh và tưởng thưởng. Tất cả các lãnh đạo, tân lãnh đạo, ứng viên nghị viện, v.v., đều đột nhiên xuất hiện với bản lý lịch chỉ ghi những chức vụ đã kinh qua mà đạo đức cao nhất chỉ được thể hiện bằng con số bao nhiêu năm tuổi Đảng trên chiếc huy hiệu mà thôi.

Con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân tất nhiên phải trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình chứ không trên cơ sở hủy phá toàn bô nền tảng đạo đức truyền thống gia đình để xây dựng con người hoàn toàn mới hoàn toàn “thoát ly” có đặc điểm lạ xa với và phỉ nhổ vào nền tảng đạo đức truyền thống gia đình vốn bao gồm các thứ đạo đức đạo lý đạo nghĩa của lòng hiếu thảo, sự hiếu thuận, đức thanh liêm, tâm hướng chân thiện mỹ và bi trí dũng. Những con người trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình ấy tiếp nhận và công nhận định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa để nâng lên tầm vóc cụ thể vì nước vì dân, và đó là con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề có được dù chỉ một người, bất kể đó là trong xã hội hay trong Đảng/Đoàn/Hội/Đội hay Mặt Trận.

Đảng đã không xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tuyệt đối ưu việt của chủ nghĩa xã hội dân tộc thiên Khổng do Hoàng Hữu Phước khởi xướng và cổ súy. Thiếu vắng yêu tố cốt lõi của bản sắc hiền nhân, con người do Đảng tuyên giáo từ các đội hậu bị của Đảng đã có những lỗ hổng và chỗ khuyết nên thiếu vắng  lòng ái quốc, tính liêm khiết kiên trung, đạo nghĩa vì nước vì dân, cùng trí dũng chính đạo, dẫn đến tất cả các Đảng viên chức sắc cao cấp của Thành Phố Hồ Chí Minh là hoặc tội phạm hoặc quân bất tài vô dụng vô tâm bó tay để mặc cho Thành Phố Hồ Chí Minh lụn bại suy đồi dưới sức nặng thống khổ của người dân nạn nhân của các mưu đồ chiếm đoạt đất đai từ những dự án chiến lược cấp quốc gia, mà ngày nay giới lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ giỏi mỗi việc ăn nói hùng hồn về chính quyền đô thị, về thành phố thông minh, về cái bùa chú huyễn hoặc mông muội bốn chấm không, về tự chủ tài chính, về xây dựng các thành phố trong Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v., tức toàn những thứ vô dụng không bao giờ biến Thành Phố Hồ Chí Minh thành một Tân Singapore, đơn giản vì Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ có toàn những cán bộ Đảng bất tài vô đức, hoàn toàn thiếu vắng cán bộ thuộc đẳng cấp tài đức vẹn toàn.

Đã không thể có nhân lực tài đức vẹn toàn, có sự giáo dục của gia đình (tức được cha mẹ hiền đức giáo dục) và có giáo dục gia đình (tức giáo dục con cái nên người trong gia đình mình), có kinh qua kinh nghiệm duy nhất đúng để rèn luyện trở thành lãnh đạo quốc gia trong tư thế là chiếc chìa khóa của cường thịnh của quốc gia, thì Đảng không thể bổ nhiệm bất kỳ nhân lực nào vào vị trí lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ – nếu chúng vẫn được Đảng cho hình thành.

Và nếu Đảng vẫn bất chấp lời khuyên thấu thị luôn luôn chính xác của Hoàng Hữu Phước, vẫn cứ cho thực hiện việc thành lập các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, Đảng nhất thiết phải công bố danh sách nhân lực dự kiến cho các chức vụ quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ để lấy ý kiến của người dân nhằm phát hiện những chi tiết tiêu cực từng nảy sinh nhưng đã bị dấu nhẹm trong quá trình học tập và công tác của mỗi nhân sự, và đối với nhân sự Đảng buộc phải lựa chọn do không thể có nguồn khá hơn thì nhân sự ấy nhất thiết phải được Hoàng Hữu Phước phỏng vấn và trực tiếp làm công tác tuyên giáo, thứ công tác đã được thực tế chứng minh là thất bại cả ở cơ quan tuyên giáo của Đảng và ở Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Các tổng công ty nhà nước, các ngân hàng của nhà nước, các cơ quan hành chính công quyền đều đã thất bại hoàn toàn với bao nhân sự cấp cao của Đảng đào thoát, bị bắt giam, bị kết án, v.v.

Sự thật ấy không được phép xảy ra với nhân sự lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì đã có lợi ích từ sự rút những kinh nghiệm nhãn tiền ngay trong thập kỷ này vốn có thể giúp chặn ngăn hữu hiệu sự bần cùng hóa quốc dân từ sự sụp đổ các dự án lớn của quốc gia này nếu đặt vào tay những phiên bản điếm nhục mang tên Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, Vũ Đình Duy, v.v., cùng những con tương cận.

3) Sai Về Ngôn Ngữ

Thật là rồ dại khi Quốc Hội nhũn xèo không tát vào mồm thằng nghị sĩ đần độn nào đã phát âm trọn vành rõ chữ cụm từ “nhượng địa”. Việc sử dụng cụm từ ấy cho thấy hoặc (a) thằng ấy dốt tiếng Việt, hoặc (b) thằng ấy dốt Sử, hoặc (c) thằng ấy không hề nhận ra mức độ nhạy cảm của ngôn từ hắn sử sụng tác động lên tình hình an ninh chung – thậm chí bản thân có bị Hoàng Hữu Phước mắng là “ngu hơn chó” thì hắn ắt cũng đực mặt ra cười ngu dại, hoặc (d) thằng ấy cố tình mớm cho bọn chống Việt/Đảng/Chính Phủ cơ hội bằng vàng chống đối cụ thể làm lung lay tận gốc rể chế độ làm nhục chế độ sẽ tiến tới lật đổ chế độ sau khi chứng kiến lực lượng an ninh vũ trang vất bỏ quân trang quân phục vũ khí run sợ đầu hàng trước đám người đang hùng hổ xuống đường đốt phá, hoặc (e) thằng ấy hội đủ cả 4 nội dung trên.

Ngoài ra, việc bày ra nội dung “99 năm” trong dự thảo để chứng minh Việt Nam quá ưu ái ưu đãi ưu tiên đối với các nhà đầu tư đã cho thấy Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV  đã lâm vào tình trạng hoàn toàn thiếu vắng một nghị sĩ có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Dộ/Người Dân/Dân Tộc để chặn ngăn trên hội trường tất cả những gì thuộc vô tình ngu xuẩn hoặc cố ý gian tà của bất kỳ nghị sĩ nào khác.

Thêm vào đó, việc đề ra cụm từ “99 năm” ngay cả khi chẳng bị lợi dụng để lái sang nội hàm “nhượng địa” cũng cho thấy trình độ làm luật của các nghị sĩ Khóa XIV đang có vấn đề nghiêm trọng do rời xa các thực tế sau:

(a) Thời gian dài cỡ 99 năm là cách nhà quê nhất để thể hiện sự ưu ái ưu đãi ưu tiên của một quốc sách;

(b) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy tư duy hồng hoang lạc hậu trước tình hình phát triển công nghệ toàn cầu;

(c) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy hoặc sự ngu khờ hoặc sự thơ ngây hoặc sự giả nai của các nhà làm luật cố tình lờ đi sự thật là tính theo xác xuất-thống kê thì vẫn có khả năng hoặc (i) các SEZ Việt Nam sẽ vắng bóng các nhà đầu tư, hoặc (ii) các SEZ Việt Nam chỉ có các nhà đầu tư Trung Quốc tức những thế lực hùng mạnh nhất thê giới về vốn đầu tư; mà nếu rơi vào trường hợp thứ nhì thì điều gì sẽ xảy ra sau một thế kỷ các nhà đầu tư ấy của Trung Quốc ăn nằm dầm dề tại các SEZ với sự sinh sôi nảy nở các hậu duệ công dân Việt Nam lai Tàu hình thành những tân địa phương mang bản sắc phi Việt nơi những địa danh mà thế kỷ trước đó còn thuần Việt;

(d) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam, cùng tận dụng lợi thế tiếp giáp hai “nhượng địa” Hong Kong và Macao theo cách tay đua xe đạp chuyên nghiệp luôn núp bóng tay đua phía trước để tận dụng lợi thế quán tính tự nhiên lao lên với ít sức lực và ít sức cản phá hơn, thì Việt Nam lại theo lối tư duy cũ rích muốn mỗi khu vực Bắc – Trung – Nam mỗi nơi có một SEZ như Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc để làm lực đẩy cho toàn khu vực. Cách của Việt Nam sẽ thất bại vì không tạo thế núp gió đua xe đạp cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Đen Xạo Bình quan tâm đến việc bắt buộc phải có ít nhất một SEZ thành công mỹ mãn, tương tự quan tâm đến việc đội đua xe đạp Trung Quốc phải có 4 cua-rơ mà nhiệm vụ của 3 trong số đó phải bảo đảm 1 còn lại sẽ đoạt cúp – và Shenzhen đã thành công. Còn lãnh đạo Việt Nam – theo vấn kế của các nhà tư vấn thuộc đẳng cấp bị Hoàng Hữu Phước khinh miệt – lại quan tâm đến việc cử 3 cua-rơ mỗi người tham dự một giải đua xe đạp khác nhau và mạnh ai nấy hãy tự thân vận động để may ra có ai đó sẽ đoạt được cúp.

(e) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam hoàn toàn tránh xa vùng biển Đông Hải (East China Sea – Biển Hoa Đông) và Hoàng Hải (Yellow Sea) luôn căng thẳng với Nhật Bản và Hàn Quốc, thì Việt Nam lại tự nguyện đưa đầu vào tử địa. Khi căng thẳng ở Biển Đông (tức South China Sea – Biển Hoa Nam) trở thành đỉnh điểm xung đột vũ trang, Vân Đồn có nguy cơ bị Trung Quốc xóa sổ chỉ sau bảy phút tấn công, Bắc Vân Phong có nguy cơ bị san thành bình địa từ sự tấn công của hỏa tiễn và bom đạn Trung Quốc từ các chiến hạm/hàng không mẫu hạm/trận địa pháo phía các hải đảo Trung Quốc đã chiếm đóng thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, còn Phú Quốc vẫn còn đó chứng tích lịch sử bi tráng của sự xâm lược từ Kampuchea năm 1975 nghĩa là Phú Quốc vẫn thuộc loại vulnerable tức phơi mình trần trụi trước hiểm họa xâm lược. Shenzhen thành công nhờ núp gió và hoàn toàn không có nguy cơ bị tác động hủy phá từ bên ngoài.

99 năm”, do đó, là một điểm sai nghiêm trọng trong sử dụng ngôn từ lập pháp của Quốc Hội Khóa XIV.

4) Sai Về Tổ Chức & Quy Trình Luật Hóa

Quy trình luật hóa tức quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam để tự động đưa ra ấn nút thông qua một dự án luật cho thấy đã không có sự phân biệt về tầm quan trọng khác nhau của từng dự án luật.

Quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam đã hoàn toàn bị phá sản đối với dự án “Luật Đặc Khu”.

Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV nay đã lâm vào tình trạng hoàn toàn tê liệt do thiếu vắng vị nghị sĩ duy nhất có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Độ/Người Dân/Dân Tộc để đứng lên yêu cầu Quốc Hội cẩn trọng tuyệt đối khi xem xét dự án Luật Đặc Khu.

5) Sai Về Quy Trình Chuyên Nghiệp

Quốc Hội Việt Nam cũng đã sai về quy trình chuyên nghiệp.

Khi một lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng, dứt khoát Việt Nam phải cậy nhờ đến sự chữa trị của chuyên gia, bất luận chuyên gia ấy là người nước ngoài và thuộc quốc gia thù địch. Lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng mà phải yêu cầu được chữa trị bỡi một y sĩ đảng viên Cộng Sản do Đảng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, và do Đảng dùng tiền thuế của dân để cử sang nước ngoài học tập, và đang là lãnh đạo cao cấp một bịnh viện hàng đầu của Nhà nước tại Việt Nam, thì đó không là quy trình chuyên nghiệp.

Quốc Hội Việt Nam là cơ quan lập pháp, nhưng không vì vậy mà cho rằng các nhà lập pháp đều biết rõ tất cả các vấn đề có liên quan đến mỗi dự án luât. Do vậy, việc tham vấn ý kiến chuyên gia chính là quy trình chuyên nghiệp của công tác lập pháp. Song, vấn nạn của Việt Nam gồm (a) tất cả các cơ quan của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đều cho rằng đã có sẵn lực lượng “chuyên gia” lúc nhúc dưới trướng bất kể sự thật là các “chuyên gia” này là đảng viên và không hề được mời mọc phỏng vấn lựa chọn từ những nhân vật nổi tiếng mà nhân dân biết tiếng, và (b) Quốc Hội Việt Nam đã mời một doanh nhân luật gia nước ngoài đến báo cáo với Thường Vụ Quốc Hội về Hiệp Định TPP bất kể sự thật rằng chính doanh nhân luật gia nước ngoài ấy đã thỉnh mời nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đến phát biểu bằng tiếng Anh về Hiệp Định TPP tại buổi họp mặt với 100 doanh chủ Âu Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Không thỉnh mời tham vấn của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về dự thảo Luật Đặc Khu, Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam phải chịu liên đới trách nhiệm về các biến động xã hội làm nhục quốc thể trong thời gian vừa qua, có liên quan đến dự thảo Luật Đặc Khu ấy.

6) Vấn Đề Trách Nhiệm Đối Với Các Sai Lầm Nghiêm Trọng Của  Đảng, Quốc Hội, Và Chính Phủ

Khi việc đưa ra dự án Luật Đặc Khu với quá nhiều những sai lầm sai sót sai quấy cực kỳ nghiêm trọng tạo thời cơ cho phía chống đối ra tay chống phá quốc gia, đặt quốc gia vào tình thế bị dọa đe với nguy cơ cái đặc tính cố hữu lẽ ra vững như bàn thạch không thể bị thách đố thách thức tách rời khỏi chế độ nay lại lung lay tận gốc rể qua nỗi nhục lực lượng vũ trang an ninh quốc gia vất bỏ quân trang quân dụng quân phục đầy sân, tái lập hình ảnh quân trang quân dụng quân phục của “Ngụy Quân” vất bỏ đầy đường;

Thì việc duy nhất phải làm một cách đúng đắn là phải vất bỏ dự án Luật Đặc Khu;

Còn nếu như luôn kiên định duy ý chí rằng sức mạnh của Trung Ương Đảng đủ lấp biển dời non bách chiến bách thắng để đi đến quyết định lao tới trước, bất chấp lời răn thấu thị của tác giả bài viết này, thành lập cho bằng được ba Đặc Khu Kinh Tế SEZ – hoặc một Đặc Khu Kinh Tế SEZ theo gợi ý rút kinh nghiệm của thằng nghị sĩ đần độn cốt luật sư của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh như đã dẫn ở đầu bài – thì phải bảo đảm đáp ứng các quy định sau:

a) Kê khai chi tiết và đầy đủ toàn bộ tài sản vật chất của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ), của các thành viên gia đình của họ, để làm cơ sở sau này có thể khẳng định rằng tài sản kếch sù họ có được là chỉ từ tiền lương cao ngất của các Toàn Quyền/Sứ Quân;

b) Cấm xuất cảnh trong suốt thời gian tại vị của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ) các vị ấy và tất cả các thành viên gia đình của họ – kể cả cấm xuất cảnh du học, để bảo đảm hai điều rằng Toàn Quyền/Sứ Quân (i) chỉ có mỗi chức năng quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ chứ không tận dụng được thời cơ làm một nhà nước trong nhà nước để gây ra nguy cơ tự phong chức năng ngoại giao cấp nhà nước với nước ngoài tại nước ngoài, và (ii) không tận dụng được thời cơ quyền lực để gây ra nguy cơ tự do đào thoát khỏi Việt Nam trường hợp gây ra điều tệ hại cho Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

c) Cứ mỗi Đặc Khu Kinh Tế SEZ phải có văn bản ghi rõ và đầy đủ tên những ai trong Trung Ương Đảng (tất nhiên các vị trong Bộ Chính Trị đều thuộc Trung Ương Đảng) biểu quyết thông qua quyết định thành lập Đặc Khu Kinh Tế SEZ ấy. Việc này nhằm văn minh hóa phương thức quy trách nhiệm, để vừa (i) chấm dứt sự ẩn nấp của những kẻ bất tài vô hạnh trong áo choàng trách nhiệm tập thể chỉ làm Đảng bị ô danh, vừa (ii) thuận lợi hóa quy trình xử tội theo hướng tự động tự nhiên bất luận vị trí quyền lực của kẻ đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm hay ký chấp nhận sự bổ nhiệm phân công.

d) Ngay cả khi một Đặc Khu Kinh Tế SEZ vào cuối niên hạn “99 năm” của nó xảy ra điều tệ hại, việc luận tội những kẻ trong Đảng đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm “99 năm” trước đó vẫn phải được tiến hành để chính thức ghi rõ vào sử sách kẻ hay những kẻ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với đại cuộc quốc gia, từ đó tước bỏ các danh hiệu danh dự danh xưng đã từng ban, thu hồi các quyền lợi truyền lưu hậu thế mà con cháu của họ được hưởng trong thời gian dài từ ngân khố quốc gia tức tiền thuế quốc dân.

e) Sửa đổi Luật Hình Sự (i) xử tử hình những Toàn Quyền/Sứ Quân nào phạm các tội tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ như biển thủ tài sản Đặc Khu Kinh Tế SEZ, tham nhũng từ quyền lực quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ, đào thoát thất bại, v.v.; và (ii) tịch thu tài sản của các Toàn Quyền/Sứ Quân bị án tử hình và của tất cả các thành viên gia đình của họ. Nội dung tịch thu tài sản và áp án phạt tiền có thể theo các đề xuất năm 2015 trong các bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự”Diệt Tham Nhũng.

C- Khẳng Định Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước Về Số Phận Của Tất Cả Các Đặc Khu Kinh Tế ở Việt Nam

Tất cả các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nếu được xây dựng ở Việt Nam sẽ hoàn toàn thất bại. Đây là một nhận định mang tính thấu thị chính xác và khẳng định tuyệt đối đúng của Hoàng Hữu Phước thuộc phạm trù toàn diện, có thể kiểm chứng được, và không thể đảo ngược. Thấu thị này dựa trên các luận cứ khoa học chính xác như đã nêu ở trên và như sẽ nêu ở phần tiếp theo dưới đây.

D- Tư Vấn Cộng Sản Chủ Nghĩa Của Thạc Sĩ, Nhà Lập Pháp, Chính Trị Gia Hoàng Hữu Phước Về Mô Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế

1) Thực Trạng Nhãn Tiền Về Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Theo tờ Economist thì Đặc Khu Kinh Tế chả có quái gì là đặc biệt cả. Ngày nay Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã mọc lên hơn nấm, và cứ mỗi bốn quốc gia thì đã có tới ba quốc gia có ít nhất một Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Châu Phi đang có lúc nhúc những Đặc Khu Kinh Tế SEZ chẳng biết phải nên xử trí thế nào vì để thì vẫn không thể phát triển được, mà bỏ cũng chẳng xong. Ấn Độ thì có hàng trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ không thể phát triển, mà chỉ nội Bang Maharashtra đã có tới 60 Đặc Khu Kinh Tế suy vong.

2) Bản Chất Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: 

Như đã nêu ở trên về lý do thành công của Đặc Khu Kinh Tế Shenzhen của Trung Quốc, Đặc Khu Kinh Tế mang nội hàm đặc thù của một quốc gia cộng sản do run sợ không dám thực thi chính sách tự do hóa nền kinh tế quốc gia nên đã áp dụng hình thức kiểu miếng vải khác màu vá chằng vá đụp nơi này nơi khác làm biến dạng loang lổ tấm vải chung của cả nền kinh tế, ngõ hầu có thể kỳ vọng vào một sự thành công vật chất khả dĩ có thể lấy đó nuôi sống phần còn lại của nền kinh tế đang lất lây tồn tại trên nền tảng kinh tế yếu ớt hơn trong tay quản trị và điều hành của Nhà Nước.

3) Những Nguy Cơ Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Là Thời Cơ:

Như vậy, cùng với những điều kiện đặc thù khác – chỉ có ở Trung Quốc như đã được Hoàng Hữu Phước luận giải ở trên – mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ sẽ không những không thể thành công ở Việt Nam mà còn không thể thành công ở bất kỳ quốc gia nào khác.

Ba Đặc Khu Kinh Tế tương lai của Việt Nam sẽ đương nhiên thất bại do những nguy cơ vĩnh viễn, bất biến, mà sự liệt kê đầy đủ hơn ngoài hai nguy cơ tạm đơn cử sau có thể được nhà tư vấn chính sách Hoàng Hữu Phước thực hiện theo yêu cầu hợp đồng đặt hàng chính thức của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ Việt Nam.

Điện năng cung cấp là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang tính sống còn. Và chỉ những kẻ mông muội mơ hồ hạ đẳng mới không xem có tiềm tàng nguy cơ thiếu điện năng cho Phú Quốc khiến Đặc Khu này vỡ trận, và cho rằng Phú Quốc không cần có một nhà máy điện hạt nhân riêng công suất cực lớn vẫn có thể cung cấp đủ điện cho sự hoạt động của các nhà đầu tư công nghiệp và công nghệ.

Quyền lực thiết lập luật lệ riêng tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ luôn tạo nên nguy cơ hình thành một thứ Nhà Nước trong Nhà Nước, Quốc Gia trong Quốc Gia, Lãnh Thổ trong Lãnh Thổ.

Như đã phân tích sâu sắc sâu sát về cố tật của những kẻ được Đảng và Chính Phủ mời mọc làm cố vấn luôn rặn đẻ ra những vật thể từ mạt cưa cây giậu có xịt mùi hương chiến thuật hay chiến lược như Đi Tắt Đón Đầu, Hợp Tác Bốn Nhà, v.v. mà giá trị thực sự của các cụm từ ấy thì chỉ ngang bằng với mạt cưa mạt hạng vì thoát thai từ cây cối rẻ tiền chỉ được trồng làm rào giậu thấp chỉ có thể làm kinh tế trở thành tàn mạt.

Tương tự, đã có sự phấn khích giả tưởng nơi các nhà lãnh đạo quốc gia bằng cái mồm nhằm tung hỏa mù phủ che các liều lĩnh sặc mùi lợi ích nhóm hùa nhau xẻ thịt kinh tế nước nhà bằng cách luôn sử dụng điệp khúc dỡ òm ngu xuẩn của “trong nguy cơ có thời cơ”, “trong chữ nguy cơ có chữ cơ là thời cơ” mà bất kỳ bậc đại trí nào cũng dễ dàng nhận ra ngay cái nội hàm ẩn dấu của “đục nước béo cò” và “xúi trẻ ăn cứt gà”. Đơn giản vì công việc của tất cả các lãnh đạo đại trí là triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ chứ không phải là chụp lấy các thời cơ như bọn đầu cơ tích trữ và lũng đoạn. Và khi luôn trong tư thế luôn dợm triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ, các bậc đại trí sẽ cho rằng hãy cẩn trọng với thời cơ, đừng hấp ta hấp tấp khi thấy cái thời cơ tiềm tàng hay tưởng tượng, vì rằng chữ trong thời cơnguy cơ, nghĩa là trong thời cơ luôn có nguy cơ, vì vậy phải vạch mặt chỉ tên tất cả các nguy cơ tiềm ẩn hay lộ diện để bày binh bố trận quyết liệt triệt phá, ngăn chặn, vô hiệu hóa, biến dạng nguy cơ, vận dụng cái chân lý muôn đời của người nông dân nhổ cỏ rằng phải triệt tiêu nguy cơ để may ra có thể có được một thời cơ.

Một Thời Cơ Luôn Có Nhiều Nguy Cơ.

Bán tạp hóa là một hình thái làm kinh tế. Song, làm kinh tế không phải là bán tạp hóa.

Nhà cố vấn kinh tế nhà nướcViệt Nam, do đó, không được dùng ngôn ngữ bán tạp hóa để có thời cơ mê hoặc lãnh đạo Việt Nam và mê hoặc nhân dân Việt Nam; bằng không, sẽ đối mặt với nguy cơ bị lột truồng bỡi Hoàng Hữu Phước của Việt Nam.

4) Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu:

Do vậy, khi phải đối mặt với quá nhiều những nguy cơ không bao giờ là thời cơ,  Việt Nam nếu khôn ngoan phải lưu ý đến mô hình sau vốn dành riêng cho Việt Nam mà Việt Nam chỉ có thể áp dụng để trở thành cường quốc kinh tế thực thụ: thay mô thức Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu bằng mô hình Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác.

(a) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu là hình thức Đặc Khu Kinh Tế/Khu Kinh Tế Đặc Biệt SEZ như nội dung phân tích của bài viết này.

(b) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác  là đại cuộc biến Việt Nam – chứ không phải vài địa điểm nào đó của Việt Nam – thành một Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) với nền tự do thương mại đồng nhất và cao nhất, cắt giảm đồng nhất và cao nhất các rào cản thương mại, tăng khả năng cạnh tranh đồng nhất và cao nhất qua cắt giảm thuế quan đồng nhất và cao nhất, dưới sự điều chỉnh của các khung luật lệ đồng nhất và thông thoáng nhất hấp dẫn nhất.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến cả đất nước Việt Nam thành một “đặc khu kinh tế quy mô quốc gia” nghĩa là hoàn toàn theo luật pháp chung dưới sự quản lý chung của Nhà Nước mà không hề tạo ra tình trạng nguy cơ quái gở của nhà nước trong nhà nước, quốc gia trong quốc gia, lãnh thổ trong lãnh thổ.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, dù đầu tư vào lĩnh vực nào tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến tất cả các địa phương trên toàn đất nước Việt Nam tự động thành những “đặc khu kinh tế không ranh giới hành chính”  hoàn toàn tùy thuộc sự quan tâm lựa chọn của nhà đầu tư nội địa hay nước ngoài, làm bất kỳ địa phương nào cũng có điều kiện phát triển kinh tế/xã hội/tri thức theo hướng công bằng nhất. SEC còn biến các EPZ tức Khu Chế Xuất đang hoạt động ở Việt Nam tự động hưởng chung các ưu tiên ưu đãi ưu ái do mô thức SEC đem lại mà không lũ lượt rời bỏ các Khu Chế Xuất EPZ để chen chúc vào một trong 3 Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Nghĩa là nếu SEZ tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư co cụm bên trong các Đặc Khu Kinh Tế SEZ với các nhà đầu tư hoạt động tại các Khu Chế Xuất EPZ và các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động bên ngoài tường rào của Khu Chế Xuất EPZ hay bên ngoài Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì SEC biến tất cả các nhà đầu tư trở thành chủ thể chủ động bình đẳng trong hưởng lợi nhiều nhất tại quốc gia Việt Nam.

Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác là một yêu cầu cách mạng kinh tế đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải công nhận và áp dụng quy trình tự do hóa nền thương mại và kinh tế nước nhà như các cường quốc kinh tế và áp dụng các hình thức mang tính cạnh tranh cao hơn hấp dẫn hơn để thu hút các nhà đầu tư bất kể đó là nhà đầu tư nội địa Việt Nam hay nước ngoài. Miếng vải mới không là miếng vải cũ với các miếng vá đụp mới khác màu mang tên SEZ. Miếng vải mới cùng màu khác là hình thành áp dụng chung một mô hình duy nhất hoàn toàn mới về kinh tế gọi bằng tên quen thuộc là “kinh tế thị trường” thay thế cho mô hình đang tồn tại là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” với đặc điểm nếu như nền “kinh tế thị trường” quen thuộc của thế giới là môi trường cho sự hình thành các Khu Tự Do Thương Mại FTZ (Free-Trade Zone) hay những thứ tương đương như đã liệt kê ở các phần trên, thì chính nền “kinh tế thị trường” quen thuộc này của thế giới sẽ là môi trường mới để Việt Nam hình thành Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) đầu tiên của thế giới.

Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) là sáng kiến của riêng Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc-Đại-Lợi, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Trên thế giới chưa từng có quốc gia nào là một SEC.

Phụ Lục: Nhượng Địa và Thọ Nhượng

(xin xem tại Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng)

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Ghi Chú:

a) Tất cả các số liệu tất nhiên được thu thập từ nguồn tài liệu trên xa lộ thông tin, chủ yêu là Wikipedia (Tiếng Anh) và các trang web của các tổ chức và báo chí từ kết quả gợi ý của Google Search (Tiếng Anh) cho nội dung từ khóa “SEZ”.

b) Tất cả các nhận định phê phán đương nhiên là từ ý kiến rất riêng và duy chỉ của Hoàng Hữu Phước. Việc trích dẫn toàn phần hay một phần của bài viết hoặc của nhận định & phê bình được mặc nhiên đồng ý cho tùy nghi sử dụng như đã nêu tại Thùng Nước Đá Và Blog.

Tham khảo:

a) Luật Đặc Khu – Phần 1 20-7-2018

b) Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng 03-8-2018

e) Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc 29-12-2015

d) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân 14-6-2017

e) Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị 25-4-2018

f) Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

g) Toàn văn bản dự thảo Luật Đặc Khu trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật

h) Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng 11-5-2012

i) Thùng Nước Đá Và Blog 14-02-2013

j) Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

k) Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm,  Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà? 28-01-2016

l) Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

m) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” 14-10-2015

n) Chìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

o) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

p) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

q) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn của Đài Phố Bolsa TV năm 2012:

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”  http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.” http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.” http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.” http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!” http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

r) Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017

Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt

Bài 1: Vấn Nạn Bùi Hiền

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-12-2017

Wordpress Cải Tiến Tiếng Việt 1- Vấn Nạn Bùi Hiền

Mấy tuần nay râm ran lùng bùng vụ gọi là “công bố cải tiến Tiếng Việt” của Bùi Hiền.

Vốn không màng đến bất kỳ “công trình” nào của giới học thuật Việt Nam, bất kể “công trình” ấy về khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên, do đã có niềm tin vững chắc rằng chẳng có gì gọi là đáng để đọc từ các “công trình cất ngăn tủ” ấy, và vốn từ nhỏ đã ưa chuộng ưa thích sự tĩnh lặng thanh bình trầm mặc ngoại vi vốn là đặc điểm thực thụ nơi nhà hàn lâm bẩm sinh (tức những người phải vừa có nội tâm bão loạn với những tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian, vừa có hùng biện bão tố bằng tới tấp các tác phẩm cùng những tranh biện nảy lửa nhằm lột lõa lồ đám đông khán thính giả hàn lâm trước mặt mình theo kiểu của Albert Einstein), tôi đã không nghe gì nhốn nháo trên diễn đàn xã hội về Bùi Hiền tức là cái vị mà tôi chưa từng nghe danh trong cái thế giới hàn lâm vốn luôn ồn ào do chỉ thuộc các nhà hàn lâm bẩm sinh. Bùi Hiền hoàn toàn không có năng lực và năng khiếu của năng động tranh biện nảy lửa để bảo vệ cho các tác phẩm từ tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian của mình – nếu có. Bùi Hiền chỉ là một gả ỏn ẻn, thiếu tự tin, vừa thuộc dạng công thức nguyên liệu thành phần chung vừa theo công thức hoạt động rất đặc thù chung của chế độ: cán bộ cách mạng ngôi cao chỉ dám tung hê lải nhải lép nhép nhóp nhép gì đó mang tính kách mệnh chỉ khi không còn quyền lực ngôi cao.

Tuy nhiên, không phải cứ nói chẳng quan tâm là sẽ chẳng hề biết gì, vì đời có khối việc chẳng-đặng-đừng như các “forward” hoặc nội dung hoặc đường “link” hoặc cả hai mà các nhà giáo học trò của tôi do đang nhàn hạ rung đùi hưởng lương hưu nên có khối thời gian gởi ào ạt đến phone của tôi qua công cụ Viber. Nhờ vậy tôi mới có dịp đọc bài viết mang tựa đề “NÓI THẲNG: Ga-li-lê, Bùi Hiền và Tiếw Việt” của AQ trên Người Lao Động ngày 27-12-2017. Đó là một bài viết hạng xuất sắc về tư duy biện luận, chừng mực một cách mạnh mẽ đầy thuyết phục.

Là người hoạt động về ngôn-ngữ-Tiếng-Việt-thực-hành (tương tự phân ngành “thực hành” và “lý thuyết” của các khoa học tự nhiên) mạnh mẽ, liên tục, chuyên sâu, đúng đẳng cấp chuyên nghiệp quốc tế – tức buộc phải có (a) khả năng mạnh mẽ, liên tục, chuyên sâu, đúng đẳng cấp chuyên nghiệp, về một hay nhiều hơn một  ngoại ngữ chính của nhơn loại, (b) quá trình làm việc chuyên nghiệp về ngoại ngữ đó để nâng cao chất lượng so sánh, và (c) từng có tham luận tương hợp tại hội thảo cấp quốc gia, tôi cho rằng mình đương nhiên có thẩm quyền chuyên môn cao hơn Bùi Hiền và có quyền công dân – ngoài quyền tự do ngôn luận y như Bùi Hiền – để phát biểu các nhận định hàn lâm qua hai bài viết mà bài thứ nhất sẽ nêu các vấn nạn mang tên Bùi Hiền như sau.

Bài 1: Vấn Nạn Bùi Hiền

1- Lô Cốt Ngà Của Chế Độ

Người trong cõi ta bà thường dùng chung thành ngữ “tháp ngà” để ví những vị hàn lâm tập trung hoặc nghiên cứu hoặc thăng hoa tư duy luận bàn hoặc thế sự hoặc bàn luận chuyện mà nhân gian có khi vài thế kỷ sau mới nghiệm ra hoặc muôn đời chẳng thể nghiệm ra. “Tháp ngà” tự thân nhuốm màu xám của nghi ngại, màu đen của chê bai phi thực tế. Dù vậy, tự thân “tháp ngà” cũng óng ánh sắc màu tươi sáng của chiều cao lộ thiên (“tháp”) và độ quý (“ngà”) như nơi trấn ngự cao quý của các bậc hoặc hiền tài, hoặc kỳ tài, hoặc dị nhân thấu thị đầy cao quý.

Trong khi đó, ở Việt Nam hiện có “lô-cốt ngà” mà đặc điểm của lô-cốt là cực kỳ vững chắc và chìm sâu dưới đất.

Cực kỳ vững chắc vì ngự bên trong là các vị đảng viên mà Đảng Cộng Sản Việt Nam (a) do tôn trọng tri thức nên tin tưởng vào trí thức, và (b) do chỉ tin tưởng vào giai cấp nên ưu ái đầu tư tiền của hình thành nên một lực lượng trí thức của riêng Đảng bằng cách nhiều chục năm qua tích cực cử các cán bộ Đảng tất nhiên thuộc gia đình thuận lợi về giai cấp và thuộc diện sẽ được cơ cấu vào “nguồn” hoặc diện sẽ được dự kiến vào các ghế lãnh đạo các Bộ/Ban/Ngành/Đoàn Thể/Trung Ương/Địa Phương di du học nhằm có các văn bằng thạc sĩ/tiến sĩ. Điều này có nghĩa là hoàn toàn triệt tiêu tư duy đạo đức truyền thống ngàn đời của tổ tiên Việt vốn chỉ vinh danh những ý chí tự lập vươn lên của những kẻ hàn sĩ không bao giờ nhận được bất kỳ hỗ trợ nào mang danh “học bổng” từ các vương triều hoặc các “quỹ khuyến học” của các địa chủ phú thương, chỉ dành ghế đại quan cho những trạng nguyên/bảng nhởn/thám hoa xuất thân dân dã nghèo hèn ấy. Điều này có nghĩa việc các cán bộ được cử đi học sẽ có 7 lớp bê tông cốt thép thượng hảo hạng bao bọc lô-cốt gồm

(a) không chút lo toan về tiền bạc chi phí du học,

(b) không chút lo sợ “bọn thứ dân ngoài Đảng” giật mất ghế ngôi cao quyền trọng,

(c) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ  cần học xong có bằng cấp đem về làm nhãn mác chứ chẳng ai quan tâm xem bằng ấy có thuộc loại ưu tú hay không,

(d) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ cần có bằng cấp chứ chẳng ai quan tâm xem người cầm văn bằng ấy có nói và viết được ngoại ngữ tinh thông tinh tường hùng biện như gió khi về nước hay không,

(e) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ cần có bằng cấp chứ chẳng ai quan tâm xem cái sở học ấy của mình có thể áp dụng gì cho đời không vì chẳng ai có thể biết mình tốt nghiệp mà chẳng có ma nào ở nước ngoài thèm chiêu dụ tuyển dụng,

(f) không chút lo lắng bị bươi móc bỡn cợt chuyện tự nhiên mình thành thạc sĩ/tiến sĩ dưới đất chui lên trên trời rớt xuống tiến tới tự nhiên làm lãnh đạo cơ sở vì các lãnh đạo cấp trên của mình quyền lực cao ngút hơn mình cũng theo lối đào tạo nhân tài riêng cho Đảng y chang mình, và

(g) không chút lo lắng bị bươi móc bỡn cợt chuyện mình là thạc sĩ/tiến sĩ mà chẳng ưa viết lách chẳng thèm nghiên cứu gì cả vì toàn bộ các lãnh đạo cấp trên của mình quyền lực cao ngút hơn mình thậm chí “lãnh đạo” đại học cũng chẳng có công trình nghiên cứu gì mà thỉnh thoảng chỉ thấy có lãnh đạo đại học gì gì đó ăn cắp nội dung luận văn tốt nghiệp của sinh viên Lào ở tận bên Lào để làm luận án tiến sĩ của mình mà cũng được các giáo sư tiến sĩ Việt Nam khen nức nở đó có sao đâu.

Chìm sâu dưới đất nên –  như tác giả bài viết này đã rất rất nhiều lần trên blog này mỉa mai rằng – ngoài Quốc Hội và các cơ quan trung ương ra thì người dân – kể cả tác giả bài viết này dù là Nghị Sĩ – không thể biết được ở Việt Nam ai là “nhà khoa học” (thông tin báo đài hở một chút là ra rả “các nhà khoa học cho rằng”) và ai là “chuyên gia/chuyên viên” (Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước được Quốc Hội bảo có ngân khoản đểthuê chuyên gia viết bài cho nghị sĩ” mà dù Nghị ta có viết thư hỏi cũng không được Văn phòng Quốc Hội cung cấp hoặc danh sách “chuyên gia” hoặc định nghĩa “chuyên gia”, nên Nghị ta suốt từ 2011 đến 2016 tuyệt đối không dám động đến ngân khoản ấy dù chỉ một xu mà tự bỏ tiền túi ra dù đến chục triệu thuê người dân thu thập tài liệu và dịch tài liệu để phát biểu hùng biện trên nghị trường chứ không được như các nghị sĩ khác thì buổi họp nào cũng có sẵn bài viết để đọc nên phát biểu cực kỳ thường xuyên chẳng bỏ đề tài luật nào cả – trừ… Luật Biểu Tình).

Bùi Hiền và những bậc kỳ tài bảo bối của Đảng như Bùi Hiền đã luôn bất ngờ xuất hiện là do thuộc giới tinh hoa trí tuệ trí thức ngủ say trong lô-cốt ngà của Đảng suốt thời gian trước tuổi về hưu.

2- Giới Tinh Hoa Có Nhãn Mác Cầu Chứng Tại Tòa Của Chế Độ

Khi sự công kích chê bai Bùi Hiền trở nên rầm rộ trên không gian mạng, như một chuyện đương nhiên các giáo sư tiến sĩ khác cũng đột nhiên xuất hiện để hoặc ủng hộ Bùi Hiền hoặc lên tiếng dạy bảo người đời nên trân trọng Bùi Hiền và nên sử dụng ngôn ngữ thích hợp ra sao khi phê phán Bùi Hiền.

Vấn đề ở đây là: trong số các giáo sư tiến sĩ đang lên tiếng bảo vệ Bùi Hiền và dạy bảo thế gian về cách ứng xử với Bùi Hiền thì đã không có ai trước đây đã từng lên tiếng khuyên bảo mạng xã hội đừng nên tấn công chưởi bới đe dọa giết nghị sĩ Hoàng Hữu Phước khi ông này phát biểu ở nghị trường năm 2011 chống Luật Biểu Tình, và nên lắng nghe tìm hiểu tôn trọng ý kiến chống chỏi ấy của ổng.

Điều này cho thấy giới tinh hoa trí thức do Đảng bỏ tiền ra xây dựng riêng cho mình từ các cán bộ đảng viên “trẻ” đã hình thành nên một phe nhóm riêng, bầy đàn riêng, có nhãn hiệu cầu chứng riêng trên ngực áo trái, tích cực bảo vệ nhau trước công luận, hoặc tích cực nói về “công lý” mà Đảng nên tôn trọng đối với dân chủ-nhân quyền-tù nhân lương tâm, hoặc rủ nhau cùng ký tên kiến nghị đòi “công lý” cho ai đó, chứ không đời nào nói về “công lý” mà Đảng nên áp dụng trong mời mọc, trọng dụng người tài ngoài Đảng hơn cả người tài trong Đảng.

3- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Nghiên Cứu

Phần này được ghi ra cho đầy đủ nội dung, chứ các chi tiết thì chính Đảng cũng đã phải thừa nhận rằng cái gọi là “nghiên cứu” ở Việt Nam chỉ làm đầy hơn các hộc tủ chứ chẳng làm giàu hơn nền kinh tế quốc dân hoặc học thuật nước nhà.

Bùi Hiền cho rằng công trình của “cải tiến Tiếng Việt” (danh chính ngôn thuận phải là: “cải tiến chữ viết Tiếng Việt”) mất 40 năm nghiên cứu. Câu hỏi khủng khiếp phát sinh là:

a) Bùi Hiền có đã sử dụng thời gian công tác chính quy để nghiên cứu cá nhân? Nếu có thì đã gian manh ăn cắp của Nhà Nước bao nhiêu chục ngàn giờ của 40 năm với tiền lương từ tiền thuế của dân và từ tài nguyên quốc gia?

b) Như tác giả bài viết này đã lập đi lập lại rất rất nhiều lần rằng các “nhà sử học” và các “nhà nghiên cứu” nhất thiết phải bỏ tiền túi ra nếu muốn nghiên cứu, và tự xuất bản sách giới thiệu công trình của mình, chứ Nhà Nước không được bỏ tiền ra cưu mang, vì rằng nghiên cứu phải là công trình của cá nhân (ngay cả của nhiều cá nhân hoặc tập thể cá nhân) mà công trình nào cũng phải tự đấu tranh sinh tồn cật lực đầy khó khăn với sự chấp nhận của độc giả, của phản biện, trước khi trở thành thực sự có giá trị sử dụng. Chỉ khi thực sự có giá trị sử dụng tự thân chứ không từ sự ra lịnh cho sử dụng của Nhà Nước, nghiên cứu có giá trị tham khảo ban đầu ấy mới có thể được mua lại bởi Nhà Nước để phát hành sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Thế nhưng, thay vì sau 40 năm dày công nghiên cứu, Bùi Hiền lẽ ra hoặc in thành sách để ai muốn đọc thì tự do mua đọc, hoặc thảy lên internet để ai muốn đọc thì tự do đọc, Bùi Hiền lại theo quy trình hàn lâm xứ Việt khi

– Tự tiện dùng chữ “công bố” phải chăng với dụng ý nghiên cứu không đến từ ý riêng của cá nhân mà là từ gợi ý hay khuyến khích hoặc đặt hàng của Nhà Nước? In sách là quyền cá nhân xin phép và tiến hành khi được giấy phép. Công bố hoàn toàn không dính dáng gì đến cá nhân trừ phi là “công bố chùa” trên mạng, mà đã là “chùa” thì vô giá trị và không thể gọi là “công bố”. Chưa kể, “công bố” là cho một kế hoạch, một ý kiến, và cũng có nghĩa vẫn chưa có tác phẩm nào hoàn tất hoàn thành đầy đủ dưới dạng một quyển sách cả. Chưa có tác phẩm thì sao lại gọi là dày công nghiên cứu 40 năm? Phải chăng phóng đại gian trá là tác phong nhuần nhuyễn của các nhà nghiên cứu do Đảng sinh ra, tạo ra, nặn ra, mua về?

– Tự tiện cho rằng cứ tổ chức hội thảo và Bùi Hiền sẽ đến giải thích những gì chưa ai hiểu. Ai có quyền tổ chức hội thảo cấp quốc gia, và chi phí cho hội thảo ấy đến từ đâu? Phải chăng quy trình quái gở cho nghiên cứu ở Việt Nam là cứ hãy nghiên cứu đi, Nhà Nước có khối tiền để tiêu cho các hội thảo và các công trình nghiên cứu cá nhân sẽ tự động biến thành có giá trị quốc gia để tác giả công trình tự động được nhận tiền tỷ thù lao?

4- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Công Quỹ & Ngân Sách

Từ quy trình nghiên cứu hàn lâm trên, có thể nói quy trình tiêu xài công quỹ và ngân sách của Việt Nam đối với hoạt động nghiên cứu không những là sự hoang phí mà còn là sự chà đạp công luận, tội phản quốc, tội tham nhũng tày trời.

5- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Cung Cách Phản Chế Độ

Tất cả bốn nội dung trên dẫn đến một sự thật là cái quy trình nghiên cứu hàn lâm chặt chẽ của chế độ mang cung cách phản chế độ, vì rằng các nghị quyết của Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng luôn đề cao giá trị của tri thức trong đại cuộc hiện đại hóa – công nghiệp hóa đất nước và vai trò của trí thức, trong khi Bùi Hiền và những người như Bùi Hiền hoàn toàn chỉ để lộ ra năng lực kém cỏi cho thấy sự thất bại triền miên của Đảng khi không sử dụng thực chất các lực lượng trí thức ngoài Đảng đã vươn lên từ tự lực cánh sinh, mà thay vào đó là đầu tư tiền của cho những cán bộ trẻ của Đảng nhanh chóng có bằng cấp một cách thuận lợi để làm nguồn nhân lực riêng phục vụ các kế sách thuần chính trị của Đảng.

Sự hùng mạnh của Việt Nam tùy thuộc vào tri thức và trí thức chứ không tùy thuộc vào số lượng thạc sĩ/tiến sĩ.

Thạc sĩ/tiến sĩ của Đảng để làm tổng giám đốc hay chủ tịch các đại dự án luyện cán thép làm ô nhiễm trầm trọng môi sinh và tiêu tốn điện năng.

Tri thức/trí thức tự túc của đất nước để làm đất nước giàu mạnh khôn ngoan nhờ nhận ra sự thật rằng nhập khẩu sắt thép phục vụ xây dựng chính là bảo vệ môi trường sống cũng như tiết kiệm được điện năng.

Thạc sĩ/tiến sĩ của Đảng đang lần lượt tiến vào nhà tù vì đã gây thiệt hại khủng khiếp cho cả nền kinh tế cùng uy tín quốc gia.

Tri thức/trí thức tự túc ngoài Đảng của đất nước đang lần lượt biến mất khỏi đoàn quân tích cực dựng xây đất nước do không bao giờ có chính sách khả thi khả dụng khả dĩ trân trọng tri thức và khả năng của trí thức thuộc chủng loài này.

Trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII đã có vị đứng đầu một viện nghiên cứu gởi nhiều bộ tài liệu in ấn công phu tốn kém (in màu trên giấy dày trắng tốt) cho tất cả 500 nghị sĩ. Viện do Nhà Nước lập nên. Viện do Nhà Nước xây nên và bàn giao cơ sở vật chất. Viện mang một cái tên vớ vẩn. Viện nghiên cứu những vấn đề vớ vẩn. Viện khoe những quan hệ vớ vẩn với các viện học thuật vớ vẩn ở những nước ngoài vớ vẩn. Và Viện đã dùng tiền ngân sách – hay của nước ngoài tài trợ – để viết ra rả về sự vĩ đại của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản đã luôn làm sai lời dạy của Hồ Chí Minh, luôn chống lại Hồ Chí Minh, khiến nước nhà lạc hậu điêu linh. Vị đứng đầu ấy gởi thư đến tác giả bài viết này để kiện Đảng và Nhà Nước đã đụng đến Viện, lấy lại Viện, vì Viện nay thuộc quyền sở hữu có giấy chủ quyền nhà đất mang tên vị đứng đầu Viện. Vị đứng đầu Viện dọa đe tử thủ, quyết không để Nhà Nước cướp đất cướp Viện mà Nhà Nước đã ban cho Viện.

Rõ ràng Đảng đã có một lớp Đảng viên được chọn để biến thành trí thức, và các trí thức này hoặc

a) Đang công tác như những nhà tư vấn chính phủ nhưng với năng lực hoàn toàn kém (qua thực tế chứng minh: Việt Nam luôn thua trên trường quốc tế về cơ hội doanh thương, phát triển kinh doanh, hùng biện tranh chấp kinh doanh, hùng biện tranh chấp lãnh thổ, v.v.), hầu như chỉ để giải thích cho lãnh đạo Đảng và Nhà Nước các thuật ngữ chuyên ngành, hoặc tài ba lắm cũng chỉ ở mức độ cho biết đối với một sự cố đã xảy ra thì tiền lệ thế giới ra sao, luật thế giới thế nào, và Việt Nam nên chọn giải pháp gì; kỳ dư, hoàn toàn vô dụng bất tài trong tiên tri thấu thị để chặn ngăn hiệu quả ngay từ trứng nước các bất cập hay bất lợi có thể xảy đến trong lĩnh vực mình phụ trách;

b) Đang không làm gì cả ngoài việc ký tên vào các văn bản;

c) Đang thụ án hay đang đứng trước vành móng ngựa trong các vụ đại án kinh tế; hoặc

d) Đang như Bùi Hiền bất ngờ “công bố” một công trình nghiên cứu “40 năm” vẫn chưa hoàn thành nhưng nay muốn có hội nghị hội thảo quốc gia để từ đó Nhà Nước có thể công khai công nhận giá trị của công trình đó rồi chu cấp nhiều tỷ đồng cho Bùi Hiền dành 40 năm tiếp theo đúc kết thành sách in cấp phát miễn phí cho các thư viện tỉnh thành quận huyện xã phường bản làng cho nhân dân mở mang trí hóa.

Không bao giờ có việc khi có bằng thạc sĩ/tiến sĩ là tự động trở thành “nhà trí thức”. Do đó, có thể Đảng đang có nhiều đảng viên thạc sĩ/tiến sĩ, nhưng không phải vì thế mà nói Đảng đã có nhiều “nhà trí thức” nên không cần phải tìm kiếm các nhà “trí thức” tự lập tự túc ngoài Đảng.

Bùi Hiền quả là một sự hỡi ơi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Kính mời đón đọc tiếp bài 2 khảo luận hùng biện duy nhất của Việt Nam: Những Nội Dung Duy Nhất Đáng Quan Tâm Cho Một Chữ Viết Mới Của Tiếng Việt

Tài liệu tham khảo:

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến     18-10-2009

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 26-9-2012

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

22-12-2017

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là một đảng chính trị tức chính đảng của Việt Nam và là chính đảng duy nhất ở Việt Nam theo thực lực, thực tế lịch sử, và thực thi theo hiến định.

Theo thực lực, một đảng chính trị nhất thiết phải có tổ chức, có lãnh đạo, có cương lĩnh chính trị, có chiến lược chính trị, có tài lực, có nhân lực tạo lực lượng quần chúng, có nhân lực tạo lực lượng vũ trang và nắm quyền lãnh đạo tất cả các lực lượng vũ trang, có lãnh thổ, có đấu tranh để thực hiện cương lĩnh cho đến cùng, và khi thuận lợi giành lấy chính quyền theo cách hoặc chính thức (đấu tranh nghị viện trong môi trường hiến định) hoặc chính danh (đấu tranh giải phóng) để trực tiếp cai quản cai trị đất nước.

Như đã nêu trong bài Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã dần mất vị thế một chính đảng của Việt Nam.

Không một chính đảng nào lại tự làm suy yếu nguồn tài lực của mình bằng cách để đảng viên tự do phá sụp các ngân hàng, phá sụp các tổng công ty, phá trọc trắng hếu các khu rừng xanh, độc hóa các nguồn nước của dân tộc và thủy tộc, thả cho tư bổn né thuế, tích cực đầu tư vào những nội dung từ lỗ đến mất trằng, v.v.

Không một chính đảng nào lại tự làm suy yếu nguồn nhân lực của mình bằng cách tước bỏ vũ khí bạo lực cách mạng ra khỏi các lực lượng vũ trang, tước bỏ quyền được bảo vệ cao nhất khỏi tay các lực lượng vũ trang trong khi tất cả các quốc gia trên toàn thế giới luôn dành cho các lực lượng vũ trang của họ (nước ngoài: án tử hình dành cho kẻ nào sát hại nhân viên công lực; Việt Nam: ai muốn đánh đập nhân viên công lực thì xin mời cứ tự nhiên); bố trí người bất tài vô hạnh  miễn sao đúng với quy trình để ngự tất cả các ngôi cao quyền lực; đầu tư khổng lồ tậu cho được các bằng tiến sĩ/thạc sĩ về phân phát cho hàng ngàn lãnh đạo “trẻ tài năng” lực lượng kế thừa của Đảng; bỏ mặc cho các lực lượng chủ lực của Đảng như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tự tung tự tác tự suy yếu tự thải loại ra khỏi đời sống chính trị Việt Nam, hoàn toàn thất bại trong nhận diện người giỏi người tài người thực sự hữu dụng cho đất nước này, v.v.

Không một chính đảng nào lại tự đốt bỏ cương lĩnh chính trị của mình bằng cách dung dưỡng bất kỳ sự “xét lại” nào và để yên cho đảng viên có quyền đứng núi này trông núi nọ.

Tuy nhiên, dù với một vết nhơ không đáng có như trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam nay đã dần trở lại vai trò một chính đảng. Thời mở cửa đẻ ra các đảng viên như trẻ nít quê mùa vô tư vô tâm đã qua, với bằng chứng là đầu tháng 12 năm 2017 đã có mẫu tin này trên truyền thông chính thống toàn cõi Việt Nam:

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (2)Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (1)

cho thấy nhiều chục năm qua đã và đang có sự suy đồi thật khốn nạn rằng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội, đã bị các đảng viên lợi dụng và sử dụng hoàn toàn ngoài tầm vói bắt cũng như ngoài tầm trí hóa khả dụng của tất cả những tinh hoa chính trị của chế độ, khiến đã có những chuyện tưởng như đùa do không thể nào tưởng tượng nổi lại có thể xảy ra tại một quốc gia cộng sản như Việt Nam: “nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng” mà điều khôi hài nhất là đến tận ngày nay mới có quy định những đảng viên nào như thế sẽ bị khai trừ Đảng.

Thế thì những thằng đảng viên mất dạy đã nhanh tay lẹ chân trước 12-2017 đã kịp “bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước” cũng như đòi xóa đảng (tức theo đa đảng, đa nguyên) và vi hiến (đòi tam quyền phân lập) thì phải chăng được “hạ cánh an toàn”, tiếp tục hưởng lương hưu hậu hĩ của Đảng, còn con cháu tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi vốn dành riêng cho gia đình đảng viên cốt cán cáo cấp trung kiên?

Thế thì phải chăng hàng thế kỷ nay Đảng Cộng Sản Việt Nam có quy định cực kỳ lỏng lẻo về kỹ luật, theo đó phải chăng có mặc định rằng trở thành Đảng viên Cộng sản đương nhiên là thánh thần miễn nhiễm trước mọi xấu xa tiêu cực và bất khả xâm phạm trước luật pháp quốc gia nên không thể bị khai trừ Đảng ngay cả sau khi bôi nhọ lãnh tụ (lãnh tụ duy nhất của Việt Nam là Hồ Chí Minh)?

Các nghị sĩ mà tất nhiên tuyệt đại đa số là đảng viên Cộng sản chức sắc thì bỏ mặc thực tế dữ dội của toàn cầu và phớt lờ ý kiến tuyệt đối công chính của người dân

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (4)

nên chỉ biết châu đầu vào nhau tụm năm tụm ba ngáy ngủ từ năm 2011 rằng Việt Nam “biểu tình” được vì “thế giới họ biểu tình đàng hoàng được mà”, hoặc “bắn” thì “dã man” quá nên hãy noi theo mấy nước văn minh mà tiêm thuốc độc (khiến có một thời gian dài Việt Nam bị khủng hoảng nghiêm trọng không xử tử được bất kỳ ai do nhà sản xuất thuốc độc tuyên bố không bán cho Việt Nam Cộng Sản hành quyết người dân vô tội), còn mới đây hùng hổ nói mông muội gì đó về “tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (3)

nghĩa là hễ “biểu tình” thì nêu danh đeo bám hít hà luật “thế giới”, còn muốn tha cho tên tử tù tàn độc thì lại viện cái luật pháp “xã hội chủ nghĩa” quái gở quỷ quái kỳ quái kỳ cục kỳ khôi không cần kỳ cọ nào đó chớ ai biết.

Đảng Cộng Sản phải hà khắc, phải nghiêm khắc với đảng viên của mình gấp vạn lần, đơn giản vì như đã chốt trong bài Quốc Thái Thức Trung Thần: thời thái bình là thời đại hỗn loạn nhất.

Thời loạn không hỗn loạn vì vẫn còn kỹ luật sắt máu để hạn chế hỗn loạn.

Thời bình không còn các kỹ luật sắt máu nên hỗn loạn chỉ có gia tăng vượt ngoài sức kềm tỏa của giới cầm quyền nào bắt đầu muốn bản thân mang hình dáng những ông bụt bà tiên, tự nhiên cho rằng mình ngu muội và thấy nhất thiết phải theo Tây cho muôn phần vinh diệu văn hóa văn vẻ văn minh.

Sau khi chấn chỉnh lại việc “khai trừ Đảng”, Đảng nên có bước tiếp theo là giáo dục răn đe các đảng viên, các chuẩn đảng viên (tức lực lượng hậu bị), và ban hành nhiều quy định bổ sung như tước bỏ các quyền lợi bản thân và gia đình người bị khai trừ Đảng, và công bố không áp dụng bất-hồi-tố đối với những đảng viên nào đã sướng mồm bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo, Đảng trước thời khắc 12-2017.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Việt-Nam Khóa XIII, Quan Nhĩ Mục của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Tham khảo:

Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần  18-12-2017

Bôi Nhọ  02-12-2015

Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-12-2017

Sách có câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần”.

Word 9

Lăng Tần tôi đây vốn tin tưởng vào sự biến thiên biến hóa biến đổi biến mất của Đất Trời, và vào ý nghĩa của tiến hóa trong cập nhật để cải tiếncải hóa, nên thường lấy cái thông tuệ của sở học ngày nay ra chỉnh sửa chỉnh đốn cho chỉnh chu các danh ngôn bất kể các phát ngôn dù chính ngôn hay loạn ngôn của người xưa hay người nay, bất kể đó là thánh nhân thần nhân vĩ đại nhân hay tầm thường nhân, như thể hiện mạnh mẽ quyết liệt hùng biện nhất tức không-đứng-sau-hay-dưới-bất-kỳ-ai trên mạng Twitter tại @HoangHuuPhuoc và @RealHHPhuoc, mà nhiều tác giả sách người Mỹ sau khi các lời dạy đời vàng ngọc của họ được tác giả bài viết này chỉnh sửa đã hân hoan cho một trái tim đỏ chót (like), thậm chí đăng lại (retweet) và đeo theo (following) dù không được ông ta quan tâm follow đáp lại.

Nhận thấy người nước Nam ta có niềm tin mặc định những lời dạy của thánh hiền – và của người nước ngoài – là chân lý của muôn đời nên dẫn đến hai tiêu cực gồm (a) giữ nguyên văn không hề dám nâng cấp các lời vàng ngọc, khiến (b) nội dung giáo huấn trở nên co cụm nghèo nàn không thể góp phần giáo dục bất kỳ ai cho xã hội dù mới hơn và tốt hơn (tức chế độ) khiến vẫn biền biệt những thành tố mới hơn và tốt hơn (tức con người) cần thiết cho cái xã hội ấy tại tồn. Trong khi đó, ngay cả cái luận cứ kinh điển giáo điều kinh tế chính trị Mác-xít Lê-nin-nít còn được những nhà Mác-xít Lê-nin-nít Việt Nam sau khi chiến thắng đã cập nhật biến hóa ra hình thái kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm thế giới hàn lâm ngắc ngứ cứng họng đơ người.

Để cập nhật biến hóa tương tự, Lăng Tần tôi đây cho rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” của môn sinh Khổng Giáo Nho Gia Trung Quốc sẽ được hoàn thiện tuyệt đối nếu được bổ sung nội dung “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần” của Hoàng Hữu Phước Việt Nam.

Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” không bao giờ có thể sánh được với “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần”, đơn giản vì về phương diện quốc gia thì một khi đã “loạn” thì đương nhiên có ít nhất hai phe (Việt Nam có lúc có đến 12 “phe” tức loạn Thập Nhị Sứ Quân) mà đã vậy thì “phe” nào cũng có “trung thần” để tàn sát đối phương, tàn phá đất nước, cho đến khi chỉ còn một phe chiến thắng; còn phe chiến bại thì hoặc im lặng xếp ve ngay cả thở cũng không dám thở, hoặc lẻn bỏ chạy đến nơi an toàn thì chưởi đổng huy động tiền bá tánh mua củi đốt quăng lửa về quê, hoặc quay trở lại đột nhập làm tráng sĩ Kinh Kha kiếm thăm bồ bịch cũ để đánh ghen hờn dỗi dâng mình vào rọ như Mai Văn Hạnh ở Hòn Đá Bạc thủa nào. Còn về phương diện gia đình thì hôm nào ai chỉ còn một phần tư chén cơm mà đem dâng hết cho Mẹ và Cha mỗi người được có một muỗng canh, là đã được thiên hạ xưng tụng vang danh hiếu thảo vốn là cái đạo cao nhất của loài người cho dù cái việc nhường muỗng cơm ấy chẳng qua vì không thể chia nhỏ hơn cái muỗng canh thành cái muỗng cà phê nên thà nhịn cho xong rồi mai tính sau.

Thế thì cái cực khó và đầy thử thách của hiếu tử cùng trung thần trong câu “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thầ n là gì?

Gia Phì Tri Hiếu Tử

Khi đã “vinh thân phì gia” tức thân mình thì vinh hiển chức cao quyền trọng do “có công với cách mạng” giúp cả gia đình có cuộc sống đủ đầy nhờ danh “gia đình có công với cách mạng”, thì cái danh hiếu tử chỉ thuộc về những ai thành công trong bảo toàn được danh dự tổ tiên, dòng họ, mẹ cha, trong cơn trốt xoáy hung hãn của quyền lực quyền lợi vật chất kim tiền.

Một anh hùng săn bắt cướp từng làm các trùm xã hội đen run sợ những năm đầu sau giải phóng, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì nhận tiền của trùm để “phì gia”, bỏ mặt một chiến sĩ đồng đội bị trùm sát hại, biến cha mẹ thành kẻ ngây khi nhận núi tiền của con mà cứ cho đó là tiền lương bèo bọt của cách mạng dành cho , và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy mướn người viết thư bi tráng kêu oan cho con và kể lể công trạng một đời lý tưởng tận trung với nước tận hiếu với dân của con mình.

Những tên đảng viên cao cấp dày công lao hãn mã đu trèo bám bấu lên được ngôi cao Bộ Trưởng này, Bí Thư nọ, Chủ Tịch kia, Tổng Giám Đốc đó, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì chăm chỉ vác tiền và vàng của công quỹ để “phì gia”, bỏ mặt đất nước nghèo đi, dân tộc lẹt đẹt, còn Đảng bị ô danh, biến cha mẹ thành kẻ ngố khi nhận núi tiền của con xây biệt phủ vườn tược phì nhiêu cò bay thẳng cánh mà cứ cho đó là phúc đức từ tiền lương bọt bèo của cách mạng dành cho con mình là những đấng trung thành trung hậu trung kiên, và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy nhờ người viết thư kể lể công trạng công lao công đức đạo đức tài đức của cha mẹ tổ tiên để mong con mình nhẹ tội nhờ “nhân thân tốt” lại có “thân nhân xịn”.

Đã vậy, có kẻ lại đào tẩu ra hải ngoại sau khi thành công đại thành công trong đại cuộc làm ô danh bản thân, ô danh gia đình, ô danh Đảng, ô danh đất nước. Bấy nhiêu đã đủ để khẳng định rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử” của Khổng Giáo Nho Gia hoàn toàn kém, không mang nội hàm giáo dục vì tránh né cái khó, vinh danh cái dễ.

Quốc Thái Thức Trung Thần

Còn khi quốc gia thái bình, đó mới là lúc các quan lại tỏ được sự trung trinh dành  cho một chủ thể duy nhất: quốc gia của bên thắng trận mà bản thân mình đã có góp phần vào chiến thắng ấy.

Khi quốc gia trong cảnh chiến tranh, đối thủ tức bên đối phương tức quân giặc là kẻ thù duy nhất, sự tồn tại của lãnh thổ phe ta là mục tiêu trước mắt, còn chiến thắng cuối cùng là mục đích dài lâu.

Khi quốc gia thái bình, đối thủ bao gồm 6 kẻ thù trọng yếu như (a) “phe” hay các “phe nhóm” khác, (b) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế hay những ghế hiện nay của mình, (c) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của mình, (d) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của đàn con của mình, (e) bất kỳ ai có khả năng giành phần bánh lớn hơn phần của mình, và (f) bất kỳ ai tuy cùng là đảng viên cao cấp như mình lại có tài sản vật chất dồi dào hơn mình; còn tính luôn các “mặt trận thứ yếu” khác thì còn có thêm 6 kẻ thù như (g) giặc dốt, (h) giặc nghèo, (i) giặc lạc hậu, (j) giặc tham nhũng – hối lộ, (k) giặc hành chánh quan liêu, và (l) giặc ngoại xâm tiềm tàng, mà 6 kẻ thù chót này là chuyện để Bộ Chính Trị lo, không đến phần bản thân mình phải lo cho bò trắng răng.

Chính vì vậy, thời thái bình mới là thời loạn nhất.

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà một Tổng Bí Thư lại phải đích thân ra tay trực tiếp đốt cho lò đủ nóng để có thể đốt cháy cả cũi ướt?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đội ngũ tinh hoa chính trị của Đảng phải bị cách chức, truy nã, tống giam, xử tội?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đảng viên hóa rồ, phát ngôn chõi lại Đảng như về tam quyền phân lập, xã hội dân sự, dân chủ nhân quyền, tự nguyện ăn bã nhơi lại của bọn Chống Cộng?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà các kế sách của Đảng bị vô hiệu hóa hoặc chưa bao giờ thành công như trong hiện tại đối với các kế sách về cải cách giáo dục, đầu tư hạ tầng, xây dựng con người mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng xã hội hiện đại văn hóa văn minh, và…dạy tiếng Anh cho học sinh sinh viên, v.v.?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà Đảng lại phải đe dọa đuổi ra khỏi Đảng những đảng viên nào phạm phải những nội dung nào?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà kẻ thù lại dám lơ là lớn lối trước sức mạnh của Đảng, trong khi hiện nay thì kẻ thù mặc sức nhạo báng bỡn cợt Đảng và lãnh đạo Đảng?

Cuối cùng thì câu hỏi hiện nay sẽ luôn là: ai trong số những cán bộ cấp cao hiện nay của Đảng trong chính quyền và trong Đảng là những bậc trung trinh tận tụy hy sinh chỉ biết chăm lo cho sự tồn tại của chế độ, sự hùng cường của đất nước, và sự phồn vinh của dân tộc?

Ngày nào các đảng viên cao cấp của Đảng còn giành giật các chiếc ghế quyền lực khỏi tay các bậc hiền tài để ấn vào quyền sở hữu và ngự trị của các con cháu của họ, ngày ấy Đảng vẫn chưa hề có được đến một đấng trung thần, và quốc gia thái bình trở thành dấu chấm hết cho sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII.

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

theo nguyên bản tiếng Anh tại https://laithutruc.wordpress.com :

https://laithutruc.wordpress.com/2017/10/19/thu-cong-dan-viet-nam-lai-thu-truc-goi-tong-thong-my-donald-j-trump/ 

Hoàng Hữu Phước đăng lại trên blog này ngày 19-10-2017 theo sự đồng ý của tác giả Lại Thu Trúc

 

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to POTUS Donald J. Trump

Ho Chi Minh City, 19 October 2017

 

The President of the United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

 

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this November wish to hereby present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my various opinions as follows.

For over a decade, I have read many blog articles of, and had personal talks with my mentor Mr. Hoang Huu Phuoc, the CEO of our company and also the Representative to the Vietnam’s XIIIth National Assembly (2011-2016) as well as Member to its Foreign Relations Committee. He is probably one of the very strong but unknown supporters of yours as seen via his very smart responses on his Twitter (1). In his blogs dated 01 January 2016 he even made an analysis of the nine unique strengths of yours and was the only person in Vietnam to predict your landslide triumph of the presidency (2). The points from my discussions with him as presented hereunder are non-partisan as both my mentor and I are not communist party members nor government’s officers.

A- The Shield & the Sword Status Quo of Vietnam

It is a well-proven fact that Vietnam has been for centuries being the shield and the sword to defeat and stop the China’s age-long ambitions of southward invasions to militarily colonize the territories which are now ASEAN countries e.g. Laos, Cambodia, Thailand, Malaysia, Singapore, Brunei, and Indonesia, thus indirectly ensuring the peaceful existence of the now Australia the owner of Darwin. This status quo of Vietnam in the present regional arena of an aggressive China claiming its assertions of sovereignty over the whole South China Sea makes Vietnam in dire need of considerable supports from the USA.

In this regard, I believe Vietnam need possess nuclear weapons to protect itself from the threats of invasions from China – and of course to protect regional states as well.

However, as strictly ruled by the NPT (Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons), the NWS pledge not to transfer nuclear weapons or other nuclear explosive devices to any recipient or in any way assist, encourage or induce any non-nuclear-weapon state in the manufacture or acquisition of a nuclear weapon, and this makes the issue of Vietnam’s possession of nuclear weapons impossible.

To solve this problem, I think the government of Vietnam should talk with the USA on the deployment of THAAD or Aegis Ashore systems, should the sales be approved by your Department of State.

B- The Supportive Navy Cooperation between Vietnam and the USA

Also in coping with the tension eruption in the South China Sea ignited by China, the government of Vietnam should also discuss with the USA and approve the development of the naval port at Cam Ranh Bay for deployment of and patrols by warships of both Vietnam and the USA to control, protect, and safeguard the freedom of navigation and maritime trade route security.

C- The Decisive Supportive Aspects from the USA to the World: Considering to Shutter the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor

The very last but never the least point I wish to invite your kind attention to is the inconvenient issue from the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor.

Every year that bureau issues the so-called Country Reports on Human Rights Practices. While failing to offer a fully understandable and convincing definition of “democracy”, this work is a costly practice as huge human resources – and huge budgets – of the administration are simply wasted in toiling to collect data of dubious sources from each country for that reporting to the US Congress. It is of a totally useless purpose, irritating not only the government but also the people of each country listed in the report.

This practice is ignored by all – at least by Vietnam’s government and the majority of its people  – and considered only an individual war game between the US Department of State and its counterpart China’s State Council Information Office who annually publishes its own “Human Rights Record of the United States(3).

Among many other misleading comments, whist blaming Vietnam’s imaginary “the most significant human rights problems in the country were severe government restrictions of citizens’… right to change the government” as stated in its Vietnam 2016 Human Rights Report within the above-mentioned Country Reports on Human Rights Practices, the Bureau ignored the obvious fact that there is a similarity between the Vietnam’s applicable law and the 18 US Code § 2385 on advocating overthrow of government (4).

I personally believe the shuttering of the Bureau of Democracy, Human Rights and Labor under your Department of State just like the recent case of Secretary Rex Tillerson’s decision to shutter the Office of Global Criminal Office J/GCJ (or Office of War Crime Issues) will contribute to your MAGA efforts to make the US State Department to regain its prestige and to achieve its budget management, particularly to stop playing the controversial role of lonesome argumentation with China only. Its talented staffs would help the country a lot if providing their positive supportive services to the other offices under the US Department of State, e.g. EAP, EUR, NEA, or WHA, or the like.

 

I hope that with your kind consideration, influence and power, the above opinions would be of values in order that both Vietnam and the USA could materialize the effective sustainable cooperation for securing peace and free maritime trade of ASEAN in particular and the world in general.

 

Most respectfully,

 

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Blog: https://laithutruc.wordpress.com

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

References:

(1) @HoangHuuPhuoc

(2) https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/  (in Vietnamese)

(3) http://news.xinhuanet.com/english/china/2017-03/09/c_136115481.htm

(4) https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/2385

Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi – 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2017

Thủa bờ-lốc bờ-liếc mới xuất hiện với Yahoo!3600 tôi có mở trang Hoang Huu Phuoc-Aspiration đăng khoảng gần nửa ngàn bài viết bằng tiếng Anh, đồng thời do vẫn còn chút tưởng tin vào cái lý tưởng gọi là “nhật ký điện tử” hoặc “không gian sẻ chia những cảm điệu” tôi để mở toang cửa cho phần “comments”. Ngoài những comments ngợi khen (thủa ấy “ngợi khen” là cách hành xử duy nhất của mọi người xài blog tức những người đầu tiên bước chân một cách lịch lãm lịch sự với trang phục trang nhã vào không gian mạng chứ không phải đa số trần truồng trơ trẻn trâng tráo đầy trục trặc như hiện nay), mà tôi đọc cho vui rồi gõ trả lời ngắn gọn “Thank You”, tôi còn nhận rất nhiều các câu hỏi bằng tiếng Anh đa số đến từ các sinh viên ở các trường đại học trên cả nước, các giáo viên Anh Văn trung học, hỏi về chủ đề học tiếng Anh, viết tiếng Anh, nói tiếng Anh, dạy tiếng Anh. Năm khi mười họa mới có một câu hỏi nào đó về thời cuộc nước nhà và cuộc thời giới thế.

Cho đến khi Yahoo! phạm sai lầm chiến lược – mà tôi đã viết ngay hai bài bằng tiếng Anh mắng mỏ Yahoo! về sai lầm lổn nha lổn nhổn Mess ấy đăng lên Aspiration – tôi “dọn nhà” sang mạng doanh nhân Emotino.com theo sự tích cực giới thiệu của cô Lại Thu Trúc. Ở Emotino tôi buộc phải viết toàn bằng tiếng Việt, và nếu văn ôn võ luyện phải viết tiếng Anh cho bớt nhớ nhung khắc khoải muộn phiền thì tôi thỉnh thoảng kèm thêm bài song ngữ Việt và Anh.

Rồi khi tôi vào Quốc Hội bị “ném đá comments” bởi báo chí cùng báo chấy, tôi tuyên bố độc lập bằng cách vào mạng Blog.com mở một hơi 8 blog cho từng chủ đề khác nhau, từ “Chống Tàu” cho đến “Tham Luận”, “Thầy Cô”, v.v., với đặc điểm khóa toàn bộ các “comments”. Dần dà, khi Blog.com lộ rõ hạ tầng kỹ thuật yếu kém của nó, tôi chuyển hết sang WordPress.com này, và blog của tôi trở thành đa ngành đa chủ đề đa…nguyên đa sự đa đoan, cũng vẫn khóa hết “comments”. Cũng vì vậy, tôi chỉ nhận các câu hỏi từ những người thân quen từ dạo Yahoo!3600 mà thôi, và cách liên lạc duy nhất là bằng email hay tin nhắn điện thoại với điều kiện địa chỉ email hay số phone của người đặt câu hỏi phải đều có sẵn trong danh bạ của tôi; kỳ dư đối với người “mới”, tôi chỉ nhận các câu hỏi qua thư bưu điện hoặc fax.

Nhận thấy hiện có một số câu hỏi liên quan đến vài chủ đề có thể là sự quan tâm chung của nhiều người dân Việt, tôi chọn ra 6 nội dung đã trả lời riêng sau để hình thành bài viết mang tính “tổng hợp” và thời thượng thời sự này.

Câu hỏi 1: Ông Hải Quận 1 sao lại “làm nhục” U Minh?

Chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ các bạn ạ – Much ado about nothing ấy mà.

Chẳng qua xã hội chúng ta luôn có sự hòa âm điền dã của (a) vấn nạn muôn đời “giật tít câu view” của báo chí phe tabáo chấy phe giặc, (b) vấn nạn thời vụ của báo chí phe ta hư đốn phản phúc luôn làm đủ mọi cách để hạ phẩm giá và uy tín của cán bộ nhà nước Cộng Sản để từ đó hạ bệ chế độ, và (c) trình độ hùng biện quái gỡ của cán bộ cao cấp – kể cả cán bộ tuyên giáo cấp cao – chỉ thể hiện khi nói gì đó cơ bản ngắn gọn thuộc lòng về chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và Lịch Sử Đảng in đầy đủ trong giáo trình chứ cà lăm lắp bắp toàn phần hay một phần khi bị cật vấn vặn vẹo về ngôn ngữ, chiến lược quốc gia và chiến thuật địa bàn bất kể cái địa bàn ấy là làng, xã, quận, huyện, thành phố, hay tỉnh.

Ông Hải hùng biện thanh minh ông đâu có điên mà ám chỉ như thế như thế như thế về U Minh.

Lãnh đạo của ông Hải lật đật hùng biện tuyên bố xiết bao yêu thương người dân U Minh.

Lãnh đạo U Minh ra uy hùng biện bảo lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh phải giải thích cho ta ngay lập tức.

Tất cả khơi nguồn nhen nhóm địa chấn làm vỡ vụn sự toàn vẹn toàn khối toàn cục.

Giá như ngay khi bị báo chíbáo chấy giỡ trò, ông Hải giải thích rằng ông ngụ ý sâu xa: chỉ mới ở một điạ phương như Quận 1 với lèo tèo chỉ hai điều cấm liên quan đến đậu xe và lề đường mà đã không tuân theo quy định ấy được thì làm sao tuân thủ quy định của cả Thành phố Hồ Chí Minh, và làm sao đáp ứng được các quy định cực kỳ nghiêm ngặt đặc thù của Rừng U Minh. Cứ về Rừng U Minh mà sống để được dạy dỗ tới nơi tới chốn, là sẽ biết thân biết phận ngay, vì chính quyền địa phương tại đó đương nhiên không cho phép ô tô xe máy tự tiện chạy ồ ạt vào rừng, tự tiện phát cỏ chặt cây làm đường xe chạy, tự tiện dùng phương tiện chạy xăng dầu tức nhiên liệu không xanh làm ô nhiễm không khí, tự tiện bấm còi xe inh ỏi làm kinh động thú rừng, tự tiện dẫm đạp lên thảm thực vật, tự tiện phóng xe tốc độ không chậm khiến làm sai lệch các thiết bị quan trắc, tự tiện hái quả/đào củ/nhổ nấm rừng, tự tiện cắm trại ăn uống, tự tiện nhóm lửa, v.v. và v.v., để Rừng U Minh vẫn còn cơ hội sánh được rừng mỹ miều mỹ mãn của Mỹ quốc:

Questions (1)Questions (7)

Giá như khi thấy ông Hải bị báo chí báo chấy giở trò, lãnh đạo U Minh ra thần uy giáo dục truyền thông rằng lãnh đạo U Minh hiểu nội hàm phát biểu của ông Hải là như trên, nên một mặt cảm ơn ông Hải, một mặt rất lo lắng về trách nhiệm nên sẽ rà soát lại xem các quy định hiện nay cần bổ khuyết những gì để nghiêm khắc hơn, hà khắc hơn, dữ dội hơn, chi li hơn, ngõ hầu bảo vệ được Rừng U Minh, đặc biệt trước quá nhiều nguy cơ không những đến từ Mẹ Thiên Nhiên mà còn đến từ những đứa con thiếu ý thức của Mẹ ấy.

Tất cả những phát ngôn của cán bộ Nhà Nước đều là cơ hội bằng vàng để báo chíbáo chấy sáng tác sáng tạo sáng chế bài viết hoặc công kích – nếu là của quan chức tép riu cấp quận – hoặc tán dương – nếu là của quan chức tôm hùm cấp nước.

Tất cả các phán phê của truyền thông đều là cơ hội bằng vàng để cán bộ Nhà Nước chứng minh các giáo trình và giảng viên bộ môn cao cấp lý luận chính trị hoàn toàn không vô dụng.

Tiếc thay, trong khi báo chíbáo chấy không bao giờ bỏ qua cơ hội thì các cán bộ Nhà Nước luôn vô tư nhổ toẹt vào các cơ hội ấy.

Câu hỏi 2: Vì sao vẫn còn vấp dư luận này nọ về quy định trang phục của Hà Nội và  Cần Thơ?

Hầu như mọi vấn đề trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam đều được nêu lên kèm các tư vấn mang tính biện pháp trên chính blog này, chẳng hạn phát biểu gần đây của một nữ nghị sĩ Khóa XIV Tỉnh Khánh Hòa về đặt tên “thuần Việt” hay của một chức sắc Thành phố Hồ Chí Minh về “đặt tên Tiếng Anh”

Questions (6)

đều không trên cơ sở bút chiến luận sâu sắc mà chỉ là những nêu vấn đề ngắn gọn rất trẻ con, phi hiện thực, phản…“hội nhập” , hoàn toàn không hùng biện, chẳng hạn dễ dàng bị phản luận rằng phải chăng “không có lợi cho truyền thống” đồng nghĩa với “không có lợi cho…kiểu đặt tên Hán-Việt”, vì Hán-Việt không-phải-Việt vẫn được mặc định là chính-danh-thuần-Việt?  Về vấn đề này đã có phân tích tại Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Trong khi đó, về mại dâm mà Quốc Hội và báo chí cứ nhớ nhung nhắc nhở

Questions (5)

thì cũng đã có sẵn hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Luật Hóa Mại Dâm Ư?.

Tương tự, việc đài truyền hình cứ đưa tin hoài về cái việc “còn nhiều ý kiến khác” liên quan đến “quy định trang phục” cũng sẵn có bài hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân mà bạn có thể dễ dàng xem lại hoặc tham khảo thêm.

Để mang tính cập nhật và thời thượng, xin trình cùng bạn rằng bên Mỹ đang có vấn nạn tại giải bóng bầu dục chuyên nghiệp toàn quốc nhiều cầu thủ đẳng cấp triệu phú đã bày tỏ sự chống đối Tổng Thống Trump bằng cách mỗi khi sân vận động trỗi quốc thiều, hát quốc ca, chào quốc kỳ thì họ hoặc ngồi lỳ trên ghế, hoặc ngồi thụp xuống đất quỳ một chân, chứ không chịu đứng lên nghiêm chào cờ với bàn tay đặt trên ngực như từ trăm năm nay. Tất nhiên trên Twitter tràn ngập các tải đăng lời rủa nguyền hành vi bất kính đó từ Tổng Thống Trump và nhiều người dân khác, kể cả các “fan” của các cầu thủ ấy cũng phản đối hành vi hỗn láo ấy. Nhưng ý kiến không-hề-nguyền-rủa sau đây của Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Mnuchin có thể là quà tặng – hay là cẩm nang xử lý công việc – cho các lãnh đạo công quyền ở Hà Nội và Cần Thơ:

Questions

Từ đó, có thể nói rằng các công chức viên chức ở Hà Nội và Cần Thơ nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan công quyền chuyên nghiệp nào có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng các bác sĩ và nhân viên y tế tại các bịnh viện nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan y tế chuyên nghiệp có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng ngay khi báo chí và báo chấy viết gì đó hay nói gì đó về quyền tự do cá nhân ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do ngôn luận ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do biểu đạt ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, thì phải hiểu ngay là báo chí/báo chấy hoặc (a) đang xách động cho kiểu tương tự tự do cá nhân đang đứng nói chuyện ồn ào thì vội thụp xuống lột chuối ăn ngay khi nghe loa phóng thanh yêu cầu đứng nghiêm chào cờ:

Questions (4)Questions (3)

và tương tự tự do “treo” cờ trên sàn làm tấm chùi chân này để thực thi quyền tự do biểu đạt:

Questions (2)

của Nước Mỹ Vĩ Đại; hoặc (b) thề không bao giờ đọc tin của bất kỳ báo in/báo mạng của nước ngoài nên chả hiểu biết gì sất về cái biến thiên của cái sự đời.

Câu hỏi 3: Tại sao Việt Nam ngày nay vẫn còn xuất hiện mấy vụ ồn ào như của  Nguyễn Xuân Anh ở Đà Nẳng và làm sao để tránh được các lùm xùm tương tự?

Đơn giản là lãnh đạo Đảng và Nhà Nước nếu muốn đừng có các “lùm xùm” tương tự bất kỳ thì chỉ cần quan tâm đến sự thật là “trẻ hóa” hoàn toàn tối kỵ với 4 điều không bao giờ có thể tách rời gồm (a) “trẻ quá”; (b) thiếu kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, và quản trị; (c) vắng thành quả thực tiễn; và (d) không trên cở sở đạo đức gia phong.

Trẻ hóa là một tiến trình lý tưởng cao nhất của sự công bằng trong dụng nhân ở cấp lãnh đạo, nhất là trong phạm vi chính trị, nhằm đã phá kiểu “ở lâu lên lão làng” hoặc kiểu “con sãi ở chùa mãi quét lá đa”.

Trẻ hóa chỉ phát huy tác dụng tích cực nếu trên cơ sở nền tảng lý luận và nền tảng thực tế rằng trẻ hóa nhất thiết phải luôn gắn liền với bề dày kinh nghiệm cùng số lượng cao của thành quả thực tiễn chất lượng cao – như đã nêu chi tiết trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

1- Trẻ Quá:

Ngay cả giai thoại về Nguyễn Hiền trong Việt Sử cũng cung cấp một bài học đắt giá rằng việc Trạng Nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi phải về quê học hỏi thêm về lễ nghi mới được phong chức chốn triều đình đã chất chứa trong nó hai nội hàm mang tính chân lý toàn cầu rằng (a) việc hoàn tất việc học của một người – ngay cả khi có kết quả học tập thật cao – không có nghĩa là người đó thích hợp ngay với công việc chuyên môn và công tác quản trị, nhất là trong phạm trù trị quốc, lãnh đạo quốc gia về chiến lược phát triển quốc gia và chính trị/kinh tế/tài chính; và rằng (b) học luôn phải đi đôi với hànhhành không phải là thực hành trong đợt thực tập trong thời gian còn đang học mà là đem những gì đã học xong tức đã tốt nghiệp ra thi thố tại nơi làm việc “tư nhân” như đã nêu trong bài Chìa Khóa Của Cường Thịnh tức phải tìm việc trong cạnh tranh gian nan chứ không được bố trí đương nhiên vào công sở đầy đặc ân của Nhà Nước dành cho con em cán bộ cao cấp – cho một kế sinh nhai và có đạt thành quả tốt sau nhiều năm tháng.

Về phương diện Nhà Nước và chính trị, người trẻ quá dứt khoát không được nắm quyền lãnh đạo bất kỳ về chính trị, tài chính/ngân hàng thuộc Nhà Nước, ngoại giao cấp Nhà Nước, và về các kế sách phát triển cấp Nhà Nước.

Trẻ quá chỉ có thể nắm quyền sinh sát tất cả những đơn vị/cơ quan/doanh nghiệp không thuộc Nhà Nước.

Có như vậy, trẻ quá mới không bao giờ trở thành quốc nạn.

2- Thiếu Kinh Nghiệm & Thiếu Thành Quả Thực Tiễn:

Từ nội dung “trẻ quá” nêu trên, lãnh đạo trẻ quá có thể tồn tại ở một doanh nghiệp nếu chỉ trên cơ sở tài sản riêng của gia đình. Lãnh đạo trẻ quá không bao giờ được phép tồn tại trong công việc lãnh đạo cơ quan hay doanh nghiệp trong guồng máy Nhà Nước – trừ phi người trẻ quá đó tuy tốt nghiệp đại học năm 22 tuổi và có bằng thạc sĩ năm 24 tuổi nhưng đã lao lung làm việc từ năm 15 tuổi nghĩa là đã có dồi dào kinh nghiệm 10 năm làm việc vào thời điểm nắm bằng thạc sĩ trong tay. Kinh nghiệm là tiêu chuẩn mấu chốt của mọi tuyển dụng quan trọng. Chỉ trong trường hợp cá biệt người quá trẻ có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh thiên phú nhưng phải là năng khiếu lãnh đạo nỗi bật được nhiều người tại cơ quan người ấy công tác biết đến các thành quả cụ thể chứ không phải bất ngờ xuất hiện như trên trời rơi xuống chễm chệ ngự trị ngôi cao nhờ ô dù của ai đó.

3- Đạo Đức Gia Phong:

Đạo đức gia phong hoàn toàn không bao giờ trùng nội dung với đạo đức cách mạng.

Đạo đức gia phong là thứ đạo đức mang tính kế thừa, dài hạn, thống nhất, phát huy phát triển, lan tỏa, truyền thống, nhân văn, vững bền vượt thời gian bất kể chế độhay triều đại, được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng về những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và mang tính tự nhiên. Không thứ chủ nghĩa xét lại nào có thể làm tan biến giá trị của đạo đức gia phong.

Đạo đức cách mạng là thứ đạo đức không tự nhiên có, mà phải qua giáo dục tư tưởng nên luôn mang đặc tính chính trị, luôn mang tính cá nhân không tự động kế thừa, không có đặc tính tự động phát huy hay tự động phát triển, không thể lan tỏa, không thể tồn tại dài lâu tùy sức công phá có mạnh hay không của chủ nghĩa xét lại, không được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng vì không có những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và rất phổ biến dạng thức tự động có danh đạo đức cách mạng khi là đảng viên cao cấp (giống như khi đã là đảng viên có nhiều tuổi Đảng tự động được danh tiếng trung kiên) còn khi đảng viên cao cấp ấy gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng trốn ra nước ngoài bị truy nã toàn cầu thì cái đạo đức cách mạng ấy tự động tan biến đi không kèn không trống không cần thông báo nghị quyết chính thức tước bỏ.

Vì lý do trên, đại cuộc trẻ hóa và việc sử dụng nhân lực trẻ quá nhất thiết phải không thiếu tiêu chuẩn về đạo đức gia phong trong tuyển dụng và bố trí, vì bốn tiêu chuẩn lớn nhất mà tầng lớp lãnh đạo nên có là sự đoan chính, đức thanh liêm, lòng trung tín, cùng năng lực nhân-trí-dũng hoàn toàn chỉ được hình thành từ nền nếp tự hào gia phong chứ không bao giờ là những nội dung mà một đảng chính trị có thể giảng dạy bằng giáo trình lý luận chính trị cho đảng viên.

Sẽ không thể xuất hiện các đấng “tuổi trẻ tài cao” Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, và Vũ Đình Duy, v.v., làm Đảng lúng túng, làm nhục quốc thể, nếu như việc lựa chọn người lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã trên cơ sở có luôn quan tâm đến những nội dung đánh giá nhân sự “trẻ hóa” như trên.

Gương trẻ hóa tuyệt diệu nhất và thành công nhất còn được minh chứng qua trường hợp các đứa con của Donald Trump: họ là những người tích cực, năng nổ, thành công trong quản trị doanh nghiệp, thành đạt trong sự nghiệp kinh doanh riêng và chung trong thời gian rất dài trước khi Donald Trump trở thành Tổng Thống; và sự “tham chính” của họ làm các trợ lý cho Donald Trump đã khiến Donald Trump trở thành nhà lãnh đạo quốc gia đầu tiên và duy nhất của toàn thế giới được giúp sức hữu hiệu bởi những người con đã thành công nổi bật mà hoàn toàn không dựa vào uy thế tổng thống của người cha, mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong Bài Học Cho Việt Nam Về Công Tác Nhân Sự. Giai tầng “trẻ hóa” không thể áp dụng vào lãnh địa chính trị nếu như các lực lượng kế thừa chính trị không có chất lượng cao bằng con cái của Donald Trump.

Câu hỏi 4: Tại sao đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến việc nội dung truyền thông phải tương thích với trẻ em?

Sự thật thứ nhất là tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri của Đơn Vị 1 Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII của các nghị sĩ Trương Tấn Sang, Trần Du Lịch và Hoàng Hữu Phước suốt từ năm 2011 đến 2016, đặc biệt tại Quận 4 là nơi 100% buổi đều có ít nhất hai cử tri đặt vấn đề về loạn văn hóa phẩm độc hại trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống.

Sự thật thứ hai là các nghị sĩ Trương Tấn Sang và Trần Du Lịch tức hai vị độc quyền trả lời cử tri đã chưa bao giờ trả lời trực tiếp đối với các vấn nạn văn hóa mà cử tri chất vấn tại chỗ.

Sự thật thứ ba là toàn thể các báo đài có phóng viên tác nghiệp trực tiếp tại các buổi tiếp xúc cử tri ấy chưa hề có đăng clip hay bài viết hoặc thông tin về những phát biểu có thật 100% ấy của cử tri, mà chỉ tập trung nói/chiếu/viết về những ý kiến của Chủ Tịch Nước đối với chủ quyền biển đảo Biển Đông và tham nhũng, dù rằng toàn bộ các trả lời về Biển Đông luôn giống hệt các thông tin được lập đi lập lại bởi các lãnh đạo khác, còn tham nhũng thì ngoài hình ảnh đông đúc như “bầy sâu” trong ngôn từ khẩu khí của nghị sĩ lãnh đạo thì người dân cả nước chả thấy tội phạm tham nhũng thực thụ có tên họ nào cả.

Các sự việc sự thật trên chứng minh

1) Việt Nam hoàn toàn không có lãnh đạo nào của Nhà Nước quan tâm đến việc tạo ra các rào cản kỹ thuật đối với văn hóa phẩm đồi trụy của cách mạng dù thời gian đầu giải phóng đã triệt để bài trừ văn hóa phẩm đồi trụy của Mỹ-Ngụy, và đã làm ngơ để mặc cho các cơ quan truyền thông có quyền tự do hủy phá nhân cách, hủy hoại tâm hồn tư tưởng tư duy của con cháu của cử tri toàn quốc, bằng các phim ảnh/tác phẩm nội địa luôn khai thác việc hiếp dâm, đĩ thỏa, trần truồng, chước quỷ mưu ma, gian manh xảo trá, lưu manh giết chóc, ăn nói quàng xiêng, tả chân sa đọa.

2) Lãnh đạo Nhà Nước Việt Nam hoàn toàn không có sự quan tâm đến việc ngăn cấm các cơ quan truyền thông đại chúng làm giàu từ quảng cáo luôn dựa vào các sản phẩm văn hóa có tính đồi trụy, có cảnh hiếp dâm chi tiết, có diễn đĩ thỏa trần truồng, có bày chước quỷ mưu ma, có chiêu gian manh xảo trá, có trò lưu manh giết chóc, có kiểu ăn nói quàng xiêng, và có cách ăn mặc không nghiêm túc, nghĩa là có đủ thứ trừ chất lượng văn hóa nghệ thuật đỉnh cao.

3) Tại Việt Nam, cử tri không được lãnh đạo Nhà Nước lắng nghe nếu ý kiến của họ liên quan đến công kích truyền thông, bảo vệ tâm hồn lành mạnh của trẻ thơ, làm vơi thu nhập tỷ đô của truyền thông.

Câu hỏi của bạn sẽ có câu trả lời rằng nếu nay bắt đầu có như vậy thì đã bắt đầu tốt rồi.

Câu hỏi 5: Vì sao cứ Cải Cách Giáo Dục hoài?

Cải cách giáo dục ở nơi khác trên hành tinh này là hoạt động không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới, với mục đích duy nhất là làm một nền giáo dục đã thành công nay trở nên tương thích hơn, hiệu quả hơn, tốt đẹp hơn, ngõ hầu dẫn đến xã hội có nguồn nhân lực chiếm lĩnh đỉnh cao và bất khả chiến bại trên trường quốc tế. Cải cách do đó phải không ngừng, phải hoài hoài.

Cải cách giáo dục ở Việt Nam là động tác tự cứu mình ngay khi sự thất bại trở thành hiển nhiên của một cải cách giáo dục trước đó và toàn bộ kinh phí đã bị ngốn sạch sành sanh không còn lại chút gì để sửa chữa, chỉnh điều.

Lý do có sự thất bại triền miên mang tính truyền thống thâm căn cố đế trong giáo dục và cải cách giáo dục ở Việt Nam: chưa hề có chuyên viên thực thụ nào về giáo dục có kinh qua giảng dạy thành công, có kết quả hữu hiệu từ giảng dạy thành công, có hiểu biết và nghiên cứu sâu sắc về tất cả các lĩnh vực giảng dạy/học tập/soạn giáo trình/lý luận giáo dục cao cấp trong thấu đáo thế mạnh dân Việt và thế mạnh dân Âu Mỹ, v.v., trong danh sách những “giáo sư” “phó giáo sư” của ban cải cách giáo dục của tất cả các kỳ cải cách giáo dục ở Việt Nam, thậm chí những vị có tên trong công trình cải cách giáo dục thất bại lần này lại tiếp tục có mặt trong danh sách cải cách giáo dục lần sau, với đặc điểm kinh phí cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công sau luôn cao hơn kinh phí đài thọ cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công trước.

Biện pháp duy nhất có thể khắc phục để có thể lần đầu tiên có được một cải cách giáo dục thành công: đơn giản hãy công khai tuyển chọn qua phỏng vấn trực tiếp các nhà chuyên nghiệp, thay vì tự lập danh sách “chuyên gia giáo dục” bất tài vô dụng từ lợi ích nhóm như từ trước đến nay tức chỉ toàn những nhân vật thuộc bí mật quốc gia đến độ chỉ có lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo Nhà Nước mới biết đến năng lực của họ chứ toàn dân chẳng biết gì về các tối mật ấy.

Câu hỏi 6: Tình hình kẹt xe ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ còn có giải pháp nào hữu hiệu?

Ngay khi Hà Nôi công bố giá trị giải thưởng vấn kế giải quyết tình trạng giao thông là tôi đã nói ngay rằng cách chi mà có giải pháp.

Ngay khi Thành phố Hồ Chí Minh công bố làm cầu vượt giải quyết kẹt xe ở cửa ngõ Sân Bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nói ngay rằng cầu vượt sẽ không là giải pháp thành công.

Cơ sở cho những “tiên đoán” không sai của tôi gồm:

– Không bao giờ giải quyết được những vấn đề giao thông/hạ tầng giao thông/kẹt xe/ngập nước nếu vẫn chưa trước hết phải có luật pháp/quy định nghiêm khắc, hà khắc;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu vẫn ngây thơ ngây ngô ngây dại lảm nhảm hoài về “giáo dục người dân có ý thức hơn”;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu chưa tìm đến đúng nhà tư vấn chiến lược thực thụ;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu luôn luôn giở cẩm nang in sẵn rằng lĩnh vực A thì hỏi ông A, lĩnh vực B thì hỏi ông B, lĩnh vực C thì hỏi bà C, nội dung “Sân bay Tân Sơn Nhất” thì hỏi “kiến trúc sư” X, nội dung xây dựng thì hỏi “nguyên Bộ trưởng” Y, nội dung nông nghiệp/giáo dục/kinh tế thì hỏi “giáo sư” Z1/Z2/Z3, v.v. và v.v.

Đối với vấn nạn kẹt xe ở Sân bay Tân Sơn Nhất thì muốn có biện pháp thành công thì nhất thiết phải xử lý các xuất phát điểm gây ra vấn nạn ấy như đã nêu chi tiết tại bài Phi Trường Tân Sơn Nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 18-9-2015

Tứ Đại Ngu  2012

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Phi Trường Tân Sơn Nhất  07-01-2009

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-9-2017

Người Chứng Của Chân Lý (1)

Chân lý không được mặc định bó buộc phải là kết quả của tư duy nơi các đấng triết gia, các nhà khoa học, các vĩ nhân kim cổ; đơn giản vì chân lý đến từ cuộc sống thực, chiêm nghiệm thực, mà chiêm nghiệm không bao giờ được mặc định là hành trạng tư duy độc quyền riêng của các tầng lớp cao trọng, quý tộc cao sang, trí thức cao vời của cộng đồng và nhân loại.

Chân lý có khi bật bung ra từ chiêm nghiệm hay cuộc sống của nô lệ, nông nô, thành phần bất hảo, bất kể sự chiêm nghiệm ấy cho những điều tầm thường hay kỳ vĩ, hoặc từ hành động hành vi hành xử của những người mà nhân loại nguyền rủa bất kể sự nguyền rủa ấy đúng hay sai.

Tác giả bài viết này từ quyển Søren Kierkegaard, Người Chứng Của Chân Lý trong ba tá sách phần thưởng ông nhận được từ kỳ Đố Vui Để Học đài truyền hình Sài Gòn dịp Giáng Sinh 1967 khi đội lớp Nhì (tức lớp 4 hiện nay) tiểu học Phan Đình Phùng, Quận 3, của ông (gồm ông là đội trưởng, và hai học sinh khác là Tống Kim Lan – cô này được những chuyên viên phụ trách thu hình yêu cầu ngồi ghế giữa vì nữ sinh này có đôi chân rất dài khiến cô lúc ấy cao hơn đội trưởng…một cái đầu – hiện vẫn ở Quận 3, và Nguyễn Sơn Hải hiện định cư ở Hoa Kỳ) thắng đội lớp Nhì trường “đầm” Hồng Bàng, đã cho title của bài này là Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý để nêu ra những chân lý thời đại nguyên tử như sau.

Người Chứng Của Chân Lý

A) Chân Lý Có Thể Luôn Đúng Nhưng Luôn Không Đúng

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Hai võ sĩ quyền anh thượng đài không bao giờ có việc một bên không được đeo găng tay, không được đi giày, không được mặc quần, và không được ngay cả ra đòn tay hay đòn chân của kick-boxing – nghĩa là một bên buộc phải là cái bị thịt trong một trận đấu tranh giải quyền anh hạng nặng thế giới. Chỉ có quân mọi rợ mới ra cái quy định cấm đoán thiên vị công khai ấy. Liên Hợp Quốc là quân mọi rợ vì đã chỉ cấm Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có sự “cầm cân nẩy mực” của trọng tài dựa trên các các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Không bao giờ có việc một đám 15 đứa trọng tài hè nhau cùng lúc thổi còi trừng phạt một võ sĩ chỉ vì võ sĩ ấy có đeo găng tay, có đi giày, có mặc quần, có ra đòn tay hay đòn chân chạm đến võ sĩ người nhà của trọng tài. Chỉ có quân mọi rợ mới thổi còi như vậy. Hội Đồng Bảo An 15 thành viên chính là quân mọi rợ vì đã chỉ thổi còi trừng phạt Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Kiểu hành xử giang hồ tứ chiếng trên đã được thực thi rất nhiều lần trong lịch sử cận đại và hiện đại, mà cụ thể là hai trường hợp nổi bật sau:

1) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (gọi tắt là Việt Nam) và Liên Hợp Các Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) thì Việt Nam là bên thắng trận lại bị bên bại trận là Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc-gia-đồng-minh với Mỹ hoặc giữ vai trò bàng quan sao cũng được của quốc-gia-khán-giả. Cái gọi là “tinh thần thượng võ” của thể thao khi võ sĩ bị knockout mặt mày bầm dập gảy răng tét môi đầy máu ôm chúc mừng võ sĩ đối phương thắng trận, đã không bao giờ được siêu cường nguyên tử Mỹ áp dụng đối với Việt Nam.

2) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Choson (gọi tắt là Triều Tiên) và tập thể hai quốc gia Liên Hợp Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) cùng Cộng Hòa Hanguk (gọi tắt là Hàn Quốc) thì

a- Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để Triều Tiên và cấm vận liên tục với mức độ ngày càng gia tăng nặng nề nghiêm trọng hơn, với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc gia đồng minh với Mỹ hoặc những quốc gia giữ vai trò bàng quan của khán giả;

b- Mỹ cấm Triều Tiên không được tự vệ khi áp đặt yêu cầu Triều Tiên phải hủy bỏ chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử như điều kiện tiên quyết dù Triều Tiên sở dĩ còn tồn tại nhờ có vũ khí nguyên tử ấy để tự vệ và răn đe kẻ thù, và dù Mỹ-Hàn dứt khoát không chấm dứt các cuộc tập trận theo yêu cầu tiên quyết của Triều Tiên cho các đàm phán có liên quan đến vũ khí nguyên tử, thậm chí Mỹ cũng không chấp nhận yêu cầu của Triều Tiên muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ chứ không thông qua “thiên hạ”;

c- Hàn Quốc tiến hành nhiều chiến thuật tâm lý chiến quyết tấn công triệt hạ chế độ Triều Tiên như lắp đặt hệ thống loa công suất lớn dọc biên giới để công kích Triều Tiên, thả khinh khí cầu qua lãnh thổ Triều Tiên rải truyền đơn kêu gọi lật đổ chế độ Triều Tiên, có sự giúp sức của các đài truyền thông Châu Âu phát chương trình tiếng Hàn nhằm cung cấp cho dân Triều Tiên những thông tin “thật” về tình hình “phản tự do phản dân chủ” của chế độ Triều Tiên; v.v.

B) Chuẩn Bị Chiến Tranh Là Lựa Chọn Duy Nhất Để Bảo Vệ Đất Nước

“Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” là câu châm ngôn lạc hậu, lỗi thời, yếu kém.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” là câu đối đã chưa từng được giải thích chuẩn xác chuẩn mực ngay cả bằng tiếng Việt.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn” không bao giờ là một vũ khí thực tiễn trong chiến tranh trên thực địa chiến trường, mà là một sử dụng kiểu tâm lý chiến hay chiến tranh chính trị trong nội bộ để khích lệ và trong đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế hoặc phục vụ mục đích tranh biện. Trên chiến trường quyết chiến quyết tử được phân định bằng làn ranh mỏng manh của bom đạn thì cái cụ thể nhất của “thắng hung tàn” phải luôn là tiêu diệt tàn sát đối phương mà ta đã nhanh tay đặt tên cho chúng là bọn khát máu hung tàn.

“Lấy chí nhân mà thay cường bạo” luôn chỉ là câu nói của bên thắng trận sau khi đã tiêu diệt xong hỏa lực đối phương, vì rằng chỉ có kẻ ngu xuẩn mới thốt ra trước khi lâm trận trên chiến trường là nơi chỉ có bấm nút bóp cò khai hỏa vũ khí tối tân nã vào quân địch.

Vì vậy, không phải muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, mà chính là luôn phải chuẩn bị vũ khí sát thương cao để nhanh chóng tàn sát quân thù ngay cửa ngõ biên giới nước nhà, đơn giản vì trong thời đại hiện nay hòa bình chỉ có thể là từ ngữ vô nghĩa, thứ chữ vô minh, sự ru ngủ hay tự ru ngủ, sự mất cảnh giác hay khiến đối phương mất cảnh giác, liều ma túy chính trị, sự tự sát, và tấm giẻ chùi chân làm sạch gót giày trước ngưỡng cửa hội đàm Liên Hợp Quốc.

C) Sở Hữu Vũ Khí Nguyên Tử Là Lựa Chọn Duy Nhất Đúng Để Bảo Vệ Đất Nước

Dân tộc Châu Sơn là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu và của Nhật.

Dân tộc Lạc Hồng là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu, của Pháp, của Nhật, của Mỹ, của Campuchia.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ cực đoan của cả Triều Tiên và Hàn Quốc là như nhau, mặc dù cả hai đều có “chính nghĩa” riêng để chống nhau do cả hai là hai quốc gia thành viên riêng biệt của Liên Hợp Quốc.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ đối kháng của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là như nhau, mặc dù duy chỉ có Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có “chính nghĩa” trên cơ sở (a) tổng tuyển cử thống nhất đất nước minh định tại Hiệp Định Geneve hình thành từ chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước Pháp Quốc giải phóng cả Đông Dương, (b) “Miền Nam” là lãnh thổ thuộc Liên Hiệp Pháp lệ thuộc Pháp và không có quyền lực bất kỳ kể cả về quốc phòng, và (c) “Miền Nam” không được Pháp xem như đối trọng chính trị ngang tầm với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hội Nghị Geneve nên đã phá thối bằng cách không tuân thủ thực hiện “tổng tuyển cử”.

Hàn Quốc kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Triều Tiên. Triều Tiên kiên quyết “giải phóng” Hàn Quốc.

Việt Nam Cộng Hòa kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kiên quyết “dọn sạch” các mầm mống “thân Cộng” trong dân chúng Việt Nam Cộng Hòa, và mong chờ Mỹ ném bom nguyên tử tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; thậm chí sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa sổ vĩnh viễn, những kẻ tháo chạy liên tục tổ chức “vũ trang phục quốc”, gây nổ phá hoại, chống đối bằng chữ/bằng lời/bằng biểu tình/bằng vận động/bằng tài trợ/bằng vu vạ/bằng vu khống/bằng sự điêu ngoa đẻ tin láo xạo. Trong khi đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiên quyết dũng vũ lực giải phóng cho bằng được Miền Nam khỏi ách xâm lược của Mỹ, không bao giờ coi Việt Nam Cộng Hòa là “quốc gia” có chính quyền chính thống chính đạo mà chỉ là một thứ chính quyền tay sai do Mỹ lập nên mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gọi là chính quyền ngụy gọi tắt là “ngụy quyền” như một phong thái không đội chung trời đầy khinh miệt khinh rẻ khinh khi.

Trước “dân tộc tính” dữ dội dữ dằn như thế, cộng thêm các đe dọa từ các cuộc tập trận quy mô khủng khiếp Mỹ-Hàn, những căn cứ quân sự đồn trú của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc, cùng những lịnh cấm vận ngày càng tàn tệ hơn, Triều Tiên không thể không buộc phải sở hữu vũ khí nguyên tử. Cái may mắn nhất của Triều Tiên không những nhờ có các nhà khoa học kỹ thuật tài năng hàng đầu tuyệt đối trung thành với chế độ, các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, mà chính các nhà lãnh đạo tài năng của Triều Tiên giữa sự bủa vây cấm vận và đe dọa của kẻ thù vẫn có thể hoạch định thành công xây dựng Triều Tiên thành quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và sản xuất/xuất khẩu vũ khí tầm cỡ. Nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Châu Sơn của Hàn Quốc đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn được phô trương, kế sách “tiêu diệt mềm” được phô bày qua giảo biện về “đàm phán tiến tới thống nhất đất nước” cùng các khoản viện trợ “nhân đạo” và dựng xây khu công nghiệp tại Triều Tiên. Và cũng nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Mỹ đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn qua minh chứng của sự xuống nước ve vản vuốt ve Triều Tiên của các tổng thống Mỹ Bill Clinton và Barack Obama.

Việt Nam không thể có vũ khí nguyên tử vì (a) Việt Nam không bao giờ có các nhà khoa học kỹ thuật hàng đầu, (b) sự tuyệt đối trung thành với chế độ chỉ là khẩu hiệu, (c) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật, (d) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, và (e) Việt Nam không bao giờ có các nhà lãnh đạo tài năng về chiến lược phòng vệ hữu hiệu nhất dám nghĩ đến việc sở hữu uy lực vũ khí nguyên tử trong bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, bảo vệ chế độ, cũng như uy thế đối ngoại của chính quyền trong tư thế sở hữu được vũ khí nguyên tử.

Không thể có vũ khí nguyên tử là một yếu điểm, nhưng yếu điểm này không thể – và không bao giờ có thể – được dùng cho sự giảo biện rằng sở hữu vũ khí nguyên tử không là lựa chọn duy nhất đúng để bảo vệ đất nước.

D) Ngụy Lý Là Chân Lý Của Chiến Tranh Tâm Lý Truyền Thông

Dân tộc Hàn là một dân tộc cực kỳ dữ dội, cực kỳ hung hãn, cực kỳ hung hăng, mà chỉ có “làn sóng Hàn”, “Kê-póp” và các “ù-pá” cùng “ù-nhí” xinh đẹp mỹ miều ngây thơ tuyệt đỉnh thánh thiện mới làm người trần thế quên hẳn cái đặc thù dân tộc tính đó của dân Hàn. Phải cực kỳ ghê gớm bất khuất như thế Triều Tiên mới trụ được trước giặc Tàu trong quá khứ cùng giặc Nhật trong quá khứ, và trước bọn Tàu của hiện tại – nghĩa là trên thế giới hiện đại ngày nay chỉ duy nhất có Triều Tiên công khai khẳng khái không luồn cúi trước Tàu, sẵn sàng cho Tàu lâm vào cảnh không thể cứng rắn với Triều Tiên.

Tuy nhiên, cái cũ rích của chiến tranh tâm lý truyền thông những năm 60 của thế kỷ trước vẫn luôn được áp dụng vượt thời gian.

Nếu như trong thế kỷ XX, báo chí chính thống Việt Nam Cộng Hòa đã đăng ra rả nhiều kỳ nhiều tháng trên trang nhất cái láo xạo gọi là “bài dịch từ nguyên tác tiếng Pháp” nhan đề “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” nhằm tạo ra ảo cảm nơi quần chúng rằng Hồ Chí Minh sang Pháp chỉ để dan díu đú đởn với phụ nữ Pháp chứ không để tìm đường cứu nước, rằng Hồ Chí Minh có lắm con rơi tại Pháp, và rằng Hồ Chí Minh bị các con rơi nhạo báng rủa nguyền tư cách sở khanh đốn mạt của người cha sinh học của chúng; thì nay trong thế kỷ XXI báo chí mạng “chùa” chuyên dựng powerpoint (không bao giờ là video clip “động”) thảy lên YouTube láo xạo về các lãnh đạo Việt Nam hoặc các sự việc loạn lạc lầm than ở Việt Nam. Còn mấy anh truyền thông chính thống Âu Mỹ đã đưa các tin như sau về Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (2)Người Chứng Của Chân Lý (1)

Dù cho có ba người Mỹ “comment” rằng báo chí đã quá láo xạo khi đưa tin như vậy về Kim Jong-un, thêm một người Việt “comment” rằng đừng bao giờ tin bọn “đào thoát” vì chúng toàn là bọn đói khát, bất tài vô dụng, hèn nhát, và phản quốc, thì nhiều trăm người Mỹ khác vẫn “comment” đầy khí thế nguyền rủa Kim Jong-un là dã thú, là dã man, là phải bị tiêu diệt, v.v, thậm chí có người còn hô hào phải giết ngay Kim Jong-un, trong khi những người khác quy chụp ngay rằng tại có đầu óc cộng sản chủ nghĩaxã hội chủ nghĩa mà Kim Jong-un điên loạn, rồi kết luận nhất thiết phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu – tức là tự dưng lôi Việt Nam vào phạm trù đối tượng sẽ điên khùng nguy hiểm như Triều Tiên!

Khi Reuters chính thống phải dùng đến hạ sách của thứ báo lá cải bằng cách sử dụng nguồn tin rác rưởi của bọn “đào tẩu” mà bản chất luôn luôn láo xạo, truyền thông Việt Nam có kẻ đã quỳ mọp lạy Reuters ngay lập tức để hòa âm bôi nhọ Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (2)

Truyền thông Việt Nam còn vô tư đưa tin với cách dùng từ hoàn toàn sai cứ như đang hớn hở tham gia tấn công vào danh dự và niềm tự hào dân tộc của Triều Tiên, chẳng hạn từ “trừng phạt” chỉ luôn dùng cho đối tượng sai và phạm tội trong khi Triều Tiên hoàn toàn không sai về bất kỳ điều gì và không phạm bất kỳ tội gì; từ “khuất phục” chỉ dùng cho đối tượng mạnh mẽ bất khuất bị quyền lực mạnh hơn khống chế, như vậy hoàn toàn sai vì Liên Hợp Quốc không bao giờ là quyền lực ấy; trong khi đó, chỉ có bọn ngu đần mới cho rằng Triều Tiên “theo đuổi tham vọng hạt nhân” vì không những Triều Tiên đã sở hữu vũ khí nguyên tử từ lâu mà việc sở hữu ấy không phải là tham vọng mà là sự tự vệ hữu hiệu của Triều Tiên mà Mỹ muốn tước bỏ quyền tự vệ chính đáng chính nghĩa chính đạo ấy của Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (5)

Tương tự như vậy, việc ăn theo bọn Fake News khét tiếng như Reuters và Washington Post để loan tin “dân Triều Tiên bối rối” để làm nhục nhân dân Triều Tiên của báo Việt:

Người Chứng Của Chân Lý (4)

thì chẳng khác gì sự ngu đần của Independent khi bỡn cợt rằng chỉ cần ném xuống Triều Tiên 25 triệu chiếc iPhone và cho các vệ tinh vần vũ trên không gian cung cấp wifi miễn phí là người dân Triều Tiên sẽ vùng lên giết Kim Jong-un ngay – cứ như thể nhân dân Triều Tiên bị mù thông tin, ngu muội, không biết gì về Kim Jong-un nên nhất thiết cần Mỹ khai sáng, mở mắt, là sẽ tự tay kết liễu Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (3)

Như vậy sự trá ngụy đớn hèn trở thành thông tin (a) tác động khống chế nhận thức của người đọc, và (b) bôi nhọ trở thành hành vi chính danh chính đạo không bao giờ bị trừng trị.

Tác động nhãn tiền còn ở chỗ liên tưởng tự động tự nhiên. Khi thời gian giúp mọi người nhận ra “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” chỉ là một sáng tạo láo xạo hoàn toàn của đám bồi bút vì không bất kỳ ai tìm ra được “nguyên tác tiếng Pháp” của nó, nhà xuất bản của nó, và “tác giả” của nó, thậm chí “dịch giả” của nó; thì từ đồ dần dà hình thành một phản ứng tự nhiên ngay lập tức nơi người đọc “đứng tuổi” và người đọc có trí tuệ công chính rằng Kim Jong-un khi bị bôi bẩn cùng kiểu ắt đúng là danh nhân đáng kính, đúng là anh hùng dân tộc đáng trọng, và đúng là gương sáng đáng nể của dân tộc Châu Sơn và nhân loại.

Hóa ra danh dự của một nhân vật quan trọng được khẳng định và tôn vinh chỉ khi nhân vật đó bị bôi bẩn và sự bôi bẩn được phát hiện là giả trá.

Và khi sự bôi bẩn là vũ khí chủ lực của truyền thông chính thống vốn luôn dưới lớp áo choàng sang cả lấp lánh của chân lý, chỉ có chân lý, và không gì khác hơn ngoài chân lý, thì bản thân đó là một ngụy lý đã trở thanh chân lý vậy.

E) Chân Lý Thường Được Công Nhận Bởi Số Đông Nhưng Người Chứng Của Chân Lý Sẽ Luôn Là Người Cô Độc Như Søren Kierkegaard

Tất cả những dẫn chứng và biện luận trên về các quyết định của Kim Jong-un – và của cha và ông của Kim Jong-un – ắt được số đông gật gù công nhận, không những vì các dẫn chứng biện luận ấy không-thể-tranh-cãi hay khó-thể-tranh-cãi mà còn vì chúng là sự thật hiển nhiên.

Tuy nhiên, không cần phải đi khắp cõi ta bà, chỉ cần rong chơi cuối trời quên lãng trên không gian mạng ngay tại Việt Nam cũng đã nhận ra ngay truyền thông Việt Nam thường xuyên nhơi đi nhơi lại biết bao từ ngữ xúc phạm Kim Jong-un và xúc phạm Triều Tiên mà nguồn xuất phát của chúng lại là từ bọn truyền thông chính thống Âu Mỹ bất kể bọn truyền thông này đã luôn xúc xiểm Việt Nam, láo xạo về Việt Nam, và hỗn láo gọi lãnh đạo Việt Nam là “thugs”:

Triết gia Søren Kierkegaard, nhà thơ Đan Mạch, nhà phê bình xã hội, nhà văn khôi hài, cha đẻ của Thuyết Hiện Sinh, người kịch liệt công kích thói đạo đức giả của Giáo Hội Công Giáo, đã luôn đơn độc, bị chống đối, và đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ, để rồi hậu thế tôn vinh ông là người chứng của chân lý.

Kim Jong-un đã luôn đơn độc đối với thế giới vì đất nước của ông bị cái thế giới đầy dẫy kẻ thù và bọn vong ân bội nghĩa bủa vây, luôn bị thế giới chống đối chỉ vì ông bảo vệ hữu hiệu Triều Tiên tồn tại cho đến ngày nay thay vì đã bị tàn diệt từ nhiều chục năm trước. Ắt chỉ sau khi ông ra đi còn Triều Tiên hỗn loạn bần cùng tiêu vong vì thiếu vắng ông, hậu thế mới sẽ tôn vinh ông là bậc vĩ nhân trọn đời vì nước vì dân trong hoàn cảnh nước ấy và dân ấy luôn là mục tiêu mà Mỹ-Hàn phải tiêu diệt cho bằng được còn cả thế giới thì ngoảnh mặt làm ngơ.

*********

Từ tất cả những biện luận trên, có thể kết luận về chân lý cùng vấn nạn của chân lý rằng:

1) Sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt là để có cơ may lớn hơn cho sự sinh tồn hàng loạt, và chỉ có lãnh tụ/lãnh đạo vĩ đại thực sự mới làm cho quốc gia mình sở hữu vũ khí nguyên tử.

Nếu các lãnh tụ/lãnh đạo của Mỹ, Nga, Tàu, Anh, Pháp “vĩ đại” vì đã làm nước họ sở hữu vũ khí hạt nhân để khống chế nhân loại, thì tại sao trong khi im miệng không nói gì đến Ấn Độ, Pakistan, Israel cũng là những nước sở hữu vũ khí nguyên tử, lại lớn tiếng miệt thị Kim Jong-un, xem Triều Tiên là mối nguy hiểm “đe dọa thế giới” dẫn đến cá nhân Kim Jong-un phải bị tiêu diệt, chế độ Triều Tiên phải bị tiêu diệt, và quốc gia Triều Tiên cùng người dân Triều Tiên phải bị tiêu diệt?

Ấn Độ được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Tàu “Tây Tiến” đe dọa Châu Âu vốn là tấm khiên chắn che bảo vệ Mỹ từ cánh Đông.

Pakistan được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Ấn Độ trở thành một “siêu cường” như Mỹ.

Israel được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Khối Ả Rập “Hồi Giáo” manh động chống Mỹ.

Triều Tiên phải bị Mỹ tiêu diệt vì trong hoàn cảnh nếu không bao giờ tiêu diệt được Nga-nguyên-tử và Tàu-nguyên-tử thì chí ít Mỹ cũng phải cố định danh sách kẻ-thù-nguyên-tử, không cho phép danh sách ấy gia tăng.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

2) Việt Nam nếu sở hữu vũ khí nguyên tử thì đã không bị Tàu liên tục tự tiện lấn chiếm ở Biển Đông, tự tiện tuyên bố chủ quyền toàn Biển Đông để tự tiện kéo dàn khoan vào Biển Đông, tự tiện quân sự hóa các hải đảo ở Biển Đông để tự tiện khống chế Việt Nam từ cánh Đông, và tự tiện hỗn xược với Việt Nam.

Ấn Độ nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên Tàu chỉ có thể thậm thà thậm thụt lấn đất gây ra căng thẳng biên giới lời qua tiếng lại rồi thỏa thuận rút vũ khí hạng nặng ra khỏi “vùng tranh chấp” và rút quân, thậm thà thậm thụt xây dựng hạ tầng ở nơi thâm sơn cùng cốc không có sự canh giữ của Ấn Độ để rồi tuyên bố chủ quyền – tức ngược lại với kiểu áp dụng cho Việt Nam: tuyên bố chủ quyền trước và công khai xây dựng hạ tầng sau.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên rất hào hùng khí thế, chưa bao giờ quy lụy trước Tàu, thường xuyên đặt Tàu vào thế “đồng sự” ngang hàng trên bàn cờ chính trị với Mỹ, thường xuyên làm Tàu mất thể diện với Mỹ do Tàu không thể “ra uy đàn anh sai bảo” được Triều Tiên.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên vẫn tồn tại bất chấp các kế hoạch phá hoại hay tấn công của Mỹ đơn giản vì hậu quả của sự phá hoại hay tấn công đó cũng khiến Tàu và Hàn Quốc gánh thiệt hại lây lan nặng nề.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

3) Việt Nam sẽ không bao giờ còn có cơ hội sở hữu vũ khí nguyên tử nên vĩnh viễn phải áp dụng chiến thuật nhũn mềm và chịu đựng.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” – qua sự diễn giải đầu tiên trong lịch sử Việt Nam như đã nêu ở trên của tác giả bài viết này – không bao giờ là thứ vũ khí hữu hiệu ra hồn trên chiến trường của chiến tranh nguyên tử.

Ngay cả tuyên bố theo đuổi chính sách “chung sống hòa bình” cũng là tuyên bố của bên yếu thế, y hệt hình ảnh một con người nặng 60kg cao 1 mét 60 tốc độ 5km/giờ mặc áo the thâm cầm chiếc loa công suất lớn tiến đến trước bầy đàn lúc nha lúc nhúc sư tử 250kg, cọp 310kg, gấu trắng 450kg, gấu nâu 600kg, beo tốc độ 58km/giờ, linh cẩu luôn nhai sạch đến 95% dân số các mãnh thú khác kể cả chúa sơn lâm, cá sấu Úc dài hơn 5 mét, và trăn Mỹ dài hơn 8 mét, để dõng dạc tuyên bố “chúng tôi yêu hòa bình, chống chiến tranh, muốn chung sống hòa bình với các bạn” thì chỉ cho ra hoặc một truyện cười dành cho trẻ con, hoặc một cái kết hình sự pháp y rằng chỉ còn thấy có chiếc loa móp méo nằm trên mặt đất.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì bọn siêu cường sở hữu thông qua Liên Hợp Quốc đã cấm đoán, trói tay tất cả các quốc gia còn lại, không cho phép sở hữu, và xúm lại bủa vây cấm vận triệt tiêu.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã mất thời cơ từ tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của các thời kỳ lãnh đạo.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã hoàn toàn sai lầm trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo khi luôn tầm thường hóa kỹ thuật, chỉ tôn vinh từ chương chữ nghĩa học vị học hàm trong dụng nhân, nên toàn xã hội đông nghẹt “quản trị kinh doanh” “ngân hàng” “kinh tế” “kế toán” chỉ biết hoặc than thở thất nghiệp hoặc thực hiện mọi yêu cầu của lãnh đạo khiến nảy bung bét ra hết đại án này đến đại án khác; và ngoài mấy cháu “ai-ti” chỉ biết đẻ ra game-on-line hốt bạc thì mất hút mất biệt mất tăm mất tích mất dạng các nhân lực kỹ thuật cơ khí hạng nặng cao cấp/vũ khi nguyên tử lực trừ lực lượng “kỹ thuật” đóng tàu cá vớ va vớ vẩn mà công lực phát huy mạnh mẽ nhất là cực nhanh rỉ sét và uể oải ễnh bụng nhàn hạ nằm bờ; cũng như mất hút các thời cơ ấy toàn do tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của lãnh đạo tất cả các thời kỳ kiến quốc, với các kế sách mà tác giả bài viết này đã từng bảo trong nhiều bài blog là quái gở phi hiện thực như “đi tắt đón đầu” và “hợp tác bốn nhà”, v.v., ở phía Nhà Nước, hay “thiên đường cà-phê”, v.v., ở phía “đại gia tư nhân”.

Để nhạo báng một bộ phận cực lớn trong thiên hạ kém thông minh luôn ra rả xướng ca suốt về tự do ngôn luận,  người chứng của chân lý Søren Kierkegaard đã phán: “Người ta đòi hỏi quyền tự do ngôn luận chỉ vì nó là sự đền bù cho quyền tự do tư tưởng mà hiếm khi họ sử dụng. (“People demand freedom of speech as a compensation for the freedom of thought which they seldom use.”)

Để nhạo báng một bộ phận không nhỏ trong nhân gian kém thông minh luôn ra rả lập đi lập lại các điệp khúc của thế giới gian manh nguyền rủa bôi nhọ lãnh đạo Triều Tiên, tác giả bài viết này tận dụng tự do tư tưởng trước khi sử dụng tự do ngôn luận để phán:

“Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn  12-9-2017

Bôi Nhọ 02-12-2015

Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2017

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước

02-7-2009

 (Bài đăng lần đầu trên Emotino ngày 02-7-2009 tại http://www.emotino.com/bai-viet/17961/phat-huy-noi-luc-tu-yeu-to-con-nguoi)

Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia như choàng tỉnh sau giấc đông miên nhận ra một thực tế rằng việc lao lung suốt mấy mùa thuận lợi góp nhặt thành quả cũng phải là để chất chứa trong kho lẫm làm nguồn tích lũy dài lâu, và rằng sự đầu tư chăm chút cho cái kho lẫm ấy cũng được xem quan trọng ngang bằng tức phải đạt mức vững chãi, rộng lớn, an toàn cao. Thế giới bắt đầu vừa tiếp tục không buông lơi tìm thị trường xuất khẩu vừa chăm chút cho thị trường nội địa, và thế là cụm từ phát huy nội lực được sử dụng để khuyến khích cổ vũ cho các cố gắng tự cứu mình trong sản xuất kinh doanh. Song, phát huy nội lực còn cần phải nhìn đến yếu tố con người vì chính con người vận hành điều chỉnh sự thành hay bại đại cuộc phát huy nội lực của nền kinh tế một quốc gia.

1) Khi nói đến con người Việt Nam, bất kỳ ai trên thế giới này cũng nêu điệp khúc của cần cù, chăm chỉ, chịu cực chịu khó, tức những gì rất quen thuộc nhưng lại không bao giờ là thứ độc quyền của người Việt vì các dân tộc khác cũng có những “phẩm chất” này – thậm chí tốt hơn – ngay từ thời lao động giản đơn của nô lệ ngàn xưa, nên chẳng tạo ra khác biệt tích cực trong đời sống hiện đại và thực tế của Việt Nam ngày nay, trong đó, năng lực cùng ý thức hay tư duy của từng cá nhân về đổi mới, sáng tạo, trí truệ cùng sở hữu trí tuệ, và động lực cho tất cả mới là thành tố nội lực duy nhất đáng được nói đến và phát huy. Thế nhưng, vì sao lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và luôn “được” các nước xem như nguồn nhập khẩu lao động rẻ tiền, không thích hợp.

Trước hết, có một thực tế là điệp khúc nêu ở trên có thể đúng với người Việt Nam lao động chân tay cá thể hay gia đình, chứ chưa phải luôn có nơi các giới “cổ cồn trắng” tức giới làm việc văn phòng đòi hỏi phải có học lực chuyên môn và kiến thức quản trị nhất định trên nguyên tắc có thu nhập cao hơn và có đóng thuế nhiều hơn, và cả giới “cổ cồn xanh” tức lực lượng công nhân tại các doanh nghiệp. Bấy lâu nay chỉ có chuyện nêu gương những bậc làm cha làm mẹ bương chải cơ cực đủ điều ở các tỉnh kiếm tiền cho con vào Thành phố Hồ Chí Minh lây lất “học chữ”, mục đích giống y như ngàn xưa vẫn là để con cái có việc làm “sung sướng không cực như cha mẹ” chứ chưa hề nêu gương bậc làm cha làm mẹ nào đó đã nai lưng cày bừa cho con vào thành phố học nghề cả!

Chính cái tư tưởng chỉ xem trọng “học chữ” ấy của “vinh thân phì gia” đã làm biến dạng mục đích của sự “ăn học”, triệt tiêu những gì dính dáng đến cần cù chịu cực chịu khó trong lao động vì sự nghiệp. Cần cù đèn sách để tránh xea khỏi cái cần cù trong lao động hậu sách đèn, và chịu cực chịu khó học tập trên chính sự lao nhọc kiếm tiền của mẹ cha và anh chị thì nào phải là sự chịu cực chịu khó sau khi đã tốt nghiệp có được việc làm, nên cái thành phẩm của giáo dục của xã hội lại là lớp đông người cổ cồn trắng có mong muốn được làm việc ít nặng nhọc hơn với lương cao hơn và điều kiện làm việc sung sướng khỏe hơn nhàn hạ hơn, khiến nguồn lực có lạm phát về lao động “chữ” trong khi ngày càng thiếu hụt nghiêm trọng lớp lao động kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu lớn của xã hội. Đó là chưa kể đây còn chính là rào cản tâm lý khiến nhiều người trong số họ hưởng nhàn ngay khi bước chân vào thế giới việc làm. Có thể ai cũng sẽ nói làm việc với “Tây” rất mệt, làm việc với “ta” khỏe hơn. Song, thực tế cho thấy ngay cả khi làm việc với “Tây” mà họ than là rất mệt ấy thì cung cách làm việc ở nhiều người cũng rất “tà tà”, luôn kiếm cách để được “nhàn” hơn, và stress dường như chỉ có ở một ít người có vị trí cao hơn mà thôi. Chuyện gánh thêm việc thì càng hãn hữu.

2) Vấn đề tiếp theo là đối với số ít “cổ cồn trắng” may mắn có được hiểu biết đúng đắn tự thân về tích cực vươn lên qua lao động sáng tạo, họ vẫn có khi không gặp may trong môi trường làm việc thiếu hụt cạnh tranh nhưng dư thừa ganh tỵ – một điều tiêu cực đau xót luôn mãi được dấu diếm, khỏa lấp như điều cấm kỵ nhạy cảm không nên nói về cộng đồng người Việt, đó là: nơi đâu có nhiều người Việt hơn, nơi đó sẽ có ít hơn sự đoàn kết tương thân – hoặc nói cách khác, sẽ có nhiều hơn sự câu kết bè phái và phe nhóm. Sự ganh tỵ không những dễ thấy nơi những người làm việc chung ngang bậc hay bậc dưới đối với bậc cao hơn, mà còn kỳ quái khi lại có nơi chính người trên – thậm chí ngay ở cấp CEO và thậm chí CEO của công ty nước ngoài – đối với người dưới nào giỏi hơn – tất cả dẫn đến những người “may mắn” sẽ không dám phát huy cái may mắn trời ban của mình, triệt tiêu năng lực sáng tạo tự thân, chấp nhận “bị” hưởng nhàn để được yên thân.

Vụ thảm sát gia đình một Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Hiệu Trưởng một trường Đại học ở Việt Nam tháng 8 năm 1997 là một thí dụ khi cấp trên ém tài giảng viên cấp dưới vì cấp dưới có khả năng trở thành nhà khoa học nguyên tử lực tài danh của đất nước. Ngoài ra, hầu như chỉ những “phát huy sáng kiến” rất bình thường – đa số là về “tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất và giờ công lao động” – của cấp dưới và cấp thấp như của giáo viên, nhân viên, công nhân lao động, mới được vinh danh, còn sáng kiến nổi bật, xuất sắc, tầm cỡ nào của cấp nào gần sát lãnh đạo hay của chính lãnh đạo dường như vẫn là điều bí mật với công chúng, khiến vô hình chung tạo nên một thông điệp mặc định cho toàn xã hội rằng năng lực đổi mới sáng tạo không là điều cần thiết, thậm chí là điều không nên có trong nội bộ cơ quan hay công ty, vì năng lực ấy đe dọa chiếc ghế của người cấp cao hơn hoặc chỉ đồng nghĩa với năng lực nguy hiểm tiềm tàng một lật đổ soán ngôi.

3) Thứ đến, chiêu bài tập thể rất có thể cũng được sử dụng cho mục đích tiêu cực khi một công trình cá nhân bị gợi ý mang danh tập thể để đôi bên cùng có lợi : cá nhân được tài trợ hoặc công trình được trao giải thuận lợi, còn tập thể có tên các cấp cao hơn để củng cố vị trí lãnh đạo dài lâu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều cá nhân phải bỏ dỡ công trình nghiên cứu của mình do không chấp nhận sẻ chia quyền sở hữu trí tuệ.

4) Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là cơ chế mang tính quốc gia đối với vấn đề nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và củng cố động lực của nhân viên Việt Nam, trong đó kế thừa là thực tế chứ không là lý thuyết.

Cách nay mười năm (1999), Chính phủ tuyên bố chuẩn chi ngân sách cho việc đào tạo nhân tài với chương trình chọn gởi người du học nước ngoài. Song, điều này có khi lại bị hiểu lầm rằng Việt Nam đang không có nhân tài, rằng không có ai trong mấy mươi triệu dân đã qua học tập và đang đóng góp dựng xây chủ lực cho nền kinh tế quốc dân là nhân tài sẵn có đáng được mời mọc để trọng dụng, và rằng “nhân tài” phải do nhà nước bỏ tiền ra đào tạo chứ những công dân đoan chính không làm gánh nặng của tổ quốc tự đầu tư cho việc học của mình thành danh ở nước ngoài thì không nằm trong danh sách “nhân tài”. Đó là chưa kể người được chọn cử đi du học là trên cơ sở có mang tính thuyết phục cao không và cao đến mức độ nào, tất cả có sẽ hoàn tất thành công việc học tập không, tất cả có sẽ trở về nước sau tốt nghiệp không, tất cả có sử dùng quyền tự do của công dân để không làm việc cho các cơ quan nhà nước khi tốt nghiệp không, và tất cả có thực sự thành nhân tài cống hiến hiệu quả, trung thành với công cuộc dựng xây đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa hay không. Tập trung cho việc đào tạo nhân tài theo bài bản ấy tức bỏ qua tính kế thừa vì đã không nói gì về nhân tài đang có. Sự chuyển giao trọng trách sẽ có khoảng trống một thập niên hay một thế hệ, khiến nhiều người thờ ơ với việc nâng cao năng lực, còn động lực bị lệch hướng hoặc triệt tiêu, gây phản ứng tiêu cực dây chuyền nơi lớp trẻ tức những người hiện nay sẽ thêm thụ động mất hết động lực khi vừa chứng kiến việc nhân tài “đang có” không được dùng, vừa biết số nhân tài được “gởi đi đào tạo” sắp về chiếm hết các công việc quan trọng, không còn chỗ cho lòng tin vào ý nghĩa kế thừa và sự cần thiết của vươn lên.

Do đó, ngày nào cơ chế chưa có những thay đổi tích cực căn cơ và mang tính pháp lệnh, ngày ấy người lao động Việt Nam – bất kể màu sắc của cổ cồn – còn bị đánh giá là chưa đạt chuẩn mực về năng lực sáng tạo, làm việc thụ động, ít tinh thần trách nhiệm cá nhân, và khó thể trở thành con người giúp vận hành hiệu quả chương trình phát huy nội lực nước nhà.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Tham khảo:

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật October 6, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Đại Học November 4, 2015

Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014

Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Đi Tắt Đón Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-9-2017

Đi Tắt Đón Đầu – Định Nghĩa Đầu Tiên

(bài được đăng lần đầu tiên ngày 05-3-2009 trên Emotino tại http://www.emotino.com/m.php?p=17539)

Nhóm từ “đi tắt đón đầu” đã được sử dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây với một ứng dụng mới khi gắn kết vào trong hoạch định chính sách quốc gia; song như một thông lệ trầm kha ở Việt Nam, chưa bao giờ có một phần định nghĩa mới bất kỳ cho nhóm từ mới hay nhóm từ mang tính thành ngữ được cho thêm một ý mới, khiến không thể đem lại sự thông hiểu tự động tự nhiên đồng nhất nơi mỗi người đọc, nghe, thấy, viết lại cụm từ.

Trước hết, cần phải hiểu “đi tắt đón đầu” là một khả năng siêu việt chỉ có nơi những người mạnh khỏe, cường tráng, có sức chịu đựng cực cao, tinh khôn, nhanh nhẹn, quyết đoán, sáng tạo, và quả cảm khi lao vào nơi cực kỳ gian khó mà thành hay bại chỉ là một đường ranh nhỏ chứ không phải trên một tỷ lệ hên xui may rủi 50/50. Thừa hưởng một gia tài kếch sù – từ cha mẹ hay từ Nhà Nước – rồi nhàn hạ chạy lung tung, đầu tư lung tung, hoàn toàn không phải “đi tắt đón đầu” mà là “lấy thịt đè người” của giới đầu cơ speculator không hơn không kém.

Một vài thí dụ nhất thiết cần được đưa ra để làm rõ lập luận trên.

Trong nhiều phim hành động, diễn viên chính loại cơ bắp như ngài Thị trưởng California hoặc bậm trợn như Clive Owen hay lạnh lùng diễm tuyệt như Matt Damon không bao giờ rượt kịp chiếc tàu hỏa cao tốc nên phải “đi tắt đón đầu” bằng cách chạy như bay lên đồi cao, bị cây cối quất vào thịt vào da vào mặt bật máu, rồi lúc chạy xuống dốc đồi phía bên kia có khi té lăn đùng qua các bụi gai góc, để rồi có khi té xuống hướng ngay trước đầu máy xe hỏa đang vùn vụt lao tới (may mà níu được bờ tường của đường hầm xuyên núi tích tắc trước khi đầu xe lao ra, và sau đó buông tay rơi xuống một toa áp chót để có mặt trên cùng chuyến tàu cao tốc của những người đã mua vé danh chính ngôn thuận từ nhà ga khởi hành xa lắc xa lơ). Đó là “đi tắt đón đầu”. Không cơ bắp, không nhanh nhẹn, không tính toán cân đối sức lực và thời gian một cách khoa học, không lao vào ngõ tắt chưa dấu chân người thì sẽ cứ mãi chạy chân rượt đuỗi trên đường ray các đại gia làm sẵn cho các toa tàu của họ  trong khi con tàu bon bon trên đường ray của chính nó mãi mãi rời xa.

Trong cuộc chiến tranh Chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, lớp lớp đoàn quân dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh Cộng sản Việt Nam, đã chôn vùi tận đáy bùn đen tên tuổi các tướng lĩnh đối phương làm đời đời hoen ố uy danh của học viện quân sự West Point Hoa Kỳ và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung Việt Nam Cộng Hòa, khi đã đưa bao binh đoàn áp sát tiền đồn đối phương, thọc sâu vào trung tâm thị tứ đối phương, chiếm đóng ngay Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, mà đối phương với kỷ thuật hiện đại và tình báo tinh nhuệ vẫn không sao phát hiện được bụi, khói, tiếng động, bóng người của những cuộc hành quân. Đó là một công trình “đi tắt đón đầu” đích thực và hoàn mỹ. Một cuộc “đi tắt” để đón đầu diệt địch. Một cuộc “đi tắt” kéo dài đến mấy mươi năm, hy sinh biết bao, gian khổ biết bao, để “đón đầu” thời kỳ độc lập, tự chủ, hòa bình, phát triển.

“Đi tắt đón đầu” do đó phải mang tính “bí mật”, có tính chiến lược, với đầy sách lược cụ thể cho từng giai đoạn, tận dụng hết sức lực, để cuối cùng có mặt trên con tàu cao tốc không chịu dừng đón khách dọc đường để cùng nó lao đến vinh quang, hoặc giúp người “đi tắt đón đầu” từ từ bò trên nóc các toa tàu tiến lên phía trước, leo xuống buồng lái, rồi trở thành đầu tàu của các toa tàu đại gia.

Việt Nam vừa được xóa cấm vận, mọi người ùa vào thì sao mà gọi họ là “đi tắt đón đầu”? Phải hùng dũng như Pepsi-Cola vào Việt Nam khi vòng vây cấm vận vẫn còn, nằm gai nếm mật với Việt Nam, để rồi khi cấm vận vừa được tuyên bố xóa bỏ thì Pepsi-Cola đã có ngay (sản xuất vài tuần trước đó) sản phẩm Pepsi-Cola bày ra khắp nơi tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh để mời người qua đường ghé vào uống miễn phí, với cờ hoa biểu ngữ đón mừng sự kiện xóa cấm vận Việt Nam. Đó mới là “đi tắt đón đầu” nghĩa là đi vào con đường chưa có lối đi (khung luật pháp của chính quốc Hoa Kỳ) và chưa ai nghĩ đến việc “đi tắt đón đầu” (Coca-Cola vẫn còn ẩn núp bên Thái Lan dõng tai nghe ngóng).

Tóm lại, “đi tắt đón đầu” là một thành ngữ tuyệt diệu, không phải là chuyện giản đơn như kẹt xe thì chui vô các ngõ, các hẻm, các ngách, các “kiệt”, một cách tự phát, không chuyên nghiệp, lấn dùng lối đi nhỏ hẹp có nhiều trẻ em gia đình không khá giả đứng chơi, gây thêm hỗn loạn và hạ thấp tư cách công dân.

“Đi tắt đón đầu” phải là như trong thời cực thịnh của máy vi tính, IBM quyết định bán hết cơ ngơi cho một hãng vi tính Trung Quốc, còn mình tập trung cho các giải pháp quản trị và tư vấn.

“Đi tắt đón đầu” hoàn toàn không phải là thấy người ta phát triển nhãn hiệu điện thoại di động thì nhanh tay tung tiền mở công ty và mua nhiều cơ ngơi mở nhiều chi nhánh bán điện thoại của các hãng điện thoại hầu nắm nhiều khách hàng hơn đối thủ cạnh tranh nghĩa là thực chất chỉ là đầu tư địa ốc chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển sản xuất điện thoại di động; cũng không phải thấy nước ngoài có nhiều đại gia siêu thị là tung tiền nhà nước mua đất vàng ở khắp các tỉnh thành để mở siêu thị trước mà thực chất chỉ là chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển kinh doanh bán lẻ giá sĩ; cũng không phải nghe nói nước ngoài phát triển công nghệ thông tin là vội vàng cho trường lớp trang bị máy vi tính mà thực chất chỉ là kiếm cớ xin xỏ xài sạch tiền ngân sách.

“Đi tắt đón đầu” mà cứ bô bô cái miệng nói về cái “quốc sách đi tắt đón đầu” của ta thì rõ là ta cực kỳ thiếu thông minh, công bố cho toàn thiên hạ biết rõ về “âm mưu” của ta để từ đó thiên hạ né lạng qua chỗ khác cho chúng ta mặc sức tha hồ đi tắt để đón đầu dĩ vãng.

Chừng nào ý nghĩa sâu xa của thành ngữ “đi tắt đón đầu” còn chưa được nghiêm túc hiểu đúng, chừng đó việc “đi tắt đón đầu” vẫn sẽ còn là câu cú cho sự cười cợt và nước ta bao giờ mới có được con đường tắt đúng nghĩa để dồn toàn lực lao đi đón đầu để cùng có mặt trên con tàu của các siêu cường sau 20 năm nữa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cùng chủ đề “hãy cẩn trọng khi sử dụng thành ngữ”:

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Quốc Nhục

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Đả Đảo TPP

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

20-5-2017

TPP (3)

A) Giải Nghĩa Từ Ngữ

1- Đả Đảo TPP là tựa đề một bài viết của một công dân Mỹ, anh M. Tyler, một lâp trình viên ở Thung Lũng Silicon chống lại Tổng Thống Barack Obama vì đã tham gia thành lập TPP. Tuy nhiên, bài viết dưới đây không là bài dịch và cũng không liên quan đến bài viết ngắn ngủn của M. Tyler, mà chỉ đơn giản là sự trùng tên của tựa đề bài viết này với tựa đề bài viết của M. Tyler cũng như trùng với lời hét như sấm dậy của người dân “thế giới tự do” kêu gào Đả Đảo TPP mà thôi.

2- TPP Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, được bộ trưởng đại diện 12 nước Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Malaysia, Mexico, New Zealand, Nhật Bản, Peru, Singapore, và Việt Nam, ký kết ngày 04-02-2016 tại Auckand, New Zealand.

3- TPP tại Việt Nam: Dù tham gia đàm phán từ 2008, Việt Nam – cùng tất cả các nước có liên quan – đều giữ bí mật tuyệt đối nội dung TPP.

TPP

Thỉnh thoảng có vài chương “nhạy cảm” được “rò rỉ” bởi WikiLeaks từ năm 2013 làm dấy lên những quan ngại sâu sắc và chống đối mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

Giữ tuyệt mật luôn là hành động chuyên nghiệp, đúng đắn, nhưng PHẢI TRÊN CƠ SỞ SONG PHƯƠNG, y hệt như việc trả giá của một bà nội trợ với một người bán hàng ngoài chợ và giá bán là giá đồng thuận riêng chứ không được bà nội trợ dùng loa phóng thanh báo cho các bà nội trợ khác, tương tự như phỏng vấn xin việc tại một công ty cực kỳ lớn và cực kỳ chuyên nghiệp đẳng cấp quốc tế thì luôn là đàm phán riêng tư có yêu cầu bảo mật chứ không bao giờ theo cái quái quỷ “thang lương bảng lương” kiểu đổ đồng như ở Việt Nam xem nhẹ năng lực đàm phán của mỗi ứng viên.

TPP là một định chế ĐA PHƯƠNG nên chuyện giữ tuyệt mật suốt thời gian gần chục năm đàm phán là điều kỳ quái không bao giờ người dân đoan chính ở những quốc gia văn minh tiến bộ chấp nhận, khiến dấy lên những giả định – mà than ôi, lại là sự thật 100% sau khi TPP được ký kết – rằng các siêu tập đoàn tư bản khống chế toàn bộ các thỏa thuận trong nội dung TPP.

Nội dung duy nhất và chính thức về TPP được Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng – người đại diện Việt Nam sang New Zealand ký kết TPP – thể hiện trong Báo Cáo Số 79/BC-CP ngày 18-3-2016 dài tổng cộng 22 trang khổ A4, gởi các nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII trong kỳ họp chót tháng 4-2016 tại Hà Nội

TPP (1)

trong đó khoảng 3 trang giới thiệu qua loa về TPP, khoảng 1 trang về quá trình đàm phán TPP, 11 trang về các nội dung đàm phán và kết quả đàm phán, 6 trang về cơ hội và thách thức khi gia nhập TPP, và nửa trang về các bước triển khai tiếp theo – nghĩa là chẳng nghị sĩ nào được nhận bản nội dung hoàn chỉnh của TPP hay  bản tóm tắt tức summary của TPP, mà chỉ nhận bản trên y như một bản báo cáo thành tích kèm phân tích toàn thuận lợi sáo rỗng để mê hoặc các nghị sĩ hãy yên tâm nhấn nút phê chuẩn mà thôi; trong khi đó, Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng toàn văn của TPP không những dài đến 5.600 trang mà còn cực kỳ phức tạp không mấy người dân Mỹ có thể đọc hết mà hiểu tường tận được.

B) Quái Gở TPP

Trước thực tế quái gở như trên về TPP đã được trình diễn tại Quốc Hội Khóa XIII;

Trước sự thật là bản tiếng Việt của TPP đã hiện diện trên các trang web của các cơ quan có liên quan mà người dân Việt nếu quan tâm có thể dễ dàng tải về tự nghiên cứu;

Trước sự thật là truyền thông đã cung cấp rất nhiều bài viết về những thuận lợi và thử thách khi gia nhập TPP – mà ngữ nghĩa của “thử thách” trong dụng ý tiếng Việt chỉ mang ý rằng “rất hấp dẫn nên phải chấp nhận để vượt qua” – cũng như tập trung phê phán Donald Trump đã rút khỏi TPP, xem như Mỹ bỏ Biển Đông cho Trung Quốc (!), và bỏ luôn ưu thế thị trường khổng lồ TPP;

Với tư cách chuyên gia duy nhất ở Việt Nam có hiểu biết thực tế, có hoạt động thực tế, có giảng dạy về hợp đồng kinh tế ngoại thương, có chứng minh cụ thể năng lực nhận diện điều khoản tiêu cực và hùng biện giải cứu cơ quan nhà nước và nông dân qua “Sự Cố Hạt Điều” mà Báo Tuổi Trẻ thủa xa xưa có đưa tin; và đặc biệt

Với tư cách một nghị sĩ lúc đương nhiệm Khóa XIII đã được đại diện một tập thể hơn 100 doanh nhân nước ngoài tại Việt Nam tiếp cận mời đến phát biểu hội thảo (bằng tiếng Anh) về TPP, tại đó diễn giả hai người gồm một luật sư danh tiếng của EU sẽ hùng biện về Pros tức những tốt đẹp của TPP sẽ mang đến kinh tế Việt Nam và một nghị sĩ Việt Nam là tác giả bài viết này sẽ hùng biện về Cons tức những tiêu cực TPP sẽ gây ra toàn diện cho Việt Nam (buổi hội thảo hoành tráng đã không diễn ra như ý do tác giả bài viết này lại đang trong thời gian nằm viện dài lâu dù vị luật sư nước ngoài cố gắng thuyết phục cũng như hứa thu xếp có người đỡ đần đón tại bịnh viện, đẩy xe lăn hay dìu đỡ tác giả bài viết này lên sân khấu);

Tác giả bài viết này, do đó, có đầy đủ tư cách để nói về Cons đối với TPP, và sẽ chỉ dành thời gian nói về những điều truyền thông Việt hoặc không biết hoặc không muốn nêu lên hoặc bị cấm đưa tin, cùng những nhận xét hoàn toàn độc lập của riêng tác giả.

1) “Biểu Tình”

Một vấn đề kỳ lạ phát sinh ngay từ trước khi TPP được 12 nước ký kết là đã có nhiều cuộc “biểu tình” chống đối TPP.

Những anti-TPP rallies rầm rộ nổi lên ở nhiều nước, đặc biệt tại Mỹ (có đến 27 thành phố trong đó có Los Angeles, Chicago, Dallas, Denver, Detroit, và Thủ Đô Washington), Úc, New Zealand, Malaysia, Chile, Canada, v.v. Nhiều cuộc “biểu tình” đã biến thành bạo loạn xung đột dữ dôi với cảnh sát chống bạo động, và có cuộc quy tụ đến 65.000 người như ở Quảng Trường Zocalo của Mexico.

Điều khôi hài cần lưu ý ở đây là trong tập thể 12 nước đặt bút ký TPP thì sự chống đối mãnh liệt nổ ra ở 9 nước, còn 3 nước còn lại thì yên ắng bình chân như vại (do Singapore độc tài tuyệt đối cấm “biểu tình” bất kể vì mục đích gì, Brunei có luật lệ Hồi Giáo khắt khe chỉ cho phép “biểu tình” trước Đại Sứ Quán Brunei ở …Hoa Kỳ nghĩa là nếu có nhu cầu “biểu tình” thì cứ đơn giản sang Mỹ “biểu tình” xong thì về, còn Việt Nam chỉ “biểu tình” để “chống Cộng và chống Chính Phủ” hoặc theo lịnh các “cha” chứ chẳng ai hơi đâu bỏ ra 6 tháng đọc mỗi ngày 30 trang cho hết 5.600 trang TPP tiếng Anh hoặc tiếng Việt để xem thử xem có những điểm nào có thể gây phương hại đến quyền lợi quốc gia dân tộc hay không).

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước lớn dưới sự thống trị của các tập đoàn tư bản khổng lồ thì tại sao dân các nước lớn ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ, yêu nước, và yêu lẽ phải, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), chính phủ cường quốc vinh diệu của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của tiểu quốc thấp yếu nào đó trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ, còn các nước nghèo trở thành nạn nhân của giới tài phiệt vì chính phủ nước nghèo đã đàm phán bất lợi bất minh trong bí mật.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước nhỏ thì tại sao dân các nước nhỏ ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ và yêu nước, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), phải trả tiền thuốc y tế cao khủng khiếp, còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho nước nhỏ nhất là nước nhỏ ấy đã “thực sự hưởng lợi” từ một định chế thương mại tự do tương tự thí dụ như Mexico đã sẵn có NAFTA với Mỹ thì tại sao dân Mexico lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ từng trãi, họ yêu họ và họ yêu nước, do TPP sẽ làm họ thêm nghèo đói (như NAFTA đã làm họ phải chui cống leo tường rào vượt biên giới sang Mỹ), còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Việt Nam không thuộc “nước lớn”, cũng không là “nước nhỏ đã thực sự hưởng lợi từ một định chế tự do thương mại tương tự”. Việt Nam là “nước nhỏ” nhưng lại không thuộc nhóm “nước nhỏ” nêu trên vì người Việt không sợ mất job, chấp luôn việc thuốc men lên giá, và mặc kệ chuyện chính phủ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

2) Lợi Thế

Nếu nhìn thấy việc chống TPP đã tạo lợi thế tranh cử cho Donald Trump, cũng như thấy Hillary Clinton quýnh quáng bắt chước để tuyên bố ủng hộ hủy bỏ TPP, chấp nhận chõi lại Barack Obama miễn cứu vớt việc rớt phiếu thê thảm, Việt Nam dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

Nếu nhìn thấy việc Công ty TransCanada nương theo điều khoản của NAFTA đang kiện đòi Chính Phủ Mỹ bồi thường 15 tỷ USD với lý do việc Tổng Thống Barack Obama hủy bỏ dự án Đường Ống Dẫn Dầu Keystone gây ra “thiệt hại về lợi nhuận lẽ ra có thể kiếm được trong tương lai” loss of future profits (tức cùng cái kiểu cách ghi rõ trong TPP) cũng như nhìn thấy việc Donald Trump cứu nguy xã tắc Hoa Kỳ bằng cách một mặt ký ngay sắc lịnh tái khởi động dự án Keystone, một mặt tuyên bố hoặc hủy bỏ NAFTA hoặc phải đàm phán lại nội dung NAFTA riêng với từng nước thành viên một, Việt Nam càng dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

3) Sự Lén Lút

Có thể nói không chút định kiến – cùng với công luận thế giới – rằng cái gọi là bảo mật tuyệt đối của tổ chức “đa phương” TPP chính là những thỏa thuận đàm phán bí mật lén lút đáng ngờ.

TPP (2)

Việt Nam đã chủ động tham gia tiến trình lén lút ấy, hay Việt Nam đã thụ động để một Bộ trong Chính Phủ tự tung tự tác “đi đêm”, hoặc tung hỏa mù hoặc nôn nóng lập công vì danh vọng hão huyền hoặc móc ngoặc với đại tài phiệt siêu cường, nên đã né tránh hoàn toàn Chương 28 về Giải Quyết Tranh Chấp?

Sự chủ tâm mê hoặc Nhà Nước, ru ngủ Nhà Nước, làm Nhà Nước lú lẩn, còn được tỏ rõ qua việc chỉ trong một đoạn văn ngắn (paragraph) dưới đây, Bộ Công Thương đã 3 lần dùng từ “cơ hội” cộng thêm 1 lần trong chú thích bên dưới. “Cơ hội”, do đó, đầy ắp trong bản báo cáo. Đã vậy, sự tự tung tự tác còn ở mức độ cực cao khi dám cho rằng TPP đáp ứng các “đột phá chiến lược” của Đảng, và đơn giản hóa sự cạnh tranh tàn khốc tàn nhẫn tàn hại chỉ bằng cách cho rằng Việt Nam tham gia vào các chuối cung ứng vô hình nào đó đang cạnh tranh ghê gớm ấy.

TPP (8)

Sự gian trá lén lút còn được thể hiện rõ trong đoạn báo cáo sau, trong đó nêu cực kỳ vắn tắt cực kỳ láo xạo (đối với một chương cực kỳ quan trọng là Chương 28 vốn khiến dậy sóng chống đối toàn cầu) rằng “có việc cho phép nhà đầu tư được kiện chính phủ trong một số trường hợp đặc biệt như khi chính phủ tước đoạt tài sản của nhà đầu tư:

TPP (7)

Việc để trong ngoặc đơn cho thấy đó không là thông tin quan trọng.

Nhóm từ “trong đó có việc” cho thấy đó chỉ là một nhắc nhở phụ trợ.

Việc “tước đoạt tài sản nhà đầu tư” vừa không là nguyên văn của TPP vừa gian xảo khiến người đọc liên tưởng đến quốc hữu hóa vốn là việc hết sức bình thường mà ai cũng cho là mình đã hiểu từ lâu trước đó, cớ gì phải đợi đến TPP.

Trong khi thật ra, TPP quy định rằng chính phủ các quốc gia thành viên phải đền bù cho các công ty/tập đoàn nước ngoài nếu ban hành các luật lệ/chính sách gây ra những thiệt hại cụ thể và những mất mát cơ hội kinh doanh thu lợi nhuận trong tương lai cho các công ty/tập đoàn ấy. Nói một cách bình dân hơn, nghĩa là chính phủ Mỹ phải lấy tiền thuế của dân Mỹ để bồi thường cho một công ty cá tra của Việt Nam nếu Mỹ bày ra các giám định quá nghiêm ngặt khiến công ty cá tra ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm sắp tới từ thị trường Mỹ, hoặc chính phủ Việt phải lấy tiền từ kinh phí xây cao tốc Bắc-Nam để bồi thường cho một công ty bàn chải đánh răng của Mỹ nếu Việt bày ra hàng rào kỹ thuật chất lượng cao hơn khiến công ty ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm tới từ kế hoạch mở rộng sản xuất thống lĩnh thị trường từ Việt Nam đánh ra Đông Dương và ASEAN.

Đã lén lút, tất phải che đậy và giấu diếm. Để giấu nội dung Chương 28, Bộ Công Thương đã lý giải ngắn gọn trong hai đoạn sau, hoàn toàn triệt tiêu mức độ nghiêm trọng của Chương 28, và lảm nhảm về sự quái gở rằng các tiêu chuẩn của TPP đích thị là những tiêu chuẩn để “xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa thực sự của dân, do dân, và vì dân”

TPP (9)

4) Vấn Nạn Của Chính Phủ Việt Nam

Như tác giả bài này đã từng viết đâu đó – mà Cô Lại Thu Trúc đã từ bi cóp nhặt trữ lưu – Việt Nam thiếu vắng những chuyên gia đức tài.

Ở Việt Nam, đức chỉ đơn giản là đạo đức cách mạng chứ không là đạo đức con người do cha mẹ rèn nên, khiến cán bộ Nhà Nước có “đạo đức” (tức là người được kết nạp thành “đảng viên” và được tín nhiệm đặt vào hàng ngũ lãnh đạo) thì làm mỗi nơi đến trấn nhậm mất hàng chục ngàn tỷ, vận dụng bài giảng chiến thuật trên sa bàn của cách mạng trong chiến tranh du kích chống Mỹ vào thực tế nên cứ hễ lủi trốn là Nhà Nước có truy bắt toàn cầu vẫn không ra.

Ở Việt Nam, tài chỉ đơn giản là trên cổ có treo lộng kiếng các bằng cấp Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, được sắm sửa bằng tiền thuế của dân, khiến các cán bộ tinh hoa trí tuệ Nhà Nước gây ra sự cố Hố Hô, làm biến mất rừng phòng hộ, gây ra lụt lội khắp nơi, khiến sụt lỡ nghiêm trọng đất ven sông, đẻ ra đoàn tàu sắt tiến ra biển lớn chế ngự Biển Đông để được kéo về lên đất liền sau chuyến thử rời bờ biển với thân tàu rỉ sét lủng lỗ chỗ còn máy móc ắt chỉ hạp xăng thơm máy bay nên không chịu nổ, làm hết heo tới tiêu/điều/dưa hấu/cá sấu phải sắp hàng cầu cứu Chính Phủ ra tay tế độ, ngành hàng không cực kỳ hiện đại thì nuôi đám chuyên viên không thèm trực kiểm soát không lưu bỏ mặc phi cơ bay vòng vòng Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 phút trong khi đám khác thất bại không bảo vệ được hệ thống vi tính sân bay, các nhà kinh tế thì ngồi chơi ngóng chờ TPP mò đến tự làm kinh tế Việt Nam cường thịnh, và giáo sư tiến sĩ lãnh đạo đại học thì chẳng biết phải lấy gì để làm thí dụ cho cái gọi là “sáng tạo” nên vận áo veston, thắt cravat, và mặc quần tà lỏn để minh chứng hùng hồn rằng chỉ có trình độ giáo sư tiến sĩ Việt Nam mới nhận biết chân giá trị của sự sáng tạo vĩ đại nhất của toàn nhân loại: quần tà lỏn.

Chính phủ nhất thiết phải lưu tâm đến sự thật rằng: bất kỳ văn bản tiếng nước ngoài nào cũng có thể được chuyển dịch nhanh chóng chính xác ra tiếng Việt – hoặc ngược lại – nhưng kiến thức về những vấn đề trong văn bản lại thuộc một kỹ năng/năng lực hoàn toàn khác, chưa kể phát hiện vấn đề và tư vấn cảnh báo hoặc sửa sai vấn đề lại là một thứ năng lực hoàn toàn khác và ở một đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

Một khi Chính Phủ không sẵn có ba bộ phận những chuyên gia trên, hoặc không sẵn có một bộ phận những chuyên gia có cùng lúc ba năng lực trên, thì càng không có cơ sở để mặc định rằng một Bộ của Chính Phủ lại giỏi hơn Chính Phủ khi có đến 3 bộ phận ấy hoặc 1 bộ phận có cả 3 năng lực ấy. (Tất nhiên, chỉ có vài bộ đặc thù như Quốc Phòng, An Ninh là thuộc phạm vi phạm trù hoàn toàn khác)

Cũng vì không sẵn có nhân lực như đã nói ở trên, Chính Phủ nhất thiết không được giao phó vận mạng đất nước vào tay những vị Bộ Trưởng. Chỉ cần sự lươn lẹo ngôn từ trong báo cáo, che giấu các hiểm họa khỏi các báo cáo ấy, là các Bộ có thể làm cả Chính Phủ bị dẫn dụ vào nẽo sai lầm gây nguy hại cho tiền đồ của quốc gia dân tộc. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo đã làm Đảng xiêu vẹo với những vụ như Trịnh Xuân Thanh. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo của các Bộ đã làm Chính Phủ lao đao với bản hợp đồng đầu tư của Formosa.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài trong Đảng về giúp Đảng và Nhà Nước, mỗi khi có đàm phán cho những hiệp định song phương hoặc đa phương, Chính Phủ có thể nhờ tác giả bài viết này đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào các Bộ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Chính Phủ có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra mà người dân chẳng thấy ai chịu trách nhiệm cụ thể cả.

Chính phủ nhất thiết phải lưu ý rằng cái chính trong thế giới toàn cầu hóa là THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG (Fair Trade) chứ không phải là THƯƠNG MẠI TỰ DO (Free Trade).

TPP (4)

Đơn giản vì Công Bằng là đạo đức, còn Tự Do là Cá Lớn Nuốt Cá Bé.

Đơn giản vì quan hệ chòm xóm bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải quan hệ hàng xóm luông tuồng tất cả vào nhà của nhau để ngủ một cách vô duyên vô đạo.

Đơn giản vì không được sử dụng một quan hệ kinh thương để hình thành một hàng rào chơi riêng mà mục đích nhằm phong tỏa chính trị một quốc gia khác — mà ở đây TPP thực chất nhằm phong tỏa Trung Quốc.

5) Vấn Nạn Của Quốc Hội Việt Nam

Như tác giả bài viết này đã từng nêu về chất lượng yếu kém của nghị sĩ Việt Nam, vấn đề là cứ nghĩ đến “cơ quan lập pháp” là người Việt lại nghĩ đến “luật sư” mà không chịu hiểu rằng cả hai chẳng dính dáng gì đến nhau cả vì luật sư là để bảo vệ thân chủ chứ không để tạo ra các dự án luật. Tương tự, bác sĩ chữa bịnh và bác sĩ giải phẩu chẳng dính dáng gì đến chuyên gia hay công ty chế tạo ống chích, kim tiêm, dao mổ, máy móc thiết bị y khoa hiện đại. Tương tự, giáo viên dùng wifiPowerPoint giảng dạy Văn Học không dính dáng gì đến việc giáo viên ấy phải chế ra được laptop hay overhead projector.

Quốc Hội là nơi dành cho những người được bầu vào vì (a) đã được người dân biết đến từ lâu trước đó chứ không phải trên trời bất ngờ đáp xuống, (b) đã có thời gian quản trị công việc chuyên môn ở cấp độ cao và trong môi trường bất ổn chẳng ô dù – tức khu vực tư nhân để nắm bắt đời sống thật nhất của đấu tranh sinh tồn sinh nhai sinh kế của người dân, và (c) được chứng minh rõ nét đã luôn tích cực vì nước vì dân chứ không qua lời giới thiệu láo xạo của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Đáp ứng ba điều cơ bản này mới khiến một nghị sĩ có đủ năng lực lập pháp đạt yêu cầu đưa luật vào cuộc sống.

Không hiểu được điều này failing to understand this, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã vài khóa nay giới thiệu vào Quốc Hội một tên luật sư, mà tên này ngoài những tuyên bố vung vít về sự cần thiết phải có “Luật Biểu Tình” hoặc xem luật ấy là món nợ với nhân dân, hoặc ngoài việc bảo rằng có sự cần thiết để y xách điện thoại thông minh quay phim mỗi khi có “biểu tình” ở Thành phố Hồ Chí Minh để y nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thì từ 2011 đến nay y chưa hề dám sử dụng sáng quyền lập pháp mà nhân dân đã trao vào tay y để nộp cho Quốc Hội bản thảo dự án nào cho cái luật ấy cả.

Cũng theo hướng này, nhiều chuyên viên phục vụ Quốc Hội có xuất thân luật sư; nhưng đã có quá nhiều luật không di vào cuộc sống, hoặc chưa đến ngày có hiệu lực thì đã phải tu chỉnh một cách không vinh dự vì chỉ có sự tu chỉnh khẩn cấp nâng từ cái tốt lên cái tốt hơn đáp ứng nhanh chóng flexible những phát sinh mới toanh của cuộc sống mới là đẳng cấp cao của cơ quan lập pháp, chứ tu chỉnh khẩn cấp do phát hiện sai sót sai quấy sai lầm sai bét thì chỉ là sự nhục nhã mà thôi.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài do Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu về giúp Quốc Hội, mỗi khi có nhu cầu phải phê chuẩn một hiệp định song phương hoặc đa phương do Chính Phủ đệ trình, để tránh bị Chính Phủ lén lút qua mặt che dấu, Quốc Hội có thể nhờ tác giả bài viết này – vốn là nghị sĩ Khóa XIII – làm công việc (a) thuyết trình bằng tiếng Việt các phản biện độc lập, và (b) đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào Chính Phủ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Quốc Hội có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra về mặt lập pháp mà người dân chẳng thấy ai trong Quốc Hội đứng ra chịu trách nhiệm cụ thể cả.

C) Phản Quốc

Nếu Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng thực sự chủ tâm dối trá Chính Phủ, che đậy Quốc Hội đối với các nội dung nhạy cảm của TPP, phải chăng nhất thiết phải tiến hành điều tra cho rõ trắng đen để quy tội hoặc không quy tội phản quốc cho ông ấy?

*********

Trên bình diện quốc gia, tôi đề nghị Quốc Hội Việt nam Khóa XIV không chuẩn y TPP.

Trên phương diện cá nhân, tôi tuyên bố: Đả Đảo TPP!

TPP (5)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Khóa XIII

Ghi chú về “Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương:

Do tác giả bài viết này là giảng viên Anh Văn duy nhất về Business Contract (Hợp Đồng Xuất Nhập Khẩu – vào thủa “hồng hoang cấm vận” ở Việt Nam khi xã hội chưa có các hình thức hợp đồng “kinh doanh” nào khác hoặc chưa có hợp đồng “kinh doanh” nào phải có bản tiếng Anh, tất cả đều phải – và chỉ – là công ty nhà nước, nên “business” thuở ấy đương nhiên phải hiểu chỉ có thể là “xuất nhập khẩu” dù là cho hàng hóa hay công trình nhà máy công nghiệp theo các dự án kiểu độc nhất toàn “chìa khóa trao tay”) có thực tế kinh qua công tác đàm phán xuất nhập khẩu/đầu tư/chuyển giao công nghệ, đã có phát hiện những điều khoản bằng tiếng Anh hoặc quái gở hoặc bất lợi cho Việt Nam hoặc bủa giăng bẫy rập lọc lừa của bất kỳ hợp đồng “kinh tế” nào (chẳng hạn như trường hợp “chứng thư hài lòng của bên mua/người mua của bên mua” và cảnh báo với các tổng công ty xuất khẩu hạt điều (nhưng chỉ nhận được lời khuyên rằng “em không hiểu gì cả, Việt Nam mình từ giải phóng đến giờ ký với Ấn Độ toàn có chứng thư đó theo yêu cầu của nó mà có sao đâu”, để rồi sau đó tác giả phải đích thân giúp Nhà Nước Việt Nam đấu khẩu với các công ty Ấn và Đại Sứ Ấn Độ khi thương nhân Ấn vì điều rớt giá đã không cấp “chứng thư hài lòng” dù toàn sản lượng lô điều của khu vực phía Nam đã có chứng thư chất lượng của công ty giám định  quốc tế của Thụy Sĩ SGS Société Générale de Surveillance theo đúng yêu cầu của Ấn Độ – chi tiết của vụ đấu tranh bảo vệ nông dân thành công này có đăng trên báo Tuổi Trẻ thời ấy).

Tham khảo

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc  05-5-2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương  21-01-2015

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore  23-02-2016

Phải Có Luật Biểu Tình 18-8-2016

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Chống Cộng  21-10-2015

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-5-2017

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Việt Nam không ở Mặt Trời, cũng chẳng ở Mặt Trăng hay Cửu Tinh (Planet Nine, quay một vòng quanh Mặt Trời mất chẵn 7.300.000 ngày Trái Đất tức 20.000 năm Trái Đất).

Nếu ở Mặt Trời thì người Việt Nam ắt đã đem đến khái niệm về Người Lửa Fireman hoặc Người Chói Ablazeman mà Hollywood chưa kịp nghĩ ra để bổ sung cho đội ngũ các siêu anh hùng truyện tranh hùng hậu đã từng mê hoặc trẻ em cư dân Sài Gòn trước 1975 như Siêu Nhân Superman, Dơi Nhân Batman, Sắt Nhân Iron Man, X Nhân X-man, V Nhân V-man, Mật Nhân Mystery Man, Dẽo Nhân Plastic Man, Báo Nhân Leopardman, Phút Nhân Minute-man, và…Xanh Lè Nhân Hulk, v.v., bán chạy hơn tôm tươi hốt bộn bạc xây dựng nên siêu cường quốc Hoa Kỳ

Screen Shot 05-05-17 at 08.20 PM

Nếu ở Mặt Trăng thì thiên hạ các nước ắt đã hàng đêm bắt ghế ngồi ngoài sân nhìn lên trển để thấy người Việt đang ca hát Bolero và bắn pháo hoa.

Nếu ở Cửu Tinh thì lẽ nào NASA đến giờ vẫn chưa chịu công bố đã phát hiện sinh vật giống con người đang sống trển?

Việt Nam ở Địa Cầu. Không cần phản biện. Tất nhiên rồi.

Thế nhưng, mọi thứ nói về thế giới như một tổ hợp riêng biệt còn Việt Nam đứng trơ vơ trong lãnh địa khác sẽ hoàn toàn điên khùng.

Bài này, do đó, nói về Việt Nam trong một thế giới chung. Và bao giờ cũng là điều đúng đắn nếu nói về mình trước tiên, tránh vết xe dính đầy phân lợn của Hillary Clinton kẻ luôn hằng năm ủn ỉn sủa về tình hình “nhân quyền” của toàn thế giới – mà thế giới ấy hoàn toàn không có Mỹ nên hoàn toàn vắng tên Mỹ trong cái gọi là báo cáo nhân quyền khắp cõi ta bà ấy.

A- Việt Nam Trên Hết

Cũng vì là một thành tố của thế giới, Việt Nam đã bày ra bao việc cho giống với thế giới, chẳng hạn cố nhét các thuật ngữ “quyền con người” vào Hiến Pháp – thay vì ra uy dạy cho nhân loại biết họ đã xâm hại “quyền con người” của người Việt ra sao – và cố ấn cái gọi là “luật biểu tình” vào cái gọi là “món nợ với nhân dân” – thay vì xuất chiêu dạy cho nhân loại biết Việt Nam khoái ngợi ca phấn đấu trở thành như Singapore mà anh Singapopre thì trở thành cường quốc nhờ ảnh dám triệt để cấm “biểu tình”. Ngoài ra, Việt Nam sính “đi tắt đón đầu” – dù việc “đi tắt” của Việt Nam luôn luôn cho thấy là Việt Nam đi lạc đi lộn sau khi vượt chặn ở khúc quanh vì thiên hạ không ngu gì không quẹo chỗ khác để khỏi bị kẻ láu cá chặn đầu đón ngõ.

Tuy nhiên, Việt Nam đã không “đi tắt đón đầu”, để vuột cơ hội bá chủ ngôn từ vào tay Donald Trump, người đã phất cao ngọn cờ Nước Mỹ Trên Hết làm gương cho nhân loại noi theo.

Đáng tiếc hơn thế, Việt Nam Trên Hết chưa bao giờ được thốt lên bởi bất kỳ vị lãnh đạo chính trị hoặc trị chính nào, dù của các triều đại phong kiến, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay, vì (a) Việt Nam là tiểu nhược quốc và (b) lãnh đạo người Việt chẳng ai có đủ dũng khí và giọng tốt để hét lên câu nói hùng biện dù võn vẹn có mỗi 4 nốt nhạc này.

Việt Nam Trên Hết là khẩu hiệu của thứ đạo đức cao nhất và đạo lý cao nhất của mỗi người dân Việt có đạo đức cao nhất, mà lẽ ra đã luôn phải được thốt ra bằng miệng – kèm nắm đấm vung lên – bởi tất cả những ai ở cấp lãnh đạo quốc gia dù là của Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản.

Câu duy nhất trong toàn bộ lịch sử Việt Nam chất chứa toàn bộ khẩu khí của Việt Nam Trên Hết chính là: Việt Nam Trên Hết.

Việt Nam Trên Hết chỉ bị những kẻ hoặc kém hiểu biết hoặc gian tà cho là mang ý nghĩa cực đoan, chống toàn cầu hóa.

Thậm chí, dù chẳng bao giờ xem Việt Nam Trên Hết để làm Việt Nam đẹp hơn, sạch hơn, giỏi hơn, trí tuệ hơn, trí hóa hơn, văn minh hơn, một số người chỉ cần nghe phong phanh gì đó láo xạo là đã sẵn sàng ra tay động thủ đánh đập tóe máu người nước ngoài nào bị cho là đang chưởi Việt Nam, hoặc xúm lại ném đá người nước trong nào bị Báo Xạo Fake News chính thống của Việt Nam cho là đã mắng  dân Việt Nam có dân trí thấp.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (2)

Chính bởi là một thành tố tạo nên thế giới, Việt Nam nhất thiết phải có slogan “Việt Nam Trên Hết” treo trước cửa theo mô hình Nước Mỹ Trên Hết do Donald Trump khởi xướng, nếu không muốn trở thành đơn độc lẻ loi không ai giống trong một thế giới mà ai cũng khôn khéo sử dụng chiêu bài toàn cầu hóa để phục vụ một mục đích duy nhất: dụ dỗ những nước nhược tiểu ngu muội mà số lượng ngày càng vơi đi thảm hại.

“Tên Quốc Gia + Trên + Hết” là công thức tu từ hiện đại mà Donald Trump đặt ra hầu khống chế tư duy chính trị toàn nhân loại, bắt đầu từ năm 2017 cho đến năm 2199 tức đến hết Thế Kỷ XXII nếu vào thời điểm đó vẫn chưa xảy ra cuộc di dân đến Hỏa Tinh Mars để bắt đầu cuộc sống mới của những cư dân đầu tiên trong môi trường thế giới cộng sản đại đồng Toàn Hỏa Hóa marsalization của Hỏa Tinh thay thế cho cái Toàn Cầu Hóa globalization của Địa Cầu.

B- Đinh La Thăng

Trong đất nước Việt Nam Trên Hết ấy không thể không ưu tiên nói đến Đinh La Thăng, và những điều sau nhất thiết phải được phân tích để phục vụ một Việt Nam Trên Hết.

1) Gương Trảm:

Ông là một tấm gương trị chính đặt vun những bệ đá đầu tiên cho nền trị chính Việt Nam, một đất nước có vô số “chính khách” mà những đấng này

a) thường lầm tưởng hễ là đảng viên Đảng Cộng Sản tức một đảng chính trị hợp hiến hợp pháp thì tức là bản thân tự động đương nhiên đang “làm chính trị” tức là “chính khách”;

b) dù vậy vẫn không dám công khai nhận mình là “chính khách” hay “làm chính trị” vì không muốn bị Đảng hiểu lầm mình đã xa rời thân phận tuyệt đối trung thành với Đảng để ngang hàng với Đảng;

c) cũng vì vậy mà ngay cả khi đã trở thành nghị sĩ vẫn không dè mình đã chính thức mang thân phận “chính khách” hay “làm chính trị” theo tiêu chuẩn hàn lâm thực tế thực hành thế giới;

d) mà cũng vì vậy mà dù là đảng viên cao cấp trong Quốc Hội hay Chính Phủ vẫn không sẵn có tự thân đủ đầy kiến thức chính trị (kiến thức chính trị không phải là hiểu biết thuộc nằm lòng chủ nghĩa cộng sản, nhuyễn nhuần các bài soạn của tuyên giáo để đạt trình độ cao cấp lý luận chính trị vốn chỉ để dùng nói chuyện thời sự với “đại cử tri” chứ không để hùng biện trực tiếp trực diện với dân chúng và với kẻ thù; mà là kiến thức tổng hợp về tất cả các lĩnh vực có liên quan thuộc các hệ thống chính trị khác nhau ở các nước chính trị khác nhau vận hành guồng máy chính trị khác nhau) cùng năng lực và kiến thức trị chính (tức tất cả các kiến thức có liên quan đến quản trị đời sống quốc gia bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – luật pháp, tư bản, kinh tế, sản xuất, kinh doanh, đầu tư, an ninh, quốc phòng, giáo dục, tôn giáo, v.v. và v.v.); và

e) do tất cả những đặc thù không rõ ràng được nêu rõ ràng ở trên, chỉ có thực quyền duy nhất trong tuyển dụng nhân sự ở cơ quan và quyết định chi tiêu ở cơ quan chứ không ai có bất kỳ thực uy nào để thi thố trừ việc ra uy xử bức cấp dưới nào dám chống các tiêu cực tiền bạc của mình, dám từ chối không thực hiện các thương vụ của riêng mình, hoặc dám sở hữu năng lực và trí tuệ có thể đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của mình.

Trước thực tế trầm kha trên, Đinh La Thăng đã xuất hiện như một điển hình của một chính khách đầu tiên có cả thực quyền và thực uy khi trảm tướng mà không sợ tướng ấy là con cái/thuộc hạ của đại nguyên soái nào, ngay cả khi trong tay không hề có thượng phương bảo kiếm để tiền trảm hậu tấu.

2) Công Bộc Chơi Cha:

Đinh La Thăng khi trảm tướng đã nêu bật một chân lý của muôn đời mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã chưa từng quan tâm áp dụng là

(a) luật pháp về phúc lợi xã hội là dành cho dân chúng chứ không dành cho công-bộc-của-dân tức quan chức/công chức chính quyền; do đó

(b) quan chức/công chức chính quyền phải quyết tâm bảo đảm luật pháp lao động được thực thi cho người dân chứ không phải quyết liệt đòi bản thân quan chức/công chức được luật pháp lao động bảo vệ; tương tự,

(c) những sai phạm của quan chức/công chức nhất thiết phải bị trừng trị ngay, xử lý ngay, gông cổ ngay, xử tội nghiêm khắc nhất ngay, vì liên quan đến an bình của dân chúng và an nguy của thể chế, không thể phải trải qua các bước quy trình luật pháp dân sự vốn chỉ áp dụng để xử lý sai phạm của dân chúng.

3) Định Ngh