Category Archives: Quản Trị Chiến Lược

Lại Chậm Chân

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

11-6-2019

Như đã luôn được nhắc đến trong 500 bài trên blog này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không may vướng phải 6 hoàn cảnh trầm kha trong đại cuộc kiến quốc gồm (a) đã không bất kỳ đảng viên nào thông tuệ ngộ ra được quy trình người giỏi-người tài-nhân tài-hiền tài trước thạc sĩ Hoàng Hữu Phước; (b) vì không biết nên đã không có kế sách phù hợp trong dụng nhân; (c) vì không có kế sách phù hợp trong dụng nhân nên đã chưa hề có được trong tay bất kỳ nhân tài nào phục quốc tức phục vụ quốc gia; (d) vì không có nhân tài lãnh đạo thực hiện kiến quốc nên lãnh đạo Đảng vốn toàn là những vị “thinker” tức chiến lược gia cho ra bao kế sách vĩ đại song đã không có các “doer” tức các nhân tài thực hiện khiến phải nghe lời tư vấn của những kẻ nếu xách dép cho nhân tài chỉ làm thối bẩn đôi dép ấy để tiêu tốn biết bao tỷ USD cho “đào tạo nhân lực” chỉ để sản xuất ra những sản phẩm tương tự Tề Trí Dũng và những tên tương cận chứ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề nêu lên được bất kỳ một cái tên nào cao hơn Tề Trí Dũng về tài năng kiến quốc cụ thể từ các đại sư đoàn bí mật thụ hưởng “chương trình đào tạo nhân tài” tỷ tỷ USD đó; (e) tư tưởng nông nô lấn át nên thậm chí chẳng đảng viên nào hiểu cái câu “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” có nghĩa thâm thúy rằng hãy bỏ công sức vô bao sỏi đá vác đi bán cho các công trường xây dụng lấy tiền mua cơm chứ nào phải mang nghĩa hì hục cuốc vào đá sỏi kiên trì thế nào nó cũng phải mọc lên cây lúa, mà với cái tư tưởng nông nô như vậy đã dẫn đến việc chỉ xài người của Đảng do Đảng đầu tư; và (f) cũng vì ngần ấy thứ a bê xê dê e ấy mà nước nhà cứ phải mãi chậm chân.

Bài này viết về một cái chậm chân.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Tháng 8-2007, Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Sheraton Hotel Thành Phố Hồ Chí Minh về chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới. Hoàng Hữu Phước là một trong số 2000 người khắp nơi trên thế giới đóng tiền dự thính.

Tháng 8-2007, đột nhiên báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng rằng Philip Kotler cho Việt Nam một lời khuyên về “thương hiệu quốc gia” là “Việt Nam: Bếp Ăn Của Thế Giới”.

Tháng 8-2007, tất cả các báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng đua nhau đề xuất Phở là món ăn “thương hiệu quốc gia”, và với nhiều món ăn khác, Việt Nam hãy trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới.

Tháng 8-2007, một nữ đảng viên chức sắc ở Thành Phố Hồ Chí Minh về báo chí và thương mại (cũng là một “trí thức” xuất thân từ lực lượng sinh viên “nằm vùng” đấu tranh chống Mỹ tại Sài Gòn trước 1975) than rằng Việt Nam đã chậm chân, vì Thái Lan đã đoạt mất danh hiệu Bếp Ăn Của Thế Giới rồi.

Tháng 11-2007 (ngày 5), thấy thiên hạ bị tẩu hỏa nhập ma vì truyền thông chính thống của Đảng, Hoàng Hữu Phước vội vàng không thể không ra tay cứu độ, lập tức đăng đàn trên blog Aspiration HoangHuuPhuoc tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc (đã đóng cửa) viết một bài bằng tiếng Anh khẳng định rằng Philip Kotler đã không hề khuyên Việt Nam hãy lấy “Nhà Bếp Của Thế Giới” làm “thương hiệu quốc gia”, rằng Thái Lan và toàn cầu chả có nước nào có thương hiệu quốc gia là “Nhà Bếp Của Thế Giới”, rằng cái cum từ ” Nhà Bếp Của Thế Giới” là tên một cuộc thi nấu ăn của một khách sạn hạng xoàng ở Bang Kok tổ chức cho du khách trú ngụ tại đó vui chơi, rằng Phở nào có ra chi mà đem lại cái thương hiệu quốc gia ấy cho Việt Nam, rằng có nhiều lý do vì sao không bao giờ có quốc gia nào có cái thương hiệu ấy, và rằng nếu báo chí Việt Nam quá thèm muốn có một thương hiệu quốc gia thì tôi đây xin vấn kế, và rằng, và rằng.

Tháng 8-2008 (ngày 7), thấy báo chí của Đảng vẫn còn tẩu hỏa nhập ma do toàn bộ lực lượng báo chí và trí thức của Đảng mới có 33 tuổi sinh ra ngày 30-4-1975 chưa kịp trưởng thành để học tiếng Anh cho ra ngô ra khoai, tôi dịch bài ấy ra tiếng Việt và đăng tại  http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam (đã đóng cửa) dưới tiêu đề dài dòng Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới. Bài này được báo Tuổi Trẻ đăng lại dưới dạng rút ngắn. Tôi cũng đăng lại riêng phần tiếng Anh tựa đề National Branding: Vietnam, the Campus of the world tại http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world (đã đóng cửa)

Tháng 1-2015 (ngày 14), tôi đăng lại gộp chung cả hai bài viết Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world ngay trên blog WordPress này bằng song ngữ Anh-Việt. Các bạn quan tâm xin mời đọc tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ để biết Hoàng Hữu Phước đã đề xuất kế sách xây dựng nước nhà ra sao để có thương hiệu quốc gia “Ngôi Trường Của Thế Giới” làm giàu cho Việt Nam, làm Việt Nam lừng danh, làm Việt Nam hưởng lợi thế nào về đào tạo, làm các dự án đầu tư đại công nghiệp khỉ gió tàn hại môi trường lung lay chế độ không bao giờ còn được nhắc đến ở Việt Nam.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Chao ôi, lại chậm chân.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước doer từ 2007 thì nay cứ thong thả lấy tiền thu học phí của 2007-2018 xây cho xong mấy cái dự án chống ngập Thành phố, chống thối Đa Phước, chống chậm Suối Tiên; còn nhín ra tiền thu học phí 50.000 tỷ của chỉ một năm 2019 này thôi cũng dư bù cho mấy cái chết tiệt mất sạch mất hút mất tiêu núi tiền đồi vàng ở các ngân hàng nước Việt.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước làm doer thì đất nước của Lạc Long Quân nào cứ chậm chân lạc lỏng xà quẫn xà quần mãi thế kia.

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

Tham khảo:

Người giỏi-Người tài-Nhân tài-Hiền tài: Hiền Tài  22-5-2019

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world – song ngữ Anh-Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/

Advertisements

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2019

Bài viết sau đây được đăng trên trang mạng doanh nhân emotino lúc 4 giờ sáng ngày 08-01-2010 với mã số 18358.

Việc đăng lại hôm nay chỉ để chứng minh nếu một người thực sự là thạc sĩ/tiến sĩ, người ấy dứt khoát không sao dứt được niềm say mê nghiên cứu tài liệu nước ngoài và viết lách vì nghiên cứu và viết lách là đặc điểm của đẳng cấp luôn để sẵn tua mão bên phía trên vai trái của mình. Nếu lãnh đạo cơ quan của bạn là thạc sĩ/tiến sĩ mà hắn ta/ả ta chẳng hề yêu nghiên cứu viết lách hàn lâm để sẻ chia hành trạng tư duy chuyên nghiệp của mình với tập thể, mà chỉ khoái làm con nít cà tửng cà tửng trên Facebook và/hay Instagram hoặc chỉ khoái là đại gia tức đi siêu xe ở siêu hang quen siêu gái khoái siêu bợm hưởng siêu quyền (cho xe xồng xộc vào đón vợ/chồng ngay chân cầu thang máy bay dù vợ/chồng không phải là tổng thống/đệ nhất phu quân/đệ nhất phu nhân), thì bạn có thể chắc chắn một tỷ phần trăm rằng bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ của hắn ta/ả ta có được là do nhờ người thi hộ, nhờ trường không tên tuổi cấp cho miễn có chường mặt mũi đủ số giờ ngồi trong lớp, nhờ được Gà Rừng cung cấp theo giá rao trên mạng, hoặc xem bằng cấp là đồ trang sức để “cho có với người ta”, hoặc thấy mình thấp kém ngỡ có bằng cấp sẽ đương nhiên biến thượng lưu, hoặc nhờ “phe ta” ở ngay trong nội tình phe nhóm tiến sĩ ở Việt Nam chấm đạt rồi cấp bằng theo chỉ đạo của hệ thống chính trị để ngồi vào các chiếc ghế cao quyền lực kinh-tài của chế độ để sau đó tạo điều kiện cho các cơ quan công tố/công an/toà án/trại giam có nhiều việc để làm để trau giồi tay nghề cho hoàn hảo hơn.

Ắt không cần nhắc thêm rằng bài lập lại dưới đây –như rất nhiều bài đăng lại khác – được viết trước khi tác giả Hoàng Hữu Phước có danh-vị-trọn-đời “Nghị Sĩ Khóa XIII” của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-01-2010

I. Dẫn Nhập: Các Ngộ Nhận Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản

Thường thì khi nói về Nhật Bản, nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới, người Việt Nam hay nghĩ đến đất nước hứng chịu hai quả bom nguyên tử đầu tiên và duy nhất – tính đến ngày 08 tháng Giêng năm 2010 – của nhân loại, đến cảnh điêu tàn của Hiroshima và Nagasaki, đến sự đầu hàng của Nhật cùng với sự sụp đổ của Khối Trục Đức-Ý-Nhật của Đệ Nhị Thế Chiến, đến thương hiệu Japan chiếm lĩnh vị trí độc tôn đồng nghĩa với hàng công nghiệp cao chất lượng cao – xóa sổ vĩnh viễn sự kiêu hãnh của Đức và dập tắt ngay cả khát vọng mong manh vươn lên của Hoa Kỳ, và đến vị trí thống lĩnh kinh tế toàn cầu. Tất cả dẫn đến sự cảm phục, thán phục, rồi thần phục, cứ như dân tộc Nhật ấy thật sự là con Trời, không biết rằng còn có nhiều sự thật khác đã không được bàn đến, khiến những sự thật được nêu bấy lâu nay đưa người ta đến với ngộ nhận. Một đất nước chỉ có hai thành phố bị san thành bình địa chứ không phải từ Bắc Chí Nam từ Đông sang Tây, từ đảo lớn đến đảo nhỏ bị san thành bình địa, nên khác rất xa cảnh hoang tàn tang thương ngẫu lục người ta hay tưởng tượng trong cảm thương. Một đất nước đã bạo tàn thu tóm của cải khổng lồ của các quốc gia trải dài từ Đông Bắc Á – kể cả Trung Quốc – đến Đông Nam Á – có cả Việt Nam – đem về chính quốc, thì việc hai thành phố bị bom nguyên tử tàn phá cũng giống như một tên kẻ cướp chở chuyên về quê nhà vô thiên lủng ngọc ngà châu báu, mua sắm đất đai đồng ruộng mênh mông thẳng cánh cò bay, tậu biệt thự và địa ốc cao cấp khắp chốn, thì cái garage chứa hai chiếc Rolls-Royce Phantom và Rolls-Royce Ghost có cháy rụi thành Rolls-Royce Spectre và Rolls-Royce Spook cũng khó làm tên kẻ cướp nghèo đi. Duy chỉ có chuyện đầu hàng Mỹ mới luôn là nỗi nhục nhã của một dân tộc hãnh diện với tinh thần võ sĩ đạo: nhanh chóng đầu hàng Mỹ chỉ vì sợ sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản sau sự phản công vũ bảo của Hồng Quân Liên Xô đánh bật Nhật Bản khỏi Mãn Châu, giải phóng cả khu vực rộng lớn Đông Bắc Á, ắt sẽ cùng Hồng Quân Trung Quốc vượt biển chiếm đóng Phù Tang.

II. Sự Thật Về Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản

A) Đôi Dòng Lịch Sử

1- Nhật và Khối Trục Quốc Xã Đức- Phát Xít Ý- Quân Phiệt Nhật

Trước sự lấn lướt về ý thức hệ cộng sản đang chiếm thế thượng phong và sự lớn mạnh của Liên Xô, Quốc Trưởng Hitler của Đức Quốc đã cùng Thủ Tướng Nhật Bản Hiranuma k‎ý hiệp ước năm 1936 cam đoan bảo vệ nhau nếu Liên Xô tấn công, và Ý cùng tham gia k‎ý kết năm 1937 để dựa oai hùm, tạo thế ba chân vạc với Quốc Xã Đức – Phátxít Ý – Quân Phiệt Nhật. Song, với việc Hitler khôn ngoan k‎ý riêng với Liên Xô vào năm 1939 một hiệp định không gây hấn lẫn nhau, khối Trục chuyển hướng với hiệp định mới vào tháng 9/1940 cùng nhau chống Mỹ. Khi thấy anh-em-ba-chân-vạc Đức chiếm Pháp Quốc lập nên chính phủ Vichy, Nhật Bản thừa cơ hội xua quân “hưởng sái” chiếm đoạt Đông Dương thuộc Pháp (gồm Việt Nam, Lào, và Cam-bốt tức Cambodia)

2- Vì Sao Nhật Xâm Lược Đông Nam Á và Tấn Công Trân Châu Cảng

Năm 1895 sau khi dễ dàng đánh bại Trung Quốc, chiếm cứ Đài Loan, Nhật Bản bắt đầu tấn công Liên Xô dành quyền kiểm soát bán đảo Hàn Quốc và Mãn Châu, chiếm được Nam Mãn Châu và bán đảo Sakhalin, tạo nên tâm l‎ý tự tin bá quyền nước lớn, cho mình có bổn phận bảo vệ các quốc gia Châu Á khỏi chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây. Từ năm 1937, Nhật xâm lược đánh chiếm Bắc Kinh, Thượng Hải, Nam Kinh, và thâu tóm gần hết vùng lãnh thổ Đông Bắc Trung Quốc, đặt 300 triệu dân Trung Quốc ở những nơi chiếm đóng dưới sự cai quản bạo tàn của 600 ngàn quân Nhật. Sự tiến quân xuống phương Nam đến vùng Đông Nam Á chỉ là chuyện của thời gian.

Thấy Nhật đã nuốt gọn Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt kêu gọi thế giới cấm vận nhiên liệu với Nhật Bản, nhằm buộc Nhật rút quân hoàn toàn khỏi Trung Quốc và Đông Dương, khiến Nhật quyết định tấn công các thuộc địa giàu dầu mỏ tại Đông Nam Á của Anh Quốc, Hà Lan, và Hoa Kỳ (như ở Mã Lai, Indonesia, Philippines) đồng thời tung 535 chiến đấu cơ xuất kích từ 6 hàng không mẫu hạm đánh phủ đầu răn đe Mỹ tại căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Habour, đảo O’ahu, Hawaii) ngày 07/12/1941, và Cuộc Hành Quân Mật Danh Z này đã làm Mỹ mất 18 chiến hạm, 188 chiến đấu cơ, 2.402 sĩ quan và binh sĩ hy sinh, và 1.282 quân nhân trọng thương, trong khi số thiệt hại của Nhật ở mức tối thiểu, với 29 phi cơ bị bắn rơi, mất 5 tàu ngầm tiếp tế, 65 binh sĩ thương vong, và một thủy thủ bị bắt làm tù binh. Cuộc tấn công này đẩy nước Mỹ trực tiếp tham dự vào Đệ Nhị Thế Chiến.

3- Kế Hoạch Marshall: Mỹ và Châu Âu

Kế hoạch Marshall được đặt theo tên của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall, là kế hoạch tái thiết Châu Âu trong thời gian 1948-1952 với gói viện trợ 13 tỷ USD mà Hoa Kỳ dành cho Áo, Bỉ, Luxemburg, Đan Mạch, Pháp, Tây Đức, Hy Lạp, Iceland, Ái Nhĩ Lan, Ý, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm triệt tiêu mầm mống trỗi dậy đầy hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản tại các nước này sau Đệ Nhị Thế Chiến. Và hàng hóa của Hoa Kỳ, quốc gia chẳng những chẳng có tổn hại đáng kể nào trong Thế Chiến mà còn hưởng lợi từ sự điềm nhiên tọa thị của bạng duật tương trì để trở thành nhà cung ứng hàng tiêu dùng và nguyên liệu hàng đầu thế giới, được bán cho các quốc gia nhận viện trợ từ Kế Hoạch Marshall.

4- So Sánh Một Kế Hoạch Marshall Nhỏ: Mỹ và Nhật Bản với Douglas MacArthur

Đại tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương bắt đầu tổng tấn công Nhật giải phóng lần lượt các đảo New Guinea, New Britain, Solomons, Admiralty Islands, và Philippines, trước khi bệ vệ chứng kiến Nhật k‎ý văn kiện đầu hàng trên chiến hạm Missouri ngày 02-9-1945, và đổ quân chiếm đóng Nhật Bản, thực hiện các chương trình cải cách nhằm biến Nhật thành một quốc gia theo thể chế dân chủ. Thế nhưng cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn với sự tham dự chủ lực của MacArthur từ năm 1950 đã tạo cơ hội cho Nhật Bản trở thành hậu phương cung cấp hàng hóa và nguyên liệu chủ lực cho Liên Hợp Quốc và bốn năm của cuộc chiến đã đem lại cho Nhật Bản một nguồn thu khổng lồ mà không bất kỳ quốc gia Tây Âu nào hưởng được tương tự từ Kế Hoạch Marshall. Ngoài ra, cuộc chiến Nam-Bắc Hàn cũng làm Hoa Kỳ nhận ra một tiềm tàng nguy hiểm của sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nên gia tăng đầu tư vào Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Hàn Quốc, đồng thời khôn ngoan cách chức MacArthur khi vị tướng này chưa đánh thắng Bắc Triều Tiên đã vội tuyên bố tấn công Trung Hoa lục địa để tiêu diệt Trung Cộng.

5- Cùng Một Giuộc

Học giả Noam Chomsky, người mà các sinh viên Ban Anh Văn ở Việt Nam đều học biết các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học của Ông – nhưng ít ai biết Ông đã đến được Hà Nội trong thời gian chiến tranh Chống Mỹ của Việt Nam ở cao trào khốc liệt, để nói lên tiếng nói nhà trí thức Mỹ ủng hộ nước Việt Nam của Tổng Thống Hồ Chí Minh, đã mĩa mai rằng số tiền Hoa Kỳ viện trợ cho Pháp và Hà Lan đã được hai nước này dùng cho đại cuộc tái xâm lược Đông Nam Á, mà điển hình là Hà Lan tái chiếm Indonesia, cùng với quân Anh nhảy dù chiếm thủ đô Jakarta và quân Úc đổ bộ giải giới quân Nhật, dù Indonesia đã tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 sau khi quân Nhật đầu hàng đồng minh. Những trận chiến đẫm máu kéo dài cho đến khi quân Hà Lan k‎ý văn kiện công nhận nền độc lập của Indonesia ngày 02-11-1949, chấm dứt sự hiện diện của các đoàn quân ngoại bang vừa thoát thảm họa Đức Quốc Xã, vừa nhận tiền của Mỹ đã ngay lập tức xua quân trở lại nhằm áp đặt nền đô hộ lên toàn Đông Nam Á, thậm chí một quốc gia loại cò con theo đóm ăn tàn như Hà Lan cũng gây nợ máu với nhân dân Indonesia, chứng tỏ dù những quốc gia Tây Âu này là nạn nhân của chủ nghĩa Quốc Xã Đức hay Phát-xít Ý, vẫn không có một ranh giới định hình rõ nét giữa họ với những kẻ tội đồ gây ra Thế Chiến Thứ II, có chăng chỉ là vị trí bọn cướp thắng với bọn cướp thua.

B) Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản – Những Gì Việt Nam Không Có, Muốn Có, và Không Muốn Có

1- Tài Chính và Cơ Hội Từ Kẻ Thù

Người dân Nhật không thể nào quên mối thâm thù khi phải đầu hàng Hoa Kỳ và để quân Mỹ đổ bộ chiếm đóng xứ sở Mặt Trời Mọc. Nhưng không thể phủ nhận chính sự chiếm đóng của Hoa Kỳ và việc MacArthur xóa sổ quân đội Thiên Hoàng đã giúp đất nước Mặt Trời Mọc tiết kiệm được ngân sách khổng lồ lẽ ra phải chi ra cho quân đội và chiến tranh, khiến tổng sản lượng quốc gia GNP của Nhật tăng đến 73% (trong khi Tây Đức tăng 28,5%, Pháp 18,7%, Anh 12,7%  và Mỹ 8%) và Nhật hàng năm chỉ sử dụng 1% của GNP cho chi phí của Cục Phòng Vệ. Ngoài ra, dù bảo hộ mậu dịch cao, Hoa Kỳ vẫn mở rộng cửa thị trường cho Nhật, giúp Nhật trở thành đối tác lớn với các ưu đãi thuế quan, được mua nhiên liệu và nguyên liệu với giá thấp để phát triển công nghiệp Nhật Bản. Thêm vào đó những số tiền khổng lồ Mỹ trả trước để đặt hàng phục vụ cuộc chiến ở Hàn Quốc chiếm đến 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, khiến tài lực của quốc gia này được ưu ái gia tăng mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính nhờ có cơ hội này từ kẻ thù, Nhật Bản có được đà cất cánh bay cao về kinh tế trong những năm sau đó.

2- Quyết Tâm Của Chính Phủ

Chính phủ Nhật đã có quyết tâm cung cấp tài chính cho nền kinh tế và những sự hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp, hình thành một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, trên cơ sở xuất khẩu tối đa hàng hóa sản xuất được, và ngoại tệ nhận về tập trung cho mua sắm công nghệ, đầu tư quản trị, nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng để gia tăng phát triển kỹ nghệ, trong hoàn cảnh đất nước không có nhiều nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp và thậm chí không có trữ lượng dầu mõ nào (trừ vài phát hiện có mức độ nhỏ sau này). Các ngân hàng tư nhân và nhà nước sử dụng tiền tiết kiệm cá nhân của dân để cho các doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi. Để đầu tư vào kỹ nghệ. Việc tập trung phát triển doanh nghiệp tư nhân và hình thành các tập đoàn độc quyền zaibatsukeiretsu nhằm hạn chế cạnh tranh và gia tăng thế mạnh trên thị trường quốc tế là một số đóng góp mang tính nhà nước trong việc đem lại cho Nhật Bản cơ sở có được sức mạnh kinh tế thần kỳ.

3- Quyết Tâm Của Người Dân

Đáp lại lời kêu gọi của Chính Phủ hy sinh tất cả để đất nước chiếm lĩnh vị trí kinh tế cao trên thế giới, người dân Nhật đã chấp nhận mua hàng tiêu dùng sản xuất trong nước với giá cao cắt cổ, trong ‎ý thức chính họ mới là giống dân cao qu‎ý nhất trong giống da vàng và thậm chí cao hơn cả dân da trắng, không đoái hoài đến hàng hóa rẻ mạt của nước ngoài. Sự cam chịu khủng khiếp này của thời hậu chiến đã hình thành nơi người Nhật đức tính trầm tĩnh, không nói về những lo lắng, căng thẳng, tức giận, hay về xung khắc tôn giáo, khi toàn dân là một, đồng lòng mua hàng nội hóa với giá cao để các công ty Nhật có thu nhập cao đủ bù đắp cho họ yên tâm bán hạ giá sản phẩm của mình trên thị trường hải ngoại, từ đó chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ngoài ra, người lao động Nhật chấp nhận lương thấp, đổi lại được hưởng cơ chế làm việc trọn đời, được huấn luyện nghề nghiệp, về sau góp phần quan trọng vào sự cất cánh về kinh tế của nước Nhật thời hậu chiến. Ngoài ra, rất đông dân chúng Nhật chấp nhận làm bán thời gian tại vô số các xí nghiệp nhỏ, không có an sinh xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào khác, nhận lương bèo, tạo điều kiện cho các công ty lớn như Toyota và Sony sử dụng dịch vụ của các xí nghiệp nhỏ này với chi phí rẻ mạt, giúp chính Toyota và Sony và các công ty lớn thu lợi nhuận nhiều hơn và nhanh hơn, hình thành tư bản.

4- Giai Thoại Samurai

Samurai là những quân nhân kỵ binh dũng cảm, quên thân, phục vụ hết lòng chủ soái của mình, đích thị là những người xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đa số các samurai do chiến công hoặc đơn giản vì sự phục tùng của họ có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại của các sứ quân nên trở thành những nhà qu‎ý tộc. Ở đây, tinh thần samurai được cho là hòa quyện vào ý chí của người Nhật trước các biến động: hết lòng phò tá quân vương phục vụ chiến tranh, và lúc chiến bại thì hết lòng phục vụ nước nhà cho một danh dự đoạt lại hay một danh dự mới khác. Đối với Đệ Nhị Thế Chiến thì việc bị giải giáp và bị cấm có quân đội riêng đã đưa người Nhật từ cuộc chiến chiếm đoạt lãnh thổ sang cuộc chiến chiếm lĩnh thị trường bằng hy sinh mọi giá.

5- Giai Thoại Ninja

Trong chiến tranh chống Mỹ, người ta thường nghe nói nhiều đến những chiến sĩ đặc công (thời trước gọi là “đặc công Việt Cộng”), những siêu nhân xuất quỷ nhập thần, đến độ cảnh sát Sàigòn khi điều tra hiện trường phát hiện mảnh lựu đạn loại tự sát (loại rút chốt là nổ ngay, không phải loại tấn công có thể ném trong năm giây) là gấp sổ lại ngay và kết luận do đặc công Việt Cộng gây ra vì chỉ có đặc công Việt Cộng mới có khả năng dùng lựu đạn tự sát để sát thương kẻ thù rồi…phi thân tẩu thoát toàn vẹn. Ninja là những tay đặc công mặc trang phục toàn nâu sậm, chuyên lợi dụng đêm tối để ngụy trang đột nhập, do thám, dùng kiếm và phi tiêu để ám sát theo lịnh của chủ nhân. Và dù không thuộc đẳng cấp qu‎ý tộc samurai, các ninja nhất nhất thực hiện mệnh lệnh và bắt chước các samurai tự sát khi kế hoạch bất thành để bảo vệ bí mật về chủ nhân. Tuy không là quân nhân và chỉ là các sát thủ, không đáng để ngợi ca, song do dân Nhật có cái hay là không bao giờ dè bỉu chê bai đồ bản xứ và ra sức đánh bóng thương hiệu để thống trị thế giới nên cái tinh thần ninja cũng được truyền bá như một điểm cao qu‎ý của đức tính phụng sự và hy sinh cá nhân cho nghĩa lớn.

6- Giai Thoại Du Học Sinh

Đã có nhiều truyện truyền khẩu mang tính giai thoại về những du học sinh Nhật tại Hoa Kỳ thời hậu chiến, chẳng hạn có quá nhiều ca tử vong kiểu hara-kiri (mổ bụng tự sát) trong giới du học sinh Nhật trong thời gian dài, để rồi về sau giới chức Chính phủ Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ, theo dõi, kiểm tra, mới biết các xác chết hồi hương về Nhật Bản có chứa các tài liệu khoa học, kỹ thuật cao, tình báo kinh tế dấu trong các bọc nylon bên trong ổ bụng của kẻ tự sát đã được khâu lại. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đã hình thành những phi đội Thần Phong Kamikaze (gồm những phi công cảm tử chỉ cần được huấn luyện lái máy bay rồi xuất kích với lượng nhiên liệu đủ tiếp cận mục tiêu mà không cần học kỹ thuật hạ cánh) lao chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero mang đầy bom vào ngay tử huyệt (giữa tháp điều khiển và ống khói các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ) đủ để đánh gảy xương sống chiến hạm nhấn chìm nó xuống biển sâu. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đi du học để lấy thân mình chuyển tài liệu về cho các nhà khoa học nghiên cứu, hầu có kết quả nhanh hơn là chờ đến khi họ tốt nghiệp sau những năm dài du học đầy tốn kém cho quê nhà. Đối với các kamikaze có thật và các du học sinh là giai thoại do không bên nào xướng nhận sự thật của các vụ mổ bụng tự sát, người ta có thể thấy toát lên từ cái cực đoan của tinh thần samuraininja chỉ biết có chủ nhân – sau này chủ nhân có nghĩa là đất nước Nhật Bản – là sự tự hào dân tộc, xem thường dân da trắng phương Tây, và chủ tâm lấy cái cực hay của Tây để thống trị Tây, chứ không bao giờ lấy cái tàm tạm của Tây để rồi hoặc bỏ quê hương hoặc trở về chê bai thóa mạ quê hương, đòi thay đổi thể chế và lật đổ chính quyền đang lèo lái quê hương qua cơn quốc nạn. 

III. Kết Luận: Chân Giá Trị Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Như vậy, nếu Nhật Bản có 7 điều kiện cực kỳ đủ để cất cánh phô trương sức mạnh kinh tế thần kỳ như:

a- có sẵn kho tàng cướp được từ các quốc gia bị chiếm đóng vùng Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương, trong đó có Việt Nam;

b- được kẻ thù không đội trời chung cung cấp tài lực để trở thành tiền đồn ngăn cản sự bành trướng của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, bảo vệ sự an nguy cho đất nước Hoa Kỳ về mặt Thái Bình Dương;

c- được kẻ thù không đội chung trời cung cấp cơ hội sản xuất và xuất khẩu làm giàu trên xương máu dân nước khác trong cuộc chiến Nam-Bắc Hàn;

d- chính phủ không cần chăm lo cho đời sống nhân dân và chỉ phải tập trung xây dựng tập đoàn kinh tế;

e- nhân dân cam chịu sống trong cảnh củi quế gạo châu, không dám mở miệng chống đối;

f- tinh thần SamuraiNinja chỉ biết cúc cung tận tụy thực hiện mệnh lệnh cấp trên; và

g- giới trẻ du học để nắm kiến thức khoa học kỹ thuật về phục vụ phát triển kinh tế đất nước chứ không bao giờ muốn lật đổ chế độ quân chủ ở quê nhà hay “phản biện” cung cách chính phủ đang điều hành kinh tế đất nước;

thì Việt Nam mới thực sự có được sức mạnh siêu thần kỳ vì trong điều kiện

a- không có bất kỳ kho tàng nào cướp được của lân bang để làm vốn đầu tay “tự có”;

b- bị kẻ thù cô lập chính trị, cấm vận kinh tế, bôi nhọ thanh danh Việt Nam từ đất nước duy nhất trên hành tinh cứu nguy dân tộc Campuchia thoát nạn diệt chủng kinh khủng điên rồ trở thành kẻ xâm lược quốc gia của Khờ-Me Đỏ;

c- không còn nhận được sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa, đã vậy còn bị siêu cường Trung Quốc gây hấn, tấn công quân sự;

d- chính phủ thực hiện lời dạy của thánh nhân trong trị quốc: minh quân thương dân như con đỏ, chăm lo đến từng miếng ăn cái mặc cho toàn dân trong khi hoàn cảnh kinh tế đất nước ngặt nghèo, bảo đảm thiếu hụt lúa gạo có ngay bo bo, lấy bao cấp làm quốc sách chứ quyết không để nhân dân phải chịu đựng như dân Nhật Bản mua củi đắt hơn quế nấu gạo đắt hơn châu, và trong nhiều chục năm trời không dám đưa giá điện và nước lên đúng giá thành sản xuất, chỉ để sao cho nhân dân được sống ít khó khăn hơn trong thời gian dài hơn một phần ba thế kỷ;

e- người Việt thích đôi co, tranh luận mọi việc, khiến ngay cả việc đơn giản có văn hóa cực cao như đội mũ bảo hiểm cũng nhao nhao “phản biện” thay vì răm rắp thực hiện quy định của nước nhà; và

f- không ít người trong giới trẻ du học kiểu bá đạo, chưa thành nhân đã tự xưng nhân tài, chưa đóng một xu thuế đã lo thu nhập bị hao hụt, không học kỹ thuật dính dầu mỡ sản xuất nhọc nhằn mà chọn quản trị kinh doanh và luật sang trọng để dùng mớ kiến thức sách vở nào cũng có để phỉ báng chính phủ không biết tăng gia sản xuất làm kinh tế, vi phạm nhân quyền và dân quyền, đòi áp dụng luật ngoại lai, quăng ném bã dân chủ-tự do-đa đảng-đa nguyên thiu ôi cũ rích mà không một công dân trí thức trẻ nào tại các nước tiên tiến xem trọng, và đòi thay đổi cả thể chế chính trị nước nhà, mong làm Tổng Thống ngồi trên đầu thiên hạ;

Việt Nam vẫn tồn tại được suốt 35 năm qua, đánh bại quân đội siêu cường Trung Quốc, cưu mang cứu mạng dân tộc Campuchia, tiêu diệt Khờ-Me Đỏ, chặn bắt toàn bộ các toán Kinh Kha của bọn Việt Kiều Mỹ-Thái-Úc đột nhập toan sát hại lương dân, kiên trì giáo dục người dân, xây dựng kinh tế ổn định phát triển, tạo uy thế chính trị cao vời, uy tín quốc tế gia tăng mà đất nước mang tên Việt Nam chưa bao giờ có được trước đó, mới thấy sức mạnh kinh tế của Việt Nam thực sự trên cả thần kỳ.

Tóm lại, mỗi khi ai đó trong cộng đồng người Việt chúng ta trầm trồ về sự thần kỳ hay kỳ tích kinh tế của một quốc gia nào khác, nên biết rằng người dân nước đó phải đồng cam cộng khổ hy sinh nhiều đến dường nào cho đất nước họ phồn vinh, rằng người dân nước Việt có đã và đang thắt lưng buộc bụng tự nguyện gánh chịu tất cả vì sự sinh tồn nòi giống và danh dự quốc gia, và có đã và đang hiểu biết chính phủ của mình đã và đang thực hiện có hiệu quả những kế sách kinh tế chưa từng được nêu lên tại các học viện hàn lâm trên thế giới, với cung cách, tư cách, và uy thế của những nhà giáo cấp thấp, chân quê, từng đánh thắng các tướng lĩnh thế gia vọng tộc ngôi sao sáng chói của các học viện quân sự Hoa Kỳ, xây dựng kinh tế Việt Nam phát triển mà chưa một tiến sĩ hàn lâm nước ngoài nào có thể làm điều tương tự tại Việt Nam Cộng Hòa.

Có như vậy mới đúng là người tôn trọng sự thật, yêu lẽ công bằng, và mới biết Đảng đã thương dân như con đỏ quá sức và quá mức như thế nào,

để nhận ra rằng chính Bụt chùa nhà mới thực sự thiêng liêng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

*PhantomGhost đều có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt được hãng Rolls-Royce dùng đặt tên cho hai model xe ô-tô đắt tiền của họ (dường như đã có hai chiếc Rolls-Royce Phantom ở Việt Nam). Đây là kiểu đặt tên nghèo nàn thường gặp ở các nhà sản xuất Âu Châu vốn rất kiêng kỵ với văn hóa trí hóa cao ở Việt Nam, và tôi nương theo đó mà dùng hai từ SpectreSpook cũng có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt để nhạo bọn Rolls-Royce, chứ trên thị trường thế giới chỉ mới có thêm phiên bản Rolls-Royce Phantom Coupé chứ chưa có xe Rolls-Royce SpectreRolls-Royce Spook.

Bài viết về Nhật Bản sau khi trở thành Nghị Sĩ Khóa XIII:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Tham khảo liên kết có nhắc đến trong bài:

Hướng Dẫn Của Hoàng Hữu Phước Về Đội Mão 15-5-2019

Bằng Giả – Đại Học Gà Rừng  28-9-2010

Mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern Và Lời Khuyên Cho Đảng Cộng Sản Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

08-5-2019

                         Mục Lục

A– Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

B– Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

C– Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

D– Năm Điều Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

E– Năm Lòi Khuyên Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

A- 3 Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

1) Thế giới Âu Mỹ mụ mẫm không có gì để làm nên đã xúm lại ngợi ca mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern. Đó chính là vấn đề. Và vấn đề là đang có một công thức hành xử kiểu hai-trong-một được thiết lập cố định cho giới lãnh đạo Phương Tây rằng (a) hãy chống Tổng Thống Các Tiểu Quốc Thống Nhất À-Mế-Rì-Ka – cái quốc gia mà những kẻ mông muội thủa chưa học rành Tiếng Việt và chẳng đủ trình độ dịch thuật tiếng Pháp tiếng Anh tiếng Bồ nhưng học đòi làm trí thức đã đặt tên là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà thời Việt Nam Cộng Hòa đám “trí thức” cải lẫy chí chóe rằng lẽ ra đã phải là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ mới đúng –  Donald J. Trump vì đó là đấng dám có luận điệu tương tự ý kiên định của Hoàng Hữu Phước rằng EU hèn hạ sống ký sinh vào Hoa Kỳ, và (b) hãy ve vản dân nhập cư Hồi Giáo để vừa che đậy quá khứ nhớp nhúa của tiền nhân EU bao phen xua quân “Thánh Chiến” đánh phá/cướp bóc/hãm hiếp/miệt thị/tàn sát/bắt nô lệ người dân các nước Hồi Giáo xa xưa, vừa lạy mong các chiến binh Hồi Giáo Cực Đoan hùng mạnh hiện nay bớt thực hiện những đại cuộc khủng bố báo oán kinh hoàng trên toàn cõi trời nước Chúa.

2) Hình ảnh của mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern ôm chầm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi được chiếu lên tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa (829 mét) ở Dubai thuộc UAE (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) được báo chí toàn thế giới tải đăng. Đó chính là vấn đề.

Và vấn đề ở đây là (a) sự mất tư cách mất tư thế của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất khi hóa ra điều cực đoan mà một đất nước Hồi Giáo hùng mạnh như UAE thèm thuồng đến nỗi dễ dàng tôn vinh ngay Jacinda Ardern là khi có bức ảnh mụ ta đội khăn Hồi Giáo ôm chầm một nữ công dân New Zealand đạo Hồi cùng những tuyên bố đầy cảm xúc dành cho dân Hồi Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Thiên Chúa Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Hồi Giáo, (b) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Vatican và lãnh đạo các nước Âu Mỹ qua việc không bất kỳ ai trong số bọn chúng đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước họ theo Thiên Chúa Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Thiên Chúa Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố do những tên Hồi Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Thiên Chúa Giáo hoặc do hậu quả của các cuộc choảng nhau giữa hai bọn Công Giáo Cực ĐoanTin Lành Cực Đoan ở Châu Ân dù đã có Bức Tường ngăn cách mà Hoàng Hữu Phước đã từng nêu lên trong bài Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới, (c) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Liên Hợp Quốc và lãnh đạo các quốc gia đang ngợi ca “toàn cầu hóa” qua việc không bất kỳ ai trong số bọn họ đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước Myanmar theo Phật Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Phật Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Hồi Giáo Cực Đoan Myanmar gây ra chống các tín đồ Phật  Giáo Myanmar, và (d) hầu như do đã không nghe lời Hoàng Hữu Phước của Việt Nam hai thập kỷ trước đã thống thiết kêu gọi đừng động đến Saddam Hussein và Muammar al-Qaddafi là hai vị chúa tể duy nhất của toàn nhân loại có tài dìm đầu khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan mà toàn thể giới chính trị gia Âu Mỹ ngày nay phải run sợ khiếp sợ kinh sợ khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan đến độ phải làm đủ mọi trò hề kêu gọi sự thương yêu và chỉ dám tập trung lên án những tên da trắng thượng đẳng kỳ thị chủng tộc/giới tính/màu da chứ không dám gọi tên “Thiên Chúa Giáo Cực Đoan” khiến khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan thêm tức giận như bị châm thêm dầu vào lửa và khiến khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan càng lộng hành như được khuyến khích động viên làm toàn thế giới bất ổn bất an bất…thành văn (tức…cạn lời).   

3) Tên tuổi của mụ Jacinda Ardern được đề xuất cho giải Nobel Hòa Bình. Đó cũng chính là vấn đề. Và vấn đề là Giải Nobel Hòa Bình là một giải dù cho đến nay đã trao 99 lần cho 106 cá nhân và 27 tổ chức vẫn mang một công thức hai-trong-một mặc định gồm (a) tổ chức thắng giải phải là tổ chức của Liên Hợp Quốc hoặc tổ chức do Mỹ tài trợ chính; và (b) cá nhân đoạt giải phải có “tư cách cao trọng” rằng phải  chống lại thể chế chính trị của quốc gia mà cá nhân ấy là công dân đang ngụ cư và phải đạt hiệu quả ở chỗ vi phạm luật pháp quốc gia để bị bỏ tù, hoặc phải thành công đi hay chạy hay bơi hay bay ra khỏi nước ây để tiếp tục “sự nghiệp chửi”; hoặc cá nhân đoạt giải phải có giá trị “thí cô hồn” cho một đại sự dành riêng cho cường quốc đang chống lại thể chế chính trị của quốc gia của kẻ bị “thí cô hồn” ấy – thí dụ như bọn giám khảo Giải Nobel Hòa Bình 1973 buộc phải “thí” ½ giải cho Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để danh chính ngôn thuận “ban” ½ giải tôn vinh Henry Kissinger của Mỹ qua đó gián tiếp khẳng định Mỹ không xâm lược tàn phá Miền Bắc cũng không thuộc địa hóa biến Miền Nam thành tay sai Mỹ, mà đến Việt Nam với chính nghĩa đầy tự hào dựng xây nền “hòa bình” lâu dài cho một Việt Nam mà nội bộ “hai chính phủ” của “hai nước” cứ hục hặc mãi gây nên “nội chiến” kinh hoàng khiến nhân dân Việt Nam của “hai nước” cứ mãi thống khổ điêu linh còn nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới mà Mỹ là đại diện cứ mãi đau lòng xót xa rơi lệ ngày quên ngủ đêm quên ăn đến độ bộ đồ lòng không có gì cho cơ quan tiêu hóa làm việc để khỏi bị bít bón. Cái tên Jacinda Ardern xuất hiện như một cứu tinh cho ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 trong nổ lực cứu nguy cho EU bằng cách chứng tỏ với thế giới Hồi Giáo rằng đã luôn có sự quan tâm đến và đánh giá cao các hành động ve vuốt thương yêu tín đồ Hồi Giáo ở nội bộ ủy ban này của Tây Âu.

B- Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

Ngày Thứ Sáu 15-3-2019, một tên sát thủ da trắng 28 tuổi tên Brenton Tarrant từ Úc sang đã tìm đến xả súng vào các tín đồ Hồi Giáo đang cầu nguyện tại hai nhà thờ Hồi Giáo ở Christchurch thuộc Đảo Nam của New Zealand, giết chết 51 người và làm trọng thương 50 người khác. Hắn có quay phim cuộc tấn công và phát trực tiếp trên Facebook. Nạn nhân trẻ tuổi nhất là các cháu bé mới chập chững biết đi.

Nhà nghiên cứu chính trị thế giới Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thấy cần nhắc lại những điểm sau mà rất ít người Việt Nam bất kể là công dân Việt Nam gốc, công dân Việt Nam mới nhập tịch chủ động hay thụ động, người có gốc gác Việt Nam dù muốn hay không muốn, công dân Việt Nam mất gốc hoặc mục gốc, đang ở Việt Nam hay đang ở nơi nào khác trên thế giới từng biết đến hay nghe về:

1) Úc (Australia) không bao giờ hết tự ti mặc cảm đối với Tân-Tây-Lan (New Zealand) vì giữa hai quốc gia thì New Zealand nhỏ bé lại có danh tiếng toàn cầu là

a– dân tộc thông minh hơn;

b– dân tộc đôn hậu hòa hiếu thân thiện văn minh văn hóa cao hơn;

c– dân tộc biết “phải quấy” hơn với người bản địa Maori: luôn ngợi ca, tôn trọng, phát triển tối đa và tự hào về văn hóa bản địa và truyền thống tập tục của “thổ dân” Maori, nên trở thành quốc gia “văn minh” nhất thế giới trong hệ thống siêu cường vốn luôn đàn áp, miệt thị, tàn diệt, bần cùng hóa“thổ dân”;

d– quốc gia phát triển mạnh trong hòa bình, an ninh trật tự, với người dân an cư, lạc nghiệp, và nền giáo dục nhân văn thượng hạng;

e– quốc gia phát triển kinh tế vượt bậc với các thứ hạng được xếp cực cao về hạnh phúc, môi trường thiên nhiên, môi trường kinh doanh, môi trường giáo dục, v.v. dù diện tích cực nhỏ so với diện tích khổng lồ của Úc; và do đó là

f– quốc gia thu hút được cảm tình của khách du lịch Âu Tây và toàn thế giới.

2) Từ những mặc cảm tự ti trên đã hình thành nơi Úc sự ganh tức nhỏ mọn dẫn đến các hành vi hèn hạ chơi bẩn, chẳng hạn như:

a– buộc du khách phải nộp đơn xin visa và mõi mòn chờ đợi đóng phí visa dù chỉ ghé quá cảnh ở Úc trên đường sang New Zealand khiến rất nhiều du khách Âu Tây buộc phải bỏ tuyến New Zealand do căm ghét kiểu “tận thu” của Úc vốn không giống bất cứ nước văn minh nào khác trên thế giới đối với hành khách “quá cảnh” (miễn thị thực visa nhập cảnh cho diện “quá cảnh” vì hành khách “quá cảnh” chỉ lởn vởn bên trong phi trường chờ chuyến bay chuyển tiếp connecting flight chứ không “nhập cảnh”);

b– trong gần một thập niên qua, Chính phủ Úc đã ngu xuẩn trong quốc phòng khi cho Trung Quốc “thuê” cảng Darwin – mà nhà nghiên cứu địa chính trị Hoàng Hữu Phước đã khuyến cáo từ rất rất lâu 20 năm trước vào năm 1999 ngay cả trước khi cái tên Darwin được nhắc đến trên báo chí Việt Nam và thế giới rằng hãy quan ngại vì  Trung Quốc ắt đang ngắm nghía Darwin do Trung Quốc sở dĩ gây hấn với Việt Nam và chiếm Biển Đông chỉ để nhắm đến lục địa Úc Châu mà Darwin “khỉ ho cò gáy” sẽ là bàn đạp từ sự ngu xuẩn của Úc không chịu nhận ra giá trị của Darwin– và đã ngu xuẩn vừa theo đuôi Mỹ hò hét lung tung chống các nước Hồi Giáo vừa chẳng lo quốc sự trong an ninh khi cho dân nhập cư Hồi Giáo vào ra thoải mái nên dẫn đến tình trạng khủng bố thảm sát xảy ra thường xuyên ở Úc, khiến Úc càng “mất giá” và “mất phẩm giá” so với New Zealand; và hệ quả là

c– từ các thói “chơi bẩn’ của chính phủ Úc đã hình thành nơi những công dân Úc Thiên Chúa Giáo Khủng Bố Cực Đoan tư tưởng cuồng nộ muốn “chơi bẩn” làm mất danh tiếng New Zealand nên thay vì gây thảm sát ở các nhà thờ Hồi Giáo nhan nhãn tại Úc, đã bay sang New Zealand bắn giết các nhà thờ Hồi Giáo tại đó nhằm tạo nên thế “cá mè một lứa” rằng New Zealand cũng đâu có an ninh gì.

C- Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

Trước thực tế một Nhà Nước Úc luôn hèn hạ, “chơi bẩn” công khai với New Zealand, đã sản sinh ra những tên khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan vô duyên vô cớ hèn hạ lặn lội sang nước láng giềng New Zealand sát hại công dân Hồi Giáo New Zealand, Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern đã thay vì cực lực chống lại nước Úc rộng mênh mông, siết chặc các biện pháp an ninh đối với những tên “láng giềng” bịnh hoạn Úc, lại vội vã đội khăn nữ Hồi Giáo ôm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi để được “lên hình”, tuyên bố những câu mà nhà chính trị Hoàng Hữu Phước cho là hoàn toàn vô nghĩa điên khùng hạ đẳng như;

1) “Điều tôi nghe được từ cộng đồng Hồi Giáo là chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu.” – Jacinda Ardern

Hóa ra, cũng như ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 và lãnh đạo các nước Âu Mỹ, Jacinda Ardern mong đợi một vụ khủng bố xảy ra trên nước mình với số thương vong của dân mình càng cao càng tốt để có cơ hội đến thăm cộng đồng Hồi Giáo nạn nhân nhằm “lắng nghe” và qua đó “thấu hiểu” xem cái cộng đồng ấy muốn gì. Nhà chính trị cộng sản dân tộc thiên Khổng Hoàng Hữu Phước cho rằng lãnh đạo quốc gia mà không ở tầm thế có tâm thế và trí thế “biết lo trước cái lo của người dân” thì chỉ là kẻ cơ hội mà giới “đối lập” ở Việt Nam Cộng Hòa đã đặt một cái tên cực kỳ chính xác mỹ miều về ngôn ngữ là “chính khách xôi thịt” mà thôi. Nghĩa là chỉ sau khi cuộc thảm sát xảy ra, Jacinda Ardern mới biết cộng đồng dân New Zealand theo Hồi Giáo chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu, nghĩa là vẫn không hề dám nói rằng “nó” vừa “đến” từ Úc. New Zealand đã suy vi từ khi Chiếc Chìa Khóa từ bỏ chính trường lui về vui thú điền viên không còn lãnh đạo quốc gia!

2) “Tôi không thể kể cho các bạn rõ sự việc thất bại đắng cay đến dường nào khi biết rằng một gia đình tìm đến đây vì sự an toàn và nơi ẩn náu thì lẽ ra họ đã nên được ở an toàn tại đây.” – Jacinda Ardern

Hóa ra Jacinda Ardern công khai cho rằng sự thất bại đắng cay đó là do “chúng ta” đã không bảo vệ được những con người đáng thương ấy có cuộc sống “an toàn” tại New Zealand. Đã từng có một con người nào – ngoài Hoàng Hữu Phước của Việt Nam – kêu gọi Jacinda Ardern hãy từ chức vì (a) chính Jacinda Ardern và chính phủ do Jacinda Ardern thành lập đã thất bại đắng cay không bảo vệ được những công dân New Zealand có cuộc sống an toàn tại New Zealand chứ không phải nhân dân New Zealand thất bại cay đắng, vì (b) Jacinda Ardern qua phát biểu của mụ ta đã biến những công dân New Zealand theo Hồi Giáo dù xuất thân từ tình trạng dân nhập cư thành những ai đó của một cộng đồng xa lạ tìm đến New Zealand để tìm nơi tá túc, nghĩa là (c) Jacinda Ardern xem các công dân “hạng hai” hay “hạng bét” đó là chủng loại mà chính phủ của mụ phải cưu mang nên chỉ có thể một cách giới hạn dành cho họ sự thương cảm mà thôi chứ không có trách nhiệm gì đối với vụ thảm sát đó cả.

3) Để tung hỏa mù sáng rực mù mịt hơn sự việc Sân Hàng Đẫy, Jacinda Ardern đã tung ra ba quả đại pháo gây điếc tai mù mắt nhân dân New Zealand gồm:

a– Khoe khoang rằng khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump gọi điện chia buồn, hỏi có thể giúp gì cho New Zealand sau khi xảy ra vụ thảm sát ở Christchurch, mụ ta đã cho ra thông điệp rằng ông ấy hãy dành sự thông cảm và tình yêu cho tất cả các cộng đồng Hồi Giáo. Với điều này mụ ta mong có thể lái người dân New Zealand từ vị trí buồn đau kinh hoàng trước cuộc thảm sát sẽ chuyển sang vị trí “hã dạ” trước việc nữ thủ tướng của mình cực kỳ can đảm dám vuốt râu hùm, dạy cho Donald Trump vĩ đại bài học vỡ lòng về tình yêu thương.

b– Công kích bình luận của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan khi ông này không những chỉ trích vai trò của Anzacs (quân đoàn phối hợp của 20.000 lính Úc và 8.500 quân New Zealand đã cùng các cánh quân Anh và Pháp đỗ bộ lên Gallipoli) trong chiến dịch Gallipoli (thời Đệ Nhất Thế Chiến, khi quân Anh cùng “đồng minh” Khối Anh đổ bộ lên bán đảo Gallipoli thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, với hậu quả nặng nề cướp đi sinh mạng của gần 220.000 binh sĩ “Anh” chỉ trong một năm từ 1915 đến 1916) mà còn lớn tiếng cảnh cáo bất kỳ “ai” có tư tưởng chống Hồi Giáo dám đến Thổ Nhĩ Kỳ. Người có sức khỏe tâm thần bình thường đều thấy các tuyên bố của Tayyip Erdogan hoàn toàn ái quốc và bình thường. Ấy vậy mà mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern cho rằng “Erdogan đã đưa ra những lời đe dọa đối với người Úc và người New Zealand, những người sẽ tưởng niệm ký ức về Anzac của chúng ta” trong khi Tayyip Erdogan chỉ cảnh cáo những tên Úc-Tân Tây lan Anzacs nào cực đoan chống Hồi Giáo định đến gây án ở Thổ Nhĩ Kỳ chứ không đe dọa người Úc và người New Zealand, cũng như chống đối câu Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ đe dọa rằng những người Úc chống Hồi giáo đến thăm đất nước của ông sẽ trở về nhà trong những chiếc quan tài giống như ông nội của họ. Hóa ra Jacinda Ardern ra sức cứu nguy cho Úc, xóa khỏi nhận thức của người dân New Zealand rằng chính tập đoàn quân Anzacs đã từng riu ríu tuân lịnh Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ, rằng một tên sát thủ công dân Úc của cái tổ tiên Anzacs lừng danh ấy nay  gây ra cuộc thảm sát tại đất nước của hậu duệ quân đoàn Anzacs, nhắc nhở người dân New Zealand rằng trong quá khứ tổ tiên họ đã từng cùng tổ tiên Úc hình thành nên quân đoàn Anzacs lừng danh sát cánh tiến được ra thế giới nhờ được kêu đến núp dưới lá cờ chủ soái vinh diệu của Vương Quốc Đại Anh chiếm đóng bán đảo Gallipoli, làm cho người dân New Zealand phải đồng cảm với sự nổi giận rằng khi Tayyip Erdogan đe dọa các sát thủ tương lai của Úc đã nhắc đến các “ông nội” nghĩa là ám chỉ mắng chưởi luôn “ông nội” của người dân New Zealand vì chửi bới quân đoàn Anzacs tức là chửi luôn tiên tổ của người New Zealand, vì vậy mụ muốn dân New Zealand hãy tập trung chưởi cha Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan (đang thân Nga, chống Mỹ) thay vì chưởi bố thằng sát thủ Úc Đại Lợi “anh em đồng chí”.

c– Sử dụng bài phát biểu đầu tiên của mình trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern trực tiếp thách thức quan điểm về thế giới do Tổng thống Mỹ Donald Trump vạch ra trong bài phát biểu trước đó. Mụ kêu gọi một trật tự thế giới khác, tức một thứ trật tự gì đó đặt “lòng tốt” lên trước chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Để chống lại chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc do Donald Trump khởi xướng, Jacinda Ardern cảnh báo rằng hậu quả của việc Mỹ từ bỏ các thể chế, định chế, và thỏa thuận sẽ là “thảm họa” cho nhân loại. Hóa ra, Jacinda Ardern đã lờ đi trước 3 sự thật lịch sử rằng

(i) “Lòng tốt” là từ ngữ hào nhoáng bị tất cả các “chủ nghĩa” lợi dụng, tồn tại song hành với lịch sử loài người, từ “lòng tốt” muốn giáo hóa các dân tộc man di mọi rợ của các đế quốc mà vó ngựa gieo rắc kinh hoàng của các binh đoàn của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn, của Trung Quốc, của Nhà Thờ Công Giáo La Mã, của các Nhà Nước Đế Quốc Thực Dân Anh/Pháp/Bồ/Hà/Tây/Mỹ/Nhật v.v., đã chà đạp bao vùng cương thổ, xóa sạch bao nền văn hóa, cướp trắng bao bảo vật quốc gia, tuyệt diệt bao tinh hoa trí tuệ, sát hại hàng triệu triệu con người, bắt hàng triệu triệu con người làm nô lệ, v.v. “Lòng tốt”, do đó, chỉ được độc quyền sử dụng bởi kẻ làm chính trị gian tà. Nói về “lòng tốt”, Jacinda Ardern đã tự lột trần trụi cái cốt gian tà của mụ. “Lòng tốt” là một thứ hỏa mù của các chính khách dân túy. Một kẻ ngu xuẩn đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(ii) Vì sao cái chủ nghĩa cô lập tức chủ nghĩa “bế quan tỏa cảng”, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tưởng đã chỉ còn trong sử sách hóa ra lại còn tồn tại đến Thế Kỷ XXI này đến độ Jacinda Ardern phải kêu gào chống lại như thế? Phải chăng Jacinda Ardern ngu xuẩn xác nhận công khai rằng toàn bộ nền văn hóa văn minh dân chủ tuyệt diệu của Phương Tây đã thất bại thảm hại như lời tiên tri thấu thị của Karl Marx và lời ủng hô ông của các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa theo khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa? Chủ nghĩa cô lập mà mụ nêu lên là do “tự cô lập” hay do được Mỹ “giúp cô lập” bằng các lịnh cấm vận? Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đâu có xuất phát từ hoặc lan tràn tại Châu Á, vậy mụ Jacinda Ardern muốn ám chi một hai nước rất rất thiểu số nào đây mà mụ do hèn nhát đã không dám nêu tên? Một kẻ hèn nhát đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(iii) Chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc không phải do Donald Trump khởi xướng. Donald Trump chỉ là người tái lập. Đó là hai hình thái nghiêm túc đã có từ xưa cho đến khi nảy sinh ra cái gọi là toàn cầu hóa và sự xuất hiện của cái tổ chức vô dụng gọi là WTO. Cái thế giới phẳng mà hình tượng dựa vào cái màn hình máy vi tính để hình thành một tư duy sáng tạo về trật tự thế giới mới khoáng đạt hơn đã bị nhà ngôn ngữ Hoàng Hữu Phước thấu thị tiến trình tiến tới vô dụng của nó, vì cái màn hình vật chất từ hơi phẳng đã biến thành siêu phẳng rồi siêu phẳng mỏng rồi cong và sẽ tiến đến giai đoạn gấp lại làm hai làm ba làm tư hoặc cuộn lại thành ống, nghĩa là cái “toàn cầu hóa” sẽ gặp các vấn nạn problems không thể cứu vãn của nó. “Toàn cầu hóa” chính là môi trường hun đúc các chiêu trò đậm chất bảo hộ chủ nghĩa của các nước giàu qua những cái gọi là “điều tra bán phá giá”, dẫn dụ các quốc gia nghèo khổ vào cái thòng lọng “lòng tốt” của tập thể các cường quốc để trở nên nghèo hơn, giúp bọn siêu giàu trở nên “ngoại hạng siêu giàu”. Ngay khi WTO trở nên trần truồng vô dụng không còn che dấu được ai, khiến xuất hiện các mối đe dọa vào sự thịnh vượng của các cường quốc, họ lập tức đẻ ra những cái tổ chức khác nhỏ hơn, trong đó có Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mà sau đó đúng như lời tiên tri thấu thị của Hoàng Hữu Phước về cái sự lấy vải thưa mà che mắt thánh của nó đã phải đổi tên khác thành Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương CPTPP. Và trước sự vùng vẩy của những kẻ thù nhằm thoát ra xoáy nước kinh hoàng của WTO, Trung Quốc cũng lập tức hình thành một tổ chức khác mang tên Sáng Kiến Một Vành Đai, Một Con Đường BRI nhằm lôi kéo những quốc gia còn lại. Phải nói chính xác là: chính sự ăn bám của EU vào Mỹ và sự “chơi cha” của EU và các nước khác trong đó có Trung Quốc đối với Mỹ đã khiến Mỹ thiệt hại khổng lồ mà một nhà đại ái quốc có tư duy kinh doanh đại sáng suốt tài ba như Donald Trump không thể không tái khởi động chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc để bảo vệ đất nước và dân tộc Mỹ.

Những tuyên bố của Jacinda Ardern, do đó, cho thấy mụ ta là một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc.

Bất tài vô dụng vì mụ ta đã không đề ra được chính sách phù hợp đặt an ninh quốc gia, an toàn lãnh thổ, an bình dân sinh, lên trên hết.

Cơ hội chủ nghĩa vì mụ ta lợi dụng ngay cuộc thảm sát để đánh bóng tên tuổi như lãnh đạo đầu tiên của thế giới tư bản dám ra luật cấm sở hữu vũ khí, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới “dạy” Donald Trump bài học về đạo làm người, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới biến mình thành tiên phong cho một “trật tự thế giới mới”, là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây được một nước Hồi Giáo chiếu hình ngưỡng mộ trên tòa nhà cao nhất thế giới, và do đó là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây lợi dụng thành công một thảm họa trong chính đất nước mình để đưa chính mình lên vũ đài chính trị toàn cầu thậm chí cho một đề cử Giải Nobel Hòa Bình 2019. Cụ thể, một tài khoản Twitter mang tên Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum đã viết rằng: “Cảm ơn Thủ tướng @jacindaardern và đất nước New Zealand vì đã có lòng thương cảm cùng sự hỗ trợ khiến một tỷ rưỡi người Hồi Giáo kính phục sau vụ tấn công khủng bố làm chấn động cộng đồng Hồi Giáo toàn thế giới.”

Phản quốc vì dưới sự lãnh đạo của mụ ta, New Zealand đã trở nên vulnerable dễ bị tổn thương, không còn là thiên đường của sự an bình, an vui, an toàn, của những người dân lương thiện an cư lạc nghiệp và hạnh phúc.

Một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand! 

D- Những Gì Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

1) Theo ngữ nghĩa thì tất cả những gì Jacinda Ardern tuyên bố rõ ràng là được dành cho những kẻ kỳ thị ở nước khác một cách nhẹ nhàng mang tính khuyên lơn toàn cầu. Đây là một sự kỳ quái. Với sự thật rằng vụ thảm sát không do một công dân New Zealand gây ra do đó không cần có lời kêu gọi người dân New Zealand hãy có lòng thương người và đừng kỳ thị tôn giáo, Ardern lại thay vì lẽ ra đã hoặc đòi Úc phải chịu trách nhiệm về vụ công dân của họ gây án tại New Zealand hoặc đòi Quốc Hội phải tu chỉnh luật hình sự để tăng án cho kẻ thủ ác đến gây họa cho lương dân New Zealand tại chính New Zealand, thì lại một cách kỳ quặc khuyên lơn toàn thế giới hãy dành tình thương cho người Hồi Giáo trên toàn cầu và đích thân mụ ta làm biến mất tên thủ ác trong lương tâm của người dân New Zealand và người dân thế giới – trong đó có báo chí toàn Việt Nam. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

2) Những gì Jacinda Ardern làm cho New Zealand là tước đi quyền sở hữu vũ khí tấn công của những người dân nổi tiếng hiền hậu của New Zealand chỉ mua vũ khí tấn công để làm vật trang trí trong nhà. Một khi khủng bố không còn là sự đe dọa tiềm tàng mà đã là một hiện thực tại New Zealand, đồng thời với sự thật là lực lượng cảnh sát New Zealand đã chưa hề được trang bị vũ khí để chống kẻ ác gây họa cho lương dân thì hoàn toàn không có bất kỳ lý do gì để tước đoạt quyền sở hữu vũ khí – bất kể loại tấn công assault hay không tấn công – của người dân. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

Hoàng Hữu Phước, New Zealand, 2015

3) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo ái quốc tầm cỡ Donald Trump thì mụ Jacinda Ardern nên tuyên bố ngay và trước hết tăng cường các biện pháp an ninh sàng lọc từ tình báo, lập danh sách cấm nhập cảnh những kẻ hô hào siêu đẳng da trắng, kỳ thị di dân, bất kể kẻ hô hào đó có là chính khách nước ngoài và thậm chí có là Donald Trump hay không. Kế đến, ra tay cải tiến lực lượng cảnh sát, trang bị vũ khí tận răng. Tiếp theo, cải tổ luật pháp gia tăng hình phạt để bất cứ ai định vào New Zealand gây án dù là trọng án hay khủng bố phải suy nghĩ lại.

Đó mới là việc bảo vệ nhân dân mà Jacinda Ardern lẽ ra đã phải làm. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

4) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo có “từ tâm” như mụ đang cố gắng thể hiện thì lẽ ra cứ mỗi lần đâu đó trên thế giới – mà điển hình là tại Mỹ – xảy ra các vụ thảm sát thì Jacinda Ardern đã nhanh nhảu khuyên lơn “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Thiên Chúa Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Nhà Thờ Charleston ở Bang South Carolina năm 2015 và “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Phật Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Chùa Waddell Wat Promkunaram ở Bang Arizona năm 1991, v.v. Phải chăng mụ xem những nạn nhân Mỹ bị sát hại chẳng đáng một xu vì đó là chuyện “nội bộ” của Mỹ không phải là đại sự để mụ kêu gọi các sát thủ hãy có “lòng tốt”, và đợi cho đến khi một thằng Úc vào giết dân New Zealand Hồi Giáo của mụ thì mụ mới lập tức ôm hôn người dân Hồi Giáo và kêu gọi toàn thế giới hãy có “lòng tốt” với dân nhập cư Hồi Giáo? Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

5) Tuyên bố vung vít ôm chầm phụ nữ Hồi Giáo, trùm khăn Hồi Giáo, cấm bán vũ khí, đó là hành động của một con hề chính trị!

Trong một vụ xả súng năm ngoái ở Mỹ tại nhà thờ First Baptist như đã nêu trong bài Hoàng Hữu Phước kể về ông da trắng mập lùn Stephen Willeford đang chăm sóc cây kiểng nghe tiếng súng liền vô nhà xách súng chạy đến đấu súng với tên thủ ác. Tên ấy phải ngưng cuộc tàn sát, chạy ra chỗ đậu xe với vết trọng thương. Thấy hắn ta lái xe bỏ trốn, ông mập lùn lúp xúp xách súng rượt theo thì một anh da trắng ốm nhom cao nhòng Johnnie Langendorff chạy xe bán tải ngang tắp vô cho đi ké để truy đuổi với tốc độ vi phạm luật liên bang. Cả hai đã dí ép chiếc xe kẻ thủ ác lao vào trụ đèn đường cao tốc đền tội ác. Không có khẩu súng bán tự động Colt AR-15 của hai lương dân Mỹ cỡ Hớn Minh và Lục Vân Tiên (người sử dụng đại đao người xài song kiếm) ấy, nạn nhân của vụ thảm sát ấy đã không dừng lại ở con số vài chục. Sở hữu vũ khí là quyền tự vệ của công dân đất nước nào đã và đang được luật pháp chế định. Luật pháp New Zealand chỉ cần quy định hình phạt tử hình nếu dùng vũ khí giải quyết tranh chấp, cướp bóc, gây bạo động hay khống chế hãm hiếp, hoặc bán lại vũ khí hợp pháp của mình cho người khác rồi kẻ đó gây khủng bố. Xử chung thân chủ sở hữu hợp pháp làm mất vũ khí. Đó mới là những gì Jacinda Ardern phải làm để bảo vệ dân New Zealand, bảo vệ quyền của dân New Zealand. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

E- Năm Lòi Khuyên Thấu Thị Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

Có hai công thức luôn đúng, một rất mới của Hoàng Hữu Phước, và một rất cũ của năm nữ nhi có hiểu biết rất rõ về Hoàng Hữu Phước – một làm việc tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, hai làm việc tại FOSCO, và hai tại Manulife. Công thức do Hoàng Hữu Phước đề ra cho rằng tất cả các chính khách nào mở miệng chống đối ‘anh” Donald Trump đều là bọn hề, bất tài vô dụng, và có kết cuộc không ra gì. Công thức này có thể ít chính xác vì Hoàng Hữu Phước là thiểu số. Công thức còn lại do năm phụ nữ đề ra cho rằng tất cả những ai có hành vi chống lại “anh” Hoàng Hữu Phước đều là bọn ngu đần, bất tài vô dụng bất lương bất học, và cuộc đời có cái kết chả ra gì. Công thức này có thể cực kỳ chính xác vì họ có hai thế mạnh của nữ quyền từ thời mẫu hệ (đang được xã hội xã hội chủ nghĩa tôn vinh và đang được thế giới tư bản nhơi lại) và là đa số (năm trên một).

Do công thức của Hoàng Hữu Phước là thiểu số, đốt đuốc tìm khắp nơi trên toàn thế giới cũng chỉ có thể tìm ra mỗi ba thí dụ cho sự chính xác của công thức Hoàng Hữu Phước mà thôi, gồm ba đứa không ra gì dưới đây: đương kim tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đương kim thủ tướng Canada Justin Trudeau, và đương kim thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern.

Tất nhiên, ai cũng có quyền “làm chính trị” theo quy định của luật pháp mỗi nước, nhưng sẽ là thảm họa nếu bọn con nít làm “lãnh đạo quốc gia”3 bằng chứng cụ thể là.

a) Thằng nhóc Emmanual Macron đang làm nước Pháp khốn đốn với thủ đô Paris bị phá hoại nát tan trong hơn nửa năm trời từ tháng 10-2018 cho đến tận ngày nay bởi các cuộc “biểu tình.” Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

b) Thằng nhóc Justin Trudeau đang vướng bao scandal mà chỉ mới gần đây thôi đã có thêm vụ tham nhũng SNC-Lavalin, vụ địa phương chủ nghĩa Quebec, và tình trạng từ niềm tự hào mỵ dân có nội các đa nữ đã đích thân vất các nữ bộ trưởng vào sọt rác khiến xô đổ thành trì truyền thống tự động ngưỡng mộ lãnh đạo quốc gia của người dân Canada. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

c) Con nhóc Jacinda Ardern đang vướng vào tình thế bị Hoàng Hữu Phước của Việt Nam vạch trần trụi cái hạ đẳng của mụ. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

Từ ba thí dụ điển hình trên của ba tên nguyên thủ ở ba cường quốc kinh tế Phương Tây Pháp-Gia Nã Đại-Tân Tây Lan, Lăng Tần có 5 lời khuyên sau dành cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và Quốc Hội Việt Nam:

1- Lời Khuyên Thứ Nhất: Không tự động đưa những lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh vào hàng ngũ những nhà lập pháp Việt Nam, tức đưa vào (tất nhiên qua cái “hình thức” giới thiệu ứng cử Quốc Hội) cơ quan “quyền lực nhất” Việt Nam. Đơn giản vì

(a) Quốc Hội không bao giờ đáng phải duy trì hình thức trẻ con bấy lâu nay là một thứ sân khấu chỉ để cho thiên hạ thấy Việt Nam có đầy đủ các “thành phần” giới tính, tôn giáo, tuổi tác, lĩnh vực, dân tộc, nghề nghiệp, Đảng/ngoài Đảng;

(b) “Thanh niên” không bao giờ được tự mặc định tự động đương nhiên đã trải qua thời gian dài học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài học tập cao chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài thực hành cho một-kế-sinh-nhai ở môi trường từ thấp đến cao liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài đạt các thành tích trong thực hành các học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân tại các cơ quan liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân; từ đó rõ ràng rằng “thanh niên” phải vượt qua tuổi “thanh niên” mới may ra có đủ trình độ trí tuệ làm “nghị sĩ”, và rằng nếu đã vượt rồi và đạt rồi mà vẫn núp dưới danh nghĩa “thanh niên” để đầy đủ thành phần sẽ là sự lừa mỵ dân và lừa mỵ cả thế giới;

(c) “Thanh niên” không bao giờ được xem là một nghề sinh nhai mà chỉ là một tổ chức phục vụ riêng chỉ cho Đảng Cộng Sản, không có “hợp đồng lao động”; do đó, ứng cử viên chính trị là “thanh niên” xem như thiếu chi tiết ở mục “nghề nghiệp” mà ngữ nghĩa đủ có thể được hiểu bởi thế giới hàn lâm;

(d) Đảng và Quốc Hội triệt tiêu sự nghiêm túc trong học tập của giới trẻ, biến sự quan tâm đến trình độ học tập chất lượng cực cao tụt xuống thấp hơn sự quan tâm đến trình độ chính trị vai vế cực cao trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh để từ đó tiến vào Quốc Hội và leo lên Bộ Chính Trị hoặc trở thành các Tổng Giám Đốc Nhà Nước, các Chủ Tịch Tập Đoàn Nhà Nước, v.v., chỉ toàn đẩy đất nước vào các vũng lầy kinh tế, chính trị, đạo đức xã hội, v.v. (bằng chứng: từ 1975 đến nay chính Đảng cũng chưa hề vinh danh bất kỳ một đảng viên cấp lãnh đạo quốc gia nào xuất thân từ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh là đấng tài đức vẹn toàn anh tài nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả);

(e) “Lập Pháp” là công việc đòi hỏi nghị sĩ có trí tuệ bao trùm tất cả hoặc chí ít là đa số các lĩnh vực sống còn của quốc gia chứ không phải là việc phân theo tuổi tác, giới tính hay giai cấp (Quốc Hôi Khóa đầu tiên của Việt Nam Thống Nhất tức Khóa VI có đại biểu Lê Thị Thêu là công nhân Sở Vệ Sinh Thành Phố Hồ Chí Minh thuộc Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh, đại diện cho “giai cấp công nhân”); và

(f) Chỉ vì bảo đảm ghế nghị sĩ phải dành cho một nữ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh tại Thành Phố Hồ Chí Minh và cho một nam tiến sĩ lãnh đạo cơ quan Nhà Nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh cũng xuất thân từ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cho Quốc Hội Khóa XIV mà Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh do Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Quốc Hội Khóa XIV Thành Phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cũng đồng thời là ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (việc mà không bất kỳ quốc gia văn minh nào trên thế giới cho phép đảm nhiệm lộ liễu như vậy) đã để xảy ra sự cố 2016 tại buổi “hiệp thương” lần 1 của đương kim nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước, ứng cử viên tự do Quốc Hội Khóa XIV như đã nêu rõ trong Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân, cùng với nó là sự phẫn nộ của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho đến tận ngày nay.

2Lời Khuyên Thứ Nhì:  Nghị sĩ đương nhiên buộc phải thuộc đẳng cấp “biết lo trước cái lo của người dân” (khẩu hiệu của tất cả các bậc hiền tài thời Khổng Tử và là khẩu hiệu tranh cử của ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong bầu cử Quốc Hội Khóa XIII năm 2011) chứ không phải thuộc đẳng cấp “nếu ở lứa 50 tuổi thì chỉ biết lo cho dân lứa 50 tuổi” nên cần phải có nghị sĩ “thanh niên” để có người “lo cho người dân lứa thanh niên”; càng không phải nghị sĩ nữ không lo cho dân chúng nam; càng không phải cần có những nghị sĩ thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh để lo cho dân chúng thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh; càng không phải cần có các nghị sĩ lão niên để lo cho dân chúng lão niên; càng không phải cần có các nghị sĩ tu sĩ để lo cho dân chúng có tôn giáo khiến Việt Nam kỳ quái thành quốc gia duy nhất cho tu sĩ làm chính trị (Mỹ không đánh thuế “thu nhập” các tài sản tiền vàng dồi dào khổng lồ của các cơ sở tôn giáo với điều kiện luật định rằng không bất kỳ một kẻ tu hành nào được làm chính trị nhằm bảo đảm sự “công bằng” cho “lưỡng đảng” trong tranh thủ phiếu bầu). Do đó, nhất thiết phải xóa bỏ hình thức chỉ tiêu/tỷ lệ thành phần để tập trung sao cho Quốc Hội Việt Nam có toàn nghị sĩ có năng lực “làm luật” bao trùm thuộc đẳng cấp trí tuệ “biết lo trước cái lo của người dân”, nhờ vậy (a) những ứng viên tự do như Hoàng Hữu Phước năm 2011 hoặc như Hoàng Hữu Phước đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ năm 2016 sẽ không bị lén lút triệt hạ như trường hợp ứng-viên-đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ Hoàng Hữu Phước ấy, và (b) Việt Nam không còn khét tiếng là đất nước có cái Quốc Hội chuyên cho ra những bộ đại luật chưa kịp đến thời điểm có hiệu lực đã phải tu chỉnh hoặc vừa có hiệu lực thì các nhà làm luật đã phải nhao nhao đòi thay mới do vấp phải sự phản đối của công luận dù dự thảo đã được đưa ra lấy ý kiến công luận cả năm trước đó tốn bao tỷ tỷ đồng mà tất cả được mỹ miều hóa đầy cảm động thành “có khả năng thay đổi nhanh chóng nhằm theo kịp với thay đổi của hiện thực hoặc đáp ứng ngay yêu cầu của nhân dân” chứ tuyệt đối không công nhận đẳng cấp làm luật của mình thấp kém đến độ nào.

3- Lời Khuyên Thứ Ba: Với sự tuyệt diệu của việc chủ tịch Đảng kiêm tổng thống, và với các đại biến mới đây liên quan đến nhân sự lãnh đạo đất nước, nhất thiết phải thay đổi luật rằng

(a) Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh không cần có đại biểu thành viên là “Chủ Tịch Nước”;

(b) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và theo luật thì nghị sĩ phải dành bao nhiêu phần trăm tổng thời gian cho công việc Quốc Hội, trong khi tất cả các chủ tịch nước tiền nhiệm buộc phải làm thành viên Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh thì đều vi phạm luật do thường xuyên vắng mặt khi họp thảo luận luật tại Tổ ở Hà Nội hay tại Đoàn ở Thành Phố Hồ Chí Minh;

(c) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và khó thể chấp nhận việc tạo điều kiện cho nước ngoài dè bỉu khi lãnh đạo cùng lúc làm “lập pháp” cùng lúc làm “hành pháp” khống chế cả “tư pháp”;

(d) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì lượng công việc mang tính trách nhiệm cực cao của lãnh đạo quốc gia không thể làm vị lãnh đạo ấy bị bào mòn sức khỏe tận cùng đến suy kiệt nếu gia tăng thêm việc làm luật không thuộc chuyên môn của vị ấy và việc tiếp xúc cử tri vớ vẩn chỉ để báo cáo kết quả cuối mỗi kỳ họp Quốc Hội hoặc lắng nghe tâm tư cử tri trước mỗi kỳ họp Quốc Hội; và

(e) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước phải làm những việc trọng đại: đề ra chiến lược, hoạch định thực hiện chiến lược, chỉ huy chiến lược, điều chỉnh chiến lược, thông qua chiến thuật, giám sát chiến thuật, sử dụng nhân sự chiến lược, xử lý tiêu cực, vận hành guồng máy, thì không thể rời trung tâm chỉ huy tối quan trọng y như chiếc cặp-hạt-nhân đó chỉ để đi thăm các địa phương thuộc các đới nhiệt độ khác nhau, thăm các cơ sở sản xuất có thể bất ngờ xảy ra chập điện vốn là việc thường xuyên xảy ra một cách bất trị ở Việt Nam, tiếp xúc nhân dân thay vì đơn giản từ trung tâm ra lịnh triệt hạ bọn đã gây ra họa cho dân chúng Thủ Thiêm và cho dân chúng các nơi khác, v.v, chỉ để chứng minh “gần gũi” với nhân dân, v.v., vì tất cả việc “kinh lý’ các địa phương phải và chỉ được thực hiện bởi thủ tướng và các bộ trưởng mà thôi, do những vị này có trách nhiệm chuyên biệt liên quan đến chức trách chuyên biệt của họ trước vị chủ tịch Đảng kiêm chủ tịch Nước, chứ không phải ngược lại;

4- Lời Khuyên Thứ Tư: Toàn bộ các vị như thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư Đảng, chủ tịch/phó chủ tịch hội đồng nhân dân/ủy ban nhân dân các cấp, lãnh đạo các ngành an ninh/quân đội/ kinh tế/tài chính Nhà Nước không được phép được giới thiệu ra ứng cử đại biểu quốc hội, chỉ được ra ứng cử nếu từ bỏ chức vụ trước khi ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, vì rằng tất cả họ đều vừa vi phạm luật pháp do không dành đủ thời gian luật định phục vụ Quốc Hội, vừa không được phép rời xa trận địa quan trọng mà họ gánh vác dù chỉ trong một phút huống hồ một tháng và nhiều hơn thế nữa;

5- Lời Khuyên Thứ Năm: Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam không có quyền giới thiệu ứng viên tu sĩ vì đây là sự lộ liễu rất trái thông lệ quốc tế, và các giáo hội cũng không có quyền giới thiệu tu sĩ ra tranh cử vì không những trái với sinh hoạt chính đạo của tôn giáo mà còn sai hoạt động do giáo hội hoàn toàn không phải là một “đảng chính trị” để có quyền tham chính; nghĩa là tu si do là công dân Việt Nam và do ý thức của bản thân ông ta/bà ta nghịch lại với giáo lý của tôn giáo mà ông ta/bà ta là tu sĩ nên muốn làm chính trị thì có quyền công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – không phải “thần quyền” do Phật hay Chúa ban cho – ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, nhằm công bằng với ứng viên tự do Hoàng Hữu Phước mà Mặt Trận Tổ Quốc không cần phải triệt hạ để chiếm đoạt ghế cho tu sĩ nào đó mà Mặt Trận giới thiệu để đạt “cơ cấu thành phần” vốn là công việc duy nhất mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả sau ngày thống nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

Tham khảo theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài trên:

Saddam Hussein: Tôi và Saddam Hussein 12-7-2016

Muammar Gaddafi: Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?  25-7-2016

Bức Tường: Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới  25-11-2016

Darwin: EU và Darwin  1999

Đối Lập:  Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập  06-8-2015

Chiếc Chìa KhóaChìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

Sân Hàng Đẫy:  https://thethao.tuoitre.vn/treo-san-hang-day-1-tran-phat-clb-ha-noi-70-trieu-vi-phao-sang-cdv-hai-phong-20190424120040595.htm

TPP: Đả Đảo TPP  30-5-2017

CPTPP: CPTPP  05-11-2018

BRI: Một Vành Đai, Một Con Đường  24-5-2017

Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ: Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ  23-7-2016

Khẩu Colt AR-15: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Thấu Thị:  Tin Quảng Bá  20-10-2018

Emmanuel Macron: Hoàng Hữu Phước Điểm Báo Việt Nam Đầu Năm 2019  01-3-2019

Justin Trudeau: Cảnh Báo: Nguyên Thủ Canada  10-02-2018

Làm Chính Trị: Chính Trị  14-01-2016

Bọn Trẻ Con Làm “Lãnh Đạo Quốc Gia”: Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn  14-12-2016, Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014, Viexit- Bọn Con Nít Làm Chính Trị  05-7-2016

Sự Cố Hiệp Thương 2016: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Lưỡng Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Muốn Làm Chính Trị : Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Chủ Tịch Đảng Kiêm Tổng Thống: Hoàng Hữu Phước Nhận Xét Nhỏ Về Nội Tình Lớn Tổ Chức Chính Trị Việt Nam  01-12-2018

Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Sử Liệu

Lời nhắc nhở các đấng làm chính sách quốc gia về giáo dục

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, Nhà Tư-Tưởng Xã-Hội Chủ-Nghĩa Thiên Khổng, Nhà Sử Nghiên*

04-5-2019

A) 12 năm căn bản nền tảng của giáo dục là để một đứa bé trở thành công dân có đủ tri thức căn bản – theo đích ngắm đầy trọng vọng của công tác giáo dục & đào tạo tại các cường quốc Âu Mỹ – để (a) trước hết người công dân đã qua 12 năm cơ bản nền tảng đó có thể “sống được và sống đúng” trong cộng đồng bao gồm trong gia đình, tại địa phương, ở chỗ làm việc, ở nơi học tiếp lên cao, hoặc chốn quân trường; và (b) thâm sâu thâm thúy hơn cả là người công dân này từ ý thức trách nhiệm với tinh thần dân tộc được hun đúc suốt 12 năm ấy đã hình thành lòng ái quốc tự thân mà không bất kỳ giáo điều hoặc giáo lý hay chủ nghĩa nào có thể dựng xây nên được.

“Sống được” là bản lĩnh có từ sự trang bị kỹ năng mềm tổng hợp của (i) phản ứng phù hợp, (ii) ứng phó trước thử thách, (iii) ứng đối như một vũ khí tìm việc/làm việc, và (iv) các hiểu biết từ phần cứng của sự hiểu biết rộng khắp từ nhiều chục môn học của 12 năm.

“Sống đúng” là (i) tư cách công dân có giáo dục với lòng tự trọng, và điều trước hết và trên hết mà giáo dục đem lại là (ii) tinh thần trách nhiệm cùng ý thức thượng tôn luật pháp như tiền đề cho sự giữ gìn phẩm giá cá nhân và quốc thể.

Cái thâm sâu thâm thúy nêu ở phần b ở trên có liên quan mật thiết đến bản lĩnh “sống đúng”, chủ yếu đến từ những gì có liên quan đến Môn Sử chứ hoàn toàn không phải các môn nào khác, kể cả không phải môn “Giáo Dục Công Dân”; và nền tảng cho sự phát triển Môn Sử do đó dứt khoát phải bao gồm 5 thành tố: (a) vị trí được tôn trọng đối với Môn Sử trong hệ thống giáo dục 12 năm, (b) sách vở đẳng cấp cao của Môn Sử, (c) chương trình đẳng cấp cao của Môn Sử, (d) đẳng cấp cao của giáo viên dạy Môn Sử, và (e) tư cách cao trọng của giáo viên dạy Môn Sử.

Tuy nhiên, Môn Sử lại trở thành vấn nạn tại nước Việt Nam thống nhất kể từ 30-4-1975 còn tại bị vì bởi 7 vấn nạn khác, đó là

1– Chính phủ không hề nhớ sự thật đớn đau rằng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, học sinh chỉ học 9 năm chứ không phải 12 năm, nghĩa là không có đủ thời gian để học đủ, biết đủ, cơ thể lớn đủ, và trí lực mạnh đủ để vào đại học, khiến tất cả các “sinh viên” tốt nghiệp đại học sau 3 hay 4 năm thành những vị “cử nhân đại nhảy vọt” nhanh chóng trèo lên “tiến sĩ” với lổ hổng 3 năm thể lực/trí lực/tâm lực, quá đủ để giải thích vì sao trong số lượng “trí thức” khổng lồ được đào tạo trong nước và “gởi” sang nước ngoài đào tạo bằng tiền thuế của dân đen, chẳng có lực lượng đông đảo nào hoạt động ra hồn về chuyên môn đã được đào tạo cả, dù về tài chính, kinh tế, tiếng Anh, kỹ thuật, hay…Sử, mà oái oăm thay gần như đa số bị “tẩu hỏa nhập ma” đi học toàn những ngành hoành tráng để rồi về thực hành toàn những cái tạp nhạp quái đản của “dân chủ”/“nhân quyền”/“xã hội dân sự”/“biểu tình”/sáng tác thơ “nước mình ngộ quá phải hông tía?”/xả rác trên facebook và nếu bất tài không làm được bất kỳ những tài gì vừa được nêu trên thì hóa ra lại có tài ảo thuật biến bao ngàn tỷ Việt Nam Đồng thành bụi mịn để rồi hoặc tiến thẳng một lèo vô tù hoặc đi một vòng lắt léo ra hải ngoại cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ rồi mới quay về cố quận đút đôi tay mũm mĩm vào còng số 8. Tóm lại, các nhà sử học Việt Nam tuyệt đại đa số đều tóc bạc hưởng bao phúc lợi vinh hiển từ tiền thuế của nhân dân nhưng vẫn còn thiếu nợ nhân dân cái sự học lớp 10, 11, và 12. Nhà sử học thực thụ có tri thức uyên bác không cần học thêm lớp 10, 11, và 12 là người đã dám lên tiếng ngay để ủng hộ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến Luật Biểu Tìnhđại biến Tứ Đại Ngu.

2– Chính phủ không hiểu biết gì về trọng lượng khủng khiếp của 12 năm căn bản nền tảng mà chỉ cắm cúi phát triển số lượng khủng khiếp các trường đại học để rồi hình thành trong nước 5 vấn nạn vượt ngoài tầm kiểm soát gồm (a) sự chạy đua thần phục “từ chương” tức trọng bằng cấp dẫn đến “thừa thầy/thiếu thợ” mà ngay cả từ ngữ trong “thừa thầy/thiếu thợ” mà chính truyền thông chính thống quốc gia lãi nhãi ngày đêm cũng cho thấy sự xem thường giới đối trọng của “thầy”, (b) nỗ lực cung cấp “đầu vào” tức người đi học cho số lượng các trường đại học đã phát triển hơn nấm bằng cách bỏ bớt các kỳ thi vốn sẽ dẫn đến việc “đầu ra” của đại học không thể là nguồn nhân lực ra hồn để cung cấp cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, (c) sự muối mặt cắt giảm số lượng các ngành tuyển sinh đã phát triển hơn nấm tại các trường đại học mà số lượng các trường này cũng đã phát triển hơn nấm, (d) sự chê bai của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các “sản phẩm” nội địa vốn được tạo ra từ sự xem nhẹ 12 năm căn bản nền tảng, và (e) sự thật rằng tuyệt đại đa số “sinh viên” Việt Nam chỉ là những “học sinh” lớp 13, 14, 15, 16.

3– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” xem nhẹ Môn Sử nên đã gạt bỏ Môn Sử khỏi các yêu cầu phải có đủ tri thức căn bản để sống được và sống đúng.

4– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” đã không xem Môn Sử phải như các môn học khác nghĩa là việc học Môn Sử phải được xem trọng hoàn toàn, việc phải có Môn Sử là không thể đảo ngược, và việc học Môn Sử phải kiểm chứng được qua thi cử hẳn hoi.

5– Chính phủ không hề nhận thức được rằng Việt Nam hiện không có bất kỳ “sử gia” nào cả.

6– Việt Nam hiện có quá nhiều “nhà sử học” toàn do tự phong hoặc do báo chí chính thống tự gọi “phe đồng minh” hoặc do Nhà Nước tự ban “phe ta” để lấp lửng lấp liếm sự thật Việt Nam vắng bóng hàn lâm Sử, và tất cả các “nhà sử học” này kỳ lạ thay chỉ “học” mỗi môn Việt Sử để lên tivi hỗ trợ “Đường Lên Đỉnh Olympia” hoặc trả lời phỏng vấn hành lang Quốc Hội những gì có liên quan đến Hoàng Sa hoặc nổi điên đòi tôn vinh công đức Gia Long hay A-Léc-Xăng Đờ Rốt, vân vân và vân vân, chứ chả biết gì về Thế Giới Sử và cả ngàn môn “Sử” khác. Các “nhà sử học” kiểu này đương nhiên hoàn toàn không đủ trình độ “nghiên cứu” phù hợp với việc hoạch định soạn thảo giáo trình Môn Sử cho đại cuộc 12 năm căn bản nền tảngđã nói ở trên. Ngoài ra, học sinh không biết có biết bao “Sử” để dành đam mê trở thành một sử gia cho một trong số 261 ngành Sử học vinh diệu đầy hấp lực tầm cỡ thế giới ấy.

7– Chính phủ đã hoàn toàn sai khi sau 30-4-1975 biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành. Trên nguyên tắc hàn lâm về Sử, Lịch Sử Đảng là lịch sử một tổ chức chính trị, là nguồn sử liệu cực kỳ quan trọng để hình thành phần bổ sung vào Lịch Sử Việt Nam, mà Lịch Sử Việt Nam cần thời gian tối thiểu 50 năm nghiên cứu thu thập tổng hợp đánh giá tư liệu từ nhiều nguồn sử liệu thế giới có liên quan đến thời kỳ của Lịch Sử Đảng để đúc kết chính thức đưa vào Lịch Sử Việt Nam. Việc biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành, đã hình thành nơi học sinh tâm lý không những không còn xem trọng Lịch Sử Việt Nam trước 30-4-1975 mà còn không xem Lịch Sử Đảng còn tính hấp dẫn kế tục kế thừa vinh diệu của chuỗi lịch sử dân tộc, biến nó thành phương cách đơn giản trả nợ một môn học bình thường nhàm chán nhất mà thôi.

B) Vấn nạn các nhà sử học Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với Môn Sử tại Việt Nam có thể được làm rõ qua sự thật họ thiếu vắng 3 hiểu biết (a) về ý nghĩa của công việc một Sử Gia, (b) rằng Sử không chỉ là các chi tiết về những cái tên hay những con số ghi năm tháng trong vài quyển sử Việt cũ hàng trăm năm tuổi vì nếu thế chẳng ai ở Việt Nam – trừ các phóng viên báo chí – cần đến các nhà sử học kiểu Việt cả, và (c) ý nghĩa của từ ngữ “sử liệu” cùng tầm quan trọng của sử liệu.

Sử liệu không chỉ là tư liệu ghi trong những quyển sử hàng trăm năm tuổi vốn không được tự động mặc định là chỉ toàn chứa chất các sự thật đã được kiểm chứng hay đã có bằng chứng. Sử liệu còn là những tài liệu chưa được chính phủ một nước công bố khi chưa hết thời hạn 50 năm hay100 năm mà luật pháp nước họ quy định, và ngay cả khi được công bố sẽ dẫn đến các nghiên cứu hàn lâm/điều tra thực địa/thẩm định chuyên sâu/đánh giá chuyên biệt trước khi một sử liệu được chính thức ghi thêm vào sách sử để bổ sung/thay thế/chỉnh sửa/tiếp tục dán nhãn “còn gây tranh cãi”. Sử liệu còn là những ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau. Và giá trị của Sử trong tương lai sẽ được tôn vinh cao nhất nhờ hiện tại có đầy đủ trang thiết bị giúp nghiên cứu/điều tra/ghi nhận từng sự việc một để các chi tiết lịch sử trong Môn Sử của tương lai đều có tài liệu chứng minh có thực và thực có.

Công việc đặc thù liên quan đến Sử của một sử gia/“nhà sử học”/công chức “viện sử học” có bao gồm cả việc ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau ấy. Vậy thử hỏi ngoài cái việc chăm bẳm vào chỉ mỗi việc “Thành Đô” theo đà tạo sóng của bọn chống Việt trong khi chả có tài liệu quái gì cả do chưa đến thời hạn công bố tài liệu mật quốc gia của Trung Quốc và Việt Nam theo thông lệ quốc tế để kiểm chứng so sánh tổng hợp, thì đã có “nhà sử học” nào ở Việt Nam quan tâm lưu trữ sử liệu cho hậu duệ?

Tôi có tình cờ quen một bác cao niên trên 80 tuổi tên Nhi khi thăm một người quen tại một bịnh viện ở Thành Phố Hồ Chí Minh cách nay vài tháng. Do tính cách từ nhỏ luôn tạo thiện cảm nơi người đối diện bằng cung cách ăn nói lễ độ trí hóa cao cùng tác phong đĩnh đạc cũng như khuôn trung luôn biểu cảm sự quan tâm chăm chú xem trọng ý kiến người đối diện, tôi không bao giờ chịu trao danh thiếp để không phải “hé lộ” thông tin “bí mật” mình là Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế, Nghị Sĩ Khóa XIII. Nếu được hỏi, tôi chỉ cho biết tôi tên Phước. Only this and nothing more – nghĩa là chỉ thế thôi. Bác Nhi ở Phú Yên, được con cháu đưa từ Nha Trang vào Thành Phố Hồ Chí Minh chữa bịnh. Bác khoe tôi xem hình bác chụp đen-trắng ố vàng xưa cũ, rất đẹp trai, trong quân phục quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Khi bác nói đó là quân chủng Biệt Động Quân, tôi nói hồi nhỏ mỗi chiều nghe radio phát sóng chương trình của quân chủng Biệt Động Quân và có nhớ bài hát dữ dội có lời “…Biệt Động Quân: SÁT!..”, thì bác Nhi lè lưỡi lắc đầu nói rằng bác không có “sát” ai hết do bác chỉ là một quân nhân hành chánh làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ hồi đó gọi tắt là DMRTC mà thôi. Bác nói bác đi Mỹ hoài để thăm các con các cháu, có khi ở vài ba tháng, nhưng bác từ chối sang bên đó sống, trong khi vợ bác thì chịu sang ở theo lời năn nỉ của cháu con. Bác cho biết hình như có cán bộ tình báo gián điệp Việt Cộng thâm nhập vào đội ngũ làm việc ở DMRTC nên khi giải phóng, bác chia tay gia đình ra trình diện ủy ban quân quản, khai báo trung thực vào hồ sơ tập trung đi “học tập cải tạo” dài lâu, nhưng lại được “cán bộ cộng sản” cho về ngay do có một vị nào đó sau rèm đã bút phê rằng bác không “có công với cách mạng” nhưng cũng không thuộc diện DMRTC “ác ôn có tội với nhân dân”. Bác nghĩ chắc là có một cán bộ cộng sản bí mật nào đó trong thời gian thâm nhập DMRTC đã nhận thấy bác là một “binh sĩ văn phòng” có tư cách, làm việc không đụng đến vũ khí, và không tham gia rèn luyện các “sát thủ bậc nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa”, nên đã chiếu cố cho bác sống đời sống dân sự bình an tuyệt đối ngay lập tức. Bác nói “Biệt Động Quân tụi nó dữ lắm” và kể rằng khi chiến sự diễn ra ác liệt, quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã trên khắp các mặt trận các vùng chiến thuật Miền Trung, bác bỏ quân phục, chạy khỏi DMRTC trà trộn theo các đoàn thường dân lánh nạn, và bác nhiều lần chứng kiến việc các binh sĩ Biệt Động Quân xả nguyên băng đạn tiểu liên bắn nát ngực hay lưng thường dân nào có xách va-li “Samsonite” vì trong đó bảo đảm có chứa vàng ngọc và đô-la Mỹ. Họ không chĩa súng đe dọa hét bảo đưa các va-li đó, chẳng qua vì họ biết nếu không nhanh tay giết-cướp-chạy ngay ắt sẽ bị chiến hữu Biệt Động Quân khác bắn nát lưng mình để cướp-của-cướp. Khi tôi hỏi khi chạy tán loạn như vậy thì ai cũng ngụy trang thành thường dân thì sao bác biết các sát thủ đó là binh sĩ Biệt Động Quân, bác nói đó là do nhận diện nhờ có kinh nghiệm thâm niên phục vụ DMRTC, cứ nhìn sắc mặt, đầu tóc, vũ khí, cách cầm vũ khí, cách sử dụng vũ khí, và cách im lặng giết người nhanh gọn ngay lập tức của họ khi gặp “đối tượng” là biết ngay; thậm chí đang chạy mà bác nghe…“tiếng súng của Biệt Động Quân” là bác kêu dân chúng hãy chạy theo bác rẽ sang hướng khác rời xa đường tháo chạy của Biệt Động Quân, còn nếu tiếng súng nghe không giống “của Biệt Động Quân” thì bác hối dân chúng chạy nhanh lên phía trước hoặc tiếng súng quá gần thì nằm dạt ra hai bên đường. Cũng tại khiếp sợ Biệt Động Quân khét tiếng “khát máu” thật, mà bác đã dẫn một đoàn dân chúng chạy thục mạng vào rừng sâu, chấp nhận nguy cơ gặp một thế lực bị Cộng Hòa tuyên truyền rằng“hung tàn khát máu” có tên “Việt Cộng” mà bác chưa từng nhìn thấy cái “khát” đó được “Việt Cộng” thể hiện ra sao.

Trên là những “sử liệu” mà không rõ có công chức nào của Nhà Nước ở các “viện” sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” ruột thịt của Nhà Nước chịu khó tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” hay chưa.

Nếu những đấng hưởng lương và phúc lợi từ tiền thuế của dân và tài nguyên quốc gia là công chức của Nhà Nước ở các Viện sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” của Nhà Nước muốn tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” thì chỉ có thể tìm gặp những người nào như bác Nhi, vì tháng trước bác phone cho tôi hỏi thăm sức khỏe của tôi và thều thào nói bác đang cảm thấy rất mệt. Ngày hôm sau, con trai lớn của bác Nhi đã điện thoại cho tôi báo hung tin bác đã đột ngột qua đời. Hóa ra đó là cuộc gọi cuối trước lúc ra đi của bác cho tôi, người tâm giao xa lạ lúc chào bác ra về đã giơ nắm đấm chúc bác khỏe mạnh như một cựu binh “Biệt Động Quân” cho ca đại phẫu hôm sau. Tôi đã thầm xin lỗi vì đã không trung thực đầy đủ với bác, không cho bác biết tôi là ai, dù bác nói trông tôi có phong cách một “ông giám đốc” hay một “ông lớn” nào đó chứ không phải chỉ là một “dân đen tư nhân nghỉ hưu không lương hưu tên Phước” như tôi đã cho bác biết như thế về mình.  

C) Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, không hề ngờ vực bất kỳ chi tiết nào trong đó.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều không rõ ràng cũng được tự động mặc định không thể làm gì hơn cho một định thẩm cứu nghiên.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều vô lý vô pháp vô thiên không có bất kỳ sử liệu gì chứng minh cũng không khiến người ta chấm dứt sự tôn vinh đã lỡ lầm trao tặng cho ai đó như trường hợp Chu Văn An.

Người ta chỉ mặc định xem những gì bọn chống Việt – gồm bọn người Việt chống Cộng cùng bọn Tàu và Anh Mỹ vân vân – nêu lên về Hoàng Sa, Trường Sa, Thành Đô, là những vấn nạn Sử duy nhất tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem những gì liên quan đến quốc hiệu của Việt Nam cộng sản hiện nay trong tương quan so sánh với quốc hiệu của Việt Nam – cũng cộng sản – trước đây, là những vấn đề Sử duy nhất cao quý tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem việc điêu ngoa nói nhăng nói cuội chống lại kiến thức “uyên thâm uyên bác” về “biểu tình” của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước là hành vi duy nhất xứng đáng cho công ăn việc làm duy nhất của những nhà sử học Việt Nam từ đường hang chốn tháp ngà sử học chui ra chốn nghị trường lập hiến và lập pháp Việt Nam.

Người ta không hiểu một chân lý rằng chính các sử liệu thu thập được từ những cựu chiến binh như Bác Nhi ở Phú Yên mới là thứ vũ khí có sức công phá hủy diệt cực kỳ ghê gớm triệt hạ các thế lực thù địch chống Việt Nam, vì các sử liệu ấy (a) củng cố chính nghĩa của Cộng Sản Việt Nam để đánh bại bọn “tự diễn biến” nội địa, (b) bóc trần sự nhơ nhớp của “Cộng Hòa” để đánh bại “tàn dư” của “Cộng Hòa” tại hải ngoại, và (c) đó mới là những “sự thật” làm tư liệu phong phú cho việc phát hành bộ  Việt Nam Sử Ký Toàn Thư năm 2075 nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Chiến Thắng.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Sử Nghiên

Ghi chú:

1) Nhà Sử Nghiên là…nhà nghiên cứu sử. Nhà Sử Nghiên cao hơn “Nhà Sử Học” chín bậc cửu trùng vì “nhà sử học” ở Việt Nam (a) chỉ biết học Việt Sử mà thôi, (b) chỉ biết học Việt Sử từ các quyển “sử” cũ đã có trong quá khứ được dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, (c) không biết rằng theo hàn lâm Âu Mỹ thì Sử bao trùm nhiều lĩnh vực như đã được Hoàng Hữu Phước nêu rõ trong bài Thế Nào Là Sử Gia , (d) học lực chỉ ở mức Lớp 9 nhảy lên đại học vốn là nơi để một người được đào tạo cho một nghề chứ không bao giờ đào tạo ra một “nhà” nào cả vì “nhà” là do “nghiên cứu” mà được trở thành, (e) không dám xưng là “Sử Gia” mà cũng chẳng được ai gọi là “Sử Gia”, và (f) chẳng bao giờ được các “Sử Gia” nước ngoài xem trọng do chẳng bao giờ nói được ngoại ngữ –  kể cả tiếng Hán – và chẳng có công trình nghiên cứu tầm cỡ “phá băng” tức điều tra chứng minh giải tỏa được những khúc mắc trong lịch sử dù chỉ trong nội tình lịch sử của chính nước mình để giới sử gia thế giới hiểu tường tận hơn.

2) “Hết sức uyên thâm uyên bác” là lời khen tặng của một đại tá công an họ Võ dành cho Hoàng Hữu Phước bằng tin nhắn và khi đến văn phòng Công Ty MYA thăm Hoàng Hữu Phước và Lại Thu Trúc ngay sau đại biến Luật Biểu Tình; hoàn toàn không phải lời tự phong của Hoàng Hữu Phước dù cho con mèo của ông ta thực sự có cái đuôi rất rất dài.

Tham khảo các bài về Sử của Nhà Sử Nghiên Hoàng Hữu Phước:

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  11-2011

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia   05-02-2014

Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam  04-10-2014

Các tham khảo khác:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh  29-5-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo” 25-4-2019

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Điều Cấm Vận

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

03-5-2019

                   Mục Lục

A- Truyền Thuyết Điều

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

C- Điều Triều

A- Truyền Thuyết Điều

Như điều bắt buộc phải có nơi một nhà giáo đã được nêu cực rõ trong bài “Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai nghĩa là phải có lòng tự trọng mà với lòng tự trọng đó một người sẽ không bao giờ cố len chân chen chúc vào làm “nhà giáo” nếu nhận thấy (a) kiến thức của mình chưa đạt mức uyên thâm, chưa ở thế bao trùm, chưa làm chủ đa dạng, không có khả năng dùng ngôn ngữ hùng biện thật cuốn lôi dẫn hấp để vừa truyền tải ngần ấy sự uyên thâm/bao trùm/đa dạng/cuốn lôi đến với học trò vừa làm bản thân trở thành thần tượng nơi học trò để học trò ngưỡng mộ noi theo tiếp bước trở thành những nhà giáo đúng nghĩa; cũng như khi nhận thấy (b) bản thân vừa không có niềm đam mê trở thành một nhà giáo tài ba chân chính, vừa cho rằng mình không có khả năng quán xuyến được điều kiện sống của bản thân và gia đình để có thể đeo bám cái nghề ấy mà không bao giờ nhỏ lệ buồn than tức tưởi trách phận thân sao lương tiền không dào dồi như ý.

Để trở thành một giảng viên Anh Văn đúng nghĩa một nhà giáo, tôi đã phải ngay từ lớp 6 trung học vừa phát huy năng lực “tấu thư” sáng tạo giàu tưởng tượng, vừa tìm đọc và lắng nghe biết bao câu truyện và câu chuyện của Việt Nam và thế giới để phục vụ hai mục đích gồm (a) hiểu biết thật nhiều với vốn từ thật nhiều, và (b) khi trở thành nhà giáo ngoại ngữ sẽ kể lại cho học trò bằng tiếng Anh những câu truyện và câu chuyện nào thú vị để vừa luyện nghe và luyện nói cho các em, biến tiết học “Luyện Nghe Tiếng Anh” chán phèo không những thành tiết sinh hoạt giải trí hấp dẫn dù theo kiểu tự soạn tự quyết về biết bao chuyện gồm cả kiểu dựa vào thần thoại Cổ La-Hy như Chuyện Tình Của Thần Vệ Nữ Venus và Bán Thần Adonis, kiểu lập lại  truyện dân gian như Đức Ngài Râu Xanh, kiểu biến tấu từ cái tên kinh dị có sẵn như Ác Quỷ Frankeistein, hay kiểu hiện đại hóa truyện rùng rợn Ba Điều Ước từ nguyên tác Cái Vuốt Khỉ, hoặc kiểu phỏng theo truyện tranh tiếng Anh Chiếc Hộp Kinh Hoàng, v.v. và v.v. mà chỉ có tôi mới không những biết mà lại còn kể được chuyện để làm các sinh viên tỉnh ngủ gật, tập trung hồi hộp lắng nghe, ớn lạnh sống lưng, tay viết hý hoáy các từ mới vào tập, miệng phá ra cười ha hả khi tôi biểu diễn thể hiện bộ tịch, dùng âm vực mô phỏng âm thanh và cuồng nộ của yêu tinh quái thú quỷ yêu, mà lại còn sử dụng cái “tấu thư” để kết thúc mỗi truyện kể bằng những lời khuyên mang tính đạo đức với gương mặt “thầy” cực kỳ nghiêm túc “tỉnh bơ” tấu hài mà chẳng cười gì, thậm chí còn trố mắt giả vờ ra vẻ ngạc nhiên tột độ không hiểu vì sao cả lớp lại có cái sự “cười bò” giải tỏa quá trình hồi hộp đứng tim trước đó, khiến cả lớp lại  thêm tức cười biến thành “vỡ rạp” làm phiền các giáo viên các lớp gần bên.

Đoạn trên gồm chỉ một câu duy nhất, tức chỉ có một dấu chấm hết ở cuối câu, sau chữ “gần bên”. Đây là kiểu hành văn viết – ngay cả nói khi thuyết trình – của tôi dù bằng tiếng Anh hay tiếng Việt, mà tôi chịu ảnh hưởng từ văn phong phức tạp cầu kỳ của Edgar Allan Poe (1809-1849), đại văn hào tiểu thuyết kinh dị trinh thám hình sự và nhà thơ vĩ đại trường phái lãng mạn của nền văn học Mỹ cận đại, có ảnh hưởng sâu sắc tác động đến các đại văn hào khác như Jules Verne (tác giả của Du Hành Vào Lòng Trái Đất) và Sir Arthur Conan Doyle (tác giả của bộ Thám Tử Sherlock Holmes), cũng như đến tôi, truyền nhân duy nhất của Thầy Lê Văn Diệm.

Tất nhiên, có những truyện không có cái kết có hậu và cũng hoàn toàn không có tiếng cười mà là sự lắng đọng suy tư nơi sinh viên. Một trong những truyện loại này có tựa đề “Điều” mà tôi đọc được trên một tờ báo ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa nay xin tóm tắt như sau để dẫn nhập vào một vấn đề chính trị mà thế giới vừa qua rất quan tâm.

Truyện kể rằng ở một làng nghề thủ công nọ tại Việt Nam chuyên về làm đồ mỹ nghệ sơn mài, có quy định trai gái của làng dứt khoát không được kết hôn với gái trai các làng khác. Quy định này để ngăn ngừa vấn nạn “mất nõ thần” tức mất bí quyết pha trộn các hóa chất phục vụ vẽ sơn mài. Thế rồi oái oăm thay, cô Mỵ Châu là “con một” xinh đẹp nhất làng của gia đình ông “Hương Quản”, một chức sắc ắt tương đương với “chủ tịch hội đồng nhân dân xóm”, lại bị “rù quến” bởi một thanh niên đẹp trai tên Trọng Thủy ở làng khác. Không may cho đôi uyên ương ấy, vụ việc bị nhanh chóng phát hiện do sau bữa cơm tối lúc nhà thắp đèn cầy tối hù chuẩn bị đi ngủ, ông hương quản cầm chiếc đèn dầu hỏa Huê Kỳ đi kiểm tra trước sau phòng ốc, thấy phòng của ái nữ mình yêu quý hơn châu ngọc có chiếc gối ôm được phủ chăn trên giường trống trơn tăm tối, bèn hô vang kêu gia nhân cùng tá điền đốt đuốc đi cài răng lược băng đồng tìm kiếm. Khi thấy đoàn quân tiến đến dù không có lông thiên nga hay lông vịt dẫn đường, chàng trai bỏ chạy nhanh nhất có thể, nhảy ùm xuống sông bơi qua cù lao tẩu thoát vào đêm trường tịch mịch. Cô gái bị bắt trói giải về. Khi mở phiên xử trước sân nhà, nghe cô con gái bày tỏ sự tin tưởng vào tình yêu cao đẹp của chàng trai, vào lời thề thốt của chàng rằng chàng chỉ yêu nàng vì nàng tốt bụng và nhân hậu chứ không phải vì nàng xinh đẹp nõn nà hay vì nàng là con nhà giàu có hoặc tại anh ta mơ tưởng chiếm hữu bí quyết pha dầu sơn mài, thậm chí nàng có già nua xấu xí tật nguyền chàng vẫn yêu thương suốt đời, v.v., rồi khi nghe con gái lạy xin cha đừng chia thúy rẻ quyên, ông hương quản nổi điên lắc đầu mắng con ngu dại, rằng “lỗi tại ta có con gái mà không nuôi dạy nên chẳng khác nào nuôi heo” – tức dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư – rồi tiện tay vung gậy quất con gái đến máu chảy thịt rơi. Khi gậy gảy, ông ngồi xuống phản, tuyên bố sẽ cho phép con gái được làm vợ chàng Trọng Thủy ấy, và ra lịnh thực hiện gia quy trước khi cho con gái được tự do, tức là quát tháo sai đặt cô gái nằm ngữa trên đất, lột trần áo xống xuống thắt lưng, bảo bốn gia nhân lực lưỡng quỳ gối tỳ đè lên hai đùi và hai vai của cô, trong lúc đó bốn gia nhân khác nhóm lửa, quẳng vào lửa vài nắm hạt điều còn nguyên vỏ, rồi cầm gắp sắt kẹp từng hạt điều bị cháy khét đang chảy dầu ra chèm nhẹp, dí các hạt điều ấy thoa lên toàn bộ gương mặt của cô theo những đường ngang lối dọc và dí luôn lên đầu hai nhũ hoa của cô, mặc cho tiếng thét la đớn đau thảm thiết của cô vang dội cả đêm đen. Tờ mờ sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy vì cái lạnh của sương mai, cô gái bò quơ tay vớ được tấm vải bên cạnh che vội thân thể đầy thương tích rồi khập khiểng dọ dẫm bước đi. Cứ thế, cô lết bộ lần từng bước một vừa đi vừa hỏi khi nghe tiếng lộp cộp vó ngựa đến gần, may được người xa phu thương tình cho quá giang một đoạn đường mới sang được làng bên đến tận nhà chàng Trọng Thủy nhân hậu chung tình. Khi chàng kình ngư bơi nhanh hơn rái cá này bước ra, anh ta thảng thốt kinh sợ thét lên trong nỗi kinh hoàng kinh khiếp kinh sợ gào lên xua đuổi rồi bỏ chạy nhanh hơn đà điểu khi nhìn thấy gương mặt bị hủy hoại nhăn nhúm chảy xệ mù lòa toàn thân đẫm máu ghê rợn của cô. Câu chuyện kết thúc ở đoạn truyện đăng trên báo viết rằng người ta tìm thấy cô khi cô nổi bập bềnh theo con nước tắp vào bờ sông mấy ngày sau đó.

Trước khi đi vào nội dung chính trị mà câu truyện “Điều” trên dẫn nhập, kính mời các bạn xem tiếp Phần B dưới đây.

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

30 năm thì một cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1964-1994).

41 năm thì một cấm vận vũ khí sát thương Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1975-2016).

Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành.

C- Điều Triều

Hạt điều thuộc cây công nghiệp mà hạt của nó đem lại cho nền kinh tế Việt Nam thu nhập rất cao từ xuất khẩu hạt điều nhân (cashew kernels), điều thô (raw cashew nuts) hoặc hạt điều thành phẩm đã qua rang muối và chế biến bánh kẹo.

Một sự thật hầu như chưa từng được bất kỳ ai nói đến là không bất kỳ quốc gia nào xuất khẩu hạt điều thành phẩm cho người tiêu dùng thực phẩm – ngay cả xuất khẩu hạt điều “thô” – mà không lột bỏ vỏ của nó. Không chỉ vì từ lớp vỏ ngoài của hạt điều người ta có thể trích ly những thứ hóa chất dù độc hại (như phenolic lipids, anacardic acids, và cardanol) nhưng phục vụ nhiều ngành công nghiệp (từ dược liệu đến thuốc diệt nấm mốc, thuốc diệt mối gỗ, lớp sơn lót công nghiệp, v.v. ), kể cả ngành thủ công mỹ nghệ chế tác phẩm vật sơn mài, mà tất cả đều gây thương tổn cho da, đặc biệt nghiêm trọng nếu người tiêu dùng tự nướng hạt điều rồi chờ nguội đưa lên miệng cắn ăn thì xem như môi bị acid làm cho bị phỏng nặng tiêu tùng. Do đó, khi đối tượng nhập khẩu là để dùng hạt điều như thực phẩm thì bên xuất khẩu sẽ phải tổ chức thuê mướn nhân công bóc vỏ hạt điều. Vỏ ấy sẽ bị vất bỏ nếu như không có xí nghiệp hóa chất nào quan tâm tìm mua như thứ phẩm của hạt điều.

Cấm vận của Mỹ giống như bản chất của hạt điều.

Hạt điều rất ngon và có giá trị cao. Những hứa hẹn cho một sự “ngon ăn” hoặc “ăn ngon” của việc chấp nhận đổi một thỏa thuận nào đó để lấy sự “xóa cấm vận” tức lấy “hạt điều”, hoặc tin vào hứa hẹn đó, cũng chỉ là việc bất khả. Không ai ăn sống hạt điều. Vỏ hạt điều nhất thiết phải được bóc tách (tất nhiên có sản phẩm hạt điều còn vỏ đã bị nướng cháy đen, được làm khô ráo không còn vương các acid, như đang bán tại các siêu thị như một cách chế biến quái đản chỉ có ở Việt Nam). Và hạt điều phải được rang nướng. Sự cấm vận của Mỹ áp đặt lên Việt Nam đòi hỏi rất nhiều công sức “chế biến” qua thời gian rất dài, từ vài năm đến vài chục năm. Phải mất 30 năm sự cấm vận ấy trên trận địa thương mại mới được gỡ bỏ, và phải mất 41 năm mới có việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí sát thương. Hạt điều thô đã nướng chảy acid, dù để nguội lạnh vẫn tàn phá da thịt con người. Cấm vận đã ban, các đàm phán theo sau, các cánh cửa hé mở cho các cuộc thăm viếng, nó vẫn tàn hại làm cả một đất nước điêu linh.

Đối với Mỹ, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên các quốc gia khác là một thứ “gia quy” khắc nghiệt, hoàn toàn không phải là thứ chỉ để hù dọa đơn thuần. Đó là đòn trừng phạt ghê gớm nhất, phức tạp kéo dài nhất, và nhằm đến sự ưu tiên đạt đỉnh điểm một hệ quả thảm khốc bậc nhất. Một lệnh cấm vận được ban ra không bao giờ để được gỡ bỏ nhanh chóng sau đó. Đây là lý do Tổng Thống Donald Trump hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ dành cho Bắc Hàn, ngay cả việc gỡ bỏ chỉ một phần, và ngay cả khi Tổng Thống Donald Trump có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ vừa nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Đối với Bắc Hàn, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên Bắc Hàn không bao giờ có một tương lai giải quyết sớm hơn và tốt hơn. Việc tiền trao cháo múc chứ không phải tiền trao lúa múc đối với Bắc Hàn mới là việc mua bán đương nhiên công bằng: đồng tiền có thể xài ngay và cháo có thể ăn ngay. Bắc Hàn không thể chấp nhận tận hủy tất cả những tài sản nguyên tử quý báu đang có (trao hết tiền), chỉ để dài cổ trông chờ sự giao hàng của một lô lúa mà người dân Bắc Hàn nếu nhận được phải gieo trồng, phải dẫn thủy nhập điền, phải bón phân, phải gặt hái, phải phơi phóng, phải xay giã, phải xay xát, v.v. và v.v., rồi phải đi mót cũi mới nấu thành cháo để múc ăn. Đó là sự chơi trác của tiền trao rơm rạ múc. Chưa kể, sẽ luôn có sự ngụy tạo quen thuộc (như Mỹ đã luôn kiếm mọi cớ đối với Việt Nam, như láo xạo vu vạ Việt Nam lén giam giữ hàng trăm binh sĩ Mỹ, sát hại thoải mái các tù binh Việt Nam Cộng Hòa trong các “trại cải tạo”, và xâm lược cướp bóc chà đạp “nền dân chủ” Kampuchea, v.v., để lờ đi lời hứa bồi thường chiến tranh cho Việt Nam và để áp đặt lịnh cấm vận mới khác chống Việt Nam) rằng Bắc Hàn vẫn còn đang chứa vũ khí hủy diệt tại chốn thâm sơn cùng cốc nào đó mà Mỹ phái điều tra cho ra chân tơ kẽ tóc nên chưa thể gỡ bỏ các cấm vận được ngay cả khi toàn bộ vũ khí nguyên tử có bị Bắc Hàn lỡ dại tiêu hủy hết rồi. Đây là lý do Chủ Tịch Kim Jong Un  hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ, ngay cả khi đó là sự nhượng bộ cho phép các thanh sát viên IAEA vào điều nghiên tại chỗ, và ngay cả khi Chủ Tịch Kim Jong Un có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc thì ông cũng không có quyền chấp nhận đánh đổi tất cả mà không nhận được sự trao lại tương đồng ngay lập tức từ phía Mỹ, tức việc Mỹ gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ-vừa-nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Câu truyện tiểu thuyết về cô gái bị thoa dầu acid chảy ra từ hạt điều tàn phá dung nhan dẫn đến cái kết rất tàn nhẫn và tàn khốc, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ phía “trên cơ”, trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như các “gia quy” hãy ràng buộc rằng bí quyết sản xuất không được giao cho con gái dù đó là con một nên việc con gái có đi làm dâu nơi khác cũng chẳng hề chi, rằng bí quyết sản xuất phải được chia thành nhiều phần nhỏ cho nhiều người tín cẩn trong thân tộc mà chỉ có sự tụ họp đủ các phần ấy lại mới có thể tạo nên được công thức sản phẩm bí truyền, hoặc rằng ông bà hương quản phải tôn trọng luật pháp triều đình để từ đó biết xem quốc gia cương thổ là trọng chứ không phải biến lãnh địa chật hẹp ao làng thành khu biệt lập nội bất xuất, ngoại bất nhập, v.v. Nghĩa là các nhượng bộ đều có thể được đề ra, dù cho có thể sự nhượng bộ có khi chỉ trên cơ sở phải lựa chọn giữa cái rất kém và cái kém nhất – mà trong trường hợp này thì cái rất kém là trọng nam khinh nữ phân biệt giới tính chẳng hạn, vẫn có thể thà chấp nhận còn hơn so với cái kém tàn tệ là việc hủy hoại cuộc đời và mạng sống đứa con gái trong truyện và những người con gái tương tự trong đời.

Câu truyện có thật về cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim ngày 27-02 vừa qua đi vào bế tắc dẫn đến cái kết quả quá thất vọng so với sự kỳ vọng đầy hy vọng và phấn khích của nhân loại, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ hai phía trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như thay vì chỉ là một văn bản soạn sẵn dài có hai trang in trên giấy khổ Letter quái gở mà trên thế giới hầu như chỉ có Mỹ dùng, có nội dung nêu lên những gì Bắc Hàn phải thực hiện như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, có thể kiểm chứng được, thì văn bản ấy lẽ ra nên là quyển tài liệu dày cộm vài trăm trang đề xuất một lịch trình cụ thể hai bên phải thực hiện theo một lộ trình tuần tự trước-sau kéo dài trong ít nhất hai năm cho những nội dung bao gồm vài ý chính như:

(a) các cuộc họp cấp chuyên viên cũng như cấp cao về các nội dung theo tuần tự thời gian và bao gồm những chi tiết chẳng hạn như các thời điểm cho cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp chuyên viên tại Bình Nhưỡng để trao nhau bản chi tiết các yêu cầu của mỗi bên, trình bày các lý do đòi hỏi phải có các yêu cầu đó;

(b) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại New York để trao nhau bản chi tiết các đòi hỏi yêu cầu giữ nguyên, các đòi hỏi nay đồng ý gỡ bỏ khỏi danh mục các yêu cầu, và các đòi hỏi nay đồng ý điều chỉnh nhằm giảm bớt các cách biệt giữa các yêu cầu của hai phía;

(c) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng trao đổi các ý kiến của lãnh đạo cao nhất của mỗi bên;

(d) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật tại Seoul nhằm tạo điều kiện cho Hàn-Nhật đề ra các cam kết cụ thể đối với các hỗ trợ xây dựng kinh tế dành cho Bắc Hàn, đồng thời nêu ra các vấn đề quan ngại mong Bắc Hàn giải đáp và giải tỏa;

(e) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA tại Seoul nhằm giải đáp các vấn đề quan ngại của mỗi bên, tạo điều kiện cho mỗi bên đề ra các cam kết cụ thể, nêu ra các yêu cầu cụ thể, giải đáp giải tỏa tại chỗ – nếu có thể – các quan ngại, thảo luận cách tiến hành thanh sát, nội dung thanh sát, giám sát thanh sát, báo cáo thanh sát, giải quyết kỹ thuật việc tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho công tác tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho việc giải tỏa mặt bằng và bồi thường người dân liền kề khu vực tiêu hủy, v.v.;

(f) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng về các dự án phát triển thuộc các lĩnh vực nào, nội dung các gói viện trợ/cứu trợ, và các hợp tác kinh tế cụ thể nào có thể thực hiện ngay thay vì chờ đến sau ký kết thông báo thượng đỉnh cũng như các hợp tác kinh tế cụ thể nào sẽ thực hiện ngay sau khi ký kết thỏa thuận thượng đỉnh;

(g) các hoạt động ngoại giao bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, v.v. tại Bình Nhưỡng;

(h) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA lần chót để rà soát tất cả các vấn đề và nội dung đã nhất trí thỏa thuận được;

(i) các biên soạn tài liệu họp thượng đỉnh, đàm phán về địa điểm họp thượng đỉnh và thời gian họp thượng đỉnh;

(j) họp thông qua bản nháp văn kiện họp thượng đỉnh cùng các vấn đề liên quan; và

(k) họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 3 tại Hà Nội, Việt Nam, ký kết thỏa thuận phi hạt nhân hóa hoàn toàn Bán Đảo Triều Tiên, trước sự chứng kiến của các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên Hợp Quốc, và IAEA.

Cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 2 tại Hà Nội đã thất bại. Nó đương nhiên thất bại. Tất nhiên các phát biểu trước cuộc họp ấy của các nhà phân tích chiến lược chính trị gạo cội của Việt Nam trên tivi đều chỉ dựa trên mong mõi mong muốn mong chờ mong đợi thiết tha của họ chứ không ở tầm cỡ phân tích chính trị chiến lược quốc tế. Tất cả các phát biểu đã thất bại, đơn giản vì không bất kỳ ai trong số họ nhớ đến một sự thật trần truồng (naked truth) rằng:

“Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành”.

Không một tổng thống nào của Mỹ đã từng dám nhanh chóng xóa một lịnh cấm vận ngay cả khi lịnh cấm vận đó là của vị tổng thống tiền nhiệm thuộc đảng đối thủ đối nghịch đối đầu.

Người ta có thể kỳ vọng vào những điều sau đây nơi Donald J. Trump:

(a) Donald J. Trump là vị tổng thống ưa chuộng tạo ra các tiền lệ cho hậu thế;

(b) Donald J. Trump không xem trọng các tổng thống tiền nhiệm, luôn khẳng định công khai chính Donald J. Trump mới là tổng thống vĩ đại nhất Hoa Kỳ (mà cho đến nay thì trong toàn nhân loại chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận xét như thế về Donald J. Trump trước cả khi Donald J. Trump tuyên bố như thê);

(c) Donald J. Trump không xem trọng các quyết định quan trọng nào đã có trước đó và do đó luôn muốn ký ban hành các quyết định thay thế để có dấu ấn của ông trong lịch sử nước Mỹ;

(d) cũng vì ba điều trên mà ắt Donald J. Trump có đủ thông minh để nhận ra rằng Mỹ không phải là “ông Hương Quản” của một cái “ao làng”, rằng “cấm vận” không phải là “hạt điều nướng chảy acid” gì ghê gớm mà thí dụ điển hình là chính “cấm vận” đã thúc đẩy Việt Nam trở thành vận động viên nhảy sào để vượt qua “cấm vận” trở nên giàu mạnh và hùng mạnh giữa sự bủa vây của kẻ thù Trung Quốc và hàng xóm ASEAN vốn thoát sinh từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO điên cuồng chống Cộng, và rằng “kẻ thù của Mỹ” không phải là “con gái của Mỹ” để Mỹ dí hạt điều nướng cháy vào đầu vú – nhất là khi “kẻ thù” ấy còn ghê gớm hơn cả Việt Nam vì có vũ khí nguyên tử không những đe dọa sự sinh tồn của các “đồng minh” quan trọng như Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn đe dọa cả an ninh quốc phòng của chính lục địa nơi có nước Mỹ; và

(e) cũng vì bốn điều trên mà tốt hơn hết nên có sự việc Donald J. Trump là tổng thống đầu tiên sẽ làm một việc chưa từng có tiền lệ: dỡ bỏ ngay một phần cái gọi là “lịnh cấm vận”, và nếu như cho đến nay vẫn làm ngơ “xù” luôn khoản “bồi thường chiến tranh” cho Việt Nam thì sẽ không dám không dành ngay cho Bắc Hàn những viện trợ cần thiết nhằm xây dựng một “lòng tin” … như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, vững bền, và có thể kiểm chứng được.

Chỉ khi lớp áo vỏ của hạt-điều-cấm-vận bị bóc tách thải loại, các hóa-chất-chính-trị có thể gây phỏng xót xa cho bên thực thi bị loại trừ, sự cấp bách hối hả cực đoan bị loại bỏ, sự lựa chọn điều rất xấu thay cho điều xấu tàn tệ được ưu tiên, và sự chấp nhận xem là hợp lý khi chọn ngay cả một hướng tiêu cực miễn sao nó ít trầm trọng hơn một điều tiêu cực tệ hại khác, thì hạt điều chính trị sẽ không thể làm bỏng cháy thịt da người ăn, và các bên của cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ không bị hụt hẫng trước một kết cuộc bất thành, tệ hại.

Cuối cùng, lẽ ra Mỹ đã phải nhận ra rằng một tập văn bản kế hoạch dày một gang tay kiểu Hoàng Hữu Phước diễn giải nêu trên nếu đã được soạn thảo ắt đã được vui vẻ ký kết tại Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Triều lần II tại Hà Nội thì đó cuối cùng vẫn sẽ đáp ứng đúng các ý đồ của Mỹ do thời gian hai năm là quá đủ để (a) sự thâm nhập thực địa của IAEA và Mỹ vào Bắc Hàn được tiến hành “từ đồ dần dà” hầu hoạt động công khai từ đó nắm đầy đủ nhất về các nguồn còn lại của mối đe dọa nguyên tử để có các biện pháp loại trừ hữu hiệu ngay khi bùng phát một hiện thực nguy cơ, và (b) sự tác động vào dân chúng Bắc Hàn trong tư duy về “tự do dân chủ” được thực hiện qua tiến trình ngụy trang của viện trợ Mỹ và giao lưu văn hóa cùng hoạt động thể thao với Mỹ từ đó có thể tạo nên tâm lý thiên Mỹ nơi dân chúng Bắc Hàn làm tiền đề cho sự trở nên bớt vững chắc hơn của chế độ Bắc Hàn. Đơn giản hơn: từ hai sự thật rằng một lịnh cấm vận không thể bị xóa ngay bởi một vĩ nhân kiệt xuất như Donald J. Trump luôn bị Quốc Hội ngu xuẩn phá hoại trói tay, và một sự tiền trao mà cháo không múc không thể là hành động bất cẩn của một vĩ nhân kiệt xuất như Kim Jong-Un được hun đúc từ tiền bối thông minh, thì một ký kết giản đơn kiểu mệnh lệnh ngắn gọn áp đặt lên Bắc Hàn tại Hà Nội nếu biến thành hiện thực mới là điều kỳ quái điên rồ nhất từng xảy ra trong cái nhân loại điên rồ do Thượng Đế nặn ra này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

Tham khảo:

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Nhà Giáo  25-11-2017

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm 22-02-2015

Vì Sao Hà Nội?

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-02-2018

Từ mấy tuần nay, kể cả khi Hà Nội được chọn làm nơi tổ chức cuộc họp thưởng đỉnh Trump-Kim, báo chí toàn quốc Việt Nam – bất kể báo giấy, báo hình, báo tiếng, hay báo mạng – đều tải đăng những bài viết lấy thông tin từ nước ngoài có tiêu đề mang tính giải thích như “Vì Sao Việt Nam Nên Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Việt Nam Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Hà Nội Được Chọn Làm…”. Toàn bộ các bài thông tin ấy đều dựa theo các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của báo chí nước ngoài, các giáo sư của viện nghiên cứu chiến lược hay các viện đại học nọ của nước ngoài, mà tất cả các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của họ đều xoay quanh 5 điểm gồm (a) “Hà Nội” nằm trong phạm vi bán kính bay của chuyên cơ của Chủ Tịch Kim, (b) “Hà Nội” có kinh nghiệm bảo vệ yếu nhân như chứng minh khi tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (c) “Hà Nội” có kinh nghiệm tổ chức các sự kiện trọng đại như chứng minh từ việc tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (d) “Hà Nội” từng có quá khứ căng thẳng với Mỹ nay đã hòa bình phát triển vượt bậc như một khuôn mẫu cho “Bình Nhưỡng”,và (e) “Hà Nội” có quan hệ ngoại giao tốt với cả “Oa-sinh-tơn” và “Bình Nhưỡng”.

Một lưu ý quan trọng từ các điểm trên là theo công thức thuần túy thuật ngữ báo chí Phương Tây thì Tên Thủ Đô một quốc gia = Chính quyền quốc gia của thủ đô đó hoặc dùng thay cho tên gọi của quốc gia đó. Từ đó có kiểu gọi như Washington = Chính quyền Mỹ hoặc Nước Mỹ, Bắc Kinh = Chính quyền Trung Quốc hoặc Nước Trung Quốc, Caracas = Chính quyền Venezuela hoặc Nước Venezuela, hay Moscow = Chính quyền Nga hoặc Nước Nga, v.v. Do vậy, từ “Hà Nội” trong các tiêu đề báo chí nêu trên chỉ mang ý nghĩa “Chính Phủ Việt Nam” hoặc “Nước Việt Nam”. Ngoài một ví von rằng “ Nội có Đại Sứ Quán Triều Tiên nên Chủ Tịch Kim yên tâm hơn” trong đó “Hà Nội” chính là “Thủ Đô Hà Nội” thì không bất kỳ ai từng thấy trên báo chí ở bất kỳ đâu dù trong hay ngoài nước có các phân tích cho nội dung “Vì Sao Thủ Đô Hà Nội Được Chọn Làm Nơi Họp Thượng Đỉnh Trump-Kim” cả.

Bài viết này như dưới đây, do đó, là bài đầu tiên và duy nhất trên thế giới đề ra những lý giải vì sao Thủ Đô Hà Nội của Việt Nam được chọn làm nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019, chứ không là Thành phố Đà Nẵng hay bất kỳ nơi nào khác trên toàn cõi Việt Nam.

Hai biện luận nhận xét đánh giá sau được đề ra bởi Thạc sĩ Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho câu hỏi trên:

1) Ở Việt Nam, chỉ có Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất của quyền lực trị quốc trung ương, hội đủ các điều kiện lịch sử và địa chính trị đặc biệt phục vụ đúng mục đích chiến lược của cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim. Lý giải thêm:

a– Tầm cỡ của hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn đang nắm giữ trong tay sự an nguy tồn vong của nhân loại không thể nào thích hợp cho một cuộc hội kiến tại một địa điểm thuần du lịch như Thành phố Đà Nẵng vốn hoàn toàn không có bất kỳ thế mạnh lịch sử & địa chính trị nào khác. Chưa kể, Đà Nẵng đã là nơi những đoàn quân Mỹ đầu tiên từ các chiến hạm hùng hổ đổ bộ vào Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh thảm khốc chống Việt Nam nên sẽ mang ngụ ý cực kỳ tiêu cực như một răn đe dành cho lãnh đạo Bắc Hàn về một cuộc đổ bộ tương tự để tấn công Bắc Hàn vốn hoàn toàn không bao giờ thích hợp cho nội dung của cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim. 

b– Cả hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn nhất thiết phải cùng bày tỏ sự tôn trọng kính trọng vị nguyên thủ Việt Nam qua việc cùng đến tận thủ đô nơi đặt tổng hành dinh của vị chủ nhà tối cao của Việt Nam để chứng minh sự có mặt của vị này rất cần thiết như một thực thể trung gian mang hội tụ đầy đủ sức mạnh lịch sử dân tộc vượt qua nghịch cảnh đối kháng, sức mạnh thời cuộc quốc tế thôi thúc những hòa hợp nhân nhượng mang tính toàn cục vì đại cuộc toàn cầu, và sức mạnh thần uy tự thân một nhà lãnh đạo tài ba có đóng góp cụ thể nhất vào tiến trình hòa giải lớn lao cho một kết quả cụ thể lớn lao cho cuộc họp thượng đỉnh này.

cHà Nội tượng trưng cho sự tôn trọng các bên và sự các bên được tôn trọng. Hình ảnh Chủ Tịch Nguyễn Phú Trọng đứng giữa Tổng Thống Donald Trump và Chủ Tịch Kim Jong-Un sẽ phát đi một thông điệp cực kỳ khúc chiết rõ rằng và tốt đẹp rằng thể chế chính trị Việt Nam được Mỹ tôn trọng, sự hợp tác phát triển kinh tế Việt-Mỹ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định, và vị thế Việt Nam cùng lãnh đạo Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới; nghĩa là thể chế chính trị Triều Tiên cũng sẽ được Mỹ tôn trọng tương tự, sự hợp tác phát triển kinh tế Triều-Mỹ sẽ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định tương tự, và vị thế Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên cũng sẽ được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới.

d– Thủ đô Hà Nội là một chứng nhân lịch sử bi tráng của sự tàn phá hủy diệt từ bom đạn của Mỹ trong chiến tranh mà Phố Khâm Thiên là một trong những khu vực điển hình bị san thành bình địa, và là chứng nhân của sự vươn mình phát triển hiện đại đầy tự hào và đáng ngưỡng mộ như hiện nay sau khi chiến tranh kết thúc. Ngụ ý sâu xa từ quá khứ của Thủ đô Hà Nội là: sự xung đột vũ trang trong một cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia thù địch đã làm tiêu hao biết bao nguồn nhân lực vô giá và nguồn tài lực khổng lồ lẽ ra đã có thể giúp cho hai đất nước nhanh chóng phát triển hùng mạnh hơn, cường thịnh hơn, hạnh phúc hơn. Và thay vì phải chờ đợi đến khi có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thương đau từ những hệ quả hoang tàn và hệ lụy đầy ám ảnh của chiến tranh, Tổng Thống Trump cùng Chủ Tịch Kim có thể nhìn thấy ở Thủ đô Hà Nội một tham khảo cụ thể cho thôi thúc đạt cho được một kết quả đồng thuận cụ thể với một quyết tâm chính trị cụ thể mà tất cả vì sự hùng mạnh, cường thịnh, và hạnh phúc cho hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, cho nhân dân hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, và cho nhân loại.    

2) Ở Việt Nam, với cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim, Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất cho vai trò trở thành địa điểm của các cuộc hòa đàm khu vực và thế giới như một thành phố toàn cầu (global city), một trung tâm ngoại giao thế giới (worldwide centre for diplomacy), và là một Geneva của Việt Nam (Vietnam Genève).

Vì vậy, những vấn đề mà Việt Nam nên tập trung thực hiện cho cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019 bao gồm:

1) An Ninh: nghiêm cấm sử dụng “máy bay không người lái” toàn khu vực các tỉnh Miền Bắc trong suốt thời gian Tổng Thống Trump và Chủ Tịch Kim đến Thủ đô Hà Nội. Bắn hạ tất cả các “máy bay không người lái” vi phạm lịnh cấm này.

2) Quốc Phòng: tổ chức phi đội chiến đấu cơ bảo vệ phi cơ của Chủ Tịch Kim, kiên quyết không cho phép chiến đấu cơ không quân Trung Quốc được vào không phận Việt Nam.

3) Đối Ngoại: nghiêm cấm báo chí Việt Nam sử dụng các thông tin từ bất kỳ hãng thông tấn nào bị Tổng Thống Trump liệt vào hạng Fake News tức Báo Chí Ba Que Xỏ Lá.

3) Nhân Sự: Sau cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim, Việt Nam đầu tư xây dựng đội ngũ những nhà đàm phán, những nhà hòa giải, để tích cực chủ động tham gia giải quyết các vấn đề xung đột thế giới, đưa các cuộc họp thượng đỉnh vì mục đích này đến Hà Nội, biến Thủ đô Hà Nội thành một Vietnam Genève.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Chính-trị Xã-hội Chủ-nghĩa Thiên Khổng, Nhà Nghiên-cứu Chiến-lược & Chính-sách Quốc-gia

Tham khảo:

A) Chủ Tịch Kim Jong-Un:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn 12-9-2017

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý  24-9-2017

B) Tổng Thống Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump  01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump  12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Chính Thống Việt Nam Lõa Lồ  10-4-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ  04-4-2017

Donald Trump Phơi Bày Gót Chân Achilles Của Giới Lãnh Đạo Chính Trị Việt Nam April 17, 2017

Donald Trump Phơi Bày Thân Phận Người Mỹ Gốc Việt Chống Việt  27-4-2017

Donald Trump Và Trần Đại Quang  12-5-2017

Tiếng Anh Trong Bức Thư Của Tổng Thống Donald Trump  30-5-2018

C) Bài Viết Của Tác Giả Khác:

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump  19-10-2017

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump 19-10-2017

Luật Đặc Khu – Phần 2

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp & Lập Hiến Khóa XIII Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

01-10-2018

 LDK2LuatDacKhu2 (1)

Dẫn Nhập Cho Phần 2

Một tên tiến sĩ óc bùn đại ngu khi trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ, một tờ báo chính thống đại đại ngu của Đảng Cộng Sản Việt Nam từng dám cả gan tấn công nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, đã nói về sự cố bạo loạn gây ra từ Luật Đặc Khu rằng: “Luật đặc biệt nhưng giải thích không rõ nên dân bức xúc”.

LuatDacKhu2 (2)

Tên đại ngu trên đang là nghị sĩ Khóa XIV Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh mà sự tồn tại của nó trong Quốc Hội đã trở nên khét tiếng qua các chi tiết như đã nêu tại Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tên đại ngu trên còn đang là cố vấn cho Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Khoan nói đến việc một tên đại bất tài đại vô dụng đại vô hạnh như nó mà tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng thì đất nước này chỉ có con đường duy nhất là suy vong suy kiệt suy tàn về kinh tế, chỉ cần qua lời phát biểu ngu đần của nó đã thấy lồ lộ bốn điều kinh khủng rằng:

(a) nó bất tài vô dụng không hề biết gì về những hiễm họa khôn lường trong cái gọi là Luật Đặc Khu để tư vấn cho Thủ Tướng các biện pháp phòng ngừa/hóa giải/tuyệt trừ mà cái khả năng thấu thị ấy thì bất kỳ ai thực sự thuộc tầm cỡ cố vấn nhà nước loại kinh bang tế thế dứt khoát phải sở hữu dưới dạng thiên phú tức có-không-do-thọ-giáo-từ-bất-kỳ-ai-khác, rằng

(b) nó bất tài vô dụng không hề phát biểu hoặc – như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay làm là – gởi thư cho lãnh đạo Quốc Hội để cảnh báo về những hậu quả khôn lường về an ninh quốc gia chắc chắn sẽ xảy ra nếu nó và đám người ngợm như nó không biết phải giúp Đảng và Quốc Hội giải thích về Luật Đặc Khu như thế nào cho người dân khỏi bức xúc, rằng

(c) nó dám xúc phạm toàn dân tộc khi ám chỉ rằng dân trí của dân tộc Việt Nam này kém đến độ thông tin về Luật Đặc Khu được in bằng tiếng Việt mà vì đọc vẫn không hiểu gì sất nên mới bức xúc làm loạn, và rằng

(d) nó dám bao che cho bọn lưu manh phản loạn bằng cách đổ tất tần tật lỗi cho sự “giải thích không rõ” mà toàn Đảng, toàn Chính Phủ, toàn Quốc Hội phải chịu tội về cái sự “giải thích không rõ” ấy.

Ở một xó xỉnh khác thì một tên thạc sĩ óc sình đại đần nghị sĩ Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh Khóa XIV – lại là Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng! – khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo chính thống khác đã tư vấn rằng “nên làm trước một đặc khu để rút kinh nghiệm”.

LuatDacKhu2 (3)

Tên nghị sĩ đại đần này phải chăng muốn ám chỉ rằng:

(a) cái đặc khu kinh tế đầy quan trọng vì phải thọ nhượng biết bao tài nguyên hữu hình tangible như cảnh quang thiên nhiên và tài nguyên vô hình intangible như toàn bộ hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia và tương lai bất định/vô định/phi định của cả dân tộc lại có thể cứ hoạt động mà không cần phải có bộ luật chính thức về đặc khu kinh tế hay sao, rằng

(b) cái đặc khu kinh tế mà muốn có nó thì Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải bỏ ra toàn bộ của cải kho tàng ngân khố quốc gia để xây dựng thành thiên đường vật chất tuyệt mỹ hạ giới trước để dâng cho nhà đầu tư tà tà bước vô hưởng thụ vui chơi trác táng cờ bạc đỉ điếm trong “99 năm” lại chỉ để rút kinh nghiệm sau “99 năm” – hoặc 98 năm – ư, và rằng

(c) nếu như sau “99 năm” có cuộc tụ họp đại hội nghị ở tòa nhà Quốc Hội đúc rút kinh nghiệm mà thấy thất bại thì Quốc Hội sẽ hùa nhau tuyên bố hủy bỏ kế hoạch thông qua Luật Đặc Khu rồi kéo nhau đến mộ phần những đứa nào trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, những đứa nào trong Chính Phủ, những đứa nào trong Quốc Hội mà cách đó “99 năm” – hay 98 năm – đã cổ súy cho cái Luật Đặc Khu, để chưởi cha vào bia mộ của chúng hoặc tổ chức đóng xiềng xích sắt quanh mộ của chúng – y như kiểu Nhà Nguyễn đã hành xử đối với mộ phần Lê Văn Duyệt – do có đại tội với nhân dân đã làm mất sạch của dân tộc toàn bộ kho tàng ngân khố quốc gia và đại tội chuyển hóa thời gian “99 năm” – hay 98 năm – thành rác thải ư?

Vì vậy, (a) trước sự ngu-muội-có-pa-tăng-cầu-chứng-tại-tòa-thương-mại-quốc-tế của hai tên nghị sĩ nêu trên của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng, (b) trước thực tế không bao giờ có chuyện người dân Việt Nam do dân trí thấp đã không hiểu cái dự án Luật Đặc Khu nó nói cái gì và đặc biệt chỗ nào mà Toàn Đảng/Toàn Chính Phủ/Toàn Quốc Hội khinh rẻ dân chúng chẳng thèm giải thích nên bức xúc vùng lên đốt phá, và (c) cũng như trong Phần 1 của bài Luật Đặc Khu có giải thích kỹ về mọi ngóc ngách của ngôn từ như một thói quen cố hữu – dù khi viết hay nói bằng tiếng Anh hay tiếng Việt – mang tính chuyên-cá-nghiệp personal professional signature  của Thầy Phù Thủy Ngôn Từ Hoàng Hữu Phước, Phần 2 này có tiêu đề “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” cũng không thể không cần đôi lời giải thích như dưới đây.

Ở đây, tiêu đề được đặt ở trên là “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” chứ hoàn toàn không phải và không đồng nghĩa với “Luật Đặc Khu Của Việt Nam” đơn giản vì tác giả bài viết này chưa hề cầm trong tay bản copy nào của cái dự thảo luật ấy để đọc xem nó tròn méo như thế nào. Ngay cả khi có toàn văn bản dự thảo ấy trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật của Giám Đốc Luật Sư Vũ Ngọc Dũng là vị tôi trước đây hay xướng họa thơ ca trên trang mạng doanh nhân Emotino thì tôi cũng không click vào để đọc xem cái dự thảo luật ấy nó tròn méo ra sao.

Lý do của “chưa hề cầm trong tay bản dự thảo ấy để đọc xem nó tròn méo ra sao” vì như đã nêu trong bài viết trước đây về chi phí hàng năm cao khủng khiếp của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh cho khâu in ấn các dự thảo dự án luật để gởi sâu rộng đến các cơ quan/ban/ngành/đoàn thể/địa phương để lấy ý kiến đóng góp sâu rộng của chuyên gia và các tầng lớp nhân dân cho từng dự thảo dự án luật rồi Văn Phòng tổng hợp chuyển tải cho Thường Vụ Quốc Hội nghiên cứu xem xét hoàn thiện dự án luật, thế nhưng kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII chưa bất kỳ một bản in nào như thế được Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh gởi đến Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cả – tất nhiên, bảo đảm các nghị sĩ khác của các khóa tiền nhiệm đều đã và đang nhận được các bản photocopy các dự thảo dự án luật ấy do các ông các bà nghị sĩ này là đảng viên chức sắc cao cấp của Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh trong khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là nghị sĩ ngoài Đảng.

Trên là chi tiết đơn giản nhất giải thích vì sao tiền của của nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã đổ sông đổ biển trong rất rất nhiều thập kỷ qua, mà bằng chứng hiển nhiên nhất là do cái dự thảo dự án Luật Đặc Khu ấy dù tiêu tốn tỷ tỷ tiền thuế của người dân để “lấy ý kiến” của người dân và các ban ngành đoàn thể Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn lồ lộ cái tiêu cực hiển nhiên của

(a) hao tốn điện/giấy/mực/môi sinh/bưu gửi,

(b) ắt có sự gia tăng thu nhập của cơ sở in ấn lợi ích gia đình – nếu như sự in ấn được thực hiện bên ngoài Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh,

(c) tất cả các ý kiến đóng góp của đại diện các ban/ngành/đoàn thể tại buổi họp ở Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh – tức những người dự họp đều có nhận phong bì tiền bồi dưỡng – đều vô bổ và vô ích vì té ra chả có gì ra hồn để “chuyển tải” ra chốn Nghị trường Quốc Hội cả, mà bằng chứng lồ lộ là cái nguyên nhân chính được chính mồm một tên nghị sĩ Khóa XIV của Thành Phố Hồ Chí Minh nêu lên trên báo nhằm lý giải cho sự thúc thủ (tức bó tay chịu trận) toàn diện – may mà  chưa thất thủ (tức bị lật đổ) – của Thành Phố Hồ Chí Minh và những tỉnh có “biểu tình” là do người dân chưa nắm rõ hay hiểu biết rõ về cái Luật Đặc Khu ấy;

(d) tất cả các bài vở thông tin trên báo chí về Luật Đặc Khu đã đều vô bổ và vô ích vì té ra ngay tại Thành Phố Hồ Chí Minh cực lớn và tại vài tỉnh có danh tiếng đã có nhũng cuộc “biểu tình” làm ô danh chính quyền, hóa ra báo chí Việt Nam chính thống tại Thành Phố Hồ Chí Minh rõ ràng hoàn toàn thất bại, hoàn toàn vô dụng, hoàn toàn là thứ vất sọt rác, không còn là vũ khí chính trị ra hồn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thông tin, giáo dục, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân của Thành Phố Hồ Chí Minh ủng hộ các quyết sách của Đảng, nên mới có chuyện càng đọc báo giấy và báo mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam người dân càng chẳng hiểu gì hết về Luật Đặc Khu và luật pháp nói chung nên mới bức xúc rồi tự do biểu tình tự do đốt phá.

Vì tất cả các vấn nạn trên, các nội dung bình thường sau xin khép nép được rón rén nêu ra đây trên trang blog bình dân này cho công luận đồng bào nghiền ngẫm cuộc vuông tròn của vấn đề Luật Đặc Khu tại Việt Nam, còn để vấn đề Luật Đặc Khu của Việt Nam tôi xin nhân đây giao nhiệm vụ cho các nhân-sĩ-trí-thức-tiến-sĩ-thạc-sĩ là đảng viên của Đảng đang hiện diện lúc nhúc trong các viện/cơ quan hoành tráng sang trọng của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải giải thích cho quốc dân đồng bào được rõ.

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

A- Thế Nào Là Đặc Khu Kinh Tế

1) Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Đặc Khu Kinh Tế thoát thai từ cụm từ tiếng Anh Special Economic Zone viết tắt là  SEZ.

Đặc Khu Kinh Tế (viết hoa, với chữ viết tắt là SEZ) ở trên là theo phạm trù từ nguyên học.

Còn theo thực tế ngữ nghĩa học thì đặc khu kinh tế tức khu kinh tế đặc biệt (viết thường, không viết tắt là SEZ) đã xuất hiện từ lâu, lan tràn, rộng khắp, và dưới các tên gọi quen thuộc khác nhau như Free Port FP, Free Zone FZ, Bonded Area, Foreign-Trade Zone hoặc Free Trade Zone FTZ, Free Economic Zone FEZ, Free Economic Territory FET, Export Processing Zone EPZ, Special Customs Control Area, Customs Zone, hay International Zone, v.v. và v.v. Trong rừng tên gọi trên, ắt đại đa số người Việt nhận ra ngay cái khu kinh tế đặc biệt mang tên Export Processing Zone EPZ (tức “khu chế xuất”) đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay. Trong khi đó, dù Hoa Kỳ có hơn 230 khu kinh tế đặc biệt chính với 400 khu kinh tế đặc biệt phụ mà khu đầu tiên xuất hiện năm 1937, họ vẫn cứ vui vẻ với tên gọi tiếng Anh Foreign-Trade Zone FTZ, tức Khu Ngoại Thương, với một phong cách triết nhân rằng con người hay dùng thời gian nhàn rỗi của kẻ thất nghiệp để đẻ ra các tên gọi mỹ miều, biến thiên từ manager sang general manager sang director sang managing director sang general director sang cái mới nhất là CEO cho oách rồi sang cái quái gì nữa thì cũng chỉ là tên gọi khác nhau của anh giám đốc, mà cái chính duy nhất là công ty có ra chi không, và tương tự, cái khu kinh tế đặc biệt có ra chi không chứ chẳng phải nó nên có chữ tiếng Anh viết tắt là gì, EPZ, FTZ, hay mới nhất là SEZ cho thật oách mà chỉ để lùng bùng lổ tai.

Thế là sau thời gian dài loài người tạo ra hết hình thức khu kinh tế đặc biệt này đến khu kinh tế đặc biệt kia, người Tàu không cam tâm bắt chước thiên hạ nên đã ra sức  kiếm tìm, thiết kế, rồi hình thành một hình thức mới khác của khu kinh tế đặc biệt và lần này họ đặt tên là Special Economic Zone SEZ mà tiếng Việt dịch sát nghĩa đen luôn thành Đặc Khu Kinh Tế với nội hàm chủ đạo rằng cả công việc kinh doanh và luật pháp kinh doanh đều khác biệt so với phần còn lại của quốc gia.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ là một khu vực trong một quốc gia, bản thân nó có những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt so với luật pháp chung/chính/chuẩn của chính quốc gia đó. Những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt như vậy nhằm – và chỉ nhằm – thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, với món quà ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng mang tên nhà đầu tư đương nhiên được giảm thuế rất rất nhiều và nhà đầu tư đương nhiên gia tăng thu nhập cùng lợi nhuận rất rất nhiều.

Sự khác biệt giữa các Đặc Khu Kinh Tế SEZ và các khu kinh tế đặc biệt là ở chỗ:

(a) Các khu kinh tế đặc biệt có trước các Đặc Khu Kinh Tế SEZ;

(b) Các khu kinh tế đặc biệt ở Việt Nam không được gọi là đặc khu kinh tế, mà được gọi theo cách dịch ra tiếng Việt các cụm từ tiếng Anh của EPZ trong tập thể các cụm FP, FZ, FTZ, FEZ, FET, EPZ, v.v.

(c) Các khu kinh tế đặc biệt cũng nhận được các ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng về thuế và lợi nhuận nhưng phải hoạt động bên trong tường rào của một khu đất riêng mà theo địa giới hành chính địa phương được gọi là “Khu”, trong khi các Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoạt đông tại một vùng mà theo địa chính trị trung ương quốc gia được gọi là “Đặc Khu”;

(d) “Khu” của các khu kinh tế đặc biệt có một “ban quản lý” do địa phương của thành phố hay tỉnh lập nên các “Khu” ấy cử đến làm công tác quản lý bình thường của các công chức cấp cao bình thường; trong khi Đặc Khu Kinh Tế SEZ có “ban lãnh đạo” với luật pháp riêng; và

(e) Các nhà đầu tư tại các khu kinh tế đặc biệt chỉ có những nghĩa vụ về trả tiền thuê đất, đóng thuế – kỳ dư, không có bất kỳ quyền hành nào khác vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp chung của nước sở tại; trong khi đó, các nhà đầu tư tại các Đặc Khu Kinh tế SEZ được hành xử quyền hạn vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp

2) Đặc Khu Kinh Tế SEZ Trên Thế Giới Có Giá Trị Gì?

(a) Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên:  Như đã sơ giải ở trên, Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên trên thế giới được cho là do Trung Quốc hình thành tại Shenzhen (Sen Gien – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Thâm Quyến” hoặc “Thẩm Quyến”) dưới thời Deng Xiaoping (Đen Xạo Bình – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Đặng Tiểu Bình”) vào những năm đầu của thập kỷ 1980. Mô thức này thành công vượt bậc và dần được lũ lượt noi theo bởi Ấn Độ năm 2007 và lan ra nhiều nước trên thế giới.

(b) Sự Bùng Nổ Của Các Đặc Khu Kinh Tế SEZTheo số liệu không đồng nhất về năm thống kê ở từng quốc gia thì đơn cử vài ba  nước sau có nhiều Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Tên Quốc Gia  –  Số Lượng Đặc Khu Kinh Tế SEZ  – Ghi Chú

Bangladesh   46

Cambodia     22

Ấn Độ          187    ngoài 634 SEZ đã được cấp giấy phép thành lập

Philippines   208

Ba Lan          44

Thái Lan       14

Ukraine         12

(c) Chủ Nhân Các Đặc Khu Kinh Tế SEZCần lưu ý rằng nhiều quốc gia khác như Bắc Hàn (Triều Tiên), Cuba, Congo,  Indonesia, Iran, Jamaica, Malaysia, Mexico, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Panama, Ai Cập, Hy Lạp, v.v. mỗi nước đều có từ 1 đến vài chục các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong đó đơn cử Uzbekistan và Zambia có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nhưng tất cả nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc vì không bất kỳ nhà đầu tư quốc tế nào khác chịu tìm đến “đầu tư” cả.

(d) Tên Gọi Đặc Khu Kinh Tế SEZ:  Cũng cần lưu ý rằng hơn 70 quốc gia khác (8 ở Châu Phi, 19 ở Châu Á, 29 ở Châu Âu, và 14 ở Châu Mỹ) trong đó có nhiều cường quốc và siêu cường quốc đơn cử như Hàn Quốc, Anh, Nga, và Hoa Kỳ đều không màng đến việc mở ra cái gọi là Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì họ xem những khu kinh tế đặc biệt đang có mà họ gọi là Khu Kinh Tế Tự Do/Khu Kinh Tế Ngoại Thương FEZ là đã quá đủ cho đại cuộc chấn hưng kinh tế nước nhà. Ngay cả một tiểu quốc như Bahamas nằm trong số các quốc gia giàu nhất Châu Mỹ cũng tự hào có Khu Kinh Tế Tự Do FEZ tên Freeport thành lập từ năm 1955 mà không hề đoái hoài đến việc bắt chước dựng xây Đặc Khu Kinh Tế SEZ mô hình Trung Quốc.

(e) Những Đặc Khu Kinh Tế SEZ Như Shenzhen Thành Công Như Shenzhen: Điều oái oăm là không bất kỳ ai có thể nêu tên một Đặc Khu Kinh Tế SEZ nào khác thành công tương tự cái SEZ tại Trung Quốc, trong số hơn 4300 Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động trên toàn cầu cả.

(f) Tuyên Bố Của Chuyên Gia Về Số Phận Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: Nhà tư vấn chính sách quốc gia Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước cả quyết rằng Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoàn toàn không có giá trị chung đồng nhất đồng dạng đồng phục trên toàn cầu. Mục A.2.b. ở trên chứng minh hùng hồn rằng số lượng nhiều trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở một quốc gia không hề làm quốc gia ấy cường thịnh mà trái lại dường như đẩy chính quốc gia đó vào nẽo đường vô định bấp bênh.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được đặt kỳ vọng sẽ cuốn hút đầu tư nước ngoài, phát triển kỹ nghệ nội địa, và thúc đẩy cải cách thể chế, mà tất cả nhằm đến sự tham gia tích cực vào nền kinh tế toàn cầu. Nhân tố hỗ trợ sự thành công của SEZ bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam có chấp nhận mô thức quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập áp dụng cho nhân vật được phân công quản lý một Đặc Khu Kinh Tế SEZ; và (ii) nếu không chấp nhận nguy cơ phát sinh nhà nước trong nhà nước/chính quyền trong chính quyên/lãnh thổ trong lãnh thổ từ thói quen táy máy tiêu cực lạm quyền của tuyệt đại đa số các cán bộ cao cấp một khi lọt thỏm vào môi trường quyền lực kinh tài, liệu Việt Nam sẽ hủy bỏ kế hoạch Đặc Khu Kinh Tế SEZ, biến đổi SEZ thành một mô thức mới với tên mới, hay chấp nhận sự tham vấn của chuyên gia Hoàng Hữu Phước như nêu ở phần D dưới đây về hình thức SEC?

B- Đảng Cộng Sản, Chính Phủ, Và Quốc Hội Việt Nam Đã Sai Ra Sao Đối Với Dự Án Luật “Đặc Khu Kinh Tế?

1) Sai Về Nhận Thức Thực Tế

Trước sự thành công của Trung Quốc khi đẻ ra mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ với cái tên Shenzhen chấn động thế giới kinh tài, hầu như quốc gia nào cũng cố mở ra cho mình ít nhất là một SEZ. Thậm chí có những quốc gia mở từ 200 SEZ trở lên ở nước mình, trong đó có Ấn Độ là nước đang sở hữu bom nguyên tử và Philippines quốc gia công giáo đang dưới quyền cai trị của vị tổng thống từng chửi “đù mẹ Đức Giáo Hoàng”.

Việc Việt Nam bắt chước mở SEZ sau thiên hạ cho thấy đã có sự cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phục vụ quốc gia đại sự chỉ có thể được tiến hành bởi những đấng anh tài trí hóa cao, trong khi Đảng chỉ có các viện nghiên cứu hoành tráng có nhiều bàn ghế cho nhiều người ngồi làm việc mà tất cả những người này không ai là bậc anh tài trí hóa cao, mà bằng chứng là Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội đã bị dắt mũi vào mớ lùng nhùng rối ren rối rắm rối tung rối loạn của dự án Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Thực tế Shenzhen thành công đã cung cấp 6 thực tế sau mà tiếc thay chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra được từ lâu:

a) Thực Tế 1: Chỉ Có Shenzhen Của Trung Quốc Thành Công

Trên blog Aspiration của nền Yahoo!3600 của Hoàng Hữu Phước cách nay 20 năm viết các tiểu luận kinh tế/chính trị/giáo dục/xã hội/kinh doanh chỉ bằng tiếng Anh, thì bài “People Say Chindia, I Say Vietnam” (tạm dịch: Quý Vị Cứ Khen Chindia! Tôi Khuyên Quý Vị Nếu Khôn Hãy Vào Việt Nam!) nêu rõ nhận định của Hoàng Hữu Phước rằng giới hàn lâm quản trị kinh doanh quốc tế Âu Mỹ đã hoàn toàn sai khi đánh giá Trung Quốc và Ấn Độ (China + India = Chindia) là hai thị trường duy nhất mà giới sản xuất tư bản toàn thế giới nên đổ xô vào ngay để chụp lấy thời cơ vàng lúc hai nước bảo thủ này trải thảm đỏ mở toang cửa mời đón đầu tư. Thời cơ vàng ấy là: sản xuất tại Chindia với ưu đãi về thuế quan thấp với lượng “khách hàng” sẵn có tại chỗ mỗi nơi có hàng tỷ người dân, khỏi phải đi bán ở đâu xa. Hoàng Hữu Phước đã biện giải rằng đó là nhận định ngu xuẩn của giới hàn lâm Âu Mỹ, vì rằng việc đổ xô vào Chindia sẽ dẫn đến hai nghịch lý và một kết luận sau:

(i) Ấn Độ thất bại và Âu Mỹ thất bại vì môi trường văn hóa đặc thù của Ấn tự thân chất chứa những bất an xung đột thường trực thường xuyên về chính trị/xã hội/tôn giáo/an ninh, chưa kể mưu lược của Ấn chỉ nhằm vào điều “sản xuất thay thế nhập khẩu” mà Hoàng Hữu Phước luôn cho là ngu đần tự hủy, còn tư thế của Ấn Độ luôn cho rằng ta đây giỏi giang uy trấn thiên hạ nên luôn xét nét các hoạt động của nhà đầu tư hải ngoại, cộng với việc lãnh đạo quốc gia hoặc không có thực quyền, hoặc có quyền hạn luôn bị các đảng đối lập chính trị thách thức gây cản trở hoặc dọa đe thay thế;

(ii) Trung Quốc thành công và Âu Mỹ thất bại vì thuận lợi tuyệt hảo của Trung Quốc là ở chỗ chính quyền Trung Quốc nắm toàn quyền lãnh đạo quốc gia, tạo thế ổn định tuyệt đối về chính trị mà Hoàng Hữu Phước khi trả lời phỏng vấn của Đài Châu Á Tự Do kể cả khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và gần đây là trả lời phỏng vấn của Đài Phố BolsaTV đã từng nêu rằng các nhà đầu tư Mỹ ưa chuộng sự ổn định chính trị, không có biểu tình bạo loạn ở Việt Nam và do đó sẽ giúp Việt Nam nắm bắt thông tin tình báo hầu đập tan các manh động của bọn chống Cộng nhằm gây rối loạn tại Việt Nam gây hại cho đại cuộc làm ăn của họ. Suy ra tương tự, Âu Mỹ hóa ra giúp sức cho Trung Quốc ổn định hơn, dần có uy hơn trên trường kinh tế thế giới một khi hàng hóa hàng hiệu Âu Mỹ tràn ra thế giới với dòng chữ Made in China vinh diệu. Còn mưu lược của Trung Quốc dễ thành công ở chỗ Trung Quốc trong tư thế hoàn toàn yếu về sản xuất công nghiệp và sản xuất tiêu dùng nên các nhà đầu tư tiến vào đã mất cảnh giác khi thấy mình được kính trọng và mình đến để truyền dạy kinh nghiệm của các bậc thầy. Các dự án đầu tư đều ở quy mô từ lớn đến rất lớn đã nhanh chóng đem đến các nhà đầu tư nước ngoài những nguy cơ loại một lần và mãi mãi tức mang hệ lụy kết liễu như bổng dưng giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu lực lượng lao động khổng lồ có tay nghề cao, còn việc ăn cắp công nghệ tại các nhà máy Âu Mỹ đang mọc lên hơn nấm giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều xuất hiện các tổ hợp sản xuất hoặc các công ty tư nhân nội địa tung ra các sản phẩm có thiết kế tương tự với quảng cáo chúng tốt hơn các sản phẩm của các nhà máy Âu Mỹ và ở mức giá hủy diệt; và khi đã mất khách hàng thì các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải bán tháo bán đổ nhà xưởng thiết bị chạy khỏi Trung Quốc khiến Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu các nhà máy hiện đại sản xuất hàng hóa tung ra tràn ngập ASEAN, vừa biến Trung Quốc chính thức thành quốc gia công nghiệp hàng hóa hiện đại lấn chiếm thị trường hàng hóa từng có của các hãng thương hiệu lớn của Âu Mỹ, vừa lũng đoạn khống chế thị trường hàng hóa các nước ASEAN, biến Trung Quốc chính thức thành cường quốc kinh tế,bước đầu cho đại cuộc biến đồng Nhân Dân Tệ thành đồng tiền tự do chuyển đổi trong giỏ tiền tệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB, ngang hàng với các Đồng Mỹ Kim, Đồng Đức Mã, Đồng Bảng Anh, Đồng Phật Lăng, và Đồng Yên Nhật, v.v.

(iii) Trung Quốc thành công và Việt Nam thất bại vì mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ là do Trung Quốc đề ra trên cơ sở quyền năng thực tế, quyền năng tiềm tàng, quyền lực thực tế, quyền lực tiềm tàng của riêng Trung Quốc trong thế lực tuyệt hảo của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, vào đúng thời điểm các siêu cường Âu Mỹ đột nhiên ngu xuẩn rơi vào bẫy của thiên định rằng phải ngu xuẩn để tạo đà cho sự vùng lên của Trung Quốc. Mô hình ấy hoàn toàn không phù hợp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Bài tập cho trận đấu của võ sĩ quyền anh hạng nặng hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp tham dự Grand Slam không bao giờ dành cho trẻ em mười tuổi tập quyền anh tại nhà văn hóa thiếu nhi Thành Phố Hồ Chí Minh hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp Challenger. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Trung Quốc phát triển đè bẹp thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Việt Nam mời mọc thêm các đầu tư nước ngoài mà “nước ngoài” ấy có cả Trung Quốc vốn sẽ đương nhiên chiếm lĩnh vị trí hoặc mạnh nhất hoặc độc tôn khi lấy thịt đè người đuổi xua toàn bộ các nhà đầu tư các nước khác ra khỏi các SEZ ấy của Việt Nam.

b) Thực Tế 2: Không Nên Có Các Đặc Khu Kinh Tế SEZ Ở Bất Kỳ Quốc Gia Nào Khác

Từ thực tế số 1 ở trên, có thể nói Đặc Khu Kinh Tế SEZ do Trung Quốc khai sinh chỉ có thể thành công tại Trung Quốc. Sự thành công tương tự Shenzhen có thể lặp lại tại tối đa từ một đến hai SEZ khác cũng tại Trung Quốc với điều kiện những SEZ này cũng xuất hiện hoặc cùng thời hoặc không có khoảng cách lớn về thời gian so với Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mạnh mẽ sắt máu như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mưu lược và có thế mạnh kinh tài tự thân như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có lượng khách hàng nội địa khổng lồ như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực đàm phán “ngang cơ” với các siêu cường trong giải quyết các vấn đề địa chính trị như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực trấn áp làm chủ khu vực về kinh tế như Trung Quốc đối với ASEAN, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như thiên hạ sau khi đọc các phân tích này của Hoàng Hữu Phước, sẽ hoặc không đoái hoài đến các SEZ ở Việt Nam hoặc sẽ tận dụng các ưu ái ưu đãi ưu tiên của Việt Nam để vào Việt Nam hưởng thụ, hưởng lợi, rửa tiền, bần cùng hóa Việt Nam, thay đổi chế độ Việt Nam trước thời điểm “99 năm” chỉ bằng cách rời bỏ các SEZ sau vài năm nghĩa là khiến Việt Nam sụp đổ về kinh tế do mất trắng toàn bộ ngân khố ngân sách quốc gia đã bỏ vào đầu tư hạ tầng cho các SEZ và phải chịu khối nợ công khổng lồ của quốc gia, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ, biến Việt Nam con nợ thành một thứ “chư hầu” hoặc của chủ nợ Mỹ hoặc của chủ nợ Tàu hoặc của bất kỳ ai – kể cả Cambodia – mà đã từ lâu họ không còn quan tâm đến việc mở các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội Việt Nam nay trước các thấu thị của Hoàng Hữu Phước có sẽ làm một việc duy nhất đúng là quẳng dự án Luật Đặc Khu vào sọt rác hay không?

c) Thực Tế 3: Shenzhen Thành Công Vì Không Có 4.0

Cuối cùng, song lại có tính thời sự bậc nhất: Shenzhen thành công nhờ là một SEZ của các tập trung đầu tư vào những phạm vi công nghệ kỹ thuật của thời đại cách xa thời 4.0. Cần lưu ý rằng không phải cứ do Đen Xạo Bình Deng Xiaoping chi đạo là các Đặc Khu Kinh Tế SEZ cùng thời và cùng khu vực với Shenzhen như Zhuhai, Shantou và Xiamen tức ven bờ biển phía Nam gần Hong Kong và Macao, cũng thành công tương tự Shenzhen.

Từ một làng chài với dân số chưa đến 30.000 người, Shenzhen trở thành một thành phố với 12 triệu dân theo số liệu năm 2015. Như vậy, dân số gia tăng đáp ứng nhu cầu lao động tại các cơ sở sản xuất chế tác y phục, đồng hồ, nữ trang, thiết bị điện tử, kim khí điện máy, v.v., tức những ngành có nhu cầu từ cao đến rất cao về lực lượng lao động.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) những ngành Việt Nam đang tưởng tượng ra rằng các nhà đầu tư sẽ mang vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam là gì, có thuộc loại cần nhiều lao động không; (ii) có cần phải dành cho họ sự ưu đãi kéo dài “99 năm” cho các ngành nghề đó không; và (iii) nếu các Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam thành công thành công đại thành công thì quy mô hạ tầng của Bắc Vân Phong, Vân Đồn, và Phú Quốc sẽ cơi nới lấn ra như thế nào khi dân số “đất lành chim đậu” tăng lên mỗi nơi hàng chục triệu con người như Shenzhen? Trung Quốc phát triển SEZ để biến làng chài thành thành phố vĩ đại tầm cỡ trung tâm tài chính thế giới. Việt Nam xây dựng SEZ để có các sòng bạc và động đĩ phục vụ 4.0 chăng?

d) Thực Tế 4: Shenzhen Không Phải Là Thiên Đường

Shenzhen đang đối mặt với những vấn nạn nhức nhối về nhân mãn với 9 triệu dân lao động nhập cư, và nhiều dân ngụ cư bất hợp pháp, tệ nạn tham nhũng, tình trạng ô nhiễm môi sinh, sự mọc lên các khu ổ chuột, điều kiện lao động tệ hại, và sự bất lực của chính quyền trong xử lý các vấn nạn này. Thậm chí, cách xử lý bao gồm cả biện pháp ngăn chặn gia tăng nhập cư bằng cách bãi bỏ các cắt giảm thuế từ năm 2000 khiến từ dạo ấy đã không còn tồn tại khái niệm hay ý niệm gì về Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Shenzhen. Với một Trung Quốc phát triển kinh tế toàn diện và đa dạng, các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã không còn có ý nghĩa gì trong thực tế.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam phải chăng đang quan tâm đến cái thứ mà ngoài Shenzhen chưa có bất kỳ SEZ nào khác trên toàn thế giới thành công tương tự, và (ii) Việt Nam với những nhà lãnh đạo tài ba như của Thành Phố Hồ Chí Minh bó tay thúc thủ – không phải thất thủ – trước kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch nhưng sẽ đột biến trở thành nhà lãnh đạo “mĩu” tài ba thực thụ nếu được Đảng treo trước mặt miếng mỡ to tướng mang dòng chữ SEZ đảm bảo cái vấn nạn muôn đời của kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch sẽ là chuyện lạ của ai khác chứ không phải của lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ?

e) Thực Tế 5: Shenzhen Thành Công Vì Là Đối Trọng Ý Chí Quyền Lực Của Trung Quốc Với Hong Kong

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được khai sinh tại Trung Quốc dựa theo chiến lược tạo nên một đối trọng mang tính ý chí quyền lực đầy ngạo nghễ đối với Hong Kong, làm hạ phẩm giá của Vương Quốc Anh và thế giới tư bản phương Tây khi cận kề thời diểm giao trả “nhượng địa” Hong Kong cho Trung Quốc. Ý chí quyền lực không bao giờ là vũ khí của bất kỳ ai. Lịch sử nhân loại đã chứng minh ý chí quyền lực chỉ có nơi những nhà độc tài bẩm sinh. Thế thì, ý chí của Việt Nam là gì, và liệu đó có phải là xây dựng Phú Quốc thành một đối trọng với Singapore? Thế còn Vân Đồn là đối trọng với ai, và Bắc Vân Phong là đối trọng với ai? Thiếu vắng một đối trọng cụ thể, không thể có được chất xúc tác cho manh nha một thành công,như đã được minh chứng từ 4.300 SEZ trên toàn thế giới, mà số lượng mới nhất có thể là 4.303 nếu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc được hình thành và xuất hiện trong danh sách cập nhật của thế giới.

f) Thực Tế 6: Shenzhen Thành Công Nhờ Sức Mạnh Nội Tại Của Trung Quốc

Với sức mạnh nội tại tổng hợp của kinh tài, kế hoạch, quyết tâm chính trị, nguồn nhân lực lao động, dư địa tài nguyên, và ý chí khởi nghiệp, Shenzhen đã ươm nghén thành công các đại công ty lừng danh thế giới như Shenzhen Electronics Group SEG, Beijing Genomics Institute BGI, Build Your Dreams BYD, Zhongxing New Telecommunications Equipment ZTE, Huawei, và Tencent, v.v. Có thời điểm 70% tổng lượng điện thoại thông minh toàn thế giới được sản xuất tại các Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Trung Quốc và 80% điện thoại thông minh toàn Trung Quốc xuất phát từ Shenzhen.

Đặc biệt, Shenzhen thành công do Trung Quốc sẵn có vô số các cơ sở cung ứng công nghiệp phụ trợ khiến những nhà đầu tư vào Shenzhen không bao giờ phải tự thân vận động kiếm tìm hay nhập khẩu nhiêu khê.

Cần lưu ý rằng Shenzhen thành công hoàn toàn không có nghĩa tất cả các mục tiêu đều đã đạt được. Những thất bại của Shenzhen đã được che đậy bằng (i) tài lực dồi dào khổng lồ của Trung Quốc, và (ii) hình ảnh “phần cứng” hoành tráng của cơ sở hạ tâng. Thất bại của Shenzhen bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – không bảo đảm có công việc tốt, không bảo đảm có lương cao, không bảo đảm có phát triển công nghiệp hiện đại; chưa kể phát sinh vấn nạn quản lý kém đầy tiêu cực.

Tất cả làm bật một chân lý hiển nhiên rằng việc bỏ tiền khổng lồ đầu tư vào hạ tầng chuẩn bị cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thu thuế cực ít từ việc hạ mức thuế thấp nhất trong thời gian cực dài kèm các ân hạn, và hy sinh quyền lợi/phúc lợi của người lao động do luật pháp chung của quốc gia không thể can thiệp vào hoạt động của nhà đầu tư trong các SEZ, v.v., khiến gia tăng khủng khiếp nợ công, và việc kinh tế địa phương cùng kinh tế quốc gia phát triển nhờ có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ chỉ là ảo tưởng để dối người và lừa mỵ nhân dân.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) sức mạnh nội tại của Việt Nam là gì, (ii) các doanh chủ đại gia Việt Nam có vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Việt Nam hay Việt Nam chỉ chầu chờ các nhà đầu tư nước ngoài bất kể đó là nhà đầu tư nhỏ hay nhà đầu tư lớn của Tàu, và (iii) liệu các SEZ Việt Nam sẽ ươm nghén thành công các đại công ty Việt Nam lừng danh thế giới tương tự kỳ công của Shenzhen?

2) Sai Về Nhân Lực

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hoàn toàn không có bất kỳ ai là nhân sự phù hợp cho các chức danh quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Từ khi Việt Nam thống nhất 1975 đến nay, Đảng chưa hề công bố thành quả xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân và trong nội bộ cán bộ Đảng/Đoàn. Chưa hề có bất kỳ ai được vinh danh và tưởng thưởng. Tất cả các lãnh đạo, tân lãnh đạo, ứng viên nghị viện, v.v., đều đột nhiên xuất hiện với bản lý lịch chỉ ghi những chức vụ đã kinh qua mà đạo đức cao nhất chỉ được thể hiện bằng con số bao nhiêu năm tuổi Đảng trên chiếc huy hiệu mà thôi.

Con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân tất nhiên phải trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình chứ không trên cơ sở hủy phá toàn bô nền tảng đạo đức truyền thống gia đình để xây dựng con người hoàn toàn mới hoàn toàn “thoát ly” có đặc điểm lạ xa với và phỉ nhổ vào nền tảng đạo đức truyền thống gia đình vốn bao gồm các thứ đạo đức đạo lý đạo nghĩa của lòng hiếu thảo, sự hiếu thuận, đức thanh liêm, tâm hướng chân thiện mỹ và bi trí dũng. Những con người trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình ấy tiếp nhận và công nhận định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa để nâng lên tầm vóc cụ thể vì nước vì dân, và đó là con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề có được dù chỉ một người, bất kể đó là trong xã hội hay trong Đảng/Đoàn/Hội/Đội hay Mặt Trận.

Đảng đã không xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tuyệt đối ưu việt của chủ nghĩa xã hội dân tộc thiên Khổng do Hoàng Hữu Phước khởi xướng và cổ súy. Thiếu vắng yêu tố cốt lõi của bản sắc hiền nhân, con người do Đảng tuyên giáo từ các đội hậu bị của Đảng đã có những lỗ hổng và chỗ khuyết nên thiếu vắng  lòng ái quốc, tính liêm khiết kiên trung, đạo nghĩa vì nước vì dân, cùng trí dũng chính đạo, dẫn đến tất cả các Đảng viên chức sắc cao cấp của Thành Phố Hồ Chí Minh là hoặc tội phạm hoặc quân bất tài vô dụng vô tâm bó tay để mặc cho Thành Phố Hồ Chí Minh lụn bại suy đồi dưới sức nặng thống khổ của người dân nạn nhân của các mưu đồ chiếm đoạt đất đai từ những dự án chiến lược cấp quốc gia, mà ngày nay giới lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ giỏi mỗi việc ăn nói hùng hồn về chính quyền đô thị, về thành phố thông minh, về cái bùa chú huyễn hoặc mông muội bốn chấm không, về tự chủ tài chính, về xây dựng các thành phố trong Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v., tức toàn những thứ vô dụng không bao giờ biến Thành Phố Hồ Chí Minh thành một Tân Singapore, đơn giản vì Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ có toàn những cán bộ Đảng bất tài vô đức, hoàn toàn thiếu vắng cán bộ thuộc đẳng cấp tài đức vẹn toàn.

Đã không thể có nhân lực tài đức vẹn toàn, có sự giáo dục của gia đình (tức được cha mẹ hiền đức giáo dục) và có giáo dục gia đình (tức giáo dục con cái nên người trong gia đình mình), có kinh qua kinh nghiệm duy nhất đúng để rèn luyện trở thành lãnh đạo quốc gia trong tư thế là chiếc chìa khóa của cường thịnh của quốc gia, thì Đảng không thể bổ nhiệm bất kỳ nhân lực nào vào vị trí lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ – nếu chúng vẫn được Đảng cho hình thành.

Và nếu Đảng vẫn bất chấp lời khuyên thấu thị luôn luôn chính xác của Hoàng Hữu Phước, vẫn cứ cho thực hiện việc thành lập các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, Đảng nhất thiết phải công bố danh sách nhân lực dự kiến cho các chức vụ quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ để lấy ý kiến của người dân nhằm phát hiện những chi tiết tiêu cực từng nảy sinh nhưng đã bị dấu nhẹm trong quá trình học tập và công tác của mỗi nhân sự, và đối với nhân sự Đảng buộc phải lựa chọn do không thể có nguồn khá hơn thì nhân sự ấy nhất thiết phải được Hoàng Hữu Phước phỏng vấn và trực tiếp làm công tác tuyên giáo, thứ công tác đã được thực tế chứng minh là thất bại cả ở cơ quan tuyên giáo của Đảng và ở Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Các tổng công ty nhà nước, các ngân hàng của nhà nước, các cơ quan hành chính công quyền đều đã thất bại hoàn toàn với bao nhân sự cấp cao của Đảng đào thoát, bị bắt giam, bị kết án, v.v.

Sự thật ấy không được phép xảy ra với nhân sự lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì đã có lợi ích từ sự rút những kinh nghiệm nhãn tiền ngay trong thập kỷ này vốn có thể giúp chặn ngăn hữu hiệu sự bần cùng hóa quốc dân từ sự sụp đổ các dự án lớn của quốc gia này nếu đặt vào tay những phiên bản điếm nhục mang tên Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, Vũ Đình Duy, v.v., cùng những con tương cận.

3) Sai Về Ngôn Ngữ

Thật là rồ dại khi Quốc Hội nhũn xèo không tát vào mồm thằng nghị sĩ đần độn nào đã phát âm trọn vành rõ chữ cụm từ “nhượng địa”. Việc sử dụng cụm từ ấy cho thấy hoặc (a) thằng ấy dốt tiếng Việt, hoặc (b) thằng ấy dốt Sử, hoặc (c) thằng ấy không hề nhận ra mức độ nhạy cảm của ngôn từ hắn sử sụng tác động lên tình hình an ninh chung – thậm chí bản thân có bị Hoàng Hữu Phước mắng là “ngu hơn chó” thì hắn ắt cũng đực mặt ra cười ngu dại, hoặc (d) thằng ấy cố tình mớm cho bọn chống Việt/Đảng/Chính Phủ cơ hội bằng vàng chống đối cụ thể làm lung lay tận gốc rể chế độ làm nhục chế độ sẽ tiến tới lật đổ chế độ sau khi chứng kiến lực lượng an ninh vũ trang vất bỏ quân trang quân phục vũ khí run sợ đầu hàng trước đám người đang hùng hổ xuống đường đốt phá, hoặc (e) thằng ấy hội đủ cả 4 nội dung trên.

Ngoài ra, việc bày ra nội dung “99 năm” trong dự thảo để chứng minh Việt Nam quá ưu ái ưu đãi ưu tiên đối với các nhà đầu tư đã cho thấy Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV  đã lâm vào tình trạng hoàn toàn thiếu vắng một nghị sĩ có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Dộ/Người Dân/Dân Tộc để chặn ngăn trên hội trường tất cả những gì thuộc vô tình ngu xuẩn hoặc cố ý gian tà của bất kỳ nghị sĩ nào khác.

Thêm vào đó, việc đề ra cụm từ “99 năm” ngay cả khi chẳng bị lợi dụng để lái sang nội hàm “nhượng địa” cũng cho thấy trình độ làm luật của các nghị sĩ Khóa XIV đang có vấn đề nghiêm trọng do rời xa các thực tế sau:

(a) Thời gian dài cỡ 99 năm là cách nhà quê nhất để thể hiện sự ưu ái ưu đãi ưu tiên của một quốc sách;

(b) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy tư duy hồng hoang lạc hậu trước tình hình phát triển công nghệ toàn cầu;

(c) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy hoặc sự ngu khờ hoặc sự thơ ngây hoặc sự giả nai của các nhà làm luật cố tình lờ đi sự thật là tính theo xác xuất-thống kê thì vẫn có khả năng hoặc (i) các SEZ Việt Nam sẽ vắng bóng các nhà đầu tư, hoặc (ii) các SEZ Việt Nam chỉ có các nhà đầu tư Trung Quốc tức những thế lực hùng mạnh nhất thê giới về vốn đầu tư; mà nếu rơi vào trường hợp thứ nhì thì điều gì sẽ xảy ra sau một thế kỷ các nhà đầu tư ấy của Trung Quốc ăn nằm dầm dề tại các SEZ với sự sinh sôi nảy nở các hậu duệ công dân Việt Nam lai Tàu hình thành những tân địa phương mang bản sắc phi Việt nơi những địa danh mà thế kỷ trước đó còn thuần Việt;

(d) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam, cùng tận dụng lợi thế tiếp giáp hai “nhượng địa” Hong Kong và Macao theo cách tay đua xe đạp chuyên nghiệp luôn núp bóng tay đua phía trước để tận dụng lợi thế quán tính tự nhiên lao lên với ít sức lực và ít sức cản phá hơn, thì Việt Nam lại theo lối tư duy cũ rích muốn mỗi khu vực Bắc – Trung – Nam mỗi nơi có một SEZ như Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc để làm lực đẩy cho toàn khu vực. Cách của Việt Nam sẽ thất bại vì không tạo thế núp gió đua xe đạp cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Đen Xạo Bình quan tâm đến việc bắt buộc phải có ít nhất một SEZ thành công mỹ mãn, tương tự quan tâm đến việc đội đua xe đạp Trung Quốc phải có 4 cua-rơ mà nhiệm vụ của 3 trong số đó phải bảo đảm 1 còn lại sẽ đoạt cúp – và Shenzhen đã thành công. Còn lãnh đạo Việt Nam – theo vấn kế của các nhà tư vấn thuộc đẳng cấp bị Hoàng Hữu Phước khinh miệt – lại quan tâm đến việc cử 3 cua-rơ mỗi người tham dự một giải đua xe đạp khác nhau và mạnh ai nấy hãy tự thân vận động để may ra có ai đó sẽ đoạt được cúp.

(e) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam hoàn toàn tránh xa vùng biển Đông Hải (East China Sea – Biển Hoa Đông) và Hoàng Hải (Yellow Sea) luôn căng thẳng với Nhật Bản và Hàn Quốc, thì Việt Nam lại tự nguyện đưa đầu vào tử địa. Khi căng thẳng ở Biển Đông (tức South China Sea – Biển Hoa Nam) trở thành đỉnh điểm xung đột vũ trang, Vân Đồn có nguy cơ bị Trung Quốc xóa sổ chỉ sau bảy phút tấn công, Bắc Vân Phong có nguy cơ bị san thành bình địa từ sự tấn công của hỏa tiễn và bom đạn Trung Quốc từ các chiến hạm/hàng không mẫu hạm/trận địa pháo phía các hải đảo Trung Quốc đã chiếm đóng thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, còn Phú Quốc vẫn còn đó chứng tích lịch sử bi tráng của sự xâm lược từ Kampuchea năm 1975 nghĩa là Phú Quốc vẫn thuộc loại vulnerable tức phơi mình trần trụi trước hiểm họa xâm lược. Shenzhen thành công nhờ núp gió và hoàn toàn không có nguy cơ bị tác động hủy phá từ bên ngoài.

99 năm”, do đó, là một điểm sai nghiêm trọng trong sử dụng ngôn từ lập pháp của Quốc Hội Khóa XIV.

4) Sai Về Tổ Chức & Quy Trình Luật Hóa

Quy trình luật hóa tức quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam để tự động đưa ra ấn nút thông qua một dự án luật cho thấy đã không có sự phân biệt về tầm quan trọng khác nhau của từng dự án luật.

Quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam đã hoàn toàn bị phá sản đối với dự án “Luật Đặc Khu”.

Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV nay đã lâm vào tình trạng hoàn toàn tê liệt do thiếu vắng vị nghị sĩ duy nhất có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Độ/Người Dân/Dân Tộc để đứng lên yêu cầu Quốc Hội cẩn trọng tuyệt đối khi xem xét dự án Luật Đặc Khu.

5) Sai Về Quy Trình Chuyên Nghiệp

Quốc Hội Việt Nam cũng đã sai về quy trình chuyên nghiệp.

Khi một lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng, dứt khoát Việt Nam phải cậy nhờ đến sự chữa trị của chuyên gia, bất luận chuyên gia ấy là người nước ngoài và thuộc quốc gia thù địch. Lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng mà phải yêu cầu được chữa trị bỡi một y sĩ đảng viên Cộng Sản do Đảng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, và do Đảng dùng tiền thuế của dân để cử sang nước ngoài học tập, và đang là lãnh đạo cao cấp một bịnh viện hàng đầu của Nhà nước tại Việt Nam, thì đó không là quy trình chuyên nghiệp.

Quốc Hội Việt Nam là cơ quan lập pháp, nhưng không vì vậy mà cho rằng các nhà lập pháp đều biết rõ tất cả các vấn đề có liên quan đến mỗi dự án luât. Do vậy, việc tham vấn ý kiến chuyên gia chính là quy trình chuyên nghiệp của công tác lập pháp. Song, vấn nạn của Việt Nam gồm (a) tất cả các cơ quan của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đều cho rằng đã có sẵn lực lượng “chuyên gia” lúc nhúc dưới trướng bất kể sự thật là các “chuyên gia” này là đảng viên và không hề được mời mọc phỏng vấn lựa chọn từ những nhân vật nổi tiếng mà nhân dân biết tiếng, và (b) Quốc Hội Việt Nam đã mời một doanh nhân luật gia nước ngoài đến báo cáo với Thường Vụ Quốc Hội về Hiệp Định TPP bất kể sự thật rằng chính doanh nhân luật gia nước ngoài ấy đã thỉnh mời nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đến phát biểu bằng tiếng Anh về Hiệp Định TPP tại buổi họp mặt với 100 doanh chủ Âu Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Không thỉnh mời tham vấn của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về dự thảo Luật Đặc Khu, Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam phải chịu liên đới trách nhiệm về các biến động xã hội làm nhục quốc thể trong thời gian vừa qua, có liên quan đến dự thảo Luật Đặc Khu ấy.

6) Vấn Đề Trách Nhiệm Đối Với Các Sai Lầm Nghiêm Trọng Của  Đảng, Quốc Hội, Và Chính Phủ

Khi việc đưa ra dự án Luật Đặc Khu với quá nhiều những sai lầm sai sót sai quấy cực kỳ nghiêm trọng tạo thời cơ cho phía chống đối ra tay chống phá quốc gia, đặt quốc gia vào tình thế bị dọa đe với nguy cơ cái đặc tính cố hữu lẽ ra vững như bàn thạch không thể bị thách đố thách thức tách rời khỏi chế độ nay lại lung lay tận gốc rể qua nỗi nhục lực lượng vũ trang an ninh quốc gia vất bỏ quân trang quân dụng quân phục đầy sân, tái lập hình ảnh quân trang quân dụng quân phục của “Ngụy Quân” vất bỏ đầy đường;

Thì việc duy nhất phải làm một cách đúng đắn là phải vất bỏ dự án Luật Đặc Khu;

Còn nếu như luôn kiên định duy ý chí rằng sức mạnh của Trung Ương Đảng đủ lấp biển dời non bách chiến bách thắng để đi đến quyết định lao tới trước, bất chấp lời răn thấu thị của tác giả bài viết này, thành lập cho bằng được ba Đặc Khu Kinh Tế SEZ – hoặc một Đặc Khu Kinh Tế SEZ theo gợi ý rút kinh nghiệm của thằng nghị sĩ đần độn cốt luật sư của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh như đã dẫn ở đầu bài – thì phải bảo đảm đáp ứng các quy định sau:

a) Kê khai chi tiết và đầy đủ toàn bộ tài sản vật chất của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ), của các thành viên gia đình của họ, để làm cơ sở sau này có thể khẳng định rằng tài sản kếch sù họ có được là chỉ từ tiền lương cao ngất của các Toàn Quyền/Sứ Quân;

b) Cấm xuất cảnh trong suốt thời gian tại vị của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ) các vị ấy và tất cả các thành viên gia đình của họ – kể cả cấm xuất cảnh du học, để bảo đảm hai điều rằng Toàn Quyền/Sứ Quân (i) chỉ có mỗi chức năng quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ chứ không tận dụng được thời cơ làm một nhà nước trong nhà nước để gây ra nguy cơ tự phong chức năng ngoại giao cấp nhà nước với nước ngoài tại nước ngoài, và (ii) không tận dụng được thời cơ quyền lực để gây ra nguy cơ tự do đào thoát khỏi Việt Nam trường hợp gây ra điều tệ hại cho Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

c) Cứ mỗi Đặc Khu Kinh Tế SEZ phải có văn bản ghi rõ và đầy đủ tên những ai trong Trung Ương Đảng (tất nhiên các vị trong Bộ Chính Trị đều thuộc Trung Ương Đảng) biểu quyết thông qua quyết định thành lập Đặc Khu Kinh Tế SEZ ấy. Việc này nhằm văn minh hóa phương thức quy trách nhiệm, để vừa (i) chấm dứt sự ẩn nấp của những kẻ bất tài vô hạnh trong áo choàng trách nhiệm tập thể chỉ làm Đảng bị ô danh, vừa (ii) thuận lợi hóa quy trình xử tội theo hướng tự động tự nhiên bất luận vị trí quyền lực của kẻ đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm hay ký chấp nhận sự bổ nhiệm phân công.

d) Ngay cả khi một Đặc Khu Kinh Tế SEZ vào cuối niên hạn “99 năm” của nó xảy ra điều tệ hại, việc luận tội những kẻ trong Đảng đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm “99 năm” trước đó vẫn phải được tiến hành để chính thức ghi rõ vào sử sách kẻ hay những kẻ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với đại cuộc quốc gia, từ đó tước bỏ các danh hiệu danh dự danh xưng đã từng ban, thu hồi các quyền lợi truyền lưu hậu thế mà con cháu của họ được hưởng trong thời gian dài từ ngân khố quốc gia tức tiền thuế quốc dân.

e) Sửa đổi Luật Hình Sự (i) xử tử hình những Toàn Quyền/Sứ Quân nào phạm các tội tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ như biển thủ tài sản Đặc Khu Kinh Tế SEZ, tham nhũng từ quyền lực quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ, đào thoát thất bại, v.v.; và (ii) tịch thu tài sản của các Toàn Quyền/Sứ Quân bị án tử hình và của tất cả các thành viên gia đình của họ. Nội dung tịch thu tài sản và áp án phạt tiền có thể theo các đề xuất năm 2015 trong các bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự”Diệt Tham Nhũng.

C- Khẳng Định Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước Về Số Phận Của Tất Cả Các Đặc Khu Kinh Tế ở Việt Nam

Tất cả các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nếu được xây dựng ở Việt Nam sẽ hoàn toàn thất bại. Đây là một nhận định mang tính thấu thị chính xác và khẳng định tuyệt đối đúng của Hoàng Hữu Phước thuộc phạm trù toàn diện, có thể kiểm chứng được, và không thể đảo ngược. Thấu thị này dựa trên các luận cứ khoa học chính xác như đã nêu ở trên và như sẽ nêu ở phần tiếp theo dưới đây.

D- Tư Vấn Cộng Sản Chủ Nghĩa Của Thạc Sĩ, Nhà Lập Pháp, Chính Trị Gia Hoàng Hữu Phước Về Mô Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế

1) Thực Trạng Nhãn Tiền Về Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Theo tờ Economist thì Đặc Khu Kinh Tế chả có quái gì là đặc biệt cả. Ngày nay Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã mọc lên hơn nấm, và cứ mỗi bốn quốc gia thì đã có tới ba quốc gia có ít nhất một Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Châu Phi đang có lúc nhúc những Đặc Khu Kinh Tế SEZ chẳng biết phải nên xử trí thế nào vì để thì vẫn không thể phát triển được, mà bỏ cũng chẳng xong. Ấn Độ thì có hàng trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ không thể phát triển, mà chỉ nội Bang Maharashtra đã có tới 60 Đặc Khu Kinh Tế suy vong.

2) Bản Chất Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: 

Như đã nêu ở trên về lý do thành công của Đặc Khu Kinh Tế Shenzhen của Trung Quốc, Đặc Khu Kinh Tế mang nội hàm đặc thù của một quốc gia cộng sản do run sợ không dám thực thi chính sách tự do hóa nền kinh tế quốc gia nên đã áp dụng hình thức kiểu miếng vải khác màu vá chằng vá đụp nơi này nơi khác làm biến dạng loang lổ tấm vải chung của cả nền kinh tế, ngõ hầu có thể kỳ vọng vào một sự thành công vật chất khả dĩ có thể lấy đó nuôi sống phần còn lại của nền kinh tế đang lất lây tồn tại trên nền tảng kinh tế yếu ớt hơn trong tay quản trị và điều hành của Nhà Nước.

3) Những Nguy Cơ Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Là Thời Cơ:

Như vậy, cùng với những điều kiện đặc thù khác – chỉ có ở Trung Quốc như đã được Hoàng Hữu Phước luận giải ở trên – mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ sẽ không những không thể thành công ở Việt Nam mà còn không thể thành công ở bất kỳ quốc gia nào khác.

Ba Đặc Khu Kinh Tế tương lai của Việt Nam sẽ đương nhiên thất bại do những nguy cơ vĩnh viễn, bất biến, mà sự liệt kê đầy đủ hơn ngoài hai nguy cơ tạm đơn cử sau có thể được nhà tư vấn chính sách Hoàng Hữu Phước thực hiện theo yêu cầu hợp đồng đặt hàng chính thức của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ Việt Nam.

Điện năng cung cấp là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang tính sống còn. Và chỉ những kẻ mông muội mơ hồ hạ đẳng mới không xem có tiềm tàng nguy cơ thiếu điện năng cho Phú Quốc khiến Đặc Khu này vỡ trận, và cho rằng Phú Quốc không cần có một nhà máy điện hạt nhân riêng công suất cực lớn vẫn có thể cung cấp đủ điện cho sự hoạt động của các nhà đầu tư công nghiệp và công nghệ.

Quyền lực thiết lập luật lệ riêng tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ luôn tạo nên nguy cơ hình thành một thứ Nhà Nước trong Nhà Nước, Quốc Gia trong Quốc Gia, Lãnh Thổ trong Lãnh Thổ.

Như đã phân tích sâu sắc sâu sát về cố tật của những kẻ được Đảng và Chính Phủ mời mọc làm cố vấn luôn rặn đẻ ra những vật thể từ mạt cưa cây giậu có xịt mùi hương chiến thuật hay chiến lược như Đi Tắt Đón Đầu, Hợp Tác Bốn Nhà, v.v. mà giá trị thực sự của các cụm từ ấy thì chỉ ngang bằng với mạt cưa mạt hạng vì thoát thai từ cây cối rẻ tiền chỉ được trồng làm rào giậu thấp chỉ có thể làm kinh tế trở thành tàn mạt.

Tương tự, đã có sự phấn khích giả tưởng nơi các nhà lãnh đạo quốc gia bằng cái mồm nhằm tung hỏa mù phủ che các liều lĩnh sặc mùi lợi ích nhóm hùa nhau xẻ thịt kinh tế nước nhà bằng cách luôn sử dụng điệp khúc dỡ òm ngu xuẩn của “trong nguy cơ có thời cơ”, “trong chữ nguy cơ có chữ cơ là thời cơ” mà bất kỳ bậc đại trí nào cũng dễ dàng nhận ra ngay cái nội hàm ẩn dấu của “đục nước béo cò” và “xúi trẻ ăn cứt gà”. Đơn giản vì công việc của tất cả các lãnh đạo đại trí là triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ chứ không phải là chụp lấy các thời cơ như bọn đầu cơ tích trữ và lũng đoạn. Và khi luôn trong tư thế luôn dợm triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ, các bậc đại trí sẽ cho rằng hãy cẩn trọng với thời cơ, đừng hấp ta hấp tấp khi thấy cái thời cơ tiềm tàng hay tưởng tượng, vì rằng chữ trong thời cơnguy cơ, nghĩa là trong thời cơ luôn có nguy cơ, vì vậy phải vạch mặt chỉ tên tất cả các nguy cơ tiềm ẩn hay lộ diện để bày binh bố trận quyết liệt triệt phá, ngăn chặn, vô hiệu hóa, biến dạng nguy cơ, vận dụng cái chân lý muôn đời của người nông dân nhổ cỏ rằng phải triệt tiêu nguy cơ để may ra có thể có được một thời cơ.

Một Thời Cơ Luôn Có Nhiều Nguy Cơ.

Bán tạp hóa là một hình thái làm kinh tế. Song, làm kinh tế không phải là bán tạp hóa.

Nhà cố vấn kinh tế nhà nướcViệt Nam, do đó, không được dùng ngôn ngữ bán tạp hóa để có thời cơ mê hoặc lãnh đạo Việt Nam và mê hoặc nhân dân Việt Nam; bằng không, sẽ đối mặt với nguy cơ bị lột truồng bỡi Hoàng Hữu Phước của Việt Nam.

4) Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu:

Do vậy, khi phải đối mặt với quá nhiều những nguy cơ không bao giờ là thời cơ,  Việt Nam nếu khôn ngoan phải lưu ý đến mô hình sau vốn dành riêng cho Việt Nam mà Việt Nam chỉ có thể áp dụng để trở thành cường quốc kinh tế thực thụ: thay mô thức Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu bằng mô hình Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác.

(a) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu là hình thức Đặc Khu Kinh Tế/Khu Kinh Tế Đặc Biệt SEZ như nội dung phân tích của bài viết này.

(b) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác  là đại cuộc biến Việt Nam – chứ không phải vài địa điểm nào đó của Việt Nam – thành một Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) với nền tự do thương mại đồng nhất và cao nhất, cắt giảm đồng nhất và cao nhất các rào cản thương mại, tăng khả năng cạnh tranh đồng nhất và cao nhất qua cắt giảm thuế quan đồng nhất và cao nhất, dưới sự điều chỉnh của các khung luật lệ đồng nhất và thông thoáng nhất hấp dẫn nhất.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến cả đất nước Việt Nam thành một “đặc khu kinh tế quy mô quốc gia” nghĩa là hoàn toàn theo luật pháp chung dưới sự quản lý chung của Nhà Nước mà không hề tạo ra tình trạng nguy cơ quái gở của nhà nước trong nhà nước, quốc gia trong quốc gia, lãnh thổ trong lãnh thổ.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, dù đầu tư vào lĩnh vực nào tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến tất cả các địa phương trên toàn đất nước Việt Nam tự động thành những “đặc khu kinh tế không ranh giới hành chính”  hoàn toàn tùy thuộc sự quan tâm lựa chọn của nhà đầu tư nội địa hay nước ngoài, làm bất kỳ địa phương nào cũng có điều kiện phát triển kinh tế/xã hội/tri thức theo hướng công bằng nhất. SEC còn biến các EPZ tức Khu Chế Xuất đang hoạt động ở Việt Nam tự động hưởng chung các ưu tiên ưu đãi ưu ái do mô thức SEC đem lại mà không lũ lượt rời bỏ các Khu Chế Xuất EPZ để chen chúc vào một trong 3 Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Nghĩa là nếu SEZ tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư co cụm bên trong các Đặc Khu Kinh Tế SEZ với các nhà đầu tư hoạt động tại các Khu Chế Xuất EPZ và các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động bên ngoài tường rào của Khu Chế Xuất EPZ hay bên ngoài Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì SEC biến tất cả các nhà đầu tư trở thành chủ thể chủ động bình đẳng trong hưởng lợi nhiều nhất tại quốc gia Việt Nam.

Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác là một yêu cầu cách mạng kinh tế đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải công nhận và áp dụng quy trình tự do hóa nền thương mại và kinh tế nước nhà như các cường quốc kinh tế và áp dụng các hình thức mang tính cạnh tranh cao hơn hấp dẫn hơn để thu hút các nhà đầu tư bất kể đó là nhà đầu tư nội địa Việt Nam hay nước ngoài. Miếng vải mới không là miếng vải cũ với các miếng vá đụp mới khác màu mang tên SEZ. Miếng vải mới cùng màu khác là hình thành áp dụng chung một mô hình duy nhất hoàn toàn mới về kinh tế gọi bằng tên quen thuộc là “kinh tế thị trường” thay thế cho mô hình đang tồn tại là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” với đặc điểm nếu như nền “kinh tế thị trường” quen thuộc của thế giới là môi trường cho sự hình thành các Khu Tự Do Thương Mại FTZ (Free-Trade Zone) hay những thứ tương đương như đã liệt kê ở các phần trên, thì chính nền “kinh tế thị trường” quen thuộc này của thế giới sẽ là môi trường mới để Việt Nam hình thành Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) đầu tiên của thế giới.

Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) là sáng kiến của riêng Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc-Đại-Lợi, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Trên thế giới chưa từng có quốc gia nào là một SEC.

Phụ Lục: Nhượng Địa và Thọ Nhượng

(xin xem tại Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng)

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Ghi Chú:

a) Tất cả các số liệu tất nhiên được thu thập từ nguồn tài liệu trên xa lộ thông tin, chủ yêu là Wikipedia (Tiếng Anh) và các trang web của các tổ chức và báo chí từ kết quả gợi ý của Google Search (Tiếng Anh) cho nội dung từ khóa “SEZ”.

b) Tất cả các nhận định phê phán đương nhiên là từ ý kiến rất riêng và duy chỉ của Hoàng Hữu Phước. Việc trích dẫn toàn phần hay một phần của bài viết hoặc của nhận định & phê bình được mặc nhiên đồng ý cho tùy nghi sử dụng như đã nêu tại Thùng Nước Đá Và Blog.

Tham khảo:

a) Luật Đặc Khu – Phần 1 20-7-2018

b) Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng 03-8-2018

e) Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc 29-12-2015

d) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân 14-6-2017

e) Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị 25-4-2018

f) Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

g) Toàn văn bản dự thảo Luật Đặc Khu trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật

h) Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng 11-5-2012

i) Thùng Nước Đá Và Blog 14-02-2013

j) Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

k) Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm,  Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà? 28-01-2016

l) Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

m) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” 14-10-2015

n) Chìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

o) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

p) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

q) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn của Đài Phố Bolsa TV năm 2012:

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”  http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.” http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.” http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.” http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!” http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

r) Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017

Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt

Bài 1: Vấn Nạn Bùi Hiền

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-12-2017

Wordpress Cải Tiến Tiếng Việt 1- Vấn Nạn Bùi Hiền

Mấy tuần nay râm ran lùng bùng vụ gọi là “công bố cải tiến Tiếng Việt” của Bùi Hiền.

Vốn không màng đến bất kỳ “công trình” nào của giới học thuật Việt Nam, bất kể “công trình” ấy về khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên, do đã có niềm tin vững chắc rằng chẳng có gì gọi là đáng để đọc từ các “công trình cất ngăn tủ” ấy, và vốn từ nhỏ đã ưa chuộng ưa thích sự tĩnh lặng thanh bình trầm mặc ngoại vi vốn là đặc điểm thực thụ nơi nhà hàn lâm bẩm sinh (tức những người phải vừa có nội tâm bão loạn với những tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian, vừa có hùng biện bão tố bằng tới tấp các tác phẩm cùng những tranh biện nảy lửa nhằm lột lõa lồ đám đông khán thính giả hàn lâm trước mặt mình theo kiểu của Albert Einstein), tôi đã không nghe gì nhốn nháo trên diễn đàn xã hội về Bùi Hiền tức là cái vị mà tôi chưa từng nghe danh trong cái thế giới hàn lâm vốn luôn ồn ào do chỉ thuộc các nhà hàn lâm bẩm sinh. Bùi Hiền hoàn toàn không có năng lực và năng khiếu của năng động tranh biện nảy lửa để bảo vệ cho các tác phẩm từ tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian của mình – nếu có. Bùi Hiền chỉ là một gả ỏn ẻn, thiếu tự tin, vừa thuộc dạng công thức nguyên liệu thành phần chung vừa theo công thức hoạt động rất đặc thù chung của chế độ: cán bộ cách mạng ngôi cao chỉ dám tung hê lải nhải lép nhép nhóp nhép gì đó mang tính kách mệnh chỉ khi không còn quyền lực ngôi cao.

Tuy nhiên, không phải cứ nói chẳng quan tâm là sẽ chẳng hề biết gì, vì đời có khối việc chẳng-đặng-đừng như các “forward” hoặc nội dung hoặc đường “link” hoặc cả hai mà các nhà giáo học trò của tôi do đang nhàn hạ rung đùi hưởng lương hưu nên có khối thời gian gởi ào ạt đến phone của tôi qua công cụ Viber. Nhờ vậy tôi mới có dịp đọc bài viết mang tựa đề “NÓI THẲNG: Ga-li-lê, Bùi Hiền và Tiếw Việt” của AQ trên Người Lao Động ngày 27-12-2017. Đó là một bài viết hạng xuất sắc về tư duy biện luận, chừng mực một cách mạnh mẽ đầy thuyết phục.

Là người hoạt động về ngôn-ngữ-Tiếng-Việt-thực-hành (tương tự phân ngành “thực hành” và “lý thuyết” của các khoa học tự nhiên) mạnh mẽ, liên tục, chuyên sâu, đúng đẳng cấp chuyên nghiệp quốc tế – tức buộc phải có (a) khả năng mạnh mẽ, liên tục, chuyên sâu, đúng đẳng cấp chuyên nghiệp, về một hay nhiều hơn một  ngoại ngữ chính của nhơn loại, (b) quá trình làm việc chuyên nghiệp về ngoại ngữ đó để nâng cao chất lượng so sánh, và (c) từng có tham luận tương hợp tại hội thảo cấp quốc gia, tôi cho rằng mình đương nhiên có thẩm quyền chuyên môn cao hơn Bùi Hiền và có quyền công dân – ngoài quyền tự do ngôn luận y như Bùi Hiền – để phát biểu các nhận định hàn lâm qua hai bài viết mà bài thứ nhất sẽ nêu các vấn nạn mang tên Bùi Hiền như sau.

Bài 1: Vấn Nạn Bùi Hiền

1- Lô Cốt Ngà Của Chế Độ

Người trong cõi ta bà thường dùng chung thành ngữ “tháp ngà” để ví những vị hàn lâm tập trung hoặc nghiên cứu hoặc thăng hoa tư duy luận bàn hoặc thế sự hoặc bàn luận chuyện mà nhân gian có khi vài thế kỷ sau mới nghiệm ra hoặc muôn đời chẳng thể nghiệm ra. “Tháp ngà” tự thân nhuốm màu xám của nghi ngại, màu đen của chê bai phi thực tế. Dù vậy, tự thân “tháp ngà” cũng óng ánh sắc màu tươi sáng của chiều cao lộ thiên (“tháp”) và độ quý (“ngà”) như nơi trấn ngự cao quý của các bậc hoặc hiền tài, hoặc kỳ tài, hoặc dị nhân thấu thị đầy cao quý.

Trong khi đó, ở Việt Nam hiện có “lô-cốt ngà” mà đặc điểm của lô-cốt là cực kỳ vững chắc và chìm sâu dưới đất.

Cực kỳ vững chắc vì ngự bên trong là các vị đảng viên mà Đảng Cộng Sản Việt Nam (a) do tôn trọng tri thức nên tin tưởng vào trí thức, và (b) do chỉ tin tưởng vào giai cấp nên ưu ái đầu tư tiền của hình thành nên một lực lượng trí thức của riêng Đảng bằng cách nhiều chục năm qua tích cực cử các cán bộ Đảng tất nhiên thuộc gia đình thuận lợi về giai cấp và thuộc diện sẽ được cơ cấu vào “nguồn” hoặc diện sẽ được dự kiến vào các ghế lãnh đạo các Bộ/Ban/Ngành/Đoàn Thể/Trung Ương/Địa Phương di du học nhằm có các văn bằng thạc sĩ/tiến sĩ. Điều này có nghĩa là hoàn toàn triệt tiêu tư duy đạo đức truyền thống ngàn đời của tổ tiên Việt vốn chỉ vinh danh những ý chí tự lập vươn lên của những kẻ hàn sĩ không bao giờ nhận được bất kỳ hỗ trợ nào mang danh “học bổng” từ các vương triều hoặc các “quỹ khuyến học” của các địa chủ phú thương, chỉ dành ghế đại quan cho những trạng nguyên/bảng nhởn/thám hoa xuất thân dân dã nghèo hèn ấy. Điều này có nghĩa việc các cán bộ được cử đi học sẽ có 7 lớp bê tông cốt thép thượng hảo hạng bao bọc lô-cốt gồm

(a) không chút lo toan về tiền bạc chi phí du học,

(b) không chút lo sợ “bọn thứ dân ngoài Đảng” giật mất ghế ngôi cao quyền trọng,

(c) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ  cần học xong có bằng cấp đem về làm nhãn mác chứ chẳng ai quan tâm xem bằng ấy có thuộc loại ưu tú hay không,

(d) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ cần có bằng cấp chứ chẳng ai quan tâm xem người cầm văn bằng ấy có nói và viết được ngoại ngữ tinh thông tinh tường hùng biện như gió khi về nước hay không,

(e) không chút lo lắng về kết quả học tập vì chỉ cần có bằng cấp chứ chẳng ai quan tâm xem cái sở học ấy của mình có thể áp dụng gì cho đời không vì chẳng ai có thể biết mình tốt nghiệp mà chẳng có ma nào ở nước ngoài thèm chiêu dụ tuyển dụng,

(f) không chút lo lắng bị bươi móc bỡn cợt chuyện tự nhiên mình thành thạc sĩ/tiến sĩ dưới đất chui lên trên trời rớt xuống tiến tới tự nhiên làm lãnh đạo cơ sở vì các lãnh đạo cấp trên của mình quyền lực cao ngút hơn mình cũng theo lối đào tạo nhân tài riêng cho Đảng y chang mình, và

(g) không chút lo lắng bị bươi móc bỡn cợt chuyện mình là thạc sĩ/tiến sĩ mà chẳng ưa viết lách chẳng thèm nghiên cứu gì cả vì toàn bộ các lãnh đạo cấp trên của mình quyền lực cao ngút hơn mình thậm chí “lãnh đạo” đại học cũng chẳng có công trình nghiên cứu gì mà thỉnh thoảng chỉ thấy có lãnh đạo đại học gì gì đó ăn cắp nội dung luận văn tốt nghiệp của sinh viên Lào ở tận bên Lào để làm luận án tiến sĩ của mình mà cũng được các giáo sư tiến sĩ Việt Nam khen nức nở đó có sao đâu.

Chìm sâu dưới đất nên –  như tác giả bài viết này đã rất rất nhiều lần trên blog này mỉa mai rằng – ngoài Quốc Hội và các cơ quan trung ương ra thì người dân – kể cả tác giả bài viết này dù là Nghị Sĩ – không thể biết được ở Việt Nam ai là “nhà khoa học” (thông tin báo đài hở một chút là ra rả “các nhà khoa học cho rằng”) và ai là “chuyên gia/chuyên viên” (Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước được Quốc Hội bảo có ngân khoản đểthuê chuyên gia viết bài cho nghị sĩ” mà dù Nghị ta có viết thư hỏi cũng không được Văn phòng Quốc Hội cung cấp hoặc danh sách “chuyên gia” hoặc định nghĩa “chuyên gia”, nên Nghị ta suốt từ 2011 đến 2016 tuyệt đối không dám động đến ngân khoản ấy dù chỉ một xu mà tự bỏ tiền túi ra dù đến chục triệu thuê người dân thu thập tài liệu và dịch tài liệu để phát biểu hùng biện trên nghị trường chứ không được như các nghị sĩ khác thì buổi họp nào cũng có sẵn bài viết để đọc nên phát biểu cực kỳ thường xuyên chẳng bỏ đề tài luật nào cả – trừ… Luật Biểu Tình).

Bùi Hiền và những bậc kỳ tài bảo bối của Đảng như Bùi Hiền đã luôn bất ngờ xuất hiện là do thuộc giới tinh hoa trí tuệ trí thức ngủ say trong lô-cốt ngà của Đảng suốt thời gian trước tuổi về hưu.

2- Giới Tinh Hoa Có Nhãn Mác Cầu Chứng Tại Tòa Của Chế Độ

Khi sự công kích chê bai Bùi Hiền trở nên rầm rộ trên không gian mạng, như một chuyện đương nhiên các giáo sư tiến sĩ khác cũng đột nhiên xuất hiện để hoặc ủng hộ Bùi Hiền hoặc lên tiếng dạy bảo người đời nên trân trọng Bùi Hiền và nên sử dụng ngôn ngữ thích hợp ra sao khi phê phán Bùi Hiền.

Vấn đề ở đây là: trong số các giáo sư tiến sĩ đang lên tiếng bảo vệ Bùi Hiền và dạy bảo thế gian về cách ứng xử với Bùi Hiền thì đã không có ai trước đây đã từng lên tiếng khuyên bảo mạng xã hội đừng nên tấn công chưởi bới đe dọa giết nghị sĩ Hoàng Hữu Phước khi ông này phát biểu ở nghị trường năm 2011 chống Luật Biểu Tình, và nên lắng nghe tìm hiểu tôn trọng ý kiến chống chỏi ấy của ổng.

Điều này cho thấy giới tinh hoa trí thức do Đảng bỏ tiền ra xây dựng riêng cho mình từ các cán bộ đảng viên “trẻ” đã hình thành nên một phe nhóm riêng, bầy đàn riêng, có nhãn hiệu cầu chứng riêng trên ngực áo trái, tích cực bảo vệ nhau trước công luận, hoặc tích cực nói về “công lý” mà Đảng nên tôn trọng đối với dân chủ-nhân quyền-tù nhân lương tâm, hoặc rủ nhau cùng ký tên kiến nghị đòi “công lý” cho ai đó, chứ không đời nào nói về “công lý” mà Đảng nên áp dụng trong mời mọc, trọng dụng người tài ngoài Đảng hơn cả người tài trong Đảng.

3- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Nghiên Cứu

Phần này được ghi ra cho đầy đủ nội dung, chứ các chi tiết thì chính Đảng cũng đã phải thừa nhận rằng cái gọi là “nghiên cứu” ở Việt Nam chỉ làm đầy hơn các hộc tủ chứ chẳng làm giàu hơn nền kinh tế quốc dân hoặc học thuật nước nhà.

Bùi Hiền cho rằng công trình của “cải tiến Tiếng Việt” (danh chính ngôn thuận phải là: “cải tiến chữ viết Tiếng Việt”) mất 40 năm nghiên cứu. Câu hỏi khủng khiếp phát sinh là:

a) Bùi Hiền có đã sử dụng thời gian công tác chính quy để nghiên cứu cá nhân? Nếu có thì đã gian manh ăn cắp của Nhà Nước bao nhiêu chục ngàn giờ của 40 năm với tiền lương từ tiền thuế của dân và từ tài nguyên quốc gia?

b) Như tác giả bài viết này đã lập đi lập lại rất rất nhiều lần rằng các “nhà sử học” và các “nhà nghiên cứu” nhất thiết phải bỏ tiền túi ra nếu muốn nghiên cứu, và tự xuất bản sách giới thiệu công trình của mình, chứ Nhà Nước không được bỏ tiền ra cưu mang, vì rằng nghiên cứu phải là công trình của cá nhân (ngay cả của nhiều cá nhân hoặc tập thể cá nhân) mà công trình nào cũng phải tự đấu tranh sinh tồn cật lực đầy khó khăn với sự chấp nhận của độc giả, của phản biện, trước khi trở thành thực sự có giá trị sử dụng. Chỉ khi thực sự có giá trị sử dụng tự thân chứ không từ sự ra lịnh cho sử dụng của Nhà Nước, nghiên cứu có giá trị tham khảo ban đầu ấy mới có thể được mua lại bởi Nhà Nước để phát hành sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Thế nhưng, thay vì sau 40 năm dày công nghiên cứu, Bùi Hiền lẽ ra hoặc in thành sách để ai muốn đọc thì tự do mua đọc, hoặc thảy lên internet để ai muốn đọc thì tự do đọc, Bùi Hiền lại theo quy trình hàn lâm xứ Việt khi

– Tự tiện dùng chữ “công bố” phải chăng với dụng ý nghiên cứu không đến từ ý riêng của cá nhân mà là từ gợi ý hay khuyến khích hoặc đặt hàng của Nhà Nước? In sách là quyền cá nhân xin phép và tiến hành khi được giấy phép. Công bố hoàn toàn không dính dáng gì đến cá nhân trừ phi là “công bố chùa” trên mạng, mà đã là “chùa” thì vô giá trị và không thể gọi là “công bố”. Chưa kể, “công bố” là cho một kế hoạch, một ý kiến, và cũng có nghĩa vẫn chưa có tác phẩm nào hoàn tất hoàn thành đầy đủ dưới dạng một quyển sách cả. Chưa có tác phẩm thì sao lại gọi là dày công nghiên cứu 40 năm? Phải chăng phóng đại gian trá là tác phong nhuần nhuyễn của các nhà nghiên cứu do Đảng sinh ra, tạo ra, nặn ra, mua về?

– Tự tiện cho rằng cứ tổ chức hội thảo và Bùi Hiền sẽ đến giải thích những gì chưa ai hiểu. Ai có quyền tổ chức hội thảo cấp quốc gia, và chi phí cho hội thảo ấy đến từ đâu? Phải chăng quy trình quái gở cho nghiên cứu ở Việt Nam là cứ hãy nghiên cứu đi, Nhà Nước có khối tiền để tiêu cho các hội thảo và các công trình nghiên cứu cá nhân sẽ tự động biến thành có giá trị quốc gia để tác giả công trình tự động được nhận tiền tỷ thù lao?

4- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Công Quỹ & Ngân Sách

Từ quy trình nghiên cứu hàn lâm trên, có thể nói quy trình tiêu xài công quỹ và ngân sách của Việt Nam đối với hoạt động nghiên cứu không những là sự hoang phí mà còn là sự chà đạp công luận, tội phản quốc, tội tham nhũng tày trời.

5- Quy Trình Hàn Lâm Của Chế Độ: Cung Cách Phản Chế Độ

Tất cả bốn nội dung trên dẫn đến một sự thật là cái quy trình nghiên cứu hàn lâm chặt chẽ của chế độ mang cung cách phản chế độ, vì rằng các nghị quyết của Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng luôn đề cao giá trị của tri thức trong đại cuộc hiện đại hóa – công nghiệp hóa đất nước và vai trò của trí thức, trong khi Bùi Hiền và những người như Bùi Hiền hoàn toàn chỉ để lộ ra năng lực kém cỏi cho thấy sự thất bại triền miên của Đảng khi không sử dụng thực chất các lực lượng trí thức ngoài Đảng đã vươn lên từ tự lực cánh sinh, mà thay vào đó là đầu tư tiền của cho những cán bộ trẻ của Đảng nhanh chóng có bằng cấp một cách thuận lợi để làm nguồn nhân lực riêng phục vụ các kế sách thuần chính trị của Đảng.

Sự hùng mạnh của Việt Nam tùy thuộc vào tri thức và trí thức chứ không tùy thuộc vào số lượng thạc sĩ/tiến sĩ.

Thạc sĩ/tiến sĩ của Đảng để làm tổng giám đốc hay chủ tịch các đại dự án luyện cán thép làm ô nhiễm trầm trọng môi sinh và tiêu tốn điện năng.

Tri thức/trí thức tự túc của đất nước để làm đất nước giàu mạnh khôn ngoan nhờ nhận ra sự thật rằng nhập khẩu sắt thép phục vụ xây dựng chính là bảo vệ môi trường sống cũng như tiết kiệm được điện năng.

Thạc sĩ/tiến sĩ của Đảng đang lần lượt tiến vào nhà tù vì đã gây thiệt hại khủng khiếp cho cả nền kinh tế cùng uy tín quốc gia.

Tri thức/trí thức tự túc ngoài Đảng của đất nước đang lần lượt biến mất khỏi đoàn quân tích cực dựng xây đất nước do không bao giờ có chính sách khả thi khả dụng khả dĩ trân trọng tri thức và khả năng của trí thức thuộc chủng loài này.

Trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII đã có vị đứng đầu một viện nghiên cứu gởi nhiều bộ tài liệu in ấn công phu tốn kém (in màu trên giấy dày trắng tốt) cho tất cả 500 nghị sĩ. Viện do Nhà Nước lập nên. Viện do Nhà Nước xây nên và bàn giao cơ sở vật chất. Viện mang một cái tên vớ vẩn. Viện nghiên cứu những vấn đề vớ vẩn. Viện khoe những quan hệ vớ vẩn với các viện học thuật vớ vẩn ở những nước ngoài vớ vẩn. Và Viện đã dùng tiền ngân sách – hay của nước ngoài tài trợ – để viết ra rả về sự vĩ đại của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản đã luôn làm sai lời dạy của Hồ Chí Minh, luôn chống lại Hồ Chí Minh, khiến nước nhà lạc hậu điêu linh. Vị đứng đầu ấy gởi thư đến tác giả bài viết này để kiện Đảng và Nhà Nước đã đụng đến Viện, lấy lại Viện, vì Viện nay thuộc quyền sở hữu có giấy chủ quyền nhà đất mang tên vị đứng đầu Viện. Vị đứng đầu Viện dọa đe tử thủ, quyết không để Nhà Nước cướp đất cướp Viện mà Nhà Nước đã ban cho Viện.

Rõ ràng Đảng đã có một lớp Đảng viên được chọn để biến thành trí thức, và các trí thức này hoặc

a) Đang công tác như những nhà tư vấn chính phủ nhưng với năng lực hoàn toàn kém (qua thực tế chứng minh: Việt Nam luôn thua trên trường quốc tế về cơ hội doanh thương, phát triển kinh doanh, hùng biện tranh chấp kinh doanh, hùng biện tranh chấp lãnh thổ, v.v.), hầu như chỉ để giải thích cho lãnh đạo Đảng và Nhà Nước các thuật ngữ chuyên ngành, hoặc tài ba lắm cũng chỉ ở mức độ cho biết đối với một sự cố đã xảy ra thì tiền lệ thế giới ra sao, luật thế giới thế nào, và Việt Nam nên chọn giải pháp gì; kỳ dư, hoàn toàn vô dụng bất tài trong tiên tri thấu thị để chặn ngăn hiệu quả ngay từ trứng nước các bất cập hay bất lợi có thể xảy đến trong lĩnh vực mình phụ trách;

b) Đang không làm gì cả ngoài việc ký tên vào các văn bản;

c) Đang thụ án hay đang đứng trước vành móng ngựa trong các vụ đại án kinh tế; hoặc

d) Đang như Bùi Hiền bất ngờ “công bố” một công trình nghiên cứu “40 năm” vẫn chưa hoàn thành nhưng nay muốn có hội nghị hội thảo quốc gia để từ đó Nhà Nước có thể công khai công nhận giá trị của công trình đó rồi chu cấp nhiều tỷ đồng cho Bùi Hiền dành 40 năm tiếp theo đúc kết thành sách in cấp phát miễn phí cho các thư viện tỉnh thành quận huyện xã phường bản làng cho nhân dân mở mang trí hóa.

Không bao giờ có việc khi có bằng thạc sĩ/tiến sĩ là tự động trở thành “nhà trí thức”. Do đó, có thể Đảng đang có nhiều đảng viên thạc sĩ/tiến sĩ, nhưng không phải vì thế mà nói Đảng đã có nhiều “nhà trí thức” nên không cần phải tìm kiếm các nhà “trí thức” tự lập tự túc ngoài Đảng.

Bùi Hiền quả là một sự hỡi ơi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Kính mời đón đọc tiếp bài 2 khảo luận hùng biện duy nhất của Việt Nam: Những Nội Dung Duy Nhất Đáng Quan Tâm Cho Một Chữ Viết Mới Của Tiếng Việt

Tài liệu tham khảo:

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến     18-10-2009

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 26-9-2012

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

22-12-2017

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là một đảng chính trị tức chính đảng của Việt Nam và là chính đảng duy nhất ở Việt Nam theo thực lực, thực tế lịch sử, và thực thi theo hiến định.

Theo thực lực, một đảng chính trị nhất thiết phải có tổ chức, có lãnh đạo, có cương lĩnh chính trị, có chiến lược chính trị, có tài lực, có nhân lực tạo lực lượng quần chúng, có nhân lực tạo lực lượng vũ trang và nắm quyền lãnh đạo tất cả các lực lượng vũ trang, có lãnh thổ, có đấu tranh để thực hiện cương lĩnh cho đến cùng, và khi thuận lợi giành lấy chính quyền theo cách hoặc chính thức (đấu tranh nghị viện trong môi trường hiến định) hoặc chính danh (đấu tranh giải phóng) để trực tiếp cai quản cai trị đất nước.

Như đã nêu trong bài Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã dần mất vị thế một chính đảng của Việt Nam.

Không một chính đảng nào lại tự làm suy yếu nguồn tài lực của mình bằng cách để đảng viên tự do phá sụp các ngân hàng, phá sụp các tổng công ty, phá trọc trắng hếu các khu rừng xanh, độc hóa các nguồn nước của dân tộc và thủy tộc, thả cho tư bổn né thuế, tích cực đầu tư vào những nội dung từ lỗ đến mất trằng, v.v.

Không một chính đảng nào lại tự làm suy yếu nguồn nhân lực của mình bằng cách tước bỏ vũ khí bạo lực cách mạng ra khỏi các lực lượng vũ trang, tước bỏ quyền được bảo vệ cao nhất khỏi tay các lực lượng vũ trang trong khi tất cả các quốc gia trên toàn thế giới luôn dành cho các lực lượng vũ trang của họ (nước ngoài: án tử hình dành cho kẻ nào sát hại nhân viên công lực; Việt Nam: ai muốn đánh đập nhân viên công lực thì xin mời cứ tự nhiên); bố trí người bất tài vô hạnh  miễn sao đúng với quy trình để ngự tất cả các ngôi cao quyền lực; đầu tư khổng lồ tậu cho được các bằng tiến sĩ/thạc sĩ về phân phát cho hàng ngàn lãnh đạo “trẻ tài năng” lực lượng kế thừa của Đảng; bỏ mặc cho các lực lượng chủ lực của Đảng như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tự tung tự tác tự suy yếu tự thải loại ra khỏi đời sống chính trị Việt Nam, hoàn toàn thất bại trong nhận diện người giỏi người tài người thực sự hữu dụng cho đất nước này, v.v.

Không một chính đảng nào lại tự đốt bỏ cương lĩnh chính trị của mình bằng cách dung dưỡng bất kỳ sự “xét lại” nào và để yên cho đảng viên có quyền đứng núi này trông núi nọ.

Tuy nhiên, dù với một vết nhơ không đáng có như trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam nay đã dần trở lại vai trò một chính đảng. Thời mở cửa đẻ ra các đảng viên như trẻ nít quê mùa vô tư vô tâm đã qua, với bằng chứng là đầu tháng 12 năm 2017 đã có mẫu tin này trên truyền thông chính thống toàn cõi Việt Nam:

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (2)Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (1)

cho thấy nhiều chục năm qua đã và đang có sự suy đồi thật khốn nạn rằng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội, đã bị các đảng viên lợi dụng và sử dụng hoàn toàn ngoài tầm vói bắt cũng như ngoài tầm trí hóa khả dụng của tất cả những tinh hoa chính trị của chế độ, khiến đã có những chuyện tưởng như đùa do không thể nào tưởng tượng nổi lại có thể xảy ra tại một quốc gia cộng sản như Việt Nam: “nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng” mà điều khôi hài nhất là đến tận ngày nay mới có quy định những đảng viên nào như thế sẽ bị khai trừ Đảng.

Thế thì những thằng đảng viên mất dạy đã nhanh tay lẹ chân trước 12-2017 đã kịp “bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước” cũng như đòi xóa đảng (tức theo đa đảng, đa nguyên) và vi hiến (đòi tam quyền phân lập) thì phải chăng được “hạ cánh an toàn”, tiếp tục hưởng lương hưu hậu hĩ của Đảng, còn con cháu tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi vốn dành riêng cho gia đình đảng viên cốt cán cáo cấp trung kiên?

Thế thì phải chăng hàng thế kỷ nay Đảng Cộng Sản Việt Nam có quy định cực kỳ lỏng lẻo về kỹ luật, theo đó phải chăng có mặc định rằng trở thành Đảng viên Cộng sản đương nhiên là thánh thần miễn nhiễm trước mọi xấu xa tiêu cực và bất khả xâm phạm trước luật pháp quốc gia nên không thể bị khai trừ Đảng ngay cả sau khi bôi nhọ lãnh tụ (lãnh tụ duy nhất của Việt Nam là Hồ Chí Minh)?

Các nghị sĩ mà tất nhiên tuyệt đại đa số là đảng viên Cộng sản chức sắc thì bỏ mặc thực tế dữ dội của toàn cầu và phớt lờ ý kiến tuyệt đối công chính của người dân

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (4)

nên chỉ biết châu đầu vào nhau tụm năm tụm ba ngáy ngủ từ năm 2011 rằng Việt Nam “biểu tình” được vì “thế giới họ biểu tình đàng hoàng được mà”, hoặc “bắn” thì “dã man” quá nên hãy noi theo mấy nước văn minh mà tiêm thuốc độc (khiến có một thời gian dài Việt Nam bị khủng hoảng nghiêm trọng không xử tử được bất kỳ ai do nhà sản xuất thuốc độc tuyên bố không bán cho Việt Nam Cộng Sản hành quyết người dân vô tội), còn mới đây hùng hổ nói mông muội gì đó về “tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Đảng Bây Giờ Mới Trở Lại Gần Đúng Là Đảng (3)

nghĩa là hễ “biểu tình” thì nêu danh đeo bám hít hà luật “thế giới”, còn muốn tha cho tên tử tù tàn độc thì lại viện cái luật pháp “xã hội chủ nghĩa” quái gở quỷ quái kỳ quái kỳ cục kỳ khôi không cần kỳ cọ nào đó chớ ai biết.

Đảng Cộng Sản phải hà khắc, phải nghiêm khắc với đảng viên của mình gấp vạn lần, đơn giản vì như đã chốt trong bài Quốc Thái Thức Trung Thần: thời thái bình là thời đại hỗn loạn nhất.

Thời loạn không hỗn loạn vì vẫn còn kỹ luật sắt máu để hạn chế hỗn loạn.

Thời bình không còn các kỹ luật sắt máu nên hỗn loạn chỉ có gia tăng vượt ngoài sức kềm tỏa của giới cầm quyền nào bắt đầu muốn bản thân mang hình dáng những ông bụt bà tiên, tự nhiên cho rằng mình ngu muội và thấy nhất thiết phải theo Tây cho muôn phần vinh diệu văn hóa văn vẻ văn minh.

Sau khi chấn chỉnh lại việc “khai trừ Đảng”, Đảng nên có bước tiếp theo là giáo dục răn đe các đảng viên, các chuẩn đảng viên (tức lực lượng hậu bị), và ban hành nhiều quy định bổ sung như tước bỏ các quyền lợi bản thân và gia đình người bị khai trừ Đảng, và công bố không áp dụng bất-hồi-tố đối với những đảng viên nào đã sướng mồm bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo, Đảng trước thời khắc 12-2017.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Việt-Nam Khóa XIII, Quan Nhĩ Mục của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Tham khảo:

Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần  18-12-2017

Bôi Nhọ  02-12-2015

Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-12-2017

Sách có câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần”.

Word 9

Lăng Tần tôi đây vốn tin tưởng vào sự biến thiên biến hóa biến đổi biến mất của Đất Trời, và vào ý nghĩa của tiến hóa trong cập nhật để cải tiếncải hóa, nên thường lấy cái thông tuệ của sở học ngày nay ra chỉnh sửa chỉnh đốn cho chỉnh chu các danh ngôn bất kể các phát ngôn dù chính ngôn hay loạn ngôn của người xưa hay người nay, bất kể đó là thánh nhân thần nhân vĩ đại nhân hay tầm thường nhân, như thể hiện mạnh mẽ quyết liệt hùng biện nhất tức không-đứng-sau-hay-dưới-bất-kỳ-ai trên mạng Twitter tại @HoangHuuPhuoc và @RealHHPhuoc, mà nhiều tác giả sách người Mỹ sau khi các lời dạy đời vàng ngọc của họ được tác giả bài viết này chỉnh sửa đã hân hoan cho một trái tim đỏ chót (like), thậm chí đăng lại (retweet) và đeo theo (following) dù không được ông ta quan tâm follow đáp lại.

Nhận thấy người nước Nam ta có niềm tin mặc định những lời dạy của thánh hiền – và của người nước ngoài – là chân lý của muôn đời nên dẫn đến hai tiêu cực gồm (a) giữ nguyên văn không hề dám nâng cấp các lời vàng ngọc, khiến (b) nội dung giáo huấn trở nên co cụm nghèo nàn không thể góp phần giáo dục bất kỳ ai cho xã hội dù mới hơn và tốt hơn (tức chế độ) khiến vẫn biền biệt những thành tố mới hơn và tốt hơn (tức con người) cần thiết cho cái xã hội ấy tại tồn. Trong khi đó, ngay cả cái luận cứ kinh điển giáo điều kinh tế chính trị Mác-xít Lê-nin-nít còn được những nhà Mác-xít Lê-nin-nít Việt Nam sau khi chiến thắng đã cập nhật biến hóa ra hình thái kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm thế giới hàn lâm ngắc ngứ cứng họng đơ người.

Để cập nhật biến hóa tương tự, Lăng Tần tôi đây cho rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” của môn sinh Khổng Giáo Nho Gia Trung Quốc sẽ được hoàn thiện tuyệt đối nếu được bổ sung nội dung “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần” của Hoàng Hữu Phước Việt Nam.

Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” không bao giờ có thể sánh được với “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần”, đơn giản vì về phương diện quốc gia thì một khi đã “loạn” thì đương nhiên có ít nhất hai phe (Việt Nam có lúc có đến 12 “phe” tức loạn Thập Nhị Sứ Quân) mà đã vậy thì “phe” nào cũng có “trung thần” để tàn sát đối phương, tàn phá đất nước, cho đến khi chỉ còn một phe chiến thắng; còn phe chiến bại thì hoặc im lặng xếp ve ngay cả thở cũng không dám thở, hoặc lẻn bỏ chạy đến nơi an toàn thì chưởi đổng huy động tiền bá tánh mua củi đốt quăng lửa về quê, hoặc quay trở lại đột nhập làm tráng sĩ Kinh Kha kiếm thăm bồ bịch cũ để đánh ghen hờn dỗi dâng mình vào rọ như Mai Văn Hạnh ở Hòn Đá Bạc thủa nào. Còn về phương diện gia đình thì hôm nào ai chỉ còn một phần tư chén cơm mà đem dâng hết cho Mẹ và Cha mỗi người được có một muỗng canh, là đã được thiên hạ xưng tụng vang danh hiếu thảo vốn là cái đạo cao nhất của loài người cho dù cái việc nhường muỗng cơm ấy chẳng qua vì không thể chia nhỏ hơn cái muỗng canh thành cái muỗng cà phê nên thà nhịn cho xong rồi mai tính sau.

Thế thì cái cực khó và đầy thử thách của hiếu tử cùng trung thần trong câu “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thầ n là gì?

Gia Phì Tri Hiếu Tử

Khi đã “vinh thân phì gia” tức thân mình thì vinh hiển chức cao quyền trọng do “có công với cách mạng” giúp cả gia đình có cuộc sống đủ đầy nhờ danh “gia đình có công với cách mạng”, thì cái danh hiếu tử chỉ thuộc về những ai thành công trong bảo toàn được danh dự tổ tiên, dòng họ, mẹ cha, trong cơn trốt xoáy hung hãn của quyền lực quyền lợi vật chất kim tiền.

Một anh hùng săn bắt cướp từng làm các trùm xã hội đen run sợ những năm đầu sau giải phóng, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì nhận tiền của trùm để “phì gia”, bỏ mặt một chiến sĩ đồng đội bị trùm sát hại, biến cha mẹ thành kẻ ngây khi nhận núi tiền của con mà cứ cho đó là tiền lương bèo bọt của cách mạng dành cho , và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy mướn người viết thư bi tráng kêu oan cho con và kể lể công trạng một đời lý tưởng tận trung với nước tận hiếu với dân của con mình.

Những tên đảng viên cao cấp dày công lao hãn mã đu trèo bám bấu lên được ngôi cao Bộ Trưởng này, Bí Thư nọ, Chủ Tịch kia, Tổng Giám Đốc đó, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì chăm chỉ vác tiền và vàng của công quỹ để “phì gia”, bỏ mặt đất nước nghèo đi, dân tộc lẹt đẹt, còn Đảng bị ô danh, biến cha mẹ thành kẻ ngố khi nhận núi tiền của con xây biệt phủ vườn tược phì nhiêu cò bay thẳng cánh mà cứ cho đó là phúc đức từ tiền lương bọt bèo của cách mạng dành cho con mình là những đấng trung thành trung hậu trung kiên, và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy nhờ người viết thư kể lể công trạng công lao công đức đạo đức tài đức của cha mẹ tổ tiên để mong con mình nhẹ tội nhờ “nhân thân tốt” lại có “thân nhân xịn”.

Đã vậy, có kẻ lại đào tẩu ra hải ngoại sau khi thành công đại thành công trong đại cuộc làm ô danh bản thân, ô danh gia đình, ô danh Đảng, ô danh đất nước. Bấy nhiêu đã đủ để khẳng định rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử” của Khổng Giáo Nho Gia hoàn toàn kém, không mang nội hàm giáo dục vì tránh né cái khó, vinh danh cái dễ.

Quốc Thái Thức Trung Thần

Còn khi quốc gia thái bình, đó mới là lúc các quan lại tỏ được sự trung trinh dành  cho một chủ thể duy nhất: quốc gia của bên thắng trận mà bản thân mình đã có góp phần vào chiến thắng ấy.

Khi quốc gia trong cảnh chiến tranh, đối thủ tức bên đối phương tức quân giặc là kẻ thù duy nhất, sự tồn tại của lãnh thổ phe ta là mục tiêu trước mắt, còn chiến thắng cuối cùng là mục đích dài lâu.

Khi quốc gia thái bình, đối thủ bao gồm 6 kẻ thù trọng yếu như (a) “phe” hay các “phe nhóm” khác, (b) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế hay những ghế hiện nay của mình, (c) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của mình, (d) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của đàn con của mình, (e) bất kỳ ai có khả năng giành phần bánh lớn hơn phần của mình, và (f) bất kỳ ai tuy cùng là đảng viên cao cấp như mình lại có tài sản vật chất dồi dào hơn mình; còn tính luôn các “mặt trận thứ yếu” khác thì còn có thêm 6 kẻ thù như (g) giặc dốt, (h) giặc nghèo, (i) giặc lạc hậu, (j) giặc tham nhũng – hối lộ, (k) giặc hành chánh quan liêu, và (l) giặc ngoại xâm tiềm tàng, mà 6 kẻ thù chót này là chuyện để Bộ Chính Trị lo, không đến phần bản thân mình phải lo cho bò trắng răng.

Chính vì vậy, thời thái bình mới là thời loạn nhất.

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà một Tổng Bí Thư lại phải đích thân ra tay trực tiếp đốt cho lò đủ nóng để có thể đốt cháy cả cũi ướt?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đội ngũ tinh hoa chính trị của Đảng phải bị cách chức, truy nã, tống giam, xử tội?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đảng viên hóa rồ, phát ngôn chõi lại Đảng như về tam quyền phân lập, xã hội dân sự, dân chủ nhân quyền, tự nguyện ăn bã nhơi lại của bọn Chống Cộng?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà các kế sách của Đảng bị vô hiệu hóa hoặc chưa bao giờ thành công như trong hiện tại đối với các kế sách về cải cách giáo dục, đầu tư hạ tầng, xây dựng con người mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng xã hội hiện đại văn hóa văn minh, và…dạy tiếng Anh cho học sinh sinh viên, v.v.?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà Đảng lại phải đe dọa đuổi ra khỏi Đảng những đảng viên nào phạm phải những nội dung nào?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà kẻ thù lại dám lơ là lớn lối trước sức mạnh của Đảng, trong khi hiện nay thì kẻ thù mặc sức nhạo báng bỡn cợt Đảng và lãnh đạo Đảng?

Cuối cùng thì câu hỏi hiện nay sẽ luôn là: ai trong số những cán bộ cấp cao hiện nay của Đảng trong chính quyền và trong Đảng là những bậc trung trinh tận tụy hy sinh chỉ biết chăm lo cho sự tồn tại của chế độ, sự hùng cường của đất nước, và sự phồn vinh của dân tộc?

Ngày nào các đảng viên cao cấp của Đảng còn giành giật các chiếc ghế quyền lực khỏi tay các bậc hiền tài để ấn vào quyền sở hữu và ngự trị của các con cháu của họ, ngày ấy Đảng vẫn chưa hề có được đến một đấng trung thần, và quốc gia thái bình trở thành dấu chấm hết cho sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII.

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

theo nguyên bản tiếng Anh tại https://laithutruc.wordpress.com :

https://laithutruc.wordpress.com/2017/10/19/thu-cong-dan-viet-nam-lai-thu-truc-goi-tong-thong-my-donald-j-trump/ 

Hoàng Hữu Phước đăng lại trên blog này ngày 19-10-2017 theo sự đồng ý của tác giả Lại Thu Trúc

 

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to POTUS Donald J. Trump

Ho Chi Minh City, 19 October 2017

 

The President of the United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

 

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this November wish to hereby present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my various opinions as follows.

For over a decade, I have read many blog articles of, and had personal talks with my mentor Mr. Hoang Huu Phuoc, the CEO of our company and also the Representative to the Vietnam’s XIIIth National Assembly (2011-2016) as well as Member to its Foreign Relations Committee. He is probably one of the very strong but unknown supporters of yours as seen via his very smart responses on his Twitter (1). In his blogs dated 01 January 2016 he even made an analysis of the nine unique strengths of yours and was the only person in Vietnam to predict your landslide triumph of the presidency (2). The points from my discussions with him as presented hereunder are non-partisan as both my mentor and I are not communist party members nor government’s officers.

A- The Shield & the Sword Status Quo of Vietnam

It is a well-proven fact that Vietnam has been for centuries being the shield and the sword to defeat and stop the China’s age-long ambitions of southward invasions to militarily colonize the territories which are now ASEAN countries e.g. Laos, Cambodia, Thailand, Malaysia, Singapore, Brunei, and Indonesia, thus indirectly ensuring the peaceful existence of the now Australia the owner of Darwin. This status quo of Vietnam in the present regional arena of an aggressive China claiming its assertions of sovereignty over the whole South China Sea makes Vietnam in dire need of considerable supports from the USA.

In this regard, I believe Vietnam need possess nuclear weapons to protect itself from the threats of invasions from China – and of course to protect regional states as well.

However, as strictly ruled by the NPT (Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons), the NWS pledge not to transfer nuclear weapons or other nuclear explosive devices to any recipient or in any way assist, encourage or induce any non-nuclear-weapon state in the manufacture or acquisition of a nuclear weapon, and this makes the issue of Vietnam’s possession of nuclear weapons impossible.

To solve this problem, I think the government of Vietnam should talk with the USA on the deployment of THAAD or Aegis Ashore systems, should the sales be approved by your Department of State.

B- The Supportive Navy Cooperation between Vietnam and the USA

Also in coping with the tension eruption in the South China Sea ignited by China, the government of Vietnam should also discuss with the USA and approve the development of the naval port at Cam Ranh Bay for deployment of and patrols by warships of both Vietnam and the USA to control, protect, and safeguard the freedom of navigation and maritime trade route security.

C- The Decisive Supportive Aspects from the USA to the World: Considering to Shutter the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor

The very last but never the least point I wish to invite your kind attention to is the inconvenient issue from the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor.

Every year that bureau issues the so-called Country Reports on Human Rights Practices. While failing to offer a fully understandable and convincing definition of “democracy”, this work is a costly practice as huge human resources – and huge budgets – of the administration are simply wasted in toiling to collect data of dubious sources from each country for that reporting to the US Congress. It is of a totally useless purpose, irritating not only the government but also the people of each country listed in the report.

This practice is ignored by all – at least by Vietnam’s government and the majority of its people  – and considered only an individual war game between the US Department of State and its counterpart China’s State Council Information Office who annually publishes its own “Human Rights Record of the United States(3).

Among many other misleading comments, whist blaming Vietnam’s imaginary “the most significant human rights problems in the country were severe government restrictions of citizens’… right to change the government” as stated in its Vietnam 2016 Human Rights Report within the above-mentioned Country Reports on Human Rights Practices, the Bureau ignored the obvious fact that there is a similarity between the Vietnam’s applicable law and the 18 US Code § 2385 on advocating overthrow of government (4).

I personally believe the shuttering of the Bureau of Democracy, Human Rights and Labor under your Department of State just like the recent case of Secretary Rex Tillerson’s decision to shutter the Office of Global Criminal Office J/GCJ (or Office of War Crime Issues) will contribute to your MAGA efforts to make the US State Department to regain its prestige and to achieve its budget management, particularly to stop playing the controversial role of lonesome argumentation with China only. Its talented staffs would help the country a lot if providing their positive supportive services to the other offices under the US Department of State, e.g. EAP, EUR, NEA, or WHA, or the like.

 

I hope that with your kind consideration, influence and power, the above opinions would be of values in order that both Vietnam and the USA could materialize the effective sustainable cooperation for securing peace and free maritime trade of ASEAN in particular and the world in general.

 

Most respectfully,

 

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Blog: https://laithutruc.wordpress.com

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

References:

(1) @HoangHuuPhuoc

(2) https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/  (in Vietnamese)

(3) http://news.xinhuanet.com/english/china/2017-03/09/c_136115481.htm

(4) https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/2385

Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi – 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2017

Thủa bờ-lốc bờ-liếc mới xuất hiện với Yahoo!3600 tôi có mở trang Hoang Huu Phuoc-Aspiration đăng khoảng gần nửa ngàn bài viết bằng tiếng Anh, đồng thời do vẫn còn chút tưởng tin vào cái lý tưởng gọi là “nhật ký điện tử” hoặc “không gian sẻ chia những cảm điệu” tôi để mở toang cửa cho phần “comments”. Ngoài những comments ngợi khen (thủa ấy “ngợi khen” là cách hành xử duy nhất của mọi người xài blog tức những người đầu tiên bước chân một cách lịch lãm lịch sự với trang phục trang nhã vào không gian mạng chứ không phải đa số trần truồng trơ trẻn trâng tráo đầy trục trặc như hiện nay), mà tôi đọc cho vui rồi gõ trả lời ngắn gọn “Thank You”, tôi còn nhận rất nhiều các câu hỏi bằng tiếng Anh đa số đến từ các sinh viên ở các trường đại học trên cả nước, các giáo viên Anh Văn trung học, hỏi về chủ đề học tiếng Anh, viết tiếng Anh, nói tiếng Anh, dạy tiếng Anh. Năm khi mười họa mới có một câu hỏi nào đó về thời cuộc nước nhà và cuộc thời giới thế.

Cho đến khi Yahoo! phạm sai lầm chiến lược – mà tôi đã viết ngay hai bài bằng tiếng Anh mắng mỏ Yahoo! về sai lầm lổn nha lổn nhổn Mess ấy đăng lên Aspiration – tôi “dọn nhà” sang mạng doanh nhân Emotino.com theo sự tích cực giới thiệu của cô Lại Thu Trúc. Ở Emotino tôi buộc phải viết toàn bằng tiếng Việt, và nếu văn ôn võ luyện phải viết tiếng Anh cho bớt nhớ nhung khắc khoải muộn phiền thì tôi thỉnh thoảng kèm thêm bài song ngữ Việt và Anh.

Rồi khi tôi vào Quốc Hội bị “ném đá comments” bởi báo chí cùng báo chấy, tôi tuyên bố độc lập bằng cách vào mạng Blog.com mở một hơi 8 blog cho từng chủ đề khác nhau, từ “Chống Tàu” cho đến “Tham Luận”, “Thầy Cô”, v.v., với đặc điểm khóa toàn bộ các “comments”. Dần dà, khi Blog.com lộ rõ hạ tầng kỹ thuật yếu kém của nó, tôi chuyển hết sang WordPress.com này, và blog của tôi trở thành đa ngành đa chủ đề đa…nguyên đa sự đa đoan, cũng vẫn khóa hết “comments”. Cũng vì vậy, tôi chỉ nhận các câu hỏi từ những người thân quen từ dạo Yahoo!3600 mà thôi, và cách liên lạc duy nhất là bằng email hay tin nhắn điện thoại với điều kiện địa chỉ email hay số phone của người đặt câu hỏi phải đều có sẵn trong danh bạ của tôi; kỳ dư đối với người “mới”, tôi chỉ nhận các câu hỏi qua thư bưu điện hoặc fax.

Nhận thấy hiện có một số câu hỏi liên quan đến vài chủ đề có thể là sự quan tâm chung của nhiều người dân Việt, tôi chọn ra 6 nội dung đã trả lời riêng sau để hình thành bài viết mang tính “tổng hợp” và thời thượng thời sự này.

Câu hỏi 1: Ông Hải Quận 1 sao lại “làm nhục” U Minh?

Chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ các bạn ạ – Much ado about nothing ấy mà.

Chẳng qua xã hội chúng ta luôn có sự hòa âm điền dã của (a) vấn nạn muôn đời “giật tít câu view” của báo chí phe tabáo chấy phe giặc, (b) vấn nạn thời vụ của báo chí phe ta hư đốn phản phúc luôn làm đủ mọi cách để hạ phẩm giá và uy tín của cán bộ nhà nước Cộng Sản để từ đó hạ bệ chế độ, và (c) trình độ hùng biện quái gỡ của cán bộ cao cấp – kể cả cán bộ tuyên giáo cấp cao – chỉ thể hiện khi nói gì đó cơ bản ngắn gọn thuộc lòng về chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và Lịch Sử Đảng in đầy đủ trong giáo trình chứ cà lăm lắp bắp toàn phần hay một phần khi bị cật vấn vặn vẹo về ngôn ngữ, chiến lược quốc gia và chiến thuật địa bàn bất kể cái địa bàn ấy là làng, xã, quận, huyện, thành phố, hay tỉnh.

Ông Hải hùng biện thanh minh ông đâu có điên mà ám chỉ như thế như thế như thế về U Minh.

Lãnh đạo của ông Hải lật đật hùng biện tuyên bố xiết bao yêu thương người dân U Minh.

Lãnh đạo U Minh ra uy hùng biện bảo lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh phải giải thích cho ta ngay lập tức.

Tất cả khơi nguồn nhen nhóm địa chấn làm vỡ vụn sự toàn vẹn toàn khối toàn cục.

Giá như ngay khi bị báo chíbáo chấy giỡ trò, ông Hải giải thích rằng ông ngụ ý sâu xa: chỉ mới ở một điạ phương như Quận 1 với lèo tèo chỉ hai điều cấm liên quan đến đậu xe và lề đường mà đã không tuân theo quy định ấy được thì làm sao tuân thủ quy định của cả Thành phố Hồ Chí Minh, và làm sao đáp ứng được các quy định cực kỳ nghiêm ngặt đặc thù của Rừng U Minh. Cứ về Rừng U Minh mà sống để được dạy dỗ tới nơi tới chốn, là sẽ biết thân biết phận ngay, vì chính quyền địa phương tại đó đương nhiên không cho phép ô tô xe máy tự tiện chạy ồ ạt vào rừng, tự tiện phát cỏ chặt cây làm đường xe chạy, tự tiện dùng phương tiện chạy xăng dầu tức nhiên liệu không xanh làm ô nhiễm không khí, tự tiện bấm còi xe inh ỏi làm kinh động thú rừng, tự tiện dẫm đạp lên thảm thực vật, tự tiện phóng xe tốc độ không chậm khiến làm sai lệch các thiết bị quan trắc, tự tiện hái quả/đào củ/nhổ nấm rừng, tự tiện cắm trại ăn uống, tự tiện nhóm lửa, v.v. và v.v., để Rừng U Minh vẫn còn cơ hội sánh được rừng mỹ miều mỹ mãn của Mỹ quốc:

Questions (1)Questions (7)

Giá như khi thấy ông Hải bị báo chí báo chấy giở trò, lãnh đạo U Minh ra thần uy giáo dục truyền thông rằng lãnh đạo U Minh hiểu nội hàm phát biểu của ông Hải là như trên, nên một mặt cảm ơn ông Hải, một mặt rất lo lắng về trách nhiệm nên sẽ rà soát lại xem các quy định hiện nay cần bổ khuyết những gì để nghiêm khắc hơn, hà khắc hơn, dữ dội hơn, chi li hơn, ngõ hầu bảo vệ được Rừng U Minh, đặc biệt trước quá nhiều nguy cơ không những đến từ Mẹ Thiên Nhiên mà còn đến từ những đứa con thiếu ý thức của Mẹ ấy.

Tất cả những phát ngôn của cán bộ Nhà Nước đều là cơ hội bằng vàng để báo chíbáo chấy sáng tác sáng tạo sáng chế bài viết hoặc công kích – nếu là của quan chức tép riu cấp quận – hoặc tán dương – nếu là của quan chức tôm hùm cấp nước.

Tất cả các phán phê của truyền thông đều là cơ hội bằng vàng để cán bộ Nhà Nước chứng minh các giáo trình và giảng viên bộ môn cao cấp lý luận chính trị hoàn toàn không vô dụng.

Tiếc thay, trong khi báo chíbáo chấy không bao giờ bỏ qua cơ hội thì các cán bộ Nhà Nước luôn vô tư nhổ toẹt vào các cơ hội ấy.

Câu hỏi 2: Vì sao vẫn còn vấp dư luận này nọ về quy định trang phục của Hà Nội và  Cần Thơ?

Hầu như mọi vấn đề trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam đều được nêu lên kèm các tư vấn mang tính biện pháp trên chính blog này, chẳng hạn phát biểu gần đây của một nữ nghị sĩ Khóa XIV Tỉnh Khánh Hòa về đặt tên “thuần Việt” hay của một chức sắc Thành phố Hồ Chí Minh về “đặt tên Tiếng Anh”

Questions (6)

đều không trên cơ sở bút chiến luận sâu sắc mà chỉ là những nêu vấn đề ngắn gọn rất trẻ con, phi hiện thực, phản…“hội nhập” , hoàn toàn không hùng biện, chẳng hạn dễ dàng bị phản luận rằng phải chăng “không có lợi cho truyền thống” đồng nghĩa với “không có lợi cho…kiểu đặt tên Hán-Việt”, vì Hán-Việt không-phải-Việt vẫn được mặc định là chính-danh-thuần-Việt?  Về vấn đề này đã có phân tích tại Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Trong khi đó, về mại dâm mà Quốc Hội và báo chí cứ nhớ nhung nhắc nhở

Questions (5)

thì cũng đã có sẵn hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Luật Hóa Mại Dâm Ư?.

Tương tự, việc đài truyền hình cứ đưa tin hoài về cái việc “còn nhiều ý kiến khác” liên quan đến “quy định trang phục” cũng sẵn có bài hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân mà bạn có thể dễ dàng xem lại hoặc tham khảo thêm.

Để mang tính cập nhật và thời thượng, xin trình cùng bạn rằng bên Mỹ đang có vấn nạn tại giải bóng bầu dục chuyên nghiệp toàn quốc nhiều cầu thủ đẳng cấp triệu phú đã bày tỏ sự chống đối Tổng Thống Trump bằng cách mỗi khi sân vận động trỗi quốc thiều, hát quốc ca, chào quốc kỳ thì họ hoặc ngồi lỳ trên ghế, hoặc ngồi thụp xuống đất quỳ một chân, chứ không chịu đứng lên nghiêm chào cờ với bàn tay đặt trên ngực như từ trăm năm nay. Tất nhiên trên Twitter tràn ngập các tải đăng lời rủa nguyền hành vi bất kính đó từ Tổng Thống Trump và nhiều người dân khác, kể cả các “fan” của các cầu thủ ấy cũng phản đối hành vi hỗn láo ấy. Nhưng ý kiến không-hề-nguyền-rủa sau đây của Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Mnuchin có thể là quà tặng – hay là cẩm nang xử lý công việc – cho các lãnh đạo công quyền ở Hà Nội và Cần Thơ:

Questions

Từ đó, có thể nói rằng các công chức viên chức ở Hà Nội và Cần Thơ nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan công quyền chuyên nghiệp nào có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng các bác sĩ và nhân viên y tế tại các bịnh viện nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan y tế chuyên nghiệp có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng ngay khi báo chí và báo chấy viết gì đó hay nói gì đó về quyền tự do cá nhân ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do ngôn luận ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do biểu đạt ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, thì phải hiểu ngay là báo chí/báo chấy hoặc (a) đang xách động cho kiểu tương tự tự do cá nhân đang đứng nói chuyện ồn ào thì vội thụp xuống lột chuối ăn ngay khi nghe loa phóng thanh yêu cầu đứng nghiêm chào cờ:

Questions (4)Questions (3)

và tương tự tự do “treo” cờ trên sàn làm tấm chùi chân này để thực thi quyền tự do biểu đạt:

Questions (2)

của Nước Mỹ Vĩ Đại; hoặc (b) thề không bao giờ đọc tin của bất kỳ báo in/báo mạng của nước ngoài nên chả hiểu biết gì sất về cái biến thiên của cái sự đời.

Câu hỏi 3: Tại sao Việt Nam ngày nay vẫn còn xuất hiện mấy vụ ồn ào như của  Nguyễn Xuân Anh ở Đà Nẳng và làm sao để tránh được các lùm xùm tương tự?

Đơn giản là lãnh đạo Đảng và Nhà Nước nếu muốn đừng có các “lùm xùm” tương tự bất kỳ thì chỉ cần quan tâm đến sự thật là “trẻ hóa” hoàn toàn tối kỵ với 4 điều không bao giờ có thể tách rời gồm (a) “trẻ quá”; (b) thiếu kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, và quản trị; (c) vắng thành quả thực tiễn; và (d) không trên cở sở đạo đức gia phong.

Trẻ hóa là một tiến trình lý tưởng cao nhất của sự công bằng trong dụng nhân ở cấp lãnh đạo, nhất là trong phạm vi chính trị, nhằm đã phá kiểu “ở lâu lên lão làng” hoặc kiểu “con sãi ở chùa mãi quét lá đa”.

Trẻ hóa chỉ phát huy tác dụng tích cực nếu trên cơ sở nền tảng lý luận và nền tảng thực tế rằng trẻ hóa nhất thiết phải luôn gắn liền với bề dày kinh nghiệm cùng số lượng cao của thành quả thực tiễn chất lượng cao – như đã nêu chi tiết trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

1- Trẻ Quá:

Ngay cả giai thoại về Nguyễn Hiền trong Việt Sử cũng cung cấp một bài học đắt giá rằng việc Trạng Nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi phải về quê học hỏi thêm về lễ nghi mới được phong chức chốn triều đình đã chất chứa trong nó hai nội hàm mang tính chân lý toàn cầu rằng (a) việc hoàn tất việc học của một người – ngay cả khi có kết quả học tập thật cao – không có nghĩa là người đó thích hợp ngay với công việc chuyên môn và công tác quản trị, nhất là trong phạm trù trị quốc, lãnh đạo quốc gia về chiến lược phát triển quốc gia và chính trị/kinh tế/tài chính; và rằng (b) học luôn phải đi đôi với hànhhành không phải là thực hành trong đợt thực tập trong thời gian còn đang học mà là đem những gì đã học xong tức đã tốt nghiệp ra thi thố tại nơi làm việc “tư nhân” như đã nêu trong bài Chìa Khóa Của Cường Thịnh tức phải tìm việc trong cạnh tranh gian nan chứ không được bố trí đương nhiên vào công sở đầy đặc ân của Nhà Nước dành cho con em cán bộ cao cấp – cho một kế sinh nhai và có đạt thành quả tốt sau nhiều năm tháng.

Về phương diện Nhà Nước và chính trị, người trẻ quá dứt khoát không được nắm quyền lãnh đạo bất kỳ về chính trị, tài chính/ngân hàng thuộc Nhà Nước, ngoại giao cấp Nhà Nước, và về các kế sách phát triển cấp Nhà Nước.

Trẻ quá chỉ có thể nắm quyền sinh sát tất cả những đơn vị/cơ quan/doanh nghiệp không thuộc Nhà Nước.

Có như vậy, trẻ quá mới không bao giờ trở thành quốc nạn.

2- Thiếu Kinh Nghiệm & Thiếu Thành Quả Thực Tiễn:

Từ nội dung “trẻ quá” nêu trên, lãnh đạo trẻ quá có thể tồn tại ở một doanh nghiệp nếu chỉ trên cơ sở tài sản riêng của gia đình. Lãnh đạo trẻ quá không bao giờ được phép tồn tại trong công việc lãnh đạo cơ quan hay doanh nghiệp trong guồng máy Nhà Nước – trừ phi người trẻ quá đó tuy tốt nghiệp đại học năm 22 tuổi và có bằng thạc sĩ năm 24 tuổi nhưng đã lao lung làm việc từ năm 15 tuổi nghĩa là đã có dồi dào kinh nghiệm 10 năm làm việc vào thời điểm nắm bằng thạc sĩ trong tay. Kinh nghiệm là tiêu chuẩn mấu chốt của mọi tuyển dụng quan trọng. Chỉ trong trường hợp cá biệt người quá trẻ có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh thiên phú nhưng phải là năng khiếu lãnh đạo nỗi bật được nhiều người tại cơ quan người ấy công tác biết đến các thành quả cụ thể chứ không phải bất ngờ xuất hiện như trên trời rơi xuống chễm chệ ngự trị ngôi cao nhờ ô dù của ai đó.

3- Đạo Đức Gia Phong:

Đạo đức gia phong hoàn toàn không bao giờ trùng nội dung với đạo đức cách mạng.

Đạo đức gia phong là thứ đạo đức mang tính kế thừa, dài hạn, thống nhất, phát huy phát triển, lan tỏa, truyền thống, nhân văn, vững bền vượt thời gian bất kể chế độhay triều đại, được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng về những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và mang tính tự nhiên. Không thứ chủ nghĩa xét lại nào có thể làm tan biến giá trị của đạo đức gia phong.

Đạo đức cách mạng là thứ đạo đức không tự nhiên có, mà phải qua giáo dục tư tưởng nên luôn mang đặc tính chính trị, luôn mang tính cá nhân không tự động kế thừa, không có đặc tính tự động phát huy hay tự động phát triển, không thể lan tỏa, không thể tồn tại dài lâu tùy sức công phá có mạnh hay không của chủ nghĩa xét lại, không được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng vì không có những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và rất phổ biến dạng thức tự động có danh đạo đức cách mạng khi là đảng viên cao cấp (giống như khi đã là đảng viên có nhiều tuổi Đảng tự động được danh tiếng trung kiên) còn khi đảng viên cao cấp ấy gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng trốn ra nước ngoài bị truy nã toàn cầu thì cái đạo đức cách mạng ấy tự động tan biến đi không kèn không trống không cần thông báo nghị quyết chính thức tước bỏ.

Vì lý do trên, đại cuộc trẻ hóa và việc sử dụng nhân lực trẻ quá nhất thiết phải không thiếu tiêu chuẩn về đạo đức gia phong trong tuyển dụng và bố trí, vì bốn tiêu chuẩn lớn nhất mà tầng lớp lãnh đạo nên có là sự đoan chính, đức thanh liêm, lòng trung tín, cùng năng lực nhân-trí-dũng hoàn toàn chỉ được hình thành từ nền nếp tự hào gia phong chứ không bao giờ là những nội dung mà một đảng chính trị có thể giảng dạy bằng giáo trình lý luận chính trị cho đảng viên.

Sẽ không thể xuất hiện các đấng “tuổi trẻ tài cao” Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, và Vũ Đình Duy, v.v., làm Đảng lúng túng, làm nhục quốc thể, nếu như việc lựa chọn người lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã trên cơ sở có luôn quan tâm đến những nội dung đánh giá nhân sự “trẻ hóa” như trên.

Gương trẻ hóa tuyệt diệu nhất và thành công nhất còn được minh chứng qua trường hợp các đứa con của Donald Trump: họ là những người tích cực, năng nổ, thành công trong quản trị doanh nghiệp, thành đạt trong sự nghiệp kinh doanh riêng và chung trong thời gian rất dài trước khi Donald Trump trở thành Tổng Thống; và sự “tham chính” của họ làm các trợ lý cho Donald Trump đã khiến Donald Trump trở thành nhà lãnh đạo quốc gia đầu tiên và duy nhất của toàn thế giới được giúp sức hữu hiệu bởi những người con đã thành công nổi bật mà hoàn toàn không dựa vào uy thế tổng thống của người cha, mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong Bài Học Cho Việt Nam Về Công Tác Nhân Sự. Giai tầng “trẻ hóa” không thể áp dụng vào lãnh địa chính trị nếu như các lực lượng kế thừa chính trị không có chất lượng cao bằng con cái của Donald Trump.

Câu hỏi 4: Tại sao đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến việc nội dung truyền thông phải tương thích với trẻ em?

Sự thật thứ nhất là tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri của Đơn Vị 1 Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII của các nghị sĩ Trương Tấn Sang, Trần Du Lịch và Hoàng Hữu Phước suốt từ năm 2011 đến 2016, đặc biệt tại Quận 4 là nơi 100% buổi đều có ít nhất hai cử tri đặt vấn đề về loạn văn hóa phẩm độc hại trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống.

Sự thật thứ hai là các nghị sĩ Trương Tấn Sang và Trần Du Lịch tức hai vị độc quyền trả lời cử tri đã chưa bao giờ trả lời trực tiếp đối với các vấn nạn văn hóa mà cử tri chất vấn tại chỗ.

Sự thật thứ ba là toàn thể các báo đài có phóng viên tác nghiệp trực tiếp tại các buổi tiếp xúc cử tri ấy chưa hề có đăng clip hay bài viết hoặc thông tin về những phát biểu có thật 100% ấy của cử tri, mà chỉ tập trung nói/chiếu/viết về những ý kiến của Chủ Tịch Nước đối với chủ quyền biển đảo Biển Đông và tham nhũng, dù rằng toàn bộ các trả lời về Biển Đông luôn giống hệt các thông tin được lập đi lập lại bởi các lãnh đạo khác, còn tham nhũng thì ngoài hình ảnh đông đúc như “bầy sâu” trong ngôn từ khẩu khí của nghị sĩ lãnh đạo thì người dân cả nước chả thấy tội phạm tham nhũng thực thụ có tên họ nào cả.

Các sự việc sự thật trên chứng minh

1) Việt Nam hoàn toàn không có lãnh đạo nào của Nhà Nước quan tâm đến việc tạo ra các rào cản kỹ thuật đối với văn hóa phẩm đồi trụy của cách mạng dù thời gian đầu giải phóng đã triệt để bài trừ văn hóa phẩm đồi trụy của Mỹ-Ngụy, và đã làm ngơ để mặc cho các cơ quan truyền thông có quyền tự do hủy phá nhân cách, hủy hoại tâm hồn tư tưởng tư duy của con cháu của cử tri toàn quốc, bằng các phim ảnh/tác phẩm nội địa luôn khai thác việc hiếp dâm, đĩ thỏa, trần truồng, chước quỷ mưu ma, gian manh xảo trá, lưu manh giết chóc, ăn nói quàng xiêng, tả chân sa đọa.

2) Lãnh đạo Nhà Nước Việt Nam hoàn toàn không có sự quan tâm đến việc ngăn cấm các cơ quan truyền thông đại chúng làm giàu từ quảng cáo luôn dựa vào các sản phẩm văn hóa có tính đồi trụy, có cảnh hiếp dâm chi tiết, có diễn đĩ thỏa trần truồng, có bày chước quỷ mưu ma, có chiêu gian manh xảo trá, có trò lưu manh giết chóc, có kiểu ăn nói quàng xiêng, và có cách ăn mặc không nghiêm túc, nghĩa là có đủ thứ trừ chất lượng văn hóa nghệ thuật đỉnh cao.

3) Tại Việt Nam, cử tri không được lãnh đạo Nhà Nước lắng nghe nếu ý kiến của họ liên quan đến công kích truyền thông, bảo vệ tâm hồn lành mạnh của trẻ thơ, làm vơi thu nhập tỷ đô của truyền thông.

Câu hỏi của bạn sẽ có câu trả lời rằng nếu nay bắt đầu có như vậy thì đã bắt đầu tốt rồi.

Câu hỏi 5: Vì sao cứ Cải Cách Giáo Dục hoài?

Cải cách giáo dục ở nơi khác trên hành tinh này là hoạt động không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới, với mục đích duy nhất là làm một nền giáo dục đã thành công nay trở nên tương thích hơn, hiệu quả hơn, tốt đẹp hơn, ngõ hầu dẫn đến xã hội có nguồn nhân lực chiếm lĩnh đỉnh cao và bất khả chiến bại trên trường quốc tế. Cải cách do đó phải không ngừng, phải hoài hoài.

Cải cách giáo dục ở Việt Nam là động tác tự cứu mình ngay khi sự thất bại trở thành hiển nhiên của một cải cách giáo dục trước đó và toàn bộ kinh phí đã bị ngốn sạch sành sanh không còn lại chút gì để sửa chữa, chỉnh điều.

Lý do có sự thất bại triền miên mang tính truyền thống thâm căn cố đế trong giáo dục và cải cách giáo dục ở Việt Nam: chưa hề có chuyên viên thực thụ nào về giáo dục có kinh qua giảng dạy thành công, có kết quả hữu hiệu từ giảng dạy thành công, có hiểu biết và nghiên cứu sâu sắc về tất cả các lĩnh vực giảng dạy/học tập/soạn giáo trình/lý luận giáo dục cao cấp trong thấu đáo thế mạnh dân Việt và thế mạnh dân Âu Mỹ, v.v., trong danh sách những “giáo sư” “phó giáo sư” của ban cải cách giáo dục của tất cả các kỳ cải cách giáo dục ở Việt Nam, thậm chí những vị có tên trong công trình cải cách giáo dục thất bại lần này lại tiếp tục có mặt trong danh sách cải cách giáo dục lần sau, với đặc điểm kinh phí cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công sau luôn cao hơn kinh phí đài thọ cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công trước.

Biện pháp duy nhất có thể khắc phục để có thể lần đầu tiên có được một cải cách giáo dục thành công: đơn giản hãy công khai tuyển chọn qua phỏng vấn trực tiếp các nhà chuyên nghiệp, thay vì tự lập danh sách “chuyên gia giáo dục” bất tài vô dụng từ lợi ích nhóm như từ trước đến nay tức chỉ toàn những nhân vật thuộc bí mật quốc gia đến độ chỉ có lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo Nhà Nước mới biết đến năng lực của họ chứ toàn dân chẳng biết gì về các tối mật ấy.

Câu hỏi 6: Tình hình kẹt xe ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ còn có giải pháp nào hữu hiệu?

Ngay khi Hà Nôi công bố giá trị giải thưởng vấn kế giải quyết tình trạng giao thông là tôi đã nói ngay rằng cách chi mà có giải pháp.

Ngay khi Thành phố Hồ Chí Minh công bố làm cầu vượt giải quyết kẹt xe ở cửa ngõ Sân Bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nói ngay rằng cầu vượt sẽ không là giải pháp thành công.

Cơ sở cho những “tiên đoán” không sai của tôi gồm:

– Không bao giờ giải quyết được những vấn đề giao thông/hạ tầng giao thông/kẹt xe/ngập nước nếu vẫn chưa trước hết phải có luật pháp/quy định nghiêm khắc, hà khắc;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu vẫn ngây thơ ngây ngô ngây dại lảm nhảm hoài về “giáo dục người dân có ý thức hơn”;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu chưa tìm đến đúng nhà tư vấn chiến lược thực thụ;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu luôn luôn giở cẩm nang in sẵn rằng lĩnh vực A thì hỏi ông A, lĩnh vực B thì hỏi ông B, lĩnh vực C thì hỏi bà C, nội dung “Sân bay Tân Sơn Nhất” thì hỏi “kiến trúc sư” X, nội dung xây dựng thì hỏi “nguyên Bộ trưởng” Y, nội dung nông nghiệp/giáo dục/kinh tế thì hỏi “giáo sư” Z1/Z2/Z3, v.v. và v.v.

Đối với vấn nạn kẹt xe ở Sân bay Tân Sơn Nhất thì muốn có biện pháp thành công thì nhất thiết phải xử lý các xuất phát điểm gây ra vấn nạn ấy như đã nêu chi tiết tại bài Phi Trường Tân Sơn Nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 18-9-2015

Tứ Đại Ngu  2012

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Phi Trường Tân Sơn Nhất  07-01-2009

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-9-2017

Người Chứng Của Chân Lý (1)

Chân lý không được mặc định bó buộc phải là kết quả của tư duy nơi các đấng triết gia, các nhà khoa học, các vĩ nhân kim cổ; đơn giản vì chân lý đến từ cuộc sống thực, chiêm nghiệm thực, mà chiêm nghiệm không bao giờ được mặc định là hành trạng tư duy độc quyền riêng của các tầng lớp cao trọng, quý tộc cao sang, trí thức cao vời của cộng đồng và nhân loại.

Chân lý có khi bật bung ra từ chiêm nghiệm hay cuộc sống của nô lệ, nông nô, thành phần bất hảo, bất kể sự chiêm nghiệm ấy cho những điều tầm thường hay kỳ vĩ, hoặc từ hành động hành vi hành xử của những người mà nhân loại nguyền rủa bất kể sự nguyền rủa ấy đúng hay sai.

Tác giả bài viết này từ quyển Søren Kierkegaard, Người Chứng Của Chân Lý trong ba tá sách phần thưởng ông nhận được từ kỳ Đố Vui Để Học đài truyền hình Sài Gòn dịp Giáng Sinh 1967 khi đội lớp Nhì (tức lớp 4 hiện nay) tiểu học Phan Đình Phùng, Quận 3, của ông (gồm ông là đội trưởng, và hai học sinh khác là Tống Kim Lan – cô này được những chuyên viên phụ trách thu hình yêu cầu ngồi ghế giữa vì nữ sinh này có đôi chân rất dài khiến cô lúc ấy cao hơn đội trưởng…một cái đầu – hiện vẫn ở Quận 3, và Nguyễn Sơn Hải hiện định cư ở Hoa Kỳ) thắng đội lớp Nhì trường “đầm” Hồng Bàng, đã cho title của bài này là Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý để nêu ra những chân lý thời đại nguyên tử như sau.

Người Chứng Của Chân Lý

A) Chân Lý Có Thể Luôn Đúng Nhưng Luôn Không Đúng

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Hai võ sĩ quyền anh thượng đài không bao giờ có việc một bên không được đeo găng tay, không được đi giày, không được mặc quần, và không được ngay cả ra đòn tay hay đòn chân của kick-boxing – nghĩa là một bên buộc phải là cái bị thịt trong một trận đấu tranh giải quyền anh hạng nặng thế giới. Chỉ có quân mọi rợ mới ra cái quy định cấm đoán thiên vị công khai ấy. Liên Hợp Quốc là quân mọi rợ vì đã chỉ cấm Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có sự “cầm cân nẩy mực” của trọng tài dựa trên các các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Không bao giờ có việc một đám 15 đứa trọng tài hè nhau cùng lúc thổi còi trừng phạt một võ sĩ chỉ vì võ sĩ ấy có đeo găng tay, có đi giày, có mặc quần, có ra đòn tay hay đòn chân chạm đến võ sĩ người nhà của trọng tài. Chỉ có quân mọi rợ mới thổi còi như vậy. Hội Đồng Bảo An 15 thành viên chính là quân mọi rợ vì đã chỉ thổi còi trừng phạt Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Kiểu hành xử giang hồ tứ chiếng trên đã được thực thi rất nhiều lần trong lịch sử cận đại và hiện đại, mà cụ thể là hai trường hợp nổi bật sau:

1) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (gọi tắt là Việt Nam) và Liên Hợp Các Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) thì Việt Nam là bên thắng trận lại bị bên bại trận là Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc-gia-đồng-minh với Mỹ hoặc giữ vai trò bàng quan sao cũng được của quốc-gia-khán-giả. Cái gọi là “tinh thần thượng võ” của thể thao khi võ sĩ bị knockout mặt mày bầm dập gảy răng tét môi đầy máu ôm chúc mừng võ sĩ đối phương thắng trận, đã không bao giờ được siêu cường nguyên tử Mỹ áp dụng đối với Việt Nam.

2) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Choson (gọi tắt là Triều Tiên) và tập thể hai quốc gia Liên Hợp Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) cùng Cộng Hòa Hanguk (gọi tắt là Hàn Quốc) thì

a- Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để Triều Tiên và cấm vận liên tục với mức độ ngày càng gia tăng nặng nề nghiêm trọng hơn, với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc gia đồng minh với Mỹ hoặc những quốc gia giữ vai trò bàng quan của khán giả;

b- Mỹ cấm Triều Tiên không được tự vệ khi áp đặt yêu cầu Triều Tiên phải hủy bỏ chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử như điều kiện tiên quyết dù Triều Tiên sở dĩ còn tồn tại nhờ có vũ khí nguyên tử ấy để tự vệ và răn đe kẻ thù, và dù Mỹ-Hàn dứt khoát không chấm dứt các cuộc tập trận theo yêu cầu tiên quyết của Triều Tiên cho các đàm phán có liên quan đến vũ khí nguyên tử, thậm chí Mỹ cũng không chấp nhận yêu cầu của Triều Tiên muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ chứ không thông qua “thiên hạ”;

c- Hàn Quốc tiến hành nhiều chiến thuật tâm lý chiến quyết tấn công triệt hạ chế độ Triều Tiên như lắp đặt hệ thống loa công suất lớn dọc biên giới để công kích Triều Tiên, thả khinh khí cầu qua lãnh thổ Triều Tiên rải truyền đơn kêu gọi lật đổ chế độ Triều Tiên, có sự giúp sức của các đài truyền thông Châu Âu phát chương trình tiếng Hàn nhằm cung cấp cho dân Triều Tiên những thông tin “thật” về tình hình “phản tự do phản dân chủ” của chế độ Triều Tiên; v.v.

B) Chuẩn Bị Chiến Tranh Là Lựa Chọn Duy Nhất Để Bảo Vệ Đất Nước

“Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” là câu châm ngôn lạc hậu, lỗi thời, yếu kém.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” là câu đối đã chưa từng được giải thích chuẩn xác chuẩn mực ngay cả bằng tiếng Việt.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn” không bao giờ là một vũ khí thực tiễn trong chiến tranh trên thực địa chiến trường, mà là một sử dụng kiểu tâm lý chiến hay chiến tranh chính trị trong nội bộ để khích lệ và trong đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế hoặc phục vụ mục đích tranh biện. Trên chiến trường quyết chiến quyết tử được phân định bằng làn ranh mỏng manh của bom đạn thì cái cụ thể nhất của “thắng hung tàn” phải luôn là tiêu diệt tàn sát đối phương mà ta đã nhanh tay đặt tên cho chúng là bọn khát máu hung tàn.

“Lấy chí nhân mà thay cường bạo” luôn chỉ là câu nói của bên thắng trận sau khi đã tiêu diệt xong hỏa lực đối phương, vì rằng chỉ có kẻ ngu xuẩn mới thốt ra trước khi lâm trận trên chiến trường là nơi chỉ có bấm nút bóp cò khai hỏa vũ khí tối tân nã vào quân địch.

Vì vậy, không phải muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, mà chính là luôn phải chuẩn bị vũ khí sát thương cao để nhanh chóng tàn sát quân thù ngay cửa ngõ biên giới nước nhà, đơn giản vì trong thời đại hiện nay hòa bình chỉ có thể là từ ngữ vô nghĩa, thứ chữ vô minh, sự ru ngủ hay tự ru ngủ, sự mất cảnh giác hay khiến đối phương mất cảnh giác, liều ma túy chính trị, sự tự sát, và tấm giẻ chùi chân làm sạch gót giày trước ngưỡng cửa hội đàm Liên Hợp Quốc.

C) Sở Hữu Vũ Khí Nguyên Tử Là Lựa Chọn Duy Nhất Đúng Để Bảo Vệ Đất Nước

Dân tộc Châu Sơn là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu và của Nhật.

Dân tộc Lạc Hồng là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu, của Pháp, của Nhật, của Mỹ, của Campuchia.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ cực đoan của cả Triều Tiên và Hàn Quốc là như nhau, mặc dù cả hai đều có “chính nghĩa” riêng để chống nhau do cả hai là hai quốc gia thành viên riêng biệt của Liên Hợp Quốc.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ đối kháng của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là như nhau, mặc dù duy chỉ có Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có “chính nghĩa” trên cơ sở (a) tổng tuyển cử thống nhất đất nước minh định tại Hiệp Định Geneve hình thành từ chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước Pháp Quốc giải phóng cả Đông Dương, (b) “Miền Nam” là lãnh thổ thuộc Liên Hiệp Pháp lệ thuộc Pháp và không có quyền lực bất kỳ kể cả về quốc phòng, và (c) “Miền Nam” không được Pháp xem như đối trọng chính trị ngang tầm với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hội Nghị Geneve nên đã phá thối bằng cách không tuân thủ thực hiện “tổng tuyển cử”.

Hàn Quốc kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Triều Tiên. Triều Tiên kiên quyết “giải phóng” Hàn Quốc.

Việt Nam Cộng Hòa kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kiên quyết “dọn sạch” các mầm mống “thân Cộng” trong dân chúng Việt Nam Cộng Hòa, và mong chờ Mỹ ném bom nguyên tử tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; thậm chí sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa sổ vĩnh viễn, những kẻ tháo chạy liên tục tổ chức “vũ trang phục quốc”, gây nổ phá hoại, chống đối bằng chữ/bằng lời/bằng biểu tình/bằng vận động/bằng tài trợ/bằng vu vạ/bằng vu khống/bằng sự điêu ngoa đẻ tin láo xạo. Trong khi đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiên quyết dũng vũ lực giải phóng cho bằng được Miền Nam khỏi ách xâm lược của Mỹ, không bao giờ coi Việt Nam Cộng Hòa là “quốc gia” có chính quyền chính thống chính đạo mà chỉ là một thứ chính quyền tay sai do Mỹ lập nên mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gọi là chính quyền ngụy gọi tắt là “ngụy quyền” như một phong thái không đội chung trời đầy khinh miệt khinh rẻ khinh khi.

Trước “dân tộc tính” dữ dội dữ dằn như thế, cộng thêm các đe dọa từ các cuộc tập trận quy mô khủng khiếp Mỹ-Hàn, những căn cứ quân sự đồn trú của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc, cùng những lịnh cấm vận ngày càng tàn tệ hơn, Triều Tiên không thể không buộc phải sở hữu vũ khí nguyên tử. Cái may mắn nhất của Triều Tiên không những nhờ có các nhà khoa học kỹ thuật tài năng hàng đầu tuyệt đối trung thành với chế độ, các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, mà chính các nhà lãnh đạo tài năng của Triều Tiên giữa sự bủa vây cấm vận và đe dọa của kẻ thù vẫn có thể hoạch định thành công xây dựng Triều Tiên thành quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và sản xuất/xuất khẩu vũ khí tầm cỡ. Nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Châu Sơn của Hàn Quốc đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn được phô trương, kế sách “tiêu diệt mềm” được phô bày qua giảo biện về “đàm phán tiến tới thống nhất đất nước” cùng các khoản viện trợ “nhân đạo” và dựng xây khu công nghiệp tại Triều Tiên. Và cũng nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Mỹ đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn qua minh chứng của sự xuống nước ve vản vuốt ve Triều Tiên của các tổng thống Mỹ Bill Clinton và Barack Obama.

Việt Nam không thể có vũ khí nguyên tử vì (a) Việt Nam không bao giờ có các nhà khoa học kỹ thuật hàng đầu, (b) sự tuyệt đối trung thành với chế độ chỉ là khẩu hiệu, (c) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật, (d) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, và (e) Việt Nam không bao giờ có các nhà lãnh đạo tài năng về chiến lược phòng vệ hữu hiệu nhất dám nghĩ đến việc sở hữu uy lực vũ khí nguyên tử trong bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, bảo vệ chế độ, cũng như uy thế đối ngoại của chính quyền trong tư thế sở hữu được vũ khí nguyên tử.

Không thể có vũ khí nguyên tử là một yếu điểm, nhưng yếu điểm này không thể – và không bao giờ có thể – được dùng cho sự giảo biện rằng sở hữu vũ khí nguyên tử không là lựa chọn duy nhất đúng để bảo vệ đất nước.

D) Ngụy Lý Là Chân Lý Của Chiến Tranh Tâm Lý Truyền Thông

Dân tộc Hàn là một dân tộc cực kỳ dữ dội, cực kỳ hung hãn, cực kỳ hung hăng, mà chỉ có “làn sóng Hàn”, “Kê-póp” và các “ù-pá” cùng “ù-nhí” xinh đẹp mỹ miều ngây thơ tuyệt đỉnh thánh thiện mới làm người trần thế quên hẳn cái đặc thù dân tộc tính đó của dân Hàn. Phải cực kỳ ghê gớm bất khuất như thế Triều Tiên mới trụ được trước giặc Tàu trong quá khứ cùng giặc Nhật trong quá khứ, và trước bọn Tàu của hiện tại – nghĩa là trên thế giới hiện đại ngày nay chỉ duy nhất có Triều Tiên công khai khẳng khái không luồn cúi trước Tàu, sẵn sàng cho Tàu lâm vào cảnh không thể cứng rắn với Triều Tiên.

Tuy nhiên, cái cũ rích của chiến tranh tâm lý truyền thông những năm 60 của thế kỷ trước vẫn luôn được áp dụng vượt thời gian.

Nếu như trong thế kỷ XX, báo chí chính thống Việt Nam Cộng Hòa đã đăng ra rả nhiều kỳ nhiều tháng trên trang nhất cái láo xạo gọi là “bài dịch từ nguyên tác tiếng Pháp” nhan đề “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” nhằm tạo ra ảo cảm nơi quần chúng rằng Hồ Chí Minh sang Pháp chỉ để dan díu đú đởn với phụ nữ Pháp chứ không để tìm đường cứu nước, rằng Hồ Chí Minh có lắm con rơi tại Pháp, và rằng Hồ Chí Minh bị các con rơi nhạo báng rủa nguyền tư cách sở khanh đốn mạt của người cha sinh học của chúng; thì nay trong thế kỷ XXI báo chí mạng “chùa” chuyên dựng powerpoint (không bao giờ là video clip “động”) thảy lên YouTube láo xạo về các lãnh đạo Việt Nam hoặc các sự việc loạn lạc lầm than ở Việt Nam. Còn mấy anh truyền thông chính thống Âu Mỹ đã đưa các tin như sau về Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (2)Người Chứng Của Chân Lý (1)

Dù cho có ba người Mỹ “comment” rằng báo chí đã quá láo xạo khi đưa tin như vậy về Kim Jong-un, thêm một người Việt “comment” rằng đừng bao giờ tin bọn “đào thoát” vì chúng toàn là bọn đói khát, bất tài vô dụng, hèn nhát, và phản quốc, thì nhiều trăm người Mỹ khác vẫn “comment” đầy khí thế nguyền rủa Kim Jong-un là dã thú, là dã man, là phải bị tiêu diệt, v.v, thậm chí có người còn hô hào phải giết ngay Kim Jong-un, trong khi những người khác quy chụp ngay rằng tại có đầu óc cộng sản chủ nghĩaxã hội chủ nghĩa mà Kim Jong-un điên loạn, rồi kết luận nhất thiết phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu – tức là tự dưng lôi Việt Nam vào phạm trù đối tượng sẽ điên khùng nguy hiểm như Triều Tiên!

Khi Reuters chính thống phải dùng đến hạ sách của thứ báo lá cải bằng cách sử dụng nguồn tin rác rưởi của bọn “đào tẩu” mà bản chất luôn luôn láo xạo, truyền thông Việt Nam có kẻ đã quỳ mọp lạy Reuters ngay lập tức để hòa âm bôi nhọ Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (2)

Truyền thông Việt Nam còn vô tư đưa tin với cách dùng từ hoàn toàn sai cứ như đang hớn hở tham gia tấn công vào danh dự và niềm tự hào dân tộc của Triều Tiên, chẳng hạn từ “trừng phạt” chỉ luôn dùng cho đối tượng sai và phạm tội trong khi Triều Tiên hoàn toàn không sai về bất kỳ điều gì và không phạm bất kỳ tội gì; từ “khuất phục” chỉ dùng cho đối tượng mạnh mẽ bất khuất bị quyền lực mạnh hơn khống chế, như vậy hoàn toàn sai vì Liên Hợp Quốc không bao giờ là quyền lực ấy; trong khi đó, chỉ có bọn ngu đần mới cho rằng Triều Tiên “theo đuổi tham vọng hạt nhân” vì không những Triều Tiên đã sở hữu vũ khí nguyên tử từ lâu mà việc sở hữu ấy không phải là tham vọng mà là sự tự vệ hữu hiệu của Triều Tiên mà Mỹ muốn tước bỏ quyền tự vệ chính đáng chính nghĩa chính đạo ấy của Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (5)

Tương tự như vậy, việc ăn theo bọn Fake News khét tiếng như Reuters và Washington Post để loan tin “dân Triều Tiên bối rối” để làm nhục nhân dân Triều Tiên của báo Việt:

Người Chứng Của Chân Lý (4)

thì chẳng khác gì sự ngu đần của Independent khi bỡn cợt rằng chỉ cần ném xuống Triều Tiên 25 triệu chiếc iPhone và cho các vệ tinh vần vũ trên không gian cung cấp wifi miễn phí là người dân Triều Tiên sẽ vùng lên giết Kim Jong-un ngay – cứ như thể nhân dân Triều Tiên bị mù thông tin, ngu muội, không biết gì về Kim Jong-un nên nhất thiết cần Mỹ khai sáng, mở mắt, là sẽ tự tay kết liễu Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (3)

Như vậy sự trá ngụy đớn hèn trở thành thông tin (a) tác động khống chế nhận thức của người đọc, và (b) bôi nhọ trở thành hành vi chính danh chính đạo không bao giờ bị trừng trị.

Tác động nhãn tiền còn ở chỗ liên tưởng tự động tự nhiên. Khi thời gian giúp mọi người nhận ra “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” chỉ là một sáng tạo láo xạo hoàn toàn của đám bồi bút vì không bất kỳ ai tìm ra được “nguyên tác tiếng Pháp” của nó, nhà xuất bản của nó, và “tác giả” của nó, thậm chí “dịch giả” của nó; thì từ đồ dần dà hình thành một phản ứng tự nhiên ngay lập tức nơi người đọc “đứng tuổi” và người đọc có trí tuệ công chính rằng Kim Jong-un khi bị bôi bẩn cùng kiểu ắt đúng là danh nhân đáng kính, đúng là anh hùng dân tộc đáng trọng, và đúng là gương sáng đáng nể của dân tộc Châu Sơn và nhân loại.

Hóa ra danh dự của một nhân vật quan trọng được khẳng định và tôn vinh chỉ khi nhân vật đó bị bôi bẩn và sự bôi bẩn được phát hiện là giả trá.

Và khi sự bôi bẩn là vũ khí chủ lực của truyền thông chính thống vốn luôn dưới lớp áo choàng sang cả lấp lánh của chân lý, chỉ có chân lý, và không gì khác hơn ngoài chân lý, thì bản thân đó là một ngụy lý đã trở thanh chân lý vậy.

E) Chân Lý Thường Được Công Nhận Bởi Số Đông Nhưng Người Chứng Của Chân Lý Sẽ Luôn Là Người Cô Độc Như Søren Kierkegaard

Tất cả những dẫn chứng và biện luận trên về các quyết định của Kim Jong-un – và của cha và ông của Kim Jong-un – ắt được số đông gật gù công nhận, không những vì các dẫn chứng biện luận ấy không-thể-tranh-cãi hay khó-thể-tranh-cãi mà còn vì chúng là sự thật hiển nhiên.

Tuy nhiên, không cần phải đi khắp cõi ta bà, chỉ cần rong chơi cuối trời quên lãng trên không gian mạng ngay tại Việt Nam cũng đã nhận ra ngay truyền thông Việt Nam thường xuyên nhơi đi nhơi lại biết bao từ ngữ xúc phạm Kim Jong-un và xúc phạm Triều Tiên mà nguồn xuất phát của chúng lại là từ bọn truyền thông chính thống Âu Mỹ bất kể bọn truyền thông này đã luôn xúc xiểm Việt Nam, láo xạo về Việt Nam, và hỗn láo gọi lãnh đạo Việt Nam là “thugs”:

Triết gia Søren Kierkegaard, nhà thơ Đan Mạch, nhà phê bình xã hội, nhà văn khôi hài, cha đẻ của Thuyết Hiện Sinh, người kịch liệt công kích thói đạo đức giả của Giáo Hội Công Giáo, đã luôn đơn độc, bị chống đối, và đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ, để rồi hậu thế tôn vinh ông là người chứng của chân lý.

Kim Jong-un đã luôn đơn độc đối với thế giới vì đất nước của ông bị cái thế giới đầy dẫy kẻ thù và bọn vong ân bội nghĩa bủa vây, luôn bị thế giới chống đối chỉ vì ông bảo vệ hữu hiệu Triều Tiên tồn tại cho đến ngày nay thay vì đã bị tàn diệt từ nhiều chục năm trước. Ắt chỉ sau khi ông ra đi còn Triều Tiên hỗn loạn bần cùng tiêu vong vì thiếu vắng ông, hậu thế mới sẽ tôn vinh ông là bậc vĩ nhân trọn đời vì nước vì dân trong hoàn cảnh nước ấy và dân ấy luôn là mục tiêu mà Mỹ-Hàn phải tiêu diệt cho bằng được còn cả thế giới thì ngoảnh mặt làm ngơ.

*********

Từ tất cả những biện luận trên, có thể kết luận về chân lý cùng vấn nạn của chân lý rằng:

1) Sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt là để có cơ may lớn hơn cho sự sinh tồn hàng loạt, và chỉ có lãnh tụ/lãnh đạo vĩ đại thực sự mới làm cho quốc gia mình sở hữu vũ khí nguyên tử.

Nếu các lãnh tụ/lãnh đạo của Mỹ, Nga, Tàu, Anh, Pháp “vĩ đại” vì đã làm nước họ sở hữu vũ khí hạt nhân để khống chế nhân loại, thì tại sao trong khi im miệng không nói gì đến Ấn Độ, Pakistan, Israel cũng là những nước sở hữu vũ khí nguyên tử, lại lớn tiếng miệt thị Kim Jong-un, xem Triều Tiên là mối nguy hiểm “đe dọa thế giới” dẫn đến cá nhân Kim Jong-un phải bị tiêu diệt, chế độ Triều Tiên phải bị tiêu diệt, và quốc gia Triều Tiên cùng người dân Triều Tiên phải bị tiêu diệt?

Ấn Độ được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Tàu “Tây Tiến” đe dọa Châu Âu vốn là tấm khiên chắn che bảo vệ Mỹ từ cánh Đông.

Pakistan được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Ấn Độ trở thành một “siêu cường” như Mỹ.

Israel được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Khối Ả Rập “Hồi Giáo” manh động chống Mỹ.

Triều Tiên phải bị Mỹ tiêu diệt vì trong hoàn cảnh nếu không bao giờ tiêu diệt được Nga-nguyên-tử và Tàu-nguyên-tử thì chí ít Mỹ cũng phải cố định danh sách kẻ-thù-nguyên-tử, không cho phép danh sách ấy gia tăng.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

2) Việt Nam nếu sở hữu vũ khí nguyên tử thì đã không bị Tàu liên tục tự tiện lấn chiếm ở Biển Đông, tự tiện tuyên bố chủ quyền toàn Biển Đông để tự tiện kéo dàn khoan vào Biển Đông, tự tiện quân sự hóa các hải đảo ở Biển Đông để tự tiện khống chế Việt Nam từ cánh Đông, và tự tiện hỗn xược với Việt Nam.

Ấn Độ nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên Tàu chỉ có thể thậm thà thậm thụt lấn đất gây ra căng thẳng biên giới lời qua tiếng lại rồi thỏa thuận rút vũ khí hạng nặng ra khỏi “vùng tranh chấp” và rút quân, thậm thà thậm thụt xây dựng hạ tầng ở nơi thâm sơn cùng cốc không có sự canh giữ của Ấn Độ để rồi tuyên bố chủ quyền – tức ngược lại với kiểu áp dụng cho Việt Nam: tuyên bố chủ quyền trước và công khai xây dựng hạ tầng sau.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên rất hào hùng khí thế, chưa bao giờ quy lụy trước Tàu, thường xuyên đặt Tàu vào thế “đồng sự” ngang hàng trên bàn cờ chính trị với Mỹ, thường xuyên làm Tàu mất thể diện với Mỹ do Tàu không thể “ra uy đàn anh sai bảo” được Triều Tiên.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên vẫn tồn tại bất chấp các kế hoạch phá hoại hay tấn công của Mỹ đơn giản vì hậu quả của sự phá hoại hay tấn công đó cũng khiến Tàu và Hàn Quốc gánh thiệt hại lây lan nặng nề.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

3) Việt Nam sẽ không bao giờ còn có cơ hội sở hữu vũ khí nguyên tử nên vĩnh viễn phải áp dụng chiến thuật nhũn mềm và chịu đựng.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” – qua sự diễn giải đầu tiên trong lịch sử Việt Nam như đã nêu ở trên của tác giả bài viết này – không bao giờ là thứ vũ khí hữu hiệu ra hồn trên chiến trường của chiến tranh nguyên tử.

Ngay cả tuyên bố theo đuổi chính sách “chung sống hòa bình” cũng là tuyên bố của bên yếu thế, y hệt hình ảnh một con người nặng 60kg cao 1 mét 60 tốc độ 5km/giờ mặc áo the thâm cầm chiếc loa công suất lớn tiến đến trước bầy đàn lúc nha lúc nhúc sư tử 250kg, cọp 310kg, gấu trắng 450kg, gấu nâu 600kg, beo tốc độ 58km/giờ, linh cẩu luôn nhai sạch đến 95% dân số các mãnh thú khác kể cả chúa sơn lâm, cá sấu Úc dài hơn 5 mét, và trăn Mỹ dài hơn 8 mét, để dõng dạc tuyên bố “chúng tôi yêu hòa bình, chống chiến tranh, muốn chung sống hòa bình với các bạn” thì chỉ cho ra hoặc một truyện cười dành cho trẻ con, hoặc một cái kết hình sự pháp y rằng chỉ còn thấy có chiếc loa móp méo nằm trên mặt đất.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì bọn siêu cường sở hữu thông qua Liên Hợp Quốc đã cấm đoán, trói tay tất cả các quốc gia còn lại, không cho phép sở hữu, và xúm lại bủa vây cấm vận triệt tiêu.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã mất thời cơ từ tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của các thời kỳ lãnh đạo.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã hoàn toàn sai lầm trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo khi luôn tầm thường hóa kỹ thuật, chỉ tôn vinh từ chương chữ nghĩa học vị học hàm trong dụng nhân, nên toàn xã hội đông nghẹt “quản trị kinh doanh” “ngân hàng” “kinh tế” “kế toán” chỉ biết hoặc than thở thất nghiệp hoặc thực hiện mọi yêu cầu của lãnh đạo khiến nảy bung bét ra hết đại án này đến đại án khác; và ngoài mấy cháu “ai-ti” chỉ biết đẻ ra game-on-line hốt bạc thì mất hút mất biệt mất tăm mất tích mất dạng các nhân lực kỹ thuật cơ khí hạng nặng cao cấp/vũ khi nguyên tử lực trừ lực lượng “kỹ thuật” đóng tàu cá vớ va vớ vẩn mà công lực phát huy mạnh mẽ nhất là cực nhanh rỉ sét và uể oải ễnh bụng nhàn hạ nằm bờ; cũng như mất hút các thời cơ ấy toàn do tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của lãnh đạo tất cả các thời kỳ kiến quốc, với các kế sách mà tác giả bài viết này đã từng bảo trong nhiều bài blog là quái gở phi hiện thực như “đi tắt đón đầu” và “hợp tác bốn nhà”, v.v., ở phía Nhà Nước, hay “thiên đường cà-phê”, v.v., ở phía “đại gia tư nhân”.

Để nhạo báng một bộ phận cực lớn trong thiên hạ kém thông minh luôn ra rả xướng ca suốt về tự do ngôn luận,  người chứng của chân lý Søren Kierkegaard đã phán: “Người ta đòi hỏi quyền tự do ngôn luận chỉ vì nó là sự đền bù cho quyền tự do tư tưởng mà hiếm khi họ sử dụng. (“People demand freedom of speech as a compensation for the freedom of thought which they seldom use.”)

Để nhạo báng một bộ phận không nhỏ trong nhân gian kém thông minh luôn ra rả lập đi lập lại các điệp khúc của thế giới gian manh nguyền rủa bôi nhọ lãnh đạo Triều Tiên, tác giả bài viết này tận dụng tự do tư tưởng trước khi sử dụng tự do ngôn luận để phán:

“Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn  12-9-2017

Bôi Nhọ 02-12-2015

Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2017

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước

02-7-2009

 (Bài đăng lần đầu trên Emotino ngày 02-7-2009 tại http://www.emotino.com/bai-viet/17961/phat-huy-noi-luc-tu-yeu-to-con-nguoi)

Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia như choàng tỉnh sau giấc đông miên nhận ra một thực tế rằng việc lao lung suốt mấy mùa thuận lợi góp nhặt thành quả cũng phải là để chất chứa trong kho lẫm làm nguồn tích lũy dài lâu, và rằng sự đầu tư chăm chút cho cái kho lẫm ấy cũng được xem quan trọng ngang bằng tức phải đạt mức vững chãi, rộng lớn, an toàn cao. Thế giới bắt đầu vừa tiếp tục không buông lơi tìm thị trường xuất khẩu vừa chăm chút cho thị trường nội địa, và thế là cụm từ phát huy nội lực được sử dụng để khuyến khích cổ vũ cho các cố gắng tự cứu mình trong sản xuất kinh doanh. Song, phát huy nội lực còn cần phải nhìn đến yếu tố con người vì chính con người vận hành điều chỉnh sự thành hay bại đại cuộc phát huy nội lực của nền kinh tế một quốc gia.

1) Khi nói đến con người Việt Nam, bất kỳ ai trên thế giới này cũng nêu điệp khúc của cần cù, chăm chỉ, chịu cực chịu khó, tức những gì rất quen thuộc nhưng lại không bao giờ là thứ độc quyền của người Việt vì các dân tộc khác cũng có những “phẩm chất” này – thậm chí tốt hơn – ngay từ thời lao động giản đơn của nô lệ ngàn xưa, nên chẳng tạo ra khác biệt tích cực trong đời sống hiện đại và thực tế của Việt Nam ngày nay, trong đó, năng lực cùng ý thức hay tư duy của từng cá nhân về đổi mới, sáng tạo, trí truệ cùng sở hữu trí tuệ, và động lực cho tất cả mới là thành tố nội lực duy nhất đáng được nói đến và phát huy. Thế nhưng, vì sao lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và luôn “được” các nước xem như nguồn nhập khẩu lao động rẻ tiền, không thích hợp.

Trước hết, có một thực tế là điệp khúc nêu ở trên có thể đúng với người Việt Nam lao động chân tay cá thể hay gia đình, chứ chưa phải luôn có nơi các giới “cổ cồn trắng” tức giới làm việc văn phòng đòi hỏi phải có học lực chuyên môn và kiến thức quản trị nhất định trên nguyên tắc có thu nhập cao hơn và có đóng thuế nhiều hơn, và cả giới “cổ cồn xanh” tức lực lượng công nhân tại các doanh nghiệp. Bấy lâu nay chỉ có chuyện nêu gương những bậc làm cha làm mẹ bương chải cơ cực đủ điều ở các tỉnh kiếm tiền cho con vào Thành phố Hồ Chí Minh lây lất “học chữ”, mục đích giống y như ngàn xưa vẫn là để con cái có việc làm “sung sướng không cực như cha mẹ” chứ chưa hề nêu gương bậc làm cha làm mẹ nào đó đã nai lưng cày bừa cho con vào thành phố học nghề cả!

Chính cái tư tưởng chỉ xem trọng “học chữ” ấy của “vinh thân phì gia” đã làm biến dạng mục đích của sự “ăn học”, triệt tiêu những gì dính dáng đến cần cù chịu cực chịu khó trong lao động vì sự nghiệp. Cần cù đèn sách để tránh xea khỏi cái cần cù trong lao động hậu sách đèn, và chịu cực chịu khó học tập trên chính sự lao nhọc kiếm tiền của mẹ cha và anh chị thì nào phải là sự chịu cực chịu khó sau khi đã tốt nghiệp có được việc làm, nên cái thành phẩm của giáo dục của xã hội lại là lớp đông người cổ cồn trắng có mong muốn được làm việc ít nặng nhọc hơn với lương cao hơn và điều kiện làm việc sung sướng khỏe hơn nhàn hạ hơn, khiến nguồn lực có lạm phát về lao động “chữ” trong khi ngày càng thiếu hụt nghiêm trọng lớp lao động kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu lớn của xã hội. Đó là chưa kể đây còn chính là rào cản tâm lý khiến nhiều người trong số họ hưởng nhàn ngay khi bước chân vào thế giới việc làm. Có thể ai cũng sẽ nói làm việc với “Tây” rất mệt, làm việc với “ta” khỏe hơn. Song, thực tế cho thấy ngay cả khi làm việc với “Tây” mà họ than là rất mệt ấy thì cung cách làm việc ở nhiều người cũng rất “tà tà”, luôn kiếm cách để được “nhàn” hơn, và stress dường như chỉ có ở một ít người có vị trí cao hơn mà thôi. Chuyện gánh thêm việc thì càng hãn hữu.

2) Vấn đề tiếp theo là đối với số ít “cổ cồn trắng” may mắn có được hiểu biết đúng đắn tự thân về tích cực vươn lên qua lao động sáng tạo, họ vẫn có khi không gặp may trong môi trường làm việc thiếu hụt cạnh tranh nhưng dư thừa ganh tỵ – một điều tiêu cực đau xót luôn mãi được dấu diếm, khỏa lấp như điều cấm kỵ nhạy cảm không nên nói về cộng đồng người Việt, đó là: nơi đâu có nhiều người Việt hơn, nơi đó sẽ có ít hơn sự đoàn kết tương thân – hoặc nói cách khác, sẽ có nhiều hơn sự câu kết bè phái và phe nhóm. Sự ganh tỵ không những dễ thấy nơi những người làm việc chung ngang bậc hay bậc dưới đối với bậc cao hơn, mà còn kỳ quái khi lại có nơi chính người trên – thậm chí ngay ở cấp CEO và thậm chí CEO của công ty nước ngoài – đối với người dưới nào giỏi hơn – tất cả dẫn đến những người “may mắn” sẽ không dám phát huy cái may mắn trời ban của mình, triệt tiêu năng lực sáng tạo tự thân, chấp nhận “bị” hưởng nhàn để được yên thân.

Vụ thảm sát gia đình một Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Hiệu Trưởng một trường Đại học ở Việt Nam tháng 8 năm 1997 là một thí dụ khi cấp trên ém tài giảng viên cấp dưới vì cấp dưới có khả năng trở thành nhà khoa học nguyên tử lực tài danh của đất nước. Ngoài ra, hầu như chỉ những “phát huy sáng kiến” rất bình thường – đa số là về “tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất và giờ công lao động” – của cấp dưới và cấp thấp như của giáo viên, nhân viên, công nhân lao động, mới được vinh danh, còn sáng kiến nổi bật, xuất sắc, tầm cỡ nào của cấp nào gần sát lãnh đạo hay của chính lãnh đạo dường như vẫn là điều bí mật với công chúng, khiến vô hình chung tạo nên một thông điệp mặc định cho toàn xã hội rằng năng lực đổi mới sáng tạo không là điều cần thiết, thậm chí là điều không nên có trong nội bộ cơ quan hay công ty, vì năng lực ấy đe dọa chiếc ghế của người cấp cao hơn hoặc chỉ đồng nghĩa với năng lực nguy hiểm tiềm tàng một lật đổ soán ngôi.

3) Thứ đến, chiêu bài tập thể rất có thể cũng được sử dụng cho mục đích tiêu cực khi một công trình cá nhân bị gợi ý mang danh tập thể để đôi bên cùng có lợi : cá nhân được tài trợ hoặc công trình được trao giải thuận lợi, còn tập thể có tên các cấp cao hơn để củng cố vị trí lãnh đạo dài lâu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều cá nhân phải bỏ dỡ công trình nghiên cứu của mình do không chấp nhận sẻ chia quyền sở hữu trí tuệ.

4) Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là cơ chế mang tính quốc gia đối với vấn đề nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và củng cố động lực của nhân viên Việt Nam, trong đó kế thừa là thực tế chứ không là lý thuyết.

Cách nay mười năm (1999), Chính phủ tuyên bố chuẩn chi ngân sách cho việc đào tạo nhân tài với chương trình chọn gởi người du học nước ngoài. Song, điều này có khi lại bị hiểu lầm rằng Việt Nam đang không có nhân tài, rằng không có ai trong mấy mươi triệu dân đã qua học tập và đang đóng góp dựng xây chủ lực cho nền kinh tế quốc dân là nhân tài sẵn có đáng được mời mọc để trọng dụng, và rằng “nhân tài” phải do nhà nước bỏ tiền ra đào tạo chứ những công dân đoan chính không làm gánh nặng của tổ quốc tự đầu tư cho việc học của mình thành danh ở nước ngoài thì không nằm trong danh sách “nhân tài”. Đó là chưa kể người được chọn cử đi du học là trên cơ sở có mang tính thuyết phục cao không và cao đến mức độ nào, tất cả có sẽ hoàn tất thành công việc học tập không, tất cả có sẽ trở về nước sau tốt nghiệp không, tất cả có sử dùng quyền tự do của công dân để không làm việc cho các cơ quan nhà nước khi tốt nghiệp không, và tất cả có thực sự thành nhân tài cống hiến hiệu quả, trung thành với công cuộc dựng xây đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa hay không. Tập trung cho việc đào tạo nhân tài theo bài bản ấy tức bỏ qua tính kế thừa vì đã không nói gì về nhân tài đang có. Sự chuyển giao trọng trách sẽ có khoảng trống một thập niên hay một thế hệ, khiến nhiều người thờ ơ với việc nâng cao năng lực, còn động lực bị lệch hướng hoặc triệt tiêu, gây phản ứng tiêu cực dây chuyền nơi lớp trẻ tức những người hiện nay sẽ thêm thụ động mất hết động lực khi vừa chứng kiến việc nhân tài “đang có” không được dùng, vừa biết số nhân tài được “gởi đi đào tạo” sắp về chiếm hết các công việc quan trọng, không còn chỗ cho lòng tin vào ý nghĩa kế thừa và sự cần thiết của vươn lên.

Do đó, ngày nào cơ chế chưa có những thay đổi tích cực căn cơ và mang tính pháp lệnh, ngày ấy người lao động Việt Nam – bất kể màu sắc của cổ cồn – còn bị đánh giá là chưa đạt chuẩn mực về năng lực sáng tạo, làm việc thụ động, ít tinh thần trách nhiệm cá nhân, và khó thể trở thành con người giúp vận hành hiệu quả chương trình phát huy nội lực nước nhà.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Tham khảo:

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật October 6, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Đại Học November 4, 2015

Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014

Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Đi Tắt Đón Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-9-2017

Đi Tắt Đón Đầu – Định Nghĩa Đầu Tiên

(bài được đăng lần đầu tiên ngày 05-3-2009 trên Emotino tại http://www.emotino.com/m.php?p=17539)

Nhóm từ “đi tắt đón đầu” đã được sử dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây với một ứng dụng mới khi gắn kết vào trong hoạch định chính sách quốc gia; song như một thông lệ trầm kha ở Việt Nam, chưa bao giờ có một phần định nghĩa mới bất kỳ cho nhóm từ mới hay nhóm từ mang tính thành ngữ được cho thêm một ý mới, khiến không thể đem lại sự thông hiểu tự động tự nhiên đồng nhất nơi mỗi người đọc, nghe, thấy, viết lại cụm từ.

Trước hết, cần phải hiểu “đi tắt đón đầu” là một khả năng siêu việt chỉ có nơi những người mạnh khỏe, cường tráng, có sức chịu đựng cực cao, tinh khôn, nhanh nhẹn, quyết đoán, sáng tạo, và quả cảm khi lao vào nơi cực kỳ gian khó mà thành hay bại chỉ là một đường ranh nhỏ chứ không phải trên một tỷ lệ hên xui may rủi 50/50. Thừa hưởng một gia tài kếch sù – từ cha mẹ hay từ Nhà Nước – rồi nhàn hạ chạy lung tung, đầu tư lung tung, hoàn toàn không phải “đi tắt đón đầu” mà là “lấy thịt đè người” của giới đầu cơ speculator không hơn không kém.

Một vài thí dụ nhất thiết cần được đưa ra để làm rõ lập luận trên.

Trong nhiều phim hành động, diễn viên chính loại cơ bắp như ngài Thị trưởng California hoặc bậm trợn như Clive Owen hay lạnh lùng diễm tuyệt như Matt Damon không bao giờ rượt kịp chiếc tàu hỏa cao tốc nên phải “đi tắt đón đầu” bằng cách chạy như bay lên đồi cao, bị cây cối quất vào thịt vào da vào mặt bật máu, rồi lúc chạy xuống dốc đồi phía bên kia có khi té lăn đùng qua các bụi gai góc, để rồi có khi té xuống hướng ngay trước đầu máy xe hỏa đang vùn vụt lao tới (may mà níu được bờ tường của đường hầm xuyên núi tích tắc trước khi đầu xe lao ra, và sau đó buông tay rơi xuống một toa áp chót để có mặt trên cùng chuyến tàu cao tốc của những người đã mua vé danh chính ngôn thuận từ nhà ga khởi hành xa lắc xa lơ). Đó là “đi tắt đón đầu”. Không cơ bắp, không nhanh nhẹn, không tính toán cân đối sức lực và thời gian một cách khoa học, không lao vào ngõ tắt chưa dấu chân người thì sẽ cứ mãi chạy chân rượt đuỗi trên đường ray các đại gia làm sẵn cho các toa tàu của họ  trong khi con tàu bon bon trên đường ray của chính nó mãi mãi rời xa.

Trong cuộc chiến tranh Chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, lớp lớp đoàn quân dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh Cộng sản Việt Nam, đã chôn vùi tận đáy bùn đen tên tuổi các tướng lĩnh đối phương làm đời đời hoen ố uy danh của học viện quân sự West Point Hoa Kỳ và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung Việt Nam Cộng Hòa, khi đã đưa bao binh đoàn áp sát tiền đồn đối phương, thọc sâu vào trung tâm thị tứ đối phương, chiếm đóng ngay Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, mà đối phương với kỷ thuật hiện đại và tình báo tinh nhuệ vẫn không sao phát hiện được bụi, khói, tiếng động, bóng người của những cuộc hành quân. Đó là một công trình “đi tắt đón đầu” đích thực và hoàn mỹ. Một cuộc “đi tắt” để đón đầu diệt địch. Một cuộc “đi tắt” kéo dài đến mấy mươi năm, hy sinh biết bao, gian khổ biết bao, để “đón đầu” thời kỳ độc lập, tự chủ, hòa bình, phát triển.

“Đi tắt đón đầu” do đó phải mang tính “bí mật”, có tính chiến lược, với đầy sách lược cụ thể cho từng giai đoạn, tận dụng hết sức lực, để cuối cùng có mặt trên con tàu cao tốc không chịu dừng đón khách dọc đường để cùng nó lao đến vinh quang, hoặc giúp người “đi tắt đón đầu” từ từ bò trên nóc các toa tàu tiến lên phía trước, leo xuống buồng lái, rồi trở thành đầu tàu của các toa tàu đại gia.

Việt Nam vừa được xóa cấm vận, mọi người ùa vào thì sao mà gọi họ là “đi tắt đón đầu”? Phải hùng dũng như Pepsi-Cola vào Việt Nam khi vòng vây cấm vận vẫn còn, nằm gai nếm mật với Việt Nam, để rồi khi cấm vận vừa được tuyên bố xóa bỏ thì Pepsi-Cola đã có ngay (sản xuất vài tuần trước đó) sản phẩm Pepsi-Cola bày ra khắp nơi tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh để mời người qua đường ghé vào uống miễn phí, với cờ hoa biểu ngữ đón mừng sự kiện xóa cấm vận Việt Nam. Đó mới là “đi tắt đón đầu” nghĩa là đi vào con đường chưa có lối đi (khung luật pháp của chính quốc Hoa Kỳ) và chưa ai nghĩ đến việc “đi tắt đón đầu” (Coca-Cola vẫn còn ẩn núp bên Thái Lan dõng tai nghe ngóng).

Tóm lại, “đi tắt đón đầu” là một thành ngữ tuyệt diệu, không phải là chuyện giản đơn như kẹt xe thì chui vô các ngõ, các hẻm, các ngách, các “kiệt”, một cách tự phát, không chuyên nghiệp, lấn dùng lối đi nhỏ hẹp có nhiều trẻ em gia đình không khá giả đứng chơi, gây thêm hỗn loạn và hạ thấp tư cách công dân.

“Đi tắt đón đầu” phải là như trong thời cực thịnh của máy vi tính, IBM quyết định bán hết cơ ngơi cho một hãng vi tính Trung Quốc, còn mình tập trung cho các giải pháp quản trị và tư vấn.

“Đi tắt đón đầu” hoàn toàn không phải là thấy người ta phát triển nhãn hiệu điện thoại di động thì nhanh tay tung tiền mở công ty và mua nhiều cơ ngơi mở nhiều chi nhánh bán điện thoại của các hãng điện thoại hầu nắm nhiều khách hàng hơn đối thủ cạnh tranh nghĩa là thực chất chỉ là đầu tư địa ốc chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển sản xuất điện thoại di động; cũng không phải thấy nước ngoài có nhiều đại gia siêu thị là tung tiền nhà nước mua đất vàng ở khắp các tỉnh thành để mở siêu thị trước mà thực chất chỉ là chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển kinh doanh bán lẻ giá sĩ; cũng không phải nghe nói nước ngoài phát triển công nghệ thông tin là vội vàng cho trường lớp trang bị máy vi tính mà thực chất chỉ là kiếm cớ xin xỏ xài sạch tiền ngân sách.

“Đi tắt đón đầu” mà cứ bô bô cái miệng nói về cái “quốc sách đi tắt đón đầu” của ta thì rõ là ta cực kỳ thiếu thông minh, công bố cho toàn thiên hạ biết rõ về “âm mưu” của ta để từ đó thiên hạ né lạng qua chỗ khác cho chúng ta mặc sức tha hồ đi tắt để đón đầu dĩ vãng.

Chừng nào ý nghĩa sâu xa của thành ngữ “đi tắt đón đầu” còn chưa được nghiêm túc hiểu đúng, chừng đó việc “đi tắt đón đầu” vẫn sẽ còn là câu cú cho sự cười cợt và nước ta bao giờ mới có được con đường tắt đúng nghĩa để dồn toàn lực lao đi đón đầu để cùng có mặt trên con tàu của các siêu cường sau 20 năm nữa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cùng chủ đề “hãy cẩn trọng khi sử dụng thành ngữ”:

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Quốc Nhục

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Đả Đảo TPP

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

20-5-2017

TPP (3)

A) Giải Nghĩa Từ Ngữ

1- Đả Đảo TPP là tựa đề một bài viết của một công dân Mỹ, anh M. Tyler, một lâp trình viên ở Thung Lũng Silicon chống lại Tổng Thống Barack Obama vì đã tham gia thành lập TPP. Tuy nhiên, bài viết dưới đây không là bài dịch và cũng không liên quan đến bài viết ngắn ngủn của M. Tyler, mà chỉ đơn giản là sự trùng tên của tựa đề bài viết này với tựa đề bài viết của M. Tyler cũng như trùng với lời hét như sấm dậy của người dân “thế giới tự do” kêu gào Đả Đảo TPP mà thôi.

2- TPP Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, được bộ trưởng đại diện 12 nước Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Malaysia, Mexico, New Zealand, Nhật Bản, Peru, Singapore, và Việt Nam, ký kết ngày 04-02-2016 tại Auckand, New Zealand.

3- TPP tại Việt Nam: Dù tham gia đàm phán từ 2008, Việt Nam – cùng tất cả các nước có liên quan – đều giữ bí mật tuyệt đối nội dung TPP.

TPP

Thỉnh thoảng có vài chương “nhạy cảm” được “rò rỉ” bởi WikiLeaks từ năm 2013 làm dấy lên những quan ngại sâu sắc và chống đối mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

Giữ tuyệt mật luôn là hành động chuyên nghiệp, đúng đắn, nhưng PHẢI TRÊN CƠ SỞ SONG PHƯƠNG, y hệt như việc trả giá của một bà nội trợ với một người bán hàng ngoài chợ và giá bán là giá đồng thuận riêng chứ không được bà nội trợ dùng loa phóng thanh báo cho các bà nội trợ khác, tương tự như phỏng vấn xin việc tại một công ty cực kỳ lớn và cực kỳ chuyên nghiệp đẳng cấp quốc tế thì luôn là đàm phán riêng tư có yêu cầu bảo mật chứ không bao giờ theo cái quái quỷ “thang lương bảng lương” kiểu đổ đồng như ở Việt Nam xem nhẹ năng lực đàm phán của mỗi ứng viên.

TPP là một định chế ĐA PHƯƠNG nên chuyện giữ tuyệt mật suốt thời gian gần chục năm đàm phán là điều kỳ quái không bao giờ người dân đoan chính ở những quốc gia văn minh tiến bộ chấp nhận, khiến dấy lên những giả định – mà than ôi, lại là sự thật 100% sau khi TPP được ký kết – rằng các siêu tập đoàn tư bản khống chế toàn bộ các thỏa thuận trong nội dung TPP.

Nội dung duy nhất và chính thức về TPP được Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng – người đại diện Việt Nam sang New Zealand ký kết TPP – thể hiện trong Báo Cáo Số 79/BC-CP ngày 18-3-2016 dài tổng cộng 22 trang khổ A4, gởi các nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII trong kỳ họp chót tháng 4-2016 tại Hà Nội

TPP (1)

trong đó khoảng 3 trang giới thiệu qua loa về TPP, khoảng 1 trang về quá trình đàm phán TPP, 11 trang về các nội dung đàm phán và kết quả đàm phán, 6 trang về cơ hội và thách thức khi gia nhập TPP, và nửa trang về các bước triển khai tiếp theo – nghĩa là chẳng nghị sĩ nào được nhận bản nội dung hoàn chỉnh của TPP hay  bản tóm tắt tức summary của TPP, mà chỉ nhận bản trên y như một bản báo cáo thành tích kèm phân tích toàn thuận lợi sáo rỗng để mê hoặc các nghị sĩ hãy yên tâm nhấn nút phê chuẩn mà thôi; trong khi đó, Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng toàn văn của TPP không những dài đến 5.600 trang mà còn cực kỳ phức tạp không mấy người dân Mỹ có thể đọc hết mà hiểu tường tận được.

B) Quái Gở TPP

Trước thực tế quái gở như trên về TPP đã được trình diễn tại Quốc Hội Khóa XIII;

Trước sự thật là bản tiếng Việt của TPP đã hiện diện trên các trang web của các cơ quan có liên quan mà người dân Việt nếu quan tâm có thể dễ dàng tải về tự nghiên cứu;

Trước sự thật là truyền thông đã cung cấp rất nhiều bài viết về những thuận lợi và thử thách khi gia nhập TPP – mà ngữ nghĩa của “thử thách” trong dụng ý tiếng Việt chỉ mang ý rằng “rất hấp dẫn nên phải chấp nhận để vượt qua” – cũng như tập trung phê phán Donald Trump đã rút khỏi TPP, xem như Mỹ bỏ Biển Đông cho Trung Quốc (!), và bỏ luôn ưu thế thị trường khổng lồ TPP;

Với tư cách chuyên gia duy nhất ở Việt Nam có hiểu biết thực tế, có hoạt động thực tế, có giảng dạy về hợp đồng kinh tế ngoại thương, có chứng minh cụ thể năng lực nhận diện điều khoản tiêu cực và hùng biện giải cứu cơ quan nhà nước và nông dân qua “Sự Cố Hạt Điều” mà Báo Tuổi Trẻ thủa xa xưa có đưa tin; và đặc biệt

Với tư cách một nghị sĩ lúc đương nhiệm Khóa XIII đã được đại diện một tập thể hơn 100 doanh nhân nước ngoài tại Việt Nam tiếp cận mời đến phát biểu hội thảo (bằng tiếng Anh) về TPP, tại đó diễn giả hai người gồm một luật sư danh tiếng của EU sẽ hùng biện về Pros tức những tốt đẹp của TPP sẽ mang đến kinh tế Việt Nam và một nghị sĩ Việt Nam là tác giả bài viết này sẽ hùng biện về Cons tức những tiêu cực TPP sẽ gây ra toàn diện cho Việt Nam (buổi hội thảo hoành tráng đã không diễn ra như ý do tác giả bài viết này lại đang trong thời gian nằm viện dài lâu dù vị luật sư nước ngoài cố gắng thuyết phục cũng như hứa thu xếp có người đỡ đần đón tại bịnh viện, đẩy xe lăn hay dìu đỡ tác giả bài viết này lên sân khấu);

Tác giả bài viết này, do đó, có đầy đủ tư cách để nói về Cons đối với TPP, và sẽ chỉ dành thời gian nói về những điều truyền thông Việt hoặc không biết hoặc không muốn nêu lên hoặc bị cấm đưa tin, cùng những nhận xét hoàn toàn độc lập của riêng tác giả.

1) “Biểu Tình”

Một vấn đề kỳ lạ phát sinh ngay từ trước khi TPP được 12 nước ký kết là đã có nhiều cuộc “biểu tình” chống đối TPP.

Những anti-TPP rallies rầm rộ nổi lên ở nhiều nước, đặc biệt tại Mỹ (có đến 27 thành phố trong đó có Los Angeles, Chicago, Dallas, Denver, Detroit, và Thủ Đô Washington), Úc, New Zealand, Malaysia, Chile, Canada, v.v. Nhiều cuộc “biểu tình” đã biến thành bạo loạn xung đột dữ dôi với cảnh sát chống bạo động, và có cuộc quy tụ đến 65.000 người như ở Quảng Trường Zocalo của Mexico.

Điều khôi hài cần lưu ý ở đây là trong tập thể 12 nước đặt bút ký TPP thì sự chống đối mãnh liệt nổ ra ở 9 nước, còn 3 nước còn lại thì yên ắng bình chân như vại (do Singapore độc tài tuyệt đối cấm “biểu tình” bất kể vì mục đích gì, Brunei có luật lệ Hồi Giáo khắt khe chỉ cho phép “biểu tình” trước Đại Sứ Quán Brunei ở …Hoa Kỳ nghĩa là nếu có nhu cầu “biểu tình” thì cứ đơn giản sang Mỹ “biểu tình” xong thì về, còn Việt Nam chỉ “biểu tình” để “chống Cộng và chống Chính Phủ” hoặc theo lịnh các “cha” chứ chẳng ai hơi đâu bỏ ra 6 tháng đọc mỗi ngày 30 trang cho hết 5.600 trang TPP tiếng Anh hoặc tiếng Việt để xem thử xem có những điểm nào có thể gây phương hại đến quyền lợi quốc gia dân tộc hay không).

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước lớn dưới sự thống trị của các tập đoàn tư bản khổng lồ thì tại sao dân các nước lớn ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ, yêu nước, và yêu lẽ phải, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), chính phủ cường quốc vinh diệu của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của tiểu quốc thấp yếu nào đó trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ, còn các nước nghèo trở thành nạn nhân của giới tài phiệt vì chính phủ nước nghèo đã đàm phán bất lợi bất minh trong bí mật.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước nhỏ thì tại sao dân các nước nhỏ ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ và yêu nước, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), phải trả tiền thuốc y tế cao khủng khiếp, còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho nước nhỏ nhất là nước nhỏ ấy đã “thực sự hưởng lợi” từ một định chế thương mại tự do tương tự thí dụ như Mexico đã sẵn có NAFTA với Mỹ thì tại sao dân Mexico lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ từng trãi, họ yêu họ và họ yêu nước, do TPP sẽ làm họ thêm nghèo đói (như NAFTA đã làm họ phải chui cống leo tường rào vượt biên giới sang Mỹ), còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Việt Nam không thuộc “nước lớn”, cũng không là “nước nhỏ đã thực sự hưởng lợi từ một định chế tự do thương mại tương tự”. Việt Nam là “nước nhỏ” nhưng lại không thuộc nhóm “nước nhỏ” nêu trên vì người Việt không sợ mất job, chấp luôn việc thuốc men lên giá, và mặc kệ chuyện chính phủ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

2) Lợi Thế

Nếu nhìn thấy việc chống TPP đã tạo lợi thế tranh cử cho Donald Trump, cũng như thấy Hillary Clinton quýnh quáng bắt chước để tuyên bố ủng hộ hủy bỏ TPP, chấp nhận chõi lại Barack Obama miễn cứu vớt việc rớt phiếu thê thảm, Việt Nam dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

Nếu nhìn thấy việc Công ty TransCanada nương theo điều khoản của NAFTA đang kiện đòi Chính Phủ Mỹ bồi thường 15 tỷ USD với lý do việc Tổng Thống Barack Obama hủy bỏ dự án Đường Ống Dẫn Dầu Keystone gây ra “thiệt hại về lợi nhuận lẽ ra có thể kiếm được trong tương lai” loss of future profits (tức cùng cái kiểu cách ghi rõ trong TPP) cũng như nhìn thấy việc Donald Trump cứu nguy xã tắc Hoa Kỳ bằng cách một mặt ký ngay sắc lịnh tái khởi động dự án Keystone, một mặt tuyên bố hoặc hủy bỏ NAFTA hoặc phải đàm phán lại nội dung NAFTA riêng với từng nước thành viên một, Việt Nam càng dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

3) Sự Lén Lút

Có thể nói không chút định kiến – cùng với công luận thế giới – rằng cái gọi là bảo mật tuyệt đối của tổ chức “đa phương” TPP chính là những thỏa thuận đàm phán bí mật lén lút đáng ngờ.

TPP (2)

Việt Nam đã chủ động tham gia tiến trình lén lút ấy, hay Việt Nam đã thụ động để một Bộ trong Chính Phủ tự tung tự tác “đi đêm”, hoặc tung hỏa mù hoặc nôn nóng lập công vì danh vọng hão huyền hoặc móc ngoặc với đại tài phiệt siêu cường, nên đã né tránh hoàn toàn Chương 28 về Giải Quyết Tranh Chấp?

Sự chủ tâm mê hoặc Nhà Nước, ru ngủ Nhà Nước, làm Nhà Nước lú lẩn, còn được tỏ rõ qua việc chỉ trong một đoạn văn ngắn (paragraph) dưới đây, Bộ Công Thương đã 3 lần dùng từ “cơ hội” cộng thêm 1 lần trong chú thích bên dưới. “Cơ hội”, do đó, đầy ắp trong bản báo cáo. Đã vậy, sự tự tung tự tác còn ở mức độ cực cao khi dám cho rằng TPP đáp ứng các “đột phá chiến lược” của Đảng, và đơn giản hóa sự cạnh tranh tàn khốc tàn nhẫn tàn hại chỉ bằng cách cho rằng Việt Nam tham gia vào các chuối cung ứng vô hình nào đó đang cạnh tranh ghê gớm ấy.

TPP (8)

Sự gian trá lén lút còn được thể hiện rõ trong đoạn báo cáo sau, trong đó nêu cực kỳ vắn tắt cực kỳ láo xạo (đối với một chương cực kỳ quan trọng là Chương 28 vốn khiến dậy sóng chống đối toàn cầu) rằng “có việc cho phép nhà đầu tư được kiện chính phủ trong một số trường hợp đặc biệt như khi chính phủ tước đoạt tài sản của nhà đầu tư:

TPP (7)

Việc để trong ngoặc đơn cho thấy đó không là thông tin quan trọng.

Nhóm từ “trong đó có việc” cho thấy đó chỉ là một nhắc nhở phụ trợ.

Việc “tước đoạt tài sản nhà đầu tư” vừa không là nguyên văn của TPP vừa gian xảo khiến người đọc liên tưởng đến quốc hữu hóa vốn là việc hết sức bình thường mà ai cũng cho là mình đã hiểu từ lâu trước đó, cớ gì phải đợi đến TPP.

Trong khi thật ra, TPP quy định rằng chính phủ các quốc gia thành viên phải đền bù cho các công ty/tập đoàn nước ngoài nếu ban hành các luật lệ/chính sách gây ra những thiệt hại cụ thể và những mất mát cơ hội kinh doanh thu lợi nhuận trong tương lai cho các công ty/tập đoàn ấy. Nói một cách bình dân hơn, nghĩa là chính phủ Mỹ phải lấy tiền thuế của dân Mỹ để bồi thường cho một công ty cá tra của Việt Nam nếu Mỹ bày ra các giám định quá nghiêm ngặt khiến công ty cá tra ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm sắp tới từ thị trường Mỹ, hoặc chính phủ Việt phải lấy tiền từ kinh phí xây cao tốc Bắc-Nam để bồi thường cho một công ty bàn chải đánh răng của Mỹ nếu Việt bày ra hàng rào kỹ thuật chất lượng cao hơn khiến công ty ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm tới từ kế hoạch mở rộng sản xuất thống lĩnh thị trường từ Việt Nam đánh ra Đông Dương và ASEAN.

Đã lén lút, tất phải che đậy và giấu diếm. Để giấu nội dung Chương 28, Bộ Công Thương đã lý giải ngắn gọn trong hai đoạn sau, hoàn toàn triệt tiêu mức độ nghiêm trọng của Chương 28, và lảm nhảm về sự quái gở rằng các tiêu chuẩn của TPP đích thị là những tiêu chuẩn để “xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa thực sự của dân, do dân, và vì dân”

TPP (9)

4) Vấn Nạn Của Chính Phủ Việt Nam

Như tác giả bài này đã từng viết đâu đó – mà Cô Lại Thu Trúc đã từ bi cóp nhặt trữ lưu – Việt Nam thiếu vắng những chuyên gia đức tài.

Ở Việt Nam, đức chỉ đơn giản là đạo đức cách mạng chứ không là đạo đức con người do cha mẹ rèn nên, khiến cán bộ Nhà Nước có “đạo đức” (tức là người được kết nạp thành “đảng viên” và được tín nhiệm đặt vào hàng ngũ lãnh đạo) thì làm mỗi nơi đến trấn nhậm mất hàng chục ngàn tỷ, vận dụng bài giảng chiến thuật trên sa bàn của cách mạng trong chiến tranh du kích chống Mỹ vào thực tế nên cứ hễ lủi trốn là Nhà Nước có truy bắt toàn cầu vẫn không ra.

Ở Việt Nam, tài chỉ đơn giản là trên cổ có treo lộng kiếng các bằng cấp Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, được sắm sửa bằng tiền thuế của dân, khiến các cán bộ tinh hoa trí tuệ Nhà Nước gây ra sự cố Hố Hô, làm biến mất rừng phòng hộ, gây ra lụt lội khắp nơi, khiến sụt lỡ nghiêm trọng đất ven sông, đẻ ra đoàn tàu sắt tiến ra biển lớn chế ngự Biển Đông để được kéo về lên đất liền sau chuyến thử rời bờ biển với thân tàu rỉ sét lủng lỗ chỗ còn máy móc ắt chỉ hạp xăng thơm máy bay nên không chịu nổ, làm hết heo tới tiêu/điều/dưa hấu/cá sấu phải sắp hàng cầu cứu Chính Phủ ra tay tế độ, ngành hàng không cực kỳ hiện đại thì nuôi đám chuyên viên không thèm trực kiểm soát không lưu bỏ mặc phi cơ bay vòng vòng Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 phút trong khi đám khác thất bại không bảo vệ được hệ thống vi tính sân bay, các nhà kinh tế thì ngồi chơi ngóng chờ TPP mò đến tự làm kinh tế Việt Nam cường thịnh, và giáo sư tiến sĩ lãnh đạo đại học thì chẳng biết phải lấy gì để làm thí dụ cho cái gọi là “sáng tạo” nên vận áo veston, thắt cravat, và mặc quần tà lỏn để minh chứng hùng hồn rằng chỉ có trình độ giáo sư tiến sĩ Việt Nam mới nhận biết chân giá trị của sự sáng tạo vĩ đại nhất của toàn nhân loại: quần tà lỏn.

Chính phủ nhất thiết phải lưu tâm đến sự thật rằng: bất kỳ văn bản tiếng nước ngoài nào cũng có thể được chuyển dịch nhanh chóng chính xác ra tiếng Việt – hoặc ngược lại – nhưng kiến thức về những vấn đề trong văn bản lại thuộc một kỹ năng/năng lực hoàn toàn khác, chưa kể phát hiện vấn đề và tư vấn cảnh báo hoặc sửa sai vấn đề lại là một thứ năng lực hoàn toàn khác và ở một đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

Một khi Chính Phủ không sẵn có ba bộ phận những chuyên gia trên, hoặc không sẵn có một bộ phận những chuyên gia có cùng lúc ba năng lực trên, thì càng không có cơ sở để mặc định rằng một Bộ của Chính Phủ lại giỏi hơn Chính Phủ khi có đến 3 bộ phận ấy hoặc 1 bộ phận có cả 3 năng lực ấy. (Tất nhiên, chỉ có vài bộ đặc thù như Quốc Phòng, An Ninh là thuộc phạm vi phạm trù hoàn toàn khác)

Cũng vì không sẵn có nhân lực như đã nói ở trên, Chính Phủ nhất thiết không được giao phó vận mạng đất nước vào tay những vị Bộ Trưởng. Chỉ cần sự lươn lẹo ngôn từ trong báo cáo, che giấu các hiểm họa khỏi các báo cáo ấy, là các Bộ có thể làm cả Chính Phủ bị dẫn dụ vào nẽo sai lầm gây nguy hại cho tiền đồ của quốc gia dân tộc. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo đã làm Đảng xiêu vẹo với những vụ như Trịnh Xuân Thanh. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo của các Bộ đã làm Chính Phủ lao đao với bản hợp đồng đầu tư của Formosa.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài trong Đảng về giúp Đảng và Nhà Nước, mỗi khi có đàm phán cho những hiệp định song phương hoặc đa phương, Chính Phủ có thể nhờ tác giả bài viết này đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào các Bộ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Chính Phủ có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra mà người dân chẳng thấy ai chịu trách nhiệm cụ thể cả.

Chính phủ nhất thiết phải lưu ý rằng cái chính trong thế giới toàn cầu hóa là THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG (Fair Trade) chứ không phải là THƯƠNG MẠI TỰ DO (Free Trade).

TPP (4)

Đơn giản vì Công Bằng là đạo đức, còn Tự Do là Cá Lớn Nuốt Cá Bé.

Đơn giản vì quan hệ chòm xóm bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải quan hệ hàng xóm luông tuồng tất cả vào nhà của nhau để ngủ một cách vô duyên vô đạo.

Đơn giản vì không được sử dụng một quan hệ kinh thương để hình thành một hàng rào chơi riêng mà mục đích nhằm phong tỏa chính trị một quốc gia khác — mà ở đây TPP thực chất nhằm phong tỏa Trung Quốc.

5) Vấn Nạn Của Quốc Hội Việt Nam

Như tác giả bài viết này đã từng nêu về chất lượng yếu kém của nghị sĩ Việt Nam, vấn đề là cứ nghĩ đến “cơ quan lập pháp” là người Việt lại nghĩ đến “luật sư” mà không chịu hiểu rằng cả hai chẳng dính dáng gì đến nhau cả vì luật sư là để bảo vệ thân chủ chứ không để tạo ra các dự án luật. Tương tự, bác sĩ chữa bịnh và bác sĩ giải phẩu chẳng dính dáng gì đến chuyên gia hay công ty chế tạo ống chích, kim tiêm, dao mổ, máy móc thiết bị y khoa hiện đại. Tương tự, giáo viên dùng wifiPowerPoint giảng dạy Văn Học không dính dáng gì đến việc giáo viên ấy phải chế ra được laptop hay overhead projector.

Quốc Hội là nơi dành cho những người được bầu vào vì (a) đã được người dân biết đến từ lâu trước đó chứ không phải trên trời bất ngờ đáp xuống, (b) đã có thời gian quản trị công việc chuyên môn ở cấp độ cao và trong môi trường bất ổn chẳng ô dù – tức khu vực tư nhân để nắm bắt đời sống thật nhất của đấu tranh sinh tồn sinh nhai sinh kế của người dân, và (c) được chứng minh rõ nét đã luôn tích cực vì nước vì dân chứ không qua lời giới thiệu láo xạo của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Đáp ứng ba điều cơ bản này mới khiến một nghị sĩ có đủ năng lực lập pháp đạt yêu cầu đưa luật vào cuộc sống.

Không hiểu được điều này failing to understand this, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã vài khóa nay giới thiệu vào Quốc Hội một tên luật sư, mà tên này ngoài những tuyên bố vung vít về sự cần thiết phải có “Luật Biểu Tình” hoặc xem luật ấy là món nợ với nhân dân, hoặc ngoài việc bảo rằng có sự cần thiết để y xách điện thoại thông minh quay phim mỗi khi có “biểu tình” ở Thành phố Hồ Chí Minh để y nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thì từ 2011 đến nay y chưa hề dám sử dụng sáng quyền lập pháp mà nhân dân đã trao vào tay y để nộp cho Quốc Hội bản thảo dự án nào cho cái luật ấy cả.

Cũng theo hướng này, nhiều chuyên viên phục vụ Quốc Hội có xuất thân luật sư; nhưng đã có quá nhiều luật không di vào cuộc sống, hoặc chưa đến ngày có hiệu lực thì đã phải tu chỉnh một cách không vinh dự vì chỉ có sự tu chỉnh khẩn cấp nâng từ cái tốt lên cái tốt hơn đáp ứng nhanh chóng flexible những phát sinh mới toanh của cuộc sống mới là đẳng cấp cao của cơ quan lập pháp, chứ tu chỉnh khẩn cấp do phát hiện sai sót sai quấy sai lầm sai bét thì chỉ là sự nhục nhã mà thôi.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài do Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu về giúp Quốc Hội, mỗi khi có nhu cầu phải phê chuẩn một hiệp định song phương hoặc đa phương do Chính Phủ đệ trình, để tránh bị Chính Phủ lén lút qua mặt che dấu, Quốc Hội có thể nhờ tác giả bài viết này – vốn là nghị sĩ Khóa XIII – làm công việc (a) thuyết trình bằng tiếng Việt các phản biện độc lập, và (b) đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào Chính Phủ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Quốc Hội có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra về mặt lập pháp mà người dân chẳng thấy ai trong Quốc Hội đứng ra chịu trách nhiệm cụ thể cả.

C) Phản Quốc

Nếu Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng thực sự chủ tâm dối trá Chính Phủ, che đậy Quốc Hội đối với các nội dung nhạy cảm của TPP, phải chăng nhất thiết phải tiến hành điều tra cho rõ trắng đen để quy tội hoặc không quy tội phản quốc cho ông ấy?

*********

Trên bình diện quốc gia, tôi đề nghị Quốc Hội Việt nam Khóa XIV không chuẩn y TPP.

Trên phương diện cá nhân, tôi tuyên bố: Đả Đảo TPP!

TPP (5)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Khóa XIII

Ghi chú về “Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương:

Do tác giả bài viết này là giảng viên Anh Văn duy nhất về Business Contract (Hợp Đồng Xuất Nhập Khẩu – vào thủa “hồng hoang cấm vận” ở Việt Nam khi xã hội chưa có các hình thức hợp đồng “kinh doanh” nào khác hoặc chưa có hợp đồng “kinh doanh” nào phải có bản tiếng Anh, tất cả đều phải – và chỉ – là công ty nhà nước, nên “business” thuở ấy đương nhiên phải hiểu chỉ có thể là “xuất nhập khẩu” dù là cho hàng hóa hay công trình nhà máy công nghiệp theo các dự án kiểu độc nhất toàn “chìa khóa trao tay”) có thực tế kinh qua công tác đàm phán xuất nhập khẩu/đầu tư/chuyển giao công nghệ, đã có phát hiện những điều khoản bằng tiếng Anh hoặc quái gở hoặc bất lợi cho Việt Nam hoặc bủa giăng bẫy rập lọc lừa của bất kỳ hợp đồng “kinh tế” nào (chẳng hạn như trường hợp “chứng thư hài lòng của bên mua/người mua của bên mua” và cảnh báo với các tổng công ty xuất khẩu hạt điều (nhưng chỉ nhận được lời khuyên rằng “em không hiểu gì cả, Việt Nam mình từ giải phóng đến giờ ký với Ấn Độ toàn có chứng thư đó theo yêu cầu của nó mà có sao đâu”, để rồi sau đó tác giả phải đích thân giúp Nhà Nước Việt Nam đấu khẩu với các công ty Ấn và Đại Sứ Ấn Độ khi thương nhân Ấn vì điều rớt giá đã không cấp “chứng thư hài lòng” dù toàn sản lượng lô điều của khu vực phía Nam đã có chứng thư chất lượng của công ty giám định  quốc tế của Thụy Sĩ SGS Société Générale de Surveillance theo đúng yêu cầu của Ấn Độ – chi tiết của vụ đấu tranh bảo vệ nông dân thành công này có đăng trên báo Tuổi Trẻ thời ấy).

Tham khảo

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc  05-5-2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương  21-01-2015

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore  23-02-2016

Phải Có Luật Biểu Tình 18-8-2016

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Chống Cộng  21-10-2015

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-5-2017

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Việt Nam không ở Mặt Trời, cũng chẳng ở Mặt Trăng hay Cửu Tinh (Planet Nine, quay một vòng quanh Mặt Trời mất chẵn 7.300.000 ngày Trái Đất tức 20.000 năm Trái Đất).

Nếu ở Mặt Trời thì người Việt Nam ắt đã đem đến khái niệm về Người Lửa Fireman hoặc Người Chói Ablazeman mà Hollywood chưa kịp nghĩ ra để bổ sung cho đội ngũ các siêu anh hùng truyện tranh hùng hậu đã từng mê hoặc trẻ em cư dân Sài Gòn trước 1975 như Siêu Nhân Superman, Dơi Nhân Batman, Sắt Nhân Iron Man, X Nhân X-man, V Nhân V-man, Mật Nhân Mystery Man, Dẽo Nhân Plastic Man, Báo Nhân Leopardman, Phút Nhân Minute-man, và…Xanh Lè Nhân Hulk, v.v., bán chạy hơn tôm tươi hốt bộn bạc xây dựng nên siêu cường quốc Hoa Kỳ

Screen Shot 05-05-17 at 08.20 PM

Nếu ở Mặt Trăng thì thiên hạ các nước ắt đã hàng đêm bắt ghế ngồi ngoài sân nhìn lên trển để thấy người Việt đang ca hát Bolero và bắn pháo hoa.

Nếu ở Cửu Tinh thì lẽ nào NASA đến giờ vẫn chưa chịu công bố đã phát hiện sinh vật giống con người đang sống trển?

Việt Nam ở Địa Cầu. Không cần phản biện. Tất nhiên rồi.

Thế nhưng, mọi thứ nói về thế giới như một tổ hợp riêng biệt còn Việt Nam đứng trơ vơ trong lãnh địa khác sẽ hoàn toàn điên khùng.

Bài này, do đó, nói về Việt Nam trong một thế giới chung. Và bao giờ cũng là điều đúng đắn nếu nói về mình trước tiên, tránh vết xe dính đầy phân lợn của Hillary Clinton kẻ luôn hằng năm ủn ỉn sủa về tình hình “nhân quyền” của toàn thế giới – mà thế giới ấy hoàn toàn không có Mỹ nên hoàn toàn vắng tên Mỹ trong cái gọi là báo cáo nhân quyền khắp cõi ta bà ấy.

A- Việt Nam Trên Hết

Cũng vì là một thành tố của thế giới, Việt Nam đã bày ra bao việc cho giống với thế giới, chẳng hạn cố nhét các thuật ngữ “quyền con người” vào Hiến Pháp – thay vì ra uy dạy cho nhân loại biết họ đã xâm hại “quyền con người” của người Việt ra sao – và cố ấn cái gọi là “luật biểu tình” vào cái gọi là “món nợ với nhân dân” – thay vì xuất chiêu dạy cho nhân loại biết Việt Nam khoái ngợi ca phấn đấu trở thành như Singapore mà anh Singapopre thì trở thành cường quốc nhờ ảnh dám triệt để cấm “biểu tình”. Ngoài ra, Việt Nam sính “đi tắt đón đầu” – dù việc “đi tắt” của Việt Nam luôn luôn cho thấy là Việt Nam đi lạc đi lộn sau khi vượt chặn ở khúc quanh vì thiên hạ không ngu gì không quẹo chỗ khác để khỏi bị kẻ láu cá chặn đầu đón ngõ.

Tuy nhiên, Việt Nam đã không “đi tắt đón đầu”, để vuột cơ hội bá chủ ngôn từ vào tay Donald Trump, người đã phất cao ngọn cờ Nước Mỹ Trên Hết làm gương cho nhân loại noi theo.

Đáng tiếc hơn thế, Việt Nam Trên Hết chưa bao giờ được thốt lên bởi bất kỳ vị lãnh đạo chính trị hoặc trị chính nào, dù của các triều đại phong kiến, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay, vì (a) Việt Nam là tiểu nhược quốc và (b) lãnh đạo người Việt chẳng ai có đủ dũng khí và giọng tốt để hét lên câu nói hùng biện dù võn vẹn có mỗi 4 nốt nhạc này.

Việt Nam Trên Hết là khẩu hiệu của thứ đạo đức cao nhất và đạo lý cao nhất của mỗi người dân Việt có đạo đức cao nhất, mà lẽ ra đã luôn phải được thốt ra bằng miệng – kèm nắm đấm vung lên – bởi tất cả những ai ở cấp lãnh đạo quốc gia dù là của Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản.

Câu duy nhất trong toàn bộ lịch sử Việt Nam chất chứa toàn bộ khẩu khí của Việt Nam Trên Hết chính là: Việt Nam Trên Hết.

Việt Nam Trên Hết chỉ bị những kẻ hoặc kém hiểu biết hoặc gian tà cho là mang ý nghĩa cực đoan, chống toàn cầu hóa.

Thậm chí, dù chẳng bao giờ xem Việt Nam Trên Hết để làm Việt Nam đẹp hơn, sạch hơn, giỏi hơn, trí tuệ hơn, trí hóa hơn, văn minh hơn, một số người chỉ cần nghe phong phanh gì đó láo xạo là đã sẵn sàng ra tay động thủ đánh đập tóe máu người nước ngoài nào bị cho là đang chưởi Việt Nam, hoặc xúm lại ném đá người nước trong nào bị Báo Xạo Fake News chính thống của Việt Nam cho là đã mắng  dân Việt Nam có dân trí thấp.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (2)

Chính bởi là một thành tố tạo nên thế giới, Việt Nam nhất thiết phải có slogan “Việt Nam Trên Hết” treo trước cửa theo mô hình Nước Mỹ Trên Hết do Donald Trump khởi xướng, nếu không muốn trở thành đơn độc lẻ loi không ai giống trong một thế giới mà ai cũng khôn khéo sử dụng chiêu bài toàn cầu hóa để phục vụ một mục đích duy nhất: dụ dỗ những nước nhược tiểu ngu muội mà số lượng ngày càng vơi đi thảm hại.

“Tên Quốc Gia + Trên + Hết” là công thức tu từ hiện đại mà Donald Trump đặt ra hầu khống chế tư duy chính trị toàn nhân loại, bắt đầu từ năm 2017 cho đến năm 2199 tức đến hết Thế Kỷ XXII nếu vào thời điểm đó vẫn chưa xảy ra cuộc di dân đến Hỏa Tinh Mars để bắt đầu cuộc sống mới của những cư dân đầu tiên trong môi trường thế giới cộng sản đại đồng Toàn Hỏa Hóa marsalization của Hỏa Tinh thay thế cho cái Toàn Cầu Hóa globalization của Địa Cầu.

B- Đinh La Thăng

Trong đất nước Việt Nam Trên Hết ấy không thể không ưu tiên nói đến Đinh La Thăng, và những điều sau nhất thiết phải được phân tích để phục vụ một Việt Nam Trên Hết.

1) Gương Trảm:

Ông là một tấm gương trị chính đặt vun những bệ đá đầu tiên cho nền trị chính Việt Nam, một đất nước có vô số “chính khách” mà những đấng này

a) thường lầm tưởng hễ là đảng viên Đảng Cộng Sản tức một đảng chính trị hợp hiến hợp pháp thì tức là bản thân tự động đương nhiên đang “làm chính trị” tức là “chính khách”;

b) dù vậy vẫn không dám công khai nhận mình là “chính khách” hay “làm chính trị” vì không muốn bị Đảng hiểu lầm mình đã xa rời thân phận tuyệt đối trung thành với Đảng để ngang hàng với Đảng;

c) cũng vì vậy mà ngay cả khi đã trở thành nghị sĩ vẫn không dè mình đã chính thức mang thân phận “chính khách” hay “làm chính trị” theo tiêu chuẩn hàn lâm thực tế thực hành thế giới;

d) mà cũng vì vậy mà dù là đảng viên cao cấp trong Quốc Hội hay Chính Phủ vẫn không sẵn có tự thân đủ đầy kiến thức chính trị (kiến thức chính trị không phải là hiểu biết thuộc nằm lòng chủ nghĩa cộng sản, nhuyễn nhuần các bài soạn của tuyên giáo để đạt trình độ cao cấp lý luận chính trị vốn chỉ để dùng nói chuyện thời sự với “đại cử tri” chứ không để hùng biện trực tiếp trực diện với dân chúng và với kẻ thù; mà là kiến thức tổng hợp về tất cả các lĩnh vực có liên quan thuộc các hệ thống chính trị khác nhau ở các nước chính trị khác nhau vận hành guồng máy chính trị khác nhau) cùng năng lực và kiến thức trị chính (tức tất cả các kiến thức có liên quan đến quản trị đời sống quốc gia bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – luật pháp, tư bản, kinh tế, sản xuất, kinh doanh, đầu tư, an ninh, quốc phòng, giáo dục, tôn giáo, v.v. và v.v.); và

e) do tất cả những đặc thù không rõ ràng được nêu rõ ràng ở trên, chỉ có thực quyền duy nhất trong tuyển dụng nhân sự ở cơ quan và quyết định chi tiêu ở cơ quan chứ không ai có bất kỳ thực uy nào để thi thố trừ việc ra uy xử bức cấp dưới nào dám chống các tiêu cực tiền bạc của mình, dám từ chối không thực hiện các thương vụ của riêng mình, hoặc dám sở hữu năng lực và trí tuệ có thể đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của mình.

Trước thực tế trầm kha trên, Đinh La Thăng đã xuất hiện như một điển hình của một chính khách đầu tiên có cả thực quyền và thực uy khi trảm tướng mà không sợ tướng ấy là con cái/thuộc hạ của đại nguyên soái nào, ngay cả khi trong tay không hề có thượng phương bảo kiếm để tiền trảm hậu tấu.

2) Công Bộc Chơi Cha:

Đinh La Thăng khi trảm tướng đã nêu bật một chân lý của muôn đời mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã chưa từng quan tâm áp dụng là

(a) luật pháp về phúc lợi xã hội là dành cho dân chúng chứ không dành cho công-bộc-của-dân tức quan chức/công chức chính quyền; do đó

(b) quan chức/công chức chính quyền phải quyết tâm bảo đảm luật pháp lao động được thực thi cho người dân chứ không phải quyết liệt đòi bản thân quan chức/công chức được luật pháp lao động bảo vệ; tương tự,

(c) những sai phạm của quan chức/công chức nhất thiết phải bị trừng trị ngay, xử lý ngay, gông cổ ngay, xử tội nghiêm khắc nhất ngay, vì liên quan đến an bình của dân chúng và an nguy của thể chế, không thể phải trải qua các bước quy trình luật pháp dân sự vốn chỉ áp dụng để xử lý sai phạm của dân chúng.

3) Định Nghĩa Lãnh Đạo:

Một lãnh đạo không dám trảm tướng chỉ có nghĩa

(a) đó không phải là lãnh đạo mà chỉ là hình nộm được đặt lên để thực hiện các mệnh lệnh của nhóm lợi ích,

(b) đó là lãnh đạo có tì vết trên cả nghiêm trọng trong quá khứ mà các tướng do biết rõ nên sẽ không có lãnh đạo nào dám trảm,

(c) đó không là người leo lên ghế lãnh đạo nhờ tài năng cá nhân mà do chạy chức chạy quyền nên phải cố bám ghịt lấy ghế bằng mọi giá kể cả làm ngơ không bao giờ trảm ai cả, hoặc

(d) đó là lãnh đạo lo chăm chỉ kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền trong suốt nhiệm kỳ nên để yên cho người khác cùng vầy đoàn kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền cho đông vui khí thế, v.v.

Như một nhà lãnh đạo thực thụ, Đinh La Thăng đã trảm tướng và những phát hiện cùng cáo buộc gần đây đối với Đinh La Thăng mới được hé lộ lại cho thấy sự nghiêm trọng cơ bản nhất lại không phải về “tiêu cực” hay “lam nhem tài chính” có thể có của Đinh La Thăng – vì việc trảm tướng cho thấy dường như Đinh La Thăng không có tiêu cực gì để che dấu hay để kẻ bị trảm moi ra trả thù – mà là một vấn nạn khác nguy hại hơn tỷ lần, liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam.

C- Đảng Cộng Sản Việt Nam

Như đã viết chi tiết trong một bài trước đây về các vũ khí dũng mãnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đinh La Thăng chỉ là một cái tên để đặt cho vấn nạn nhụt cùn của các vũ khí từng là bách chiến bách thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà đỉnh điểm bất tài vô dụng Việt Nam thời hiện đại đang gánh chịu là Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Nếu thực sự Đinh La Thăng đã có những sai phạm nghiêm trọng về tài chính từ trước khi trở thành bộ trưởng, phải chăng Trung Ương Đảng đã hoặc (a) muốn bao che cho Đinh La Thăng vì “đồng bệnh tương lân”, hoặc (b) tuân lệnh Bộ Chính Trị ém nhẹm các nội dung nhạy cảm, hoặc (c) cung cách làm việc đặc thù của Trung Ương Đảng là chưa ra tay nếu như ngân khố quốc gia từ tiền thuế của dân chưa bốc hơi đủ chẳn số nhiều chục ngàn tỷ, hoặc (d) chính Trung Ương Đảng mù quáng mặc định cho rằng đã là nhân sự lãnh đạo của Đảng tất nhiên tự động tài ba tự động liêm chính tự động là học trò giỏi của lãnh tụ Hồ Chí Minh, hoặc (e) Trung Ương Đảng không có – hoặc không dám – giám sát cán bộ cấp cao, hoặc (f) Trung Ương Đảng sợ bị vạch mặt tố cáo tham nhũng bởi những cán bộ cấp cao mà Trung Ương Đảng muốn xử tội tham nhũng nên cứ nấn ná cho đến lúc tầy huầy tanh bét sụp đổ vô phương cứu vãn trước công luận, và hoặc (g) Trung Ương Đảng quá tin tưởng vào Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam?

Do Việt Nam là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của thế giới, Đảng Cộng Sản Việt Nam đương nhiên cũng là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của chính trị thế giới, mà những tư vấn sau đây của tác giả bài viết này dứt khoát là những việc cực kỳ bình thường được áp dụng bởi nhân loại nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa hề được bất kỳ đảng viên cộng sản nào tư vấn tương tự khiến Đảng cứ bị ô danh một cách tự nguyện:

1) Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam:

Đinh La Thăng nếu phạm tội nghiêm trọng thì vì sao vẫn được Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử Quốc Hội trở thành nghị sĩ Khóa XI, XIII, XIV?

Phải chăng cụm công việc duy nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là

(a) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm theo dõi nhân sự của Đảng từ lâu trước đó để khi đúng thời điểm thì giới thiệu “đảng tài” (tức đảng viên tài, trên cả nhân tài hay hiền tài) cho Đảng và Quốc Hội những ứng cử viên tài đức ấy hoặc cản ngăn những ứng cử viên đảng viên bất tài hoặc vô đức hoặc bất tài vô hạnh mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nắm rõ;

(b) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm kiểm tra thẩm tra khẩn trương kiểu nước tới chân mày mới nhảy nghĩa là vào một hai tuần trước kỳ bầu cử hễ “trên gởi gắm” đảng tài nào thì Mặt Trận sẽ tích cực “giới thiệu” ngay chính đảng tài ấy cho Quốc Hội như những ứng cử viên tài đức vẹn toàn có hồ sơ cá nhân mỹ miều, và

(c) sau bầu cử Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp thì thư giản nghỉ ngơi chờ mỗi năm hai lần tổ chức tổng hợp ý kiến cử tri để Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc ra Quốc Hội thong thả đọc với giọng nhừa nhựa gây buồn ngủ phi-hùng-biện trong 45 phút hoặc mỗi năm chờ có thiên tai thì tổ chức xin tiền doanh nghiệp để đi cứu trợ?

Những người dân công chính ắt có ước mong lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam công khai những công việc thành tựu quan trọng nào đó mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã thực hiện vì không muốn chỉ khi lãnh đạo Mặt Trận hoặc qua đời hoặc bị tố tham nhũng mới kinh ngạc thấy báo chí chính thống liêt kê ngất ngút tràn ngập ngợi ca công đức công trạng công lao người quá cố hay kẻ phạm tội.

Trước thực tế về sự vô dụng của một tổ chức chính trị của Đảng mà hàng năm Quốc Hội phải thông qua lượng ngân sách khổng lồ cho hoạt động nhàn cư nhàn nhã nhàn hạ nhàn rổi của , nhưng lại vô trách nhiệm giới thiệu vào hàng ngũ nghị sĩ những kẻ như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Châu Thị Thu Nga, Vũ Huy Hoàng, v.v., và nay làm Đảng phải muối mặt xử lý vụ đầy tranh cãi của nghị sĩ Đinh La Thăng vốn cũng là một trong những người mà Mặt Trận hoan hỷ giới thiệu; đặc biệt là

Trước thực tế những tầy huầy lộ liễu đầy tì vết của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Cần Thơ, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Hà Tĩnh, v.v., về “giới thiệu nhân sự” cho Quốc Hội Khóa XIV, thậm chí có Phó Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nghị sĩ Nguyễn Thị Nguyệt Hường lại chối bỏ tổ quốc Việt Nam để ôm của cải ra làm công dân đảo quốc nọ đã làm lộ rõ sự bất tài vô dụng của chính vị Ủy Viên Bộ Chính Trị Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam;

Trước thực tế bất tài, thiểu năng, vô dụng của lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Bình Dương, Nghệ An, v.v., đối với các vụ “biểu tình” gây rối và bạo loạn, đặc biệt của giáo dân vốn là đối tượng dân vận của Mặt Trận Tổ Quốc;

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

i– Sa thải và cách chức Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở những tỉnh thành đã thất bại trong cả hai nhiệm vụ “giới thiệu ứng cử viên” Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp, và công tác dân vận địa phương.

ii- Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, từ nay có quy định trách nhiệm cụ thể nếu để xảy ra việc giới thiệu ứng viên bất tài vô hạnh và để xảy ra “biểu tình” bạo loạn ở địa phương.

iii– Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, theo đó sẽ không bao giờ dựa vào đảng tịch, chấm dứt quy định quái gỡ Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam phải là Ủy viên Bộ Chính Trị chỉ để ngồi cho đủ mặt trong Bộ Chính Trị, nghĩa là từ nay trao các chức vụ cao nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành cho những công dân yêu nước có đủ đức tài, dám nhận và chịu trách nhiệm đối với các chức năng nhiệm vụ của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, bất kể đó là người ngoài Đảng hay là đảng viên bình thường mà cả hai xuất thân này đương nhiên không bao giờ là Ủy viên Bộ Chính Trị vì chẳng có việc gì để làm trong Bộ Chính Trị.

iv– Ban Bí Thư Trung Ương Đảng phải đổi mới tư duy, không thể đem áp dụng vào Thế Kỷ XXI này lề lối tư duy những nhà cách mạng Thế Kỷ XIX trong dụng nhân và trách nhiệm, nghĩa là từ nay phải sử dụng đúng nhân sự trên cơ sở đức tài (luôn định lượng cực kỳ cụ thể được) chứ không trên cơ sở quá trình tu dưỡng chính trị (chỉ có thể định tính), và trách nhiệm từ nay là của chính Ban Bí Thư chứ không phải luôn là của cấp thừa hành mỗi khi xảy ra sai sót phải thi hành kỹ luật.

2) Truyền Thông Chính Thống Việt Nam:

Truyền thông chính thống của Việt Nam từ ngày Giải Phóng Miền Nam đến nay chưa hề có bất kỳ công trạng nào để chứng tỏ bản thân nó chính là công cụ tuyên truyền hiệu quả của Đảng, như minh chứng qua sự thật rằng đạo đức xã hội ngày càng suy vi, ổn định tư tưởng xã hội ngày càng xa vời, v.v.

Như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã từng nêu trong vài bài viết trước đây, chưa bao giờ truyền thông đưa được bất kỳ gương sáng thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần nào của bất kỳ quan chức cao cấp nào, mà chỉ thỉnh thoảng nêu vài tin về tài xế nào đó tiết kiệm xăng cho cơ quan, hay nhân viên cấp thấp nào đó trả lại tiền thừa của khách để quên, hoặc người dân thấp cổ bé miệng nào đó sống đời đạo hạnh đạo đức vì đạo lý, v.v., cứ như thể thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần là những đức tính chỉ của người thường dân chứ không hề được phép có nơi tầng lớp lãnh đạo vậy.

Ấy vậy mà mỗi khi có một chức sắc cấp cao nào đó bị vướng tiêu cực là đột nhiên báo chí làm dân chúng sững sốt ngạc nhiên khi đầu tư tâm huyết viết bài về những bí mật quốc gia tức là về cái “đạo đức” nào đó và cái “tài năng” nào đó mà vị chức sắc ấy đã từng lén thi thố (chỉ cho nhà báo biết) thật nhiều năm trước khi bị tố, rồi báo chí kêu gọi phải xét công-tội phân minh. Hóa ra cái tốt của một đảng viên tinh hoa chính trị chức sắc cấp cao là thông tin tối mật của truyền thông, mà nếu chức sắc ấy đừng bị tố thì thông tin sẽ mãi là bí mật để rồi một nhà báo nào đó sẽ viết thành sách dày cộm hốt bạc khi vị chức sắc ấy về với tổ tiên, trong đó nhà báo tác giả sẽ khoe chính mình là người gần gũi nhất, hiểu biết nhất, được nghe nhiều lời tâm sự thiết tha nhất của đấng đức tài quá cố ấy của Đảng.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

FAKE NEWS của truyền thông chính thống Việt Nam là một sự thật – như đã từng được chứng minh cụ thể qua việc truyền thông chính thống ấy đã từng nhét chữ vào mồm Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước bảo rằng chính ông ta mắng dân Việt Nam “dân trí thấp” nhằm hỗn láo gây áp lực tống cổ ông ấy ra khỏi Quốc Hội, hoặc qua các tầy huầy gần đây của truyền thông làm nhục Đảng qua các hành vi “tác nghiệp” đẻ ra toàn FAKE NEWS của bọn chúng. Vì vậy, nhất thiết Đảng phải hoặc dày công chấn chỉnh giáo dục lại truyền thông hoặc đơn giản sa thải các lãnh đạo của truyền thông nào bá láp bất tài vô dụng, rồi giao việc quản lý truyền thông cho thế lực mới của Đảng trong thời đại mới như nêu ở phần 5 dưới đây.

3)  Lãnh Đạo Việt Nam Về Chính Trị:

Đảng đã hoàn toàn đúng trong Thế Kỷ XX khi lãnh đạo chính trị giữ vai trò quyết định tuyệt đối và lãnh đạo chính trị cũng phải đồng thời là lãnh đạo trị chính.

Đảng đã không còn đúng trong Thế Kỷ XXI do lãnh đạo chính trị thời đại hiện nay nhất thiết phải chỉ về chính trị (thể chế quốc gia và ngoại giao) cùng vài thiết chế liên quan đến an ninh quốc phòng và an ninh tiền tệ, mà không là kiêm lãnh đạo trị chính – tức trị quốc – trên tổng thể. Điều này được lý giải trong phần 4 dưới đây.

Hậu quả nhãn tiền của việc không tự điều chỉnh các quy trình ngay từ đầu Thế Kỷ XXI là ngày càng nhiều đảng viên cấp cao được giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp nhà nước khổng lồ đã trở thành tội phạm làm tan nát các doanh nghiệp ấy. Còn Nghị Quyết Trung Ương Đảng 4 Khóa XII đã phải nêu rằng:

“…Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục…”

Điều này mặc nhiên thừa nhận sự thất bại trong choàng gánh việc trị chính tức trị quốc đối với những lĩnh vực chỉ dành riêng cho sự quản trị của những chuyên gia thực thụ, vì rằng sự bổ nhiệm những đảng viên cấp cao “choàng gánh” việc quản lý những lĩnh vực phát triển kinh tế-kinh doanh, xao nhãng phần quản lý “chính trị” tất nhiên dẫn đến nhận định cũng trong Nghị Quyết ấy rằng:

“… Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm…”

4) Quản Trị Việt Nam Về Trị Chính:

Xây một chiếc cầu mới hay sửa một chiếc cầu cũ: Đảng lẽ nào xăng tay áo lên lao động đích thân xây sửa, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Dạy tiếng Anh lẽ nào phải do Đảng đích thân giảng dạy, không chấp nhận đó là việc của các giảng viên chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc lắp ráp điện thoại di động hoặc thiết bị vệ sinh lẽ nào phải do Đảng đích thân lắp ráp, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc cứu nạn hay cứu hộ hoặc bắt giữ tội phạm gián điệp lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những công dân ngoài Đảng hào hiệp qua đường mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc giải phẩu thay gan lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những bác sĩ phẫu thuật chuyên gia ghép tạng ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Tất cả các chương trình cải cách giáo dục – kể cả cái dự án cải cách đang được soạn thảo – dứt khoát sẽ thất bại tuyệt đối như nhiều chục năm qua, đơn giản vì các dự án tiền tỷ ấy luôn được giao cho cùng một đội ngũ ngu xuẩn gồm chỉ các giáo sư tiến sĩ đảng viên cao cấp, hoàn toàn không có sự tham gia tư vấn chuyên nghiệp và tham gia soạn thảo chuyên nghiệp của những công dân ngoài Đảng có tri thức cao về chương trình giáo dục.

Đời sống xã hội rõ ràng có vô số những câu hỏi như thế cho vô số các hoàn cảnh, các yêu cầu, các lĩnh vực – kể cả lĩnh vực trị chính tức trị quốc – , v.v., mà phải có bàn tay của những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm.

Tất cả các Bộ trong guồng máy trị chính quốc gia như Kinh Tế, Công Thương, Kế Hoạch Đầu Tư, Giáo Dục, Y Tế, và Nội Vụ, cũng như tại các tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ có thể góp phần xây dựng Việt Nam thành cường quốc nếu được lãnh đạo bởi những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm, chứ không phải bởi các đảng viên cao cấp có bằng cấp tiến sĩ mà Đảng đã đặt để vào những chiếc ghế lãnh đạo cấp cao.

Một chân lý không bất kỳ ai có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị có thể phản bác lại được là: vĩnh viễn không bao giờ có chuyện Việt Nam trở thành cường quốc nếu lãnh đạo các cơ quan trên luôn phải là các đảng viên cao cấp của Trung Ương Đảng.

Đảng là để hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các đường lối ấy. Đảng dứt khoát phải giao việc định hướng/kiểm tra/giám sát cho những đảng viên Cộng Sản tài đức. Đảng dứt khoát phải giao việc thực hiện cho những công dân Việt Nam tài đức. Đây là cách dụng nhân duy nhất đúng cho một Việt Nam cất cánh bay cao đến thịnh cường.

5) Thế Lực Mới Của Đảng Trong Thời Đại Mới:

Đảng đã thành công tuyệt đối trong chiến tranh Thế Kỷ XX tuyệt đối nhờ vào thế lực những người tuyệt đối theo Đảng trung thành với Đảng  tức followers, một thế lực duy nhất lấp biển dời non. Những người tuyệt đối theo Đảng gồm một ít người được kết nạp Đảng và đông đảo người vì yêu nước, thù Tây, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đảng đã không – hoặc chưa – thành công trong hòa bình Thế Kỷ XXI vì Đảng vẫn không nhận ra thực tế rằng đã hình thành hai thế lực riêng biệt gồm followers (những người theo Đảng) và supporters (những người hết lòng vì Đảng).

Followers hiện chỉ gồm có những đảng viên dù trong quân đội, chính quyền, hay đoàn thể, cơ quan, nghĩa là thuộc guồng máy và dưới sự lãnh đạo chính trị của Đảng. Không thể mặc định Followersnhững người hết lòng vì Đảng vì có một bộ phận không nhỏ – chưa đến mức độ bầy sâu như cách dùng từ không đúng, phóng đại, không bằng chứng cụ thể mang tính pháp luật, của “the then president” (cựu) Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang – followers gây ra những vụ trọng án kinh tế hoặc trọng án phản quốc. Chưa kể, followers hiện nay không tự động mang ý nghĩa trung thành với Đảng, hết lòng vì Đảng, do chưa thể chứng minh định lượng được là các đảng viên cao cấp đã thấm nhuần lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh và noi theo gương sáng của Người. Followers, do đó, bao gồm cả những kẻ vào Đảng là do follow chạy theo quyền lực và lợi ích cá nhân.

Supporters hiện là

– Nhiều chục triệu người Việt yêu nước, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, yêu hòa bình, công nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản về chính trị, đánh giá cao những cống hiến và thành tựu của Đảng về chính trị và trị chính, v.v., sẵn sàng sử dụng ngôn ngữ để bảo vệ Việt Nam, chính thể Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhưng không thích sự ràng buộc hữu hình về đảng tịch với Đảng Cộng Sản Việt Nam; và

– Những người sống ở nước khác có thể chế chính trị khác với Việt Nam nhưng yêu công lý, yêu hòa bình, yêu lẽ phải, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, tôn trọng Hiến Pháp/luật pháp/thể chế chính trị Việt Nam, được cụ thể hóa qua những hành động ủng hộ đa dạng khác nhau.

Với phân tích như trên, supporters là thế lực đông nhất, mới nhất, và tốt nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời đại mới.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

a) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ followers để bảo vệ nước nhà và bảo vệ Đảng;

b) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ supporters để bảo vệ chính nghĩa của Đảng và phát triển nước nhà;

c) Đảng nhất thiết phải lịnh cho công cụ truyền thông của Đảng phải tuyệt đối công khai bảo vệ, công khai nhân rộng, công khai ủng hộ các hành động công khai của supporters;

d) Đảng nhất thiết phải trừng trị ngay và trừng trị công khai công cụ truyền thông nào của Đảng dám “nhét chữ vào mồm” supporters để vu vạ supporters, xách động thế giới mạng công kích hay đích thân sử dụng phương tiện của Đảng công kích supporters; mà hành động trừng trị của Đảng đối với truyền thông vi phạm là để khích lệ sự gia tăng của supporters, động viên cụ thể supporters, biến tập thể đông đúc supporter-thụ-động (“like”/naïve supporters) có lòng ái quốc tự nhiên và có tư duy ủng hộ Đảng thành đoàn quân supporter-chủ-động-toàn-tâm-toàn-ý (proactively involved/engaged supporters) có hành động ái quốc mạnh mẽ thể hiện qua hành động tích cực bảo vệ chính nghĩa quốc gia có sự lãnh đạo của Đảng; và

e) Đảng thể chế hóa nội dung tôn vinh và bảo vệ supporters trong các nghị quyết của Đảng, vì rằng các bản toàn văn của các nghị quyết của Trung Ương Đảng từ trước đến nay chưa bao giờ nêu nội dung này, khiến các nghị quyết ấy chỉ để các đảng viên tham khảo để thực hiện – nếu thực sự hiểu để được gọi là “quán triệt” và thực sự có năng lực thực hiện để nghị quyết tiếp theo không mãi nêu vài thành tựu của quá khứ xa xưa đã trở thành quen thuộc còn kỳ dư toàn những điều tồn tại cần khắc phục cho 5 hay 10 năm tiếp theo – chứ không là thứ người dân quan tâm tìm đọc để thấy chính mình trong đó.

Thực tế đời sống đã chứng minh nội dung thuần lý thuyết khi tiếp tục để người dân tài đức ở ngoài việc trực tiếp lãnh đạo trị chính tức trị quốc mà chỉ khuyến khích họ phản ảnh, tố giác, đấu  tranh, sẽ được lập đi lập lại trong các nghị quyết tiếp theo:

“…người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ trong cán bộ, đảng viên….xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’…”

D- ASEAN

ASEAN là minh chứng cho sự thành công vượt bậc của Việt Nam về chính trị.

Tuy nhiên, những yếu điểm nghiêm trọng của ASEAN đã khiến dấy lên những quan ngại làm tiền đề cho những cách đặt vấn đề như sau:

1) Hoàn Tất Vai Trò Lịch Sử

Từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa  – một thứ tương tự Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO cũng theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa – mà mục đích dựng nên là để chặn ngăn sự bành trướng của Bắc Việt xô đổ toàn vùng Đông Nam Á kiểu hiệu ứng domino, phong tỏa Việt Nam thống nhất, làm căn cứ địa cho các đoàn quân “phục quốc” đánh phá Việt Nam, sự tồn tại vươn lên mạnh mẽ trong hòa hoản hòa bình hòa hợp đầy ấn tượng của Việt Nam Cộng Sản đã làm SEATO sụp đổ, dẫn đến sự hình thành ASEAN theo phong cách hòa hoản hòa bình hòa hợp của trào lưu do Việt Nam khởi xướng, tiến đến ASEAN quyết định dẹp bỏ tất các căn cứ địa chống Cộng, đón Việt Nam vào tổ chức, tạo điều kiện cho Việt Nam chiếm ưu thế về chính trị trong ASEAN, tiến đến các vị trí cao trong những cơ quan quan trọng của Liên Hợp Quốc sau này.

Tuy nhiên, những gì đúng không phải luôn là chân lý bất di dịch, vì bản thân hoàn cảnh và môi trường tạo ra cái đúng ấy lại không bao giờ bất di dịch.

ASEAN đã trở thành lịch sử. Sự sang trang là lẽ thường tình và lành mạnh.

2) Sự Ngu Xuẩn Của ASEAN

Nếu NATO được lập nên để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Liên Xô” thì SEATO là để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Việt Nam”. Tuy nhiên, NATO là sự ràng buộc quân sự của một khối thống nhất EU, mà theo đó sự tấn công quân sự vào một nước thành viên sẽ bị xem như cả khối bị tấn công và cả khối sẽ cùng đáp trả. Trong khi đó, ASEAN chỉ là một “liên minh” lỏng lẻo thuần  kinh tế, với những thành viên được kết nạp dường như chỉ để “đông vui”, thậm chí có cả Con Ngựa Thành Troy sẵn sàng đánh phá từ bên trong, mà cụ thể là làm nhục Hoa Kỳ, khăng khăng phản đối sự “đồng lòng” ra tuyên bố chung về Biển Đông, v.v.

Như tác giả bài viết này đã nêu trong một bài viết trước đây, ASEAN đã cực kỳ ngu xuẩn khi trở thành một đối tác thành lập nên tổ chức ASEAN-Trung Quốc, cũng như đã cực kỳ xuẩn ngu khi sự “phản phé” đã tự lột mặt nạ trần trụi cho thấy ASEAN chỉ là một tổ chức có họp định kỳ, có tuyên bố vung vít cầu âu, không có sự đoàn kết hay gắn kết, và sẵn sàng chà đạp mối quan tâm của một nước thành viên chỉ để làm hài lòng Trung Quốc.

3) Bẫy Rập Vong Quốc Vong Thân

Mỗi khi có họp “thượng đỉnh” là ASEAN đều ra thông cáo chung hay tuyên bố chung – kể cả thông cáo của đương kim chủ tịch. Các thông cáo hay tuyên bố ấy, tất nhiên, mặc định có giá trị tiêu biểu cho ý chí tập thể, vì nếu không thì không ai gọi là “thông cáo chung” cả.

Là quốc gia thành viên của ASEAN,Việt Nam có khả năng sẽ vướng bẫy rập nếu như “thiểu số phục tùng đa số” nếu như chủ tịch ASEAN là  Con Ngựa Thành Troy The Trojan Horse thành công trong việc thông qua một thông cáo chung theo đó công nhận rằng Biển Đông thuộc quyền giám quản của Trung Quốc, rằng Trung Quốc có toàn quyền lập các vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông, và rằng ASEAN hoan nghênh việc Trung Quốc cho phép các nước được tự do đánh bắt trên Biển Đông và được hưởng phần chia lợi nhuận như nhau từ việc Trung Quốc khai thác dầu hỏa cùng tài nguyên khác của Biển Đông – nghĩa là những quốc gia thành viên không có biển hoặc có bờ biển chẳng dính đến Biển Đông cũng hân hoan thông qua thông cáo chung ấy, đẩy Việt Nam thành thiểu số, thì Việt Nam có tuân theo cái “chung” ấy để bị bọn chống Cộng có cớ chưởi bới “bán nước” còn dân chúng thì phẫn nộ không?

Trong một tập thể mà chỉ có Việt Nam là cố tình ngây thơ tin tưởng vào cái toàn cầu hóa và tự do thương mại xỏ lá ba que, kỳ dư ai cũng tôn thờ lời hiệu triệu Nước Mỹ Trên Hết của Donald Trump để hình thành Nước Phi Trên Hết, Nước Thái Trên Hết, v.v., thì việc Việt Nam phải đương đầu với nguy cơ sập bẫy không bao giờ là truyện giả tưởng.

4) Việt Nam Phải Rời Bỏ ASEAN

Vì những thực tế mang tính cảnh báo trên, Việt Nam nhất thiết phải rời bỏ ASEAN ngay lập tức.

Việt Nam có thể trở thành một đối tác kinh tế của một tổ chức mới, mang tên ASEAN-Vietnam, tương tự ASEAN-China.

Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đó, nhất thiết phải điều chỉnh lại hướng phát triển kinh tế cho một Việt Nam mới: nước Việt Nam Trên Hết, vì rằng Bất Cứ Dân Tộc Nào Có Lòng Tự Trọng Và Tự Tin Cũng Phải Đặt Chính Dân Tộc Mình Lên Trên Hết.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng February 8, 2016

Làm Chính Trị & Làm Loạn  January 12, 2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam January 18, 2017

Về thực quyền, thực uy November 26, 2013

Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN June 17, 2016

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore February 23, 2016

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Lại Thu Trúc

05-5-2017

(Đăng trên Emotino ngày 23-9-2012)

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Thông tin về Thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy những vấn đề nghiêm trọng cần phải được xử lý trên cơ sở “an toàn sinh mạng người dân là ưu tiên hàng đầu”, bao gồm tiếp tục nghiên cứu các giải pháp khắc phục và các kịch bản được đề ra quanh việc có nên hay không việc tích nước ở Thủy điện Sông Tranh 2, và nếu có thì ở thời điểm nào là giải pháp tình thế thích hợp. Song, chỉ cần có câu trả lời là không, thì xem như toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên cảnh quang thiên nhiên, v.v.) và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.) xem như đổ sông đổ biển.

Những “vấn nạn” trên làm tôi nhớ đến bài viết “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước” đăng trên Emotino.com từ năm 2010 đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về tai họa khủng khiếp mà một đập thủy điện có thể gây ra như:

“…loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

…  …Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường…”

Vẫn với sự lo âu về tình trạng xây dựng các đập thủy điện, Ông Hoàng Hữu Phước năm 2011 cũng có thêm bài viết “Giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia đòi hỏi cái tầm” đăng trên Emotino.com đưa ra thêm các lời cảnh báo như :

“… việc giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia vẫn còn theo phong cách đối phó kiểu du kích, tài tử, không chuyên nghiệp, y như việc trồng bo bo để nhanh chóng giải quyết nhu cầu gạo quốc gia những năm đầu sau giải phóng.

Để làm cho bằng được những dự án thủy điện Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không là diện tích đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ đất nước nào cũng đều vô giá và không bao giờ được định giá dựa trên cân đong đo đếm so sánh những con số vô hồn; và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào đã từng tồn tại trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải vô giá dành cho hậu thế của cả một dân tộc. Ngụy biện hay xảo biện bằng cách nói về nhu cầu năng lượng của quốc gia và của người dân, người ta thậm chí làm ngơ trước nhu cầu lớn hơn: đó là nhu cầu sống, nhu cầu sinh tồn của bao triệu con người hiện nay và mai sau của toàn khu vực hai bên cũng như hạ lưu của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tài sản thiên nhiên và tự hào về tài sản thiên nhiên ấy của người dân hiện nay và mai sau. Các nhà máy thủy điện tất nhiên sẽ cung ứng một phần năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng không vì thế mà cố tình không nói đến những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ các cặn lắng tụ kết tủa ở turbin, khí methane CH4. và carbon dioxide CO2, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhiều triệu con người, thậm chí trong một số trường hợp các đập thủy điện có khi còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường.

Một vấn đề nghiêm trọng khác ít người nói đến là an ninh quốc phòng, đặc biệt khi Việt Nam luôn là đích ngắm của các thế lực thù địch điên cuồng chống cộng, và khi Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với sự đe dọa mang tính bịnh lý thần kinh lăm le táo tợn tấn công quân sự của Trung Quốc. Lịch sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử khi có những xung đột vũ trang hoặc chiến tranh tuyên bố hay không tuyên bố, nhưng vẫn xảy ra những cuộc không kích hay phá hoại các đập thủy điện như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943, các biệt động Đức Quốc Xã đột nhập vào Hoa Kỳ năm 1942 theo Chiến Dịch Pastorius nhằm phá hoại các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là các toán khủng bố Hồi Giáo tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Trong điều kiện tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở toàn Việt Nam chưa trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và khoa học hiện đại, và trên thực tế ngay cả sự cố bất ngờ của thiên tai cũng gây ra thảm họa khủng khiếp như đã xảy ra với đập Vajont của Ý năm 1963, thì bất kỳ sự cố nào xảy ra với bất kỳ đập thủy điện nào trong chuỗi đập thủy điện Đồng Nai cũng có thể tạo ra hồng thủy cao hàng trăm mét cuồn cuộn cuốn phăng Thành phố Hồ Chí Minh ra biển cùng với hàng chục triệu cư dân.

Xây dựng thêm bất kỳ đập thủy điện nào trên sông Đồng Nai là gia tăng sự trực tiếp đe dọa an ninh sinh tồn của Thành phố Hồ Chí Minh, do đó dứt khoát phải bị loại trừ khỏi các dự án quốc gia. Việc đệ trình lên bàn làm việc của Thủ Tướng hay ra nghị trường Quốc Hội, do đó, sẽ là việc làm thiếu trách nhiệm đối với tiền đồ tổ quốc, thiếu suy xét, đặc biệt khi Quốc Hội và Chính Phủ cần nhiều thời gian tập trung cho các vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, trong hoàn cảnh căng thẳng ở Biển Đông, yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, hiện đại hóa quân đội, cách tân giáo dục, v.v. và v.v.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ trọng trách hằn trên chỉ đôi vai của bất kỳ nhà đầu tư nào, nhất là khi nhà đầu tư ấy đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu vớ vẩn đầy tì vết, cẩu thả, vô trách nhiệm về tác động môi trường.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ để bất kỳ ai vin vào đấy để nói về “cái tâm” của mình đối với quốc gia, dân tộc, vì rằng cái tâm đoan chính luôn song hành cùng “cái tầm” mới hướng thượng được, mà cái cao nhất của sự hướng thượng là dành cho hậu thế, cho tiền đồ của tổ quốc, chứ không di hại và di họa cho con cháu mai sau.

Xây dựng nhà máy thủy điện không thể y như trồng bobo cứu đói trong một vụ mùa.”

Cái tâm chính trực của Ông Hoàng Hữu Phước được thể hiện rõ nét nhất qua lời viết mạnh mẽ không sợ làm phật ý nhiều người thuộc giới khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp nước nhà, khi cho rằng:

“… Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite…”

cũng như trong đoạn viết cay đắng:

“… Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý… “

Và trên thực tế, khi sự cố nước phun xối xả từ các khe nứt của Thủy điện Sông Tranh 2 bị phát hiện, vị chức sắc chịu trách nhiệm về kỹ thuật đã trả lời báo chí rằng đó chỉ là việc bình thường trong mức độ cho phép. Vâng, “cho phép” nghĩa là cái công trình bê tông vĩ đại và hiện đại đó đã được công nhân dùng tay nhét giẻ vào các khe nước phun và bơm phụt keo và hóa chất cứ như để đóng nút chai vậy; và vì “cho phép” nên đến tận ngày hôm nay người ta đã phải cho ra các kịch bản mà sự thảm hại tồi tệ nhất về đầu tư có thể là bỏ thủy điện này, không cho tích nước, và sự khủng khiếp tồi tệ nhất có thể là kế hoạch sơ tán khẩn cấp dân cư trong khu vực hạ lưu. Sự “cho phép” theo lập luận của một người có trách nhiệm về kỹ thuật như thế cho thấy cái “đức” và cái “tài” của vị ấy ra sao khi tự cứu mình bằng lời trấn an không trung thực và xem nhẹ sinh mạng hàng triệu người dân. Việc gì sẽ xảy ra nếu những lời vàng ngọc của người có trách nhiệm ấy được Chính phủ cậy tin và người dân tin cậy đến độ không cần kiểm tra lại cái công trình mang tên Thủy điện Sông Tranh 2?

Như biết bao công dân Thành Phố Hồ Chí Minh tôi cảm thấy bất an đối với dự án Thủy Điện Đồng Nai đang có nhiều tranh luận và mong sao nước ta sẽ ngày càng có thêm nhiều hơn nữa những nhà ái quốc có tầm nhìn và sự chính trực như Ông Phước.

Lại Thu Trúc

Bài đăng ngày 23-9-2012 trên http://www.emotino.com/bai-viet/19707/trach-nhiem-doi-voi-sinh-mang-nguoi-dan-tam-nhin-su-chinh-truc-cua-mot-nha-ai-quoc

Donald Trump Phơi Bày Gót Chân Achilles Của Giới Lãnh Đạo Chính Trị Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-4-2017

CTVN 15

Đây là bài thứ 4 trong loạt 5 bài với chủ đề Donald Trump Làm Thế Giới Lõa Lồ.

I- ĐịnhNghĩa 

A- Donald Trump:

Trong phạm vi bài này, Donald Trump có nghĩa bao gồm (a) Tổng Thống Mỹ Donald Trump, và (b) những vấn đề có liên quan đến Donald Trump, từ chủ trương chính sách của Donald Trump cho đến những hành vi hành động chống lại các chủ trương chính sách ấy bất kể đến từ người dân Mỹ ngu muội mà nước nào cũng có những người dân như thế, người nhập cư lậu mà bất kỳ xứ sở văn minh nào có luật pháp đầy đủ cũng phải trục xuất, chính giới Mỹ mà bất kỳ nước tư bản nào cũng có chỉ chuyên chõi lại mọi thứ không phải của họ tức bên thất trận hay thất cử, người dân vô duyên của Tây Âu vốn có thói quen nhúng mũi vào chuyện thuộc chủ quyền nước khác, hay chính giới đang bị lung lay tận gốc rễ ở Tây Âu mà nền móng toàn đá vôi trầm tích bị làn sóng dân túy kiểu Donald Trump xoáy đục hòa tan tạo ra các xê-nu-ti cenote không có miệng mồm tác hoác như mấy cái xing-hô sinkhole nhưng bộ đồ lòng thì trống phoọc.

B- Doanh Nhân:

Doanh nhân đã được lần đầu tiên được giải thích cặn kẽ trong bài Thế Nào Là Doanh Nhân Và Hiểu Đúng Về Doanh Nhân viết ngày 26-02-2010 đã đăng lại trên blog này, theo đó ai cũng là doanh nhân khi kinh doanh bán hàng hóa hữu hình, bán dịch vụ, hay bán sức lao động, v.v., chứ không chỉ gói gọn một cách sai lầm trong phạm vi có mở doanh nghiệp hay cơ sở kinh doanh có giấy phép kinh doanh. Có hiểu đúng thì mới có hành động đúng: chăm chút sản phẩm sao cho có chất lượng cao nhất đối với khách hàng vốn luôn là vua chúa của mình, từ đó nhà giáo phải đàng hoàng, hiệu trưởng phải đàng hoàng, bác sĩ phải đàng hoàng, và kể cả nhà tu hành cũng phải đàng hoàng phục vụ khách hàng mà họ gọi là học sinh hay tín đồ hay bịnh nhân do có đóng góp tiền bạc và có trả tiền dịch vụ phí cho cơ sở dạy học hay tôn giáo hay chữa bịnh của họ chứ không phải họ ban ơn mưa móc miễn phí. Tất nhiên, người xin việc cũng là doanh nhân nên bắt buộc phải o bế sao cho hàng hóa tức sức lao động của mình tuyệt hảo để phục vụ khách hàng tức công ty tuyển dụng; trong khi đó doanh nghiệp phải o bế sao cho môi trường làm việc tuyệt hảo để phục vụ khách hàng từ trong ra ngoài tức lực lượng lao động và những người đến giao dịch. Không thấu hiểu bản chất nội hàm như trên thì thật đáng thương hại khi không thể không có các lủng ca lủng củng trong xã hội.

Thế nhưng, ngay cả truyền thông chính thống ở Việt Nam cũng không có bất kỳ ai hiểu sâu sắc đến mức độ như trên. Họ chỉ bám theo doanh nhân như một vị giám đốc hay CEO hay gì gì khác mà thế giới ngôn từ thường nhảy loi choi kiếm tìm danh xưng mới để hốt bạc từ những chương trình đào tạo mới (thí dụ như từ thủa ban đầu những năm 1970 với tột đỉnh quyền lực là General Manager, người ta nặn óc chế ra General Director cho vinh diệu, rồi lại chế ra CEO, và khi thấy có những kẻ bám đuôi muốn ngang hàng như COO hay nhiều “C” khác, họ lại chế ra thứ khác để cao hơn CEO, v.v.).

Dọ hạn hẹp về tư duy ngôn ngữ, truyền thông chính thống Việt Nam đã mặc định Donald Trump và Rex Tillerson mãi mãi là “doanh nhân”, còn Barack Obama với Hillary Clinton mãi mãi là “luật sư”. Họ chứng tỏ sự ngu muội của họ với truyền thông thế giới khi hoàn toàn không biết rằng Barack Obama là một “doanh nhân” đã có chân trong hội đồng quản trị tổ chức tư nhân Woods Fund of Chicago; và rằng Hillary Clinton cũng là một “doanh nhân” do đã là “cộng sự” tức thành viên chính của Công ty Luật Rose Law Firm tức có góp vốn, có tham gia lãnh đạo, và có chia lợi nhuận; nghĩa là cả Barack Obama và Hillary Clinton đều đã là “doanh nhân” vì lợi nhuận hữu hình và theo nghĩa đen thui tuyệt đối.

Bởi vậy, người dân Việt mới đọc thấy các luận bàn chính trị của những kẻ mà ngay cả ngôn ngữ Việt vẫn chưa thông, chẳng hạn như:

CTVN 2CTVN 3CTVN 4CTVN 5

Khi lãnh đạo chính trị Việt Nam dưỡng nuôi chở che truyền thông chính thống tệ hại bất tài như thế, nghĩa là đầu độc trí hóa của người dân, cũng nghĩa là lãnh đạo chính trị Việt Nam biến thành tiên thành bụt nhưng đồng thời lại không thực hiện công việc duy nhất của bụt của tiêncứu vớt lương dântrị trừng kẻ ác, khiến tiênbụt trở thành động lực ươm mầm cho tiêu cực xã hội bùng phát hơn nấm độc, dẫn đến nhu cầu và yêu cầu cấp bách phải nêu những gót chân Achilles của lãnh đạo chính trị Việt Nam.

II- Gót Chân Achilles 1: Hùng Biện

A) Thế Nào Là Hùng Biện:

Là bậc vĩ nhân của Hoa Kỳ thời đại Thế Kỷ XXI trong khi toàn Châu Âu (trừ Nga), toàn Châu Phi, toàn Châu Mỹ và toàn Châu Á (không trừ Trung Quốc và Việt Nam) hoàn toàn không có bất kỳ một vị nguyên thủ quốc gia nào cũng trong Thế Kỷ XXI này lại có tầm cỡ vĩ nhân tương tự sánh được bằng mình, Donald Trump đơn giản là sự lập lại của một chân lý giản đơn rằng: tác phong bản lĩnh tự có của chính bản thân nhà lãnh đạo thực sự vĩ đại của một quốc gia phải luôn thiên về tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội đáp ứng tuyệt đối đầy đủ tất cả các yêu cầu đồng bộ của hùng biện bao gồm 13 tài năng/ưu thế kết dính keo sơn quyện hòa chặt chẽ không bao giờ rời tách gồm:

1- ngôn ngữ nói thuộc vùng miền ưu việt của quốc gia;

2- ngôn ngữ nói hùng biện;

3- ngôn ngữ viết hùng biện;

4- ngôn ngữ cử chỉ hùng biện;

5- nội dung khẩu ngữ mạnh mẽ, quyết liệt, tỏa lan hưng phấn;

6- âm lượng khẩu ngữ rõ, to, cao, dũng mãnh, quyết liệt;

7- nội dung khẩu ngữ thuyết phục nghĩa là không ai có thể đấu khẩu chống lại trực diện trực tiếp trước đám đông – dù đó là đám đông dự khán hay đám đông theo dõi trực tiếp truyền hình – mà thành công;,

8- nội dung khẩu ngữ thuyết phục thành công ấy phải là đối với đa số và định lượng được;

9- ưu thế về quá trình hoạt động ưu việt về chính trị và trị chính;

10- ưu thế về ngoại hình phong cách phong thái;

11- ưu thế về trí tuệ và tri thức;

12- ưu thế về hùng biện ứng khẩu, và

13– ưu thế về hùng biện bằng ngoại ngữ (nếu ngôn ngữ gốc/tiếng mẹ đẻ không thuộc các ngoại ngữ chính thức sử dụng tại Liên Hợp Quốc).

Qua đúc kết từ gương báu tự ngàn xưa đến tận ngày nay và cho đến ngày tận thế,  tất cả các lãnh đạo quốc gia phải luôn có tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội. Thực tế lịch sử cận đại cho thấy Adolf Hitler đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội để tạo nên một nước Đức vĩ đại nhất thế giới, Joseph Stalin đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội hơn để tạo nên một nước Nga vĩ đại hơn để tiêu diệt nước Đức vĩ đại nhất thế giới ấy, các tổng thống Mỹ đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội  để tạo nên một nước Mỹ vĩ đại, và Fidel Castro đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội hơn để tạo nên một nước Cuba triệt tiêu mọi kế hoạch nuốt chững Cuba của Hoa Kỳ.

B) Thiếu Vắng Hùng Biện:

Những gì từ bản thân của – hoặc liên quan đến – Donald Trump cho thấy toát ra những lưu ý sau mang tính so sánh lột tả “gót chân Achilles” của giới lãnh đạo quốc gia Việt Nam:

1- Các lãnh đạo của Việt Nam hiện đại hoàn toàn không ai có tài hùng biện khẩu ngữ (tức nội dung hùng biện gắn kết tuyệt hảo ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói khi đọc bài diễn văn) và hùng biện ứng khẩu (tức hùng biện không sử dụng bài soạn sắn, hoặc chỉ sử dụng các thẻ ghi từng chủ đề một cần phát triển bằng ứng khẩu) mà sỏ hữu  đầy đủ 13 ưu thế nêu trên. Hầu như có một mặc định rằng tất cả các lãnh đạo phải đóng vai Bụt để tất cả đều không ai trỗi vượt về hùng biện trong tập thể cả. Cũng vì vậy mà ngôn phong của tất cả các lãnh đạo đất nước đều có giọng nói ấm trầm như nhau, đều đều như nhau, dịu dàng như nhau, chậm rãi như nhau, khoan thai như nhau, phi-hùng-biện như nhau.

2-Tất nhiên, có thể gần 100% các bàì phát biểu của gần 100% các lãnh đạo ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới đều không do chính các lãnh đạo ấy chấp bút (tự viết tự soạn), và cũng chính vì vậy mà gần 100% các lãnh đạo ấy đều biến các bài phát biểu ấy là của riêng mình bằng 3 thủ thuật mang tính kỹ năng gồm

a) thể hiện cả hai ưu thế 5 và 6 (thiên nhiều về ngữ điệu) của 13 ưu thế tổng thể đã nêu,

b) tuyệt đối tránh chăm chú “đọc” bài phát biểu, và

c) vận dụng ngôn ngữ cử chỉ một cách đồng bộ với nội dung hùng biện.

Cả 3 cách trên đều không thấy được áp dụng trong giới lãnh đạo chính trị và trị chính ở Việt Nam, và sự thật này cực kỳ tai hại do có thể dẫn đến các hệ quả như (i) người dân hoài nghi năng lực ứng biến tùng quyền chính trị của lãnh đạo do biết ngay đó là bài của trợ lý viết hộ, (ii) người dân không được thuyết phục cũng như không cảm nhận được sự phấn khích tinh thần tỏa lan chế ngự từ bài phát biểu của lãnh đạo, khiến (iii) người dân không quan tâm lắng nghe hoặc không lưu lại gì trong trí nhớ rồi từ đó mơ hồ về chủ trương chính sách v.v. làm thất bại về dân vận cũng như quán triệt.

3- Các lãnh đạo chính trị của Việt Nam hiện đại phải tập hùng biện khẩu ngữ và hùng biện ứng khẩu, để sẵn sàng có những cuộc điện đàm hoặc họp mặt với Donald Trump và các Donald-Trump-Của-Châu-Âu (European Donald Trumps) sắp ồ ạt xuất hiện, vì rằng những kiểu ngoại giao kiểu cách hữu hảo – mà nói thẳng là láo xạo vốn là đặc tính của ngành “ngoại giao” – như luôn sử dụng giống nhau khi tiếp bất kỳ nguyên thủ nào trên thế giới đến Việt Nam nay đã bị Donald Trump làm cho vô nghĩa, vô dụng, obsolete lỗi thời.

CTVN 7

4- Điểm quan trọng ở đây nhất thiết phải ghi nhớ về Donald Trump – và những tân lãnh đạo cường quốc Tây Âu sẽ noi theo Donald Trump – là

a) Các tổng thống Mỹ trước đây gần 100% là con số zero về quyền lực trước khi làm tổng thống, được phe cánh trao cho chiếc quyền trượng trị quốc, và phải khom mình dưới sự khống chế của giới “tài phiệt Wall Street”; trong khi đó thì

b) Donald Trump đã tự thân hình thành đế chế kinh thương lớn nhất thế giới – tính theo cơ sở sự hùng mạnh đầy bản lĩnh và tư cách của cá nhân Donald Trump cùng lực lượng nhân sự hùng hậu tài giỏi gồm các hậu duệ của Donald Trump và các bậc kỳ tài theo phò tá, mà chưa hề có bất kỳ gia đình kinh tài nào khác tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay bất kỳ nước nào trên toàn thế giới có tương tự – và do đó phong cách quyền lực phi-ngoại-giao của một đấng đã thực sự có quyền lực đại chủ tự thân như Donald Trump sẽ có thể khiến lãnh đạo Việt Nam lâm vào hoàn cảnh như giới truyền thông đã từng loan tin rằng Thủ Tướng Úc bị Donald Trump đập điện thoại lúc đang điện đàm.

c) Như vậy, “hội nhập toàn cầu hóa” trong bối cảnh tất cả các lãnh đạo Phương Tây toàn là những “hình nộm làm chính trị” theo bài bản ngoại giao (tức ngoại giao giả lả) sẽ dần được được thay thế bằng những người có thực quyền và thực uy theo “hình mẫu làm chính trị kiểu Donald Trump” tức phong cách phi ngoại giao (tức ngoại giao thực tế), lãnh đạo Việt Nam nhất thiết phải có tài ứng khẩu hùng biện, tư duy nhanh nhạy vững vàng bản lĩnh, và khả năng tiên liệu các tình huống cùng các phương án tranh luận, đấu khẩu, hóa giải, hoặc khéo léo không tạo tình thế cho tình huống kiểu “đập phone” xảy đến.

Đối thoại ngoại giao là đối thoại dối trá, đối thoại màu mè, đối thoại vô bổ, “đối thoại bàn tiệc”, là thứ đối thoại không bao giờ người dân quan tâm, và là thứ đối thoại chỉ làm triệt tiêu uy lực cá nhân của lãnh đạo quốc gia trước mắt người dân.  Đối thoại ngoại giao là đối thoại để có những chữ vàng để treo ở đâu đó trên báo chí.

Đối thoại hùng biện thực chất vì nước vì dân là phong cách mà điển hình là Fidel Castro và Donald Trump, người trước thắng lòng dân để lãnh đạo Cuba tồn tại qua phong ba bão táp, còn người sau thắng lòng dân để làm Hoa Kỳ có cơ hội vĩ đại trở lại.

III- Gót Chân Achilles 2: Bụt

Như đã nói ở trên, Bụt là phong thái mang tính chất đồng phục đồng nhất đồng dạng của giới lãnh đạo chính trị Việt Nam. Phong thái ấy hoàn toàn kém và hoàn toàn sai.

Cổ thư thậm chí còn có giai thoại về hai học trò của Khổng Tử, cả hai đều lấy lòng khoan dung với dân mà trấn nhậm, nhưng một người thành công làm thiên hạ thái bình còn người kia thất bại làm địa phương phát bùng loạn lạc. Nơi trấn nhậm nếu là địa phương có toàn bộ dân chúng đạo hạnh sống đời đạo đức, có giáo dục, tuyệt đối tuân thủ luật pháp quốc gia và quy định của địa phương, thì cái “khoan” sẽ phát huy tác dụng.

Một đất nước hình thành từ cơ sở “bạo lực cách mạng” như Việt Nam không thể được lãnh đạo bởi những “ông bụt”, “bà tiên”, vì chắc chắn xã hội sẽ ngày càng suy đồi, tiền phạt sẽ gia tăng thí dụ từ con số không đáng kể cứ như đùa lên đến con số bằng tiền lương tháng của một nhân viên văn phòng cho một hành vi gì đó như phóng uế nơi công cộng chẳng hạn, và sự lờn mặt nhờn luật pháp lây lan từ giới lãnh đạo các cơ quan nhà nước xuống đến thứ dân, phá tan trật tự xã hội và đạo đức nhân quần.

Việt Nam do đó phải Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ làm lãnh đạo hoàn toàn không được xem trọng vì xuất hiện không chút giáp bào chắc chắn mạnh mẽ trong môi trường chính trị toàn cầu kiểu “cá lớn nuốt cá bé” ngày càng hung hãn, lưu manh, bất trị.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa trí thức” Việt dùng che đậy bản chất khinh dân đầy mặc cảm tự tôn, thường hay bộc lộ rõ nét tại Việt Nam do khinh thường Nông-Công-Thương như xưa kia muốn cứu nước thì sĩ phu phải sang Nhật Bản học tập theo Phong Trào Đông Du chứ không chấp nhận vai trò của Nông-Công- Thương và do đó chống Cộng Sản, còn nay thì chỉ ve vản đưa Thương lên cao, đẩy Nông-Công xuống đáy, để rồi xã hội thì nếu là luật sư tốt nghiệp từ tiền của Fulbright hoặc có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ gì đó là đã manh nha nhen nhúm học đòi dân chủ, lương tâm, lật đổ nhà nước cộng sản Việt Nam. Còn Thương thì chớ biết ai là tiêu biểu trong số những Thương bị Âu Mỹ bêu rếu chẳng hạn mĩa mai là vì nhờ cho gái ghiếc mặc đồ lót (có người Mỹ nói giải thích rằng đồ lót underwear là để mặc bên trong cùng, nên khi “nữ tiếp viên hàng không” mà mặc bikini thì tất nhiên không có mặc đồ lót bên dưới bikini nên bikini chính là đồ lót nếu không đang tắm biển, mà đồ lớt thì chỉ phục vụ hai mục đích gồm mặc bên trong và vũ khỏa thân khiêu dâm, và rằng ngay cả mặc py-ja-ma quần dài tay dài ra đường cũng là không thể chấp nhận được trong văn hóa Mỹ nữa là) quảng cáo hãng hàng không mà Việt Nam có một nữ tỷ phú đô-la,

CTVN 8

hay là Thương mà sếp của nó hoặc đã bị gông cổ giải về từ Singapore hoặc đang bị truy nã toàn cầu, v.v.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa chính trị” Việt dùng che đậy năng lực kém, hùng biện yếu, chí khí thấp, bản lĩnh vắng, và tác phong xu nịnh mà thôi.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa truyền thông” Việt che đậy năng lực kém, hùng biện yếu, chí khí thấp, bản lĩnh vắng, và tác phong xu nịnh giới lãnh đạo chính trị mà thôi.

Việt Nam sẽ tiêu vong nếu không Dẹp Bụt ra khỏi phong cách cung cách giới lãnh đạo đất nước.

IV- Gót Chân Achilles 3: “Biểu Tình”

Sự xuất hiện của Donald Trump đã bộc lộ những sự thật sau về “biểu tình” mà giới lập pháp Việt Nam (tức Quốc Hội với nhiều trăm nghị sĩ) vẫn còn mơ hồ:

1) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với hành động cực đoan cá nhân chủ nghĩa chà đạp dân chủ kiểu “tôi bỏ phiếu cho Bà Hillary nhưng Ông Trump đắc cử, vậy Ông Trump không phải là tổng thống của tôi!”

CTVN 9

Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam có sẽ xảy ra vấn nạn khi phe thiểu số được giới lãnh đạo chính trị cho phép tự do ngôn luận tràn lan để tuyên bố một cách phản dân chủ và thiếu-trí-tuệ-luật-pháp rằng Chủ Tịch Nước và Thủ Tướng không phải là Chủ Tịch Nước của tôi hay Thủ Tướng của tôi vì tôi đã không bỏ phiếu bầu Chủ Tịch Nước ấy và tôi cũng đấu có quyền bỏ phiếu trực tiếp bầu ông Thủ Tướng nên tôi sẽ có quyền tự do“biểu tình” chống đối và đập phá?

2) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với bạo loạn

CTVN 10

Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam đã có sẵn các luật pháp mang tính răn đe trừng trị thích đáng đối với các hành vi bạo loạn tương tự?

3) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với vi hiến vi phạm pháp luật:

CTVN 11CTVN 12

Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam đã có sẵn các luật pháp tương tự Luật Hình Sự 2385 của Mỹ về hành vi và hành động kêu gọi và/hoặc in ấn tài liệu và/hoặc thực hiện lật đổ chính phủ Mỹ, chính quyền tiểu bang, hay chính quyền quận, v.v., (advocating overthrow of government) mang tính răn đe trừng trị thật nghiêm khắc đối với các hành vi kiểu “kêu gọi” tương tự?

4) “Biểu tình” ở Mỹ chứng minh chỉ có cường quốc tài chính mới đủ sức “đài thọ” cho “biểu tình”

CTVN 6

Câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam đã có sẵn tiềm lực kinh tài để chi cho các hậu quả của “biểu tình”?

5) “Biểu tình” ở Mỹ đã dẫn đến các đối phó nghiêm khắc từ chính quyền: ngoài những trang bị trấn áp đã nêu thật chi tiết trong bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” trên chính trang blog này, Chính phủ Mỹ còn lập kế hoạch tăng cường các chiếc xe chiến thuật Quái Thú Khống Chế Bạo Loạn tức Monster Riot Control Vehicle mua của Slovakia

CTVN 13CTVN 14

với tấm chắn thép nặng 3 tấn, cao 3m6, rộng 7m5, trang bị một đại bác thủy water cannon bắn nước cực mạnh và bốn đại bác khí cay tear gas cannon giữa tấm chắn có thể kích lên cao 4m để dội tỏa xuống chu vi rộng khắp, buồng lái còn được bọc thép chống đạn, kính chống đạn, chống lửa, chạy với tốc độ 40km/giờ, có các lỗ châu mai để cảnh sát núp phía sau sử dụng hỏa lực cá nhân, có khả năng (a) ngăn chặn và đẩy lùi càn quét đám đông không có bạo loạn hay có bạo loạn chính trị hay xã hội tức violent political/social demonstrations hàng trăm người trên đường phố, (b) phong tỏa đường phố bảo vệ hiệu quả các khu vực dinh thự cần phải bảo vệ, (c) che chắn bảo vệ lực lượng chấp pháp tiến đến khu vực bị chiếm đóng bởi bọn khủng bố, và (d) càn quét tống dẹp các chướng ngại vật do phía “biểu tình” bạo loạn bày ra, bất kể đó là khối bê tông hay ô tô xe tải, v.v.

Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là đã có đầy đủ trang bị như đã nêu trong bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” và đã có kế hoạch đặt mua các chiếc Quái Thú của Công ty Bozena ở Slovakia để trang bị cho lực lượng cảnh sát tất cả các tỉnh thành hay chưa?

6) Và “biểu tình” chống Donald Trump ở Mỹ cũng lột tả sự suy đồi cá nhân của giới “tinh hoa trí thức” mà điển hình là vụ Giáo sư Đại Học Drexel Hoa Kỳ George Ciccariello. Khi thấy một hành khách nhường ghế hạng nhất cho một quân nhân Mỹ trên chuyến bay, với tư tưởng chống Donald Trump là người được các cựu chiến binh ủng hộ tối đa và cũng là người vừa tôn vinh một sĩ quan tử trận, “giáo sư tiến sĩ” Ciccariello vội gởi một dòng trên Twitter rằng “Một thằng vừa nhường ghế hạng nhất của nó cho một thằng lính mặc quân phục. Ai cũng cảm ơn nó. Tao thì cố để khỏi ói mửa nôn ọe hoặc khỏi gào lên về vụ Mosul”.

CTVN 16

và tất nhiên “giáo sư” ấy bị giới quân nhân đáp trả mạnh mẽ, chẳng hạn như binh sĩ Kurt Schlichter đốp chát lại rằng: “Mầy đã cố để khỏi ói hoặc gào lên hử? Không đâu, mày chỉ ngồi đó lặng câm như một con chó cái bị bỏ rơi, thừa thải, ước phải chi mày được là con người.

CTVN 17

Vấn đề đặt ra cho giới lãnh đạo chính trị Việt Nam là (a) họ có đã thực sự hiểu Thế Nào Là Nhà Trí Thức không, (b) vì sao “trí thức” do họ bỏ tiền ra đào tạo thì một bộ phận không nhỏ vừa bất tài vô dụng vừa suy đồi tâm thức đến độ phỉ báng anh hùng liệt sĩ Việt Nam, phỉ báng lãnh tụ duy nhất tài ba của Việt Nam, thậm chí tham gia biểu lộ tình cảm tức “biểu tình” hô hào vi phạm pháp luật và Hiến Pháp Việt Nam khi có những hành vi viết lách chống phá và/hoặc hành động đòi lật đổ chính phủ Việt Nam?

Ba gót chân Achilles ấy tuy khác nhau, nhưng gắn kết mật thiết với nhau mà chỉ nhờ có sự xuất hiện chói ngời của Donald Trump mới soi rọi được các gót chân ấy.

Gót chân Achilles nhất thiết phải được bao bọc trong đôi ủng làm bằng thép như của chiếc Dã Thú The Beast, vì rằng nếu đi dép sandal giống như Achilles và các chiến binh La Mã thì chỉ cần một cung thủ thiện xạ cũng đủ hạ knock-out Achilles chứ chưa cần đến hỏa tiển Tomahawk.

Giới lãnh đạo chính trị Việt Nam, do đó, phải trị quốc băng vũ khí bách chiến bách thắng của bạo lực cách mạng, theo đúng bài bản của Khổng Trọng Ni.

Phải xiết chặt truyền thông chính thống vì khi cho phép truyền thông chính thống tự do tập trung bá đạo chống Donald Trump, nhạo báng Donald Trump, đăng tin về các kêu gọi ám sát Donald Trump và lật đổ Donald Trump,  giới lãnh đạo chính trị đã mặc nhiên dung túng truyền thông chính thống dồn dập nhồi nhét vào ý thức của người dân Việt, kích động người dân Việt học tập theo gương những người dân Mỹ chống Donald Trump để manh nha hoạt động chống lại lãnh đạo chính trị của Việt Nam, nhạo báng lãnh đạo chính trị Việt Nam, tiến tới bình thường hóa các hành vi hay hành động chống phá nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

1) Hùng Biện: Thí dụ duy nhất về ứng khẩu hùng biện trong toàn bộ lịch sử Quốc Hội Việt Nam thời hiện đại: xin truy tìm các video clips các phóng viên “báo chí” truyền hình đã thu khi Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước phát biểu tại nghị trường chống lại đề nghị dự thảo cái gọi là “Luật Biểu Tình” năm 2011, được toàn nghị trường vỗ tay tán thưởng trở thành một sự kiện chưa từng có tiền lệ trong toàn bộ sinh hoạt chính trị chính thống kể từ ngày lập quốc Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, nhưng đã chưa bao giờ được phát hình phát sóng và rất có thể vẫn còn lưu trữ tại Đài VTV ở Hà Nội.

2) “Biểu Tình”:

Luật Biểu Tình   26-5-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.   02-4-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.   14-4-2015

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

3) Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam:

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

4) Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump 12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Thế Giới Chính Trị Âu Mỹ Lõa Lồ  26-3-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ  04-4-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Chính Thống Việt Nam Lõa Lồ  10-4-2017

5) “Doanh Nhân” Lãnh Đạo Chính Trị Quốc Gia Thành Công:

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối

Tự Do Ngôn Luận

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-12-2016

tu-do-ngon-luan-2

A) Nhập Đề

1- Định Luật: Có một định luật cho “tự do ngôn luận” và “tự do báo chí”. Vấn nạn là cái sự thật quan trọng bậc nhất như hơi thở của định luật lại luôn bị những người còn thở vô tư không hiểu, cố tình không hiểu, sơ ý lãng quên, hoặc chưa hề bận tâm kiếm tìm chân lý bất kỳ dù chân lý hiển hiện ngay trước mắt với một cái click chuột giản đơn chứ không cần phải vầy đoàn bốn-con-người-một-con-thú qua Tây Trúc.

Định&Luật dùng theo nghĩa từ vựng của tác giả bài này là Quy Định và Pháp Luật của tất cả các siêu cường tư bản văn hóa văn minh đối với báo chí tức truyền thông. Không bất kỳ ai trong nhân loại văn minh tiến bộ lại không được dạy cho hiểu biết  các nội dung mang tính định&luật được nêu trong này viết này.

2- Giáo Khoa và Khoa Giáo: Nhân thấy thiên hạ có dăm ba người tuy hiểu biết khối chuyện kinh thiên động địa kiểu trên tõ thiên văn dưới tường địa lý, biết run sợ trước thế lực chủ soái quyết định của khoa giáo trung ương, nhưng xem thường giáo khoa trung cấp nhất là của các bộ môn chữ nghĩa, mà không biết rằng giáo khoa trung cấp dạy làm bánh để thế gian có các đại đế chế bánh để Việt Nam bỏ tỷ đô ra mua thương quyền về…mở tiệm, dạy làm tình nhằm giúp công dân hưởng lạc thú dục tình …né bịnh nhiễm truyền, dạy làm ăn để Donald Trump có con ruột con dâu con rể đều là đại gia đại trí đại tài phát triển nghiệp cơ, còn dạy làm chính trị để có đội ngũ chuyên nghiệp phò tá Donald Trump lên làm Tổng Thống;

3- Trẻ Trẻ Trẻ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích tầm thường hóa tiếng Việt, cứ nghe Tuổi Trẻ là tự tiện giải thành Trẻ Tuổi, cứ nghe Trẻ Tuổi thì tự nhiên chú thành mười tám đôi mươi, đến độ ngay cả cán bộ cấp cao trong Ban Chỉ Đạo nọ dưới một người trên cả vạn người cũng vì hiểu lầm chủ trương Trẻ Hóa của Đảng nên thay vì chọn người già trẻ trung hoặc người trẻ già dặn – như đã phân tích trong bài Luận Về Định Tính & Định Lượng Tuổi Trẻ – đã chọn một người Trẻ Tuổi Bảy Không tức Thất Vô tức (a) vô bằng cấp “chuyên môn”, (b) vô tuổi nghề nghiệp vụ, (c) vô kinh nghiệm trãi từng, (d) vô thang bậc từng trãi, (e) vô phép tắc trước sau, (f) vô liêm sĩ trước hàng hàng lớp lớp đại anh hùng hào kiệt Lạc Hồng dù già trẻ trung hoặc trẻ già dặn, và (g) vô chính đạo để ào vô luôn làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế;

4- Dân Chủ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích đơn giản hóa tiếng Việt, cứ nghe Dân Chủ là tự tiện nghĩ ngay đến việc ta đây là dân nên là chủ, thậm chí có đấng nghị sĩ luật sư ở đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát huy quyền làm chủ đòi Quốc Hội phải ra Luật Biểu Tình trả nợ cho dân (tức chủ) và đòi Thủ Tướng phải báo cáo đầy đủ với chủ (tức dân) chi tiết kế sách chống Tàu mới đúng là dân chủ;

5- Tự Do: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích trầm trọng hóa tiếng Việt, cứ nghe Tự Do là tự do nghĩ ngay đến chuyện tự do muốn làm gì thì làm, tự do muốn làm bánh hình phân chó sản xuất đại trà xuất khẩu thì cứ làm, tự do muốn làm tình với bất kỳ ai già trẻ lớn bé nam phụ lão ấu bất chấp luật pháp luật đời thì cứ làm, tự do muốn làm ăn buôn lậu buôn gái buôn dâm gì thì cứ làm, và tự do muốn làm chính trị thì cứ làm, thậm chí còn bảo phải có tự do báo chí tuyệt đối, tiến sang tự do tuyệt đối trong làm bánh/làm tình/làm ăn/làm chính trị;

6- Tự Do Ngôn Luận: Lại thấy thiên hạ chưa phận biệt được các thứ (versions) các thứ (subclasses) và các thứ (types) của “tự do ngôn luận”; không biết rằng

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền được theo Luật Lao Động với cơ man nào là lương tiền/bỗng lộc/phúc lợi/chia lời/ngày phép/hộ sản/đình công/team-building workshop/du lịch công đoàn nội địa hay hải ngoại, chứ người chiến sĩ lực lượng  vũ trang không bao giờ được phép có cái quyền đó, vì quân đội luôn là công cụ của chế độ; và

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền tự do ngôn luận, chứ báo chí không bao giờ được phép có cái quyền đó, nhất là báo chí chính thống luôn là công cụ của chế độ;

7- Vô Đề: Tác giả bài viết này là kẻ tiện dân bỉ nhân họ Lăng tên Tần sợ nói tiếng Anh thì không được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho rằng giỏi bằng vị chuẩn tiến sĩ (sắp-có-bằng-tiến-sĩ) Vụ Phó Vụ Kinh Tế, mà sợ nói tiếng Việt cũng không xong do tiếng Việt vẫn còn nhiều điểm chưa rõ bởi đa số, chưa thông bởi số đông, nên khiếp sợ khép nép tấu trình các “kiến thức” sau đây lên không gian mạng như thùng nước trà đá ven đường:

B) Thân Bài

1- Nguyên Tắc Chế Định 1: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều phải tuyệt đối phục vụ duy chỉ chế độ chính trị của nước mình, không bao gờ được phép xúc xiểm Hiến Pháp nước mình, chế độ nước mình, và chính sách nội trị của chính phủ nước mình.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức công kích Hiến Pháp của nước họ, công kích thể chế chính trị của nước họ, công kích chính sách nội trị của chính phủ nước họ.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất quốc gia, quan trọng nhất quốc gia, mà in bất kỳ bài viết nào mỵ dân bằng cách phê bình hay phê phán quyết sách bất kỳ của chính phủ nước mình, đưa ra cái được trang điểm với dòng chữ “góp ý nhằm làm hoàn thiện thể chế nước mình”, thì dứt khoát đó là thứ báo lá cải, bá láp, mạo danh chính thống, là “chính thống nô dịch” chứ không bao giờ thuộc đẳng cấp “chính thống chủ nhân” của các nước Âu Mỹ.

Đơn giản vì: nếu là “đóng góp” thì cái gọi là “báo chí thượng đẳng” phải có lực lượng trí tuệ để hình thành hồ sơ nghiên cứu gởi trực tiếp cho đầu não Trung Ương Đảng, chứ không theo cách của “báo chí hạ đẳng” mè nheo rỉ rên chuyện quốc gia với dòng kết vô duyên hèn hạ của “trách nhiệm này thuộc về ai” chỉ để độc giả đọc để rồi vừa không đi đâu đến đâu vừa gây rối loạn dân tâm vừa tự lột trần báo chí thành thế lực bất tài vô dụng.

2- Nguyên Tắc Chế Định 2: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ chính sách đối ngoại của chính phủ nước họ bằng cách tự do tuyệt đối tấn công Hiến Pháp nước khác, tự do tuyệt đối tấn công thể chế chính trị nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chế độ nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chính sách nội trị của chính phủ nước khác, và tự do tuyệt đối tấn công chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức ngợi ca Hiến Pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình. Mà ngay cả cái nước khác ấy có cùng phe “liên minh” với chính phủ nước mình thì mình cũng phải tấn công để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là quả thật đã có “tự do ngôn luận” tại nước mình mà đối với Âu Mỹ có nghĩa là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất, quan trọng nhất, mà chẳng có bài viết nào tấn công hiến pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình thì dứt khoát đó là báo chí chính thống giả mạo giả danh giả trá. Tấn công cũng phải nhằm luôn vào các nước khác nào cùng phe với chính phủ nước mình để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là đã thực sự có “tự do ngôn luận” tại nước mình, phù hợp tuyệt đối với báo chí chính thống Âu Mỹ vì tự do báo chí chỉ có nghĩa duy nhất là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

3- Nguyên Tắc Chế Định 3: Tất cả các cái gọi là truyền thông tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ khách hàng dâm dật, phục vụ khách hàng ưa ăn lá cải thích ngắm lá đa.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai đưa ra được cái tên của bất kỳ quốc gia nào trong khối “các nền dân chủ tự do” theo khuôn mẫu khuôn đúc khuôn phép Âu Mỹ không có loại “tự do tuyệt đối” này, kể cả mấy nước Á Đông và Đông Á như Nhật, Thái, Hàn, Ấn đều có bày bán công khai dẫy đầy trên các sạp báo vệ đường.

b) Việt Nam: Do Việt Nam chỉ có “truyền thông chính thống” chứ không có “truyền thông” nên trên các sạp báo không có các ấn phẩm sách in chính quy có dán tem bản quyền hay băng dĩa chính thức có dán tem chống giả mà nội dung là tin/ảnh/phim kích dục mà chiêu bài luôn là tôn vinh “cái đẹp” của thân thể con người mà Chúa đã tạo nên phù hợp với rất nhiều người thích lột truồng các tác phẩm của Chúa để cảm thụ “cái đẹp”, giáo dục giới tính, giáo dục hưởng thụ tình dục vì hạnh phúc con người, giải trí dành cho người yêu mỹ thuật nào không dưới 18 tuổi, phát triển văn hóa “hội nhập toàn cầu”, khuyến khích nhân dân xem hàng ở truồng nội địa độc không hề thua hàng ở truồng ngoại để không chảy máu ngoại tệ, và tự do ngôn luận, tự do báo chí.

C) Các Kết Luận:

1- Tự Do Ngôn Luận Đểu:

Như đã được minh chứng từ các nước tư bản Âu Mỹ có nghĩa là mỗi cá nhân công dân một nước được tự do nói/viết/vẽ hý họa:

a) chống bất kỳ ai, bao gồm cá nhân lãnh đạo/cá nhân người nổi tiếng nước mình hay nước người;

b) chống thể chế/chính sách/luật pháp chỉ của nước người;

c) phục vụ chính sách đối ngoại của nước mình đối với nước người không thuộc liên minh với nước mình – bằng mọi giá và mọi cách, kể cả cách ngụy tạo thông tin; và

d) phủ nhận tự do ngôn luận của người khác nếu khác với ý mình.

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà toàn bộ báo chí chính thống Mỹ đồng loạt đưa tin “chính xác” kèm hình ảnh chứng minh “chính xác” Cộng Sản Bắc Việt đã tấn công khu trục hạm USS Maddox ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, ngày 02-8-1964, buộc Mỹ phải vì ấm ức tự vệ mà đưa đại quân ồ ạt đỗ bộ vào Đà Nẳng ngày 08-3-1965.

tu-do-ngon-luan

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà vài tên đại sứ cùng tùy viên đại sứ quán của chúng lớn tiếng đòi Chính phủ Việt Nam phải thả những ai và phải bỏ điều luật 258 của Việt Nam, còn bọn ngố ngồ ngộ ngỗ NGO thì liên tục sủa tru tréo về nhân quyền ở Việt Nam.

Tóm lại, Tự Do Ngôn Luận của Âu Mỹ là Tự Do Ngôn Luận Đểu.

2) Việt Nam Là Nước Nhược Tiểu:

Nước nhược tiểu là quốc gia vừa không hiểu gì về Tự Do Ngôn Luận, vừa nghèo khổ lạc hậu, vừa học đòi dân túy bằng cách dùng những khái niệm không một quốc gia tư bản hùng mạnh nào áp dụng để ve vuốt truyền thông, trao quyền lực mà ngay cả truyền thông Mỹ cũng không bao giờ có: ban đẳng cấp ngang-hàng-công-an cho truyền thông để bắt công an quỳ mọp thờ lạy cung phụng truyền thông, biến truyền thông thành Loạn Kiêu Báo, mở đường cho truyền thông chính thống chõi lại Hiến Pháp Việt Nam, chõi lại luật pháp Việt Nam, chõi lại thể chế chính trị Việt Nam, chõi lại chính sách nội trị của chính phủ Việt Nam, trở thành biểu tượng của cái thứ Tự Do Ngôn Luận hạ đẳng không hề được các cường quốc Âu Mỹ áp dụng, đồng thời ngậm tăm không dám công kích quốc gia nào khác theo phong cách thượng đẳng mà truyền thông Âu Mỹ muôn đời áp dụng.

3) Ham Học Và Hiếu Học:

Việt Nam hay tự khoe về tinh thần ham học và hiếu học của người dân, mà không nhận biết rằng sự ham học của người dân chấm dứt ngay sau khi có được một tấm bằng thạc sĩ/tiến sĩ đủ để kiếm chức kiếm ăn.

Kẻ đi xin việc thì khoe mình có tinh thần ham học hỏi, mà không biết rằng điều đó tương tự như lời thú nhận mình bất tài vô dụng không có gì trỗi vượt để nơi tuyển dụng có thể học hỏi gì từ mình để phát triển.

Người thuộc giới ca nhạc thì nói nhà nước nếu muốn họ có tác phẩm hay thì phải đài thọ cho họ đi học ở các nhạc viện Hoa Kỳ mà không biết mình thuộc giới xướng ca đại loại không bao giờ tối cần thiết. Quân đội tối cần thiết vì không thể có việc quân đội nước khác đến bảo vệ nước mình (như quân đội Mỹ đến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa), nhưng ca sĩ toàn cầu có thể giúp người Việt giải trí chất lượng cao hơn mà không cần sang Việt Nam.

Kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha thì nói sẵn sàng làm cho Vụ Kinh Tế của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Trung Tâm Xúc Tiên Thương Mại Đầu Tư Cần Thơ thất bại để bản thân mình có thể học hỏi từ những thất bại mà hậu quả của nó do nhân dân gánh chịu và ngân sách quốc gia hứng chịu.

Kẻ trẻ tuổi không thuộc giới ô dù con ông cháu cha không thể đi tắt Vụ Kinh Tế thì đi tắt vụ dân chủ nhân quyền lương tâm thay vì cắm đầu học tập cực chăm làm việc chất lượng cực cao trí tuệ cực cao hiệu quả cực cao để đích thân dìm đầu kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha.

Kẻ có quyền thế trong Ban Chỉ Đạo thì chỉ đánh giá cao người ham học và hiếu học chứ không coi trọng người-đã-học-rồi, người-đã-làm-rồi, người-ham-dạy, người hiếu-dạy, và người-dạy-người-hiếu-học, nên mới bổ nhiệm một gã không bằng cấp (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) và không kinh nghiệm (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) chỉ vì y chứng minh hùng hồn rằng y ham học đến độ học một lèo kiểu Việt chứ không học-hành-học thêm-hành thêm-học nửa-hành nửa kiểu Mỹ. Thậm chí đánh giá cao người nào vừa ham học và hiếu học vừa là con cháu của các đại quan, cứ như thể con cháu đại quan thì mặc định là ngu dốt nên phải ưu tiên ưu ái một gương sáng quý hiếm để động viên số đông lúc nhúc con cháu đại quan khác.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong xác định (a) phải bảo đảm tự do ngôn luận của mỗi cá nhân công dân; (b) cấm cá nhân công dân đem tự do ngôn luận cá nhân tác động vào các cá nhân khác để hình thành “ngôn luận tập thể” chống lại xã hội, chống lại chính phủ, chống lại thể chế; và (c) cấm báo chí chính thống tức danh phận tập thể lại dành danh phận cá nhân công dân để có tự do ngôn luận.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong mãi mãi

Tuyệt đối quản trị báo chí chính thống bằng bàn tay sắt bọc thép gai.

The mainstream mass media must be gently handled with an iron fist in a stainless-steel glove of peacefully green bamboo pikes.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông November 16, 2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

How the Due Process of Proud Choice Turns into a Turmoil of Devastating Shame

Vì Sao Một Quy Trình Vinh Diệu Biến Thành Sự Hỗn Loạn Nhục Ô

Hoàng Hữu Phước, MIB

Chính Trị Gia (Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII)

14-12-2016

tay-nam-bo%cc%a3-2

Một hai tuần qua dấy lên sự việc của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ (gọi là “Cần Thơ” do cơ quan Đảng tọa lạc tại Cần Thơ, hoặc đối với dân Nam Bộ rặt thì “Hậu Giang” luôn là “Cần Thơ” vì Cần Thơ đã từng thuộc Hậu Giang, cũng như khi khen người Quảng Nam chân chất cũng có nghĩa gồm luôn người Đà Nẵng vậy) có liên quan đến cái tên Vũ Minh Hoàng.

Phải ghi rõ là “lãnh đạo Đảng” Cần Thơ vì (a) bản thân người dân Cần thơ không có lỗi gi cả; (b) nếu như cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh là quan tâm duy chỉ đến tự chủ đặc thù thì cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ lại là sự quan tâm đến duy chỉ tận dụng quy trình để hủy phá hệ thống; (c) lãnh đạo Đảng ở các tỉnh khác của Miền Tây dưới quyền Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thì không như vậy; và (d) có sự trùng hợp ở mức độ tầy huầy tại Cần Thơ – như vụ Trịnh Xuân Thanh và nay là Vũ Minh Hoàng – nên dù theo công tâm mà nói kỳ này của Vũ Minh Hoàng thì do Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ gây ra nhưng có dính trực tiếp đến địa phương Cần Thơ nên có manh nha cơ sở cho một ngờ vực rằng hoặc đã có sự càn quét bất trị của virus “xin đích danh” của Cần Thơ tác động đến Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoặc do chính Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã “chỉ đạo” Cần Thơ phát huy truyền thống “xin đích danh” để Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tiếp nhận một hậu duệ thế gia vọng tộc của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

Đồng thời, do có vài động thái trong giới báo chí chính thống dường như đang từ bi ra tay “cứu bồ” hoặc “viết theo chỉ đạo” hoặc “viết theo thuê mướn” nên đã có những thủ thuật phỏng vấn bằng cách dâng tặng mớm sẵn “bày cách  trả lời” – một biến cách biến thể biến dạng biến hình của thủ thuật “nét chữ vào mồm” như trường hợp nhét “dân trí thấp” vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến “Luật Biểu Tình” 2011 khiến nghị sĩ ấy đột nhiên thành tên miệt thị nhân dân – nay biến Vũ Minh Hoàng đột nhiên thành đấng thánh nhân tài ba tột đỉnh của dân tộc “biết nhiều thứ tiếng, đẳng cấp tiến sĩ, không chịu làm việc ở nước ngoài”, tác giả bài viết này buộc phải có ý kiến để giúp Đảng, giúp nước, giúp dân, và giúp giữ gìn chân lý trước nguy biến Đảng Loạn đã hiện rõ vì Loạn Đảng đã lộ chân tướng.

Đảng Loạn vì có đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoàn toàn mất kiểm soát, bị lừa bởi đảng viên cấp cao khác cũng của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mạo danh, mạo nhu cầu, mạo quy trình, mạo thủ tục, mạo hồ sơ, mạo hào quang, để đưa người lạ vào tổ chức cao cấp của Đảng, biến Đảng thành một thành trì khổng lồ vững chắc kiên cố hoàn toàn không có hào nước, không có hào chông, không có cổng, không có cửa, không có lỗ châu mai, không có đạn trong súng, và không có cả lính canh.

Loạn Đảng vì đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ chà đạp nguyên tắc tổ chức của Đảng, tự biến thành loạn thần tặc tử, tức thành phần cần và đủ cho một Loạn Đảng để chống lại Đảng. Những ai cho rằng một đảng viên Cộng Sản cấp cao làm Đảng Cộng Sản ô danh do “nôn nóng” không phải là trọng tội nên không nhất thiết phải khai trừ khỏi Đảng thì bảo đảm họ đích thị là những đồng bọn của hoặc đồng tình với Loạn Đảng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Việt Nam.

A- Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ Là Cái Gì?

1- Các Ban Chỉ Đạo: Vai Trò Lịch Sử Hiện Đại

Rất ít người trong xã hội loài người hiện đại chưa từng biết rõ rằng chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế.

Được thúc đẩy bởi sự thành công vượt bậc trong xây dựng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nghiệt ngã của tự lực cánh sinh lọt thỏm trong thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu của các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhà đất, khủng hoảng ngoại hối, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tín dụng v.v. trên toàn thế giới tư bản trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, cùng với sự đón bắt những thời cơ mới của hội nhập và hợp tác quốc tế, hòa chung nhịp phát triển kinh tế tăng cường ổn định chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khoanh ba vùng chiến lược rốn quốc gia, hình thành các Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên (năm 2002), Ban Chỉ Đạo Tây Bắc (2004), và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ (2004), để chỉ đạo, quản lý, giám sát các tỉnh của ba khu vực này, trong tham mưu cho Bộ Chính Trị của Đảng về phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và xây dựng chiến lược quốc phòng của ba vùng.

Những đảng viên cao cấp lãnh đạo quốc gia tuyệt đại đa số nhất thiết phải xuất thân từ chiếc nôi quyền lực lãnh đạo các Ban Chỉ Đạo quan trọng đa năng thuộc Bộ Chính Trị này để từ đó tiến vào Bộ Chính Trị mà những cái tên quen thuộc như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Văn Bình ở Ban Chỉ Đạo Tây Bắc; Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang, Tô Lâm ở Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên; và Nguyễn Sinh Hùng, Vương Đình Huệ ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ. Không có tầm quản lý vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia thì không thể lãnh đạo quốc gia. Đã ở vị trí lãnh đạo thành công vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia tất có tầm vóc quản lý cả quốc gia. Đã có tầm vóc quản lý cả quốc gia tất có một tỷ lệ nhất định cơ hội lãnh đạo cả quốc gia. Đây là sự đơn giản trường kỳ tuần tự tiệm tiến vững chãi của những lãnh đạo là danh nhân nước Việt của thời đại Thế Kỷ XXI như Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, và Nguyễn Xuân Phúc.

Từ đó suy ra bài học dành cho tất cả những kẻ hậu sinh khả ố thời hiện đại là: đại kế để trèo lên cao nhất, nhanh nhất, chắc chắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo quốc gia là phải bằng mọi giá nhảy vọt chen ngang ngay lập tức vào hàng ngũ lãnh đạo tại một cơ quan “dưới một người, trên cả vạn người” như Ban Chỉ Đạo, quyết không để mất ghế làm một lãnh đạo trong một Ban Chỉ Đạo vào tay kẻ khác mà số lượng đang rất đông cũng đang áp dụng chiêu trò ào ạt kiếm bằng cấp nước ngoài và chạy chọt chen ngang như mình. Đơn giản hơn theo hướng phản luận đề của trứng-cho-ra-gà và gà-cho-ra-trứng: chỉ cần ở ghế cao trong một Ban Chỉ Đạo là tự nhiên có tầm vóc quản lý cả quốc gia để quản lý cả quốc gia. Đây là sự đơn giản đi tắt đón đầu của những búp bê nhựa tái chế Vũ Minh Hoàng trong thời đại Thế kỷ XXI.

2- Các Ban Chỉ Đạo: Các Chính Phủ Trong Đảng

Tuy nhiên, mô hình các Ban Chỉ Đạo của Bộ Chính Trị có đầy đủ các ban bệ như Vụ Kinh Tế, Vụ Văn Hoá – Xã Hội, Vụ An Ninh – Quốc Phòng, Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo, và Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị, dưới quyền các Vụ Trưởng và Vụ Phó, lại cho thấy có những vấn đề mang tính vấn nạn hiệu quả của cơ cấu tổ chức của Đảng.

Trong thực tế, tổ chức của Trung Ương Đảng Cộng Sản đã sẵn có riêng các Vụ Kinh Tế Tổng Hợp, Vụ Xã Hội, Vụ Công Nghiệp, Vụ Nông Nghiệp – Nông Thôn, và Vụ Địa Phương. Tất nhiên, các Vụ này cũng phải có sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó.

Như vậy, với việc

(a) Chính Phủ có rất nhiều Bộ, mỗi Bộ có rất nhiều Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa;

(b) Trung Ương Đảng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó cùng một vai cơ quan ngang-Vụ dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; và

(c) Bộ Chính Trị có 3 Ban – mỗi Ban cũng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa tuy không hoàn toàn giống nhau ở 100% lĩnh vực hay tên gọi, cùng một vài cơ quan ngang-Ban cũng dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; thì

hoàn toàn không rõ “vụ trưởng” nào cao hơn “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào chỉ đạo “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào quyết định chiếc ghế “vụ trưởng” tương tự cho “vụ” tương tự ở cơ quan quyền lực khác, và quyền lợi/phúc lợi/chế độ của “vụ trưởng” nào hơn “vụ trưởng” tương tự ở cơ quan quyền lực khác.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Như Nhau thì quả thực cơ chế tổ chức của Đảng đã biến thiên thành Tam Đầu Chế tức cơ quan quyền lực nào cũng có “chính phủ” riêng: Cơ Quan Chính Phủ Trong Trung Ương Đảng, Cơ Quan Chính Phủ Trong Bộ Chính Trị, cùng tồn tại với Cơ Quan Chính Phủ trong Chính Phủ, hình thành môi trường đầy dẫy xung đột quyền năng, đầy tràn xung đột quyền lực, đầy ngập xung đột quyền lợi, đầy đủ xung đột hiệu năng, đầy ắp xung đột cơ chế, và đầy nghẹt xung đột quy trình.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Khác Nhau thì quả thực đã có sự bất lực của tổ chức guồng máy theo kiểu tài tử vô tư vô tâm vô bài bản, hoặc không chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” dậy sóng quan liêu như của Mỹ tương tự như hàng tỷ chi tiết “khác nhau” để vận hành một con tàu vũ trụ trên đường vượt Thái Dương Hệ đến Hỏa Tinh. Còn cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” không chút lăn tăn quan liêu như của Việt Nam hiện nay tương tự như một chiếc xe ô-tô con 3 chỗ dài 3 mét sơn 3 màu mang 3 nhãn hiệu khác nhau có 3 bánh xe kích cỡ khác nhau, 3 bánh lái vô-lăng khác nhau, 3 côn ly-hợp khác nhau, 3 phanh chân khác nhau, 3 phanh tay khác nhau, 3 bàn đạp ga khác nhau, xài 3 thứ nhiên liệu hiện đại khác nhau của pin-mặt-trời/xăng-hóa-thạch/điện-sạc, do 3 chủ nhân điều khiển khác nhau cùng vận hành cổ xe ấy chạy trên đường vượt Đê La Thành đến Hỏa Lò.

Tất cả, dù Như Nhau hay Khác Nhau, đều dẫn đến một cơ may và một thảm họa.

Cơ may là khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, giúp Đảng nhận ra ngay các bất phù hợp để điều chỉnh hợp lý hóa và thải loại các bất khả phù hợp để Đảng hầu hình thành những best practices tức phương cách thực hành tốt nhất của đẳng cấp ưu thế vốn được tôn tạo từ sự thường xuyên hoàn thiện và/hay không ngừng cải thiện.

Thảm họa là ngay cả khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, mà Đảng vẫn thản nhiên duy trì trong hệ thống tổ chức của Đảng những điểm bất phù hợp cùng những điểm bất khả phù hợp khiến liên tục tạo ra những sự việc như Trịnh Xuân Thanh ở Cần Thơ và mới đây nhất là Vũ Minh Hoàng cũng ở Cần Thơ.

B- Tham Gia Chính Trị

1- Các Vấn Đề Chính Trị Cơ Bản

Việt Nam có hai vấn nạn trầm kha về con người đối với (a) giáo dục/đào tạo và (b) chính trị.

Nền giáo dục/đào tạo dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, tức hướng đến (a) non-stop tức không bao giờ có điểm dừng của học hành mở mang trí hóa và truyền thụ tri thức, và (b) thành phẩm “con người” human beings chứ không phải mục đích là tạo ra “người ngợm” ape-like beings.

Một con người được thụ hưởng – và thụ hưởng thành công – một nền giáo dục/đào tạo hiệu quả hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, đặc biệt nếu thực sự đã học hành đàng hoàng và thành công khi đi du học ở một trường đại học thực sự danh tiếng Âu Mỹ sẽ có năng lực đồng bộ đồng nhất về bốn nội dung sau của “chính trị”:

(a) Hiểu Biết Toàn Bộ Ý Nghĩa Của Chính Trị:

i- Chính trị tức politics không chỉ là nắm quyền trị quốc như tuyệt đại đa số người Việt lầm tưởng khiến chỉ nghĩ đến “làm chính trị” như nắm quyền lực quốc gia. Politics hiển hiện mọi lúc mọi nơi mọi lĩnh vực mọi khía cạnh của đời sống kể cả chỉ trong nội bộ một doanh nghiệp bất kể nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Như vậy, chưa hề làm politics tức làm việc thật sự về quản trị chuyên môn thì không thể làm chính trị. Sự đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ của Donald Trump chỉ là một ngạc nhiên đối với những ai tuân theo sự mặc định lệch lạc bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở công ty luật tư nhân rồi tiến vào nghị viện) chứ không là sự ngạc nhiên đối với những bậc đại trí tuân theo quy luật đúng đắn bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở doanh nghiệp tư nhân nói chung). Vũ Minh Hoàng có đã làm politics dài lâu tại những đâu mà lại được đưa vào hệ thống làm chính trị quốc gia?

ii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải trước hết tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp mà Hiến Pháp không bao giờ chấp nhận sự ngự trị của bất tài vô hạnh tham quyền tiêu cực chạy vạy chạy tắt. Vũ Minh Hoàng có đã chạy vạy chạy tắt vi phạm Hiến Pháp hay không?

iii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải biết rằng theo thực hành thường xuyên tốt nhất của các nền dân chủ toàn cầu trong thời điểm hòa bình thì việc “làm chính trị” tất yếu phải qua con đường nghị viện: phải trở thành nghị sĩ – nghĩa là phải có danh tiếng về chuyên môn, có công trình về chuyên môn, có công trạng về chuyên môn, có sự nổi bật chung để được công chúng biết đến rồi từ đó nhận được phiếu bầu của công chúng ấy khi ra ứng cử hoặc được đề cử ứng cử. Vũ Minh Hoàng được bao nhiêu chục người dân biết đến tại Tây Nam Bộ mà được cho chen vào tắt trên bước đường “làm chính trị”?

iv- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải có kiến thức – và thể hiện được bằng hùng biện và thắng tranh biện – về những đề tài “chính trị”, chẳng hạn về từng trong số gần 20 hệ thống chính trị, về việc trong gần 50 loại hình dân chủ thì Việt Nam loại dân chủ nào và vì sao trong các cuộc chiến tranh khủng khiếp giữa các nền dân chủ thì người ta không liệt kê Việt Nam vào danh mục các cuộc chiến tranh giữa Mỹ với các nước khác suốt chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ, và về khả năng hùng biện tất cả các nội dung của Hiến Pháp Việt Nam trong đó có vị trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đường hướng chính trị của đất nước mà người “làm chính trị” bắt buộc không những phải có mà phải ở đẳng cấp cao nhất trong tranh biện ý thức hệ và luật pháp trực tiếp với nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài. Vũ Minh Hoàng có dám tranh biện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt với tác giả bài viết này về tất cả các vấn đề chính trị để khẳng định năng lực và năng lượng “làm chính trị”?

Như vậy, các lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có đã hiểu hết ý nghĩa của politics, có biết người “làm chính trị” phải nắm hết các nội dung trên, và có biết nhân vật Vũ Minh Hoàng “muốn làm chính trị từ nhỏ” ấy đã hiểu biết ra sao về “làm chính trị” hay chưa mà lại khinh miệt dân tộc bằng cách giao “chính trị” cho đứa hài nhi ấy “làm”?

(b) Có Thái Độ 1 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong thực sự hiểu rõ nhân vật hay các nhân vật mình sẽ chọn bỏ phiếu bầu cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương, thực sự có hiểu biết trách nhiệm bản thân trong việc bỏ phiếu bầu cử, thực sự có hiểu biết rằng nhân vật hay những nhân vật mình đã bỏ phiếu bầu cử sẽ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với mình, với “nhóm” mình, với địa phương mình.

(c) Có Thái Độ 2 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong tự ứng cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương với sự hiểu biết thực sự về trách nhiệm bản thân trong tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và nếu là nghị sĩ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với “nhóm” mình và với địa phương mình.

(d) Có Thái Độ 3 Đối Với Chính Trị: hiểu biết rằng mỗi khi có ai phát ngôn “không quan tâm đến chính trị” thì đó dứt khoát là người hoặc chống Cộng, hoặc không còn năng lực tâm thần, hoặc trọn đời sống bám, hoặc chưa từng được giáo hóa về ba điểm a và b và c nêu trên – vì rằng ngay cả người làm việc cơ mật như tình báo hay gián điệp cũng không bao giờ ngu dại tuyên bố kiểu tạo vỏ bọc đầy lộ liễu trước các tình báo viên lão luyện rằng “tôi không quan tâm đến chính trị”.

Hãy lấy công tâm mà nhận định cũng như hãy lấy thực tế từ bản thân đảng viên cốt cán, từ lực lượng hậu bị của Đảng, từ giới trí thức do Đảng “bảo bọc”, từ giới trí thức “tự túc”, từ giới tinh hoa bậc nhất của khoa giáo và truyền thông chính thống để chứng minh và khẳng định đã có hay chưa ai hay những ai trong tất cả các lực lượng này đã từng biết đến bốn điều a và b và c và d về chính trị kể trên. Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ sau khi nhuần nhuyễn về Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lenin, và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, nắm vận mệnh quốc gia dân tộc, leo lên đỉnh cao quyền lực trong  Trung Ương Đảng và vào Ban Chỉ Đạo, lại tự tung tự tác tự ý sản sinh ra những hài nhi chính trị như Vũ Minh Hoàng, tự tung tự tác tự ý đặt những hài nhi ấy vào ngôi cao lãnh đạo để tái tạo các phiên bản tép riu nội địa Trịnh Xuân Thanh phá hoại thanh danh Đảng Cộng Sản Việt Nam hoặc cho ra phiên bản loại tôm càng nhập khẩu Mikhail Gorbachev đặt dấu chấm hết cho quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Sẽ không ngoa nếu có kẻ chống Việt muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản lập luận rằng – mà không bất kỳ ai trong toàn Đảng kể cả tác giả bài viết này luôn ra sức bảo vệ Đảng có thể hùng biện chống lại – Trung Ương Đảng đang phó mặc buông xuôi cho các Ban Chỉ Đạo sử dụng quyền lực tối cao để tự quyết đội ngũ vây cánh, tự chủ tài chính, và tự lập lãnh địa hùng cứ một phương chờ ngày ly khai tam tứ ngũ lục phân thiên hạ.

2- Cải Cách Giáo Dục: Học Là Cái Gì? Du Học Là Cái gì? Bằng Cấp Là Cái Gì?

Không những lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mà cả Vũ Minh Hoàng đều không hiểu biết về giáo dục & đào tạo, về ý nghĩa của việc học, về lý do của du học, và về giá trị của các đẳng cấp của bằng cấp.

Do nội dung này đã được viết về rất đầy đủ như trong đường link được cung cấp ở phần tham khảo bên dưới, các điểm chính ngắn gọn sau được nêu lên để báo nguy về sự sụp đổ của tư duy giáo dục & đào tạo của Đảng:

a) Con người nhất thiết phải có lòng tự trọng

b) Vì lòng tự trọng, người ta học chữ hoặc học nghề để có thể tạo lập cuộc mưu sinh

c) Khi điều kiện tự túc có thể đáp ứng được, người tự trọng đi du học vì muốn tiếp cận ngành học không sẵn có ở Việt Nam, tiếp cận cách học hiệu quả để tự phát triển và nhằm áp dụng phương pháp mới lạ ấy vào sự đầu tư cho sự nghiệp chuyên môn của mình, tiếp cận nguồn tài liệu và nguồn giảng viên cao cấp hơn ở Việt Nam, và tiếp cận các cơ hội khác dù là tạo cơ sở tiếp cận các học bổng khác hay đơn giản chỉ để tiếp cận cơ hội việc làm cho một kế sinh nhai. Không ai có trí tuệ mà lại cho rằng đi du học là để có bằng cấp có giá trị hơn bằng cấp của Việt Nam vì đó là lập luận của kẻ bất tài vô hạnh chỉ có thể đi tìm việc tại Việt Nam ở các doanh nghiệp không quan trọng hoặc ở các cơ quan quyền lực mà điển hình là Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

d) Vì mục đích mở mang kiến thức giúp cho cuộc mưu sinh ít đi những khó khăn, người ta học nhiều hơn, chăm chỉ hơn, tập trung đúng năng lực trí tuệ và tài chính hơn, và theo đúng sở thích hơn cũng trên cơ sở năng lực trí tuệ và tài chính

e) Vì phục vụ sự học cao hơn đáp ứng một nhu cầu cụ thể và yêu cầu cụ thể của công việc chuyên môn, người tự trọng sẽ tự lo liệu thu xếp để đạt được đẳng cấp “thạc sĩ” để làm quen với việc nghiên cứu rộng hơn, làm quen với việc hợp tác nhóm qua đó lãnh đạo dự án nhỏ của nhóm và lãnh đạo nhóm, làm quen với việc đưa những kinh nghiệm thực tế làm politics ra trao đổi với các bạn trong nhóm, mà tất cả những động tác nghiên cứu, làm việc nhóm, làm dự án, quản lý công việc từ chương trình thạc sĩ sẽ giúp người đạt đẳng cấp ấy sẽ làm politics tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cao hơn của nơi thuộc kế sinh nhai ấy.

f) Chỉ với năng lực vượt trội về chuyên môn, thói quen nghiên cứu hàn lâm, kèm với khát khao theo con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học, người ta sẽ cố đạt trình độ một tiến sĩ.

Vũ Minh Hoàng học lung tung, học không cần hành (học một lèo không cần thời gian tối thiểu bao nhiêu năm làm việc sau tốt nghiệp đại học để đủ tiêu chuẩn học thạc sĩ, vốn là kiểu học truyền nhiễm từ Đông Nam Á hủy phá chất lượng đào tạo toàn bộ các đại học lừng danh Âu Mỹ) và học tiến sĩ vì “làm chính trị” có bằng tiến sĩ sẽ được coi trọng hơn.

Giáo dục, do đó, phải cải cách. Điều quái gở là đã có những đại cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam nhưng tất cả đều chưa bao giờ là cải cách, khiến “con người mới xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa hề được sinh ra kể từ 30-4-1975, khiến lạm phát số lượng “trí thức trẻ”, gia tăng số lượng thạc sĩ/tiến sĩ trên báo cáo số liệu của Việt Nam chứ không trên bản đồ tri thức của thế giới, khiến Vũ Minh Hoàng cắm đầu đi học một lèo lấy tiến sĩ chỉ vì thích làm chính trị từ nhỏ, và khiến lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nghĩ rằng:

– Đầu tư có nghĩa là chỉ cần đưa mấy anh Nhật đem tiền về Cần Thơ, bất kể sự thật là nhà đầu tư Nhật phải sinh lời trên điều kiện tiên quyết Cần Thơ phải hy sinh môi trường Cần Thơ, “đất vàng” Cần Thơ, phúc lợi Cần Thơ và cuộc sống Cần Thơ, bất kể sự thật là Cần Thơ chẳng còn gì về “nông nghiệp” để Vũ Minh Hoàng đưa luận án tiến sĩ phát triển nông nghiệp vào cuộc sống Cần Thơ, đưa mấy công ty nông nghiệp Nhật rót tiền vào Cần Thơ không biết để làm gì, bất kể sự thật là những nhà đầu tư nước khác nếu quan tâm đến Cần Thơ buộc phải tránh Cần Thơ do biết Vũ Minh Hoàng được ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho cắm dùi ở Nhật sẽ thiên vị Nhật Bản, bất kể sự thật là Vũ Minh Hoàng theo con đường “làm chính trị” đúng quy trình nên sẽ sớm chia tay Cần Thơ để  trấn nhậm làm lãnh đạo Tỉnh Ủy ở tỉnh khác rồi từ đó tiến vào Chính Phủ kể cả Bộ Chính Trị, khiến hậu duệ của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại sẽ phải noi gương tiền bối tiếp tục “nôn nóng” chèn ngang đứa hài nhi biết tiếng nước ngoài sắp có bằng cấp tiến sĩ vào làm Vụ Trưởng.

– Vũ Minh Hoàng nhất thiết phải có danh phận để trấn nhậm ở Nhật cuốn hút đầu tư Nhật; song, trước thực tế là luôn luôn có các “bằng cấp hữu nghị” tức không dựa trên thực tài thực lực học hành mà chỉ để tạo điều kiện hình thành tầng lớp lãnh đạo thân mình như Liên Xô cấp cho giới tinh hoa Miền Bắc (nên không có công trình nghiên cứu khoa học nào hữu dụng), Mỹ cấp cho giới tinh hoa Miền Nam (nên tất cả các lãnh đạo giáo dục Sài Gòn đều kém tiếng Anh so với tác giả bài viết này), và Fulbright cấp cho giới tinh hoa dự kiến của Việt Nam (nên đa số phơi bày chống Cộng chứ không trình bày trí tuệ chuyên môn), nên việc phong hàm vụ trưởng/vụ phó cho Vũ Minh Hoàng sẽ đồng nghĩa với việc Nhật sẽ cấp bằng cấp hữu nghị cho Vũ Minh Hoàng, biến Vũ Minh Hoàng thành chức sắc Việt Nam đem lại lợi nhuận và quyền lợi cho Nhật Bản.

3- Cải Cách Tiêu Chuẩn: Tiêu Chuẩn Là Cái Gì?

Vũ Minh Hoàng tuyên bố trình độ văn bằng của y là đáp ứng tiêu chuẩn.

Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải trả lời bằng văn bản cho Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước câu hỏi: quy định nào của Đảng ghi rằng Học không cần Hành, rằng bằng tiến sĩ không để nghiên cứu chuyên môn phục vụ phát triển kinh tế quốc dân mà để làm chính trị như cách để buộc các chính khách chính đảng nước ngoài phải cung kính “Thưa Tiến Sĩ” khi nói chuyện với đảng viên cao cấp Việt Nam?

4- Cải Cách Tham Gia Chính Trị: Tham Gia Chính Trị Là Cái Gì?

Thời đại mới của Việt Nam đòi hỏi những tư duy mới.

Tư duy mới không phải là về thể chế chính trị vì trên toàn thế giới bất kỳ sự đi ngược lại Hiến Pháp quốc gia đều là trọng tội, phản động, và phản quốc.

Tư duy mới phải theo thông lệ áp dụng toàn cầu: làm chính trị bắt đầu từ vai trò nghị sĩ Quốc Hội, vì rằng để trở thành nghị sĩ thì bản thân một người phải có trình độ học vấn, quá trình công tác chuyên môn, danh tiếng và uy tín với cộng đồng, và đặc biệt là được cử tri đặt vào tay người ấy trọng trách “làm chính trị”.

Theo tư duy mới ấy, sự tích cực sẽ được nâng cao tột đỉnh vì người dân có tài sẽ không phải chịu khuất thân dưới quyền quản lý của người khác chỉ vì người khác ấy có khả năng “học một lèo không cần làm lụng kiếm tiền lương nuôi thân với tư cách người tự trọng, có ô dù chở che tạo điều kiện chen ngang của thế gia vọng tộc tinh hoa của Đảng.

Từ tư duy mới nói trên, tầm vóc uy tín tuyệt đối của Đảng sẽ được nâng cao tột đỉnh vì

– Người công dân là chủ thể đích thực của nền dân chủ Việt Nam nên dù ngoài Đảng cũng không thể bị tập thể khác trong Đảng độc quyền làm lãnh đạo đại cuộc phát triển quốc gia;

– Người công dân là đối tượng đích thực của sự phục vụ của Đảng nên dù ngoài Đảng cũng không thể chỉ ở vị trí phục vụ những đảng viên được ưu ái chọn sẵn;

– Người công dân là đối trọng đích thực với Đảng tức trên cở sở và nền tảng của sự ngang hàng về vị thế, ngang bằng về sự kính trọng, và công bằng về quyền lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng việc chiến đấu hy sinh trên chiến trường khi nổ ra chiến tranh là của người công dân được tổng động viên chứ không phải của Đảng viên trong quân đội hay con em của các Đảng viên, vì rằng việc lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân là của người công dân yêu nước có năng lực cao chứ không phải họ tiếp tục luôn lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân để những đảng viên được ưu ái chọn sẵn làm lãnh đạo họ để hưởng thụ ngôi cao quyền trọng từ thành quả lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân của người dân ngoài Đảng; và

– Từ những lý do trên, việc “làm chính trị” là quyền của các công dân gương mẫu, nhiều thành tích, tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp, bảo vệ thể chế chính trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và được đắc cử minh bạch danh chính ngôn thuận vào Quốc Hội, từ đó tham chính, nghĩa là theo quy trinh tuyệt đối đúng của thời bình theo đó “Nghị sĩ (làm chính trị) ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức Chính Phủ (tham chính)“, chứ không phải theo quy trình thời loạn bấy lâu nay của “Đảng viên ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức trung ương (tham chính) ==> Quan chức Chính phủ (làm chính trị) ==> Nghị Sĩ“.

C- Vũ Minh Hoàng Muốn Là Được

Vũ Minh Hoàng tuyên bố từ nhỏ đã muốn tham gia chính trị.

Bất kỳ đứa bé thần kinh khỏe mạnh nào cũng nghĩ đến việc mình sẽ làm tổng thống.

Cái ý nghĩ ấy bắt đầu biến mất ở đa số đứa bé nào phát triển khỏe mạnh lên “tuổi teen”.

Phát triển khỏe mạnh ở “tuổi teen” nghĩa là hoặc bận rộn với tình cảm yêu đương, hoặc ý thức về những khó khăn trong cuộc sống gia đình với cha mẹ cùng các em mà mình là một thành viên nhỏ bé có ý thức trách nhiệm.

Tình cảm yêu đương khiến đứa bé không còn bé ấy miệt mài lặn ngụp với mộng mơ, xóa sạch cái việc “làm tổng thống” đã không còn là quan trọng cho cuộc đời.

Ý thức về trách nhiệm trước cuộc sống khó khăn của gia đình khiến người tuổi teen trưởng thành trước tuổi, nhận ra cuộc đời rất khó để có màu hống, và cái chính trong đời sống trở thành sự dằn vặt giữa sự tiếp tục lao vào miệt mài học tập để có được một kế sinh nhai có lý hơn và sự quyết định phải hy sinh việc học tìm một kế sinh nhai cụ thể hơn.

Những quá trình mang tính hành trạng tư duy ấy khiến người trẻ tuổi nhận ra giá trị của thực tế, và cái ước mơ “làm tổng thống” (tức “làm chính trị”) trở nên không bao giờ còn tồn tại hay được xem có giá trị theo đuổi hơn thu nhập cao và cao hơn. Chưa kể, trẻ em Mỹ dần nhận ra rằng không trở thành nghị sĩ giàu có và nổi bật nhất của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ; còn trẻ em Việt Nam dần nhận ra rằng không là đoàn viên cao cấp sẽ không thành đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà không là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành lãnh đạo Việt Nam.

Từ đó suy ra, việc Vũ Minh Hoàng vẫn còn duy trì ước mong từ nhỏ “tham gia chính trị” sẽ đồng nghĩa với việc:

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nâng niu ưu ái vẫn còn là đứa bé

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trao cho trọng trách chiến lược phát triển đầu tư kinh tế khu vực vẫn là unfinished person tức (a) người chưa trưởng thành do chưa từng yêu đương ai mơ mộng đến ai; (b) người không hấp dẫn về tính cách hào hiệp bản lĩnh do chưa từng được ai yêu đương; (c) người vô trách nhiệm do chưa từng bận tâm cho một công việc có thu nhập để phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhu cầu sống của gia đình, hay nhu cầu làm việc thiện của bản thân và gia đình; và (d) không có định hướng trí tuệ mà chỉ có mưu đồ “tham gia chính trị tắt” tức kiểu bị khinh miệt của political shortcutism như minh chứng của nỗ lực lấy Cử Nhân Chính Trị Quan Hệ Quốc Tế không để xin làm nhân viên Bộ Ngoại Giao, lấy Thạc Sĩ  Phát Triển Quốc Tế không để xin làm nhân viên phục vụ cơ quan Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, lấy Thạc Sĩ Hành Chính Công không để làm giảng viên đại học bộ môn này hay để xin làm công chức phục vụ cho Đảng trong đại cuộc cải cách hành chính quốc gia vốn đang dẫm chân tại chỗ, và đang chờ lấy Tiến Sĩ Kinh Tế không vì theo sự nghiệp nhà nghiên cứu hàn lâm mà muốn dựa hơi Khoa chủ quản của ngành kinh tế ấy là Khoa Nông Nghiệp để phù hợp với chiếc ghế sẵn có (lãnh đạo một Vụ) ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trên đó có chiêu bài “phát triển Miền Tây Nông Nghiệp” tức có cùng chữ “nông nghiệp” vậy.

Tuổi tác luôn có giá trị của nó:

– Lãnh đạo trẻ tuổi hay chuyên gia trẻ tuổi hoàn toàn thích hợp cho các công việc sáng tạo thích táy máy tay chân như trong ngành liên quan đến công nghệ thông tin hay cơ khí dân dụng;

– Lãnh đạo trẻ tuổi dù quy mô cá thể hay tập đoàn khổng lồ hoàn toàn thích hợp cho các đầu tư kinh doanh tự thân tự túc tự vay tự chịu trách nhiệm của bản thân và/hay gia đình ;

– Lãnh đạo trẻ tuổi không bao giờ thích hợp cho các cơ quan nhà nước mà hoạt động của chúng không liên quan đến kinh doanh/sáng tạo/chế tạo công nghệ thông tin hay cơ khí kỹ thuật dân dụng;

– Một giáo sư toán, một nhà đoạt giải toán quốc tế, một nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình, một chuyên gia trưởng phòng NASA xuất sắc có thể trẻ tuổi;

– Một giáo sư giải phẫu, một bác sĩ ghép tạng lừng danh, một nhà đoạt giải Nobel khoa học tự nhiên như Vật Lý/Hóa Học/Y Sinh, một nhà đoạt giải Nobel Văn Học hay Nobel Kinh Tế không bao giờ trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một cuộc cách mạng ở một nước nhược tiểu có thể trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một nền chính trị đã vững mạnh không thể trẻ tuổi;

– Các nhà tư vấn chính sách và tư vấn phát triển không bao giờ trẻ tuổi,

– Các nhà quản lý các đế chế kinh tài tư bản thế giới không bao giờ trẻ tuổi.

Lãnh đạo một hoạt động có mang tính chiến lược như “phát triển nông nghiệp Tây Nam Bộ” không thể trẻ tuổi.

Quản lý đại cuộc “kêu gọi đầu tư” không thể giao cho một người trẻ tuổi chưa hề thực sự quản lý công việc, chưa hề thực sự quản lý nhân sự, chưa hề thực sự quản lý phát triển thành quả học tập chuyên môn, chưa hề nhận được sự đánh giá khen-chê của bất kỳ “đồng nghiệp” cùng ngành đào tạo nào, cũng như chưa hề được những cư dân địa phương phó thác vận mệnh biết đến và/hay thán phục.

Vũ Minh Hoàng muốn là được, vì Đảng đã có những thành phần Loạn Đảng muốn làm Đảng Loạn nên sẵn sàng triệt hạ tất cả các nhân-tài-dân-dã để đóng sẵn ghế lãnh đạo cho các tinh-hoa-Đảng ngay cả khi nhân vật “Đảng” ấy chưa – và sẽ mãi mãi không – bao giờ là “tinh hoa”.

Tiếc cho người dân Việt Nam vì con em của họ cũng có những ước mơ –thậm chí ước mơ “tham gia chính trị” như Vũ Minh Hoàng – và cũng có những năng lực – thậm chí còn hơn Vũ Minh Hoàng cả vạn bậc ở chỗ có kinh nghiệm làm việc dồi dào và có nhận thức đúng đắn của cống hiến vì Đảng vì Nước vì Dân chứ không vì Ghế như Vũ Minh Hoàng – lại sẽ mãi ở kiếp nhân viên phục vụ nếu không thuộc gia đình Đảng viên cao cấp.

D- Chính Quyền Cần Thơ Muốn Là Được

1) Cần Thơ Tạo Nên Lịch Sử

Trịnh Xuân Thanh là dấu ấn thành công của Cần Thơ: Cần Thơ mà “xin đích danh ai” là sẽ được. Đây là ưu điểm mà tất cả các tỉnh không thuộc Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thèm muốn mà không được.

2) Cần Thơ Lập Lại Lịch Sử

Vũ Minh Hoàng lại nổi lên như một nhân vật vì Cần Thơ, chứng tỏ Đảng ưu tiên cho Cần Thơ bằng cách lôi từ trong bóng tối ra giao cho Cần Thơ một nhân tài không-cần-làm-cũng-có-sẵn-kinh nghiệm để “đem đầu tư Nhật về Cần Thơ”. Và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Tây Đô vì đã bỏ mặc tất cả các tỉnh còn lại của Tây Nam Bộ do không có tỉnh nào có tên mang chữ Tây (du học Tây) và Đô (USD tiền đầu tư) như Cần Thơ.

3) Cần Thơ Rút Kinh Nghiệm Lịch Sử

Rất có thể vì sự thất bại ê chề đầy tai tiếng của việc trực tiếp xin Trịnh Xuân Thanh, phải chăng Cần Thơ đã nhờ Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ xin giúp? Tất cả sẽ tồn tại như một thuyết âm mưu vậy.

E- Phải Hủy Bỏ Triệt Để Và Toàn Diện

Việc dựng xây luôn được tiến hành với nhiều hơn một yếu cầu như (a) xây mới từ nơi lựa chọn mới, (b) đào đắp gia cố lại nền móng, (c) khơi thêm tầng, (d) tháo dỡ bớt tầng, (e) mở rộng diện tích mặt bằng, (f) thu hẹp diện tích mặt bằng, (g) tạo khoảng sân vườn và/hoặc sân trời hay giếng trời, (h) lắp thêm mái hiên, (i) dựng cổng dựng rào, và (j) thay màu ngói hay tường.

Chỉ có kẻ dốt nát tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có người thành công vượt bậc mới đủ sức hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng mới mà dù theo cách nào bản thân vẫn là chủ nhân ông quyền lực duy nhất của gia tài.

Chỉ có bọn thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có một Đảng chính trị thành công vượt bậc mới đủ sức người sức của sức quản trị để hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng thêm kiến trúc mới mà dù theo cách nào bản thân Đảng vẫn là lãnh đạo duy nhất của quốc gia.

Chỉ có bọn truyền thông ngu đần thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình kiếm tìm chiếc mũ “phản động” để chụp lên đầu tác giả bài viết này, người đã như một tiền lệ kiểu Donald Trump đạp đầu dìm cổ truyền thông chính-thống-bất-chính-đạo xuống bùn nhơ.

Vì vậy, nội dung loại bỏ toàn diện sau đối với các Ban Chỉ Đạo là để sử dụng quyền lực ưu việt có thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam biến tổ chức Đảng thành siêu việt.

1) Loại Bỏ Tất Cả Các Ban Chỉ Đạo

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm các lĩnh vực xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và tất cả các Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc Mặt Trận Tổ Quốc hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm luôn cả lĩnh vực bảo đảm an ninh/quốc phòng, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của các Bộ đặc thù, và do đó không bao giờ nên – hoặc không bao giờ có thể – đặt ngoài sự giám quản của Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng,  Bộ Công An, và tất cả các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu. An ninh/Quốc phòng phải không được – và không bao giờ được phép – xem như thứ mà quá nhiều cơ quan được nhúng tay vào chỉ vì lý do duy nhất của “cùng là cấp cao ngang hàng của Đảng” nên không chịu mất phần quản lý lực lượng vũ trang để tạo vây cánh riêng.

Từ các phân tích xuyên suốt nêu trên,

trước thực tế

(a) Đảng có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(b) Chính Phủ có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(c) Mặt Trận Tổ Quốc có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(d) Các Ban Chỉ Đạo không có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(e) Tổ chức Đảng được minh định trong Điều Lệ Đảng

có thể khẳng định Chính Phủ trực tiếp điều hành đất nước và tổ chức Đảng không hề được hiến định là một Chính Phủ Cấp Trên của Chính Phủ.

Sự cải tổ cơ cấu tổ chức của Đảng do đó cần hợp lý hóa theo sát trào lưu hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm, đồng bộ, nghiêm ngặt, khoa học, nhất thiết nên xét đến hướng sau:

a- Trung Ương Đảng sẵn có bộ máy phục vụ Bộ Chính Trị đối với những nội dung như phân định cho các Ban Chỉ Đạo chứ không phải để Bộ Chính Trị thành lập riêng các Ban Chỉ Đạo ấy; do đó, giải thể các Ban Chỉ Đạo Tây Bắc, Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ;

b- Trung Ương Đảng có cơ quan quyền lực mang tên Ban Kinh Tế Trung Ương, và cơ quan này, nếu muốn, có thể thành lập các tiểu ban dưới quyền bao gồm các Ban Tây Bắc, Ban Tây Nguyên, Ban Tây Nam Bộ, Ban Đông Nam Bộ, hay Ban Bắc Trung Bộ, v.v., tùy hoạch định chính sách khi thực sự tối cần thiết;

c- Ban Kinh Tế Trung Ương, do đó, là cơ quan trí tuệ của Trung Ương Đảng và của Bộ Chính Trị mà không phải có sự phân chia ban bệ hình thành những “triều đình” tức những “chính phủ” khác nhau cho những cơ chế dường như chỉ cho cảm nhận tất cả không chịu tự đặt dưới quyền nhau; và như vậy

d- 3 Ban Chỉ Đạo bị loại bỏ do không còn bất cứ lý do chức năng tưởng tượng hay thực tế nào tồn tại vì

– Chuyền chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của 3 Vụ Kinh Tế của 3 Ban Chỉ Đạo về Ban Kinh Tế Trung Ương (trọn gói hoặc phân nhánh thành các tiểu ban hoặc tiểu phòng về Vụ Kinh Tế Tổng Hợp hay Vụ Công Nghiệp và Vụ Nông Nghiệp-Nông Thôn), hoặc giải thể hẳn nếu các nơi này không cho rằng việc thành lập các “tiểu ban chỉ đạo vùng” là cần thiết.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Văn Hoá – Xã Hội của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Xã Hội.

– Giải thể hẳn 3 Vụ An Ninh – Quốc Phòng của 3 Ban Chỉ Đạo vì lý do tối quan trọng của an ninh-quốc phòng do các cơ quan tối quan trọng đặc thù an ninh-quốc phòng đảm trách như Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, và các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Địa Phương, chưa kể Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam đang thất bại thảm hại từ việc xao nhãng công tác “dân tộc – tôn giáo” của họ, mà các vụ việc giáo dân “biểu tình” làm loạn không rõ thuộc trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc, của Trung Ương Đảng, hay của các Ban Chỉ Đạo.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị của 3 Ban Chỉ Đạo vì toàn quốc đã có hệ thống dày đặc các Đảng Ủy, Tỉnh Ủy, Thành Ủy vốn mặc định phải chịu luôn trách nhiệm xây dựng hệ thống chính trị của Đảng.

2) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Dụng Nhân Thất Học Kiểu Cần Thơ

Cần Thơ – gộp chung Lãnh Đạo Cần Thơ và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đóng ở Cần Thơ có những động thái nhét người vào Cần Thơ – đang chứng tỏ đã có sự dụng nhân thất học mang signature thương hiệu đặc thù của Cần Thơ. Các phân tích sau, do đó, cũng để gián tiếp khẳng định Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã chưa hề nhận ra và có bất kỳ động thái nào để tận dụng thời cơ cho Cần Thơ ngoại trừ phí bỏ thời cơ phát triển kinh tế mà chỉ lạm dụng thời cơ phát triển nhân sự kiểu nhét người mà lý do là “nôn nóng” chứ hoàn toàn bất tài vô dụng trong phát triển chiến lược toàn vùng Tây Nam Bộ.

a- Thực Lực Sức Mạnh Kinh Tế Quá Khứ Của Cần Thơ

Vào thời điểm cách nay 28 năm lúc tác giả bài viết này trở thành người “có công” giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam – do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Báo Tuổi Trẻ tôn vinh – thì những chuyến đi như con thoi đến các vựa gạo ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, và Hậu Giang, trong đó có Cần Thơ đã được ông ta thực hiện. Sau khi lựa chọn kỹ các công ty cung cấp gạo để ký kết các hợp đồng kinh tế bằng USD đầu tiên của Việt Nam về gạo như Imex Đồng Tháp của Tỉnh Đồng Tháp, Generalimex của Bộ Ngoại Thương, và Imexco của Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm điều tàu vào Cảng Khánh Hội để nhận gạo trở thành thời điểm ông theo sát các đoàn xe tải và các đoàn xà lan chở gạo từ Tây Nam Bộ, cho đến khi ba bộ chứng từ giao hàng Bill of Lading được ký xuất, mà hiệu quả của việc thanh toán cả 3 Letter of Credit cùng sự thành công về chất lượng hàng giao đến Ấn Độ đã làm ông được liên tục tiếp cận bởi các nhà nhập khẩu gạo ở nước ngoài – thậm chí từ Mỹ – ngay cả khi ông quản lý văn phòng đại diện CIMMCO International nên không  có quyền tự do tư vấn hay thực hiện môi giới kinh doanh gạo với bất kỳ ai khác ở hải ngoại.

Thế nhưng, sự tích cực tham dự các Hội Nghị Quốc Tế về gạo sau đó dù ở Cần Thơ hay ở Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự chủ trì cũng của Cần Thơ) chỉ khiến tác giả bài viết này nhận ra một điều: các Đảng Ủy chỉ tập trung hình thành đế chế quyền lực của cái gọi là Hiệp Hội Xuất Nhập Khẩu Lương Thực toàn là những vị (a) chưa hề trực tiếp làm việc với nước ngoài về xuất khẩu gạo, (b) chưa hề có uy tín đối thoại đàm phán đối với các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài, (c) chưa hề có các nghiên cứu nào có liên quan và có giá trị hữu dụng đến chiến lược nông nghiệp, cũng như (d) chưa hề nắm bắt gì về thị trường lúa gạo thế giới, dẫn đến hai thập kỷ liên tiếp sau đó trở thành đầu têu cho báo chí khi có những quyết định –  vô tình do dốt nát hay cố ý tạo lợi thế cho bàn tay vô hình của tư  bản nước ngoài – khiến Việt Nam mất nhiều cơ hội xuất gạo với giá cao hơn, mất một thị trường nhập khẩu đặc thù nào đó, mất sạch các cơ may để nông nghiệp Tây Nam Bộ trong đó có Cần Thơ cất cánh, và mất sạch các sự bảo đảm cho bất kỳ sự thành công nào của đại cuộc Phát Triển Tam Nông.

b- Sức Mạnh Quá Khứ Kinh Tế Chủ Soái Khu Vực Tây Nam Bộ Của Cần Thơ

Với thực lực trên, cùng với ưu thế của một địa phương được mặc định phát triển sớm nhất cả vùng về cơ sở hạ tầng đô thị hóa, cơ sở thủy lộ truyền thống, cơ sở sản xuất kinh tế nông-công-thương, cơ sở dịch vụ đô thị, và cơ sở sức mạnh tài chính, Cần Thơ lẽ ra đã giữ vị thế chủ soái của Tây Nam Bộ nếu như cơ sở Đảng của Cần Thơ chủ động tích cực tư duy ngoài-chiếc-hộp out-of-the-box đối với phát triển của địa phương trong tương quan vùng miền vì Trung Ương đặt để các vị vào vi trí nào là để các vị cung cấp cho Trung Ương các phân tích mang tính kế sách chứ không phải ngự trị chờ rót ngân sách, chở Trung Ương chỉ dạy phải làm gì, chờ Trung Ương ban cho kế sách gì, và chờ quỳ xin hay vận động Trung Ương rót thêm kinh phí, đưa dự án trọng điểm về địa phương, hoặc phân bổ phần bánh lớn hơn từ nguồn vốn ODA mà cả dân tộc Việt Nam phải cùng chung gánh nợ từ nay đến đầu Thế kỷ XXII.

c- Vấn Đề Ngày Nay Của Cần Thơ Về Kinh Tế Và Nhân Lực

Do nội dung kinh tế nông nghiệp chưa hề được phát triển phát huy;

Do những công ước quốc tế dường như chỉ được xem như mang thuộc tính vĩ mô hoàn toàn không là trách nhiệm nghiên cứu nhằm đưa vào kế sách cụ thể của các lãnh đạo Đảng ở địa phương nên các chi tiết của Công Ước Vienna 1985, Nghị Định Thư Montreal 1990, Công Ước Khung Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu 1992 đã chưa hề được tính đến, mà tình hình tự nhiên tác động hủy phá sự phát triển bền vững nông nghiệp vùng Châu Thổ Sông Cửu Long dù mang tính cảnh báo hiển nhiên từ lâu;

Sự sử dụng nhân sự và đầu tư cho nguồn nhân lực của Cần Thơ đã phát ra những tín hiệu khẩn báo cho sự sụp đổ ngay từ đầu của Cần Thơ.

Miền Tây Nam Bộ đã hài lòng với nhân vật kiệt xuất Giáo sư Tiến Sĩ Võ Tòng Xuân trong tạo ra các giống lúa, dù tác giả bài viết này hai chục năm trước đã viết rằng vị giáo sư ấy rồi sẽ chẳng giúp gì cho nông nghiệp Việt Nam do (a) các vấn nạn có thể hé lộ từ các vấn đề nêu lên trong các Công Ước và Nghị Định Thư nói trên chưa hề mang tính chiến lược rõ nét trong các hoạt động chuyên môn của giáo sư; (b) nông nghiệp không chỉ là cây lúa mà còn là cây ăn trái, thảm thực vật, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, (c) do đó giáo sư đã không ở vị trí tầm cỡ để có bất kỳ đóng góp hiệu quả nào trước thực tế thoái hóa giống tất cả các loại cây trái Tây Nam Bộ cũng như suy thoái môi trường từ hoạt động sản xuất công-nông và biến đổi khí hậu. Do vậy, miền Tây Nam Bộ ngoài có thêm vài giống lúa đã không thể làm nông nghiệp phát triển xanh và phát triển bền vững.

Trong khi một nữ nghị sĩ doanh nhân lớn ở Bình Phước (Quốc Hội Khóa XIII) đã nhận ra tác giả bài viết này tại Nghị trường, nhắc lại kỹ niệm về ông 25 năm trước, lúc ông lăn xả đàm phán và cung cấp tài liệu mật để giải quyết sự cố xuất khẩu hạt điều giữa Việt Nam và Ấn Độ tại 3 cuộc họp căng thẳng giữa đại diện Chính Phủ Việt Nam – cán bộ cao cấp Xích Hồng – và Đại Sứ Ấn Độ, mà kết quả là (a) tác giả đã đấu khẩu hùng biện buộc được tất cả 3 công ty Ấn Độ trong đó có CIMMCO International và Mount-a-Mount phải nhận toàn bộ lượng hạt điều đã ký mua của Việt Nam, (b) nông dân và các doanh nghiệp Sông Bé – nay là Bình Phước – thoát nạn trong đó có công ty của vị nữ chủ nhân sau này là nghị sĩ nói trên, còn hậu quả là (c) tác giả bài viết này mất ghế lãnh đạo văn phòng đại diện CIMMCO International do bảo vệ quyền lợi nông dân Việt Nam chống lại quyền lợi của các nhà nhập khẩu nông sản Ấn Độ; thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ như gà mắc tóc trong công tác nhân sự, không biết ai là ai và ai mới thực là người làm nên đại sự cho đại cuộc phát triển Tây Nam Bộ.

Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã hoàn toàn không ai có tầm cỡ chiến lược phát triển khu vực. Chính vì sự không biết, không hiểu, không học, không nhận ra các đòi hỏi cao cấp, nghiêm khắc, nguy nàn của thời gian, thời thế, thời cuộc, mà lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã hấp tấp phong vương cho Vũ Minh Hoàng bất kể

i- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự cần gì để phát triển;

ii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để phát triển;

iii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự có thể tạo mới cái gì để phát triển;

iv- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng nào để phát triển;

v- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;

vi- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để đầu tư ngoài nước;

vii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – vì điểm iv và v  ở trên mà đòi hỏi nhân sự được phong vương phải là tay kiệt xuất, dồi dào kinh nghiệm, đầy ắp công trạng, và phong phú tri thức cùng uy tín cực cao mới đối phó được chu toàn, mà tất cả những yêu cầu phải có này thì vĩnh viễn không bao giờ có nơi đứa trẻ chưa hề làm việc chưa hề được toàn Đảng biết đến, chưa hề thi thố tức đem ra hành hiệu quả cái đã học quả hiệu, và chưa hề được cả giới hàn lâm và bình dân nghe tên.

3) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Đào Tạo Ngợm Lực

a- Nhân Lực Resources & Nhân Lực Capital:

Từ ngàn xưa tất cả các triều đại – dù chính danh hay ngụy danh – đều dựa vào nguồn nhân lực để hình thành, tồn tại, và phát triển.

Nguồn nhân lực ấy luôn phải đặt trên sự nổ lực tự học, chăm hành, trau giồi đức dục của bản thân (tu thân); trong tạo nên và/hay bổ sung nội lực gia đình (tề gia); trong thể hiện cụ thể lòng hy sinh quyền lợi bản thân cùng hạnh phúc cá nhân để ra tham chính giúp vua với lòng trung quân ái quốc (trị quốc), và trong trở thành phân tử gắn kết đầy hữu ích cho xã hội (bình thiên hạ).

Nguồn nhân lực ấy phải lớn mạnh từ trên nền tảng của luật lệ hà khắc để uốn nắn đúng, giám chế đúng (giám sát và chế ngự), phát triển đúng, tưởng thưởng đúng, và trừng trị đúng. Rèn thép và tôi thép hay luyện cán thép không thể bằng phong thái tay trần nhào bột. Và rường cột chống đỡ cho mái nhà quốc gia không thể nào là cây bột hay thanh bánh bột rán.

Một người xuất thân từ human resources là người bình thường, vì bất kỳ ai cũng có thể là human resources đáp ứng cho một yêu cầu công việc nào đó. Và đó là lý do Phòng Nhân Sự HR tuyển dụng từ giám đốc cho đến tạp vụ.

Một người xuất thân từ human capital tức là viên ngọc quý hội đủ các bảo bối mang tên kiến thức, tài năng, kỹ năng, khả năng, sự thông minh nhạy bén, tài truyền thụ, tài đánh giá, và trí tuệ uyên bác, tất cả biến người đó thành một thứ tài sản quý báu của bất kỳ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, quốc gia nào.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những đảng viên nguồn nhân lực human capital nên đã chiến thắng.

b- Ngợm Lực:

Tuy nhên, những sự việc diễn ra ngày càng nhiều hơn, thường xuyên hơn về con người của Đảng đã cho thấy nguồn nhân lực của Đảng đã không còn trên cơ sở human capital mà chỉ là human resources tức không thể cao ngang bằng ngay cả với một doanh nghiệp sở hữu human capital.

Đặc biệt khi nguồn lực đã không trên cơ sở tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ mà lại còn trên bãi ươm mầm mang tên nhân đạo và giáo dục làm sinh sôi nẩy nở sự trây lờn tiến đến hòa trộn vào tội ác, thì chỉ có thể là nguồn ngợm lực (sources of ape-like beings) chứ không bao giờ là nguồn nhân lực (resources of human capital).

Khi sự việc Vũ Minh Hoàng bị công khai, các lãnh đạo của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã chống chế bằng 4 luận điểm ngu xuẩn đần độn sau:

(i) “Việc bổ nhiệm ấy không có hại gì cho Đảng, địa phương và nhân dân, mà chỉ vì sự phát triển chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Điều duy nhất đúng phải luôn là: Cái Gì Có Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Hãy Làm!

Nghĩa là: Cái Gì Có Bất Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Cấm Làm!

Cũng có nghĩa là: Cái Gì Không Có Hại Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân, Nghĩa Là Cũng Không Có Lợi Thì Làm Để Làm Cái Quái Gì?

Điều duy nhất chính xác luôn là: lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ không có gì chứng minh bản thân có tài chiến lược phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì đã “sốt ruột nóng lòng” vốn không bao giờ được phép có nơi người giữ vị trí chiến lược của Đảng, của quốc gia.

(ii) “Cơ quan phát hiện Vũ Minh Hoàng giỏi ngoại ngữ, khi sang Nhật có thể kêu gọi đầu tư được, có thể làm tốt vấn đề kinh tế đối ngoại”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cần phiên dịch nên ban cho phiên dịch viên chiếc ghế lãnh đạo ư?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tài cán đến đâu về ngoại ngữ mà khẳng định Vũ Minh Hoàng “giỏi” ngoại ngữ?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ phải chăng sẽ bổ nhiệm thêm 50 Phó Vụ Trưởng để cử đến 50 quốc gia khác để kêu gọi đầu tư? Vậy đó không phải là việc của các Tham Tán Thương Mại các Đại Sứ Quán Việt Nam? Hay các Tham Tán ấy chỉ giỏi tham làm tán gia bại sản quốc gia? Hay quả thực đã có Chính Phủ trong Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ?

– Nếu tác giả bài viết này xung phong không nhận bất kỳ “hàm” nào của Đảng hay Nhà Nước, làm xuất sắc công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại đầu tư phát triển Tây Nam Bộ, thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có vì Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân mà sử dụng nguồn human capital này không? Hay chỉ công nhận hậu duệ của các đảng viên cao cấp mới có cái thứ human capital mà thế giới tư bản siêu cường có đày ắp còn ở Việt Nam chỉ có Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mới có “nguồn” ấy?

(iii) Quy định bổ nhiệm cán bộ cấp vụ có nêu tiêu chuẩn thế này thế kia, nhưng sau văn bản đó cũng nêu “tùy do lãnh đạo ban quyết định và chịu trách nhiệm”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Đã làm sai còn vận dụng văn bản quy định mà không biết rằng

– Đó là hành động phơi bày điểm yếu chết người của cái gọi là “Quy Định Bổ Nhiệm” của Đảng

– Chỉ có kẻ thất học mới không hiểu rằng nội dung đó chỉ có nghĩa: ngay cả khi các tiêu chuẩn được đáp ứng đủ đầy thì lãnh đạo ban vẫn phải chịu trách nhiệm khi ký quyết định bổ nhiệm. Làm gì có chuyện trí tuệ của Đảng sau khi đề ra bao thành quách lũy hào lại kết rằng: dù vậy vẫn có thể bất kể các thành quách lũy hào trên và muốn chọn ai thì chọn miễn chịu trách nhiệm cho sự chọn ấy!

(iv) Tiêu chuẩn về chính trị có bằng cao cấp, nhưng còn tùy do lãnh đạo ban xem xét và chịu trách nhiệm chứ không phải cứng nhắc hoàn toàn.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại có kẻ đề ra rồi bắt toàn Ban chịu trách nhiệm ư?

– Tổ chức của Đảng mà xem nhẹ tiêu chuẩn chính trị ư?

– Tiêu chuẩn chính trị mà còn dám xem nhẹ thì ai bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của người được bổ nhiệm?

– Sự linh động luôn cần thiết cho một thực thể sống. Tuy nhiên, trong một cơ thể sống vẫn có những bất di bất dịch mà sự di hay dịch nếu xảy ra sẽ biến thành ung thư. Trong bài viết về Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình, tôi đã có tiến cử hiền tài cho Đảng và Nhà Nước, và Bộ Trưởng đã trả lời rất đúng nguyên tắc công bằng chuyên nghiệp. Nguyên tắc, sự công bằng, và tính chuyên nghiệp là những thứ xa xỉ hoàn toàn không bao giờ có tại Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

F- Kết Luận

Vũ Minh Hoàng không chỉ là một cái tên.

Vũ Minh Hoàng là thí dụ điển hình của sự thất bại của cả hệ thống về giáo dục, đào tạo, tư tưởng, trí hóa, nguồn nhân lực, quy trình dụng nhân, và lạm quyền.

Vũ Minh Hoàng mang tính khái niệm về Đảng Loạn.

Đảng Loạn vì Loạn Đảng.

Loạn Đảng là mầm mống khởi đầu của Diệt Đảng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Chủ Đề Quy Trình Dụng Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

14-9-2016 Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Chủ Đề Chính Trị Việt Nam:

18-5-2013 Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

02-7-2013 Tuyệt Thực

26-11-2013  Về thực quyền, thực uy

24-3-2014 Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

01-9-2014 Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

06-4-2015 Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

11-4-2015 Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

11-9-2015 Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

10-10-2015 Diệt Tham Nhũng

02-12-2015 Bôi Nhọ

16-12-2015 Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

25-12-2015 Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

14-01-2016 Chính Trị

02-02-2016 Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

27-4-2016 Bầu Cử

29-4-2016 Ngày 30 Tháng 4

19-7-2016 Tứ Trụ Bắc Việt

08-08-2016 Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

11-9-2016 Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Chủ Đề Chính Trị Hoa Kỳ:

15-02-2014 Nước Mỹ Bất Hạnh

29-3-2014 Nước Mỹ Vỡ Vụn

01-01-2016 Tôi Ủng Hộ Donald Trump

15-4-2016 Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam

17-5-2016 Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

19-6-2016 Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

27-9-2016 Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

25-10-2016 Hillary Clinton

14-11-2016 Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Chủ Đề Chính Trị Thế Giới:

11-3-2016 Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền

12-7-2016 Tôi và Saddam Hussein

25-7-2016 Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

23-7-2016 Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

29-10-2016 Rodrigo Duterte Dạy Cả Thế Giới Âu Mỹ

05-11-2016 Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Chặn Ngăn Thảm Họa

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-12-2016

James Borton là một nhà báo Mỹ. Ông cùng vài nhà báo nước ngoài khác thường liên lạc với tôi để nêu lên những vấn-nạn-cần-các-giải-thích-ngược-chiều mà tôi có thể giải đáp – chưa bao giờ tôi không viết phúc đáp các câu hỏi ấy – theo cung cách nghiêm-túc-không-đụng-hàng mang dấu ấn của thương hiệu Hoàng Hữu Phước như đã từng được minh chứng qua buổi trả lời ứng khẩu dài 4 giờ đồng hồ cuộc phỏng vấn của PhốBolsaTV Hoa Kỳ.

Gọi là “ngược chiều” vì các ý kiến của tôi luôn

(a) vừa chống lại các nội dung mang tính vấn nạn do phe chống Việt nêu lên hoặc bày ra,

(b) vừa khác với nội dung các vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống thường nhận thức đồng bộ về các vấn đề liên quan đến Việt Nam,

(c) vừa chống lại các với nội dung mang tính vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống chống Việt thường nêu về Việt Nam, và

(d) vừa bảo vệ Việt Nam theo cách rất riêng hoàn toàn không giống các trả lời bài bản, đồng bộ và “đồng phục” của tất cả các đảng viên Cộng Sản của truyền thông, chính quyền, ban ngành, đoàn thể ở Việt Nam, đối với công việc nội trị của Việt Nam, đối ngoại của Việt Nam, và tầm nhìn về Việt Nam trong thế giới.

Gọi là “ngược chiều” chứ không phải “đa chiều” vì bốn đặc điểm của báo chí truyền thông chính thống tư bản đại gia Âu Mỹ là

(a) luôn thù ghét sự “đa chiều” trên các phương tiện truyền thông chính thống của đế chế của riêng mình;

(b) luôn khinh bỉ sự “đa chiều” vì đó là dấu hiệu rõ nét nhất của sự tạp nham, yếu đuối, hèn kém do không thể tạo nên sự khác biệt differentiation cũng như dấu ấn đặc thù signature vốn luôn là sự thể hiện quyền lực quyền uy quyền thế không bao giờ vắng bóng trên một phương tiện truyền thông thực sự chính thống;

(c) chỉ dùng sự “đa chiều” để mê hoặc, dẫn dụ lũ nhà báo ngu đần trong giới truyền thông chính thống của các quốc gia nhược tiểu; và

(d) dúi vũ khí “đa chiều” vào tay lũ ngu đần trong các “Kiều” như Cu Kiều, Tàu Kiều, Nga Kiều tại Mỹ để góp sức viết lách bôi nhọ Fidel Castro, Xì Dính Bùn và Vladimir Putin;

nghĩa là cái mà các nhà báo tầm cỡ của giới truyền thông chính thống Âu Mỹ cần luôn là ý kiến “ngược chiều” để có cái “tái thẩm” hầu nhanh chóng hoặc tung ngay bài viết của mình để hốt bạc do đã yên tâm về “phản biện nghiêm túc”, hoặc dấu diếm ngay bài báo đó để khỏi bị ô danh nếu như bị đấng chuyên gia “ngược chiều” viết phản bác lật đỗ.

Trong lần cùng bao nhà báo đổ bộ vào Việt Nam nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam vừa qua của Tổng thống Barack Obama, James Borton có nêu trước với tôi vài câu hỏi, sau đó gởi tặng tôi những bài đã đăng báo có dựa theo ý kiến của tôi và có bài ghi cả tên tôi mà tôi đã xin ông cho phép tôi dịch ra tiếng Việt để đăng trên blog này. Ông cũng yêu cầu được gặp tôi tại Thành phố Hồ Chí Minh khi ông lên đường chu du từ Hà Nội vào các tỉnh phía Nam. Và mới đây ông gởi tặng tôi bài viết sau nhân chuyến trở lại Việt Nam tháng 11 này.

Với bài viết Chặn Ngăn Thảm Họa, nhà báo James Borton một lần nữa xoáy sâu vào hành động hủy phá tài nguyên hải dương của Trung Quốc ở Biển Đông, gióng lên hồi chuông khẩn báo về hậu quả kinh tế nhãn tiền toàn khu vực, đồng thời đề xuất những phương cách phi chính trị, thuần thực tế sinh tồn của thiên nhiên trong xử lý tình trạng sống khẩn cấp của Biển Đông. Các đề xuất ấy hoàn toàn không đáp ứng sự quan tâm của Việt Nam, nhưng mang tính cụ thể do tình hình sinh thái ở Biển Đông đã trở thành thảm họa mà thời gian giải quyết các tranh chấp chủ quyền có khi vẫn tiếp diễn nhiều thập kỷ ngay cả sau khi Biển Đông đã trở thành Biển Chết.

Kính trình các bạn đọc tham khảo.

Chặn Ngăn Thảm Họa

Tác giả: James Borton

Bài Đăng Trên Tạp Chí Strategic Vision (Tầm Nhìn Chiến Lược), Số 29 (xuất bản tháng 10 năm 2016)

Bản dịch tiếng Việt: Hoàng Hữu Phước

Hợp tác khoa học là cần thiết để ngăn chặn thảm họa sinh thái ở Biển Đông

James Borton

James Borton là thành viên Viện Mỹ-Á ở Washington DC,  giảng sư Viện Walker tại Đại học South Carolina.

james-borton-1

Một con rùa biển bơi lướt qua một rạn san hô. Những sinh vật như chú rùa này đang phải đối mặt với một tương lai bất ổn ở Biển Đông do môi trường sống bị hủy hoại và nạn săn bắt. Ảnh: Brocken Inaglory

Biển Đông hiện là nơi ngụ cư của một số của những chủng loài rạn san hô đa dạng sinh học ngoạn mục nhất thế giới. Tuy nhiên, thế giới tiếp tục qua những hình ảnh chụp qua vệ tinh các vấn nạn của vùng biển biến loạn này nhìn thấy sự hủy hoại nhanh chóng của những rạn san hô kỳ vĩ ấy. Nguyên nhân của sự hủy diệt đang diễn ra này vượt quá một cảnh tượng tội ác môi trường rộng khắp là những hành động liều lĩnh chiếm đất được tiến hành bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc) khi nó cố gắng biến đá thành đảo và củng cố tuyên bố mở rộng lãnh thổ của nó.

Trong vùng biển đầy dẫy cơ hội, bất định, và đe dọa, sự xuống cấp của môi trường là trung tâm điểm của các đối thoại khoa học khi mà có sự gia tăng về số lượng các nhà hải dương học gióng lên hồi chuông báo  động tìm cách giải quyết các vấn đề của sự axit hóa, sự biến mất các đa dạng sinh học, sự biến đổi khí hậu, việc phá hủy các rạn san hô, và sự suy tàn của ngành thủy sản.

Với việc vấn đề an ninh môi trường hình thành nên một tranh luận về các thách thức sinh thái ở Biển Đông, quan điểm này thể hiện một nỗ lực quan trọng sống còn để liên kết các tác động của sự thay đổi môi trường đối với cả an ninh quốc gia và quốc tế.

Paul Berkman, nhà hải dương học và cựu giám đốc Chương Trình Địa Chính Trị Bắc Băng Dương ở Viện Nghiên Cứu Địa Cực Scott, đã cho ra cách diễn giải riêng về an ninh môi trường. Ông nói: “Đó là cách tiếp cận mang tính tích hợp nhằm đánh giá và ứng phó với những rủi ro cũng như các cơ hội được tạo ra bởi một môi trường thay đổi về trạng thái.”

Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông là tâm điểm của tranh chấp lãnh thổ cho thấy mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh khu vực ở Đông Nam Á. Sáu chính phủ – gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Đài Loan – tất cả đều tuyên bố chủ quyền toàn phần hoặc một phần trong số hơn 230 hòn đảo nhỏ, đá ngầm, rạn san hô, và bãi cát ngầm và trong khu vực quần đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, phán quyết mùa hè vừa qua của tòa án gồm năm vị thẩm phán của Tòa Án The Hague cho thấy việc cải tạo trên quy mô lớn và việc xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến san hô và vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc đối với bảo tồn môi trường biển cả mong manh. Hơn thế nữa, phán quyết ấy phủ nhận bất cứ cơ sở pháp lý nào của Trung Quốc trong đòi chủ quyền lịch sử đối với phần lớn Biển Đông. Đó là một chiến thắng ấn tượng của Philippines là phía tiến hành thưa kiện. Trong số rất nhiều những phát hiện kịch tính, tòa án còn tuyên bố phủ nhận giá trị cái gọi là đường chín đoạn của Trung Quốc.

Phán quyết tuyên rằng: “Tòa khẳng định rằng các hành động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc tại bảy rạn san hô ở Quần đảo Trường Sa đã gây ra tổn hại tàn phá lâu dài đối với môi trường biển.”

Ngoài ra, Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) có quy định tại hai trong số 17 Phần của UNCLOS một áp  dụng trực tiếp đối với công trạng nghiên cứu khoa học biển qua sự nhấn mạnh vào việc khuyến khích các thỏa thuận song phương và đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu khoa học biển.

Các Thực Hành Hủy Hoại

Giáo sư John McManus, một nhà sinh học biển tại Đại học Miami và là một chuyên gia nổi tiếng về rạn san hô, người đã thường xuyên đến thăm khu vực và cung cấp các phân tích cho tòa án, đã tuyên bố rằng dựa trên hình ảnh vệ tinh thì những thiệt hại về môi trường được thực hiện bởi tàu hút bùn Trung Quốc và việc lùng bắt ngao là cực kỳ nghiêm trọng.

McManus đã nghiên cứu khu vực này trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Ông  biết rằng nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong vùng biển được đánh bắt lớn về hải sản là ấu trùng của cá và động vật không xương; dẫn đến việc ông đã luôn lên tiếng đòi phát triển một công viên biển hòa bình quốc tế trong khu vực tranh chấp này.

“Tranh chấp lãnh thổ đã dẫn đến việc hình thành sự hủy phá về môi trường, và sự hình thành các tiền đồn quân sự đầy tốn kém về kinh tế trên nhiều hòn đảo. Với sự gia tăng nhanh chóng của các công viên hòa bình quốc tế trên toàn thế giới, đã đến lúc phải có các bước tích cực hình thành một Công Viên Biển Hòa Bình tại Quần Đảo Trường Sa,” McManus tuyên bố.

Các nhà hoạch định chính sách có thể làm tốt việc đúc rút một hai bài học từ thiên nhiên khi xem xét cách giải quyết tốt nhất trước vô số các đòi hỏi chủ quyền phức tạp. Sự kết nối của chính sách và khoa học là điều cần thiết để điều hướng đúng cho những vùng biển địa chính trị nguy hiểm. Khái niệm của khoa học ngoại giao không phải là một mô hình mới, nhưng nó bao trùm sự hợp tác và khéo léo giải quyết vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nơi chúng phát sinh.

Ngay cả Nhóm Công Tác Về Môi Trường Biển Và Duyên Hải của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng thừa nhận rằng khu vực này phải đối mặt với những thách thức khổng lồ đối với sự  phát triển bền vững ở vùng duyên hải và vùng biển chồng lấn. Nếu không có sự thông qua một cách tiếp cận khoa học đối với hệ sinh thái thì các cuộc xung đột xuyên biên giới ở các khu vực biển có thể và sẽ trở nên tồi tệ hơn.

Kể từ khi ASEAN được thành lập, tổ chức này đã phải nhức đầu với nhiệm vụ xác định các giải pháp chung cho các vấn đề an ninh chung. Ở một mức độ lớn hơn, ta có thể nói rằng các vấn đề an ninh đã là  động lực chính cho sự hội nhập khu vực của Đông Nam Á được tiếp diễn.

Trong tương lai, những vấn đề về an ninh môi trường có thể sẽ giữ cùng vai trò như thế.

james-borton-2

Hiện diện khắp vùng Biển Đông, san hô mềm trắng ngà tạo nên sự phô diễn vẽ đẹp sống động của thiên nhiên cùng sự  phong phú của hệ sinh thái trong khu vực. Ảnh: Dwayne Meadows

Theo Karin Dokken, nhà khoa học chính trị tại Đại Học Oslo, các quốc gia xung quanh Biển Đông phụ thuộc lẫn nhau trên mức độ rộng lớn khi có vấn đề về môi trường của con người. Theo Dokken: “Họ phụ thuộc lẫn nhau đến mức nếu thất bại tìm ra giải pháp chung cho vấn đề môi trường họ có thể đi đến chống nhau bằng xung đột bạo lực.” Ông còn nói thêm rằng “Nhìn chung, việc phụ thuộc nhau về môi trường vừa là nguồn gốc của xung đột vừa là tiềm tàng cho cuộc hội nhập quốc tế”.

Không có thỏa thuận cho những vấn đề môi trường, tương lai của biển sẽ ảm đạm. Gần 80% các rạn san hô Biển Đông đã bị thoái hóa và đang bị đe dọa nghiêm trọng từ trầm tích, đánh bắt quá mức, hoạt động đánh bắt hủy diệt, ô nhiễm, và thay đổi khí hậu.

Những thách thức xung quanh an ninh lương thực và nguồn cá tái tạo đang nhanh chóng trở thành một hiện thực đầy lúng túng khó khăn không chỉ cho ngư dân. Với đà suy giảm thủy sản trong khu vực ven biển trong vùng, trợ cấp nhà nước đối với đánh bắt, sự chồng lấn các Vùng Đặc Quyền Kinh Tế, và các tàu cá siêu trọng  cạnh tranh nhau trong một ngành công nghiệp trị giá nhiều tỷ đô la, cá hiện nay là lý do chủ lực ở vùng biển đầy biến động này.

Một thảm họa sinh thái đang diễn ra tại vùng có thời là nơi đánh cá phong phú của Biển Đông khi các cải tạo hủy phá các rạn san hô, chất thải nông nghiệp và công nghiệp làm nhiễm độc vùng nước ven biển, và việc đánh bắt quá mức làm cạn kiệt trữ lượng cá.

Trong năm 2014, Trung Tâm Đa Dạng Sinh Học đã cảnh báo rằng rất có thể sẽ có một tương lai thực sự đáng sợ với mức từ 30 đến 50% tất cả các chủng loài có thể tiến đến họa diệt chủng vào giữa thế kỷ này. Sản lượng đánh bắt cá vẫn ở mức không bền vững từ 10 đến 12 triệu tấn mỗi năm trong nhiều thập kỷ qua, một số lượng có thể tăng gấp đôi khi kể cả các hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

Rốt cuộc, Chương Trình Môi Trường Của Liên Hợp Quốc (UNEP) khẳng định rằng Biển Đông chiếm 1/10 lượng cá đánh bắt toàn cầu và rằng vào khoảng năm 2030 Trung Quốc sẽ chiếm 38% lượng tiêu thụ cá toàn cầu. Việc đánh bắt cá quá mức và tàn phá trên diện rộng các rạn san hô giờ đây tạo nên sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính sách khoa học nhằm bảo vệ sự quản lý khu vực quan trọng này.

Trung Quốc đã đi đầu trong việc khai thác khổng lồ ngành cá. Với hơn 2.000 tàu lưới cá viễn dương và hơn 100.000 tàu cá, bao gồm cả một tàu chế biến công suất 3.000 tấn cá, bằng chứng này đủ thuyết phục rằng Bắc Kinh không chỉ chịu trách nhiệm cho việc tàn phá các rạn san hô mà còn góp phần vào sự sụp đổ của ngành thủy sản.

Tạp chí Chính Sách Hải Ngoại khẳng định rằng những sự việc đánh bắt cá và các hành vi bạo lực trực tiếp rất có ý nghĩa “bởi vì nó nêu bật sự đánh bắt tập trung đã tác động ra sao đối với sự bùng phát những tranh chấp lãnh thổ vốn đang biến Biển Đông đến đỉnh điểm nổ bùng của toàn cầu – cũng như các quốc gia sẵn sàng tiến xa tới đâu để bảo vệ phần đất của họ, hoặc chí ít là những gì họ cho là của họ.”

Hậu quả là việc đánh bắt cá vẫn là một vấn nạn an ninh quốc gia nhạy cảm về chính trị và căng thẳng về cảm xúc đối với tất cả các nước có yêu sách chủ quyền. Việc chiếm đoạt đại dương này đem đến cho khu vực một cuộc khủng hoảng lương thực tiềm tàng. Bất kỳ nỗ lực nào để cân bằng các lợi ích kinh tế với nội hàm an ninh trong vùng Biển Đông đều sẽ đòi hỏi có sự đáp ứng mang tính phối hợp nhiều cấp độ từ các nhà khoa học có quá trình tham gia dài lâu trong hợp tác nghiên cứu và đã đề ra được cách giải quyết vấn đề năng suất bền vững và an ninh môi trường trong khu vực.

Nâng Cao Nhận Thức

Sự đa dạng sinh học rộng khắp đã tồn tại ở Biển Đông không thể bị bỏ qua. Các tác động từ sự phát triển liên tục miền duyên hải, vấn đề khai hoang gia tăng và hoạt động hàng hải lớn mạnh giờ đây thường xuyên được đặt ra trước một số lượng ngày càng tăng của các nhà khoa học hàng hải và các chiến lược gia về chính sách.

Các nhà sinh học biển, những người có chung một ngôn ngữ vượt qua các dị biệt về chính trị, kinh tế và xã hội, đã nhận ra rằng cấu trúc của một rạn san hô bị vỡ vụn từ những vụn vỡ của xung đột triền miên và tiêu biểu cho một trong những chiến địa tàn nhẫn nhất của thiên nhiên.

Trong khi các chiến thuật ngoại giao và quân sự truyền thống không hoàn toàn cạn kiệt trong đợt khai pháo ngoại giao mới nhất giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì có lẽ đó là thời khắc tuyệt vời cho sự xuất hiện của khoa học như một công cụ tối ưu gom tụ lại nhau các bên đòi hỏi chủ quyền bao gồm Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Việt Nam, và Đài Loan trong khu vực tranh chấp biển đảo mang tính dân tộc cao độ này.

Thời gian cho một tuyên bố khoa học chung đối với hành động cấp bách cho một lịnh cấm về môi trường đối với việc nạo vét là điều rất cần thiết. Khảo sát sinh học gần đây trong khu vực và thậm chí tại ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc đã tiết lộ rằng sự mất đi của các rạn san hô sống bộc lộ một bức tranh ảm đạm của suy tàn, suy thoái, và hủy phá.

Cụ thể hơn, các loài cá sống trong rạn san hô trong khu vực tranh chấp đã giảm đi với mức độ chóng mặt, từ 460 loài xuống còn  khoảng 261.

Rốt cuộc thì sự thay đổi môi trường này là một vấn nạn toàn cầu không liên quan gì đến chủ quyền. Sự hủy diệt và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển ở Quần Đảo Trường Sa làm hại tất cả các nước có yêu sách. Có lẽ người dân từ các khu vực đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những tấn công vào môi trường trên biển của họ và tại các rạn san hô mong manh của họ có thể tạo ra một cái gì đó giống như Mạng Hành Động Vì Rạn San Hô, tương tự như các Mạng Hành Động Vì Rừng Mưa Nhiệt Đới vậy.

Những khu bảo tồn biển được bảo vệ là một công cụ mới được đề ra cho việc bảo tồn và quản lý biển. Đôi khi được gọi là các “khu dự trữ sinh thái” hay “khu vực không-được-chiếm-hữu”, những khu bảo tồn biển này được thiết kế để tăng cường bảo tồn các nguồn tài nguyên biển.

Việt Nam, một quốc gia có yêu sách chủ quyền, đang lãng phí một chút thời gian để ứng phó với những thách thức về môi trường của khu vực và đang nhanh chóng theo dõi chương trình riêng về mô hình bảo vệ vùng biển.

Cù Lao Chàm tọa lạc ở vị trí  20 km ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam. Các đảo Cù Lao Chàm là một khu bảo tồn biển  (MPA) do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam thành lập tháng 12-2005. Giáo sư Chu Mạnh Trinh, vị giáo sư sinh vật học 53 tuổi tại Đại Học Đà Nẵng, chịu trách nhiệm phần lớn trong thiết lập lộ trình các mục tiêu đã được thỏa thuận đối với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa và lịch sử của Quần đảo Chàm. Trong năm 2009, khu vực này đã được UNESCO công nhận là Khu Dự Trữ Sinh Quyển Thế Giới.

Việt Nam đã công nhận các khu bảo tồn biển để giải quyết các vấn đề an ninh lương thực hiện nay và tương lai. Những  khu bảo tồn biển này giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế biển; chúng cải thiện sinh kế của các cộng đồng ngư dân đánh bắt cá ven bờ, và cũng phục vụ việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền của quốc gia.

Khu vực này cần gom tụ các khoa học gia trình độ cao nhất, những người có kinh nghiệm nghiên cứu đa dạng sinh học biển và tính bền vững môi trường tại vùng Biển Đông biến động để tham gia vào diễn đàn chính sách khoa học.

Công việc hợp lực của họ có thể dẫn đến sự phát triển thành công một Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế Về Biển Đông. Kết quả là: những nỗ lực khoa học của họ rồi có thể truyền cảm hứng cho ASEAN hợp tác đáp ứng việc quản lý tài nguyên trong khu vực bằng ra tuyên bố kêu gọi một lệnh cấm đối với bất kỳ công việc cải tạo gây hủy hoại nào.

Tất nhiên, Trung Quốc có nhiều nhà khoa học rạn san hô tuyệt vời riêng của mình, những người nhận ra rằng đó là cách tốt nhất vì lợi ích của Bắc Kinh khi bảo vệ các rạn san hô, duy trì ngành thủy sản bền vững, và cuối cùng là tận hưởng nền du lịch thân thiện với sinh thái một khi căng thẳng nguôi ngoai.

Nền tảng chung cho các quốc gia có đòi hỏi chủ quyền là số lượng gia tăng của đánh bắt cá ở Biển Đông đang đẩy nhanh tiến độ sụp đổ của ngành và điều này làm thấp thoáng sự hiển hiện của một vấn đề an ninh môi trường, và hậu quả là tất yếu  sẽ trở thành xung đột. Các cộng đồng bảo tồn khoa học toàn cầu và pháp lý phải liên kết ngăn chặn sự phá hủy các rạn san hô, việc đánh mất sự đa dạng sinh học, và sự cạn kiệt thủy sản.

Phán quyết quốc tế đầu tiên của tòa án về Biển Đông đã tạo ra một cơ hội cho các bước tiến định lượng được hướng tới hòa bình và an ninh. Tất nhiên, ASEAN đã chứng tỏ một năng lực yếu kém về thể chế trong giải quyết các vấn đề chính trị và môi trường phức tạp, nhưng thế giới, bao gồm cả Liên Hiệp Quốc và Washington, đang theo dõi một cách cẩn trọng xem luật pháp quốc tế và sự áp dụng luật quốc tế vào giải quyết các yêu cầu khác nhau có thể dẫn đến một đường hướng tiến lên trong hòa bình và hợp pháp hay không.

Hành Động Cần Thiết

Các nhà khoa học và định hình chính sách biển của các quốc gia có yêu sách chủ quyền có thể tham khảo một trong những hướng xây dựng lòng tin sau:

– Xây dựng sự tự do hoàn toàn trong điều nghiên khoa học ở các đảo san hô có tranh chấp và các đảo bị cải tạo.

– Mở rộng hợp tác khoa học giữa tất cả các  nhà khoa học hải dương của ASEAN  thông qua các hội thảo có tính học thuật hàn lâm hơn.

– Đặt sang một bên tất cả các yêu sách lãnh thổ.

– Tạo ra một Hội Đồng Khoa Học Biển khu vực để xử lý các vấn đề suy thoái môi trường.

– Tăng cường đối thoại cho đề xuất một công viên biển hòa bình.

– Bổ nhiệm một ủy ban ASEAN về khoa học để nghiên cứu Hiệp Ước Nam Cực và sáng kiến Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc theo Kế Hoạch Hành Động Các Vùng Biển Đông Á.

– Đề xuất việc đổi tên vùng biển đang tranh chấp thành Biển Tự Do hay Biển Đông Nam Á.

Nếu có được bất kỳ loài cá nào còn sót lại trong vùng biển tranh chấp, một thỏa thuận sinh thái ASEAN – do Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam chủ trì – có thể hướng các quốc gia khác đoàn kết xung quanh một công viên hòa bình quốc tế được đề xuất hoặc chí ít là một vùng hợp tác biển được bảo vệ tọa lạc chủ lực trên Quần đảo Trường Sa.

Đó là bước đầu tiên hỗ trợ sự tín thác và sự tự tin giữa các nước láng giềng và  trong việc thực hiện một chính sách bảo tồn chung. Xét cho cùng thì các rạn san hô chính là các giáo đường của Biển Đông. Đã đến lúc cần có nhiều hơn những công dân và các nhà định hình chính sách tập hợp quanh các nhà khoa học hải dương để có thể liên kết hợp tác khu vực và quản lý biển nhằm làm tất cả được hưởng lợi trước khi quá muộn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc” http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.”  http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.”   http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”  http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!”   http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

B) Bài của James Borton do Hoàng Hữu Phước dịch Anh-Việt:

24-5-2016: Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

23-5-2016: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-11-2016

 2021

A) Mào Đầu 1

Lúc sinh hoạt blog trên Emotino.com năm 2009 tôi có viết rằng trong chương trình  American Idol mà tôi cực kỳ ưa thích thì Kris Allen sẽ thắng Adam Lambert để đoạt giải quán quân; rằng Adam Lambert sẽ có sự nghiệp vang danh bốn bể vì anh quá đẹp trai, quá mạnh mẽ bùng nổ dữ dội, quá cuốn hút cuốn phăng trên sân khấu; nhưng Kris Allen sẽ thắng, đơn giản vì Kris trong tất cả các lần hát dự thi đều luôn tự sử dụng nhạc cụ như đàn guitar, viola, piano, hay keyboard, trong khi Adam chỉ biết cầm mỗi chiếc micro; rằng Kris sẽ thắng phiếu của những người lớn tuổi và sùng đạo vì Adam tô son trát phấn sơn móng tay như một người đồng tính nam nên sẽ chỉ nhận được sự ủng hộ của giới trẻ đồng tính hoặc giới trẻ đang phải bương chải khó khăn trong cuộc mưu sinh mà đa số chẳng có thời gian đâu mà bấm điện thoại bỏ phiếu cho anh. Kết quả: Kris Allen thấp bé là quán quân năm ấy, còn Adam Lambert tuyệt mỹ nam nhân từ đó đến nay xuất hiện trên các sân khấu hoành tráng khắp thế giới.

2021-2

B) Mào Đầu 2

Lúc sinh hoạt blog trên Emotino.com năm 2008 tôi có viết rằng Hillary Clinton đầy ưu thế sẽ thất bại trước Barack Obama mới tinh. Kết quả: Barack Obama đánh bại Hillary Clinton để được chọn làm ứng cử viên tổng thống cho Đảng Dân Chủ, và sau đó đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Dự đoán ấy cũng dựa trên sự đơn giản tuyệt đối rằng người Mỹ bảo thủ mà đặc điểm của cực đoan là chẳng ưa người da đen và khinh thường phụ nữ, nhưng nếu Đảng chẳng còn ai khác ra hồn thì họ sẽ buộc ném Hillary vào sọt rác vì phụ nữ Mỹ không bao giờ được xem trọng – như đã phân tích kỹ trong bài Du Học Hiếp Dâm & Hiếp Dâm Du Học.

2021-3

Sau này cũng trên Emotino.com năm 2012 khi viết về lần ra tranh cử thứ hai chức Tổng Thống Hoa Kỳ của Barack Obama, tôi đã nhắc một sự thật là dân Mỹ có thú vui bịnh hoạn là khoái chứng kiến sự thất bại của một tổng thống nên họ sẳn sàng bỏ phiếu cho Barack Obama để ông này phá tanh banh sự nghiệp chính trị trong nhiệm kỳ thứ nhì, chứ không bầu cho Mitt Romney. Kết quả: Obama thắng Mitt; còn năm 2016 này chứng kiến sự tan nát của Đảng Dân Chủ, sự thảm bại của Hillary Clinton, và sự rung lắc của các lâu đài mà Obama đã xây dựng nên, trong đó có cả tòa lâu đài mang tên TPP.

 2021-4

C) Mào Đầu 3

Lúc sinh hoạt trên blog WordPress.com năm 2016 này tôi có viết về 9 sức mạnh ưu việt của Donald Trump mà kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 đã cho thấy sự phát huy tác dụng của 9 sức mạnh ấy; thậm chí truyền thông nước ngoài và nước trong cũng bắt đầu viết về một vài điểm tôi đã nêu như về đàn con trai tài gái sắc giỏi giang của Trump, v.v.

 2021-5

D) Vô Đề: Thay Đổi Để Hoàn Thiện

Từ những việc nhỏ xíu xìu xiu trên, cộng với việc đã từng bị bạn bè lớp 11 năm 1973 gọi là “mất nết” do dám tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa sẽ “mất nước”, tôi thấy mình có thể có cơ sở để tự cho rằng mình nhỉnh hơn một tí so với các chuyên viên phân tích tin và nhận định tình hình mà Trung Ương Cục Tình Báo Hoa Kỳ cài cắm lúc nhúc khắp chốn Sài Gòn điều nghiên về nhất cử nhất động của “Cộng Quân”;

Tôi khẳng định: năm 2021 sẽ chứng kiến sự thay đổi về chất lượng giới tinh hoa chính trị ở Việt Nam, trên cơ sở của 6 sự đơn giản tuyệt đối có liên quan dây chuyền hữu cơ với nhau như sau mà không cần đến thuật bấm độn chiêm tinh bói toán:

1- Nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) được đánh dấu bằng sự khó khăn về ngân sách dẫn đến việc gia tăng phần đóng góp của các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – vào ngân sách Nhà Nước và gia giảm phần mà các địa phương đó được giữ lại.

2- Sự việc 1 ở trên đã khiến lãnh đạo các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – thi nhau bóc tách tối đa để nêu lên cho bằng được những khó khăn cùng cực nhằm phục vụ bốn mục đích của (a) diễn đạt thói quen truyền thống “thích mếu máo” dù là tỷ phú đô la trước vành móng ngựa hoặc ăn mày ăn xin, (b) tự cứu mình nếu có sự thất bại không xoay chuyển được tình hình phát triển của địa phương mình sẽ đỗ thừa đỗ lỗi đỗ tội cho Nhà Nước, (c) kích động tinh thần địa phương chủ nghĩa cực đoan nơi dân chúng nhằm gây áp lực gỡ gạc cho cái đòi hỏi tự trị mà Trung Ương không mấy mặn mà ban phát sớm, và (d) sự kỳ vọng rằng ngân sách khóa sau sẽ được trung ương nương nhẹ tay hơn khi nghe thấy những lời thống thiết khổ sở ấy của họ.

3- Sự việc 2 ở trên đã khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – đột nhiên nhận thức ra rằng (a) thành phố quả có khó khăn quá to lớn về ngân sách, (b) các tầy huầy như ngập triều cường và mùi hôi nồng nặc nếu trầm trọng hơn chính là do tại bị vì bỡi cắt giảm ngân sách, và (c) thành phố luôn là đầu tàu kinh tế nhưng cái kinh tế ấy không do bất kỳ lãnh đạo nào của thành phố thực sự trực tiếp làm ra tiền cho thành phố vì chỉ những lãnh đạo trên tư thế nhuần nhuyễn biệt tài chi tiêu bạo mới lúng túng thở than như thế.

4- Sự việc 3 ở trên ắt có thể đã khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – đột nhiên có tư  tưởng sứ quân cát cứ (giống dân Mỹ “biểu tình” chống Trump vì họ không muốn dân Mỹ ở các tiểu bang khác thắng họ) lởn vởn ý nghĩ rằng tại sao thành phố phải “nai lưng” ra làm thân trâu ngựa để “phục vụ” địa phương khác.

5- Sự việc 4 ở trên ắt có thể sẽ khiến khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – từ nay đột nhiên có sự quan tâm đến việc chi tiêu của các địa phương yếu thế để có thể có sự tập hợp tài liệu cho các nghị sĩ của Thành phố Hồ Chí Minh lên đấu khẩu tại Quốc Hội rằng các địa phương khác đã “sống bám” ra sao, đầu tư phí phạm thế nào, tiêu cực đến đâu, v.v. và v.v., để từ đó yêu cầu trung ương chấm dứt việc giống các cao-bồi Miễn Viễn Tây Hoa Kỳ vác các súc gỗ bắt ngang đường ray của các “đầu tàu kinh tế.

6- Sự việc 5 ở trên ắt có thể sẽ khiến khiến dân chúng tại các địa phương chưa phải là “đầu tàu kinh tế” từ nay đột nhiên có sự quan tâm đến việc phòng thủ, dè chừng sự tấn công từ các “đầu tàu kinh tế”, chuẩn bị các kịch bản đối phó cũng bằng cách huy động lực lượng tìm kiếm các điểm yếu mang tính dối trá của các “đầu tàu kinh tế” nào đã sáng tạo các “khó khăn” để né tránh việc “cưu mang”, đồng thời địa phương phải kiếm tìm các lý do đầu tư thật nhiều, thật “thực”, và thật lớn để các nghị sĩ của họ chuyển tải đến Quốc Hội những nhu cầu về ngân sách mà Quốc Hội khó thể chối từ.

Từ những việc 1, 2, 3, 4, 5, 6 nêu trên, những “đầu tàu kinh tế” thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải thay đổi tốt đẹp tuyệt vời vì rằng:

1) Người dân công chính nghiệm ra rằng: lãnh đạo “đầu tàu kinh tế” không được phép là những vị bu ngồi toa hạng nhất trên các chuyến tàu ấy (vì lẽ nào lãnh đạo tập trung hưỡng thụ), cũng như không được phép là những vị bu đứng ở buồng điều khiển (vì lãnh đạo thành phố không là chủ nhân của các cơ ngơi “đầu tàu” trực tiếp sản xuất ra tiền mà người ta hay gọi là giám đốc điều hành tức CEO), mà lãnh đạo thành phố phải và chỉ được là các đường ray, các thanh tà vẹt, các bù lon ốc vít, để các toa xe chạy lên đó – mà đường ray thì không có còi để phát ra những âm thanh than vản.

2) Từ sự nghiệm 1 trên, người dân công chính nghiệm tiếp rằng: các nghị sĩ và các đại biểu hội đồng nhân dân của họ nhất thiết phải chấm dứt cái vai trò “chuyển tải ý dân” vì người dân có thể tự gởi cái ý đó cho bất kỳ cơ quan quyền lực nào – thậm chí bằng một cái click chuột – chứ không phải cậy nhờ các tinh hoa chính trị chuyển giúp; từ đó người dân quan tâm đến những ứng cử viên nào có chương trình hành động không chứa những điều vớ vẩn như “tiếp xúc lắng nghe nguyện vọng cử tri và chuyển tải các tâm tư tình cảm của cử tri đến nghị trường Quốc Hội”, mà thay vào đó là những khẳng định sẽ làm thanh tà vẹt cỡ nào và đinh ốc kiểu gì để địa phương phát triển cụ thể về kinh tế ra sao, như thế nào, bao lâu thì hết ngập, khi nào thì hết quy hoạch treo, bao giờ giải quyết hết các khiếu kiện kéo dài, và cần mấy thập niên hay mấy thế kỷ nữa để Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn hóa văn minh hiện đại trong đại cuộc phục vụ nhân dân.

3) Từ sự nghiệm 2 trên của người dân, kể từ 2021 sẽ chẳng còn một ứng cử viên nào là chức sắc được các cơ quan ban ngành đoàn thể cùng Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu ra ứng cử mà lại dám mặt dày mày dạn nhận lời đề cử đó, vì rằng sự đề cử sẽ không còn trở thành việc dành đặc quyền cho những chức sắc mà công việc duy nhất của họ là ngự trong những toa tàu hạng nhất của con tàu kinh tế với xấp giấy báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp mỗi năm hai lần của cử tri mà họ có bổn phận phải chuyển tải ra nghị trường Quốc Hội, vì chỉ còn sự tồn tại của việc tự ra ứng cử của những công dân tài giỏi yêu nước yêu chế độ tự nguyện làm đường ray cho con tàu kinh tế chạy dẫm cọ sát sướt trầy tóe lửa lên trên.

4) Và từ kết quả của sự nghiệm 3 trên, kể từ mùa bâu cử 2021, Việt Nam bắt đầu thực sự có những nghị sĩ Quốc Hội và những đại biểu Hội Đồng Nhân Dân hoàn toàn không biết than vản tạo tư tưởng yếm thế nơi người dân, không biết gieo rắc tư tưởng sứ quân cát cứ địa phương chủ nghĩa vốn dễ tạo ra những lãnh địa và những khu tự trị hoặc những vùng đặc biệt không bao giờ mang tính kết nối, kết đoàn, và kết tụ của hào khí dân ta.

E) Thay Đổi Từ Công Thức Duy Nhất Thuần Chính Trị

Việt Nam sẽ gia giảm đến mức thấp nhất những thành phần sau trong giới tinh hoa chính trị thuộc các chủng loài (categories) vốn đã luôn được áp dụng từ trước đến nay cho tất cả các lĩnh vực thuộc khu vực Nhà Nước – dù lĩnh vực đó là chính trị hay phi chính trị – của một đất nước mà khu vực Nhà Nước chiếm tuyệt đại đa số:

1) Hồng: Cha truyền con nối thuần chính trị và theo con đường quy trình

2021-6

2) Chuyên: chỉ cẩn có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ toàn từ tiền nhà nước, không nhất thiết trực tiếp liên quan đến lĩnh vực được phân công làm quản lý

3) Kinh Nghiệm Thực Tế: không cần kinh qua kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ mà chỉ cần theo đúng quy trình được bổ nhiệm làm lãnh đạo ngay tại các Tổng Công Ty Nhà Nước/Hội Đồng Quản Trị/Hội Đồng Thành Viên/Phòng Ban cấp Bộ, v.v.

F) Thay Đổi Sang Phân Ngành

Trước thực tế tiêu chuẩn và quy trình nêu trên thường dẫn đến các tiêu cực như (a) những lãnh đạo đúng quy trình bổ nhiệm như hạng tép riu vô danh tiểu tốt Trịnh Xuân Thanh vậy mà xuất hiện ở đâu là thiệt hại tỷ đô tới đó, (b) những lãnh đạo đúng quy trình bổ nhiệm như của Thành phố Hồ Chí Minh làm “đầu tàu kinh tế” của cả nước đứng sựng bởi triều cường, và (c) những lãnh đạo như của Thành phố Hồ Chí Minh hễ bị cắt giảm ngân sách là than thở bối rối lúng túng như gà mắc dây thun,

các tiêu chuẩn và quy trình sẽ phải thay đổi như sau:

A) Thuần Chính Trị: áp dụng y như phần E ở trên với tất cả các quy trình về Hồng-Chuyên-Kinh Nghiệm, nhưng quy về một lĩnh vực duy nhất là thuần chính trị, thuần tuyên giáo, thuần đối ngoại quốc gia, thuần lực lượng vũ trang, thuần đối đầu chính trị với thế giới, và thuần hoạch định chính sách chung, nghĩa là chỉ áp dụng trong nội bộ tổ chức Đảng, chứ không áp dụng các quy trình và tiêu chuẩn của phân ngành này để rồi bổ nhiệm các lãnh đạo là chức sắc cấp cao của Đảng vào các chức vụ trực tiếp thực hiện đại cuộc kiến quốc như kinh tế, kinh doanh, thương mại, giáo dục và đào tạo, y tế, dịch vụ công, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, giao thông công chánh – kể cả hàng không và hàng hải, v.v., vốn thích hợp riêng cho tầng lớp nhân sự có năng lực thực sự về chuyên môn, có thực tài thực hiện hiệu quả, tổ chức thực hiện hiệu quả, giám sát thực hiện hiệu quả, quản trị thực hiện hiệu quả, mà tầng lớp này phải nắm thực quyền quản trị kiến quốc để chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm cá nhân – chứ không phải trách nhiệm tập thể mà ý nghĩa thực chất là chẳng ai phải chịu trách nhiệm cả – đối với đại cuộc kiến quốc ấy.

Các chức vụ trực tiếp thực hiện đại cuộc kiến quốc sẽ thuộc phạm trù phạm vi Thuần Quản Trị Kiến Quốc chỉ dành cho những đại chuyên gia mà thời gian “làm ra tiền cho đất nước” của họ eo hẹp đến độ không ai trong số họ có thể họp sinh hoạt Đảng cùng hai mươi bốn cuộc họp sinh hoạt khác trong hai mươi sáu ngày làm việc của một tháng.

B) Thuần Quản Trị Kiến Quốc:

1- Hồng:

2021-7

2- Chuyên: có trình độ thạc sĩ/tiến sĩ từ đầu tư tự túc dựa trên khát vọng bản thân, năng lực cá nhân, ý chí tự thân vận động vượt khó, và thành tích tự thân.

3- Kinh Nghiệm: làm việc nhiều năm về chuyên môn tại những cơ sở/doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc có yếu tố nước ngoài, và có thành tích thâm niên được thăng tiến lên vị trí quản lý tại doanh nghiệp ấy.

Một hiệu trưởng một trường đại học có chữ “quốc gia” mà phải là đảng viên, thành ủy viên, ủy viên trung ương Đảng, nghị sĩ Quốc Hội, chỉ có bằng tiến sĩ chứ chưa hề dày công giảng dạy thành công, chưa hề dày dạn nghiên cứu khoa học được đăng trên các journals lừng danh thế giới, chưa hề đào tạo nên lớp người kế thừa xuất sắc, và cũng chưa hề giúp phát triển ngay trong xã hội nước mình cái ngành mà mình có bằng cấp thì bảo đảm ngày mà đại học đó được các đại học lừng danh của Âu Mỹ công nhận ngang hàng với họ về chất lượng cũng hiệu quả đào tạo học-hành thì đó cũng là đêm trước của Ngày Tận Thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị-sĩ Quốc-hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

16-11-2016

hhp-truyen-thong-3

Như đã nêu trong một bài viết trước đây, tôi có nêu rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có những thứ vũ khí cực kỳ quan trọng, trong đó nổi bật nhất là Quân Đội và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, các vũ khí chiến lược trên còn được tăng cường bổ sung thêm sau  Chiến Thắng 30-4-1975 với các thế lực chính trị của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông.

Khi nói vị trí của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông “sau 30-4-1975” mới định hình, đó là vì sự thật lịch sử: Đoàn Thanh Niên  trước 30-4-1975 chỉ tập trung cho nhiệm vụ chính trị duy nhất là làm đội hậu bị của Đảng trên chiến trường trong đại cuộc Giải Phóng Miền Nam.

Công Đoàn trước 30-4-1975 chỉ để khẳng định có một tổ chức chính trị cho giai cấp công nhân cho đúng với triết thuyết của Tư Bản Luận Das Kapital, chứ hoàn toàn không vì nền công nghiệp đã phát triển rộng khắp như tiền đề cho một lực lượng lao động bài bản và hùng hậu.

Truyền Thông của Cách Mạng trước 1975 nếu là báo in thì chỉ xuất hiện hạn chế ở một số nơi Miền Bắc hoàn toàn không thể tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng dân cư ở Miền Nam, truyền thanh chỉ của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà số dân Miền Nam lắng nghe đương nhiên không thể là đa số, và truyền đơn chỉ là ở vài nơi trong Sài Gòn mà tác giả bài này có bằng chứng hình chụp trong bài “Tôi Và Lê Hiếu Đằng”.

Bài này sẽ phân tích về các thứ vũ khí siêu việt của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thực tế ngày nay, với phần nói về Truyền Thông ở cuối cùng.

A- QUÂN ĐỘI

Quân Đội là một trong những lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Quân Đội vẫn là lực lượng hùng mạnh dưới quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, và luôn được Nhà Nước đầu tư dồi dào về trang bị quân lực. Tuy nhiên, Quân Đội đang phải đối mặt với các vấn nạn sau:

1- Số lượng các tướng lĩnh đã bùng phát dẫn đến quan ngại rằng Quân Đội đang hướng theo “từ chương” trong dụng nhân chứ không hướng theo thực chất thực tài.

2- Trong các chuyến thăm các tiền đồn của Quân Đội, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước của Quốc Hội Khóa XIII nhận thấy rằng nơi nào cũng sử dụng rượu nặng (hoặc mua hoặc tự chưng cất mà không bất kỳ thứ gì trong hai thứ này là đúng đắn cả) để chiêu đãi đoàn nghị sĩ của Ủy Ban Đối Ngoại. Đây là điều cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là đối với công tác phòng thủ biên cương.

3- Nỗ lực của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội Khóa XIII trong yêu cầu phải ghi nội dung sau vào Hiến Pháp 2013 để bảo vệ Quân Đội và gia tăng quyền lực bất khả xâm phạm của Quân Đội đã không được lắng nghe:

hhp-truyen-thong-1

Nếu lưc lượng vũ trang khác là Công An đã bị làm cho cùn nhụt bởi những quy định ẻo lã, mềm nhũn, nhão nhoét, tước bỏ quyền lực “tiêu diệt tội phạm và trấn áp ngăn chặn phạm tội” để thay vào đó bằng một thứ nhiệm vụ vô nghĩa vô bổ vô dụng vô lý của “bảo vệ nhân dân”, thì Quân Đội đã không được phân quyền, không được bảo vệ, bị tước mất quyền lực “tiêu diệt quân xâm lược và tiếp quản bất kỳ cương thổ nào của quân thù” để phải đeo trên ngực tấm bảng yếu ớt vô nghĩa vô bổ vô dụng của “bảo vệ đất nước” thì rõ ràng là lực lượng vũ trang luôn trung thành với Đảng đã không được Đảng bảo vệ tuyệt đối, từ đó sẽ  đối mặt với kiểu hành xử “không dám mạnh tay” tiến tới “không dám chiến đấu”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn phủ lên Hiến Pháp sự nhã nhặn nhún nhường để phục vụ đại cuộc chinh phạt thế giới cho nên đã tránh các nội dung sắt máu, thì Đảng cũng nên quy định trong rèn luyện Quân Đội rằng tất cả quân xâm lược – và lực lượng hậu cần của chúng bất kể là thuần quân sự hay bán quân sự hoặc thuần dân sự – đều phải bị tiêu diệt chứ không phải bị bắt giữ, và quân nhân sẽ được bảo vệ tuyệt đối.

B- MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Nếu như các chức năng của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã ghi rõ trong bài viết “Nguyễn Thiện Nhân”, thì hiện nay đã có thể bổ sung thêm những yếu ớt ẻo lả vô dụng của cái cơ quan ngốn cực nhiều ngân sách quốc gia từ tiền thuế của dân mang tên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam này.

Loại bỏ – tức không thèm nhắc đến chứ không phải tha thứ – cái tầy huầy làm không nên thân chẳng ra chi của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong kỳ Bầu Cử Quốc Hội 2016 mà nơi nào cũng mang mặt nạ dối lừa có giòng chữ “Thành Công Tốt Đẹp” thì Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã hoàn toàn thất bại rất cụ thể trong:

1) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, và “bầu cử” Nguyễn Thị Nguyệt Hường vào làm chức sắc cao cấp trong Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong hai khóa Quốc Hội;

2) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, “bầu cử”, và ủng hộ Trịnh Xuân Thanh làm lãnh đạo Cần Thơ;

3) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ “biểu tình” làm loạn đông người của giáo dân;

4) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ  làm loạn đông người của các trung tâm cai nghiện; và

5) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ cháy các cơ sở Karaoke; v.v. và v.v.

Trước thực tế quá rõ mười mươi không bao giờ có bất kỳ ai trên toàn lãnh thổ Việt Nam dù trong Đảng hay ngoài Đảng có thể phủ nhận hay phản bác lại được là Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam từ trung ương đến địa phương hoàn toàn không bao giờ có cá nhân hay tập thể nào có thể đưa ra bất kỳ danh mục thành tích thực sự cụ thể nào trong “vận động” nhân dân làm cho quốc thái thật và dân an thật, thì

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trở lại thành thứ vũ khí quan trọng của Đảng thì trước hết phải (a) cách chức Chủ Tịch Nguyễn Thiện Nhân và (b) cách chức toàn bộ ban lãnh đạo các Mặt Trận Tổ Quốc ở các tỉnh thành nào có xảy ra bê bối về bầu cử, có “đại biểu đắc cử” bị phát hiện là tội phạm, có “đại biểu đắc cử” hay chức sắc đào thoát đi nước ngoài, có các cuộc “biểu tình”, có các cuộc tụ tập khiếu kiện đông người, có xảy ra các vụ trọng án dù bất kỳ lĩnh vực nào. Duy trì một bộ máy bất tài vô dụng đầy dẫy trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và nuôi dưỡng nó thật dồi dào hào phóng bằng tiền thuế của người dân sẽ không giúp gì cho Đảng trong đại cuộc quần chúng chiến cả.

C- TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG

Điểm yếu của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam trong giai đoạn mới của “hội nhập” theo các Hiệp Định đa phương đã được nêu trong bài viết trước đây trong đường liên kết ở phần Tham Khảo của bài viết này.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  tồn tại vững mạnh được trong hoàn cảnh mới, Tổng Liên Đoàn cần hợp đồng tư vấn với tác giả bài viết này vì rằng không bao giờ nội bộ Tổng Công Đoàn có thể đề ra bất kỳ kế sách nào cho đại cuộc tồn tại – qua tấm gương diển hình của Chủ tịch Tổng Liên Đoàn của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII đã không đóng góp gì hữu ích cho Luật Công Đoàn để rồi ngay sau khi được thông qua nó bị phát hiện có tỳ vết thì chính vị Chủ Tịch ấy lập tức đăng đàn phê phán, còn sau khi nghĩ hưu thì đột nhiên tích cực đòi Quốc Hội phải truy phong “anh hùng”cho các quân lính Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận dưới họng súng của Trung Quốc tại Hoàng Sa.

D- ĐOÀN THANH NIÊN

Điểm yếu của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có thể được khắc phục qua tham khảo bài viết “Hướng Đạo” và nhiều bài viết khác trong cùng địa chỉ blog này. Tuy nhiên, ngày nào lãnh đạo Việt Nam vẫn còn dụng nhân theo kiểu từ chương – tức không là đoàn viên thì không thể làm đảng viên, hoặc không là đoàn viên thì không thể được cất nhắc trong các cơ quan hành chính công quyền địa phương, tức công tác đoàn chỉ là để cho các mùa hè màu vô dụng hoặc để dự các liên hoan bù khú vô dụng với thanh niên Tàu – và ngày nào công tác Đoàn quan trọng nhất thí dụ như ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là “quản lý Báo Tuổi Trẻ” , thì ngày đó Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh chỉ có nhiều thu nhập rót qua từ “Tuổi Trẻ” chứ vẫn không bao giờ trở thành vũ khí uy lực của Đảng như Đảng hằng mong muốn nhưng sẽ lại mãi mong chờ.

E- TRUYỀN THÔNG

Truyền Thông trở thành thứ vũ khí mới nhất và lợi hại nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian từ ngay sau ngày 30-4-1975 đối với (a) phổ biến phổ quát các chủ trương chính sách của Đảng, (b) dựng xây hòa hợp dân tộc qua phân tích tình hình trong và ngoài nước tập trung vào thế thắng của chính nghĩa quốc gia, (c) chống chọi chống cự chống đối chống lại các hình thái chiến tranh tâm lý của kẻ thù, (d) nêu gương người tốt việc tốt trong xã hội, (e) phổ biến phổ quát hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa, và (f) giáo dục tư tưởng quần chúng.

Tuy nhiên, Truyền Thông Việt Nam ngày càng suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn như đã được tác giả bài viết này nêu lên trong rất nhiều bài viết chuyên đề trước đây.

Một trong những phương pháp để học giỏi tiếng Anh mà tác giả bài viết này truyền thụ cho sinh viên của mình trong những năm 1980 là hãy tìm đọc các bài bình luận bằng tiếng Việt trên báo Sài Gòn Giải Phóng vì (a) không thể giỏi tiếng Anh nếu không xuất sắc tiếng Việt, (b) đọc bài xã luận tiếng Việt của Sài Gòn Giải Phóng để học hỏi về lập luận hùng biện cao cấp mang tính tư duy cao cấp về thời cuộc, và từ đó có thể (c) rèn luyện năng lực hùng biện tiếng Anh đối với tất cả các vấn đề mang tính thời cuộc và tư duy cao cấp.

Còn lời khuyên hiện nay của tác giả bài viết này – nếu trở lại giảng đường đại học tiếp tục giảng dạy các bộ môn tiếng Anh – sẽ là: muốn học giỏi tiếng Anh đạt trình độ tư duy hùng biện cao cấp thì hãy tránh xa tất cả các báo chí của Việt Nam vì báo chí Việt Nam đã suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn, vì sự thật không bất kỳ ai có thể phản bác lại là: trên tất cả các tờ báo đã không còn tồn tại bất kỳ phần xã luận nào ra hồn.

Suy, vì trong khi trên báo chí nước ngoài các bài viết bình luận đều có tên đầy đủ của người viết kèm theo hình ảnh nhỏ xíu của người viết ở bên cạnh tên người đó thì tất cả các bài báo Việt đều (a) không “nhà báo” nào dám dùng tên thật và đầy đủ như trên Chứng Minh Nhân Dân, (b) không “nhà báo” nào dám bình luận gì mà chỉ dám “phỏng vấn” rồi đưa tin để “an toàn” cho mình và để mình tha hồ cắt xén làm hại kẻ bị mình “phỏng vấn” nếu mình không ưa hắn hoặc có nhận chỉ thị phải “nhét chữ vào mồm” hắn, (c) nếu không ai cho “phỏng vấn” hoặc bí đề tài thì tha hồ sáng tạo láo, và (d) sẵn sàng cóp nhặt tin giật gân nước ngoài hoặc nước trong miễn lấp đầy trang bao hay trang mạng.

Suy, vì tất cả các báo đều là của Đảng nhưng phản Đảng, làm Đảng suy yếu, lợi dụng Đảng để kiếm chác bằng cách de dọa doanh nghiệp, làm hại sản xuất nội địa, cũng như đơm đặt bao chuyện để làm Đảng phải mang nhục, v.v.

Bằng chứng rõ nét nhất của sự suy yếu là qua vụ Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phát biểu chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” khi:

1- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt công kích Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước;

2- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có kiến thức và trí tuệ về “biểu tình”;

3- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có tầm nhìn thấu thị về “biểu tình”;

4- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt hùa nhau trừng trị “người vì Đảng vì Nước vì Dân”, thay vì lẽ ra cái đạo ý thuần Việt phải luôn là đồng loạt bảo vệ người ấy như hành động rõ nét nhất để bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ. Cụ thể nhất – theo báo cáo của các học trò của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước – thì ngay cả Tạp Chí Xây Dựng Đảng cũng có một bài viết của một tên  nhà báo ngu xuẩn chống lại Nghị sĩ ấy, nghĩa là Tạp Chí Xây Dựng Đảng trở thành tạp chí vất sọt rác vì đã đăng một bài của một tên phản Đảng, vô trí, vô mưu, ngu xuẩn y như tất cả những tên nhà báo đầu bò ngu xuẩn đần độn mất dạy nào đã từng bu lại phỏng vấn để rồi viết bài chống lại Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước trong vụ “Luật Biểu Tình”.

5- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại và chịu nhục nhã do không thể khiến Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phải từ nhiệm hay bị miễn nhiệm hoặc bị bãi nhiệm khỏi vị trí Nghị Sĩ, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại, và Thành Viên Hội Nghị Sĩ Hữu Nghị Việt Nam – Philippines của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

6- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại thảm hại vì chỉ một mình Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã ngăn chặn thành công tuyệt đối cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong toàn bộ nhiệm kỳ Khóa XIII của Quốc Hội thậm chí qua 1/2 thời gian của nhiệm kỳ Khóa XIV khiến cái mà toàn bộ báo chí chính thống của Việt Nam xúm lại ngợi ca đã bị xếp xó, khiến nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trở thành người có tầm nhìn thấu thị, có hiểu biết thấu đáo về “biểu tình” cũng như về thực tế đất nước, và tất nhiên là có sức mạnh hùng biện chiến thắng tất cả các “nhà báo”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  Truyền Thông trở lại là vũ khí lợi hại của Đảng, Đảng nhất thiết phải loại bỏ toàn bộ  Truyền Thông vô dụng hiện nay để hình thành một đế chế Truyền Thông mới, trung thành tuyệt đối với Đảng, dựa theo kinh nghiệm trị quốc của tất cả các siêu cường tư bản tự do dân chủ là: Báo Chí Phải Và Chỉ Phục Vụ Cho Chế Độ.

Tất cả các vũ khí lợi hại của Đảng đều đã bị suy yếu. Đó là nỗi lo của người viết bài này đối với tiền đồ tổ quốc, tương lai dân tộc Việt Nam vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Tham khảo:

A) Chính Sách Nhân Lực:

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2016. Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

Hoàng Hữu Phước. 29-8-2013. Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Hoàng Hữu Phước. 10-6-2016 Nguyễn Thiện Nhân

B) Báo Chí:

Hoàng Hữu Phước. 05-8-2016. Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này

Hoàng Hữu Phước. 11-11-2016.  Báo Tuổi Trẻ Lại Giỡ Trò Fauxtography

Hoàng Hữu Phước. 27-12-2015. Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2015. Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước. 21-01-2015. Thư Gởi Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam

Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường QuốcHoàng Hữu Phước. 13-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu

Hoàng Hữu Phước. 16-10-2014. Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ

Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng

Hoàng Hữu Phước. 28-9-2014. Báo Người Lao Động

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn

Báo Động Về Năng Lực Của Lãnh Đạo Thành Phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-10-2016

Nội dung khủng khiếp sau được chụp từ trang web của Báo Tuổi Trẻ:

su-bat-luc-1

Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã hoặc bất cẩn trong phát ngôn, hoặc thực sự thiếu năng lực trong lãnh đạo một thành phố quá lớn khiến cư dân Thành phố Hồ Chí Minh ắt sẽ phải đối mặt với hiểm nguy cực kỳ nghiêm trọng!

TRỞ TAY KHÔNG KỊP

 su-bat-luc-6

Mới đây, Tổng Thống Vĩ Đại của Nga Vĩ Đại Vladimir Putin ra lệnh mỗi thành phố ở Nga tham gia tập dượt phòng thủ dân sự khẩn cấp. 40 triệu người dân – tức 1/3 dân số Nga – sẽ thao dượt nhằm đối phó với nguy cơ tiềm tàng các trận ném bom nguyên tử từ kẻ thù. Thủ đô Moscow đã sẵn có các hầm trú ẩn hữu hiệu đối với các cuộc tấn công hạt nhân cho 12 triệu người tức cho toàn bộ cư dân của Moscow. Lương thực và các nhu yếu phẩm cùng những phương tiện y tế đủ cho ngần ấy cư dân dưới lòng đất được sinh tồn trong thời gian kịp cho tác hại của phóng xạ chết người qua đi. Và không hề có tin chính phủ Nga sẽ chu cấp thêm bao nhiêu ngân sách cho mỗi thành phố để thực hiện chỉ thị ấy của tổng thống.

Phải chăng ngân sách các địa phương Nga nhờ được “tự chủ” nên đã quá dồi dào, đã tự lo được mọi thứ nên bất kể nước Nga có đã và đang bị cấm vận nghiệt ngã và cuộc tham chiến ở Syria nhằm tiêu diệt IS đang làm Nga thêm cạn kiệt tài chính, Moscow vẫn bình tỉnh đối phó với nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh?

KHÔNG BAO GIỜ LÀ NHƯ VẬY!

Nga làm được vì lãnh đạo từng địa phương đã thực sự là lãnh đạo chuyên nghiệp: luôn “tự chủ” trong tư duy, trong “liệu cơm gắp mắm”, và trong “biết lo trước cái lo của người dân” – mà trong các cái lo ấy có cả cái lo về ngân sách thâm hụt, lo về tham nhũng, lo về đầu tư không hiệu quả trong sử dụng ngân sách và giám sát việc sử dụng ấy, lo về thiếu vắng “người tài”, và lo về tất cả những gì liên quan đến sự an nguy sinh tồn của từng địa phương.

Thử hỏi, với ngân sách chưa bị cắt giảm thì trong hai mươi năm qua tình hình ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh có đã khả quan hơn chưa, hay ngày càng trầm trọng hơn? Khoan nói tới chuyện tham nhũng, móc ngoặc, lại quả, đơn giản vì dễ bị phản pháo mạnh mẽ bằng câu nói hoàn toàn đúng luật pháp: “Bằng chứng đâu? Bôi nhọ à?” Hãy nói đến việc tồi tệ về năng lực thiết kế, tồi tệ về năng lực thực hiện công trình, tồi tệ về năng lực giám sát công trình, tồi tệ về năng lực nghiệm thu công trình, đơn giản vì các nội dung này sẽ không bao giờ bị phản pháo bằng câu nói: “Hãy chứng minh đi!” với thực tế quá hiển nhiên: NGẬP.

ĐÃ LÀ LÃNH ĐẠO, KHÔNG AI NÓI “TRỞ TAY KHÔNG KỊP”

Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of change” hoặc “change management” tức CM tức “quản lý các đổi thay” bất kể sự đổi thay ấy là tốt hay xấu, nghĩa là đột nhiên trung ương ban cho thêm 1.000 tỷ USD thì phải không được luống ca luống cuống chả biết xài vào việc gì, và ngược lại khi trung ương đột nhiên cắt giảm 1.000 tỷ USD thì không được luống ca luống cuống chả biết phải duy trì hoạt động ra sao.

Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of crisis” hoặc “crisis management” tức “quản lý khủng hoảng”, và phải có sẵn BCP tức “Business Continuity Plan” tức cẩm nang phòng bị được áp dụng bảo đảm hoạt động “gần mức bình thường nhất có thể được” của công việc khi có phát sinh sự cố hay sự việc. Thành phố Hồ Chí Minh đã có BCP cho trường hợp bị cắt giảm ngân sách chưa?

Nếu bị cắt giảm ngân sách mà lãnh đạo đã hoang mang trước tiên, than thở “trở tay không kịp”, thì đừng nói đến chiến tranh nguyên tử đắt tiền đánh vào từ Biển Đông,

su-bat-luc-2

chỉ cần kẻ thù chống Việt từ biên giới trên bộ cách Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 100 km tấn công bằng cơn mưa hỏa tiển (tên lửa) rẻ tiền ào ạt nhắm Thành phố Hồ Chí Minh chúc đầu xuống thì lãnh đạo thành phố sẽ hoảng sợ trước tiên hay sao?

su-bat-luc-5

Người dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ra sao? Tiền thì yêu cầu Chính Phủ rót thêm ngân sách trong khi chưa hề chứng tỏ đã sử dụng ngân sách ấy hiệu quả ra sao, trong khi đó lại giám sát chẳng ra chi khiến có những tầy huầy trọng án kinh tế.

Nếu được cho đủ tiền hoặc dư tiền mới làm được việc thì (a) bài học thường ca hát “với sức người, sỏi đá cũng thành cơm” đã vất đi đâu, (b) cần quái gì có đầy đủ các quan chức, và (c) phải chăng Thành phố Hồ Chí Minh không có nhiều chuyên gia kinh tế luôn được báo chí chính thống của thành phố đón săn để hứng các lời nhả ngọc phun châu nhằm lấp đầy trang báo trống đó hay sao?

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị là ý chí, là định hướng cho tập trung mọi nổ lực.

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị không là ấn định phải thực hiện bằng mọi giá bất kể hoàn cảnh mới phát sinh.

Tạo điều kiện cho phát triển” không chỉ có mỗi một ý nghĩa rằng phải gia tăng ngân sách. Bố trí “người tài” của trung ương về địa phương cũng là “tạo điều kiện cho phát triển”. Chưa kể, “tự tạo điều kiện cho phát triển” mới là năng lực tuyệt diệu của nhà lãnh đạo.

Cắt giảm ngân sách không bao giờ là đại họa hay thảm họa – nếu so với bùng phát chiến tranh.

Chỉ có thể đưa ra chuyện nhỏ nhặt “không mua sắm ô tô mới cho lãnh đạo mới” để chứng minh xài tiền của dân cẩn trọng để xin đừng cắt gảm ngân sách nhiều quá, thì quả là chuyện đau đớn quá cho năng lực lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh!

Chỉ nêu sự cấp bách của chống ngập để xin đừng cắt giảm nhiều ngân sách, thì quả là chuyện đớn đau vì nhiều năm qua Thành phố Hồ Chí Minh không bị cắt ngân sách vẫn có chống được ngập đâu?

Cắt giảm ngân sách là cơ hội mà Trung Ương ban cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ thực tài quản trị vì nước vì dân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vì Sao Thành phố Hồ Chí Minh Ngập

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-10-2016

Lẽ ra tôi đã không viết bài này (a) vì đã viết một bài cùng chủ đề cách nay gần một thập niên trên emotino.com, và (b) nếu như đừng đọc mấy tin tức nhảm nhí gồm các viện dẫn chính thức nhưng đầy né tránh của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nêu 5 lý do nào gây ra ngập và các ý kiến bầy đàn của các “chuyên gia”.

Né tránh vì đã không nêu các vấn nạn thực sự.

Bầy đàn vì hàng chục năm trước các “chuyên gia” đó hoặc (a) cứ như chưa được sinh ra nên chẳng góp ý bất kỳ để hóa giải các vấn nạn có thể lường trước được bởi bất kỳ ai thực sự có học thức, hoặc (b) chẳng dám nói gì vì chính quyền chẳng nói gì nên chẳng dại gì “chọc giận” chính quyền, thế mà nay thì hùa nhau hùng hổ góp ý linh tinh.

Không nhìn nhận 5 sự thật sau thì Thành phố Hồ Chí Minh mãi mãi ngập và sẽ đến lúc Thành phố Hồ Chí Minh bị xóa sổ, nói gì đến hai đại cuộc xây dựng nó thành một “megacity” và thành một “khu tự trị”:

1- Chủ trương hoàn toàn sai quấy và vô trí của Thành Ủy và Hội Đồng Nhân Dân cùng Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đề án xây dựng Khu Đô Thị Nam Sài Gòn khiến vùng đầm lầy rộng lớn bị san lấp nâng nền phục vụ cho sự hình thành một khu đô thị đa chức năng kiểu mẫu làm trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, khoa học, văn hóa, giáo dục, cư trú, và giải trí, mà điển hình là qua việc cho một tập đoàn Đài Loan hình thành Khu Phú Mỹ Hưng, dẫn đến hậu quả vĩnh viễn bịt kín và triệt hẳn cửa ngõ thoát nước của Thành phố Hồ Chí Minh, gây ra cái quái gở ngập nước vào mùa nóng mà người ta tự chế ra từ ngữ “triều cường” rồi đỗ lỗi cho nó, và sự ngập trầm trọng vào mùa mưa mà người ta trước thì ngậm tăm làm ngơ còn sau này khi đã vô phương cứu chữa thì bày ra 5 cái nguyên nhân vớ vẩn để ngụy biện.

2- Sự áp dụng khoa học công nghệ tào lao ngu xuẩn của Thành phố Hồ Chí Minh như đã được nêu rõ như một tư liệu lịch sử trong bài viết đã nói đến ở trên (đăng trên emotino.com cách nay gần một thập niên và được đăng lại bên dưới bài viết này): thường xuyên rãi đá dăm mặt đường toàn bộ các tuyến đường trong Thành phố Hồ Chí Minh để “tăng độ bám đường” khiến bụi bay mù mịt toàn thành phố. Việc đầu tư vô lý này không thể không là minh chứng mang tính liên tưởng đến sự thất bại không thể xử lý “triều cường” và “chống ngập” tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng các biện pháp gọi là khoa học kỹ thuật vài thập niên trở lại đây.

3- Sự vô trách nhiệm trong giám sát thi công cộng với sự lưu manh bất lương vô liêm sĩ của các công ty xây dựng cầu đường bất tài vô dụng. Việc đường Nguyễn Hữu Cảnh ở Quận Bình Thạnh do Công ty Thanh Niên Xung Phong của “phe quốc doanh” xây dựng đã trở thành công trình đầy tì vết và tủi hổ với việc sụp lún đường, nứt cầu, và “ngập” bởi cái gọi là “triều cường” ngay lúc được đưa vào sử dụng năm 2002, khiến Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đến nay phải bỏ ra những khoản tiền cực kỳ khổng lồ – dù chưa được “tự trị” về ngân sách – đễ cứu nguy công ty nhà nước và các vị lãnh đạo nào đó đã nhúng chàm mà cho đến tận ngày nay chất lượng của các kỳ cứu chữa cũng vẫn chẳng ra chi, như minh chứng là trong cơn mưa lớn mơi tuần trước các tuyến đường những khu chung cư cao tầng xa hoa sang trọng gần Saigon Pearl đều ngập nước. Còn trong bài viết đã nói ở trên và được đăng lại dưới đây thì có thêm việc các công ty xây dựng cầu đường mà cụ thể là xây dựng tuyến đường ở khu vực Xa Cảng Miền Tây đã cho đùa tất cả xà bần và các bao cát xuống các cống khi đã hoàn thành công trình để khỏi tốn chi phí thuê hàng ngàn lượt xe tải chở đi đổ chỗ khác. Từ việc người nhái và thiết bị “hiện đại” phát hiện xà bần và hàng trăm bao cát đá trong lòng ống cống “hiện đại”, mọi người theo thuyết âm mưu có thể suy ra những vấn nạn khác khiến xảy ra sự ngập nước của Thành phố Hồ Chí Minh như:

a) công ty xây dựng các khu dân cư/các khu tòa nhà cao tầng – bất kể là khu cao cấp sang trọng hay khu tái định cư/tòa nhà dành cho đối tượng thu nhập thấp, các đường sá, đã không xây dựng – toàn phần hoặc một phần – hệ thống cống thoát nước; và

b) công ty xây dựng các khu dân cư/các khu tòa nhà cao tầng – bất kể là khu cao cấp sang trọng hay khu tái định cư/tòa nhà dành cho đối tượng thu nhập thấp, các đường sá, đã xây dựng hệ thống cống thoát nước với toàn bộ ống cống chất lượng thấp không bao giờ được kiểm định và các ống cống này đã – tương tự tuyến đường ống nước Sông Đà cực kỳ quan trọng của Thủ đô – vỡ nát dưới lòng đất Thành phố Hồ Chí Minh khiến nước thải gia dụng/dân dụng không thể thoát đi phải trồi tràn lên mặt đường biến thành “triều cường” còn nước mưa thì bất kể mưa thường hay mưa to hoặc mưa rất to luôn làm đường phố ngập nước (mà hình ảnh do tác giả bài viết này đã chụp cách nay gần một thập kỷ và đăng trong bài viết đăng lại dưới đây chứng minh ngay trên đường Trần Hưng Đạo sang trọng tại nơi mà lúc đó là ngôi nhà mồ cổ còn nay là cửa hàng Thế Giới Di Động to lớn lại cho thấy chỉ một cơn mưa bình thường vào buổi trưa cũng đã có thể làm ngập gần nửa bánh xe máy Honda và tràn vào cả căn nhà “mặt tiền” mà tác giả đang ngồi uống cà phê, huống gì mưa to của thời hiện đại ngày nay).

4- Sự vô trí và lợi ích nhóm trong phát triển xây dựng thổ cư áp sát ngay cả các vị trí trọng điểm quốc gia như trong bài viết trước đây về Phi Trường Tấn Sơn Nhất đã nêu lên, khiến việc ngập đầy xấu hổ lại thường xuyên xảy ra ngay trên đường băng của sân bay chiến lược Tân Sơn Nhất, và khiến cái thành phố cứ mãi được gióng trống khua chuông về tầm quan trọng quốc tế của nó kiểu mèo khen mèo dài đuôi lại bị bỡn cợt sắp thành một Venice Việt Nam.

5- Sự vô trách nhiệm của tất cả các ủy ban nhân dân phường và các cơ quan công an địa phương trong 40 năm qua với việc (a) hoàn toàn bỏ mặc cho sự lây lan hơn nấm việc người dân lấn chiếm kênh mương kinh rạch bờ sông thậm chí san lấp chúng để xây dựng nhà ở, cũng như (b) hoàn toàn bỏ mặc cho sự xả rác vừa làm nghẹt thêm kênh mương vừa làm gia tăng mức độ ô nhiểm kinh tởm của cái thành phố mà chính quyền gần đây của nó luôn mơ đến chuyện trên trời đầy hoang đường của “megacity” với nào là Thành Phố Bắc, Thành Phố Nam, Thành Phố Đông, Thành Phố Tây đầy hợm hĩnh láo xạo tào lao.

Tóm lại, xin đừng dại dột lắng nghe các lý giải của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và của các chuyên gia vì (a) tất cả các việc “cứu ngập” sẽ không bao giờ thành công; (b) tất cả các dự án “cứu ngập” đều sẽ y như tiếp tục đốt bỏ một ngân sách cực kỳ khổng lồ và tốn kém; (c) đơn giản vì Thành phố Hồ Chí Minh không có nguồn nhân lực đáng tin cậy về chuyên môn, đạo đức, trách nhiệm đối với các dự án tốn nhiều tiền; (d) đơn giản vì tất cả các lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh chưa bao giờ để lại cho hậu thế bất kỳ bằng chứng minh bạch cụ thể nào về tính hiệu quả của giám sát thi công, giám sát công trình, giám sát vốn đầu tư, cũng như luôn hào phóng dùng tiền ngân sách của trung ương rót cho – nghĩa là ngay cả khi  chưa được trung ương cho “tự trị về ngân sách – để mạnh tay giúp 100% dự án có cơ hội đội vốn khủng khiếp đồng nghĩa với việc hoàn toàn sai trong lựa chọn đơn vị thi công; và (e) các chuyên gia ngày nay tuyên bố này nọ đã chưa từng nói gì hay viết gì về cốt lõi của sự “ngập”, có thể vì họ là “chuyên gia” xài bằng cấp loại “hữu nghị”, có thể vì họ không có dũng khí nói lên/viết lên các ý kiến của họ, có thể các ý kiến của họ bị báo chí nông cạn cùng các cơ quan chung phòng với và chống đỡ cùng tham nhũng vất sọt rác, và có thể vì họ không thuộc tầng lớp trí thức thực sự vốn luôn có tầm nhìn xa-sâu-rộng.

Kính mời các bạn tham khảo bài viết dưới đây, đã được đăng trên emotino.com ngày 24-01-2009:

  Triều Cường – Thực Chất Của Vấn Đề

(http://www.emotino.com/bai-viet/17402/trieu-cuong-thuc-chat-cua-van-de)

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-01-2009 Xuân Kỹ Sửu

Năm hết, Tết đến. Đây là thời điểm thích hợp để Ôn Cố Tri Tân.

Theo từ điển Wiktionary, Ôn Cố Tri Tân có nghĩa đen là “xem lại cái cũ, biết cái mới”, nghĩa bóng là “nhắc lại cái cũ để hiểu biết hơn cái mới”, và dịch tiếng Anh cũng của Wikionary là “one should be able to derive new understanding while revising what he has learned”. Theo thiển ý của tôi, nghĩa bóng tiếng Việt thì nghe hợp lý hơn, còn câu tiếng Anh nên viết lại thành: Reviewing the past event or the pending issue for a suitable lesson or a thorough understanding and/or a possible solution để đạt chất lượng tu từ tuyệt hảo trong phạm vi chỉ một nhóm từ tức phrase (chữ OR thứ nhất liên kết eventissue, và chữ OR thứ ba liên kết understanding với solution để cả hai hợp làm một nhóm cùng làm đối trọng với lesson qua chữ OR thứ nhì, thành hai nhóm chính làm object của chữ FOR), thay vì là một câu tức sentence theo kiểu của Wiktionary có một mệnh đề chính với finite verb “should” và một mệnh đề làm noun object cho gerundrevising”, trong khi ý nghĩa “be able to” hoàn toàn yếu, còn “learned” như một nghịch lý. Nói chung, câu tiếng Anh của từ điển Wiktionary hoàn toàn kém.

Ba Má tôi đã lập nghiệp ở Quận 3 Sài Gòn từ năm 1950 và chị em chúng tôi 7 người được sinh ra, và sống ngay tại trung tâm – chứ không phải vùng ven đô – của Sài Gòn và có luôn vinh dự chứng kiến Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, song không phải vì vậy chúng tôi vỗ ngực tự xưng biết tất tần tật hết mọi thứ trên đời về Sài Gòn và về Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, tôi xin chỉ nêu lên những sự thật ít ỏi biết được. Chưa kể, chuyện “ôn cố” ắt giúp giải thích cho tôi hiểu thấu đáo được đôi điều nhỏ nhặt về một vấn đề lớn, đó là “triều cường” của cái sự “tri tân”.

Suốt thời gian tôi học trung học, hoặc Ba tôi, người giữ chức Tham Sự Tài Chính của Air Vietnam, đèo tôi đến trường trên chiếc Mobilette màu cà phê sữa bỉ bền vạn đại hoặc chiếc Honda Dame xanh lá sậm chất lượng tuyệt hảo mới “còm-măng” trực tiếp từ Nhật Bản; hoặc tôi và Chị Hai của tôi chạy song song đến trường Nguyễn Bá Tòng với tôi trên chiếc xe đạp nữ màu đỏ tươi còn chị trên chiếc màu xanh lá sậm, qua bao đường sá quen thuộc của nhiều quận khác nhau. Chưa bao giờ chúng tôi thấy thế nào là ngập lụt, và chưa bao giờ nghe đến hai từ Hán-Việt “triều cường”.

Khi giải phóng đến, thật mát dạ vì chiến tranh đã chấm dứt, nước nhà thống nhất, non sông liền một cõi, thái bình thịnh trị từ nay. Song, tại một đất nước mà Hội Hồng Thập Tự được đổi tên thành Hội Chữ Thập Đỏ cho phù hợp với phong cách “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” đã xuất hiện một hiện tượng kỳ quái được đặt tên bằng tiếng Hán-Việt nghiêm túc, trang trọng hẳn hoi, là “Triều Cường”. Vậy triều cường từ đâu đến và tại sao có triều cường tại Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố đã cao hơn mực nước biển rất nhiều vì đường sá đã được nâng cao liên tục đến nỗi có những chiếc cầu như chiếc trên đường Bạch Đằng, Quận Bình Thạnh, không còn thấy bóng dáng bệ đường cho người đi bộ hai bên thành cầu vốn xưa kia phải cao hơn mặt đường xe chạy ít nhất cũng là 30cm.

Liên tục trong 10 năm kể từ 1975, Sở Giao Thông Công Chánh Thành phố Hồ Chí Minh (hay Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã phát huy sáng kiến của những kỷ sư cầu đường tài ba bằng cách mỗi năm đem hàng ngàn tấn đá dăm rãi đầy mặt đường toàn thành phố mà mục đích như công bố trên báo chí là nhằm “gia tăng độ ma-xát bám đường của bánh xe các phương tiện giao thông do lớp bề mặt của nhựa đường đã lão hóa”. Bụi mù mịt. Số bịnh nhân tai-mũi-họng gia tăng (không có số liệu thống kê để biết bao nhiêu người đã không còn sống được vì bụi của đá chất chứa trong phổi trong ngần ấy năm). Rồi khi mùa mưa đến, đá dăm biến mất để tạo điều kiện cho những đợt rãi đá liên tiếp nhiều năm sau đó. Đá đã đi đâu? Lời giải thích của tôi là: chúng đã bị nước cuốn trôi hết xuống cống, làm đầy nghẹt cả hệ thống cống, trở thành kho dự trữ đá dăm cho hậu thế của ngàn năm sau, khi mà không còn núi non nào để khai thác đá phục vụ việc xây dựng. Trời mưa bất cứ buổi nào, dù sáng hay trưa hay chiều hay tối, nước không sao chảy xuống được trong lòng hệ thống cống rảnh đầy nghẹt đá dăm, gây ra ngập úng hay ngập lụt, và người ta gọi đó là “triều cường”. Chiều tan tầm, hàng triệu người về nhà tắm gội, vệ sinh, giặt giũ, nước ào ạt chảy xuống cống nhà ra cống đường rồi do không thể chảy tiếp được phải trào lên lênh láng ngập lụt mặt đường, người ta gọi đó là do “triều cường”. Thủy triều có lên hay có xuống; nghĩa là mặt sóng nước vỗ đập vào bờ cao hay thấp; mà bờ có nghĩa là ven sông ven biển, và sông hay biển thì thấp hơn thành phố, và “triều cường” phải tràn lên hai bên bờ sông chứ sao lại ngoi lên từ miệng cống hai bên đường tráng nhựa! Từ đây suy ra: ắt Thành phố Hồ Chí Minh có địa thế giống như đất nước Hà Lan thấp hơn mặt nước biển chăng?

trieu-cuong

Nhờ Ôn Cố tôi đã Tri được Tân, và mọi chuyện lại đâu vào đấy, theo đúng định luật hấp dẫn vạn vật của tự nhiên, nghĩa là không phải tại dòng nước đen sịt đặc quánh hôi thối bẩn thỉu dưới Cầu Kiệu đã “triều cường” dâng lên trên đường Phan Đình Phùng, Quận Phú Nhuận, cao cách mặt sình những gần chục mét, mà chính là vì nước xả ra từ hàng chục vạn căn hộ đã không sao chui xuống được dòng sông sình lầy lơ đãng dưới Cầu Kiệu. Điều này tương tự như ở bao khu vực khác.

Song, nói thế cũng còn hơi điêu ngoa, không đúng sự thực hòan tòan, vì còn có những khu vực khác mới xây dựng vẫn bị triều cường xâm lấn. Sau này, theo báo chí cho biết đã có sự điều tra bằng cách đào lên, cho người nhái và rôbô lặn tìm hiểu, mới biết thủ phạm là…CSR (trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng) khi đơn vị thi công đã tối đa hóa lợi nhuận, tạo thêm việc làm mai sau cho tập thể nhân viên và công nhân, bằng cách tống hết các bao đất cát, đá, xi măng, rác, xà bần, đồ uế tạp lỉnh ca lỉnh kỉnh xuống miệng cống chính rồi lấp lại, tráng nhựa che kín, ngõ hầu nước sẽ bị nghẹt, đường sá hư hỏng, dân tình lại kêu la, và sẽ có thêm hợp đồng cải tạo hệ thống thoát nước sau đó. Doanh nghiệp xây dựng cầu đường có thêm bi-zi-nét, kỷ sư viết viết vẽ vẽ, công nhân lại có thêm tiền công nhật ít ỏi sống qua ngày đoạn tháng, đường sá có thêm nhiều lô-cốt, kẹt xe nhiều hơn, hạnh phúc những gia đình sống quanh đó sẽ ít hơn, sức khỏe giảm hơn, chi phí y tế và bảo hiểm cao hơn, và dường như tiền thuế doanh thu của doanh nghiệp thắng thầu tiếp ấy đóng cho Nhà Nước sẽ trở thành cái đạo đức của doanh gia dù không bao giờ bù đắp được sự khổ ải của người dân.

Năm hết, Tết đến. Một thời khắc để ôn cố, tri tân, để tìm ra câu hỏi cho một vấn nạn, để tự nhủ mình đã làm gì cho quê hương, đất nước, của phận “nam nhi trái”, để khỏi phải thốt lên lời của Cụ Nguyễn Công Trứ “chẳng nhẽ tiêu ma ba vạn sáu”.

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Tóm lại, không có được những con người liêm-trí-dũng-chuyên để thay thế cho những sản phẩm hồng-chuyên – nhất là khi hồng thì nhợt nhạt phai mờ còn chuyên thì kiểu rãi đá dăm lên đường sá và kiểu rút ruột công trình – thì sẽ không bao giờ cứu được ngập, và sẽ mãi mãi để người ta nhìn thấy những con số không bao giờ dưới ngàn tỷ cho mỗi công trình trong hằng hà sa số những công trình chống ngập của Thành phố Hồ Chí Minh từ cách nay 20 năm cho đến ngày tận thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Phi Trường Tân Sơn Nhất

Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Điểm Ngời Sáng, Điểm Tăm Tối, và Điểm Chói Chang

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-9-2016

nguyen-thai-binh

Điểm Ngời Sáng Cá Nhân

Ông Nguyễn Thái Bình là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016).

Do một sự ngẫu nhiên, tôi trong thời gian vài năm liền được bố trí một phòng ở cạnh phòng của Ông tại Nhà Khách Trung Ương Đảng số 8 Chu Văn An, Hà Nội, những khi tôi ra Hà Nội dự các kỳ họp quốc hội. Tôi được biết đó là căn phòng Nhà Nước cấp cho Ông vì Ông đã từ chối ở tại một “dinh” riêng mà các quan chức đồng cấp “bộ trưởng” như Ông đều được hưởng. Hàng ngày Ông xuống ăn tại canteen của Nhà Khách. Tất nhiên, Ông có ô tô riêng và tài xế đến đón Ông đến Bộ Nội Vụ làm việc; tuy nhiên, mỗi khi đến Kỳ họp Quốc Hội có nhiều đoàn nghị sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh và một hai tỉnh trú ngụ cùng tại 8 Chu Văn An thì Ông chuyên xin đi nhờ chung xe lớn với các đoàn. Cần nói rõ là Nhà Khách Trưng Ương Đảng chỉ có giá trị lịch sử chứ không có giá trị tiện nghi vì không sang trọng hiện đại như các khách sạn khác vốn được bố trí cho tất cả các đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh còn lại, và chỉ trong năm 2016 mới có một thang máy ngoài trời và là thang máy đầu tiên cho tòa nhà bốn tầng này. Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh luôn ngụ tại đấy từ kỳ họp Quốc Hội khóa đầu tiên sau ngày giải phóng.

Mỗi sáng Chủ Nhật, Ông thường sang gỏ cửa phòng tôi để cùng tôi đàm đạo chuyện quốc gia đại sự và chuyện đời, nhờ đó tôi biết thêm nhiều nét về Ông.

Ông ra Hà Nội nhậm chức nhưng vợ của Ông không tháp tùng cùng phu quân vì là một chức sắc Đảng phải công tác ở tỉnh nhà. Cũng vì vậy mà Ông từ chối nhận ở tại một “tư dinh” đòi hỏi quá nhiều người phục vụ và đội cảnh vệ theo tiêu chuẩn cao cấp của một bộ trưởng. Là người sống giản dị, thân thiện, Ông lại rất sâu sắc khi nói với tôi về những khó khăn của công tác Nội Vụ. Tôi hiểu Ông muốn ám chỉ những sự “đối phó” mà Ông rất có thể phải dùng bản lĩnh một vị tư lệnh một Bộ mà ai cũng biết rõ là quyền lực cao vời để hóa giải, vì Nội Vụ giống như cơ chế “điều binh khiển tướng” trong bố trí nhân sự lãnh đạo tại tất cả các địa phương trên toàn quốc, và do đó (a) không thể không có việc nhiều vị đương nhiệm hoặc tiền nhiệm ắt sẽ tìm đến gặp Ông để xin Ông “ban phát ân huệ” để có một chức vụ cho con cho cháu hay cho người quen, cũng như (b) Ông phải xử trí ra sao khi nguồn nhân lực để “bố trí” lại thiếu hụt về số lượng và/hoặc chất lượng cho một chức danh hay một chiếc ghế ở trung ương hay ở địa phương. Ông đã giữ được đức thanh liêm trong thời gian tại vị, không bị điều tiếng gì phương hại đến thanh danh gương mẫu của mình.

Là một chức sắc mẫn cán, ôn hòa, điềm đạm, Ông gần như thuộc nằm lòng tất cả các quy định luật pháp, các nội dung nghị định, các điều khoản thông tư, để khi trả lời chất vấn tại Quốc Hội có thể ứng khẩu để minh chứng đầy đủ cho một nội dung bất kỳ, đến độ nhiều lúc Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng phải cắt ngang, yêu cầu Ông phải nói ngay luôn vào ý chính, khiến hội trường phải cười ầm lên. Nhưng khi bị chất vấn như kẻ tội đồ đối với việc để mặc cho các Bộ có quá nhiều Thứ Trưởng, quá nhiều Vụ Trưởng, quá nhiều “hàm” Vụ Trưởng, Ông Nguyễn Thái Bình đã ứng khẩu thố lộ rằng Ông đã cải tổ Bộ Nội Vụ, gia giảm rất nhiều số lượng “các quan chức” để làm gương nhưng tấm gương đó đã không được “lan tỏa” ra các Bộ khác vì họ quyết không noi theo. Sự tiết lộ sự thật này của Ông làm cả hội trường nín lặng, hiểu Ông hơn, và những tràng vỗ tay tuy chầm chậm nhưng đầy cảm xúc ấy đã kích hoạt một phản ứng cảm thông: từ đó về sau cho đến khi chấm dứt nhiệm kỳ không một nghị sĩ nào muốn chất vấn Ông thêm nữa vì họ đã hiểu cá nhân vị bộ trưởng ấy đã có sự ngời sáng về trách nhiệm trong lẳng lặng làm gương, trong nắm thật chắc công việc quản lý nhà nước đa đoan, trong gìn giữ đức thanh liêm không để vướng các điều tiếng, và trong nếp sống cực kỳ giản dị và tiết kiệm khó thể thấy nơi một “đại quan”.

Điểm Tối Tăm Cơ Chế

Tuy nhiên, Ông Nguyễn Thái Bình là một excellent doer tức một nhà thực thi thực hành kiệt xuất trong giải quyết các yêu cầu cụ thể của công việc chứ không là một excellent thinker tức một nhà hoạch định chính sách tuyệt hảo; có thể vì ngoài sự tận tụy với công việc, sự tận trung với Đảng, sự tận hiếu với dân tộc, Ông không có thực quyền ở tầm vĩ mô, nghĩa là cơ chế chính sách đã được Đảng và Nhà Nước  đề ra như thế nào thì Ông cứ cúc cung tận tụy theo đúng các quy định ấy.

Có lần tôi giới thiệu với Ông một người trẻ tuổi có trình độ ngoại ngữ cao với hai bằng đại học đang làm việc cho một công ty tài chính nước ngoài, không phải đảng viên, nhưng có thể là một người tài giỏi lại có mong muốn được trở thành một công chức để phục vụ địa phương – mà cụ thể là ngành Ngoại Vụ – hoặc trung ương ngay cả khởi sự với chức danh một nhân viên văn phòng do có ý thích “phục vụ” nước nhà. Thế nhưng, Ông bảo tôi hãy nói với người ấy rằng ở địa phương nào và quan tâm làm công chức cho Sở nào thì cứ theo dõi các thông tin thi tuyển công chức tại đó để nộp đơn xin thi đúng theo quy định.

Ông hoàn toàn đúng khi nói như vậy vì (a) đó là quy định giấy trắng mực đen, và (b) Ông phải giữ đức thanh liêm trước mọi sự “nhờ vả” bất kể sự “nhờ vả” hay “giới thiệu” ấy có hay không có các quà cáp hối lộ hay đền ơn.

Tuy nhiên, chính các quy định giấy trắng mực đen mà Ông luôn tuân thủ lại có những khoảng tối mà cơ chế do vô tình hay hữu ý đã đặt ra khiến có lợi nhiều hơn cho các tâng lớp cao cấp của nội bộ Đảng. Chẳng hạn cơ chế ấy trong khi (a) không hề ấn định cách hành xử mỗi khi có sự “tiến cử hiền tài” từ người dân thì (b) lại ấn định sự cho phép mỗi đảng viên có quyền “tự tiến cử bản thân là hiền tài” cho một chức danh cao cấp cụ thể nào đó. Vụ việc của Trịnh Xuân Thanh vừa qua là một minh chứng cho sự tồn tại của một “quy trình” quái gở cho phép sự “tự tiến cử bản thân làm lãnh đạo” như thế. Tương tự, vụ của Vũ Quang Hải và Vũ Đình Duy chẳng khác nào sự tùy tiện “sử dụng nhân tài” của Bộ Công Thương lại càng khẳng định cho sự bôi tro trát trấu vào cái gọi là quy trình ấy.

Ông Nguyễn Thái Bình đã không là excellent thinker để có thể nghiệm ra những quái gở nào đang tồn tại trong “quy trình” của Bộ Nội Vụ, cũng như cơ chế đã không cho Ông cái empowerment thực quyền để đề xuất với Đảng và Nhà Nước  bãi bỏ những chi tiết quái gở cụ thể nào của hệ thống quy trình dụng nhân hiện hành.

Nghe đâu ngày xưa bên Tàu có vua này vua nọ phải tắm gội trai tịnh nhiều ngày để nhiều phen đến thảo lư của một người nào đó mà thiên hạ “đồn đại” rằng có thực tài để thỉnh mời về giúp triều đình “khởi nghiệp.” Chỉ mới nghe lời “đồn đại” thôi mà đã trọng thị như thế.

Vậy thì cơ chế hành xử của Đảng và Nhà Nước Việt Nam ít ra cũng nên là mỗi khi được “đại quan” hay “thường dân” tiến cử “hiền tài” thì

(a) gởi thư mời người được tiến cử ấy đến để tiếp xúc tìm hiểu theo kiểu mà Tây Phương gọi là interview tức phỏng vấn; sau đó

(b) thực hiện việc mà Phương Tây gọi là Work History Verification hoặc ngắn gọn là Background Check tức thẩm tra lý lịch tức việc mà Việt Nam thực hiện rất dễ dàng do không áp dụng các cấm đoán thẩm tra về “đời tư” như ở các nước tư bản tiến tiến, rất bài bản theo “quy trình” đối với đảng viên, và cực kỳ nghiêm nhặt đối với thường dân; và rồi

(c) áp dụng cơ chế mà Âu Mỹ gọi là probation mà ta gọi là thử việc để qua đó xác định đó là người tài thực sự hay chỉ là “đồn đại”.

Đã “đặc cách” cho phép đảng viên cấp cao được tiến cử con mình làm “hiền tài” thậm chí tự tiến cử chính mình làm hiền tài cho các chức danh lãnh đạo cao ngất, thì sao lại không thể “đặc cách” cho một người dân ngoài Đảng được ai đó tiến cử sẽ được mời đến gặp chức sắc cơ quan công quyền theo 3 bước nêu trên mà không cần phải chờ nộp đơn thi công chức cấp thấp khi nào có thông báo?

Điểm Chói Chang Chính Sách & Chủ Trương

Trọng dụng nhân tài là điểm chói chang của tất cả các chính sách cùng chủ trương của Việt Nam từ thời phong kiến xa xưa đến thời dân chủ hiện nay, được thường xuyên lập đi lập lại trong tất cả các phát biểu chính thức của tất cả các lãnh đạo.

Việc tự kiếm tìm nhân tài và tìm thấy nhân tài để rồi ra sức chiêu dụ nhân tài mới là việc đúng đắn và đầy lý tưởng. Việc một ông giám đốc một công ty nước ngoài đã thôi việc, không phải Đảng viên, vừa qua đã tự ứng cử và trúng cử vào Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh rồi được phong làm giám đốc một Sở ở Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “trọng dụng nhân tài” vì (a) đã không có sự ra sức chiêu dụ nào cho việc người ấy rời bỏ một công việc tốt đẹp đang có để về phục vụ nhân dân, và vì (b) người ấy đã là đại biểu Hội Đồng Nhân Dân. Vì thế, Thành phố Hồ Chí Minh chẳng có gì để tự hào về nội dung “trọng dụng nhân tài” cả.

Để “trọng dụng nhân tài” thì chỉ cần theo cơ chế hành xử ba bước như đã đề xuất ở mục trước, mà khi thực hiện các bước ấy, Đảng và Nhà Nước không những không phải “hạ mình” trai tịnh mà còn không phải đến tận nơi đón rước kiểu phong kiến ngàn xưa, nên vấn đề “thể diện” của Đảng và Nhà Nước không hề suy suyển.

Không có cơ chế “trọng dụng nhân tài” như vậy, Việt Nam sẽ chỉ có thể có được một Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Thái Bình có thể đi vào sử sách nước nhà như một đại quan thanh liêm mẫu mực được nhân dân kính trọng thương yêu; nhưng sẽ có rất nhiều Trịnh Xuân Thanh, Vũ Quang Hải, và Vũ Đình Duy cùng những tên tương cận gây họa cho cả dân tộc.

Kính biết ơn Ông Nguyễn Thái Bình vì đã là vị Bộ Trưởng đức độ của nước non này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết cùng thể loại “đánh giá cá nhân”:

Chính Khách:

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc

Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Nguyễn Thiện Nhân

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Thường Dân:

Giáo Sư Nguyễn Quang Tô

Giáo Sư Trương Tuyết Anh

Giáo Sư Lê Văn Diệm

Cô Lại Thu Trúc

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-6-2016

A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2016

Bài trước tôi cung cấp bản dịch một bài viết trên Perspective của nhà báo Mỹ James Borton khi ông có mặt ở Hà Nội để viết về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. Từ trước đến nay tôi trả lời các câu hỏi của James Borton toàn bằng email, song thay vì email Việt-Mỹ vượt không gian Thái Bình Dương như trước thì nay là lần đầu tiên email Mỹ-Việt vượt không gian từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bài viết trên tờ Washington Times vài ngày trước khi Air Force One đáp xuống Nội Bài, James Borton có trích đăng ý kiến của tôi về sự “xoay trục” riêng của Việt Nam, và bản dịch tiếng Việt của tôi như dưới đây có thể cung cấp cho bạn đọc sự so sánh giữa những quan ngại hoặc lối mòn tư duy và những kết quả thực sự đã hình thành sau khi Tổng Thống Obama đặt chân đến Việt Nam. Kính mời bạn đọc tham khảo.

*********

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

James Borton – viết riêng cho Thời Báo Hoa Thịnh Đốn, ngày Thứ Tư 18 Tháng 5, Năm 2016.

HÀ NỘI – Từ các quầy hàng trên phố nhộn nhịp  quanh hồ Hoàn Kiếm cho đến khách sạn Motropole kiểu Pháp thực dân, thủ đô Việt Nam đang phô bày sự sầm uất hối hả mang tính thương hiệu của mình trong thời gian cận kề chuyến thăm ba ngày mang tính bước ngoặt của Tổng thống Obama bắt đầu từ Thứ Hai.

Trong khi Việt Nam, một đất nước dạn dày qua chiến tranh, lúc không thể lựa chọn các lân bang của mình thì chắc chắn có thể chọn những bạn bè của mình. Là những kẻ thù một thời không đội chung trời bị hằn nặng bởi một lịch sử đẫm máu và bi thảm, Washington và Hà Nội ngày càng sẻ chia những lợi ích chiến lược chồng chéo nhau có thể chuyển hướng quỹ đạo hợp tác an ninh trong vùng Biển Đông đang tranh chấp.

Các nhà phân tích cho rằng trong sáu tháng tại vị cuối cùng của mình, Ông Obama dự định sẽ nêu rõ Việt Nam là một trung tâm của sự “xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương của chính quyền Mỹ, bao gồm chuyến thăm Việt Nam như một phần của chuyến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G-7 ở Nhật Bản – lần tham dự thứ tám và cũng là lần tham dự cuối cùng của Ông dưới cương vị Tổng Thống – khai mạc ngày 26 tháng 5.

Ông không quan tâm đến việc giới lãnh đạo Việt Nam có thể cảm thấy không thể tiếp tục hoàn tất công việc do đã bị thay thế vào năm tại vị cuối cùng của Ông. Về cơ bản, Tòa Bạch Ốc thừa nhận rằng chuyến đi này là cơ hội cuối cùng của Ông Obama để thắp lên ánh sáng đối với một ưu tiên đã được thảo luận nhiều nhưng cũng đã bị trì hoãn quá lâu – sự thay đổi trọng tâm của Mỹ từ vùng Trung Đông hỗn loạn sang phía đang vừa là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới vừa là nơi đang trong tiến trình trở thành đấu trường nổi bật tiếp theo cho sự cạnh tranh của các siêu cường.

Hai thập kỷ sau khi bình thường hóa thương mại, Mỹ và Việt Nam đang gắn kết nhau hơn do sự trổi lên về kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc, đặc biệt là các đòi hỏi chủ quyền ngày càng quyết đoán hơn của Bắc Kinh ở Biển Đông. Một thước đo của sự gần gũi gia tăng: các tin phát ra của báo chí Việt Nam cho biết phái đoàn Hoa Kỳ, bao gồm các cố vấn của tổng thống, các đội an ninh và các đại diện của các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân, lên đến hơn ngàn người.

Đối với chuyến đầu tiên đến Sân bay quốc tế Nội Bài, một vị khách sẽ thấy dấu hiệu những ảnh hưởng của Mỹ ở khắp nơi. Ngay bên ngoài thủ đô, nơi các máy bay B-52 của Mỹ từng tiến hành những đợt oanh tạc lớn nhất, lại là một nhà máy  mới của hãng xe Ford. Gần đó là những bảng quảng cáo cao ngất giới thiệu Nike – một trong những công ty sử dụng đông lao động nhất Việt Nam. Các chủ nhân đất nước đón tiếp Ông Obama cũng sẽ tổ chức quốc yến để thiết đãi Ông trong thời gian Ông ở Việt Nam.

Trong khi vấn đề an ninh và nhân quyền có thể chi phối chương trình nghị sự chính thức, vẫn có đồn đoán tại Đồi Capitol và giữa các quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ rằng Ông Obama có thể đảo ngược hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã qua nhiều thập niên của Mỹ, một trong những tàn tích cuối cùng của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Thượng Nghị Sĩ Bang Maryland Ông Benjamin L. Cardin, đảng viên cao cấp của Đảng Dân Chủ thuộc Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện, cho biết trong một email rằng ông đã “bày tỏ với chính phủ rằng chúng ta phải quan tâm đảm bảo bất kỳ việc bán vũ khí tiềm năng nào cũng phù hợp với mối quan hệ song phương của chúng ta và hỗ trợ ổn định khu vực. ”

Một đề xuất có thể xảy ra đối với việc giảm bớt hoặc bãi bỏ lệnh cấm vận có thể được thể hiện bằng sự đáp ứng của Hà Nội trước yêu cầu của Hải Quân Mỹ cho được tiếp cận nhiều hơn với Vịnh Cam Ranh, một tiền đồn chủ chốt của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mà hiện nay có thể cho phép tiếp cận cực kỳ quan trọng trong trường hợp có xảy ra khủng hoảng ở Biển Đông.

Mặc dù bạo lực vẫn tiếp diễn ở Trung Đông và sự không chắc chắn từ sự đấu đá tranh chức Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Obama và các quan chức của Ông được cho là rất quan tâm đến việc trấn an các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương – trong đó Việt Nam là đầu tàu – rằng Mỹ sẽ duy trì các cam kết đối với khu vực. Điều đó bao gồm việc triển khai đến 60% lực lượng hải quân Hoa Kỳ.

Cũng như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang tìm kiếm sự bảo đảm từ Washington rằng Mỹ sẽ cân bằng việc quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Đại Hội lần thứ 12 tổ chức vào tháng Giêng đã chọn vị Tổng Bí Thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng thay vì nhà cải cách Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm lãnh đạo đảng. Ngoài ra, cựu lãnh đạo công an Trần Đại Quang được đưa lên làm Chủ Tịch Nước. Điều này có thể gây quan ngại cho nhiều người ở Phương Tây vốn cho rằng sự việc có thể là dấu hiệu cho sự hướng về quyền lực và gia giảm các quyền tự do.

Song, Ông Hoàng Hữu Phước, một nghị sĩ Quốc Hội, lại khẳng định rằng “Không bao giờ có việc Việt Nam sẽ giảm đà cải cách kinh tế và chính trị, cũng như không bao giờ có việc ngưng sự chuyển hướng của riêng mình về phía Mỹ để quay sang Trung Quốc.”

Trung Quốc so với Hoa Kỳ

Ảnh hưởng mạnh về kinh tế cùng quyền lực mềm ngày càng gia tăng của Trung Quốc mang tính một hấp lực, nhưng các cuộc đàm phán với các quan chức ở Việt Nam lại nêu bật lên rằng lãnh đạo Đảng của Việt Nam thích duy trì sự độc lập của mình và không muốn đi vào quỹ đạo của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Hà Nội đã nhiệt tình tìm các đầu tư của Mỹ và đã ký vào thỏa thuận thương mại Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương của Ông Obama – thỏa thuận rõ ràng không bao gồm Trung Quốc – mặc dù TPP đòi hỏi phải có cải cách nhiều hơn, đặc biệt là tại các doanh nghiệp nhà nước, tính minh bạch, và quyền con người.

Lãnh đạo Ngũ Giác Đài Tướng Ashton Carter và các cố vấn của ông đang tìm kiếm sự hợp tác lớn hơn từ Việt Nam như họ đã đẩy nhanh số lượng các tập trận không chiến đấu vào thời điểm leo thang căng thẳng trong khu vực. Việc Trung Quốc xây dựng các hòn đảo trên các rạn san hô, bố trí các hệ thống radar tiên tiến ở quần đảo Trường Sa, và tên lửa đất đối không cùng chiến đấu cơ ở quần đảo Hoàng Sa đã làm tiến xa hơn và sâu sắc hơn sự hợp tác quân sự Mỹ-Việt.

Sau vụ Trung Quốc vào tháng 5 năm 2014 đưa một dàn khoan dầu của Tổng Công Ty Khai Thác Dầu Trung Quốc CNOOC tại nơi Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình, chính quyền Obama, trong một cử chỉ mang tính biểu tượng, đã nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí, cho phép Hà Nội mua các tàu tuần duyên của Mỹ, một động thái được Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Đảng Cộng Hòa John McCain ủng hộ.

Hà Nội đã sử dụng các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để thúc đẩy quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ

Vào tháng rồi, Đại sứ Phạm Quang Vinh trong diễn văn tại Texas đã phát biểu rằng “Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam và tin rằng yếu tố rào cản này của quá khứ cần được loại bỏ để phản ánh việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ của chúng ta bắt đầu từ hai thập kỷ trước đây và mức độ hiện tại của quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta.”

Và tại một buổi điều trần mới đây của Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ, khi trình ra các bản đồ cho thấy khả năng tấn công của các chiến đấu cơ Trung Quốc đánh vào toàn vùng Biển Đông, phía bắc Philippines và Việt Nam, ông Carter cho biết ông ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đẩy mạnh việc bán các khí tài quốc phòng. Các lực lượng Hoa Kỳ đã hỗ trợ xây dựng năng lực các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Việt Nam như Cảnh Sát Biển và Lực Lượng Giám Sát Đánh Bắt Cá của Việt Nam.

“Các gắn bó về quốc phòng và an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển như kết quả của sự hội tụ các quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông” như lời Carlyle A.Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, phát biểu tại Học Viện Quốc Phòng Úc.

Nhưng chính phủ chuyên chế của Việt Nam cùng các ghi nhận có vấn đề về nhân quyền có thể là những hòn đá cản ngăn những mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Murray Hiebert, lãnh đạo cấp cao và phó giám đốc Chương Trình Đông Nam Á của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế, cho rằng:  “Một trong những yêu cầu hàng đầu của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là cải thiện môi trường nhân quyền. Tình hình đã được cải thiện rất nhiều trong thập niên qua, nhưng Washington ước tính vẫn còn khoảng 100 blogger cùng các nhà hoạt động dân chủ đang bị giam giữ.”

*********

Những quan ngại và dè dặt như của Murray Hiebert đối với cái gọi là rào cản khả dĩ làm lu mờ một sự bình thường hóa quan hệ hoàn toàn và triệt để của Mỹ đối với Việt Nam, cuối cùng đã được minh chứng là không còn cơ sở qua tuyên bỗ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí Mỹ đã áp đặt chống Việt Nam trong 50 năm qua.

Đó là sức mạnh của địa-chính trị.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Source of Origin: James Borton. 18-5-2016. Obama Woos Vietnam amid China’s Economic Rise, South China Sea Aggression. http://www.washingtontimes.com/news/2016/may/18/obama-woos-vietnam-amid-chinas-economic-rise-south/

Tham khảo: Loạt bài viết nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước trong bài viết tựa đề: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc, đăng ngày 23-5-2016 tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/23/van-na%CC%A3n-thu%CC%A3c-su%CC%A3-nha%CC%83n-tien-tren-bie%CC%89n-dong-to%CC%A3i-ac-cu%CC%89a-trung-quoc/

Hoàng Hữu Phước, 11-5-2016. Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/11/trang-su-chua-duoc-tiet-lo-ve-hoa-ky/

Hoàng Hữu Phước, 15-5-2016. Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/15/arms-embargo-van-de-hoa-ky-cam-van-vu-khi-viet-nam/

Hoàng Hữu Phước, 20-5-2016. Biển Đông Có Phải Là East Sea? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/20/bien-dong-hay-bien-hoa-nam/

Hoàng Hữu Phước, 22-5-2016. Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/22/vie%CC%A3t-nam-kie%CC%A3n-trung-quoc-ra-toa-an-the-hague/

Lại Thu Trúc, 14-5-2016. Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Công Dân Lại Thu Trúc Của Việt Nam Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Tháng 5 Năm 2016

(có bản dịch tiếng Việt bên dưới phần nguyên tác)

Ho Chi Minh City, May 14, 2016

 

The President of The United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this May, wish to present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my proposals as follows.

The USA should consider to timely and completely lift the arms embargo imposed against Vietnam from 1975 extended from a previous one against North Vietnam in 1964.

The bilateral relations between the USA and Vietnam have been well-developed with obvious significant progress on many issues during the past two decades resulting in the diplomatic, economic, and educational activities, and particularly the Comprehensive Partnership Agreement between the two countries. However, the impact on Vietnam from the said arms embargo has not enabled Vietnam to improve its security capabilities, as the country is in dire need of lethal weapons for its defense purposes particularly at the non-stop aggressive actions of China in its territorial claiming in the South China Sea causing constant conflict and tension threatening not only the sovereignty and safety of many countries of ASEAN but also the commercial gateway of the world’s merchant shipping navigation.

In fact, the USA has partly lifted the said embargo for transferring to Vietnam the maritime security-related defense articles, thanks to which the maritime security capabilities of Vietnam could be but partly improved.  But Vietnam needs more than that for its coastal defense and its ground forces as tension and conflict would not arise only at sea.

Issues of say human rights may still be haunting your decision for a total lifting of the embargo; however, the cultural aspects of the differentiation in that matter, the fast progress of reforms of Vietnam, the security of the whole ASEAN, and the positive regional role of the country should be considered to justify the lifting strategically.

I hope that with your kind consideration, influence and power, the total lifting of the arms embargo against Vietnam will soon be materialized to pave the way to the uniformed strengthening of the defense capabilities of the ASEAN countries for the benefits of the region and the world.

Most respectfully,

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Bản dịch tiếng Việt ngày 17-5-2016 của Hoàng Hữu Phước:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ

 

Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhân sắp có chuyến thăm của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Năm này, kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài khuyến nghị sau:

Hoa Kỳ nên xem xét gỡ bỏ kịp thời và hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đã áp đặt chống Việt Nam từ 1975 sau khi gia hạn lịnh cấm đã có trước đó chống Bắc Việt năm 1964.

Quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ rõ nét có ý nghĩa về nhiều mặt trong hai thập kỷ qua, dẫn đến kết quả là có những hoạt động trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và giáo dục, đặc biệt là việc ký kết Thỏa Thuận Đối Tác Toàn Diện giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, tác động của lịnh cấm vận đã không giúp Việt Nam tăng cường năng lực phòng vệ vì Việt Nam rất cần có các vũ khí sát thương phục vụ quốc phòng, đặc biệt trong hoàn cảnh Trung Quốc có các hành động không ngừng gây hấn tuyên bố chủ quyền biển đảo ở Biển Đông gây ra những xung đột căng thẳng thường xuyên đe dọa không những chủ quyền và sự an nguy của nhiều quốc gia trong khối ASEAN mà còn đối với cửa ngõ giao thương của tuyến hàng hải này của thế giới.

Trên thực tế, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lịnh cấm vận để chuyển cho Việt Nam những khí tài liên quan đến an ninh biển, nhờ vậy mà năng lực an ninh biển của Việt Nam được nâng cao dù chỉ một phần. Song, Việt Nam cần nhiều hơn thế để phòng thủ suốt vùng duyên hải cũng như lực lượng mặt đất do các căng thẳng xung đột không chỉ có thể xảy ra ngoài biển khơi.

Những vấn đề như nhân quyền chẳng hạn vẫn làm Hoa Kỳ đắn đo việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí; tuy nhiên, các khía cạnh văn hóa đối với những dị biệt trong vấn đề ấy, tiến bộ vượt bậc trong cải cách của Việt Nam, an ninh của cả khối ASEAN, cùng với vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực nên được xem xét đến như điều kiện đủ để tiến đến việc gỡ bỏ mang tính chiến lược lịnh cấm vận.

Tôi kính mong sự xem xét của Tổng Thống cùng ảnh hưởng và quyền lực của Ngài sẽ giúp sự gỡ bỏ lịnh cấm vận vũ khí Việt Nam sẽ sớm biến thành hiện thực, mở đường cho sự tăng cường đồng bộ về năng lực phòng thủ của các nước ASEAN vì lợi ích của khu vực và thế giới.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hoàng Sa

Tàu Mỹ Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-3-2016

Hoàng Sa gần đây đã trở thành phao cứu sinh cho bất kỳ ai đột ngột muốn hùng biện về lòng yêu nước vì sẽ là luôn là điều đội đá vá trời hay vượt tầm vói hoặc quá tầm với nếu lồng ghép lòng yêu nước với  việc tu thân, tề gia, luyện trí, phát triển kinh tế dựng xây quốc gia cường thịnh. Song, muốn hùng biện cho hay về Hoàng Sa, nhất thiết phải hiểu đúng về Hoàng Sa trong tương quan hiểu rõ về thế giới sử mà từ đó rất có thể sẽ có những cái nhìn tường tận về Tàu, về Mỹ, về ta.

Tàu

Từ cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ của Tàu nhằm “dạy cho Ấn một bài học” do Ấn đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng tỵ nạn chính trị khi Tàu chiếm Tây Tạng 1959, khi ngày 20-10-1962 Tàu ồ ạt tấn công theo thế gọng kìm suốt chiều dài 3.225 km dọc biên giới tự nhiên của dãy Hy Mã Lạp Sơn đánh vào hai trận tuyến Ladakh và McMahon chiếm lấy Rezang La ở phía Tây và Tawang ở phía Đông, thế giới sử đã cho thấy có những sự thật sau:

1- Sự giao tranh đã nổ ra trên quy mô rộng lớn trên nóc nhà của thế giới với điều kiện núi non trùng điệp và hiểm trở cao hơn 4.000 mét đầy băng giá, với một bên là quân Tàu ồ ạt biển người và một bên là quân Ấn với số quân tuần tra ít ỏi trang bị thô sơ. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp tấn công bất ngờ và vào nơi khó ngờ.

2- Cả hai bên chỉ sử dụng bộ binh; và trong khi sự vắng bóng của hải quân hai bên là sự đương nhiên, thì điều kỳ lạ là Ấn Độ hoàn toàn sai lầm khi đã không sử dụng không quân. Vào thời điểm đó, không quân Ấn mạnh hơn, và Tàu đã không thể sử dụng không quân do (a) Tàu chưa phát triển không quân hùng mạnh, (b) địa hình núi non hiểm trở, (c) quân đội Ấn tại dãy Himalaya chỉ có số ít, và (d) vững tin vào chiến thuật biển người tràn ngập dồn Ấn vào thế lưỡng đầu thọ địch theo binh pháp cổ Tàu. Cũng vào thời điểm đó, Ấn chỉ sử dụng không quân để tiếp tế lương thực và đạn dược cho đoàn quân đã bị Tàu đánh cho tan tác, vì (a) lãnh đạo Ấn là Thủ Tướng Nehru bối rối và lúng túng với dàn tướng lĩnh không biết phải đối phó ra sao cũng như chưa bao giờ cho rằng biên cương Himalaya thiên nhiên khắc nghiệt sẽ không làm chùn bước bất cứ mưu đồ xâm chiếm nào, (b) run sợ việc ném bom và không kích sẽ gây nên tội ác lớn vì giết quân Tàu đang ồ ạt xông lên đông hơn kiến trên mặt đất chết như rạ, (c) bàng hoàng vẫn không tin là nước cộng sản mà Ấn đã nhanh chóng công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ lại bất ngờ tấn công mình, và (d) đợi chờ sự ra tay cứu viện của Mỹ và Liên Xô. Điều này cho thấy Tàu đã biết rõ về cung cách của đối phương “dám làm gì” và “không dám làm gì” để xuất chiêu chiếm thế thượng phong.

3- Cuộc tấn công của Tàu nổ ra cùng ngày với biến cố mà thế giới Sử gọi là “Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba” khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau với sự chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp cổ Tàu trong chớp lấy thời cơ bành trướng ngay khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô (nay là Nga) có vấn đề căng thẳng về quân sự.

4- Ngày 20-11-1962 tức sau 32 ngày xâm lược Ấn Độ, Tàu đơn phương tuyên bố rút quân ngay khi hay tin đáp lời kêu gọi của Ấn, Mỹ bắt đầu đưa hàng không mẫu hạm và các chiến đấu cơ đến Ấn. Việc “rút quân” này khiến đặt Mỹ vào tình trạng không thể triển khai chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho Tàu, thậm chí làm Tàu tránh nguy cơ bị đại bại phải mất các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Ấn. Điều này cho thấy Tàu chỉ tuyên bố “rút quân vì đã dạy xong cho kẻ thù một bài học” khi đã đại bại hoặc khi đánh hơi thấy sắp có nguy cơ đại bại.

5- Vào ngày 03-10-1962 tức chỉ chục ngày trước khi xua quân xâm lược Ấn, Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai thăm New Delhi và đã hứa với Thủ Tướng Ấn Jawaharlal Nehru rằng hai nước hữu hảo tốt đẹp sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau. Điều này cho thấy Tàu mỗi khi mở miệng hứa điều gì là chỉ để che đậy một mưu đồ ngược lại.

6- Liên tục trong các năm 1951 và 1952, Tàu tái khẳng định Tàu không có vướng mắc gì về lãnh thổ với Ấn. Tháng 11-1956 Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai tái tuyên bố  rằng Tàu không có tranh chấp gì về lãnh thổ với Ấn nhưng bản đồ chính thức sử dụng toàn quốc của Tàu luôn vẽ nước Tàu gồm luôn 120.000 km2 bên trong lãnh thổ của Ấn. Để rồi sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu lặng lẽ xây dựng hệ thống đường sá cùng các tiền đồn tại vùng Aksai Chin của Ấn từ năm 1956 mà đến 12 năm sau, lúc tất cả đã hoàn tất thì Ấn mới hốt hoảng phát hiện. Thậm chí gần đây vào ngày 15-4-2013 Tàu chiếm 640km lãnh thổ Ấn dọc theo biên giới Depsang, Chumar và Pangong Tso của Ấn; và năm 2014 Tàu lấn sâu vào vùng Burtse ở Ladakh đến 30km và khi binh sĩ Ấn tiến đến, lính Tàu cầm bảng ghi câu tiếng Anh “This is Chinese Territory. Go Back!” (Đây là lãnh thổ Tàu. Hãy lùi lại!). Điều này cho thấy Tàu không bao giờ có tranh chấp lãnh thổ với bất kỳ quốc gia nào cả, mà Tàu chỉ xây dựng cơ sở tại những nơi Tàu bảo đó là của Tàu.

7- Năm 1954 Tàu đề ra khẩu hiệu Hindi-Chini bhai bhai (Ấn-Hoa huynh đệ) cùng Năm Nguyên Tắc Chung Sống Hòa Bình với Ấn Độ, theo đó hai nước sẽ hữu hảo giải quyết các bất đồng . Thủ Tướng Nehru bỏ ngoài tai lời khuyên của Thủ Tướng Ba Swe của Miến Điện (tức Burma, nay là Myanmar) rằng đừng tin những hứa hẹn của Chu Ân Lai. Nehru bị huyễn hoặc bỡi những lời hoa mỹ của Tàu, và thậm chí nhân nhượng Tàu về vấn đề Tây Tạng để hy vọng nhận được từ Tàu sự hình thành một liên minh khối trục Á Châu giữa Ấn và Tàu trên cơ sở đối tác chiến lược hùng mạnh. Hậu quả là sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu tuyên bố vùng Arunachal Pradesh 90.000km2 của Ấn có tên gọi Nam Tây Tạng nên thuộc về Tây Tạng tức thuộc về Tàu do Ấn đã công nhận Tây Tạng thuộc Tàu. Khi đã quá muộn lúc biết được bộ mặt thật của Tàu, Nehru vào năm 1959 chấp nhận cho Đức Dalai Lama tỵ nạn chính trị sau khi Dalai Lama đào thoát khỏi Lhasa vì cuộc khởi nghĩa chống Tàu thất bại. Điều này cho thấy Tàu không bao giờ muốn làm bạn với bất kỳ ai, và chuyên đề ra các khẩu hiệu để sử dụng các khẩu hiệu này như thứ bùa mê thuốc lú để săn mồi.

8- Tàu đã dồn Ấn vào thế bị lấn chiếm, đến độ Ấn sẵn lòng không tiếp tục đòi chủ quyền với phần diện tích 38.000km2 Jammu và Kashmir trong vùng Aksai Chin nếu Tàu không tiếp tục bảo phần diện tích 90.000km2 trong vùng Arunachal Pradesh kể cả Tawang là của Tàu. Điều này cho thấy Tàu luôn giở thủ đoạn chây lỳ tức kéo dài thời gian cho mọi sự trở thành việc đã rồi trong bành trướng xâm lược để những khi không thể ra tay sáp nhập bằng vũ lực thì cứ tự động vẽ bản đồ gồm thâu luôn lãnh thổ hay lãnh hải nước khác mà không cần tài liệu chứng minh chủ quyền, và tự động đổ quân đến đồn trú xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự và dân dụng.

Mỹ

Việc Mỹ đã không có tầm nhìn chiến lược quân-địa-chính-kinh-tài đã quá hiển nhiên không thể nào chối cãi. Vì không có tầm nhìn xa tối thiểu 50 năm, Mỹ đã xem Việt Nam như kẻ thù phải diệt tiêu bằng mọi giá, kể cả ủng hộ Tàu (mà Việt Nam dũng cảm gọi thẳng là Trung Quốc) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và ủng hộ chư hầu của Tàu là Campuchia (mà Việt Nam hay ỏn ẻn gọi là Khmer Đỏ chứ không dám gọi tên nước) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Khi 70.000 dân quân Việt Nam đánh tan 700.000 chiến binh tinh nhuệ Tàu bỏ chạy về bên kia biên giới, Mỹ không có cớ cấm vận Việt Nam vì Việt Nam không bước qua đường biên giới Việt-Tàu trên dường truy sát giặc Tàu. Mỹ vội có nhiều bài báo nói Tàu đã rút quân sau khi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi dân quân Việt Nam đánh bật Campuchia ra khỏi lãnh thổ, đồng thời nhận thấy nhân dân Campuchia bị nạn diệt chủng do chính phủ Campuchia điên loạn mà thế giới làm ngơ, Việt Nam đành tiến quân qua bên kia đường biên giới truy sát tiêu diệt chính phủ quái vật của Campuchia “once and for all” (kiểu Mỹ: một lần cho tuyệt mối họa về sau), thì Mỹ lập tức xem như có cơ hội bằng vàng để tuyên bố cấm vận kinh tế Việt Nam vì tội xâm lược Campuchia. Mỹ sau đó tăng cường viện trợ cho Campuchia, giúp Campuchia đoạt các đơn hàng khổng lồ về may mặc do Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO tận tình tận tụy tận tâm chỉ dẫn chỉ bảo chỉ dạy Campuchia đáp ứng các yêu cầu về tổ chức công đoàn kiểu Mỹ và tổ chức sản xuất để cấp cho Campuchia giấy thông hành ưu tiên bán hàng vào Âu Mỹ. Cấm vận Việt Nam để bần cùng hóa Việt Nam, giúp đỡ Campuchia để tước luôn khả năng kiếm sống bằng nghề may mặc của Việt Nam, Mỹ đã như kẻ thất học không nhìn xa trông rộng. Việt Nam yếu đi, dẫn đến sự lấn lướt của Tàu, đe dọa cả ASEAN. Campuchia mạnh hơn, và Campuchia trở về cạnh Tàu để phản phúc Mỹ, trở thành con ngựa thành Troy làm Mỹ muối mặt ở hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Nhận ra việc Việt Nam là chỗ dựa về an ninh cho cả khu vực ASEAN từ đó bảo vệ được Châu Đại Dương với vùng Nam Cực có nhiều căn cứ nghiên cứu tối mật của Mỹ, Mỹ đã có những bước đi đúng nhưng muộn màng. Đúng, chẳng hạn như mời Việt Nam làm một thành viên của Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Đúng, chẳng hạn như đã nhận ra tầm quan trọng cực kỳ của Biển Đông. Muộn màng vì Việt Nam bây giờ mới được Mỹ xem trọng để yên thân leo lên được ngưỡng đầu tiên của  sự phát triển, thay vì đã hùng mạnh hùng cường từ nhiều chục năm trước – với sự giúp đỡ của Mỹ. Muộn màng, vì Tàu đã quá mạnh đối với Mỹ và thế giới khi đầu tư Tàu tràn ngập thế giới từ Châu Phi ngập tràn khoáng sản đến khu vực Nam Mỹ trực tiếp đe dọa Mỹ từ phía Nam, từ thực tế đồng tiền Tàu đã thành tự do chuyển đổi, và từ thực tế Tàu thành lập hệ thống các ngân hàng cạnh tranh với cả các định chế tài chính như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, hay Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ADB, v.v.

Việc Mỹ đưa các chiến hạm đến Biển Đông với chiêu bài xoay trục về hướng Đông đã không tôn được vị thế và vai trò của Mỹ ở khu vực này của thế giới. Khi Mỹ hùng dũng tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12