Category Archives: Quản Trị Chiến Lược

The 7 C’s of Success – 7 Chữ C Của Thành Công – Phiên Bản Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-5-2020

Qua hai bài “7 Chữ C Của Thành Công – The 7 C’s of Success – Phiên Bản Tom Morris” và “7 Chữ C Của Thành Công – The 7 C’s of Success – Phiên Bản Hideo Nakajima”, các bạn ắt rõ tôi đánh giá cao phiên bản của Hideo Nakajima hơn vì những nội dung như của Tom Morris thì bất kỳ ai hành nghề “đào tạo kỹ năng mềm” cũng đều có thể tạo ra một phiên bản dạy đời “7 Chữ C Dẫn Đến Thành Công” khác để thuyết giảng chỉ thuần dựa trên thuật hùng biện; trong khi Hideo Nakajima ghi lại sự chiêm nghiệm của một nhà nghiên cứu kinh sử (lịch sử kinh thương) cho nhận xét về những thực tế hiển nhiên của những công ty nước ngoài nào đã thành công cụ thể tại thị trường Nhật Bản vốn khó tính về đòi hỏi siêu chất lượng và khó khăn về văn hóa, sở thích, ý thức tự tôn, vô thức tự cao, và tâm lý dị ứng ngoại (không phải bài ngoại).

Trong hơn 7 ngày qua, các bạn ắt hẳn cũng có vài người đã (a) liên tưởng đến vài hay nhiều ý trong số các Chữ C của Tom Morris và Hideo Nakajima để nhận xét về chính mình hoặc rút ra những so sánh với những chức sắc nơi mình làm việc, (b) tự luận vì sao ta hoặc những người ta biết cũng đã có hay từng có các Chữ C ấy nhưng lại không thể có cái gọi là “thành công” vậy “thành công” là gì, hoặc (c) tìm kiếm trên Google để thấy biết bao vị này vị nọ vị kia rặn đẻ ra bao cái phiên bản khác cùng tên gọi là “The 7 C’s of Success” mà các bạn đừng hòng kiểm chứng được xem chúng có đến từ thực tiễn kinh trải (kinh qua và trải nghiệm) của người viết hay chỉ thuần sáng tạo tư duy của ông ta/bà ta/hắn ta/ả ta/ẻm ta.

Trong tâm thế như vậy, các bạn giờ đây ắt hẳn đã sẵn sàng để xem “7 Chữ C Dẫn Đến Thành Công – Phiên bản Hoàng Hữu Phước” dưới dạng những liệt kê các hành trạng tư duy mà Hoàng Hữu Phước đã (a) thực sự tư vấn cho một vài CEO nước ngoài của các công ty nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh và các CEO các công ty nước ngoài là bạn hữu của Hoàng Hữu Phước; (b) thực sự tư vấn cho các lãnh đạo nhân sự và phát triển kinh doanh người Việt làm việc tại các công ty nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh là bạn hữu của Hoàng Hữu Phước; (c) trực tiếp thi thố và thực hiện hoàn chỉnh trong tổ chức nội bộ, chỉ đạo chính sách, áp dụng thực tiễn tại các doanh nghiệp nước ngoài nơi Hoàng Hữu Phước lãnh đạo hoặc nắm quyền tổ chức; và (d) trực tiếp thuyết trình “truyền thụ sẻ chia kinh nghiệm độc nhất vô nhị” ở các khóa kỹ năng quản trị mềm soft skills of management tại các công ty nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh mà Hoàng Hữu Phước lãnh đạo, bao gồm – được sắp xếp theo thứ tự mức độ quan trọng ưu tiên cao hơn trở xuống – 7 chữ C (lẽ ra nên gọi là 7 Big C’s tức 7 chữ C Bự-Chà-Bá vì mỗi chữ C ôm đồm một hay vài chữ C khác) sau:

1) Culture: Văn Hóa.

Tất nhiên, đây là hình thái văn hóa mới do tôi thiết lập, không bao giờ theo lối mòn lập lại hay mô phỏng ngoại lai ngoại nhập ngoại quốc, biến cái gọi là văn hóa công ty trở thành Văn Hóa + Tên Công Ty + Tại Việt Nam như một định vị riêng không trùng lặp với các tháp ngà khác vì có pha trộn văn hóa dân tộc bản địa Việt Nam nơi công ty nước ngoài ấy trực tiếp hoạt động kinh doanh, chứ không phải là thứ “văn hóa công ty” trong bản gốc tiếng Anh do tổng hành dinh hải ngoại mướn các công ty tư vấn tháp ngà hải ngoại phi hiện thực soạn ra cho thật hay rồi gởi sang chi nhánh ở Việt Nam để dịch ra tiếng Việt áp dụng cho chi nhánh. Một số đặc trưng văn hóa dân tộc bản địa Việt Nam được tôi đưa vào Văn Hóa + Tên Công Ty + Tại Việt Nam, biến văn hóa công ty phải kinh trải tiến trình Việt Nam Hóa văn hóa công ty có ưu thế cạnh tranh bao trùm các đặc trưng văn hóa Việt như:

a- Tôn bái tiền nhân:

Vào thời điểm Việt Nam chưa hề nghĩ đến hay bàn đến dù trên báo chí hay tại nghị trường Quốc Hội về luật hóa một ngày nghỉ lễ quốc gia gọi là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương thì tôi đã sử dụng báo chí nội bộ bằng song ngữ Anh-Việt như “báo in giàu” FOSCO News, “báo mồm” American Business College, hay “báo mạng sang” Manulife HR Online, hoặc “báo mạng chùa” oanh-tạc-nét (internet) để mỗi khi sắp đến ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là lên tiếng và/hay viết bài song ngữ Anh-Việt cổ súy tôn bái Vua Hùng, không những khơi gợi nhận thức của nhân viên Việt Nam về Quốc Tổ mà còn buộc những người nước ngoài làm việc tại/với công ty phải nhận ra và quan tâm đến tinh thần dân tộc nơi lực lượng nhân sự tại chỗ mà họ không được phép không biết đến để phải tôn trọng,

b- Tôn trọng nữ giới:

Có nhận thức chính xác từ rất lâu rằng

Điểm Đen: Lịch sử loài người trên thế giới đã chứng minh nữ quyền không bao giờ là điều có thật ở Âu Mỹ dù đã đang ở nửa phần cuối Thế Kỷ XX hay sắp tới có tiến sang Thế Kỷ XXI và thậm chí có tiến đến giữa Thế Kỷ XXI thì phái nữ vẫn luôn bị phân biệt đối xử bất công bằng bất bình đẳng ngay ở các quốc gia tiên tiến văn minh cường thạnh, và như vậy tư duy tư tưởng của những lãnh đạo người nước ngoài công tác quản trị tại Việt Nam dù cổ hủ hay hiện đại cũng khó thể không bị ảnh hưởng – dù tự động trong vô thức – xem nhẹ nữ quyền nên dễ kỳ thị, không xem trọng nữ nhân viên người Việt;

Điểm Son: Thực tế đời sống người Việt thiểu số quê mùa cổ hủ có tồn tại tư duy “trọng nam khinh nữ”, còn thực tế đời sống người Việt tuyệt đại đa số hiện đại rất quan tâm đến bình đẳng giới và xem thường khuynh hướng “trọng nam khinh nữ”;

Điểm Son: thực tế chính trị Việt Nam có chính sách nữ quyền mạnh mẽ, còn thực tế xã hội Việt Nam chưa bao giờ có các tụ tập phản đối của nữ giới đối với những vấn nạn bất công xâm hại nữ quyền như thường thấy ở Âu Mỹ;

Điểm Đen: thực tế doanh nghiệp lớn tại Việt Nam dù của nội địa hay có đầu tư nước ngoài thường thấy công đoàn chỉ thực hiện ý chí của chủ nhân, phòng Nhân Sự cũng chỉ là nơi thực hiện ý chí của chủ nhân, còn nhân viên không có khả năng tự bảo vệ;

Tôi đã đề ra nhiều chính sách, quy định, và trực tiếp can thiệp bảo vệ người lao động nói chung và nữ nhân viên nói riêng mà đơn cử vài thí dụ nhỏ nhất bình thường nhất như sau:

(i) Khi vừa nhậm chức Giám Đốc Tuyển Dụng Đại Lý Manulife, tôi đã ngay trong ngày nhìn thấy tận mắt Giám Đốc Kinh Doanh Samuel So – Manulife chính thức khắc bảng đồng vàng chóe ghi tên là Sam So đính trên cửa phòng hắn ta – không rõ ông ta có sàm sở rồi bị ăn tát vào mặt hay không mà ông ra lịnh sa thải cô thư ký phiên dịch tiếng Hoa, và Giám Đốc Nhân Sự tên LQC lập tức kêu bảo vệ áp tải đuổi ngay lập tức cô thư ký đang khóc ròng ra khỏi cửa công ty. Tôi chưa kịp biết cô gái ấy tên gì, vì chỉ mới cách đó đúng 45 phút cô gái mặc áo dài màu đỏ ấy còn mĩm cười cúi đầu sâu lễ phép cung kính chào tôi khi tôi ngày đầu tiên bước chân vào công ty nhậm chức. Vậy là tôi đã chứng kiến cái vô văn hóa của “văn hóa công ty” mà theo đó người sếp nước ngoài là lãnh chúa, nhân viên Việt Nam là nông nô, nữ nhân viên là rẻ rúng nhất trong tập thể nông nô, còn luật pháp Việt Nam vô hiệu bên trong bức trường thành Great Wall công ty. Vì vậy, khi nhận lời mời đảm nhiệm luôn chức Giám Đốc Nhân Sự Manulife, tôi lập tức trổ thần uy ra thần lực chà sát nhẵn thín bóp nát thành bụi mịn cái văn hóa công ty hỗn láo mất dạy đối với nữ nhân viên người Việt ấy, biến nó thành tổng hợp chan hòa giữa cái tinh túy của trách nhiệm xã hội đối với “stakeholders” (tất tần tật mọi thành phần quanh ta) trên nền tảng “customer-service orientation” (khách hàng trên hết) của văn vật chuyên nghiệp Âu Mỹ của nước ngoài với cái tinh thần văn hóa dân tộc bản địa thượng tôn luật pháp, hình thành dấu ấn Hoàng Hữu Phước trong nghiêm khắc áp dụng các quy định của luật pháp Việt Nam, xây dựng hệ thống quy định và quy trình mới trong hoạt động và kỹ luật, và lịch lãm lý tình phân minh hơn Bao Đại Nhơn trong xử lý. Mỗi khi phát sinh yêu cầu buộc phải cho thôi việc một chức sắc người Việt, tôi đích thân gặp để thông báo để tôn trọng người ấy, đích thân làm thủ tục nhận bàn giao tài sản tài liệu để tôi chịu mọi trách nhiệm còn người ấy sẽ không bị vu khống vu cáo vu oan vu vạ sau này, đích thân đưa người ấy về tận nhà bằng ô-tô, còn nhân viên của tôi tất nhiên chỉ lo cho xong những phần việc còn lại liên quan đến thủ tục ưu tiên giải quyết quyền lợi và chế độ thôi việc để tôi đích thân đem đến cho người ấy. Mỗi khi phát sinh yêu cầu buộc phải cho thôi việc một nhân viên phòng ban khác, tôi đích thân mời đến gặp tôi để tôi thông báo và tư vấn hầu hóa giải các bức xúc bất bình – nếu có, đích thân viết thư đánh giá ngợi khen bằng tiếng Anh in cấp thành 10 bản chính trên giấy tiêu đề công ty để nhân viên dễ tìm việc nhiều nơi khác và tất nhiên thư đó do tôi đích thân ký tên – không đóng dấu công ty vì đúng theo bài bản Âu Mỹ, nhưng có ghi số phone và địa chỉ email của tôi để những nơi tuyển dụng có thể nói chuyện trực tiếp với tôi bằng tiếng Việt hay tiếng Anh nếu muốn thẩm tra trình độ và đạo đức cùng quá trình công tác đã qua của người xin việc. Còn khi phát sinh sự oan khuất, xử bức, thì đã có quy định của tôi rằng hoặc phải đưa ra tòa án lao động hoặc ưu tiên chuyển sang phòng ban khác với công việc có cấp bậc quyền lợi tương đương hoặc cao hơn, chứ không được giỡ thói lưu manh mọi rợ như bấy lâu nay tống cổ nhân viên ra khỏi công ty ngay lập tức rồi ném các giấy tờ giải quyết chế độ sau (nội dung này có nhắc đến trong sự việc nêu trong bài Tưởng Nhớ Lâm Lệ Quyên bị Phó Tổng Giám Đốc Tài Chính Ben Ng giỡ thói quen ra lệnh sa thải cô chỉ với lý do cô hay xin vắng mặt để đưa con đi bịnh viện).

(ii) Tôi ban hành chính sách chăm sóc sản phụ; theo đó, khi nữ nhân viên mang thai đến tháng thứ sáu sẽ được Phòng Nhân Sự cấp thẻ cứng MCC của hãng Taxi Mai Linh để mỗi ngày đi làm và về nhà, đi khám sức khỏe phụ khoa định kỳ, đi sinh, nằm viện, trờ về nhà sau sinh, đưa con đi khám sức khỏe định kỳ, cho đến khi đi làm trở lại theo thời gian luật định. Toàn bộ chi phí sử dụng xe taxi do Phòng Nhân Sự quyết toán mỗi tháng và công ty đài thọ 100%. Chính sách này áp dụng tại tất cả các tỉnh thành nơi có các chi nhánh công ty. Địa phương nào chưa có dịch vụ taxi Mai Linh hoặc nữ nhân viên sản phụ nào không quen đi ô-tô do rối loạn tiền đình thì Phòng Nhân Sự chu cấp tiền xăng, tiền bảo hiểm xe, tiền sắm săm lốp mới cho xe để chồng hay thân nhân của nữ nhân viên sản phụ hàng ngày đưa đón nữ nhân viên sản phụ này đi làm việc, và cũng kéo dài luôn đến hết khoản thời gian nghỉ hộ sản theo luật định của nữ nhân viên sản phụ ấy.

c- Tôn kính gia đình:

(i) Tôi ban hành chính sách theo đó, khi nhân viên nam hoặc nữ cần đưa con đi khám bệnh, chỉ cần đơn giản phone báo tin cho Phòng Nhân Sự là được phép đi làm muộn, với điều kiện khi đưa con về nhà xong, lúc vào công ty thì đưa toa thuốc cùng biên nhận của quầy thuốc bịnh viện để Phòng Nhân Sự vừa có bằng chứng hợp thức hóa vắng-mặt-hay-đi-muộn-có-phép-có-hưởng-lương, vừa có cơ sở xuất tiền mặt hoàn trả lại 100% chi phí khám chữa bệnh và tiền thuốc đã mua, vào thời điểm chưa có các hình thức bảo hiểm y tế toàn dân.

(ii) Cũng vào thời điểm chưa có các hình thức bảo hiểm y tế toàn dân, tôi ban hành chính sách theo đó, Phòng Nhân Sự sẽ hỗ trợ một phần tiền nằm viện trung phẫu hay đại phẫu của cha/mẹ/chồng/vợ/con của nhân viên Việt Nam ngay cả khi họ đã có mua bảo hiểm nhân thọ hay không và của bất kỳ công ty nào.

(iii) Nhận thấy các hình thức thưởng cho đại lý đi du lịch nước ngoài vừa tốn kém, vừa tầm thường vì công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài nào ở Việt Nam cũng áp dụng tương tự, vừa nhàm chán vì lẩn quanh lẩn quẩn cũng chỉ bấy nhiêu nước bấy nhiêu thắng cảnh và đi riết cũng chán, vừa nguy hiểm nếu xảy ra trường hợp đại lý trốn ở lại nước ngoài, vừa ngu xuẩn do sự cẩn trọng Âu Mỹ mang tính nguyên tắc không cho phép toàn ban lãnh đạo đi chung một chuyến bay đề phòng thảm họa nhân sự trong khi lực lượng hàng trăm đại lý kinh doanh thành công cực kỳ tối quan trọng đối với sự thành công của toàn công ty lại chen chúc trên cùng chuyến bay hoặc trên cùng chuyến tàu thủy hay tàu hỏa cao tốc ở nước ngoài thì nếu tai nạn xảy ra thì sự thiệt hại nhân sự chủ lực còn tồi tệ hơn cả sự cực kỳ ngu xuẩn, tôi đề nghị các lãnh đạo nước ngoài của bộ phận đại lý tức Agency Operation hãy nghe lời tôi thay vào đó hãy tổ chức đại yến ở Việt Nam tại từng địa phương nơi có văn phòng công ty và mời chồng/vợ của đại lý ở địa phương đó cùng tham dự, kể cả con cái của họ, vì tổng chi phí sẽ không cao bằng chi phí đi du lịch nước ngoài nhưng lại vừa chiếm được cảm tình của chồng/vợ của đại lý và con cái của họ vừa thỏa được tâm lý của chồng/vợ của đại lý và con cái của họ khi được “vinh hạnh” trực tiếp tiếp xúc lãnh đạo nước ngoài cao cấp của công ty và nghe lãnh đạo nước ngoài ấy tôn vinh đại lý là chồng/vợ/bố/mẹ của họ, tạo nên được một thứ “văn hóa đại gia đình Manulife’đúng nghĩa.

(iv) Nhận thấy các chương trình Team Building Workshop và du lịch tập thể hoàn toàn vô dụng đối với người Việt Nam trong cái gọi là “xây dựng tinh thần đội ngũ kết đoàn”, tôi một mặt không duyệt chi thêm bất kỳ chương trình Team Building Workshop nào, một mặt ban hành quy định mới về du lịch hàng năm theo đó nhân viên các phòng ban có quyền đi du lịch

riêng cá nhân vào bất kỳ thời gian nào trong năm, không buộc phải đi chung với phòng/ban/công ty vào cùng thời điểm mà trước đây do Phòng Nhân Sự tổ chức vài chuyến mỗi năm; với điều kiện phải tự chọn đơn vị du lịch lữ hành và đem hợp đồng (theo mẫu do tôi soạn sẵn) về cho tôi ký và đơn vị ấy phải có xuất hóa đơn tài chính, chấp nhận thanh toán chuyển khoản sau khi nhân viên hoàn tất chuyến đi;

sử dụng định mức đẳng cấp chi phí ba sao/mỗi nhân viên/mỗi năm do công ty đài thọ để tự đưa gia đình đi du lịch bằng cách tự chi thêm tiền đài thọ cho thân nhân, hoặc chọn dịch vụ bình dân giá thấp để lấy chi phí ba sao choàng gánh cho gia đình, hoặc dời kỳ du lịch năm nay sang năm sau để có hai suất ba sao đài thọ cho gia đình, với điều kiện phải tự chọn đơn vị du lịch lữ hành và đem hợp đồng (theo mẫu do tôi soạn sẵn) về cho tôi ký và đơn vị ấy phải có xuất hóa đơn tài chính, chấp nhận thanh toán chuyển khoản sau khi nhân viên hoàn tất chuyến đi;

bãi bỏ cơ chế rằng nữ nhân viên nghỉ hộ sản sẽ mất tiêu chuẩn du lịch hàng năm, thay thế bằng quy định rằng nữ nhân viên trong thời gian hộ sản, nghỉ hộ sản, hay nghỉ dưỡng bệnh có thể hoặc bảo lưu cho năm tiếp theo, hoặc sử dụng tiêu chuẩn du lịch ba sao để cùng chồng con đến nghỉ ngơi cuối tuần tại một khách sạn cao cấp ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh hay địa phương chi nhánh công ty nơi mình đang công tác, với điều kiện phải tự chọn khách sạn và đem hợp đồng (theo mẫu do tôi soạn sẵn) về cho tôi ký và đơn vị ấy phải có xuất hóa đơn tài chính, chấp nhận thanh toán chuyển khoản sau khi nhân viên hoàn tất chuyến đi;

 “Văn hóa công ty” Culture của nước ngoài của công ty nước ngoài, do đó, nhất thiêt phải được nhà quản trị đẳng cấp cao biến đổi cho phù hợp với môi trường cụ thể của địa phương Customization nơi nhà quản trị đẳng cấp cao làm “Thổ Địa” sau quá trình gạn đục khơi trong Culling.

d- Tôn sùng đạo đức Thiên Khổng:

(i) Tôi ban hành chính sách theo đó mỗi khi đến Ngày Lễ Vu Lan, mỗi nhân viên trên toàn quốc được Phòng Nhân Sự gởi tặng một số tiền và được cho “tan sở” sớm nửa tiếng đồng hồ để mua quà bánh trái sữa ghé thăm cha mẹ và cha mẹ của vợ/chồng hoặc để mua hương đăng trà quả về đặt trên bàn thờ viếng cha mẹ hoặc cha mẹ của vợ/chồng.

(ii) Luôn lấy Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín làm trọng. Một thí dụ nhỏ về Nhân là khi Giám Đốc Đào Tạo Đại Lý Dương Đại Phước khẩn báo tôi về sự biến mất của hai chiếc máy LCD projectors khỏi hai phòng đào tạo đại lý, tôi kêu Dương Đại Phước theo tôi rà soát toàn bộ các ngóc ngách của cả hai tầng lầu 11 và 12 tòa nhà Diamond Plaza nơi thủa ấy làm Tổng Hành Dinh Manulife. Chúng tôi khi len vào phòng điện trung tâm tối tăm của tòa nhà nơi nguy hiểm cấm người không phận sự bước vào thì chính tôi phát hiện hai chiếc máy bị dấu nơi một hóc kẹt kín đáo mà kẻ cắp ắt chờ thuận tiện sẽ đem đi sau. Tôi bảo Phòng Nhân Sự báo Công An Quận 1 đến khán nghiệm hiện trường, thực hiện nghiệp vụ lấy dấu vân tay trên hai chiếc máy ấy. Khi công an ra về, với sự nhạy bén thiên bẩm của một người đã từng được mời vào ngành An Ninh Tình Báo, tôi nhận ra ngay đối tượng tình nghi khi quan sát những nhân viên đang tò mò đứng nhìn từ xa đoàn công an đang tác nghiệp, nên bảo Dương Đại Phước mời một nam chuyên viên huấn luyện đến phòng tôi với sự có mặt của Dương Đại Phước là sếp trực tiếp của người đó. Tôi bảo người đó hãy cho tôi biết vì sao đánh cắp thiết bị công ty và hãy kể lại chi tiết phục dựng hiện trường, và tôi hứa sẽ cứu người đó, khuyên anh ta đừng để khi công an tìm ra thủ phạm thì phải chịu án tù tan nát cả gia đình. Và người đó thú nhận tất cả, kể lại chi tiết tiến trình thực hiện phạm tội. Giữ chữ tín, tôi chính thức can thiệp yêu cầu công an hủy việc điều tra. Giữ chữ nhân, tôi hướng dẫn người đó làm đơn xin thôi việc ghi rõ vì lý do cá nhân muốn tìm công việc khác lương cao hơn và xin cứu xét cho nghỉ ngay, bảo Phòng Nhân Sự giải quyết mọi chế độ quyền lợi có liên quan theo luật định, kể cả tiền trợ cấp và tiền nghỉ phép năm, không phạt “vi phạm hợp đồng do nghỉ việc mà không báo trước đủ số ngày luật định”, đồng thời khuyên bảo người đó hãy vì vợ con mà cố gắng tránh xa tiêu cực nơi làm việc mới, đừng để vương vòng lao lý, rồi cấp cho người đó một giấy chứng nhận thời gian công tác ghi rõ lý do xin nghỉ vì lý do cá nhân, dù giấy không có ghi các ngợi khen gì cả nhưng việc cấp giấy chứng nhận cũng có thể mặc nhiên khẳng định người nhân viên ấy chưa hề bị xử lý kỷ luật tại Manulife. Chuyện này chỉ có tôi và Dương Đại Phước cùng ban lãnh đạo nước ngoài gồm Tổng Giám Đốc David William Matthews, Phó Tổng Giám Đốc Kinh Doanh Bill Clow, Phó Tổng Giám Đốc Hành Chính Alec Chung Chi Chan, và Phó Tổng Giám Đốc Tài Chính Ben Ng biết, trong khi nhân viên dưới quyền tôi ở Phòng Nhân Sự chỉ biết đó là một ca xin thôi việc bình thường được tôi nhân từ linh động cho giải quyết ngay mà không nguyên tắc cứng rắn phạt vi phạm hợp đồng lao động.

e- Tôn vinh nhân lực:

Trong một bài viết trước đây tôi nêu rõ quan điểm của tôi trong khinh bỉ tột cùng những “doanh nhân nam/nữ thành đạt” nào không xem nhân lực là của cải nên không cấp cho nhân lực những trang bị bảo hộ lao động và không áp dụng các quy trình lao động chuẩn mực có giám sát và có bảo hiểm đầy đủ. Tôn vinh nhân lực, tôi

(i) Đề ra nguyên tắc và quy trình an toàn an ninh nơi làm việc;

(ii) Đích thân hàng năm tổng chỉ huy thực tập thoát hiểm cực kỳ nghiêm túc và nghiêm khắc tại tổng hành dinh ở Thành phố Hồ Chí Minh và tại tất cả các chi nhánh trên toàn quốc;

(iii) Cấp cho nhân viên ngay từ khi ký hợp đồng lao động một phiếu đến lựa nhận mũ bảo hiểm helmet ngoại nhập (thời giá 20 năm trước, lúc Việt Nam chưa luật hóa đội helmet khi sử dụng xe máy là 200.000 đồng/chiếc) tại nơi bán duy nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh trên đường Huyền Trân Công Chúa (đối với nhân viên ở các tỉnh thì Phòng Nhân Sự mua giúp rồi chuyển đến chi nhánh), còn tiệm theo thỏa thuận ký kết dài hạn sẽ gởi hóa đơn tài chính về Phòng Nhân Sự để tôi ký duyệt thanh toán, với quy định rằng nhân viên không đội helmet sẽ bị kỹ luật nếu bị tôi bắt gặp trên đường;

(iv) Quy định rằng nhân viên công ty khi đi trên ô-tô của công ty phải cài dây an toàn nếu không muốn bị tài xế mời xuống xe ngay lập tức và báo cáo Phòng Nhân Sự;

(v) Quy định rằng lao động của các công ty đối tác khi đến thực hiện hợp đồng với công ty phải có đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động chuyên nghiệp do các công ty đối tác cung cấp, dứt khoát không cho phép thi công nếu không có dủ các trang bị bảo hộ lao động như mũ, kính, găng tay, dây đai treo giàn cao, v.v.;

(vi) Đề ra các lễ hàng năm long trọng tôn vinh nhân lực với các giải thưởng cống hiến trường kỳ ghi công những nhân viên đã có 5 năm hay 10 năm phục vụ tại công ty với kỷ niệm chương, phần thưởng, và yến tiệc chiêu đãi;

(vii) Thêm vào chính sách sẵn có của công ty cung cấp tài trợ cho nhân viên học lấy các chứng chỉ quốc tế của Hiệp Hội Bảo Hiểm Nhân Thọ Hoa Kỳ và Hiệp Hội Định Phí Hoa Kỳ Actuary, tôi đề ra thêm chính sách mới đài thọ chương trình chứng chỉ quốc tế của Hiệp Hội Thẩm Định Hoa Kỳ Underwriting và thạc sĩ quản trị kinh doanh MBA cho nhân viên tiềm năng với điều kiện phải chọn chương trình bằng tiếng Anh của một trường đại học nước ngoài tại Việt Nam;

(viii) Ban hành chính sách cho nhân viên vay tiền mua nhà trả góp không lãi suất; v.v.; và

(ix) Khi nhân viên cấp trung trở xuống đi công tác/dự đào tạo ngoài nước sẽ phải đi bằng máy bay VietnamAirlines, ở khách sạn hạng 3 sao tại trung tâm thành phố (do Phòng Nhân Sự lập danh sách để nhân viên lựa chọn), được Phòng Nhân Sự mua bảo hiểm của SOS mệnh giá USD50,000.00/người để nơi xứ lạ quê người vẫn được cưu mang về y tế khi có vấn đề về sức khỏe suốt thời gian công tác.dự đào tạo để thân nhân ở Việt Nam được yên tâm, được đài thọ 100% tiền ăn bất kể trị giá bữa-ăn-cho-một-người nếu ăn tại nhà hàng của khách sạn nơi cư trú có hóa đơn chi tiết có ghi tên nhân viên và phòng của nhân viên ấy (nếu nhân viên chọn ăn bên ngoài khách sạn nơi cư trú do không quen thực phẩm “Tây” thì Phòng Nhân Sự sẽ duyệt chi chỉ trong khung định mức nhưng cũng phải có hóa đơn, và nếu dưới định mức thì nhân viên được phép sử dụng phần kinh phí dôi dư để mua quà nhưng phải là thực phẩm như bánh/kẹo/trái cây/thực phẩm cho gia đình cũng với điều kiện phải có hóa đơn chi tiết của siêu thị), được đài thọ chi phí taxi/bus bất kể cho mục đích đi họp hay đi dạo và bất kể số lần sử dụng trong mỗi ngày miễn có xấp hóa đơn kèm theo báo cáo Phòng Nhân Sự khi trở về.

Tất cả nhằm

– làm tất cả các lãnh đạo người nước ngoài phải tôn trọng văn hóa Việt trong môi trường làm việc của lực lượng nhân viên và đại lý người Việt

– làm lực lượng nhân viên và đại lý người Việt gắn bó hơn công ty vì không bất kỳ công ty đối thủ cạnh tranh nào khác xây dựng được các kế sách và môi trường tốt tương tự hay tốt hơn về thực chất đáng tự hào của văn hóa công ty

– làm lực lượng quan trọng hơn lực lượng nhân viên và đại lý người Việt là gia đình của họ gồm cha, mẹ, người phối ngẫu, v.v., của họ yên tâm an lòng và vui lòng đối với việc họ được làm việc cho công ty, khiến tác động nơi họ có ý thức trung tín và nhận thức về sự không ngừng nỗ lực để trung thành tận tụy làm việc hiệu quả nhằm gắn bó dài lâu với công ty.

2) Civility: Tinh thần công dân

Tinh thần công dân Civility được tuyên truyền để thể hiện rõ qua sự tuân thủ các quy định mang tính kỹ luật và thượng tôn luật pháp quốc gia trong môi trường làm việc, kinh doanh, và phục vụ Compliance.

3) Credibility: Uy tín

Uy tín không chỉ là đặc tính bẩm sinh tự nhiên có mà còn phải là kết quả kết tụ từ hai yếu tố năng lực nỗ lực bản thân gồm khả năng thuyết phục cao believability và khả năng tạo dựng được sự cậy tin reliability vào bản thân từ lãnh đạo, nhân viên, đối tác, và nói chung là với “stakeholders”.

4) Commonsenseness: Tư duy đáng hợp

Đây là năng lực sử dụng sự phán đoán suy đoán phán xét suy xét thấu đáo dựa theo những lẽ chung rất thường tình và rất dễ hiểu dễ chấp nhận dễ dàng nhận được sự đồng hiểu đồng thuận từ đối tượng trực tiếp và đệ tam nhân để cho ra những quyết định quyết sách đáng hợp (thích đáng và thích hợp) vốn dễ tạo được tính thuyết phục cao nhất nơi nhân sự trong xử lý công việc thường nhật.

Một khi cổ súy cho một civility cho một thượng tôn luật pháp và tuân thủ quy định, trong khi commonsenseness lại là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho công tác giám sát sâu sát, thì đức khoan dung comity là tố chất trung hòa tuyệt diệu luôn phải có nơi nhà chuyên nghiệp đẳng cấp cao, theo đó đòi hỏi cấp quản trị không được quên vai trò nêu gương cho cấp dưới, dẫn dắt cấp dưới, giám sát sửa sai cấp dưới, cũng như hóa giải trong chừng mực tốt nhất có thể được những xung đột bất trắc mang bản tính con người trong tập thể nhân lực quá đông quân số mà sự phức tạp là điều đương nhiên hiện hữu. Điều lưu ý ở đây là nếu “văn hóa công ty” qua “quy chế đạo đức công ty” thường nhấn mạnh kiểu lập đi lập lại bài bản Âu Mỹ cổ súy cho một trách nhiệm vĩ đại đầy hào quang mơ hồ mờ mịt đối với “stakeholders” thì nhà quản trị chuyên nghiệp đẳng cấp cao nhất thiết phải hiểu rằng đức khoan dung cũng phải hướng về cái “stakeholders” ấy, tất nhiên trong chừng mực có thể chấp nhận được tức trên cơ sở phân định chính-phụ.

5) Connectedness: Năng lực Quán xuyến

Trong khi thông tin thông suốt thông hiểu Communication thường được nêu lên như một chữ C quan trọng thì đối với tôi communication chỉ là một khía cạnh của một chữ C khác có tầm quan trọng hơn rất nhiều lần communication, đó là connectedness cùng phân nhánh của nó là interconnectedness, xoáy mạnh vào nội hàm rằng communication là để tạo nên sự gắn khít kết liên rõ ràng rành mạch cụ thể và chặc chẽ như một đồ hình đa diện polyhedron, mà quy mô công ty càng lớn thì nhà quản trị đẳng cấp cao không chỉ nhìn vào sơ đồ tổ chức phức tạp organization chart mà còn phải qua đó nhìn thấy các liên kết chằng chịt của nó như nhin xuyên thấu một khối nhị thập diện icosahedron 3D thủy tinh trong suốt đang nắm gọn trong bàn tay để thấu thị thấu đáo các kết liên xuống/lên/ngang/dọc từ một trong các đỉnh quản trị tỏa lan đến một trong các đỉnh thấp hơn/cao hơn/ngang/dọc ở các phía trước/sau/dọc/ngang/trên/dưới bảo đảm sự vận hành thống nhất toàn vẹn của khối icosahedron đó. Không có chữ C của connectedness, không thể có quản trị thành công ở công ty quy mô to lớn khổng lồ.

6) Conscientiousness: Đạo đức công vụ cao

Chữ C của conscientiousness là khi người nhân viên chuyên nghiệp hay nhà quản trị chuyên nghiệp làm việc với sự tận tụy tận tâm tận tình nghĩa là với tinh thần đạo đức công vụ cao nhất từ sự hiểu rõ thấu đáo đối tượng phục vụ, quy trình phục vụ, yêu cầu phục vụ, hiệu quả phục vụ, theo tôn chỉ bất di bất dịch rằng “khách hàng trên hết”. Giám Đốc Dịch Vụ Khách Hàng Manulife là NTMT thường truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Tổng Giám Đốc Hành Chính Alec Chung Chi Chan cho toàn bộ nhân viên Phòng Dịch Vụ Khách Hàng rằng “khách hàng luôn sai” nghĩa là khách hàng có đến văn phòng công ty “mè nheo quậy phá” thì tại họ không chịu tìm hiểu nội dung hợp đồng bảo hiểm, tại họ muốn trục lợi, v.v., mà cách hiệu quả nhất là nếu họ lớn tiếng thì cứ gọi bảo vệ tòa nhà lên đuổi họ xuống và ra khỏi tòa nhà. Tôi được nhân viên Phòng Dịch Vụ Khách Hàng và Phòng Lễ Tân mật báo về những hành xử bất thường này. Một sự việc xảy ra khi một nữ khách hàng lớn tiếng tại khu vực lễ tân thóa mạ công ty “lừa gạt bảo hiểm” và kêu gào đòi gặp mặt Giám Đốc Dịch Vụ Khách Hàng và Phó Tổng Giám Đốc Hành Chính (phụ trách dịch vụ khách hàng và hợp đồng bảo hiểm) nhưng cả hai đều trốn tránh không dám ra tiếp. Tôi vội ra tiền sảnh mời nữ khách hàng ấy vào phòng tiếp khách, bảo lễ tân mời trà, rồi dành ra hơn một giờ trực tiếp lắng nghe ghi nhận các bức xúc của khách hàng, sau đó giải thích các quy định nghiêm nhặt của luật pháp quốc gia Việt Nam có liên quan mà công ty tuyệt đối tuân thủ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, bày tỏ sự đồng cảm và thông cảm trước các bức xúc rất chính đáng của khách hàng đối với những điều khoản hợp đồng cụ thể mà có thể cậu đại lý đã sơ xuất chưa giải thích đủ tường tận lúc tiếp thị với khách hàng, đánh giá cao khách hàng vì đã thương yêu chăm lo cho tương lai của các con bằng các hợp đồng bảo hiểm, rất biết ơn khách hàng đã ban cho công ty cơ hội được phục vụ chung tay bảo vệ gia đình khách hàng, cảm ơn khách hàng đã phản ảnh những bức xúc rất đúng đắn và chính xác giúp công ty hoàn thiện giáo trình huấn luyện kỹ năng đại lý chuyên nghiệp hơn, và xin khách hàng chấp nhận lời xin lỗi chân thành thay mặt toàn ban lãnh đạo công ty của Giám Đốc Nhân Sự, v.v. Kết thúc buổi tiếp xúc, trước mặt khách hàng, tôi cho lệnh bảo tài xế lấy xe của Tổng Giám Đốc (tôi có toàn quyền trưng dụng xe của ban Tổng Giám Đốc theo quy chế công ty do tôi soạn thảo ban hành) đưa khách hàng về tận nhà trên đường Nguyễn Chí Thanh, Quận 5; và vị khách hàng ấy khẩn khoản yêu cầu tôi giúp cử một đại lý khác đến nhà gặp bà để bà ký mua thêm vài hợp đồng bảo hiểm mới cho bản thân và chồng. Tôi lập tức phone gọi một nữ tổ trưởng đại lý giỏi giang thành đạt tên Hương đến để giới thiệu và bảo cô tháp tùng đến nhà vị nữ khách hàng ấy để phục vụ tiếp nhận yêu cầu bảo hiểm. Sự việc náo động ồn ào kinh động này suýt đã trở thành thảm họa nếu cô nhân viên lễ tân tiền sảnh thuộc quyền quản lý của tôi dám tuân lệnh Phó Tổng Giám Đốc Alec Chung Chi Chan ấn nút bí mật báo động đội bảo vệ tòa nhà xông vào áp tải đuổi khách hàng ra khỏi Diamond Plaza (toàn bộ nhân lực thuộc quyền quản lý trực tiếp của tôi phải tuyệt đối tuân lệnh chỉ của tôi hoặc phải thỉnh thị quyết định của tôi nếu có phát sinh bất kỳ vấn nạn gì có thể gây phương hại đến danh tiếng toàn công ty).

Giám Đốc Dịch Vụ Khách Hàng N.T.M.T. huấn luyện nhân viên Phòng Dịch Vụ Khách Hàng cách đối phó mạnh tay với khách hàng vì Phó Tổng Giám Đốc Alec Chung Chi Chan phán: Khách hàng luôn sai quấy.

Giám Đốc Nhân Sự Hoàng Hữu Phước phán: Nhân viên luôn sai quấy nếu làm việc theo lời phán của Alec Chung Chi Chan. Khách hàng luôn là vua/nữ hoàng nên phải được phục vụ bỡi nhân sự lịch lãm nhất và bằng dịch vụ tốt nhất.

7) Competitiveness: Tính ưu việt

Hầu như ai cũng hiểu ý nghĩa của và nói về competitiveness như tính cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh cao, v.v. Song, triết lý kinh doanh và làm việc của Hoàng Hữu Phước lại quy vào competitiveness các nội hàm cộng thêm của lời nói đi đôi với việc làm Commitment, sự nhất quán xuyên suốt trong đạo đức kinh doanh/chủ trương/chính sách/mục tiêu/sứ mệnh/hoạch định Consistency, và sự không ngừng hướng thượng vì những điều tốt đẹp hơn cho nhân lực và công ty Creativity, tất cả biến competitiveness thành tính ưu việt, thứ bấy lâu nay thiên hạ hay nói về cụm từ “tài sản quý không thể thay thế được” asset một cách đãi bôi chứ không hiểu cái asset ấy hóa ra phải là một combo của competitiveness, commitment, consistency, và creativity cùng bao Chữ C khác nữa nơi một con người “thành công”.

*********

Cuối cùng, vấn đề đặt ra từ đoạn mở đầu là về ý nghĩa của “thành công”.

Báo chí sống được là nhờ các bài báo.

Các bài báo được đẻ ra bởi các nhà báo.

Các nhà báo Việt Nam tuyệt đại đa số xuất thân tầm thường, cấp thấp về đạo lý thiên Khổng, nên đối với đa số chỉ những nhà kinh doanh nào ở Việt Nam có triệu USD trong tay mới là người thành công thành đạt. Thế nên mới có các cụm từ doanh nhân thành đạt, nữ doanh nhân thành đạt, v.v. Và cũng khối doanh nhân thành đạt/nữ doanh nhân thành đạt vào tù vì tham nhũng/lừa gạt/v.v., biến “thành công” đồng nghĩa với “làm bậy nhưng chưa bị phát hiện hoặc trốn đi nước ngoài bình an vô sự.” Thậm chí thủa xa xưa sau khi thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại từ Việt Nam ra thị trường quốc tế, tôi và Amit Kumar Saxena khi kiếm tìm các dự án đầu tư vào Việt Nam đã đến công ty nhà nước lớn hơn của Phạm Văn Chi chứ không hề đến công ty nhà nước đội lốt của NTB. Thế nhưng mấy năm nay các nhà báo thi nhau viết bài về và phỏng vấn NTB và tất nhiện có chua chú thích về các thương vụ tư vấn “triệu đô” của NTB.

Sự nhất quán của tôi trong nhiều bài viết nhiều chục năm qua đã luôn khẳng định rằng

(a) Khuất Nguyên trầm mình, khiến nhiều trăm năm qua hàng năm cả tỷ người trên toàn cầu – trong đó có người Việt Nam – cứ đến đúng ngày là cúng tưởng nhớ đến ông, và đây là sự thành công của Khuất Nguyên;

(b) Rừng tiểu thuyết kiếm hiệp Tàu hết xưng tụng môn phái này đến môn phái kia, hết bí kíp này đến bí kíp nọ, để rồi cuối cùng cho ra tác phẩm mà theo đó “vô chiêu thắng hữu chiêu”;

(c) Cắm chông dưới đáy sông dẫn đến những trận thủy chiến long trời lỡ đất đem lại những chiến tích thủy binh hào hùng của dân tộc Việt Nam, nhưng chiến thuật ấy không bao giờ được áp dụng chính quy chính thức trong binh pháp thủy quân vì không là công thức để mãi thành công;

(d) “Kéo pháo vào, kéo pháo ra, rồi kéo pháo vào” trận địa núi non trùng điệp để chiến thắng Điện Biên Phủ cũng không bao giờ được áp dụng chính quy chính thức trong binh pháp lục quân vì không là công thức để mãi thành công;

và do đó, để hiểu các Chữ C của thành công của bất kỳ ai, người ta cần phân định đặt “thành công” trên bình diện cụ thể một sự nghiệp (khi đã kết thúc cuộc sống một đời người), một chiến dịch (quân sự/quảng cáo/truyền thông), một công việc (bất luận lớn/nhỏ), một kế hoạch (ngắn hạn/trung hạn/dài hạn), một mục tiêu (trước mắt/giai đoạn/lâu dài), hay ngay cả sự kiên trì “há miệng chờ sung rụng” mà “thành công” thuần thuộc hên-xui-may-rủi, hoặc sự thỏa chí tang bồng hồ thỉ chu du ung dung tự tại cà lơ phất phơ, hay ngay cả “thành công” trong việc sống bám và “đào mỏ”, v.v.

Những bài viết về các Chữ C Của Thành Công, do đó, không dành cho những kẻ chỉ thèm nhễu nước miếng dù chỉ mới nhìn bức hình chụp các xấp tiền “triệu đô”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Tham khảo:

7 Chữ C Của Thành Công – The 7 C’s of Success – Phiên Bản Hideo Nakajima  15-5-2020

7 Chữ C Của Thành Công – The 7 C’s of Success – Phiên Bản Tom Morris  15-5-2020

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 26-12-2015

Tưởng Nhớ Lâm Lệ Quyên  13-12-2015

Đạo Đức Công Vụ

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-5-2020

Description: C:\Users\Admin\Desktop\Screen Shot 05-06-20 at 07.28 PM.JPG

Dòng chạy “tít” (title) của Tuoi Tre Online ngày 03-5-2020 rằng “Từ Vụ Nâng Giá Mua Máy Xét Nghiệm Covid-19: Đạo Đức Công Vụ Xuống Cấp!” cho thấy sự “xuống cấp” của hoặc ngôn từ báo chí của Đảng hoặc đạo đức của Đảng hoặc cả hai.

Ngôn từ báo chí của Đảng “xuống cấp” vì đã không biết thế nào là “đạo đức công vụ”.

Đạo đức của Đảng “xuống cấp” vì những vụ “đạo đức công vụ xuống cấp” toàn là nơi con người do Đảng đào tạo tuyển chọn bố trí và bên trong các cơ quan công quyền của Đảng.

Để tránh tai tiếng cho báo chí của Đảng và tổn hại thanh danh của Đảng, tác giả bài viết này thay mặt tất cả các “lá mùa thu” (tức các đấng tinh hoa trí tuệ thực thụ đang mai danh ẩn tích kỹ chốn thâm sơn cùng cốc khiến Đảng không biết đang ở đâu để trai tịnh tắm gội tìm đến tận nơi thỉnh mời ra giúp nước cứu dân) xin phân tích và giảng giải sơ sài về “đạo đức công vụ” như dưới đây.

Nội hàm của “đạo đức công vụ” đã không được hiểu bởi tất cả các lãnh đạo Đảng và Chính Phủ, do cả Đảng và Chính Phủ cùng toàn bộ hệ thống luật pháp và học thuật Việt Nam chưa từng định nghĩa hoặc định nghĩa đúng về “đạo đức công vụ”.

Do không hiểu ý nghĩa của “đạo đức công vụ”, Đảng và Chính Phủ đã thất bại hoàn toàn trong giáo dục đảng viên, quan chức, công chức, viên chức.

Nội hàm duy nhất đúng của “đạo đức công vụ” phải bắt đầu từ đạo đức nghề nghiệp/đạo đức kinh doanh. Cần lưu ý là người Việt sính dùng từ đao to búa lớn nên hễ gặp business là dịch ngay thành kinh doanh nên mới có mấy cái tào lao như “quản trị kinh doanh” trong khi ngành học business administration chỉ để cung cấp các kiến thức tổng hợp cơ bản để một người có thể một mình chủ động quán xuyến công việc của chính mình dù đó là việc của một nhân viên cấp thấp, việc phụ trách một cây xăng (ở Mỹ), một dịch vụ, hay đảm trách một one-man company (tức doanh nghiệp gia đinh tư nhân do mình “khởi nghiệp”); hoặc như “ghế hạng thương gia” trong khi business class chỉ để đáp ứng nhu cầu riêng của người nào muốn có khoảng không gian rộng hơn (như một người mua luôn dãy ghế ba chỗ ngồi trên xe đò liên tỉnh thời Việt Nam Cộng Hòa vì bản thân mập ú trong khi xe đò thời ấy ăn gian cấu trúc mỗi ghế chỉ vừa cho một người gầy ốm) do không muốn gần gũi với đám đông ngột ngạt hoặc muốn ưu tiên lên máy bay và ưu tiên rời máy bay nên hoặc có khả năng đài thọ chi phí cao hơn hoặc bấm bụng chi thêm để được yên tĩnh nghỉ ngơi hay tập trung làm việc trong chuyến bay quá dài (long haul) mà tùy hãng hàng không có cực sang hay không cực sang mà “Business Class” là hạng trung (giữa hạng thường Economy Class và hạng cao cấp First Class, C Class, hay J Class) trong khi VietnamAirlines và rất nhiều hãng khác không thuộc đẳng cấp “cực sang” thì hoặc xem Business Class là hạng cao nhất của họ hoặc chế ra các tên gọi khác như President Class, Clase Premier, Signature Class, Capital Pavilion, Executive Class, Grand Class, hoặc Gold Business Class hay nổ là International Business Class, hoặc hằm-bà-lằng class mà không có cái nào dính dáng đến ý nghĩa của “thương gia” cả. Vì vậy, đạo đức kinh doanh, theo nhà từ vựng học lexicologist Hoàng Hữu Phước, chính là đạo đức nghề nghiệp tức đạo đức công vụ nếu cái nghề nghiệp ấy là tại công sở.

Đạo đức nghề nghiệp đã từng được giải thích rất nhiều lần bởi Hoàng Hữu Phước trên nhiều trang mạng cách nay rất nhiều năm. Tất cả các nhân sự người Việt làm việc tại các công ty đa quốc gia hay các công ty lớn của nước ngoài tất nhiên được yêu cầu phải nắm biết “đạo đức nghề nghiệp” cụ thể là gì qua các quy định nội bộ của các công ty ấy như được thể hiện chi tiết ở các bộ quy tắc gọi là Business Ethics hoặc Code of Ethics hoặc như Hoàng Hữu Phước khi soạn riêng bằng song ngữ Anh-Việt cho một công ty dịch vụ tài chính đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam đã đặt tên cho nó là  Code of Business Conduct and Ethics, v.v. Đó là nguyên tắc đầu tiên, xuyên suốt, và cao nhất của tính chuyên nghiệp, mà sự kém hiểu biết hoặc kém trí nhớ của nhân sự đối với “Code” hoặc sự thiếu vắng đáng ngạc nhiên và đáng xấu hổ của các “Code” ở các thực thể đang vỗ ngực tự hào gọi mình là “công ty nhớn” hay “tập đoàn” ở Việt Nam sẽ chỉ dẫn đến những hành vi/hành động “vô đạo đức” đối với người lao động, đối với giới chủ doanh nghiệp, đối với cổ đông, đối với khách hàng, đối với nhà cung ứng, đối với nhà tài trợ, đối với nhà cầm quyền, và đối với cộng đồng dân cư, v.v., và cái gọi là “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng và môi trường” mà Việt Nam thường kêu gọi vinh danh hóa ra lại là phần nội hàm mang tính cơ bản nhất của các “Code” mà Việt Nam do thiếu vắng các “Code” này cứ phải gánh chịu hậu quả trầm kha về ô nhiễm môi trường và ô nhiễm “đạo đức công vụ”.

Đạo đức công vụ” là một thứ đạo đức nghề nghiệp đặc thù khi cái “nghề nghiệp” ấy liên quan đến khu vực hành chính công. Đã là “đạo đức nghề nghiệp” thì liên quan đến các nội hàm đương nhiên phải có bao gồm nhiều chục hạng mục mà dăm ba điều thấp nhất cơ bản nhất là (a) tinh thông tinh tường cao nhất về nghiệp vụ qua quá trình đào tạo kết quả cao nhất để phục vụ hiệu quả cao nhất, (b) tuân thủ cao nhất quy chế quy định của công ty/cơ quan mình đang công tác, (c) tuân thủ cao nhất luật pháp quốc gia có liên quan đến hoạt động của công ty/cơ quan mình đang công tác, mà tất cả chỉ để thấp nhất là phải (d) phục vụ khách hàng ở chất lượng cao nhất. Cái “đạo đức nghề nghiệp” ở khu vực hành chính công được mang danh “đạo đức công vụ” thì ắt phải cao cấp hơn rất nhiều lần do đối tượng phục vụ của hành chính công là người dân, mà người dân là những thực thể chủ lực được hiến định tạo nên nền tảng cho thể chế chính trị Dân Chủ demoracy của một nước Cộng Hòa republic đặc biệt khi thể chế ấy giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa socialist vinh diệu mà nội hàm lý tưởng nhất của nó là vì dân,

Đạo đức nghề nghiệpđạo đức công vụ đều chỉ liên quan đến “phục vụ khách hàng”.

Đạo đức nghề nghiệpđạo đức công vụ “xuống cấp” khi việc phục vụ khách hàng trở nên tồi tệ, không đạt yêu cầu quy định trong “Code”. Vài thí dụ chính xác của đạo đức công vụ “xuống cấp” là khi người dân đến văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Phường vào giờ làm việc hành chính thì không được phục vụ do lãnh đạo bận “họp giao ban”, lãnh đạo Ủy Ban Nhân Dân Phường là lãnh chúa, còn công chức/viên chức văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Phường là quần thần cúc cung phục vụ lãnh chúa. Đạo đức công vụ “đứng cấp” là khi lãnh đạo Ủy Ban Nhân Dân Phường cùng tất cả các công chức/viên chức Ủy Ban Nhân Dân Phường là công bộc của dân, đội dân trên đầu. Đạo đức công vụ “lên cấp” là khi lãnh đạo Ủy Ban Nhân Dân Phường cùng tất cả các công chức/viên chức Ủy Ban Nhân Dân Phường không đợi đến Covid-19 mới thân chinh đến tận nhà dân để giúp dân làm các thủ tục hành chính công.

Việc lãnh đạo Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Hải Quan, v.v., táy máy tiền bạc công quỹ hoặc nhận hối lộ/lại quả hoặc tham nhũng, v.v., là hành vi phạm pháp của bọn đạo tặc/tội phạm thiếu giáo dục thiên Khổng của cha mẹ nhưng thừa giáo dục cao cấp lý luận chính trị của Đảng phải bị xử tội theo pháp luật chứ không thuộc phạm trù “đạo đức công vụ” để thở than ngậm ngùi ngao ngán.

Việc lãnh đạo trường đại học công lập tụ tập nhậu nhẹt bù khú dẫn đến nghi án sát nhân là hành vi phạm pháp thời dịch bệnh của bọn thiếu giáo dục thiên Khổng của cha mẹ nhưng thừa giáo dục cao cấp lý luận chính trị của Đảng nên phải bị xử tội theo pháp luật chứ không thuộc phạm trù “đạo đức công vụ” để thở than ngậm ngùi ngán ngao.

Việc lãnh đạo tòa soạn của cơ quan báo chí lớn của Đảng cưỡng hiếp nữ thực tập sinh báo chí là hành vi phạm pháp của thằng thiếu giáo dục thiên Khổng của cha mẹ nhưng thừa giáo dục cao cấp lý luận chính trị của Đảng nên phải bị xử tội theo pháp luật chứ không thuộc phạm trù “đạo đức công vụ” để thở than ngậm ngùi ngao ngán.

Việc lãnh đạo các Xi Đi Xi (CDC) và các tỉnh hăm hở nâng giá thiết bị xét nghiệm Covid-19 là hành vi phạm pháp của bọn thiếu giáo dục thiên Khổng của cha mẹ nhưng thừa giáo dục cao cấp lý luận chính trị của Đảng nên phải bị xử tội theo pháp luật chứ không thuộc phạm trù “đạo đức công vụ” để thở than ngậm ngùi ngao ngán.

Việc một số chức sắc cấp cao chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nhúng chàm gây ra các tầy huầy ở Thủ Thiêm và các trọng án kinh tế là hành vi phạm pháp của bọn thiếu giáo dục thiên Khổng của cha mẹ nhưng thừa giáo dục cao cấp lý luận chính trị của Đảng nên phải bị xử tội theo pháp luật chứ không thuộc phạm trù “đạo đức công vụ” để thở than ngậm ngùi ngao ngán.

Phục vụ người dân phải là những con người chứ không bởi những robot hay những con khỉ.

Con người phục vụ dân chỉ được hình thành từ giáo dục thiên Khổng của cha mẹ. Đảng không là cha mẹ.

Vì vậy, hãy đánh giá cao đạo đức gia phong tức là thứ đạo đức con người mà chỉ có cha mẹ đoan chính hay người bảo hộ có đạo đức mới dạy dỗ rèn luyện trẻ thơ nên người được. Những đứa trẻ như thế mới là nguồn cung cấp nhận lực thành những nhà giáo công chính đạo đức của tương lai. Đến phiên những nhà giáo công chính đạo đức gia giáo thiên Khổng ấy giúp rèn nên cho đời những nhân tố có đạo đức dị ứng với những nhúng chàm làm ô danh gia tộc, để Đảng có thể chọn lọc ra làm lực lượng kế thừa, giúp người dân có cơ hội có được sự phục vụ của những “công bộc” có đạo đức công vụ công chính liêm minh luôn biết chủ động lánh xa những nhúng chàm, nguyền rủa các nhũng lạm.

Đảng không bao giờ tạo ra được “con người”, và đừng bao giờ cố tạo ra “con người”. Đó là việc làm phản tự nhiên và do đó chỉ dẫn đến thảm họa nguồn nhân lực.

Chỉ có cha mẹ (hay người bảo hộ) đạo đức mới tạo ra được những “người con” đạo đức.

Chỉ những “người con” đạo đức mới có cơ hội tốt nhất để có thể thành “con người” đạo đức.

Chỉ những “con người” đạo đức mới có thể thành “người dân” xứng đáng được Đảng quan tâm chiêu dụ tuyển mộ làm “lực lượng kế thừa” về chính trị, mà chính trị là để phục vụ nhân dân chứ không để làm bố mẹ của nhân dân.

Chỉ có “lực lượng kế thừa” tinh túy tinh chọn như thế mới có thể trở thành những công bộc có thể có đạo đức công vụ để phục vụ người dân. Không thể tưởng tượng nổi việc Đảng chấp nhận tai tiếng khinh thường người dân khi không cần tuyển chọn “con người đạo đức” mà tùy tiện cung cấp các ngai vàng trong các cơ quan hành chính công quyền để “bọn khỉ vô đạo đức” ngự trị hành hạ người dân, táy máy ngân sách tích lũy từ tiền thuế của dân, để rồi cơ quan báo chí của Đảng thay vì giận dữ trước sự suy đồi đạo đức con người của Đảng thì chỉ biết thở than vớ vẩn về “đạo đức công vụ xuống cấp.”

Đạo đức công vụ xuống cấp” ư? Làm gì có chuyện tất cả các cơ quan hành chính công quyền ở Việt Nam đều có “code” để có “cấp” để mà xuống cơ chứ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Vì Sao Tôi Không Thèm Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-4-2020

Bài sau của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino.com và trên Aspirationsuk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc lúc 17g42 ngày 08-6-2009

Sau khi Giáo Sư Paul Krugman, nhà kinh tế học duy nhất đoạt giải Nobel Kinh Tế năm 2008, kết thúc buổi thuyết trình ngày 21/5/2009 về đề tài “Tìm Kiếm Cơ Hội Và Giải Pháp Trong Khó Khăn Và Khủng Hoảng” do trường Doanh Nhân PACE tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh, tôi hoàn toàn hài lòng khi đọc thấy bài viết của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A chỉ vài ngày sau đó đã có câu hãy “hết sức cảnh giác cả với kích cầu lẫn lạm phát và không nên tách ý kiến (rất xác đáng của Giáo Sư Krugman) ra khỏi ngữ cảnh mà ông phát biểu rồi ngầm hiểu một cách mù quáng vào hoàn cảnh Việt Nam”. 

Vì đã có kinh nghiệm không hài lòng kỳ tham dự buổi hội thảo hoành tráng do PACE tổ chức năm 2007 khi long trọng thỉnh Giáo sư Philip Kotler đến Thành phố Hồ Chí Minh thuyết trình về chủ đề New Marketing for New Age (Marketing Mới Cho Thời Đại Mới), tôi đã quyết định không đăng ký đến nghe, hầu tránh bốn vấn nạn luôn gặp phải là

(1) diễn giả vẫn chưa trên cơ sở điều nghiên nghiêm túc và chuyên sâu về Việt Nam,

(2) thính giả hay có kiểu đặt câu hỏi muôn đời phí phạm khi khai thác những bộ óc tài ba: “Ông/Bà nghĩ gì về Việt Nam và con người Việt Nam”,

(3) vấn đề ngầm hiểu một cách mù quáng của số đông đối với những lời khuôn vàng thước ngọc nhả ngọc phun châu của diễn giả, và

(4) một vấn đề tế nhị cộng thêm mà tôi sẽ viết trong một bài khác. 

Lần ấy, khi có người hỏi thương hiệu quốc gia như thế nào thì thích hợp cho Việt Nam, Giáo Sư Philip Kotler đã gãi đầu và cười ý nhị đáp rằng Việt Nam có thể là một Nhà Bếp Của Thế Giới, một hàm ý sâu sắc rằng hóa ra Việt Nam vẫn chưa biết mình có năng lực gì ngon lành nổi trội để giới thiệu ra cho cả thế giới kinh doanh cùng chiêm ngưỡng và giao kết làm ăn (chưa biết người, chẳng biết ta, thì sao trăm trận trăm thắng được). Ngồi nghe ông suốt ngày tôi chưa thấy ông nói lần nào rằng Việt Nam có “đầy đủ cơ sở để trở thành Nhà Bếp Của Thế Giới với mỗi món Phở lừng danh”, vậy mà hầu như ngay lập tức đã có ngay (và có trong thời gian nhiều tháng trời) biết bao phát biểu ý kiến hăng hái, hồ hởi, sung sướng, hân hoan, tưng bừng nói về Phở! Và cũng hầu như ngay lập tức, tôi hốt hoảng viết ngay cho một số báo cũng như tự đưa lên trang blog rất có nhiều người (nam phụ lão ấu thuộc trường phái nghiêm túc) đọc của tôi để giải thích đó là sự hiểu ngầm mù quáng, vì Việt Nam (và tất cả các quốc gia nào trên cái quả đất chưa bị hủy diệt này) không bao giờ là Nhà Bếp Của Thế Giới, và Phở không bao giờ xứng đáng là món ăn mà Việt Nam nên xưng tụng rùm beng. Thậm chí vì sợ ngoại nhân cười người Việt ta, tôi cũng đã phải viết bài bằng tiếng Anh giải bày với nội dung tương tự để chứng minh ở Việt Nam vẫn có người hiểu rõ Philip Kotler thực sự ám chỉ điều gì. Những chi tiết tôi đã nêu trong bài Philip Kotler, An Aftermath: National Branding – Vietnam, the Campus of the World Người Thái Đã Đi Trước (và “Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam”),  nói rõ vì sao không bao giờ có bất cứ nước nào được thế giới đặt tên là Nhà Bếp Của Thế Giới, ở đây chỉ xin nhắc vắn tắt vài điểm cực kỳ tiêu cực về Phở mà tôi đã nêu trong các bài viết trên, nếu Việt Nam cứ mãi nói đến Phở với toàn nhân loại: 

– Việt Nam muốn hàng tỷ du khách ăn chay … tẩy chay Việt Nam, hoặc nếu lỡ đầu tư vào Việt Nam thì rút vốn ra khỏi Việt Nam khi thấy Việt Nam trở thành extreemist (cực đoan) về ẩm thực; 

– Món Phở Việt Nam dùng bánh phở không ai bảo đảm là khi làm đã tuyệt đối không dùng thuốc ướp xác chết cho bánh có độ dai; 

– Món Phở Việt Nam có rau không ai bảo đảm là từ nguồn tuyệt đối không dùng phân tươi của người và gia súc làm phân bón, tuyệt đối không dùng thuốc trừ sâu bọ hay thuốc kích thích tăng trưởng của các khoa học gia Trung Quốc vĩ đại; 

– Món Phở Việt Nam có nước nấu không ai bảo đảm là tuyệt đối không lấy từ nguồn ô nhiễm, không chứa các kim loại và khoáng chất độc; 

– Món Phở Việt Nam có kiểu tái, tái chín, với thịt bò còn đỏ hỏn, khi thịt bò ấy không ai bảo đảm là tuyệt đối không có sán lãi, không có xuất xứ từ xác bò điên; hoặc nếu dùng gà cho món phở gà thì lại vướng sự hiềm nghi “nó” có mang virus H5N1 từ Trung Quốc tràn sang và từ những vùng dịch bệnh nội địa đổ về; 

– Món Phở Việt Nam (và tất cả các món ăn Việt Nam) đều chưa được Y Tế Việt Nam công bố hàm lượng dinh dưỡng cần thiết của một tô tiêu chuẩn (vì khi muốn làm rùm beng một thức ăn ra nước ngoài, buộc phải có nghiên cứu khoa học) và chưa thẳng thắn nêu lưu ý đầy quan ngại về lượng mỡ trong mỗi tô có nguy cơ gây máu và gan nhiễm mỡ cùng tim mạch do cholesterone có hại;  

– Món Phở Việt Nam có khả năng làm nhục quốc thể nếu du khách đến Việt Nam ăn phở dính các tiêu cực trên để rồi rối loạn tiêu hóa hay ngộ độc làm tiêu sự nghiệp ngành kỹ nghệ du lịch; và cuối cùng, 

– Món Phở Việt Nam không bao giờ sánh được với bánh Pizza (khô queo, không nước) cả trăm vị và món mì Spaghetti (nếu muốn, vẫn có nước) hàng trăm món. 

Việc báo chí đăng bài khẩn cấp cảnh báo của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A là cực kỳ cần thiết vì vấn đề hiện nay không phải là cái danh hão “Nhà Bếp Của Thế Giới” với sự hưng phấn sai lầm mang tên Phở của năm 2007, mà liên quan đến “khủng hoảng”, “kích cầu”, “lạm phát”, khi những diễn giả lừng danh đến nhả ngọc phun châu lại trong tình hình bị lây nhiễm một chứng bịnh chung mang tên “chưa biết nhiều về Việt Nam”. 

Đoạn văn sau của Tiến Sĩ Nguyễn Quang A.  Xin được trích dẫn với lòng kính phục bậc trí thức đã khẳng khái gióng hồi chuông cảnh giác: 

“Ngồi nghe ông suốt ngày tôi chưa thấy ông nói lần nào rằng khủng hoảng đã đến đáy, nếu tôi hiểu đúng ông, ông chỉ nói đã có những dấu hiệu (tốc độ sụt giảm đã chậm lại, mức tăng thất nghiệp ở Mỹ trong vài tháng qua đã không còn cao như các tháng trước, …) cho thấy khủng hoảng tiến dần (sắp) đến đáy và ông hy vọng vậy. Nhưng mối lo là khi đạt đáy thì có tăng trở lại hay cứ luẩn quẩn ở đáy đó một thời gian dài. 

“Trong ngữ cảnh đó, ông nhắc tới gói kích cầu của Mỹ (cỡ 2,5% GDP) và các chính sách kích thích chưa đồng bộ của các nước EU có thể là không đủ để đưa nền kinh tế toàn cầu bứt khỏi cái đáy đó (có thể luẩn quẩn ở đó đến 5 năm) và ông nghĩ nên tăng gói kích cầu lên gấp đôi. Ông cũng giải thích khá kỹ nếu nhà nước vay tiền để chi cho các khoản kích thích, thì (trong ngắn hạn) cách làm đó không gây lạm phát và ông cũng nói rất rõ là không phải chính phủ Mỹ “in” tiền để làm việc đó (như một vài báo đưa tin ngày hôm sau).

“Ông cũng nói về nguy cơ giảm phát và lạm phát không phải là điều đáng lo ngại (trên thế giới nói chung và nhất là ở các nước phát triển: tại Mỹ số liệu ngày 15-5 cho thấy lạm phát ở Mỹ là -0,7%, tức là đang giảm phát). Trong bối cảnh đó quả thực lạm phát không đáng lo ngại. Có thể nói những nhận xét của Gs. P. Krugman là rất xác đáng. Tuy nhiên, khi đưa tin nhiều báo thường quên mất ngữ cảnh mà lời nhận xét được đưa ra. 

“Khi được hỏi về lời khuyên cho hay nhận xét về Việt Nam, Gs. Krugman rất thận trọng. Ông nói, mới ở Việt Nam chưa quá 24 giờ và chủ yếu trong khách sạn nên ông không thể khuyên gì, ông ra Hà Nội để học hỏi với tư cách một columnist, một nhà báo, chứ không phải như một nhà tư vấn chính sách. Sự khiêm tốn và thận trọng đáng kính từ một nhà khoa học lớn. Thế nhưng cách đưa tin của một vài báo Việt Nam (tách lời nói khỏi ngữ cảnh) có thể gây hiểu lầm. 

“Hiểu lầm thứ nhất có thể xảy ra khi ông nói cần tăng gấp đôi gói kích cầu (của Mỹ và EU hay Nhật Bản). Có thể có người sẽ nghĩ ta cũng nên làm vậy. Hãy thận trọng, ở ta tổng “gói kích cầu” như được công bố phải ở cỡ trên 10 % GDP, mức thuộc loại cao nhất thế giới. Mặt khác chúng ta nghiện “kích cầu” suốt 10 năm rồi (trong 10 năm đó chỉ có giai đoạn 4-2008 đến 11-2008 là giai đoạn “siết”, còn toàn bộ phần thời gian còn lại là “kích”). 

“Chính việc say kích cầu này đã là một trong những nguyên nhân chính gây ra những bất cân đối vĩ mô trầm trọng vừa qua và những bất cân đối đó vẫn còn nguyên. Những bất cân đối vĩ mô trong thời gian dài đó đã làm cho lạm phát lên mức rất cao trong năm qua (gần 20% vào cuối năm 2008 so với cuối 2007). 

“Khủng hoảng toàn cầu làm cho tình hình lạm phát ở ta dịu đi đôi chút, nhưng mức lạm phát của 5 tháng đầu năm 2009 so với 5 tháng đầu năm 2008 vẫn ở mức 2 con số là + 11,59% (chứ không phải là một số âm như ở Mỹ). Nói cách khác lạm phát ở ta vẫn cao. Với chính sách tiền tệ nới lỏng và say kích cầu như hiện nay có thể vài tháng tới lạm phát vẫn chưa, nhưng cuối năm hay sang năm 2010 có thể lạm phát lại bùng phát. 

“Như thế phải hết sức cảnh giác cả với kích cầu lẫn lạm phát và không nên tách ý kiến (rất xác đáng của G.S Krugman) ra khỏi ngữ cảnh mà ông phát biểu rồi “ngầm hiểu” một cách “mù quáng” vào hoàn cảnh Việt Nam. Làm thế sẽ rất nguy hiểm. Hy vọng các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đủ tỉnh táo để không hiểu nhầm như vậy. Và các báo cũng nên cẩn trọng khi đưa tin kẻo có thể gây ra hiểu hiểu lầm chết người.” 

Thật là một phản ứng kịp thời từ kinh nghiệm của sự cố năm 2007 khi lời nói của Philip Kotler bị hiểu sai, với minh chứng hùng hồn ở chỗ cho đến ngày nay Việt Nam cũng chẵng là “Nhà Bếp Của Thế Giới”, và sự tung hê món Phở nay đã là quả bóng bẹp dí chẳng còn ai nhắc đến, cũng như thời gian sẽ chứng minh Tiến Sĩ Nguyễn Quang A đã không làm một việc thừa trong năm 2009 xa xưa ấy. 

Thư bất tận ngôn.  

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Ghi chú tham khảo: 

– A, N.Q. 2009. Không nên ngầm hiểu các lời khuyên của P.Krugman mù quáng. http://www.vietstock.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=116498&ChannelID=38. (Accessed June, 06, 2009)

– Phuoc, H.H. 2007.  Philip Kotler, An Aftermath: National Branding – Vietnam, the Campus of the World. http://uk.blog.360.yahoo.com/blog-WJ2qRpo5dKce.8S1AOHSNmonPHXz?p=129. (Accessed June 07, 2009)

– Phuoc, H.H. 2008. Người Thái Đã Đi Trướchttp://uk.blog.360.yahoo.com/blog-WJ2qRpo5dKce.8S1AOHSNmonPHXz?p=179  (Accessed June 07, 2009)

– Phuoc, H.H. 2008. National Branding: Vietnam, the Campus of the World. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=16872. (Accessed June 07, 2009)

– Phuoc, H.H. 2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=16874. (Accessed June 07, 2009)

Xây Dựng Thương Hiệu Quốc Gia: Vựa Lúa Của Thế Giới

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-4-2020

Bài sau của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino.com và trên Aspirationsuk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc lúc 00g17 ngày 09-12-2008

Được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt, thuộc Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam, đăng lại tại trang 18 và 19 ấn bản số 02 ngày 01/11/2008

Bài 1: Giành danh hiệu “Vựa lúa của thế giới”

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-12-2008

Ngài Luiz Lula da Silva, Tổng Thống Brazil, từng phát biểu đầy thách thức rằng “Đây không phải là sự ngạo mạn hay tự coi mình là quan trọng, song người Brazil chúng ta cần đối mặt với cái mà các nước khác cho là khủng hoảng lương thực, xem nó là cơ may tuyệt vời để biến chúng ta thành vựa lúa của thế giới mà chúng ta đã trông đợi bấy lâu nay.” 

Lương thực – “đế chế quyền lực muôn đời”

Những khẩu hiệu cực đoan như “sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu” đã không màng đến cái thực tế phũ phàng của sự phát trỉển ngành công nghiệp Việt Nam, bởi công nghiệp không thuộc thế mạnh chuyên biệt tiềm năng của nước nhà. Những bài học đắt giá của nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta nên rút kinh nghiệm.

Cụ thể, Ấn Độ nỗ lực thu hút các công ty hóa chất nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ”. Chưa kịp thành Khu Chế Xuất Của Thế Giới (The sepzone of the ưorld), nước này đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá. Nghiêm trọng hơn, vụ cháy nổ rò rỉ 127 tấn khí độc methyl isocyanate từ Nhà máy Hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal (Ấn Độ) cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống.

Hiện nay, khi số lượng các công ty quốc doanh ở nước ta dần trở thành thiểu số, sẽ có sự chuyển hướng cơ bản và thực chất của lực lượng công nhân sang khu vực tư nhân, trong nước hoặc nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của khu vực và toàn cầu của các ngành công nghiệp, người công nhân sẽ đối mặt nhiều và dày hơn với sự chèn ép quyền lợi từ giới chủ, dẫn đến các cuộc đình công hợp pháp xảy ra nhiều hơn. Đặc biệt, khi các ngành sản xuất công nghiệp ngày càng thiếu trách nhiệm đối với việc gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sống, và nhất là khi biến động về giá cả lương thực gần đây trên thế giới đã làm lộ diện một thế lực kinh tế cực kỳ quan trọng, đó là lương thực – “đế chế quyền lực muôn đời”.

Nỗ lực trở thành “Vựa lúa của thế giới”

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 15 của Hiệp hội Hợp tác Khu vực các Quốc gia Nam Á –  SAARC (South Asian Association of Regional Cooperation) tổ chức ngày 2 và 3.8.2008 vừa qua, gồm 8 nước:  Sri Lanka, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Maldives và Afghanistan, với tổng số dân 1,5 tỷ – chiếm 1/5 dân số toàn cầu, đã công bố một thông điệp hùng hồn: “Chúng tôi, lãnh đạo cấp Nhà Nước và Chính Phủ tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh SAARC tổ chức tại Colombo, quyết định bảo đảm an ninh lương thực toàn khu vực và biến Nam Á trở lại vai trò Vựa Lúa Của Thế Giới”. Trong khi đó, chỉ đúng một tuần trước tuyên bố của SAARC, các quốc gia vùng biển Caribê và Tây Phi đã có hội nghị quan trọng đề ra kế hoạch tương tác về nông nghiệp và an ninh lương thực.

Tháng 11.2008, Hội nghị Bất thường của SAARC sẽ được tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ, nhằm thống nhất một khung thực hiện chung: lấy người dân làm trung tâm, với chiến lược khu vực ngắn và trung hạn, cùng các dự án nhằm gia tăng sản lượng lương thực, đầu tư vào nông nghiệp và các ngành kỹ nghệ nông nghiệp, nghiên cứu canh nông và ngăn ngừa sự xuống cấp chai cằn của đât đai, sẻ chia công nghệ nông nghiệp cùng kinh nghiệm thu mua và phân phối, quản lý các rủi ro liên quan đến dịch bệnh và thời tiết trong nông nghiệp.

Cả thế giới rúng động ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính và lương thực toàn cầu. Ngoài sự tích cực của SAARC và nhóm Caribê và Tây Phi, Argentina bắt đầu nói về chiến tích từng là Vựa Lúa Của Thế Giới trong gần cả thế kỷ XX, với kỳ vọng vươn lên chiếm lĩnh danh dự đã vuột khỏi tầm tay… Hiện nay, Ấn Độ, một mặt cùng SAARC dựng xây Nam Á thành “Vựa lúa của thế giới”, mặt khác trỉển khai mạnh mẽ các dự án để giành lấy thương hiệu này. Tương tự, Mỹ cũng nhắc lại thủa vàng son đầu thế kỷ XX khi tự xưng là “Vựa lúa của thế giới”, hay nước láng giềng Canada nhắc đến tỉnh Saskatchewan chuyên canh nông nghiệp, cung cấp 60% nhu cầu bột mì của Canada như là … “vựa lúa của thế giới”.

Thử nhìn lại Việt Nam, từ sau buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8.2007 về Marketing ở khách sạn Sheraton (TP.HCM), với chủ đề “Marketing mới cho thời đại mới” mà Ông Philip Kotler – người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới – là diễn giả, đã có rất nhiều những bài viết về Thương hiệu quốc gia, Làm thế nào để xây dựng một Thương hiệu quốc gia, Định nghĩa Thương hiệu quốc gia, Những yếu tố hình thành nên một Thương hiệu quốc gia, … Nhưng dường như vẫn chưa có một đề xuất nào cho một kế hoạch cụ thể, gắn liền với sự phát triển kinh tế cụ thể cho nước nhà được cả thế giới công nhận cho một danh xưng cụ thể.

Kết quả không mong đợi này khiến lời của Philip Kotler hoặc bị tầm thường hóa thành một công trình giản đơn tung hê món Phở và mấy món ăn bình dân, chưa hề được kiểm chứng về giá trị dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm để nhắm tới cái danh “Bếp ăn của thế giới” đầy huyễn hoặc, thiếu khả thi, và phi thực tế, được “thăng hoa” thành những ý tưởng cao vời, biến cụm từ Thương hiệu quốc gia chỉ còn được hiểu theo một ý trừu tượng bao la bát ngát. Chuyện này chẳng khác gì khi nghe đến “Made in Japan” thì ai cũng nghĩ ngay đến nền công nghiệp hàng tiêu dùng cơ khí chất lượng cao, chứ không còn mang ý nghĩa thương hiệu đó là một thành quả chuyên biệt, cạnh tranh và cực kỳ hùng mạnh của một nền kinh tế kiểu cụ thể tập trung giới hạn, như “Công xưởng của thế giới” hay “Văn phòng của thế giới” mà thế giới đã gán ghép cho Trung Quốc và Ấn Độ, như mong muốn truyền đạt của Philip Kotler.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Danh Bạ Nông Nghiệp Việt Nam.  http://www.vnlink.net/Nong_Nghiep/

Đường Hồng Dật. Đa Dạng Sinh Học Nông Nghiệp Việt Nam – Cơ Sở Để Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững. www.vacne.org.vn/TTHD_3/Hue_BC_Doc/Duong%20Hong%20Dat.doc

Gilani, S.Y.R. 2008. Let Us Make South Asia the Granary of the World. 15th SAARC Summit.

Giridharadas, A. 206. Growing in India: Food for the World. http://www.iht.com/articles/2006/05/26/business/wbfood.php (accessed 04 Sep 2008).

Nông Nghiệp, Nông Dân, Nông Thôn Việt Nam: Hôm Nay và Mai Sau. http://www.saga.vn/Giangduong/Gioithieusach_tailieu/12939.saga

Nông Nghiệp Việt Nam Sau Một Năm Gia Nhập WTO: Xuất Khẩu Thuận Lợi. http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105039/ns071128145238

Koning N., M.V. Ittersum, G. Becx, T.V. Boekel, W. Brandenburg, J.V.D. Broek, J. Goudriaan, G.V. Hofwegen, R. Jongneel, H. Schiere, and M. Smies. 2007. Long-term global availability of food: continued abundance or new scarcity?

Saskatchewan: Granary Of The World. 1981. Saskatchewan Indian. 11 (01-02): 2.

The World Factbook. 2008. http://www.bartleby.com/151/country/vm.html

Trade: Five Largest Rice Exporters’ Meeting Postponed until Early 2004. Asia Africa Intelligence Wire. Financial Times. http://www.accessmylibrary.com/comsite5/bin/aml2006_library_auth_tt.pl?item_id=0286-19584808 (accessed 01 Sep 2008).

Trần Tất Hợp. 2008. Một Cách Tiếp Cận Vấn Đề Nông Thôn – Nông Nghiệp – Nông Dân. http://vnids.com/modules.php?name=News&file=article&sid=16

What Happened in Bohpal. http://www.bhopal.org

Wilcox, D. 1919. Quincy and Adams County, History and Representative Men. Lewis Publishing 2: 835 – 836. 

Workman, D. 2008. Top Rice Producing Countries. http://internationaltradecommodities.suite101.com/article.cfm/top_rice_producing_countries   (accessed 01 Sep 2008). 

Tom Cannon Đã Hoàn Toàn Sai

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-4-2020

Bài sau của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino.com và trên Aspirationsuk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc lúc 04g09 ngày 18-8-2009

Thưa Giáo Sư Tom Cannon, Ông Đã Hoàn Toàn Sai Khi Nói Về Anh Quốc Và Lúc Liên Hệ Đến Việt Nam

Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước

18-8-2009

A- Dẫn Nhập

Trong bài viết trên Emotino tựa đề Vì Sao Tôi Không Thèm Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman, tôi có nêu sự chân thật trần trụi nhưng đáng trân trọng của Giáo sư Paul Krugman khi Ông thú nhận đã chưa hề nghiên cứu về Việt Nam, rằng Ông mới ở Việt Nam chưa quá 24 giờ và chủ yếu ở trong khách sạn nên Ông không thể khuyên gì, rằng Ông ra Hà Nội để học hỏi với tư cách một columnist (nhà báo viết chuyên mục), một nhà báo, chứ không phải như một nhà tư vấn chính sách. Nhưng mấy tuần nay những thông tin về Giáo sư Tom Cannon lại ở một hướng khác: sự thật trần trụi về một nhà trí thức hàn lâm Anh Quốc không trung thực về lịch sử Anh Quốc, không hiểu biết gì về Việt Nam và lịch sử Việt Nam, nhưng giữ tư thế một nhà tư vấn chính sách hẵn hoi. Những ý kiến sau đây dựa trên giả định: toàn bộ thông tin Tiếng Việt của những buổi “đối thoại” của và với Tom Cannon đã được bộ phận dịch thuật phía Việt Nam thực hiện nghiêm túc, chính xác, và hoàn hảo tu từ.  

B- Phản Biện về Anh Quốc

1) Sự Hèn Hạ và Hèn Nhát của Anh Quốc trong Đệ Nhị Thế Chiến

Tom Cannon đã nói nước Anh quê hương của Ông đã là một quốc gia anh hùng, chiến thắng được quân Đức, và sau 70 năm đằng đẳng vẫn cứ mãi làm phim về cuộc chiến đó, còn nói chuyện về cuộc chiến đó, vẫn còn suy nghĩ về cuộc chiến đó, và lần này qua Việt Nam Ông cũng lập lại nội dung ảo tưởng, hoang đường đó, như một sự đỗ thừa rằng chính cái lịch sử anh hùng vẻ vang đó đã trở thành hiểm họa khiến Anh Quốc tụt hậu so với các đế chế kinh tế trong đó có Hoa Kỳ.

Sự thật là chính sự hèn hạ và hèn nhát của Anh Quốc trong và sau Đệ Nhị Thế Chiến đã khiến toàn khối Tây Âu – mà điển hình là Pháp Quốc – khinh thường Anh Quốc. Còn nhớ vào năm 1936 Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh là Huân Tước Halifax, một quý tộc thích cưỡi ngựa săn cáo dưới triều đại của Thủ Tướng Neville Chamberlain, đã áp dụng chính sách nhượng bộ toàn diện, thỏa hiệp với Hitler của Quốc Xã Đức để làm ngơ cho Đức chiếm Tiệp Khắc và nhiều vùng đất Châu Âu, miễn sao Hitler ban cho Anh Quốc sự bình yên và giáng cho chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô đòn tận diệt. (Halifax ủng hộ kế hoạch quân sự của Hitler và thậm chí còn ngợi ca Hitler là Người Chân Chính Chống Chủ Nghĩa Cộng Sản; và năm 1937 tạo điều kiện cho Hitler thiết lập “trật tự Châu Âu” đối với vùng Danzig, Áo Quốc, và Tiệp Khắc). Chính sự hèn hạ này của Vương Quốc Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan đã làm Cộng Hòa Pháp tức giận, khinh miệt Anh đã nhanh nhảu giơ tay đầu hàng bỏ mặc các nước đông minh sống chết mặc bây. Ngay tận ngày nay, việc xum xoe cầu cạnh tương đương với một sự đầu hàng của Anh vẫn là đề tài đàm tiếu châm chọc trên thế giới, đặc biệt là tại Pháp, đất nước được khắp nơi khâm phục vì tinh thần chiến đấu ngoan cường chống Đức, dù rằng nhanh chóng sau đó họ thất thủ với 55.000 quân dân tử trận đổi lấy sự hao tổn lực lượng đến 40.000 quân Quốc Xã Đức. Chính phủ Pháp và Anh từ ấy đến nay chưa bao giờ xem nhau là bạn thiết trên trường quốc tế. Ngay cả Winston Churchill, người sau này là Thủ Tướng Anh, cũng giận dữ gọi thỏa hiệp với Đức trong ngày D ấy (D-Day) là Sự Nhục Nhã và Thất Trận (Disgrace and Defeat).  

2) Sự Sai Lầm Chết Người của Anh Quốc Kiểu “Theo Đóm Ăn Tàn” 

Sau thời gian dài ngạo mạn tận hưởng vinh quang với tuyên bố Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn Trên Cương Thổ Vương Quốc Anh (do Anh chiếm thuộc địa khắp năm châu bốn biển vòng quanh thế giới) với lực lượng hải quân hùng mạnh, Anh Quốc đã trở nên suy tàn và theo giải thích trước việc biến mất đầy tai tiếng của chiếc rương mang số 24 khi Thư Viện Bodleian của Đại Học Oxford tung ra từ tàng thư các thùng tài liệu thư từ của Nữ Hoàng Anh gởi mật lịnh cho Huân Tước Halifax, người ta cho rằng ắt hẳn đã có các bằng chứng bảo Halifax phải bằng mọi giá thỏa hiệp với Hitler để Hitler hứa bảo đảm an toàn cho Hoàng Gia Anh, khiến chiếc rương phải bị bí mật đem đi thiêu hủy.  Những tuyên bố hạ mình kiểu “mọi đất nước phải mang ơn Đức Quốc” mà Halifax xưng tụng trong thời gian bù khú vui chơi săn bắn tại Đức với các quan chức mà tên tuổi của họ sau này được biết đến khi họ được đưa lên giảo đài của Tòa Án Quốc Tế để được thắt cổ đền tội ác chiến tranh, như Joseph Goebbels hay Herman Goering. Đến khi Luân Đôn hứng chịu những cuộc không kích kinh hoàng của các oanh tạc cơ hiện đại Messerschmitt Bf109E (Me-109) của không quân Đức Luftwaffe, cũng như các hỏa tiễn V1 và V2 bắn trực tiếp từ Đức đến Luân Đôn và Miền Nam nước Anh, Anh Quốc mới hào hùng tuyên chiến chống Đức. Đó cũng là thời điểm Đức Quốc Xã và Khối Trục Đức Adolf Hitler – Ý Benito Mussolini – Nhật Minh Trị Thiên Hoàng đón nhận những giáng trả khủng khiếp của Liên Xô, và cũng là thời điểm Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến, khiến Anh Quốc nhận được các viện trợ “nghĩa tình” rất dồi dào của Mỹ, dẫn đến sự đỗ bộ mang tính “anh hùng ca” của Anh Quốc trên các vùng mật danh Bờ Biển Thanh Kiếm (của Sư Đoàn Bộ Binh Đệ Tam Anh Quốc), mật danh Bờ Biển Vàng (Quân Đoàn XXX Anh), phối hợp với Đệ Ngũ Quân Đoàn Hoa Kỳ (mật danh Bờ Biển Omaha) và Sư Đoàn 3 Bộ Binh Canada (mật danh Bờ Biển Juno) trên toàn tuyến Bờ Biển Normandy, Pháp Quốc. 

Khi nhận viện trợ của Hoa Kỳ, Anh Quốc đã chấp nhận trả nợ bằng cách “theo đóm ăn tàn”, nghĩa là sẽ luôn ở vị trí đàn em chiếu dưới (underdog) răm rắp tuân theo các ý đồ chính trị và quân sự của Hoa Kỳ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Đó là lý do vì sao Anh Quốc luôn ủng hộ Hoa Kỳ trong tất cả các cuộc chiến tranh, như đưa ngay quân theo Hoa Kỳ đến Afganistan, Iraq, v.v. Xương máu của con dân nước Anh đã đổ lầy đất để trả nợ mà đất nước Anh mang ơn của Hoa Kỳ. Không có viện trợ của Hoa Kỳ, Anh Quốc đã bị Đức san thành bình địa. Không có các quân đoàn của Hoa Kỳ và Canada, Anh Quốc không bao giờ dám cầm súng tự mình xông pha đầy khí thế tràn lên Normandy “đánh bại Đức Quốc Xã, giải phóng Pháp và các lân bang”, để ngày nay Giáo sư Tom Cannon giảo hoạt cho rằng quê hương mình anh hùng! 

Sai lầm của chính phủ Chamberlain, của Halifax, của Hoàng Gia Anh, đã dẫn đến cái nhục bị Châu Âu khinh rẻ, không bao giờ có cơ hội thành cường quốc kinh tế, chứ nào phải do Anh Quốc anh hùng chiến thắng Đức Quốc Xã mà đem ra tự cho mình sánh cao bằng với Việt Nam.

C-Phản Biện về Việt Nam

Việt Nam thuộc một phạm trù khác. Lịch sử Việt Nam cho thấy đất nước Việt Nam chưa bao giờ là “cường quốc mà mặt trời chưa bao giờ lặn trên toàn cương thổ Đại Cồ”, và vua của các triều đại hàng năm đều phải tấn cống “thiên triều” Trung Quốc hung hãn vĩ đại, với bao ngọc ngà, châu báu, vàng bạc, ngà voi, sừng tê,  mỹ nữ, thợ thủ công bậc thầy, mã não, kỳ nam, trầm hương. Sự cống nạp đó là để mưu cầu an bình cho toàn dân, để người dân có cơ may được sống, được học, được thời gian đủ để hun đúc tinh thần ái quốc, phục vụ cho sự bảo vệ biên cương, trường tồn nòi giống. Đó là mưu kế của bậc minh quân, không dùng trứng chọi đá. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Cộng Sản – đối tượng bị thù ghét bởi chính phủ Anh hèn nhát và Đức Quốc Xã Hitler bạo tàn tội phạm ghê tởm – Việt Nam đã không “sát cánh kề vai” với bất kỳ quân đội nào, dù của Liên Xô hay Trung Quốc, tức là không núp bóng hay “đồng tác chiến”, nên phải ở một vị trí cao trọng hơn Anh Quốc. Bất kỳ sự lý giải nào để Vương Quốc Anh được sánh ngang hàng với Việt Nam đều là sự mạo phạm kệch cỡm, vô lý, vô duyên. 

Việt Nam vẫn có nhiều khó khăn trong xây dựng kinh tế, không phải vì Việt Nam ngủ quên trên chiến thắng, hay Việt Nam mãi ngất ngây với chiến thắng, mà chính vì nhiều cường quốc đã có những chính trị gia giống như Halifax của Anh Quốc sẵn sàng bắt tay với kẻ bạo tàn chỉ để cùng nhau tiêu diệt cộng sản, khiến Việt Nam bị cấm vận, bị mãi tấn công bởi các luận điệu nhân quyền, thậm chí việc các thủ lĩnh Khmer Đỏ đang bị đưa ra Tòa Án Quốc Tế xét xử tội diệt chủng – nghĩa là Việt Nam đã đúng khi triệt hạ Khmer Đỏ — mà các quốc gia hùng mạnh vẫn chưa chịu gỡ bỏ sự xúc xiểm rằng Việt Nam xâm lược Kampuchea. Đó là chưa kể ngoài việc hùa nhau chơi bẩn Việt Nam, kích động chống phá Việt Nam, các cường quốc “anh hùng” còn sử dụng những đòn tâm lý chiến, làm một bộ phận giới trẻ không tư cách, mất gốc, xuẫn động cứ mơ màng về đa đảng – đa nguyên, thay vì góp phần xây dựng đất nước lại chà đạp đạo lý nhân luân sau khi ăn học thành tài từ hải ngoại, như Lê Công Định và đồng bọn.  

Tóm lại, khi khuyên Việt Nam nên cẩn trọng với quá khứ hào hùng, Ngài Giáo Sư Tom Cannon đã hoàn toàn sai.  

D-Phản Biện về Sợ, Sợ Hãi, Khiếp Sợ, Nhát Sợ của Doanh Giới Việt Nam

Thật không hiểu vì sao Ngài Giáo sư và các bạn cùng Ngài đối thoại lại nói hoàn toàn sai về việc doanh nhân Việt Nam khiếp sợ các công ty nước ngoài, vì rằng sự ít thành công của nhiều doanh nghiệp Việt Nam là do họ chẳng biết sợ ai cả, xem các đại gia nước ngoài như cỏ rác, vì vậy mới mất cảnh giác, và sập bẫy. Nói rằng doanh nhân Việt Nam sợ, sợ hãi, khiếp sợ, nhát sợ, hay run sợ, hoặc yếu bóng vía, nghĩa là người nói mông muội, chẳng hiểu ất giáp gì cả. Vì không sợ, chơi dao bén, nên Nước Ngọt Chương Dương bị thôn tính bởi Coca-Cola. Theo phân tích lợi và hại của sự sợ hãi thì chính cái sợ mới làm người ta cẩn trọng, thận trọng, không vung tay quá trán đổ tiền của xây dựng công trình huyễn hoặc; và nếu biết sợ phép nước, lệ dân, người ta đã không để cho sự sản xuất làm ô nhiễm môi trường, cũng như phó mặc cho các chuyên gia quảng cáo tung hứng lung tung làm tổn hại đến thương hiệu của doanh nghiệp. Và cuối cùng, nếu biết “sợ”, người ta đã không tùy tiện nói về cái sợ của doanh giới Việt Nam như một nhạo báng khiếm nhã. 

E-Phản Biện về Sáng Tạo

Sáng tạo là hơi thở. Không thở thì dẫn đến nhũn não rồi tử vong. Luật pháp không buộc công dân phải thở. Nhưng công dân còn sống đều thở. Tương tự, sáng tạo là quy trình bình thường như sự hít thở. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã sáng tạo ra những cách đánh chưa hề có trong cẩm nang của Học Viện Quân Sự West Point Hoa Kỳ hay Hoàng Phố Trung Quốc, như “nắm thắt lưng địch mà đánh” khiến việc sử dụng đại pháo hoặc oanh kích của phi cơ bị vô hiệu hóa, hoặc gài lưu đạn trên đầu ngọn cây cao tiêu diệt trực thăng. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng khai sinh ra kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để thế giới chống cộng nhạo báng, dè bỉu, để rồi kinh tế Việt Nam đi lên, Việt Nam trở thành thủ lĩnh của nội khối ASEAN, và các cường quốc kinh tế là tội phạm gây ra suy thoái toàn cầu với cái nền kinh tế thị trường không có định hướng xã hội chủ nghĩa của họ, và cũng để rồi áp dụng những điều tương tự, đặt kinh tế thị trường của họ dưới sự kiểm soát nhất định của chính phủ. 

Vì vậy, ở mọi nơi ai cũng đều sáng tạo. Thiếu sáng tạo, đã không tồn tại các nền văn minh, các quốc gia, các dân tộc. Việc nói quá nhiều về sáng tạo như thể đất nước này không biết sáng tạo, thiếu sáng tạo, hay doanh nghiệp-doanh nhân thiếu hoặc không sáng tạo, là sự sai lạc hoàn toàn. Nên nhớ rằng sáng tạo và thành công không phải là cùng một phạm trù, hay có liên quan mật thiết quả quả nhân nhân với nhau. Sáng tạo ra một thế võ dũng mãnh, tạo nên cơ bắp rắn chắc, sức mạnh tuyệt luân: đó là sáng tạo. Sáng tạo ra sự thiền định, thở ít, ăn ít, thụ động: đó là sáng tạo. Sự sáng tạo có thể dẫn đến một thành công hay thất bại; do đó, đem nội dung sáng tạo ra để dè bỉu doanh giới Việt Nam ắt không phải là một ý khôn ngoan. 

F-Phản Biện về Hủ Bại

Hủ bại dường như liên quan nhiều hơn đến vấn đề phong hóa, nên nếu nói về việc không sáng tạo sẽ khiến một dân tộc hủ bại, chẳng khác nào nói không hít thở sẽ là người đồi trụy vậy. Việc vấn kế của Giáo sư Tom Cannon về một thứ gạo giảm béo vừa khôi hài, vừa huyễn hoặc, không thực dụng, chẳng thực tế, và rất…hủ bại. Trên toàn cầu người tiêu dùng bắt đầu tẩy chay những sản phẩm trái tự nhiên, biến đổi gen, vì những thứ này là mầm mống gây bịnh ung thư, triệt tiêu nòi giống con người. Gạo từ thiên nhiên, việc sử dụng phân bón hóa học không được cho là khôn ngoan cho sự tiêu dùng của con người. Việc bỏ bạc tỷ nghiên cứu biến đổi gen để làm hạt gạo bớt “béo” để rồi chẳng thể bán cho ai, chắc chắn là việc điên rồ. Không thể cho ra một tư vấn đúng. Không thể cho ra một thí dụ thích hợp. Không thể cho ra một cách dùng từ ngữ thích hợp. Tất cả có thể bị gán cho cái tên hủ bại vì phong hóa không cho phép tất cả những điều không thích hợp ấy, đặc biệt về kiến thức trong tương tác cộng đồng.

G-Lời Kết

Thật ra Giáo sư Tom Cannon không có lỗi trong việc không thuộc sử Anh Quốc, vì rằng nhiều người lớn có học vị tiến sĩ ở Việt Nam cũng không thể nhớ hết lịch sử Việt Nam, biết thời đại vua nào ở những năm nào. Cái lỗi của Ông ở chỗ Ông dẫm đúng vào bước chân dẫn đến hố thẳm nghìn trượng của hư mất, diệt vong, của những vị Giáo sư nước ngoài khác đã đến Việt Nam diễn thuyết: đó là chưa hề nghiên cứu nghiêm túc và đầy đủ về Việt Nam. Cái đạo đức của nhà trí thức là không nói những gì không qua kiểm chứng mà vẫn nhận tiền thù lao. Nội dung bài này sẽ được viết lại bằng tiếng Anh để gởi cho Ông, với đề nghị người viết sẵn sàng tranh luận với Ông trực tiếp bằng tiếng Anh về tất cả những vấn đề Ông quan tâm, để Ông biết rằng Việt Nam còn có bao người học vấn cao hơn người viết gấp vạn lần mà Ông cần gặp để học hỏi và mở mang trí hóa.  

Cái “sợ” duy nhất của người Việt Nam là “sợ” cà lăm khi đấu khẩu bằng tiếng Anh trước một Ông Tây có học thức, chứ chẳng bao giờ sợ bất cứ vật cản nào, dù cho đó là quân thù hung hãn hay đại thương gia hùng mạnh. Không rõ về người Việt thì sẽ chẳng bao giờ nói đúng, tư vấn đúng. 

Ngoài ra, nội dung tôi thường hay nói đến là doanh nhân Việt Nam rất không đoàn kết, và doanh giới Việt Nam chưa biết đến bao giờ mới hình thành. Một festival về cà phê cực kỳ hoành tráng ở Tây Nguyên, với đủ trò như trực thăng chở một tách cà phê khổng lồ (một phí phạm vô nghĩa), v.v. Nhưng trong danh sách chỉ thấy Vinacafe và vài công ty nhỏ khác, chứ vắng bóng một đại gia khu vực tư nhân. Điều này chứng minh ngày nào ai còn cho rằng ta là đại gia ắt ta phải đứng đầu tổ chức của ngành hàng ta đang kinh doanh chứ không chịu dưới bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào, thì ngày ấy chỉ tổ có loạn thập nhị hoặc thập bách hay thập vạn sứ quân, chứ không thể là ngày để nói về thương hiệu hàng hóa Việt Nam vươn ra thế giới. 

Thư bất tận ngôn. 

Hoàng thư sinh đốn thư. 

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tham khảo:

British Prime Minister Chamberlain Appeases Hitler at Munich. http://www.historyplace.com/worldwar2/timeline/ww2time.htm (retrieved August 18, 2009)

England and World War II. http://www.personal.psu.edu/users/u/u/uup101/england.htm. (retrieved August 18, 2009)

England Drops Out of WWII… Hitler Invades Soviet Union. http://www.uselectionatlas.org/FORUM/index.php?topic=30831.0 . (retrieved August 18, 2009)

Lord Halifax . http://www.spartacus.schoolnet.co.uk/2WWhalifaxL.htm. (retrieved August 18, 2009)

The Battle of Britain 1940. http://www.bbc.co.uk/history/worldwars/wwtwo/battle_of_britain_01.shtml (retrieved August 18, 2009)

World War II in Britain. http://www.worldwariihistory.info/in/Britain.html (retrieved August 18, 2009)

World War II Spy Kit: The Great Nazi Intelligence Coup. http://www.dwightdeisenhower.com/spykit/historicalbackground.html (retrieved August 18, 2009)

Thương Hiệu Quốc Gia: Ngôi Trường Của Thế Giới

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-4-2020

Bài sau của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino.com và trên Aspirationsuk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc lúc 17g37 ngày 07-8-2008, là bản dịch tiếng Việt cho bài National Branding: Vietnam, the Campus of the World

Trong buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8 năm 2007 về Marketing ở Sheraton Hotel với chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới do Philip Kotler, người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới, là diễn giả đặc biệt, đã chậm rãi khoan thai phát âm thật rõ ràng rành mạch những ý tưởng mà nhiều ngày liên tiếp sau đó báo chí Việt Nam cuộn cuồn dậy sóng thông tin, đặc biệt là về “thương hiệu quốc gia” và “bếp ăn của thế giới”.

Thiết nghĩ cần có một khẳng định ở đây là Philip Kotler không hề gợi ý Việt Nam nên là một Bếp Ăn Của Thế Giới với ý nghĩa ẩm thực, mà chỉ đơn giản ngụ ý thế giới chưa biết nhiều về Việt Nam và Việt Nam cũng chưa định vị được uy thế của mình trong lĩnh vực nào để làm marketing thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, và Ông nói với nụ cười hóm hỉnh rằng trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới cũng là điều có thể nghĩ đến. Một thí dụ chứa đựng những ẩn ngữ của một bậc thầy tài hoa cần được giải mã nghiêm túc, chứ không chỉ là trần trụi như nói về phở hay bánh xèo, hoặc nói cho văn hoa bóng bẩy hơn là “ẩm thực”, nghĩa là Việt Nam có “món” nào “ngon” để cung cấp cho thế-giới- kinh-doanh-toàn-cầu-hội-nhập hay không, chứ không phải Việt Nam có “món ăn” nào để kéo thế giới tới ăn nhai uống ực hay không. Có người thậm chí nêu ý kiến cho rằng đã muộn rồi vì dường như con người Philip Kotler quá vĩ đại nên không biết đến chuỵện nhỏ là Thái Lan đã và đang thực hiện chương trình trở thành “Kitchen of the World” (Kim Hạnh, 2007). Một ngộ nhận. Thương hiệu một quốc gia không do chính quốc gia đó tự đặt cho mình khi chưa làm nên gì cả để thuyết phục cả thế giới. Everest là “Nóc Nhà Của Thế Giới” vì bản thân nó là đỉnh núi cao nhất rồi được thế giới đặt tên sau khi đã đo đạc hẵn hoi. Là một đất nước-thị trường với dân số khổng lồ và giá nhân công rẻ, Trung Quốc đã hấp dẫn các công ty nước ngoài đổ xô tìm đến mở nhà máy sản xuất hàng hóa cung ứng cho thế giới và từ đó cái danh “Cơ Xưởng Của Thế Giới” được hình thành. Tương tự, sau vài thập kỷ nổi đình nổi đám thu hút nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, chưa kịp thành Cơ Xưởng Của Thế Giới thì Ấn Độ đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống (www.bhopal.com), và một hướng mới đã mở ra khi đất nước có quá nhiều nhân tài ai-ti (IT, công nghệ thông tin) này cung cấp dịch vụ sao lưu “backup” cho các công ty trên thế giới khiến có cái tên “Văn Phòng Của Thế Giới”. Trong khi đó, Úc là đất nước ít dân nhưng có hệ thống y tế hoàn hảo chất lượng cực cao và nổi danh trong điều trị các bịnh nan y. Song, chưa bao giờ Úc trở thành “Dưỡng Đường Của Thế Giới”, chỉ vì còn thiếu yếu tố hàng đầu, đó là: Úc chăm lo hoàn hảo cho sức khỏe toàn dân còn bệnh nhân nước ngoài có thể đến Úc chữa trị, chứ Úc chưa hề tự tổ chức để đạt được “thương hiệu đó, cũng như đem dịch vụ của mình bung ra cung ứng mạnh mẽ đến các châu lục khác trên thế giới. Thái Lan tạo nên vài festival với tên tự đặt là “Kitchen of the World” nghe cho vui tai chỉ để giới thiệu ẩm thực Thái như một bổ sung thứ yếu cho ngành công nghiệp du lịch đã phát triển rồi của Thái, kéo thêm du khách đến Thái Lan (vì hàng triệu du khách đến Thái trong thập kỷ qua đã nếm món ăn Thái rồi chứ không phải bây giờ mới trình làng những báu vật còn giấu kín), trong khi để được cái danh Bếp Ăn Của Thế Giới, một quốc gia đúng ra phải như một…tổng công ty cung cấp suất ăn công nghiệp catering, nghĩa là anh phải đáp ứng được nhu cầu ẩm thực cho khách hàng của anh ở bất kỳ đâu trên thế giới, phù hợp với khẩu vị của riêng họ, bằng nguyên vật liệu chất lượng từ hoặc y như của xứ sở họ, và để làm được điều chắc chắn là không tưởng này phải có hệ thống thu mua, nhập khẩu, lưu trữ, bảo quản, vệ sinh tuyệt đối, và hệ thống phân phối cỡ DHL hay TNT, chứ không phải đơn giản giới thiệu món phở hay bánh xèo ngay tại Việt Nam. Thậm chí nếu món phở xoàng xỉnh của Việt Nam mà có nổi danh toàn cầu thì cái thương hiệu quốc gia của Việt Nam ắt là … Đất Nước Của Phở, như Ý là Đất Nước Của Pizza vậy, chứ sao là Bếp Ăn Của Thế Giới được. Nhiều người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam cả chục năm vẫn không thích thú gì khi được đãi các món ăn Việt, dù phở đã, đang, và sẽ mãi ngon đối với một bộ phận lớn người Việt vốn không bất kỳ ai ăn phở trừ cơm mỗi ngày trong trọn cuộc đời, nhất là bò điên lở mồm long móng, gà cúm, và rau xanh tưới phân tươi, vệ sinh không kiểm chứng luôn khiến phở thành món ăn kém an toàn hoặc góp phần gây các chứng mỡ trong máu, trong gan, còn những lời khen tặng của ngoại nhân chỉ mang tính xã giao ước lệ. Vì vậy, theo tôi, khi nói về “Bếp Ăn Của Thế Giới”, Philip Kotler đã sâu sắc hàm ý ngay cả điều hiểu theo nghĩa đen thuần túy là cái bếp nấu ăn vẫn là điều chưa nước nào đạt được, hay chưa hiểu được, là bếp dùng để nấu (chứ không phải để mọi người chui vào bếp để ăn), và nấu xong thì bưng ra ngoài cho khách (tức xuất khẩu đến tận tay khách hàng), cho thấy để có được một thương hiệu quốc gia đòi hỏi một hiểu biết cặn kẽ, một tổ chức tổng lực cùng một kế hoạch tổng hợp dài lâu. Cùng trong thế kỷ XXI một số lớn con cháu Lạc Hồng nói phở ngon, tất cả hậu duệ của Đế Chế Inca vẫn thích ăn bánh mì kẹp lúc nhúc giống kiến to đen của họ, còn dòng giống Châu Sơn Cổ của Truyền Thuyết Du-mông mê cháo thằn lằn đến độ khi tổ chức sự kiện thể thao vĩ đại cấp hành tinh chính phủ phải yêu cầu dân chúng ngưng ăn chóthằn lằn quốc hồn quốc túy đó, nên bảo đảm không ai dám vỗ ngực nói ẩm thực của mình là đứng đầu thiên hạ mà cả thế giới phải ăn. Pizza siêu tuyệt của Ý lan toàn thế giới, và phở Việt Nam không bao giờ ở đẳng cấp như vậy. Ở đây, tôi xin có ý kiến cụ thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho đất nước của chúng ta, đó là: “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” tức “The Campus of the World”.

Khác xa với nhu cầu ẩm thực vốn tùy vào ý thích riêng từng khách hàng chứ không tùy vào bản thân hàng hóa là món ăn, nhu cầu học tập chú trọng vào bản thân hàng hóa vốn gần như có giới hạn nhất định và đồng nhất, sẵn có; chẳng hạn đã học xong đại học thì đa số mong có điều kiện lấy thêm một cái MBA (Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, vốn đang dần mất sức hấp dẫn về tay MIB tức Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế). Vấn đề là học nơi đâu cho phù hợp túi tiền: học ở Mỹ như mấy nhân vật phim Hàn Quốc mỗi khi thất tình là qua Mỹ du học rồi về làm giám đốc ngay, học ở lân bang cho gần và khỏi bị phỏng vấn trầy trật khi xin visa vào một siêu cường, hay học ở một nước thân thiện có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn cho tương lai của bản thân người đi học. Việt Nam chính là đất nước có quá nhiều những thế ưu việt cho du học sinh nước ngoài theo các phân tích và trình bày ở các phần tiếp theo, thực sự phù hợp cho một chiến dịch quảng bá dành lấy thương hiệu đẳng cấp cao này một cách an toàn tuyệt đối mà không phải tranh cải lung tung về gia vị hay dư lượng chất kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc uớp xác chết làm bánh phở, hoặc đối mặt với án lịnh pháp đình khi có các ca gây ngộ độc thực phẩm cho khách hàng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự quốc gia.

Trước hết, xin được nêu duy chỉ những thế mạnh của Việt Nam cho thương hiệu quốc gia Ngôi Trường Của Thế Giới, vì những phân tích còn lại theo nội dung SWOT và TOWS chỉ cần thiết hơn cho một kế hoạch kinh doanh chi tiết dài ít nhất 100 trang in khổ A4 mà chúng tôi có thể thực hiện nếu được tham gia chương trình quốc gia cho mục tiêu này.

An toàn và an ninh trật tự luôn là điểm nhấn quan trọng khi thế giới nói về Việt Nam, và đây là thế mạnh vững chắc tuyệt diệu để chúng ta sử dụng trong marketing cho một thương hiệu quốc gia. Du học sinh được học tại những ngôi trường chi nhánh của Mỹ, Anh, và nhiều nước khác hoạt động tại Việt Nam, nơi không có những vụ xả súng sát hại bạn học, không có bạo loạn chính trị, không có biểu tình ẩu đả, hay thiên tai, khiến du học sinh và thân nhân của họ có thể an tâm đầu tư cho học vấn. Đó là chưa kể đến các đặc trưng mà du học sinh cảm nhận đựợc duy chỉ có tại Việt Nam : tinh thần hiếu học, tôn sư, trọng đạo của người Việt Nam, mà ngay cả đất nước sản sinh ra Nho Giáo cũng không thấy có. Đây là một giá trị cộng thêm: anh dạy ở nước khác và anh có quyền mặc quần khaki ngắn đưa cẳng chân lông lá, áo hoa hòe hoa sói bỏ ngoài, ngay trong giảng đường đại học, đơn giản vì anh thực hiện hợp đồng phục vụ khách hàng là sinh viên, những người chỉ muốn nhận hàng hóa anh chuyển giao; còn dạy tại chi nhánh cũng của trường ấy nhưng mở Việt Nam anh phải ăn vận chỉnh tề, và tuy cũng thực hiện hợp đồng với trường của anh, anh vẫn sẽ thấy mình là một bậc thầy được sinh viên Việt Nam trân trọng, kính trọng, nể trọng, tri ân, và tất cả sẽ tác động lên sinh viên từ các nước khác, khiến họ cùng học tập sinh hoạt theo nền nếp lạ lẫm nhưng thú vị và đúng đắn không chê vào đâu được, hình thành nơi họ một nhân cách cao hơn, đó là nhân cách nhân bản và văn minh mang tính xã hội cộng đồng tôn ti trật tự thay cho kiểu nhân cách dưới quyền điều khiển của cái tôi bản ngã. Học tại Việt Nam với người Việt Nam và các quốc tịch khác, trong môi trường xã hội văn hóa Việt Nam, đó cũng là một lợi điểm kỳ thú, vì chính những yếu tố văn hóa giữ vai trò tác động lớn lao đối với các kỳ tích về kinh tế, chiếm hơn 50% trong các khác biệt đối với mức tăng trưởng kinh tế (Kotler, Jatusripitak, and Maesincee 1997, 113). Theo giáo sư Werner Soontiens, Khoa Trưởng Viện Đại Học Công Nghệ Curtin của Úc, phát biểu trong buổi hội thảo về Toàn Cầu Hóa Và Các Tiềm Năng Kinh Doanh Giữa Úc Và Việt Nam được tổ chức tại trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh chỉ hai ngày sau cuộc hội thảo quốc tế của Philip Kotler, Việt Nam có một lợi thế lạ kỳ là đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh với sự chiếm đóng và tham gia chiếm đóng của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, v.v., nhưng dường như chỉ khiến người Việt Nam hiểu biết nhiều hơn về đối phương chứ không chồng chất trong mình thêm những mối căm thù và tinh thần bài ngoại. Chính điều này làm những doanh nhân và người dân từ các nước có “vấn đề lịch sử” với Việt Nam cực kỳ thích thú, tự tin, an tâm, và mến mộ Việt Nam hơn, rằng ở giữa người Việt họ không thấy lạc lõng vì được người Việt hiểu biết, cảm thông, hợp tác, đối xử thân thiện, cũng như trân trọng văn hóa riêng của họ; trong khi dân chúng ở vài nước khác trong khu vực nhìn họ với vẻ hoặc hằn học, hoặc tò mò đầy dọ xét, hoặc lạ lẫm, hoặc không thân thiện, khiến họ không sao có được sự thoải mái, an tâm, ngay cả trong một tour du lịch nhiều sao.

Những thế mạnh khác lại hoàn toàn khả thi vì nằm trong tay chính phủ để tạo nên được nét khác biệt độc đáo cho chiến dịch “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới”. Trong lĩnh vực đầu tư, nhà nước nhất thiết phải có các chính sách thông thoáng đối với giáo dục-đào tạo, cụ thể là về quy trình cấp phép và ưu ái cấp đất cho tất cả các dự án của các học viện có danh tiếng của nước ngoài thay vì chú trọng đến các sân golf chẳng giúp ích gì về lâu về dài cho quốc gia dân tộc, cộng với các ưu đãi về chuyển lợi nhuận về chính quốc. Trong khi cấp đất cho một công ty sản xuất có thể dẫn đến hệ quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà bản thân Việt Nam cũng không còn “mơ” gì (và đừng nên mơ) đến danh xưng Cơ Xưởng Của Thế Giới mà Trung Quốc đã chiếm hữu, việc cấp đất cho các trường nước ngoài xây dựng campus chỉ giúp tạo nên cảnh quan văn hóa cao, đồng thời lợi nhuận thu được cho quốc gia tất nhiên là lớn tính trên bình diện tương quan chung của các ngành và lĩnh vực của đời sống. Ngoài ra còn kể đến các chính sách đặc thù như cho phép sinh viên nước ngoài được lao động có thu nhập trong thời gian học tập tại Việt Nam cũng như ưu tiên dành cho họ những công việc họ quan tâm và có khả năng đáp ứng được ngay cả tại các công ty nhà nước Việt Nam sau khi họ tốt nghiệp, mà không phân biệt đối xử, xem họ như đối thủ cướp giật việc làm với người dân Việt Nam. Tất nhiên, chính sách là để chứng tỏ với thế giới ta có sức hấp dẫn như thế nào, chứ bản thân du học sinh nếu chọn Việt Nam là mái trường của thế giới thì họ cũng biết rõ mười mươi là cơ hội việc làm rất lớn cho họ vì ở Việt Nam ngày càng có nhiều công ty nước ngoài tìm đến kinh doanh và đầu tư.

Những lợi thế mà các đối tác là các học viện và trường học nước ngoài có thể có được khi tập trung về Việt Nam để biến Việt Nam thành Ngôi Trường Của Thế Giới, gồm chi phí thấp hơn và điều kiện bành trướng kinh doanh cực kỳ thuận lợi trong tình hình sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo-dạy nghề trên thế giới đã trở nên rất cao. Một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, khi được Việt Nam cấp phép mở chi nhánh, sẽ có được lợi thế trước hết là với “khách hàng” tại chỗ của đất nước 80 triệu dân mà đa số là giới trẻ, ngày càng có nhiều người có điều kiện kinh tế khả quan hơn, và ý thức về học-học nữa-học mãi cho một tương lai tốt hơn là đặc điểm nổi bật so với giới trẻ Âu Mỹ chú tâm nhiều đến việc kiếm “giốp” (job) hơn là cho việc học tập vốn có thể để thư thả về sau. Thứ đến là thay vì phải đến Mỹ với chi phí cao hơn, du học sinh vùng Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, và Bắc Á sẽ dễ dàng bị cuốn hút về Việt Nam để có được mảnh bằng danh giá nhưng với chi phí thấp hơn. Đó là chưa nói đến an toàn trong đầu tư vì rõ ràng là ngày nay mở trường tại những con hổ con rồng lân bang của Việt Nam đã không còn tính hấp dẫn và an toàn. Cuối cùng, các học viện nước ngoài khi đến Việt Nam không nhất thiết phải có làng sinh viên campus vì đặc điểm dân cư và địa lý của Việt Nam sẽ phù hợp hơn cho mô hình trường học với du học sinh cư ngụ bên ngoài tại các nhà trọ, khách sạn nhỏ, hay chung cư, giúp thiết kế được các gói học phí thấp hơn, tạo nên tính cạnh tranh cao hơn trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Nói tóm lại, khi chọn một con đường để theo đuổi, cao nhất và ưu tiên số một vẫn là dựa trên sức mạnh nội tại độc đáo, có bình diện rộng lớn hơn, có lợi thế tâm lý cao hơn trong danh dự và vinh dự của một quốc gia, có số đầu tư không quá lớn, có ít rủi ro hơn, và có nhiều lợi nhuận hơn. Phở, nếu ngon, sẽ chỉ sướng miệng, vì chưa hề có công trình nghiên cứu quốc gia về lợi điểm ưu việt của phở ở khía cạnh dinh dưỡng và sức khỏe (thí dụ như ăn một bát phở-có-đăng-ký-thương-hiệu sẽ có hiệu năng thay thế … một viên viagra), và nếu phải là phở thì sẽ chỉ tạo nên sự bất công đối với những phở-bình-dân-chưa-có-đăng-ký-thương-hiệu, rốt cuộc chỉ có lợi hơn cho cổ phiếu của các đại gia kinh doanh một món ăn nào đó mà thôi. Trong khi đó, Hàn Quốc đã nổ tung trời đất với nghiên cứu khẳng định đầy thuyết phục là món kim chi của họ giúp chống lại cúm gia cầm nên H5N1 không thể tấn công dân Hàn, và các chương trình nấu ăn của họ cực kỳ chuyên nghiệp, đầy ắp thông tin dinh dưỡng, và hấp dẫn hơn Yan Can Cook cả vạn lần, vậy mà họ có thèm làm cái chuyện nặn óc đặt một slogan “Nhà Bếp Của Thế Giới” như mấy anh Thái Lan đâu. Với một kế hoạch chiếm lĩnh vị trí “Ngôi Trường Của Thế Giới”, chúng ta giúp hạn chế “chảy máu ngoại tệ” khi mô hình du học tại chỗ vừa giúp sinh viên-học sinh Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí, vừa không bỏ lỡ cơ hội việc làm cũng như luôn theo kịp những đổi mới của nước nhà để hòa mình nhanh chóng ngay khi tốt nghiệp; việc đào tạo nhân tài, hệ thống đại học và cao học nước nhà có cơ hội cọ xát thực tiễn phát triển mạnh mà không phải tốn kém chi phí lặn lội ra nước ngoài “học hỏi”; lực lượng lao động đẳng cấp cao cung ứng kịp cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân thu ngắn thời gian đưa Việt Nam lên hàng cường quốc; ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch được “ăn theo” khi gia đình và người quen của du học sinh sang Việt Nam thăm nom hoặc du lịch nhờ cách “marketing truyền khẩu” của du học sinh, giúp hình thức kinh doanh du lịch–lữ hành–khách sạn–nhà nghĩ phát triển; và cuối cùng ngay cả những người dân nghèo buôn gánh bán bưng cũng có thể tạo ra nhiều Phạm Công cho xã hội, khiến câu chuyện Phạm Công-Cúc Hoa không mãi là cổ tích, vì rằng cảnh tượng đẹp nhất tôi đã nhìn thấy trên đường Nguyễn Huệ một buổi chiều năm 2006 không phải là Chợ Hoa xô bồ tốn kém vô bổ, mà là một người đàn bà đứng tuổi, tươi vui rạng rỡ ngồi bên gánh hủ tíu mì rong bà đặt xuống gần lề đường trước khách sạn Kim Đô, phe phẩy chiếc nón lá, vui vẻ chờ một chàng da trắng cao gầy ngồi xổm trên vệ đường húp xì xà xì xụp, lóng cóng dùng đũa vớt mấy cọng mì váng mỡ lềnh bềnh trong chiếc tô mẻ. Thật tuyệt diệu nếu đó là một du học sinh, và sẽ tuyệt vời hơn khi hình ảnh như vậy rồi sẽ được bắt gặp như chuyện thường ngày ở huyện tại Việt Nam.

Và tại sao không nghĩ đến một tương lai không xa, khi Ngôi Trường Của Thế Giới đào tạo ra quá nhiều nhân tài đa chủng tộc, những người đã ở lại Việt Nam làm việc sau khi tốt nghiệp, cùng nhân tài Đất Việt giúp Việt Nam trở thành Chất Xám Của Thế Giới đoạt luôn vị trí Văn Phòng Của Thế Giới từ tay Ấn Độ?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo

1) Kim Hạnh, Người Thái Đã Đi Trước.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

2) Kotler, P., S. Jatusripitak, and S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

3) What Happened in Bohpal. http://www.bhopal.org

National Branding: Vietnam, the Campus of the World

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-5-2020

Bài sau của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino.com và trên Aspirationsuk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc lúc 17g42 ngày 06-8-2008

PACE has set an exploit in deed!” said a foreign businessman, when we sipped some coffee in one of the tea-breaks at the International Conference on Marketing “New Marketing for New Age” organized on 22 August 2007 at the Sheraton Hotel with Philip Kotler, the founder of modern marketing, as the special speaker. Yes, it is really fantastic PACE could bring to Vietnam one of the four greatest management gurus of all time (i.e. Philip Kotler, Jack Welch, Bill Gates, and Peter Drucker), attracting even many CEOs who flew to Hochiminh City from various countries to be present in the auditorium flocked by a 700-strong army of participants failing the air-conditioning facility of the five-star hotel, and to attentively listen to every word uttered leisurely and clearly by the great personage, the very words that dominated the mass media of Vietnam for days thereafter, particularly on the issues of “national branding” and “the kitchen of the world.”

There should be a slight clarification here that Philip Kotler did not propose Vietnam be a kitchen of the world with a literal meaning relating to gourmets; instead, he simply implied that the world has not known much about Vietnam and Vietnam has not positioned itself in whatsoever field of its utmost strength for a possible marketing campaign for a national branding internationally. With a witty smile he added that the position of a Kitchen of the World could also be considered. This example embodies within itself a riddle to be seriously decoded rather than just a straightforward sticking of a pointblank note of such dishes like “pho” or “banh xeo” or the like; i.e. whether Vietnam has had any “unique thing” to offer to serve the world – not whether Vietnam having any “delicious dish” to invite the world to come to eat or taste. There even arises some idea that due to the fact that Philip Kotler is of so great a profile that he fails to be aware of what Thailand has been doing to acquire the title of The Kitchen of the World (Kim Hanh, 2007). This sounds another misleading reference. A national branding can hardly be attained as a matter of course by a concerned country without achieving any convincing outcome to the world. Everest gets the title of “The Roof of the World” simply because it is the highest acknowledged and certified upon the scientific measurement conducted academically in comparison with the balance peaks of the whole world. As a market-country of a huge population of cheap labour, China welcomes foreign investors who flock to it to set up manufacturing units for products to export worldwide, thus making the country labeled The Factory of the World.

Things are similar to India. After some decades successfully attracting foreign manufacturers to come to meet India’s strategy of import substitution but yet attaining the fame of the Factory of the World, India incurred so costly a price when its environment was so seriously devastated, making situations the worst with the leaking of 27 metric tons of the deathly gas of methyl isocyanine from the Union Carbide Plant of the American company Dow Chemical in Bhopal in end 1984, tolling the death of 20,000 inhabitants; 120,000 still suffering from ailments of cancer, brain-damage and birth-defect problems; half a million people still exposed to threats of diseases; and the site not cleaned up for ever (www.bhopal.com). However, a new opportunity comes when this country India of numerous talents provides the backup services to corporate customers worldwide, thus becoming the “Office of the World”. Meanwhile, Australia though not a populated country is having an excellent health services known for their capability in successful treatment of critical diseases; however, it has not been labeled “The Clinic of the World” due to the fact that its services have not been aggressively provided towards beyond its borders. Thailand manages its so-called “Kitchen of the World” campaign just to secondarily support the further promotion to its already developed tourist industry, attracting more tourists to visit Thailand to enjoy its dishes which have been already known by millions of tourists during the past decades, i.e. those dishes are not secret treasures of the nation. In order to get the title The Kitchen of the World, a country contestant need somewhat be a general catering corporation, ensuring to meet the gourmet requirements, tastes, and orders of customers worldwide, whereas the food provided must be from ingredients from customers’ countries or equal to qualities of such original ingredients; furthermore, in order to materialize this practically impossible and imaginary project, the country contestant must set up a huge system of procurement, importing, storage, preserving, hygienic conditioning, and DHL-like distribution. This is never like the simple work of introduction of Pho or Banh Xeo on site in Vietnam; and even if the Vietnamese Pho were worldwide acclaimed as the best dish, Vietnam then would get the label of The Country of Pho only. A fact is that many foreigners working for years in Vietnam are still reluctant to take Vietnamese dishes, regardless of whether a majority of the Vietnamese people consider their Pho the best. It is therefore assumed that when referring to the so-called the Kitchen of the World, Philip Kotler profoundly implied that even the literal meaning of the phrase could hardly be properly understood. Corporate Kitchens are where food is prepared according to the orders of customers and prepared food is brought out to serve customers. Corporate Kitchens are not where food is prepared according to the fancies of chefs then customers flock into to eat prepared food. Figuratively, unique products of national branding are for export purposes, and food of household is offered free to guests. And as the national branding establishment requires thorough understanding of rules, processes, and progresses; a strongly organized enforced mechanism, and a long-term general planning, I wish to propose the following target title for Vietnam: The Campus of the World with details are as follows.

Totally different from gourmet requirement which basically depends on individual customer and not on the food particulars of billions of dishes, the needs for education and training have the focus on a limited and seemingly uniformed list of available fixed goods; e.g. upon graduated from universities, most of people wish to get an MBA (which is losing its priority to the MIB) and the points of concerns are on where to apply affordably and conveniently, away from unnecessary torture at visa application interview process, and well within among friendly environment of much more competitive offerings tangibly and intangibly to the students. Vietnam is the very country of so much affordable convenience and preferential competitiveness to overseas students as per the following analysis, actually really factually practically suitable for an advertisement campaign for this country branding at an absolutely safe level without involving into any dispute or court case due to excessive residue of fatal insecticides or antibiotics or morphine used in making of noodle for “Pho”, or the like, which all so easily damage the country image, prestige, and pride.

Saying Vietnam is the safest haven for business operation is a fantastic emphasis on its high level of security politically, economically, and naturally favourably. Overseas students will find Vietnam an ideal place for admission to universities and colleges of the USA or other countries who operate in Vietnam, without any fear of school massacre shooting, racial discrimination, political chaos, riots, messy demonstration protests, or natural disasters, etc., where their parents and families would release themselves of any anxiety when investing in the schooling of their children in Vietnam. The unique and exclusive pluses to the studying in Vietnam of overseas students and to the teaching in Vietnam of foreign teachers include the traditional environment of desires of learning of Vietnamese people, total respect paid to teachers by students, their families, and the whole community, making positively interesting impacts on overseas students in building a constructive profound personality which prove the cultural factors play an important role in the growth rates of the economy (Kotler, Jatusripitak, & Maesincee 1997, 149). In a speech delivered by Professor Werner Soontiens of Curtin University of Technology of Australia at the seminar on globalization and business potentiality between Australia and Vietnam organized just two days after the Philip Kotler’s international conference, an interesting note was given about a unique advantage of Vietnam to the world that the people of this war-torn country undergoing the torture from invaders from China then France then Japan then the USA with its allies just to experience more the diversifying prototypes of “enemies” to understand them thoroughly, and not for an eventual revenge or a terrible xenophobia . This is why business people from even the countries of past problems with Vietnam flock to the country without any fear of falling victims to vengeance.

To make the country further qualified for the national brand name of the Campus of the World, the government can improve the licensing procedures for campus projects, provide preferential adjustment on profit transfer back home, land use, and even policies to provide job opportunities to foreign students upon graduation. And why it is not possible if together with the local talents, the foreign students who work in Vietnam after graduation will further contribute to the development of the economy of the country, even making it gain the other national branding of The Gray Matter of the World in the long run?

Hoang Huu Phuoc, MIB, MYA BizCorp, Hochiminh City, Vietnam

References:

Kim Hạnh. n.d. Người Thái Đã Đi Trước.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

Kotler, P., S. Jatusripitak, & S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

What Happened in Bhopal. http://www.bhopal.org/whathappened.html#_ftn1#_ftn1 (accessed August 24, 2007)

Huỳnh Thế Du

Huỳnh Thế Du Đã Hoàn Toàn Sai

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-4-2020

Zingnews.vn có bài không-ghi-ngày đăng có tựa đề Lựa chọn nào cho Việt Nam Sau Ngày 15/4 (được hiểu là “sau thời hạn giãn cách xã hội social distancing có mốc là ngày 15-4-2020”) phỏng vấn Tiến sĩ Huỳnh Thế Du mà Zingnews cho rằng là giảng viên chính sách công tại Đại Học Fulbright Việt Nam và là học gỉả nghiên cưu ở Đại Học Indiana Mỹ. Theo Zingnews thì Tiến sĩ Huỳnh Thế Du có phát biểu rằng “Giáo sư Michael Porter của Đại Học Harvard, cha đẻ của chiến lược cạnh tranh, đã khuyên Việt Nam nên trỏ thành bếp ăn của thế giới”. Đây là điều hoàn toàn sai. Michael Porter không hề nói gì đến “bếp ăn của thế giới” cả.

Trước đó, BizLIVE.vn ngày 10-10-2015 có bài TPP có biến nông nghiệp Việt Nam thành “ bếp ăn của thế giới” cho rằng theo Tiến sĩ Huỳnh Thế Du thì mọi người đang mơ về giấc mơ biến nền nông nghiệp Việt Nam thành ‘bếp ăn của thế giới’.

Còn trên Vietravel.com ngày 11-10-2017 có bài Chính thức ra mắt hiệp hội văn hóa ẩm thực Việt Nam đưa Việt Nam trở thành “bếp ăn của thế giới”.

Nhận thấy những người hoặc sinh sau đẻ muộn hơn Hoàng Hữu Phước nên chả biết gì cả, hoặc lúc Hoàng Hữu Phước đã tung hoành viết blog tiếng Anh Aspirations (trên nền Yahoo!3600) và tiếng Việt (trên trang mạng doanh nhân Emotino-com) thì chưa ai trong các vị tiến sĩ ấy dám hó hé phát biểu gì về kinh doanh cũng như không biết sử dụng blog để viết về kinh tế kinh doanh tiếng Anh và Việt, nên nói sai mãi về “bếp ăn thế giới”, tôi nay xin bắt đầu đăng lại 5 bài viết sau có liên quan đến cái gọi là “bếp ăn của thế giới” theo đúng nguyên văn, để hậu thế hiểu được vì sao theo tiên tri thấu thị của tôi thì dù một hay năm ngàn năm nữa thì Việt Nam cũng không hề có cái “thương hiệu quốc gia” khôi hài rẻ tiền gọi là “bếp ăn của thế giới” do không gì có thể hình thành từ một hiểu biết bậy một thông tin sai cả:

1) National Branding: Vietnam, the Campus of the World. Bài viết đăng trên Emotino.com ngày 06-8-2008

2) Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bài viết đăng trên Emotino.com ngày 07-8-2008

3) Thưa Giáo Sư Tom Cannon, Ông Đã Hoàn Toàn Sai Khi Nói Về Anh Quốc Và Lúc Liên Hệ Đến Việt Nam. Bài viết đăng trên Emotino.com ngày 18-8-2009

4) Xây Dựng Thương Hiệu Quốc Gia: Vựa Lúa Của Thế Giới. Bài viết đăng trên Emotino.com ngày 09-12-2008

5) 5) Vì Sao Tôi Không Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman. Bài đăng ngày 08-6-2009 trên Emotino.com
Kính mời quý vị đón đọc.

Ghi chú: Paul Krugman là giáo sư đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2008. Ông ta bị Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thường xuyên vặn họng trên Twitter mỗi khi ông ta phán điều gì đó chê bai hoặc tiên đoán gì đó về sự thất bại của thị trường chứng khoán do các chính sách tiền tệ tài chính của Tổng Thống Donald Trump. Chính Tổng Thống Donald Trump cũng thỉnh thoảng đăng trên Twitter các giễu cợt nhạo báng Paul Krugman đã luôn phê phán bậy và tiên đoán trật lấc về thị trường chứng khoán Mỹ dưới quyền năng quản lý kinh tế Mỹ của Donald Trump. Nội dung gần đây nhất của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước trên Twitter nhạo báng Tiến Sĩ Paul Krugman rằng ông ta sở dĩ cứ viết chê bai Donald Trump vì Donald Trump cứ luôn cho thấy giáo sư đoạt giải Nobel Kinh tế 2008 chả làm nên trò trống gì cho kinh tế Mỹ và cũng tịt ngòi chả thể viết lách gì để đẻ ra các luận thuyết mới về kinh tế nên viết Twitter là để nhắc nhơn loại biết là giáo sư đoạt giải Nobel Kinh tế 2008 Paul Krugman vẫn còn sống.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Hoàng Hữu Phước Đã Tiên Tri Thấu Thị Về Quân Đội Cộng Sản

Hoàng Hữu Phước, MIB                                           

19-4-2020

Trong hai bài viết năm 2011 (Luận Về “Đa Đảng) và 2014 (Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”) tôi đã nói về quân đội cộng sản và trận đại dịch Covid-19 toàn cầu này đã chứng minh tầm vóc tiên tri thấu thị của tôi.

Trước khi đưa ra bằng chứng không thể chối cãi về tính đúng đắn trên cả chính xác của tôi trong tư duy thấu thị của một man of vision thứ hai của Châu Á (người thứ nhất là Hồ Chí Minh) về quân đội cộng sản, thiết nghĩ tôi nên nhắc lại vài chi tiết liên quan đến các bài dẫn trên:

1) Bài 1 là giải thích đầu tiên và đến nay vẫn ở thứ hạng duy nhất của toàn nhân loại về sự thật lịch sử và các nội hàm tương ứng đúng thực chất nhất của đa đảng, lưởng đảng, độc đảng, và giới thiệu biện luận của Hoàng Hữu Phước khi khai sinh ra thuật ngữ “zero Đảng” để gọi thể chế chính trị của Việt Nam Cộng Hòa, nhằm đánh bại tất cả các luận điểm láo xạo hoàn toàn sai về đa đảng, lưởng đảng, độc đảng của giới chính trị Âu Mỹ và giới chống Cộng, bọn chống Việt, bọn chống-Cộng-và-chống-Việt, cùng những người chống-Cộng-không-chống-Việt. Cần nhắc lại một giải thích trước đây của Hoàng Hữu Phước rằng “bọn chống Việt” bao gồm bốn tạp phẩm của bọn đặt mông của  Pháp, Nhật, Tàu, hay Mỹ trên đầu của chúng. Tất cả bốn bọn này đều bị Cộng Sản Việt Nam đánh cho đại bại phải cút khỏi Việt Nam (bọn đội mông Tàu do Hoàng Văn Hoan làm đại diện đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam phát hiện phải theo gương An Nam Quốc Vương Lê Chiêu Thống mà cút chạy sang Tàu tỵ nạn mà thậm chí không dám xì “gas” phía sau do sợ bị lộ). Bài viết nêu rằng tất cả các nước Âu Mỹ phải “đa đảng” vì toàn dân đánh đuổi quân đội Hitler và Mussolini; trong khi ở Việt Nam chỉ có quân đội cộng sản đánh đuổi Pháp, Nhật, Mỹ, Tàu, Khờ (Me), kỳ dư toàn là các nhóm “chính trị” thờ Pháp, thờ Nhật (toàn bộ các chính trị gia (nhóm Đông Du) và thờ Mỹ (toàn bộ các chính trị gia Việt Nam Cộng Hòa) để phục vụ một lý tưởng duy nhất: tiêu diệt Bắc Việt Cộng Sản bằng mọi giá, kể cả bằng cái giá bán nước, làm gia nô ngoại bang.

2) Bài 2 là để mắng chửi bọn tinh hoa trí tuệ do Đảng ưu ái nuôi vổ béo để rồi chúng bị tẩu hỏa nhập ma do lúc nhỏ không được cha mẹ dạy đạo đức thiên Khổng ra rả đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Bài viết nêu một chân lý rằng chỉ các nước theo Âu Mỹ và như Âu Mỹ mới cực chẳng đả buộc phải “phi chính trị hóa quân đội” vì trên thực tế không bất kỳ chính đảng (đảng cầm quyền chính trị trong trị quốc) nào có quân đội.

Khi Covid-19 bùng phát, chỉ có các nước “độc đảng” (tức chỉ có đảng cộng sản nắm quyền vì có quân đội) có quyền ra lệnh cho quân đội của đảng cộng sản tham gia từ đầu đại cuộc chống Covid-19, nhờ vậy hạ tầng y tế các nước này không lâm vào ba thảm cảnh của (a) thiếu nhân lực, (b) thiếu nguồn lực y tế, (c) và thiếu tài lực.

Nếu Tổng Thống nước Nga tư bản Putin còn phải tuyên bố nếu tình trạng đại dịch vượt tầm kiểm soát thì sẽ huy động sự trợ giúp của quân đội, thì huống hồ Mỹ và các nước khác cũng không bị tương tự. Nghĩa là tại một nước đa đảng thì tổng thống với vai trò tổng tư lệnh quân đội chỉ có toàn quyền ra lệnh cho quân đội tiến hành chiến tranh, chứ quân đội không được phép giúp một đảng nào đó “ghi điểm” với nhân dân trong xử lý một vấn nạn không dính dáng gì đến chiến tranh. Đây là lý do vì sao các quốc gia đa đảng đã phải hứng chịu thảm cảnh số nạn nhân Covid-19 phải tăng cao khủng khiếp thì quân đội mới được huy động hỗ trợ.

Đơn cử tình hình ở Việt Nam thì Việt Nam khi quân đội được Đảng Cộng Sản ra lệnh tham gia “diệt dịch”, Việt Nam ngay từ đầu

(a) không rơi vào khủng hoảng nhân lực y tế vì quân đội có cả lực lượng quân y hùng hậu, lực lượng quân binh chủng hóa học tinh nhuệ, và lực lượng quân sự vũ trang thực hiện phong tỏa bất kể vì dịch bệnh (lockdown) hay giới nghiêm (curfew) hoặc ngay cả thiết quân luật thời chiến (martial law);

(b) không rơi vào khủng hoảng hạ tầng y tế vì quân đội có dồi dào trang thiết bị sẵn sàng cho chiến tranh như kho tàng trang thiết bị y tế, kho thuốc, và trang thiết bị tiền chế để lắp ráp khẩn cấp các bịnh viện dã chiến trên quy mô lớn và chuyên nghiệp; và cũng

(c) không rơi vào khủng hoảng tài lực do quân đội sử dụng nguồn lực ngân sách khổng lồ được cấp rót hàng năm cho Bộ Quốc Phòng để bảo đảm cung ứng thực phẩm thiết yếu và trang trải các chi phí cho các khu cách ly do quân đội quản lý, nhờ vậy ngành y tế Việt Nam vũng vàng đối phó với đại dịch Covid-19.

Kỳ tích của Việt Nam và y tế Việt Nam trong đối phó với Covid-19, do đó, là nhờ Việt Nam “độc đảng” với Đảng Cộng Sản nắm toàn bộ các lực lượng vũ trang.

Thấu thị của Hoàng Hữu Phước về sự đúng đắn mang tính vĩnh cữu khi khẳng biện rằng:

Những kêu gào đòi phi chính trị hóa quân đội Việt Nam, do đó, chỉ để phục vụ một mục đích duy nhất là làm Việt Nam bị diệt vong.

Covid-19 đang tàn phá Âu Mỹ cùng toàn thế giới “đa đảng”. Việt Nam, do đó, không ngu dại gì “đa đảng”. “Việt Nam không cần Đa Đảng,” năm 2011 Ông Nguyễn Phú Trọng đã nói thế.

Việt Nam không cần đa đảng, đa nguyên. Việt Nam chỉ cần đa nguồn là vững mạnh vững bền”, Hoàng Hữu Phước luôn nói thế.

Việt Nam đang có nhiều vấn nạn nhân sự vì đã không chấp nhận “đa nguồn”.

Hoàng Hữu Phước đã từng tư vấn về “đa nguồn” trong rất nhiều bài viết trước đây trên blog này, mà bài viết gần đây nhất là Hiền Tài. Có thể vắn tắt về “đa nguồn” là: “Đảng lãnh đạo đường lối chính trị. Đảng lãnh đạo tuyệt đối ngoại giao, an ninh-quốc phòng, và Ngân Hàng Nhà Nước. Người dân ngoài đảng lãnh đạo các ngành kinh tế quốc dân mà không cần phải do Đảng lấy tiền thuế của dân để đào tạo con em cán bộ đảng viên chỉ để làm lãnh đạo các ngành này.” “Độc đảng” nhưng không “độc nguồn”.

Độc đảng vì chỉ có đảng mới có quân đội để diệt giặc và diệt dịch.

Đa nguồn vì người ngoài đảng cũng có trí tuệ cống hiến cho việc phát triển quốc gia nên không được có kỳ thị giai cấp giữa “đảng” với “ngoài đảng” trong việc quản lý ở mọi cấp từ trưởng tổ phòng ban cho đến Bộ Trưởng hay Bộ Trưởng Siêu Bộ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Tham khảo:

Luận Về “Đa Đảng” 13-02-2011

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng. 20-4-2011

Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”  26-12-2014

Nghị Sĩ Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

Chính Kiến Hoàng Hữu Phước 21-4-2018  (Phong Trào Đông Du)

Hiền Tài 22-5-2019

Việt Nam Cộng Hòa 13-9-2019

Hoàng Hữu Phước Đã Tiên Tri Thấu Thị Về Dịch Bệnh Từ 10 Năm Trước

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-4-2020

Tôi đã nói về sự nguy hiểm của lan tràn dịch bệnh – thứ hiểm họa mà tất cả các lãnh đạo Việt Nam và các nghị sĩ Việt Nam chưa từng lóe lên trong ý nghĩ của những người bác vật như họ – nơi bài viết nhan đề “Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam” đăng lúc 20g55 ngày 12-6-2010 trên Emotino ở đường dẫn http://www.emotino.com/bai-viet/18663/cong-chua-ba-co-noi-di-tat-don-dau-duong-sat-cao-toc-viet-nam (Emotino đã đóng cửa năm 2012 sau khi bị tin tặc đánh sập vì dám đăng hai bài của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước gồm Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt chưởi cha BBC và bài Tứ Đại Ngu mắng bố bọn báo gian).

Kính mời quý độc giả xem bài Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam đăng lại trong bài: Đường Sắt Tốc Độ Cao, trong đó có đoạn cảnh báo xem dịch bệnh là một thứ vũ khí khủng bố của quân thù có thể triệt hạ toàn cõi Việt Nam:

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Tham Mưu 3

Hoàng Hữu Phước, MIB                                           

26-3-2020

Tháng trước, tôi được báo cáo rằng có một báo mạng Việt Nam nào đó đăng thông tin của một đại sứ quán Việt Nam ở một nước Phi Châu cung cấp chi tiết hàng chục nhà cung ứng nguyên liệu làm khẩu trang y tế, với địa chỉ email toàn-là-gmail-chùa của các “giám đốc” cùng các “thông tin” rằng thì là mà (a) “họ” yêu cầu phải thanh toán TTR, (b) “họ” thuộc một quốc gia khét tiếng về lừa bịp, và (c) các công ty nhập khẩu ở Việt Nam nếu giao dịch để nhập nguyên liệu từ các đấng nam nhi đó phải cẩn trọng và tự chịu trách nhiệm.

Nhận thấy rằng không những là người đầu tiên ở Việt Nam khai sinh ra môn Tranh Biện Debating ở cấp độ Anh Văn đại học năm 1982 (để giảng dạy tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh và tại tất cả các trung tâm ngoại ngữ nào có mời tôi tham gia giảng dạy), tôi còn là người đầu tiên ở Việt Nam khai sinh ra – và soạn giáo trình tiếng Anh – môn Hợp Đồng Thương Mại Business Contracts năm 1990 (tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội do Tiến sĩ Nguyễn Đắc Tâm của Đại Học Văn Lang quản lý, và tại FOSCO Khai Minh do tôi làm giám đốc điều hành) trong thời điểm ngay cả các trường đại học kinh tế của “nhà nước” chưa có trường đại học nào có phân môn tiếng Anh về Business Contracts, chưa có trường đại học nào có giảng viên kinh tế thực sự trực tiếp kinh qua môi trường xuất nhập khẩu với công ty nước ngoài như tôi nên họ giảng dạy toàn điều vớ vẩn chẳng hạn như giảng sai (tất nhiên bằng tiếng Việt) về “cá biệt hóa hàng hóa” trong Incoterms UCC, cũng như không bất kỳ ai trong toàn bộ giới giảng viên kinh tế đại học trên toàn cõi Việt Nam có trong tay các điều khoản của một hợp đồng xuất khẩu gạo dày cộm với các thuật ngữ như WWDSHEXEIU hay WWDSHEXUU khi bao thuê nguyên con tàu chở hàng chartering a vessel, kèm theo bản sao đầy đủ của các ELCEE do Ngân hàng Quốc gia Ấn Độ mở cho Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh có sự bảo lãnh thanh toán của Ngân Hàng Quốc Gia Pháp và HSBC, v.v., vì chỉ có tôi là giảng viên Anh Văn trở thành người đầu tiên góp sức trực tiếp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có-giá-trị-thương-mại (tức có hợp đồng mua bán ngoại thương, các bên bán ở Việt Nam có mở tín dụng thư ELCEEs, bên mua ở Ấn Độ có thuê và đưa tàu chartering vessels vào Việt Nam nhận hàng, và có đầy đủ các giám định quốc tế về chất lượng, các hoạt động khử trùng, kiểm kiện, v.v.) từ Việt Nam.

Vì vậy, nếu trước đây tôi đã khẳng định với các sinh viên và học viên của mình tại các trường đại học ngoại ngữ và trung tâm ngoại ngữ rằng toàn bộ các lời giảng bằng tiếng Việt của các giáo viên đại học kinh tế dạy họ tại trường họ đều sai, thì nay, tôi khẳng định trước đây tôi đã dạy rằng:

TTR là phương thức thanh toán ngoại thương chỉ có bên nhập khẩu yếu tài lực mới lạy lục van xin bên xuất khẩu chấp thuận.

Một người nọ ở một tỉnh Miền Tây thừa hưởng công ty tư nhân nhỏ sản xuất vật liệu xây dựng của bố để lại, mở văn phòng ở Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh, đã lạy lục van xin tôi chịu ký hợp đồng cho anh ta thanh toán TTR 60 Days để anh ta nhập tôn tráng kẽm cuộn của tôi để về dập dợn sóng corrugated . Do chỉ chấp nhận LC, mà ở Việt Nam thiên hạ – lúc ấy toàn là “Nhà Nước” – cứ mãi bu quanh tôi năn nỉ cho thanh toán TTR, tôi nghĩ nên thử chấp nhận một lần xem sao, vì dù sao cái anh tư nhân ấy đâu có quyền nhập khẩu trực tiếp mà phải qua Imexco hoặc Seaprodex toàn là “Nhà Nước” lớn. Và khi hàng chục container FCL về đến Thành phố Hồ Chí Minh lúc tôn rớt giá, anh ta trốn biệt không chịu nhận hàng. Đối diện với việc Cảng Vụ Sài Gòn tăng dần tiền phạt lưu kho, tôi đã phải cùng tài xế thập diện mai phục trong chiếc Toyota Crown đậu gần “công ty” anh ta suốt mấy ngày sau khi các cuộc điện thoại gọi đến văn phòng anh ta đều được trả lời rằng anh ta đã đi nước ngoài chưa biết bao giờ mới về. Khi chiều tà, anh ta bước nhanh ra định chui vào ô-tô của anh ta thì tôi xuất chiêu đại bàng triển xí bay đến chận lại. Tất nhiên, anh ta cười giã lã rằng anh ta vừa từ sân bay về, tính mai sẽ đến gặp tôi. Vài tháng sau, tôi phải đích thân đến các đơn vị sản xuất tôn lợp nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh để bán tống bán tháo đại hạ giá các container ấy vì anh ta lại trốn mất biệt, dường như đã chui xuống cống. Sau này, anh ta thành đại gia số một ở Miền Tây, dù được báo chí Việt Nam ngợi ca bái lạy thì anh ta vẫn bị tôi xem như chó ghẻ. Tất cả các nhân viên của tôi tại tất cả các công ty tôi làm việc đều biết tên đầy đủ của anh ta vì tôi không thể không kể về con người đang giàu có khủng khiếp và lừng danh cả trên thương trường và chính trường ấy. Anh ta có thể yên tâm để có thể mập hơn một tí, đừng có mà ốm nhom ốm nhách như trước như thế, vì tất nhiên tôi sẽ không bao giờ nêu cái tên điếm nhục của anh ta trong các bài viết quý báu của tôi.

Thế nên, việc Tòa Đại Sứ Việt Nam ở hải ngoại ghi rằng mấy anh Phi Châu xuất khẩu ấy đòi phía Việt Nam nhập khẩu thanh toán TTR mà không cần chờ bất kỳ sự lạy lục van xin nào thì quả là chuyện bất ngờ, vì rằng LC là phương thức thanh toán ngoại thương tất cả các bên xuất khẩu nghiêm túc luôn bắt buộc bên nhập khẩu nghiêm túc phải áp dụng. Chỉ có thể khẳng định rằng bọn chúng là quân lừa đảo bậc thầy mới “đòi” bên mua phải thanh toán TTR.

Tham mưu Số 3, do đó, là: Bộ Ngoại Giao sau khi Covid-19 qua đi nên tổng rà soát, xem xét lại các chuẩn mực trong bổ nhiệm tùy viên ở tất cả các đại sứ quán/tổng lãnh sự quán/lãnh sự quán ở nước ngoài.

Các đại sứ quán/tổng lãnh sự quán/lãnh sự quán ở nước ngoài không phải chỉ là nơi cấp visa để thu phí, bảo hộ công dân khi có dịch bệnh/thiên tai/nhân tai, tổ chức đón tiếp lãnh đạo nước nhà sang thăm nước người.

Các đại sứ quán/tổng lãnh sự quán/lãnh sự quán ở nước ngoài lẽ ra đã là những nơi hoạt động tích cực chủ động nắm bắt rõ nhất về thông tin thị trường market intelligence của nước sở tại để chủ động tích cực thông tin về Bộ Ngoại Giao, nơi sẽ chuyển tiếp các thông tin ấy đến các Bộ có liên quan.

Cái tồi tệ nhất là khi Việt Nam có vấn nạn về nguồn nguyên liệu sản xuất khẩu trang y tế, các yêu cầu được gởi đến các đại sứ quán/tổng lãnh sự quán/lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài để họ bắt đầu tìm kiếm giúp nhưng không chịu trách nhiệm nếu các đơn vị Việt Nam tiến hành giao dịch theo thông tin ấy.

Và cái tồi tệ hơn cả cái tồi tệ nhất – tức cái siêu tồi tệ – ở Việt Nam là một combo của:

a) Các đại sứ quán/tổng lãnh sự quán/lãnh sự quán Việt Nam ở nước ngoài không chuyên nghiệp về market intelligence;

b) Các doanh nghiệp dựa hẳn vào một nguồn – đa số từ Trung Quốc – về nguyên liệu sản xuất, đã vậy hoàn toàn không có các BCP/BCM/EPR/DRP khiến lâm vào cảnh bế tắc tuyệt đối khi cái nguồn nguyên liệu duy nhất dựa dẫm vào ấy bốc hơi;

c) Danh mục hàng hóa dự trữ chiến lược của Chính phủ Việt Nam đã không có khẩu trang facemask (chuẩn bị đối phó với chiến tranh vi trùng và sinh học) ắt không thể đang có mặt nạ mask (chuẩn bị đối phó với chiến tranh nguyên tử và hóa học)

Covid-19 cho thấy hệ thống chính trị của Việt Nam nhất thiết phải lo toan điều chỉnh rất nhiều sau khi thế giới qua cơn đại dịch này.

Sự lúng túng của cung ứng khẩu trang y tế (từ là mặt hàng ai muốn mua dùng chỉ để tránh bụi thì cứ mua, trở thành mặt hàng bị cho là vô dụng do không giúp ngăn ngừa Covid-19, rồi thành mặt hàng chỉ cần cho nhân viên y tế nào có trực tiếp tiếp xúc bệnh nhân Covid-19, nay lại có lời kêu gọi người dân không dùng để nhường khẩu trang y tế cho nhân viên y tế (trong khi người dân có muốn mua cũng không mua được còn Nhà Nước ở đâu sao không đơn giản ra lệnh trưng mua toàn bộ sản lượng khẩu trang y tế của các công ty sản xuất như Bảo ThạchBạch Tuyết mà lại kêu gọi sự nhường của người dân) và thậm chí sắp quy định phạt những ai ra đường mà không đeo khẩu trang.

Sự lúng túng của Bộ Công Thương đề nghị Thủ Tướng ngưng cho xuất khẩu gạo, rồi ngay sau đó lật đật đề xuất Thủ Tướng hoãn việc ngưng ấy, biến Thủ Tướng thành nhân vật đơn độc lạc lối giữa rừng rậm tham mưu vô dụng.

Sự lúng túng của Bộ Giáo Dục ắt phải chờ đến Tham Mưu Số 4 của Hoàng Hữu Phước vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII. Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh); Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt); LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt); WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt).

Tham khảo:

BCP/BCM/EPR/DRP: Thiếu Cái Này, Lãnh Đạo ở Việt Nam Chỉ Là Tay Mơ, 26-02-2020

Biện Thuyết Debating: Biện 04-3-2020, Nhà Sáng Tạo Ngôn Ngữ Hoàng Hữu Phước 27-02-2020

Người đầu tiên góp sức thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có-giá-trị-thương-mại từ Việt Nam: Gạo Việt Nam  08-01-2016

30 Chủ Nghĩa Xã Hội

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-01-2020

A- Chống Cộng

Đã từ rất rất lâu, tôi thường rao giảng trong biết bao bài viết blog rằng ai đó quả thật rất rất đần ngu khi hô hào “Chống Cộng” vì 3 lý do mang tính chân lý của riêng tôi mà tôi rất rất thường hay nêu lên gồm:

1) Chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế chính trị hiện đại nhất của nhân loại nên chỉ có thể chống lại nó bằng một học thuyết kinh tế chính trị khác ở dạng một pho sách mang tên “Cộng Sản Luận” gồm tối thiểu 10 chương, mỗi chương tối thiểu 1.000 trang: song, một tân học thuyết kinh tế chính trị như vậy chỉ có thể xuất hiện nhanh nhất là sau một thiên niên kỷ tức sau mỗi 1.000 năm mà thôi.

Thực tế toàn cầu đã chứng minh 4 điều của Thế kỷ XXI qua phát hiện của nhà chính trị Việt Nam Hoàng Hữu Phước rằng

(a) đã không còn bất kỳ nền dân chủ – tức chính quyền quốc gia – nào tuyên bố “chống cộng”, mà chỉ có các hành động của các chính phủ Âu Mỹ chống những quốc gia chẳng hề hoặc chẳng còn dính dáng gì đến “chủ nghĩa cộng sản” nghĩa là chỉ còn “chống Nga”, “chống Tàu”, “chống Triều”, “chống Cu”, và do đó, toàn bộ các hành vi hành động “chống cộng” của người gốc Việt ở hải ngoại phải được gọi là “chống Việt” mà danh xưng mang tính bản chất này do chính Hoàng Hữu Phước cấu tứ tạo thành đầu tiên của nhơn loại; rằng

(b) chỉ có cá nhân Tổng Thống Mỹ Donald Trump là vị lãnh đạo duy nhất trên thế giới mỉa mai ‘chủ nghĩa xã hội” nhưng chỉ để công kích các Democrats tức đảng viên Đảng Dân Chủ Mỹ cũng như chỉ để công kích Tổng Thống Venezuela, chứ không vì “hạ bệ” nó để tôn vinh bất kỳ “chủ nghĩa” chính trị nào khác; rằng

(c) đã và đang có phong trào của giới trẻ ít học ở Âu Mỹ tư bản rầm rộ chống “chủ nghĩa tư bản” mà trong đầu óc của họ thì “chủ nghĩa tư bản” chỉ có nghĩa là “bọn tài phiệt” chứ chả là – và chưa từng là – chủ nghĩa chính trị gì cả; và rằng

(d) tất cả các lãnh đạo các nước Âu Mỹ hiện nay đều tự hào hướng theo một nền tảng chung gọi là “chủ nghĩa xã hội” đầy biến dạng biến thiên biến hóa khôn lường.

2) Chủ nghĩa cộng sản như một học thuyết kinh tế chính trị thì đã hoàn toàn tiêu vong không còn tồn tại trên đời, nên chống chủ nghĩa cộng sản là hành vi hành động hết sức ngu khùng.

Chủ nghĩa cộng sản như một học thuyết kinh tế chính trị thì đã hoàn toàn tiêu vong không còn tồn tại trên đời do bản thân nó chất chứa những điều vĩnh viễn không bao giờ trở thành hiện thực mà hai điểm hoàn toàn sai của nó là về (i) một thế giới đại đồng tạo nên từ chuỗi đấu tranh giai cấp của tầng lớp công nhân vô sản toàn cầu, và về (ii) một thế giới huyễn hoặc đầy bất công xã hội mà theo đó mọi người chỉ cần làm theo năng lực hạn hẹp hữu hạn của mình còn hưởng thụ thì vô tư thoải mái theo nhu cầu vô hạn cứ như thể Địa Cầu này có vô hạn tài nguyên vậy. Chứng kiến sức mạnh lấp biển dời non có thật của học thuyết cộng sản dù hoàn toàn không có thật về đấu tranh giai cấp khi khai thác bản chất có thật của bóc lột tàn nhẫn và xâm chiếm thuộc địa của các đế quốc kinh tế để tiến hành tâm lý chiếnquần chúng chiến lôi cuốn thực sự tuyệt đại đa số người dân – không phải giai cấp công nhân – nhằm chiếm lấy chính quyền thực sự ở nước Nga đe dọa Châu Âu tư bản và giành độc lập tự do ở các nước thuộc địa đe dọa Âu Mỹ thực dân, các chính phủ tư bản Âu Mỹ đã tung kho tiền vô hạn ra thực hiện 3 đại kế sách gồm

(a) gia tăng khủng khiếp phúc lợi an sinh xã hội cho người lao động nói chung và trao “thực quyền đấu tranh” cho các “công đoàn” khiến phá sản toàn bộ tuyên giáo của các đảng cộng sản trên toàn thế giới do không bao giờ các nước sử dụng “chủ nghĩa cộng sản” vào trị quốc lại có thể có khả năng dành phúc lợi an sinh xã hội khổng lồ và quyền lực công đoàn tương tự Âu Mỹ hoặc tốt hơn Âu Mỹ cho người lao động;

(b) tập trung đánh phá đa diện đa biên đa phương đa mặt trận toàn bộ hệ thống các quốc gia bị gọi là “cộng sản”; và

(c) xây dựng một số nước – điển hình ở khu vực Bắc Âu – thành những “thiên đường” thực sự mà người dân các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản phải nhìn nhận đó mới chính là những lý tưởng tuyệt diệu chỉ tồn tại trong tuyên giáo của chủ nghĩa cộng sản chứ các chính phủ cộng sản hoàn toàn không thể biến thành hiện thực.

3) Chủ nghĩa cộng sản như một học thuyết kinh tế chính trị do đó sẽ phải hoặc

(a) lùi bước trước chân lý kinh tế chính trị của toàn nhơn loại rằng chủ nghĩa dân tộc cùng chủ nghĩa dân tộc cực đoan là nền tảng kinh tế chính trị duy nhất thực tế, duy nhất đúng, duy nhất tuyết phục, duy nhất khôn ngoan, và duy nhất tồn tại từ khi loài người được sinh ra cho đến khi loài người rời bỏ Địa Cầu tháo chạy sang hành tinh khác; hoặc

(b) biến thiên để chỉ là dạng thức mà Hoàng Hữu Phước gọi là “chủ nghĩa dân tộc trá hình về kinh tế chính trị” tức mang những tên gọi như ở Việt Nam thì “Việt Hóa” thành “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, một dạng thức vừa khôn ngoan không công khai thần phục chủ nghĩa tư bản vừa không dại dột khẳng định sẽ tuyệt đối tuân thủ giáo điều phi thực tế về đấu tranh giai cấp của nền kinh tế chính trị vạch ra trong Tư Bản Luận của Karl Marx; và hoặc

(c) hóa thân thành dạng thức thuần tên gọi “đường lối” chỉ nhằm phục vụ mục đích duy nhất tạo nên một thể chế chính trị nhà nước chẳng khác nào các tên gọi khác của chủ nghĩa dân túy, v.v., chứ không còn là “chủ nghĩa cộng sản” vốn khởi thủy ôm ấp trong nó khái niệm “nền kinh tế chính trị Marxist” và “đấu tranh giai cấp”, trong khi thực tế lịch sử nhân loại cũng không hề cho thấy đã từng có bất kỳ thế lực chính trị nào hay bất kỳ thế lực cách mạng nào có cái thực quyền thực lực thực chất trong trực tiếp trị quốc của cái gọi là “giai cấp công nhân” thực sự cả.

Do không có tùy chọn thứ “d” hay thứ “e” nào khác, việc chống chủ nghĩa cộng sản khi “chủ nghĩa” ấy đã lùi bước, biến thiên, hóa thân, tức chỉ còn là sương khói chứ không là chính nó, thì quả là hành vi hành động hết sức ngu dại ngu đần ngu si ngu ngốc.

B- Vì Sao Chủ Nghĩa Xã Hội?

Ngoài việc cụm từ “nhân sĩ tthức” được nói đến trong sử sách về những đấng cao vời nào đó mà toàn dân tộc Việt Nam chưa chắc có ai hiểu thấu đáo được “nhân sĩ trí thức” có nghĩa gì, chưa chắc có ai từng nhìn thấy danh sách những vị đã được gọi là “nhân sĩ trí thức” của thời quá khứ và thời hiện tại, và chưa chắc có ai biết dựa vào những công cán công lao nào mà mấy vị ấy được gọi là “nhân sĩ trí thức”; thì xã hội Việt Nam cận đại còn phải đương đầu với vấn nạn khác của “nhân sĩ trí thức” tức ba nhóm người gồm

(a) do Đảng phong,

(b) do tphong, và

(c) do báo phong.

Đảng phong là do Đảng tự cho mình có quyền gọi là “nhân sĩ trí thức” cái nhóm người mà Đảng dùng tiền thuế của dân để mướn nước ngoài đào tạo cho có các bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ về nắm hết mọi quyền lãnh đạo mọi lĩnh vực từ trung ương đến địa phương, dứt khoát không để lọt vào tay bất kỳ dân đen nào bất kỳ cái ghế đẩu nào.

Tự phong là nhóm người mà Đảng dùng tiền thuế của dân để mướn nước ngoài đào tạo cho có các bằng cấp Thạc Sĩ/Tiến Sĩ về nắm hết mọi quyền lãnh đạo mọi lĩnh vực từ trung ương đến địa phương nhưng đã phải nghỉ hưu hoặc phải bị bãi nhiệm do bất tài vô hạnh hoặc cả đời trước khi nghỉ hưu chỉ lo ngồi chơi cờ xơi nước vối nên vẫn là con số không to tướng với xã hội nên vầy đoàn cùng nhau bầy đàn tự gọi là “nhân sĩ trí thức” để cùng nhau ký tên kiến nghị lung tung – kể cả đòi đa đảng”, thay đổi quốc hiệu, thay đổi quốc ca, thay đổi thể chế – ngõ hầu làm cho nhân dân biết các bô lão tóc bạc nay đã biết tự tay rửa ráy núm vú cao su sau khi bú mút chứ không vô dụng như thủa chưa nghỉ hưu.

Còn báo phong là do ngôn ngữ báo chí có thói quen vừa đốt pháo đại vừa ban ơn cho đám cùng phe lợi ích nhóm, chẳng hạn như viết “theo các nhà khoa học thì”, “theo các chuyên gia thì”, “theo các nhà nhân sĩ tthức thì”, v.v. và v.v. mà khán/thính/độc giả thì chả ai biết có thể tìm đâu ra các danh sách ở Việt Nam này liệt kê các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhân sĩ trí thức, v.v. và v.v. cả.

Người Việt hay gọi những kẻ bắt chước nói là vẹt, và bắt chước làm là khỉ. Tôi là người Việt nên tôi không sai khi bảo các “nhân sĩ trí thức tự phong” nào bầy đàn cùng ký tên phát kiến đề nghị Quốc Hội Khóa XIII thay đổi Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bỏ chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa” trong quốc hiệu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là bầy khỉ đỏ đít già do chúng đã không hiểu chữ “chủ nghĩa xã hội” có nghĩa là gì do chữ ấy không tồn tại trong tư duy loài khỉ, và đã không biết có bao nhiêu “chủ nghĩa xã hội” do loài khỉ chỉ có hai “chủ nghĩa” là chủ nghĩa ở truồng (naturism/social nudism)và chủ nghĩa mặc quần tà-lỏn diễn xiếc (clownism)mà thôi.

Thế kỷ XXI là “Thế kỷ của Chủ nghĩa xã hội”.

Từ khi xã hội loài người định hình sự vầy đoàn các tổ hợp hình thành các bộ tộc, bộ lạc, cứ địa, lãnh địa, lãnh thổ, rồi cương thổ, các nhà cầm quyền dù là của đám Châu Âu Ki-Tô-Giáo giương cao ngọn cờ Thập Tự Giá trong những cuộc Thập Tự Chinh Kờ Ru Sếch (Crusade) đi xâm lược thế giới Hồi Giáo để tàn phá, giết chóc, hãm hiếp, cướp bóc, bắt nô lệ, khiến gây thù hận thiên thu kích hoạt tư tưởng khủng bố cực đoan Hồi Giáo báo oán Tây Âu đến vạn đời; hoặc dù là của nước Việt (mà chưa ai trên thế giới biết nằm ở đâu trên quả Địa Cầu) giương cao ngọn cờ vệ quốc đánh cho Nguyên cút đánh cho Mông nhào; hay dù là nước Mỹ (mà ai cũng biết nó ở đâu trên quả Địa Cầu để cuốc bộ hừng hực di dân ào qua biên giới) giương cao ngọn cờ sen đầm quốc tế dạc dõng bố tuyên “của dân, do dân, và vì dân” cho toàn thế gian chính trị luôn mồm nhơi lại; thì chưa từng có nhà cầm quyền nào “vì nước, vì dân” trong tâm thế đạo đức “vì nước, vì dân”, mà chỉ vì vương triều của bản thân, vì thiên mệnh tự phong cho bản thân, vì đảng phái của bản thân; mà cái sự bảo vệ nước chỉ là để duy trì vương triều, còn bảo vệ dân chỉ là để vừa bảo đảm có nguồn người phục dịch, nguồn người nô dịch, nguồn người hầu hạ, nguồn người sai khiến, nguồn người đẹp bắt tiến cung phục vụ dục tình, nguồn người đẹp bắt cống nạp phục vụ tình dục, và vừa ra dáng ta đây là thiên tử chăm chút xem dân như con còn đỏ hỏn.

Khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện, tất tần tật hệ thống cai trị – tức hệ thống chính trị – đương thời toàn thế giới bị lung lay tận gốc rể. Đơn giản vì trong khi các vương triều và tất cả các thể chế chính trị chỉ nói về “thiên mệnh” (tức ý Trời, ý Chúa) để phục vụ ý Trời/ý Chúa/ý Vatican, với lời hứa hẹn cho sự tốt đẹp trên Thiên Đàng hoặc Nát Bàn không do con người làm chủ, thì chủ nghĩa cộng sản nói về quyền lực làm chủ của dân đen với lời hứa hẹn cho sự tốt đẹp ở ngay trên Trái Đất. Chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng chính trị đầu tiên và đến nay vẫn là duy nhất của nhân loại hình thành trên tư tường tư duy “vì nước, vì dân” nên đồng loạt gây ra ba phản ứng khủng khiếp đầy khủng hoảng vô cùng trái chiều gồm (a) cuốn hút “dân đen” và khơi phát nơi họ nhận thức về sức mạnh của “dân đen”, (b) hấp dẫn một bộ phận trí thức có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, và (c) kích động sự điên cuồng đánh phá của Vatican trước nguy cơ thế lực thần quyền Ki-tô-giáo bị “dân đen” xô sập nên tiến hành bắt tay hợp tác tích cực ngay với Adolf Hitler và Benito Mussolini cũng như gào thét xảo ngôn về “cộng sản vô thần” để cô lập và biến “cộng sản” thành kẻ thù chung cùa toàn nhân loại có-theo-tôn-giáo.

Do là khuynh hướng chính trị đầu tiên “vì nước, vì dân” vào thời điểm (a) thế giới tư bản bá quyền và thế giới quyền lực tôn giáo bá đạo đã nương nhau hoàn tất đại cuộc chiếm hữu thuộc địa nô dịch thế gian để làm giàu ngay trên dương thế chứ không chờ về Nước Chúa; (b) Nga là quốc gia “Cộng sản” duy nhất có nguồn lực tự tạo chưa dồi dào nhưng lại phải cưu mang cho bằng được một “phe cộng sản” gồm toàn những quốc gia hoặc nghèo khổ do từ kiếp thuộc địa nô dịch hoặc nhẫn nhục đứng chung hàng ngũ với Nga để chờ thời cơ vùng lên phản Nga; (c) bản thân học thuyết của chủ nghĩa cộng sản chất chứa những lập luận huyễn hoặc chỉ hấp dẫn nhất thời khi dân trí thế giới chưa cao hơn thực sự như về “sức mạnh của giai cấp công nhân” và về “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, v.v.; và (d) bản thân học thuyết của chủ nghĩa cộng sản cung cấp cho thế giới tư bản những cảnh báo đúng đắn cùng các phương thức hữu hiệu để thế giới tư bản áp dụng, sửa sai, nhờ đó tránh được các kịch bản mà học thuyết đã nêu lên; chủ nghĩa cộng sản đã chấm dứt sự tồn tại và không thể phát triển.

Tuy nhiên, tư tưởng “vì nước, vì dân” vốn xuất phát từ sự phối hợp của chủ nghĩa ái quốcchủ nghĩa cộng sản đã trở thành thực tế chỉ nam cho tất cả các nhà chính trị thế giới, bất kể theo khuynh hướng dân túy chủ nghĩa hay dân tộc chủ nghĩa, và do đó đã tạo nên trào lưu bừng rộ tỏa lan của nhiều loại “chủ nghĩa xã hội”.

“Chủ nghĩa xã hội”, do đó, là tên gọi cho một tư tưởng chính trị “vì nước, vì dân”, được các nhà chính trị toàn cầu tận dụng để vừa né tránh hai ẩn ý của “dân túy” và “cộng sản”, vừa tạo được thanh danh của “ái quốc” và “vì dân”.

C- 30 Loại Chủ Nghĩa Xã Hội

Từ 3 lý do thực tế, lành mạnh, mang tính chân lý tuyệt đối đúng không-bao-giờ-có-thể-gây-tranh-cải ở Phần A nói trên, nhà chính trị Việt Nam Hoàng Hữu Phước tạm tổng hợp danh sách 30 loại “chủ nghĩa xã hội” sau đã và đang hiển nhiên ngự trị trên chính trường nhơn loại, vì rằng một chính khách thế giới khi hô hào “yêu nước, thương dân” không thể không tự nhận – hay tự mạo nhận – mình là “nhà xã hội chủ nghĩa” socialist với sự đủ khôn ngoan để vừa không công khai công kích chủ nghĩa cộng sản vừa vờ như không biết chủ nghĩa xã hội thoát thai từ học thuyết của cái chủ nghĩa cộng sản ấy để thay thế chính chủ nghĩa cộng sản khi chủ nghĩa cộng sản đã trở thành lịch sử.

Danh sách sẽ không có phần tiếng Anh, đơn giản vì

1) Tác giả muốn tạo điều kiện cho các nhà hàn lâm Việt Nam của Đảng Cộng Sản Việt Nam có bằng cấp từ tiền thuế của dân có cơ hội chứng minh bản thân có năng lực động não, có năng lực nghiên cứu, có năng lực tìm tòi, có năng lực tìm hiểu để lần đầu tiên trong đời họ biết tự mình chứng minh hình thành được các luận án Thạc Sĩ/Tiến Sĩ chính trị học thay vì trên trời rơi xuống vô tư thụ hưởng ý tưởng của thiên hạ ngoài Đảng trong đó có Hoàng Hữu Phước; và

2) Tác giả muốn tạo điều kiện cho các nhà “hoạt động chống Việt” anti-Viet activists chịu khó động não, chịu khó nghiên cứu, chịu khó tìm tòi, chịu khó tìm hiểu để chịu khó nhận ra rằng các lãnh đạo nào của nước Anh nước Pháp nước Đức nước Gia-Nã-Đại nước tư bổn này nước tư bổn nọ ngày nay thì mỗi ông mỗi bà Tổng Thống/Thủ Tướng ấy hiện đang theo loại “chủ nghĩa xã hội” nào, để từ đó chịu khó nhận ra thêm rằng nhờ thoát thai từ “chủ nghĩa cộng sản” mà “chủ nghĩa xã hội” mang trong nó những lý tưởng cao đẹp nhất hấp dẫn nhất mê hoặc nhất mà tất cả các nhà chính trị trước khi có “Tư Bản Luận” của Karl Marx thật tức giận thay đã chưa từng có năng lực tư duy để nghĩ đến, nghĩ ra, nghĩ tới, nghĩ về, khiến nay bó buộc phải muối mặt tự gọi mình là “nhà xã hội chủ nghĩa” socialists khiến tự động kéo phéc-ma-tuya miệng lại, nín thinh khi bị Donald Trump mặc sức thóa mạ mà không dám bật ra lời phát âm nào nghe na ná “chống chủ nghĩa cộng sản” hay “chống Cộng” anti-communism cả.

Cần lưu ý rằng:

(a) Thứ hạng 15 “Chủ Nghĩa Xã Hội Hồ Chí Minh” là do Hoàng Hữu Phước dùng để gọi “Chủ Nghĩa Yêu Nước Hồ Chí Minh” tức “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” còn gọi là “Chủ Nghĩa Xã Hội Ái Quốc” hoặc “Chủ Nghĩa Xã Hội Quốc Gia Việt Nam” gọi tắt là “Việt Quốc Xã”. Thế giới đã biết rõ về “Chủ Nghĩa Yêu Nước Hồ Chí Minh” và “Tư Tưởng Hồ Chí Minh”. Bài này chỉ đề ra các tên gọi khác thuộc bản chất của chủ nghĩa ấy. Chủ nghĩa xã hội này chỉ phát huy tác dụng tích cực và tuyệt đối thích hợp cho nền kinh tế chính trị thuần Việt trong thời chiến và thời hậu chiến mang đặc tính Việt với hoàn cảnh Việt cụ thể và con người Việt cụ thể. “Chủ Nghĩa Xã Hội Hồ Chí Minh” là cách gọi thượng đẳng của Hoàng Hữu Phước so với cách gọi hạ đẳng của bọn Tàu “Tháo Chạy Vạn Dặm” (Long March tức … Vạn Lý Trường Đào) khi chúng chế ra Chủ Nghĩa Mao Maoism.

(b) Thứ hạng 31Chủ Nghĩa Xã Hội Dân Tộc Thiên Khổng của nhà tư tưởng Hoàng Hữu Phước. “Chủ nghĩa” này chỉ có Hoàng Hữu Phước và những người có đọc bài Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng là biết đến. Chủ Nghĩa Xã Hội Dân Tộc Thiên Khổng còn được gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội Thuần Việt, hoặc Chủ Nghĩa Xã Hội Hoàng Hữu Phước. hoặc Phuocian Socialism, hoặc Phuocist Socialism, hoặc HHP-ism Socialism. Nếu như “Chủ Nghĩa Xã Hội Hồ Chí Minh” không còn thích hợp cho nền kinh tế chính trị thuần Việt trong thời tái thiết quốc gia tức thời kỳ hậu-hậu chiến lúc kinh tế nước nhà phát triển, dẫn đến các chuỗi tiêu cực trầm trọng như hiện nay trong nội bộ Đảng, nội bộ chính quyền, và nội tình xã hội, thì “Chủ Nghĩa Xã Hội Hoàng Hữu Phước” chỉ bổ sung vào “Chủ Nghĩa Xã Hội Hồ Chí Minh” hai yếu tố quan trọng sống còn cho dân tộc Việt Nam thời kiến thiết phát triển quốc gia thời bình tức thời hậu-hậu chiến gồm (i) yếu tố “dân tộc cực đoan” vốn là đặc thù ưu việt thuần Việt từ thời lập quốc cách nay nhiều ngàn năm – nhờ vậy đã không bao giờ bị đồng hóavà không bao giờ bị xóa tên trên bức dư đ thế giới – và nay đang trở thành xu thế hiện thực tất yếu thống trị toàn cầu cho đến ngày Tận Thế, và (ii) yếu tố “thiên Khổng” vốn là thế mạnh bản chất đặc thù ưu việt thuần Việt nơi con người Việt nhưng đã bị triệt diệt bởi văn hóa thuộc địa chủ nghĩa nô dịch ngoại lai Âu Mỹ và bởi văn hóa cộng sản chủ nghĩa phi thực tế ngoại lai Liên Xô.

(Bài Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng được vài độc giả Mỹ – không phải Việt Kiều – tự mày mò nhờ máy móc của Google hay Microsoft dịch ra tiếng Anh để đọc tạm rồi nhấn “like” cho @HoangHuuPhuoc@RealHHPhuoc, nhưng do chất lượng dịch của máy móc rất rất không ra chi nghĩa là phải chờ đến “thời đại mười chấm không 10.0” mới có thể tàm tạm ra chi nên ắt tôi buộc sẽ phải bỏ công sức thời gian ra làm cái việc đội đá vá trời là “dịch Việt-Anh bài viết của chính mình” so với việc dễ dàng hơn một cái đá lông nheo là sáng tác trực tiếp bằng tiếng Anh, và sẽ sớm đăng trên blog này để phục vụ các bạn nước ngoài học chính trị và các bạn Việt học tiếng Anh).

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Tư-tưởng Chính-trị, Nhà Chính-trị Nghị-viện

Tham khảo:

Bầy đàn: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam 20-8-2013

Bức dư dồ: Vịnh Bức Dư Đồ 24-12-2015

Chống Cộng: Chống Cộng 21-10-2015

Dân chủ: Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Dân trí thế giới chưa cao hơn: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đã Ngăn Chặn Thành Công Một Cuộc “Biểu Tình” Ngay Từ Trong Trứng Nước 10-3-2018

Đa đảng: Luận Về “Đa Đảng” 27-6-2019

Ki-tô-giáo: Về Bức Thư Gởi Giáo Hoàng Francis 24-10-2019

Không chịu đồng hóa: Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu 11-9-2016

Nhà chính trị: Chính Trị 14-01-2016, Làm Chính Trị & Làm Loạn12-01-2017, Bọn Con Nít Làm Chính Trị 06-3-2017

Sáng tác trực tiếp bằng tiếng Anh: Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước 01-9-2014

Thạc sĩ/Tiến sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

Thay đổi thể chế: Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam 02-02-2016

Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

Tổng Thống Mỹ mĩa mai “chủ nghĩa xã hội”: Chủ Nghĩa Xã Hội và Donald  Trump 01-10-2019

Trí thức: Thế Nào Là Nhà Trí Thức 14-02-2014

Tự phong: Nhà Trí Thức Tự Phong = Chứng Chỉ 03-11-2015

Vatican: Hoàng Hữu Phước Và Vatican 20-7-2019

Hoàng Hữu Phước Chống 4.0

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-11-2019

Rất rất nhiều người ắt cho rằng tôi lạc hậu nên thường xuyên công kích Aitee (công nghệ thông tin).

Có không ít người còn nghĩ rằng tôi thường xuyên công kích Aitee (công nghệ thông tin) ắt vì năm 2012 một thằng aitee đần độn đã đột nhập vào blog của tôi trên trang mạng doanh nhân Emotino để xóa bài Tứ Đại Ngu (tức là bài chưởi thằng bố của bọn truyền thông đại chúng Việt Nam) và bài Nỗi Nhục Của BBC (tức là bài chưởi con mẹ của bọn đầy tớ liếm dép đám truyền thông đại chúng Phương Tây chống Cộng) đồng thời để lại “thông điệp” tầm cỡ chưa xóa nạn mù chữ của thằng aitee đần độn ấy viết gì đó chống tôi mà Cô Lại Thu Trúc phát hiện, báo lại tôi và cũng báo luôn cho Mr. Duy là chủ nhân Emotino.

Bài này để chứng minh cả hai cái “ắt” ở trên là sai be bét. Dưới đây là phần chứng minh quá khứ trước Tứ Đại Ngu, và tiếp theo là phần mới tinh khôi, mà tất cả là từ năng lực tiên tri thấu thị của nhà thấu thị hiện là duy nhất ở Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh thấu thị sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc mới nên kéo rốc đại binh vào đại cuộc giải phóng Miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, và thấu thị sự nông cạn của đa số các lãnh đạo Đảng sau này vốn sẽ cứ chuộng “giáo điều” hơn “vạn biến” nên ban cho cẩm nang “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến mà tiếc thay do không ai hiểu nghĩa nên đã không có việc mời Hoàng Hữu Phước ngoài Đảng vào tham chính nắm giữ tuyên giáo trong Trung Ương Đảng khiến truyền thông thì phản Đảng còn đất nước cứ mãi nhũn xèo do thất bại toàn diện trong tuyên truyền giáo dục.

Tứ Đại NguNỗi Nhục Của BBC xuất hiện sau khi tôi ngự trong tháp ngà Quốc Hội và lên tiếng chống dự án Luật Biểu Tình. Trong khi từ hàng chục năm trước đó tôi đã từng viết bao bài về Aitee trên Emotino đối với ba vấn nạn của (a) tư duy thấp lùn của những người học Aitee tức ai cũng hăm hở học để trở thành Bill Gates, giàu như Bill Gates, hoặc mở công ty phần mềm mà thực chất là mua đi bán lại máy vi tính sau khi “tốt nghiệp đại học công nghệ thông tin”; (b) tư duy chật chội của những nhà quản lý các công ty Aitee nhà nước cứ chú mục vào mỗi việc phát minh phần mềm “anti-virus”; và (c) tư duy chồm hổm của những nhà quản lý các công ty Aitee tư nhơn tập trung mua bán máy vi tính mà quy mô dễ tan biến bốc hơi chứ cơ nghiệp chả bằng cái anh chàng ở Đài Loan tổ chức lắp ráp rồi tạo nên cơ nghiệp Acer bứng luôn IBM chấn động địa cầu. Thấu thị như vậy, tôi luôn tư vấn cho các đại lý thành công của Manulife ở các chi nhánh các tỉnh mỗi khi tôi đi kinh lý và nói chuyện trước công chúng gồm toàn đại lý triệu phú và tỷ phú đang muốn đầu tư cho sự học cao của con cái rằng họ đừng nên nghĩ đến chuyện cho con qua Mỹ du học lấy “cử nhân aitee”. Lý do thực tế đầy thuyết phục – cộng với sự tự động thần thánh hóa sự thông tuệ của “Thầy Hoàng Hữu Phước” nơi các đại lý – tôi đã nêu chi tiết trong các bài viết thủa xa xưa ấy mà nay vẫn còn đúng y hiện thực dù tôi luôn phê phán cái gọi là Văn Học Hiện Thực Phê Phán. Ở đây chỉ xin biện luận – không phải tranh biện vì tôi thấu thị rằng không ai có thể “tranh” được với tôi về hùng biện (y hệt chuyện thằng cựu Giám Đốc Sở Tư Pháp Thành Phố Hồ Chí Minh len vô chiếm chỗ ngồi để làm đại cử tri ở Quận 3 năm 2012 đã đứng lên phát biểu công kích tôi vụ Luật Biểu Tình và tiến lên bàn chủ tọa gởi cho nghị sĩ Trương Tấn Sang, nghị sĩ Trần Du Lịch, và tôi mỗi người một bản kiến nghị vì sao nên có Luật Biểu Tình , để rồi cả ba chúng tôi do thông tuệ như nhau đã đều vứt các bản ấy vào sọt rác chứ không ai từng mở ra đọc, cũng như cho đến nay là Tháng Mười Một Năm Hai Ngàn Không Trăm Mười Chín mà toàn dân Việt Nam chẳng ai thấy cái Luật Biểu Tình ấy nó được chấp bút ra sao cả) như sau vì sao tôi chống 4.0:

1) Từ ngữ 4.0 là do một thằng nghị sĩ đần độn của Đức Quốc vĩ đại thốt lên chơi chơi thế mà toàn cầu nhao nhao hùa theo một cách đáng thương hại mà không biết rằng (a) cái gì cũng mang tính kế thừa, vậy hóa ra đã từng có cái 1.0, 2.0, và 3.0 hay sao vậy; (b) khi công nghệ thông tin xuất hiện, nhân loại tạo nên bao từ mới theo công thức hàn lâm mà một luận văn thạc sĩ bằng tiếng Anh của Hoàng Hữu Phước về Sự Nghiệp Acer từng sử dụng dẫy đầy, thế mà giới Aitee lại sau đó đẻ ra toàn những từ hạ đẳng như chuột “mouse” hoặc răng xanh “bluetooth” nên 4.0 cũng là phát minh hạ đẳng của bọn thấp kém về ngôn ngữ; (c) trong sự hân hoan về 4.0 thì có ai từng đặt câu hỏi nghiêm túc xem tổng kết thì Việt Nam đã đạt những thành quả nào suốt thời kỳ 3.0; và như vậy (d) đương nhiên 4.0 cũng sẽ thất bại tương tự kết luận của bảng tổng kết 3.0.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

2) Bây giờ nói về 4.0, vậy nghĩa là những gì trước khi toàn hệ thống chính trị Việt Nam lãi nhãi về 4.0 sẽ được gọi là 3.0. Thế thì trong thời đại 3.0 với công nghệ thông tin cực kỳ hiện đại với internet, băng thông rộng, điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy vi tính tối tân, đã xảy ra 3 việc (a) bao lần virus/mã độc tấn công đánh sập hệ thống Aitee của Việt Nam, (b) tin tặc tấn công bảng điện tử của các “sân bay quốc gia Việt Nam – không có “sân bay tư nhơn”, và (c) mấy thằng mấy con phụ trách Kiểm Soát Không Lưu nổi điên phát rồ rủ nhau bỏ phòng kiểm soát không lưu với bao thiết bị vi tính viễn thông hiện đại nhất thế giới để đi kiểm soát toilet hay kiểm tra lẫn nhau gì gì đó mà ngay cả Bộ Chính Trị cũng không bao giờ được báo cáo trung thực để biết lý do nào đã khiến mấy phi cơ với nhiều trăm nhân mạng dù đã thả bỏ lượng xăng ở hai cánh theo quy định của ICAO lại phải bay vòng vòng trên bầu trời Thành Phố Hồ Chí Minh những 30 phút do không nhận được trả lời của Kiểm Soát Không Lưu cho phép đáp xuống đường băng số mấy và theo tuần tự trước sau những chiếc phi cơ nào. 3.0 mà như vậy thì trông mong rằng 4.0 sẽ khá hơn ư? Thật là non nớt và non dạ xiết bao.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

3) Cách nay vài chục tiếng đồng hồ, có tin trên toàn cầu rằng hàng triệu tài liệu thông tin chi tiết của hàng triệu khách hàng của một ngân hàng Việt Nam bị đánh cắp và tiết lộ công khai trên internet.

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

4) Khi các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trung ương đến địa phương mãi miết khí thế hùng hồn nói về 4.0, họ đã lờ đi những bốn-khâu-không-ra-chi gồm:

(a) Đại cuộc cải cách hành chính thời 3.0 hoàn toàn không đạt yêu cầu mà ba-khâu-không-ra-chi là (i) tư duy thấp kém của lãnh đạo, (ii) tư duy công vụ công bộc không có nơi công chức, và (iii) công cụ giám sát đúng quy trình lại hoàn toàn vô hiệu. Tất cả dẫn đến các đại án kinh tế, các tiêu cực, các khiếu kiện kéo dài của người dân; mà ngần ấy thứ này biến thể chế chính trị lẽ ra hoàn hảo vững vàng của Việt Nam trở thành dễ bị tổn hại vulnerable hơn bao giờ hết.

(b) Con người là thành tố quan trọng bậc nhất quyết định sự tồn vong của đất nước, chứ không phải thể chế chính trị và lý tưởng chính trị giữ vai trò đó. Một khi con người Việt Nam thời 3.0 chịu đựng 3 sự tấn công của (i) sự xem thường thiên Khổng của toàn hệ thống chính trị vốn chỉ biết có chủ nghĩa Mác-Lê/triết học Mác-Lê/tư tưởng Hồ Chí Minh/cao cấp lý luận chính trị khiến đạo đức con người bị bỏ mặc làm đội ngũ quan lại trở thành bọn bức hại lương dân phá tan xã tắc, (ii) sự xem thường các đầu tư tự túc vào học vấn cao của người dân khiến các công việc lãnh đạo khắp nơi đều nằm trong tay những đảng viên mà bằng cấp của họ được mua sắm từ tiền thuế của những người dân có con em ngoài Đảng đầu tư tự túc vào học vấn cao ấy khiến tạo nên bất công xã hội và bất mãn của người dân trước bọn bất tài có Đảng tịch, và (iii) sự hạnh họe của các công-bộc-hơn-đại-quan chỉ chuyên cần tích cực “kiếm ăn” và “kiếm chác”, thì cách chi mà cho rằng 3.0 đã kết thúc tốt đẹp để làm tiền đề tiến bước đến 4.0.

(c) Một khi các nhà hoạch định chính sách của Đảng không những chỉ chuyên cho ra những khẩu hiệu chỉ để Hoàng Hữu Phước bao lần công khai cười cợt nhạo báng trên các blog trước khi trở thành Nghị Sĩ Khóa XIII như “hợp tác bốn nhà” hay “đi tắt đón đầu” hoặc “sản xuất thuốc với giá cả hợp lý”, v.v., mà lại còn lười biếng không tìm đọc các bài viết của Hoàng Hữu Phước để biết ông ta từng phân tích rằng cấm vận của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận những khoa học hiện đại tối tân hơn lúc lịnh cấm vận ấy được gỡ bỏ, thì việc tập trung nói về 4.0 chỉ cho thấy sự lập lại của nhanh tay lẹ chân muốn “đi tắt đón đầu” và tất nhiên sẽ không bao giờ có thể thành công khi tổng kết để chúi nhũi vào thời 5.0.

(d) Cuối cùng, song không phải là điều kém quan trọng hơn, là nếu cái gọi là “chính phủ điện tử” được xây dựng thành công – nghĩa là hoàn tất việc mua sắm trang thiết bị tinh vi của nước ngoài tốn tỷ tỷ USD để có “thành phố thông minh” và cái gì cũng “thông minh” – thì việc xô sập Việt Nam dễ còn hơn động tác trở mặt của một bàn tay bằng cách ngồi tại cơ quan của chúng ở nước ngoài ra tay xóa sạch cơ sở dữ liệu quản trị quốc gia Việt Nam, thâm nhập hệ thống khai hỏa vũ khí Việt Nam tự bắn vào các cơ quan Nhà nước Việt Nam, phá nát hệ thống cảnh báo an ninh Việt Nam, mà không cần phải có đám người ngợm Việt Nam tương tự bọn ở Kiểm Soát Không Lưu Việt Nam phải bỏ đi kiểm soát lẫn nhau ở toilet hay gầm cầu thang mới làm Việt Nam sụp đổ.

Tóm lại, không có con người thiên Khổng làm lực lượng nòng cốt quản trị quốc gia, Việt Nam chỉ sẽ chứng kiến những hệ quả mà Hoàng Hữu Phước luôn cảnh báo mà thôi.

Hoàng Hữu Phước từng nhạo báng đại kế hoạch phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh thành các Thành Phố Đông/Tây/Nam/Bắc vì ông thấu thị rằng (a) dự án chỉ để bọn lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh có cớ chi tiêu nhiều tỷ đồng lập dự án chỉ để cho Bộ Chính Trị đồng tình rằng chúng có quyền xin thêm và xài thêm ngân sách, (b) Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có ai là nhà quản trị đại dự án, (c) làm gì có tiền xây mấy cái thành phố vớ vẩn đó, và (d) chỉ có điên mới xây như vậy do Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập ngụa khi nước biển dâng cao chỉ trong chưa đầy hai thập niên sắp tới.

Hoàng Hữu Phước từng nhạo báng toàn bộ lực lượng nhân sự ở các ghế lãnh đạo ở  Thành Phố Hồ Chí Minh, mà các bằng chứng còn nóng hổi tính thời sự gồm – song không chỉ có bấy nhiêu đây – vụ mất bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm, vụ nạn dân Thủ Thiêm, vụ Rác Đa Phước, vụ Nhà Hát Thủ Thiêm, vụ Học Viện Hành Chính Thành Phố Hồ Chí Minh, và những vụ đầu tư xây dựng mỗi dự án nhiều ngàn tỷ đồng để rồi bỏ dở dang trong nhiều năm khắp nơi trong thành phố trong khi tích cực xài tiền đòi đầu tư xây Nhà Hát Thủ Thiêmcó sẵn tiền cả chục năm qua (không gởi ngân hàng sinh lời mới lạ) được Bí Thư Thành Ủy Nguyễn Thiện Nhân lên tiếng ủng hộ trong khi chẳng ai – không một ai trừ Hoàng Hữu Phước – nghĩ đến việc xử lý thỏa đáng ngay lập tức các khiếu kiện chính đáng của người dân từ số tiền sẵn có ấy.

Chỉ có Hoàng Hữu Phước đơn độc đề ra biện pháp và xung phong tham gia giải quyết vụ khiếu kiện trường kỳ của nhà báo Hoàng Hữu Hiệp trong khi hàng trăm nghị sĩ trong nhiều khóa đã không thể làm gì trừ việc hoặc ký chuyển đon khiếu tố của công dân này cho rãnh nợ, hoặc không cần chuyển với lý do mọi lãnh đạo mị ban ngành đoàn thể đã nhận nhiều năm rồi nên biết rõ rồi.

Chỉ có Hoàng Hữu Phước đơn độc tích cực giúp lão công dân Lý Vĩnh Bá để rồi bị thư ký Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh văng tục thách thức cả vị nghị sĩ cùng lão công dân ấy.

Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có nhân lực quản trị ra hồn dù ở Thành Ủy, Mặt Trân Tổ Quốc, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, mà kỳ vọng cho cái gọi là 4.0!

Hoàng Hữu Phước chống 4.0 vì thấu thị rằng Việt Nam hoàn toàn không có nhân lực ra hồn cho 4.0.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn, Nghị-sĩ Khóa XIII, Ứng-cử viên Quốc-hội Khóa XIV, Tranh-cử viên Quốc-hội Khóa XV

Tham khảo (theo thứ tự alphabet):

Con người thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Cô Lại Thu Trúc: Tôi Và Cô Lại Thu Trúc 22-12-2015

Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến: Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”  27-10-2015

Đi tắt đón đầu: Đi Tắt Đón Đầu  08-9-2017

Học Viện Hành Chính Thành Phố Hồ Chí Minh: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Hợp tác bốn nhà: Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước 28-01-2016

Lão công dân Lý Vĩnh Bá: Nhớ Đến Những Người Dân 24-4-2019

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Nhà Hát Thủ Thiêm: Nhà Hát Thủ Thiêm  30-10-2018

Nguyễn Thiện Nhân: Nguyễn Thiện Nhân Đi Sau  31-10-2019

Nỗi Nhục Của BBC: Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  01-8-2016

Nhũn xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Rác Đa Phước: Rác Rến 28-02-2017

Sản xuất thuốc với giá cả hợp lý: Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân  14-10-2018

Thành Phố Hồ Chí Minh làm gì có nhân lực quản trị ra hồn: Khi Đảng Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Bất Lực  10-6-2019

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Trần Du Lịch: Nghị Sĩ Trần Du Lịch  22-4-2019

Truyền thông phản Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông 16-11-2016

Trương Tấn Sang: Trương Tấn Sang và Vương Đình Huệ  02-12-2018

Văn học hiện thực phê phán: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán  23-11-2015

Viết bao bài trên Emotino về Aitee: Hoàng Hữu Phước Thấu Thị Aitee Việt Nam  17-5-2019

Vụ khiếu kiện trường kỳ của Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp: Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp  17-10-2016

Về Sự Cố Của Thứ Trưởng Giáo Dục

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-10-2019

Vừa xảy ra vụ một vị Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong khi rơi từ lầu cao xuống ở Bộ Giáo Dục.

Xin khẳng định rằng bài này hoàn toàn không nhằm xúc phạm ông Thứ Trưởng Giáo Dục cùng gia quyến của ông, mà chỉ nhằm không để tai họa xảy đến cho ông trở thành cái bị sử dụng cho các mục đích không đúng cho tiền đồ tổ quốc Việt Nam mà ông là công dân và Đảng Cộng Sản Việt Nam mà ông là đảng viên.

Dù chưa có bất kỳ kết luận điều tra nào được cho ra để khẳng định sự rơi gây ra tử vong ấy là một vụ án mạng, một tai nạn, hay một vụ tự tử, thế mà báo chí chính thống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đồng loạt đưa tin ngợi ca tài đức của ông Thứ Trưởng Giáo Dục ấy cứ như một cố gắng nhằm định hướng dư luận và lèo lái kết luận điều tra nguyên nhân vậy. Sự nhanh nhảu mang tính đồng phục trong cung cấp thông tin tuyệt đối giống nhau về quá trình học tập + con nhà giòng dõi + quá trình thăng tiến + sự ngợi ca đức độ này đã khiến tạo ra sự ồn ào dày đặc phủ che các tiểu tiết cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ cuộc điều tra nào của bộ môn Khoa Học Hình Sự mà Đại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Châu Diệu Ái đặt nền móng dựng xây cho quốc gia cộng sản này, mà nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước có thể sử dụng thiên hướng cùng năng khiếu bẩm sinh đối với an ninh tình báo để cho ra rất nhiều câu hỏi mà một vài ý chính nhỏ nhất vụn vặt nhất mang tính đánh giá về các “tiểu tiết” ấy là:

1) Đánh Giá Tài Đức Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Đối với các “thân phận” khác nhau, các đánh giá “tài đức” được đặt vào các chuẩn định lượng khác nhau.

Đối với “thân phận” cấp thừa hành, các đánh giá luôn chỉ dựa theo Bảng Miêu Tả Công Việc Job Description để xếp một người vào một trong ba bậc gồm (a) không đạt yêu cầu, (b) đạt yêu cầu, hay (c) vượt yêu cầu, để dựa vào đó mà sa thải/đào tạo thêm/độngviên/tưởng thưởng/tăng lương/thăng chức/đưa vào hệ kế thừa succession plan.

Đối với “thân phận” cấp lãnh đạo, các đánh giá luôn chỉ dựa vào một trong hai – hoặc cả hai – kết quả gồm (a) ngăn chặn/lôi ra được những tiêu cực gì, và/hay (b) thúc đẩy/tạo nên/phát triển được các tích cực nào.

Dù đối với “thân phận” nào thì việc đánh giá luôn thường xuyên (hàng tháng, hàng quý, hàng năm), và công khai – trừ ngành tình báo/gián điệp/phản gián.

Ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong chưa từng được toàn dân biết đến do theo lề lối làm việc của Đảng thì (a) chỉ có Trung Ương Đảng mới có trong tay danh sách tối mật những ai là chuyên gia/nhà khoa học/nhân tài, (b) người dân chỉ biết ai là ai khi đọc bản tiểu sử ứng cử viên Quốc Hội vài tuần trước ngày bầu cử hoặc khi đọc tin ai được thăng chức làm gì ở Bộ nào nên chẳng ai kịp trở tay để kịp báo cho Đảng biết vị nào đã từng có quá khứ không ra chi ở những nơi đã từng được “điều chuyển” đến làm “công bộc của dân” theo đúng “quy trình”, (c) dù vậy người dân cũng chả biết gì về người được thăng chức/bổ nhiệm ngoài cái tên và vài thông tin sơ đẳng, bởi vì (d) trước đó không bất kỳ ai từng quen biết với đương sự hoặc chịu ơn sâu nghĩa nặng từ đương sự chịu thố lộ tiết lộ trên các mạng xã hội hay truyền thông đại chúng bất kỳ thông tin gì về “tài đức” của đương sự tất nhiên do chả biết đương sự có thực sự có “tài đức” như vậy hay không, (e) chỉ có truyền thông chính thống mới có trong tay tên tuổi của một người hay vài người sẵn sàng phát biểu về tài đức của đương sự nếu đương sự qua đời, và (f) rõ ràng rằng cho đến hôm nay là ngày 19-10-2019 vẫn chưa có thông tin nào cho toàn dân biết ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong đã ngăn chặn/lôi ra được những tiêu cực gì trong ngành giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và/hay đã thúc đẩy/tạo nên/phát triển được các chuyển biến tích cực cụ thể nào cho ngành giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì ông là một chính khách lãnh đạo chứ không phải là cấp thừa hành.

Không từng đánh giá bất kỳ về ông mà lại đua nhau bầy đàn tung các thông tin ngập tràn như mưa như thế để ca ngợi ông thì đó chính là xúc phạm nghiêm trọng đến ông. Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

2) Đánh Giá Xuất Thân Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Là người sinh ra và trưởng thành hoàn toàn ở Việt Nam Cộng Hòa, và cũng đã qua rất nhiều bài viết trên blog này về “nhà giáo Việt Nam Cộng Hòa” tôi từng cung cấp thông tin sự thật rằng ở Việt Nam Cộng Hòa những người theo “nghề giáo” vì họ đồng thời có 5 điểm sau: (a) đam mê nghề giáo,vì (b) quá giỏi giang với kiến thức sâu rộng đủ để làm thầy thiên hạ, mà (c) công việc toàn thời gian ngày 8 tiếng sẽ làm cùn nhụt hoang phí tài năng của họ nghĩa là (d) chỉ có “nghề giáo” mới cho họ có nhiều thời gian để làm nhiều “nghề tay trái” mà đa số là (e) sáng tác/trước tác/dịch thuật/viết sách đặc biệt là sách giáo khoa. Vì vậy, tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi báo chí cung cấp thông tin mà họ ắt cho là “nổi bật” rằng cha của Thứ Trưởng Giáo Dục là vị đã có viết sách Toán.

Đối với tôi và tất cả những nhà giáo thật sự tài năng, chúng tôi sẽ có sự kính nể nhất định nếu một vị nào đó của Việt Nam cho ra được một định đề mới về Toán Học khiến thế giới hình thành một hướng toán học mới, chứ còn việc viết sách giáo khoa Toán cho cấp tiểu học hay trung học hay đại học là chuyện bình thường của 100% các giáo viên dạy Toán tiểu học/trung học/đại học (tương tự, cũng là chuyện bình thường của 100% giáo viên Sử Địa, 100% giáo viên Anh Văn, 100% giáo viên Văn, 100% giáo viên Lý-Hóa, 100% giáo viên Triết, v.v. và v.v., viết sách giáo khoa cho bộ môn họ giảng dạy) thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đối với những ai chưa hề biết thế nào là hàn lâm gồm cả Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân và báo chí chính thống Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chỉ cần thấy có người đoạt giải quốc tế nhờ giải được một bài toán kiểu “đánh đố” mà trăm năm qua chưa ai giải được là vội vàng tung hô, thậm chí Bộ Trưởng còn lật đật lấy tiền thuế của dân thành lập ngay Viện Toán Học để thỉnh người ấy làm Viện Trưởng, cấp nhà cấp xe cấp đủ thứ, để rồi gặt hai hậu quả gồm nền Toán Học nước nhà vẫn là bọt xà phòng y như bản chất của Toán Lý Thuyết và nghe đâu cái vị viện trưởng ấy đột nhiên uất ức viết lách lung tung trên mạng xã hội mà nội dung chẳng mấy thiện cảm với Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nêu chi tiết rằng cha của vị Thứ Trưởng Giáo Dục đã từng viết sách giáo khoa Toán vốn chẳng dính dáng gì đến chuyện tử vong khủng khiếp của ông Thứ Trưởng Giáo Dục, truyền thông Việt Nam phải chăng đã đánh giá xuất thân của ông Thứ Trưởng Giáo Dục theo kiểu quẳng thông tin trên trời rơi xuống? Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

3) Quy Trình Đánh Giá Của Truyền Thông: Trên trời rơi xuống

Những thông tin về “tài đức” của ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong đang ngập tràn trên báo chí đã cho thấy báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay rất nhàn hạ. Họ đã xem các chi tiết sau là nhỏ nhặt chẳng đáng để họ làm theo kiểu mà các đồng nghiệp của họ ở  Âu Mỹ luôn làm:

a– Để rơi (dù do bị ném, tự sát, hay sơ ý) từ lầu cao canteen tức bếp ăn buổi sáng lúc 7 giờ, ông Thứ Trưởng ắt phải thức giấc lúc 5 giờ, rời nhà lúc 6 giờ;

b– Nếu sử dụng công xa, phải chăng ông Thứ Trưởng đã không màng đến thời gian cá nhân của tài xế vốn cũng là một “công chức” khiến tài xế cũng phải dậy sớm như ông Thứ Trưởng;

c– Nếu không sử dụng công xa, ông Thứ Trưởng đúng là người đạo đức; song, như vậy ông tự lái xe đến cơ quan hay đã sử dụng dịch vụ xe nào?

d– Dù sử dụng công xa/xe riêng/xe dịch vụ, ông Thứ Trưởng đến cơ quan vào sáng sớm để làm gì, gặp ai, và thời điểm đó thì canteen đã bắt đầu kinh doanh phục vụ thức ăn chưa?

e– Dù sử dụng công xa/xe riêng/xe dịch vụ, ông Thứ Trưởng đến cơ quan vào sáng sớm để làm gì, gặp ai, và theo sự dẫn dụ của ai – có thể qua tin nhắn hoặc cuộc gọi điện thoại – để cho ông vào bẫy hãm hại ông?

f– Bộ Giáo Dục là nơi mà Bộ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thiện Nhân đã từng nổi điên khi một cậu bé học sinh tỉnh lẻ chui vào Web để gở bỏ vất mất hình ông Bộ Trưởng, vậy Bộ đã rút kinh nghiệm sâu sắc về sự vô tư vô tâm bất cẩn đó để trang bị camera CCTV khắp các tầng lầu chưa, hay là canteen – và các nơi khác trong Bộ – vẫn không có camera nên Bộ Công An rồi sẽ bó tay không tìm ra manh mối cho sự cố đã xảy ra cho ông Thứ Trưởng?

g– Nếu tất cả các câu hỏi về sử dụng xe đến Bộ vào thời điểm sáng sớm quá vô lý, thì phải chăng ông Thứ Trưởng đã ở lại làm việc suốt đêm ở Bộ Giáo Dục, và nếu vậy thì công việc ông đang phải tập trung xử lý cao độ đến như vậy là gì, có động chạm gì đến ai hay những ai hay không?

h– Sổ ghi chép – và camera – của bảo vệ cổng cơ quan cho thấy những tình tiết như thế nào về các thời điểm cụ thể chi tiết vào/ra của bất kỳ ai cụ thể từ chiều tối hôm trước cho đến sau khi xe cứu thương rời khỏi hiện trường;

i– Các dấu hiệu khác thường được nhận thấy nơi ông Thứ Trưởng ít nhất là một tuần trước tai họa gồm những gì; và

j– Cơ quan cảnh sát đã có quy trình như các đồng nghiệp nước ngoài: treo giải cho bất kỳ ai cung cấp thêm manh mối có liên quan?

Không hề màng đến 10 điểm trên mà vẫn điềm nhiên cung cấp thông tin chẳng dính dáng gì cả như tên tuổi, quá trình học tập, quá trình công tác, công trạng của người Bố đối với việc từng viết sách Toán, tình cảm của một người cụ thể từng chịu ơn người quá cố, và tình cảm được cho là của “tập thể’ trường và sinh viên một trường đại học dành cho người quá cố thì quả là báo chí Việt Nam quen thói đưa tin toàn từ trên trời rơi xuống. Nhằm mục đích gì đây hỡi truyền thông?

4) Quy Trình Đào Tạo/Sử Dụng/Bổ Nhiệm Của Đảng: Trên trời rơi xuống

Dù đã luôn lập đi lập lại trên blog này về cung cách của Đảng đối với nhân tài/hiền tài, tôi vẫn không thể quen được khi đọc thông tin báo chí cung cấp về ông Thứ Trưởng Giáo Dục quá cố. Hóa ra, Đảng dùng tiền thuế của dân không để đào tạo người tài cho đất nước về chuyên môn mà chỉ để có lực lượng có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ để làm lãnh đạo thuần hành chính để danh thiếp của họ có chữ thạc sĩ/tiến sĩ khi trao ra cho đối tác nước ngoài của Đảng và Chính Phủ.

Nguyễn Thiện Nhân lấy bằng Cybernetics về chỉ để làm Bộ Trưởng Giáo Dục, rồi làm Phó Thủ Tướng, rồi làm Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc, rồi làm Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, và tất nhiên làm Ủy Viên Bộ Chính Trị. Thảo nào giáo dục hỗn loạn với nấm đại học mọc lan tràn đến độ thiếu sinh viên phải tiến đến bỏ luôn thi tuyển, học sinh xong lớp 12 hoặc xong đại học vẫn không giỏi ngoại ngữ, tư cách giáo viên thấp hơn bao giờ hết qua các bạo hành trọng án, bằng cấp không còn giá trị, và điểm thi dễ dàng được nâng đầy giễu cợt. Và thảo nào đến năm nay là 2019 mà Việt Nam vẫn không có ngành học phát triển mạnh nào mang tên Cybernetics cả.

Khi Ông Thứ Trưởng Giáo Dục tử vong, tôi và người dân mới được biết thời gian dài qua ông đã được Đảng đầu tư đào tạo những ngành gì tại những quốc gia nào. Những thông tin trên trời rơi xuống này chỉ khiến tôi và người dân dễ dàng cho rằng Đảng đã vừa không hề quan tâm đến việc làm cho nền kỹ nghệ nước nhà phát triển, vừa quá “từ chương” khi cho rằng đã có bằng tiến sĩ của bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể làm lãnh đạo bất kỳ lĩnh vực nào.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

Tham khảo:

An ninh tình báo: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo  26-12-2015

Đại Tá Viện Trưởng Châu Diệu Ái: Đại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Châu Diệu Ái  07-10-2019

Đồng phục: Đồng Phục Học Sinh  30-01-2016

Nhà giáo Việt Nam Cộng Hòa: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Nguyễn Thiện Nhân lấy bằng cấp Cybernetics: Nguyễn Thiện Nhân  10-6-2016

Nhân tài/hiền tài: Hiền Tài  22-5-2019

Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân: Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân  14-10-2018

Tiến sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Từ chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Phụ Trang Của Bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự

Công Thức Nhân Lực Quốc Hội

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

02-10-2019

Bài này là phụ trang của bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự.

Trước thực tế không bao giờ có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ tin tưởng nhân dân Việt Nam như đối tượng chực chờ nhận ơn từ Nhà Nước, chỉ cho nhân dân quyền giám sát gián tiếp thông qua các “đại biểu” là đảng viên chức sắc cấp cao nhưng các nghị sĩ đại quan này thí dụ như ở Thành Phố Hồ Chí Minh không bao giờ tiếp “dân thiệt” cho ra hồn ra ngô ra khoai mà chỉ tiếp xúc với 2 loại dân duy nhất là “dân đại-cử-tri” có bài phát biểu soạn sẵn (có cả phong bì công xá đi họp) và “dân khiếu-tố-dai-dẳng-triền-miên” tầm cỡ Thủ Thiêm, chứ không hề tin tưởng nhân dân Việt Nam như đối tượng được phép thực thi dân quyền và nhân quyền cung truc tiep tham gia trị quốc;

Trước thực tế không bao giờ có thể chối cãi rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam không hề tin tưởng vào hệ thống luật pháp nhũn xèo của Việt Nam vốn không bao giờ đi vào đời sống nhân dân Việt Nam và đáp ứng đúng mong đợi của những người dân Việt Nam công chính;

Để đảm bảo Đảng viên Đảng Cộng Sản chiếm tuyệt đại đa số tại Quốc Hội mà vẫn giải quyết được (a) sự than vãn của Chủ Tịch Quốc Hội về vấn nạn nghị sĩ ồ ạt bỏ họp, (b) sự than vãn của chức sắc Thường Vụ Quốc Hội về thiếu nhân sự “chuyên trách” do các nghị sĩ đảng viên chức sắc cấp cao không muốn từ bỏ quyền lợi vinh thân phì gia ở  địa phương hoặc vì bản thân biết quá rõ mình không phải là tinh hoa trí tuệ của Đảng mà Đảng cứ ép buộc phải nhận bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ; (c) sự bôi nhọ của bọn “chống Việt” rằng Cộng Sản Việt Nam khiếp sợ viễn cảnh bị lật đỗ nên cấm cửa nhân-dân-ngoài-Đảng trực tiếp tham gia trị quốc; và (d) sự bảo đảm danh chính ngôn thuận của tôn trọng Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về dân quyền và nhân quyền;

Công thức sau do Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đề ra cho Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để Quốc Hội dựa theo đó mà tiến hành tu chỉnh các pháp luật có liên quan:

Khi mô hình lý tưởng mục tiêu đã đạt được, tỷ lệ nghị viện Việt Nam sẽ như sau:

– Đảng Cộng Sản giữ khoảng 55% ghế nghị sĩ Quốc Hội tức tối đa khoảng 275 nghị sĩ.

– Ngoài Đảng giữ khoảng 45% ghế nghị sĩ Quốc Hội tức tối đa khoảng 225 nghị sĩ.

Với mô hình nghị viện lý tưởng mục tiêu, tất cả các đảng viên Đảng Cộng Sản phải được Đảng giới thiệu ra tranh cử dựa trên năng lực thật sự của mỗi đảng viên theo điều kiện đã nêu ở bài Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  nghĩa là

1) Đảng viên được Đảng phân công ra ứng cử phải bỏ tất cả các chức vụ tại địa phương để trở thành 250 nghị sĩ chuyên nghiệp khi đắc cử tức làm nghị sĩ chuyên trách.

2) Đảng viên được Đảng chấp nhận cho phép ra ứng cử “theo nguyện vọng” được ra ứng cử làm nghị sĩ kiêm nhiệm để tranh nhau 24 ghế tại Quốc Hội. Những đảng viên này tất nhiên nếu đắc cử vẫn giữ nguyên chức vụ đang đảm trách tại địa phương hay cơ sở.

3) Sự lựa chọn của Đảng đối với các đảng viên để đưa ra tranh cử cho hai nội dung trên tất nhiên sẽ tự động trên cơ sở thực lực thực tài và tính cạnh tranh cao về uy tín và tư cách nhằm đảm bảo Đảng luôn chiếm ghế đa số tại Quốc Hội. Sự lựa chọn bất cẩn, vô trách nhiệm của Đảng , sẽ dẫn đến hậu quả ứng cử viên của Đảng không thể đắc cử, và làm Đảng mất thế đa số ở Quốc Hội.

4) Lời khuyên từ kinh nghiệm thực tế của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước và thực tế lịch sử nghị viện Việt Nam từ 30-4-1975 đến nay là Đảng nhất thiết phải hủy bỏ trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong “giới thiệu ứng viên” vì

(a) Đảng viên phải do Đảng giới thiệu. Mặt Trận không được phép mặc định Mặt Trận chính là “Đảng” tức một hình thái “đảng song song”;

(b) Đảng viên phải do Đảng chịu trách nhiệm. Mặt Trận đã chưa hề chịu trách nhiệm gì đối với những nhân sự mà Mặt Trận giới thiệu nay đang lúc nhúc trong chốn ngục tù hoặc hất sơn đen vào cờ Đảng;

(c) Mặt Trận không có quyền đóng dấu chứng nhận “giới thiệu ra ứng cử” vào tên của ứng viên tự do, ngoài Đảng. Mặt Trận không được phép mặc định mình là Bộ Công An khiến Việt Nam có “bộ công an song song” vì chỉ có Bộ Công An mới có quyền bút phê thuận OK hay loại rejected vào hồ sơ xin ứng cử của ứng viên tự do ngoài Đảng;

(d) Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh đã phá hoại buổi hiệp thương thứ nhất của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước năm 2016 như đã trình bày trong bài  Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân;

(e) Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh đã từng nảy sinh cái sự việc điên rồ của một thằng lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh mà Hoàng Hữu Phước đã nêu rõ trong bài Tôi và Lê Hiếu Đằng; và

(f) Đảng sẽ bị ô danh – dẫn đến sự thất bại trên mặt trận chính trị nghị viện toàn dân – nếu vẫn duy trì sự tồn tại của Mặt Trận Tổ Quốc vốn là một tổ chức đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó và hiện nay chỉ làm hao tổn ngân khố quốc gia, thậm chí uy tín của Đảng không thể nguyên vẹn khi người đứng đầu Mặt Trận tự dưng hưởng ghế Ủy viên Bộ Chính Trị trong khi đã, đang, và mãi mãi sẽ chẳng đóng góp bất kỳ được điều gì cho đại cuộc phát triển quốc gia trừ mỗi việc lom khom đi vận động xin tiền doanh nghiệp và hèn hạ mất dạy dám phá hoại buổi hiệp thương lần I của ứng cử viên nghị viện Hoàng Hữu Phước năm 2016.

Với mô hình lý tưởng mục tiêu, tất cả các nghị sĩ đảng viên và nghị sĩ ngoài Đảng đều tăng cường trui rèn đạo đức con-người-trước-dân (thay vì đạo đức cách-mạng-trước-Đảng), cạnh tranh thi thố tài năng, để đạt sự nể trọng và lòng tin của người dân. Dần dần, sẽ xuất hiện những nhân tố ngoài Đảng đắc cử nghị viện rồi được Quốc Hội chuẩn y bổ nhiệm vào các ghế Bộ Trưởng trong Chính Phủ. Tất cả đều phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, theo đường lối chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam với cung cách mới: tranh biện phản biện hùng biện để thống nhất sẽ thay thế cho kiểu cắm đầu thực hiện như cái máy. Nhà sử nghiên Hoàng Hữu Phước từng khẳng định trên blog này rằng Hội Nghị Diên Hồng được tổ chức trên cơ sở triều đình đã quyết tâm đánh giặc và muốn trình bày với các đại biểu của dân để quán triệt nghị quyết về cách đánh và dân phải đồng tâm thực hiện các yêu cầu của triều đình về sách lược đối phó, đáp ứng quân nhu, cảnh giác điệp báo, bảo vệ kho lẫm, phòng gian bảo mật, chứ hoàn toàn không để hỏi ý kiến đại biểu xem có đánh giặc hay không, vì chỉ có triều đình hạng vất đi mới không biết phải làm gì, phải hỏi đại biểu và nếu đại biểu muốn đầu hàng giặc thì triều đình sẽ nghe theo. Việt Sử không hề cung cấp các chi tiết như chương trình nghị sự, thành phần tham dự, số lượng tham dự, danh tính đại biểu các vùng miền, các diễn văn, các chủ đề luận bàn, các mẫu phiếu bầu, các báo cáo tổng hợp kết quả biểu quyết, v.v., của Hội Nghị Diên Hồng , tức những sử liệu bắt buộc phải có trong tàng thư Sử Quán triều đình. Thế nên đương nhiên nhận định và giải thích của Hoàng Hữu Phước về Hội Nghị Diên Hồng là bất khả tranh cãi. Từ đó suy ra Đảng Cộng Sản Việt Nam tất phải đề ra sách lược, chủ trương, và Quốc Hội như những Hội Nghị Diên Hồng lắng nghe các sách lược đó, phản biện các chi tiết, tham mưu cách thực hiện, v.v. và v.v. Từ trước đến nay các thực thi chính sách đều vấp váp vì các “đại biểu” đã không hiểu ý nghĩa thật sự của Hội Nghị Diên Hồng, cứ tưởng phải ngồi yên chờ Đảng hỏi “Làm hay không?” rồi gật đầu hoặc lắc đầu như cái máy theo lịnh Đảng. Chỉ có Quốc Hội theo mô hình lý tưởng mục tiêu do Hoàng Hữu Phước đề ra mới bảo đảm Quốc Hội thực sự là Hội Nghị Diên Hồng theo sự duy nhất hiểu đúng của nhà sử nghiên Hoàng Hữu Phước, cũng như bảo đảm rằng chế độ độc đảng Việt Nam vẫn sinh hoạt chính trị nghị viện lành mạnh, văn minh, chính đạo, hoàn toàn phù hợp bất kỳ chuẩn mực nào về dân quyền và nhân quyền tại bất kỳ quốc gia nào thuộc bất kỳ thể chế chính trị khác biệt nào trên toàn thế giới .

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Bôi nhọ: Bôi Nhọ  02-12-2015

Khủng hoảng nhân sự: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự October 2, 2019

Luật pháp nhũn xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Phá hoại buổi hiệp thương thứ nhất của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước năm 2016: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Thạc sĩ tiến sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Thằng lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh nổi điên: Tôi và Lê Hiếu Đằng  29-8-2013

Thủ Thiêm: Nhà Hát Thủ Thiêm 30-10-2018

Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự

Tứ Đại Vấn & Tứ Đại Kế

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

02-10-2019

Mới đây, có thông tin một nữ lãnh đạo một ủy ban của Quốc Hội thở than hai việc rằng không thể bớt nhân sự đội ngũ nghị sĩ chuyên trách vì các ủy ban sẽ gặp khó khăn trong hoạt động, và rằng không dễ có thêm nhân sự vì các nghị sĩ từ chối không muốn ra trung ương để làm chuyên trách.

Việc thở than như thế rất quái gở vì Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước rất thoải mái dễ dàng tham mưu ngay tại phòng họp của Thường Vụ Quốc Hội cho lãnh đạo Quốc Hội ngay cả việc quốc gia đại sự, sá gì chuyện cỏn con thế kia mà lại thố lộ với báo chí cứ như đã ở bước đường cùng không lối thoát vậy.

Do thấu thị được rằng Quốc Hội nước nhà sẽ triền miên lún ngập trong vũng lầy dù Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ ngập chìm trước Hà Nội đối với vấn nạn ấm lên toàn cầu khiến mực nước biển dâng cao 10 mét trong hai thập kỷ nữa, tôi đã tuyên bố trước rằng tôi sẽ tự do ra ứng cử nghị viện Việt Nam Khóa XV năm 2021 để nếu đa số người dân ủng hộ chế độ nên dồn phiếu cho tôi và nếu Đảng Cộng Sản thành công quét sạch bọn phản Đảng khiến chúng không can thiệp phá hoại kết quả bầu cử của tôi thì ở Quốc Hội tôi có thể thực hiện Tứ Đại Điều điều gồm

(a) giúp Quốc Hội lần đầu tiên sau khi Việt Nam thống nhất có được một nghị sĩ đức tài do Quốc Hội bấy lâu nay chỉ may mắn có dăm ba nghị sĩ có đức chứ chưa hề có bất kỳ nghị sĩ nào có tài cả,

(b) giúp uốn nắn Quốc Hội ở khâu làm luật đẳng cấp cao,

(c) giúp xây dựng Quốc Hội lần đầu tiên trở thành nghị viện có sinh hoạt sôi nổi không bị tràn ngập bởi những “nghị gật”, và

(d) đích thân soạn thảo đệ trình bộ “Luật Biểu Tình” nhằm giúp Quốc Hội chấm dứt trăn qua trở lại trọc trằn trước “món nợ với nhân dân” mà vài thằng nghị sĩ cốt luật sư ở Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh đã nêu lên rồi bỏ đó cho Quốc Hội gánh lấy từ năm 2012 đến tận ngày nay.

Trước khi đề xuất 4 ý kiến tham mưu, tôi có 4 thắc mắc tức Tứ Đại Vấn sau:

Đại Vấn 1: Đảng đã giáo dục đảng viên và phát triển họ theo kiểu gì và như thế nào mà đa số từ chối không chịu làm nghị sĩ chuyên trách tức bỏ tất cả các chức vụ và quyền lợi ở địa phương để ra Hà Nội làm việc cho một trong các ủy ban của Quốc Hội, mà khăng khăng bám lấy vị trí nghị sĩ kiêm nhiệm tức giữ tất cả các chức vụ và quyền lợi ở địa phương, được ở gần gia đình ở địa phương, được mỗi năm bỏ việc ở địa phương để có 1/3 tổng thời gian ra Hà Nội “phục vụ” Quốc Hội làm mỗi 8 việc là

(i) ngủ gật hoặc chơi game trong hội trường,

(ii) nhấn nút thông qua Luật khi thức dậy,

(iii) ăn uống no say,

(iv) nhận tiền hậu hĩ của Quốc Hội,

(v) nhận tiền hậu hĩ của các Bộ,

(vi) bù khú tiệc tùng với các “đồng đội” tức đồng nghiệp và với các “đồng chí” tức những tinh hoa của Đảng đã từng học chung lớp “cán bộ nguồn” là nơi đào tạo lãnh đạo tương lai cho Đất Nước,

(vii) chơi tennis hoặc chơi golf, và

(viii) tham quan các thắng cảnh toàn Miền Bắc bằng xe Quốc Hội có mô tô cảnh sát dẫn đường?

Đại Vấn 2: Mặt Trận Tổ Quốc đã “giới thiệu” ứng viên nghị viện theo kiểu gì và như thế nào mà các nghị sĩ Đảng Viên chức sắc khi đắc cử nghị sĩ lại từ chối làm nghị sĩ chuyên trách mà khăng khăng bám lấy vị trí nghị sĩ kiêm nhiệm?

Đại Vấn 3: Quốc Hội đã “chọn người” theo kiểu gì và như thế nào mà khi mời những đấng được chọn chosen ones ấy vào “chuyên trách” thì bị các đấng ấy dãy nãy chối từ?

Đại Vấn 4: Chung quy lại, phải chăng những tinh hoa trí tuệ của Đảng toàn là bất tài vô dụng không có trí tuệ để làm công việc thuần trí tuệ tại các ủy ban trí tuệ của Quốc Hội vốn lẽ ra là nơi chỉ dành cho những tinh hoa trí tuệ đến làm việc lập hiến và lập pháp, và vậy có phải chăng những tinh hoa trí tuệ của Đảng là hàng giả hoặc được cãi chầy cãi cối binh vực cho bằng được rằng chúng là hàng thật 100% chẳng qua bị kém chất lượng do nhiều tháng bị lưu giữ trong kho không có điều kiện thích hợp như thuốc trị ung thư của VN Phạc Ma?

Khi lãnh đạo Đảng, Mặt Trận, và Quốc Hội nghiền ngẫm xong 4 câu hỏi trên, quý vị sẽ buộc phải công nhận – dù e thẹn đỏ bừng đôi gò má không dám công khai nhìn nhận như vậy – rằng 4 ý kiến tham mưu sau của Hoàng Hữu Phước là tuyệt đỉnh, không bao giờ có thể sai, và không bao giờ có thể làm khác hơn được cho vấn đề khủng hoảng nhân sự Quốc Hội. Những ý kiến này thậm chí đã từng được nêu lên nhiều lần trong các bài viết trên blog này mà gần đây nhất là bài Thiên Khổng.

Tứ Đại Kế bao gồm:

Đại Kế 1: Chấm dứt giới thiệu ra ứng cử nghị viện các đảng viên chức sắc nào

(a) bản thân không ký giấy cam đoan “nhận bất kỳ nhiệm vụ nào do Quốc Hội phân công”, và

(b) không được cơ quan nơi công tác cấp giấy xác nhận bảo đảm hai điều rằng (i) ứng viên nếu đắc cử sẽ có 100% thời gian của 1/3 tổng thời gian công tác theo yêu cầu luật định để dự toàn thời gian kỳ họp Quốc Hội mà không phải trở về địa phương để dự họp cho bất kỳ công việc nào của Đảng hay của chính quyền, thậm chí ngay cả để triển khai “Nghị Quyết Trung Ương Đảng”; và rằng (ii) nếu nghị sĩ được mời làm “chuyên trách” thì cơ quan sẽ tự động làm hồ sơ miễn nhiệm ngay mà không cần lắng nghe ý kiến chấp thuận của nghị sĩ được mời.

Đại Kế 2: Gia tăng số lượng nghị sĩ chuyên trách lên nhiều lần theo bất kỳ yêu cầu nào về nhân sự của các ủy ban của Quốc Hội; đồng thời gia giảm số lượng nghị sĩ kiêm nhiệm xuống tối thiểu tức chỉ dành cho một ít đảng viên nào (i) hiểu được Đại Kế 1 muốn nói gì, (ii) biết bản thân đúng là tinh hoa trí tuệ của Đảng về lập hiến và lập pháp, (iii) biết bản thân sánh bằng hoặc hơn nghị sĩ khóa XIII Hoàng Hữu Phước, và (iv) bản thân đã đọc hai bài Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam của nghị sĩ khóa XIII Hoàng Hữu Phước.

Còn lại (tức lấy 500 trừ đi số “chuyên trách” đã gia tăng tối đa, trừ đi số “kiêm nhiệm” của cộng đồng đảng viên tối thiểu nói trên) thì tuyệt đại đa số nghị sĩ kiêm nhiệm sẽ là ứng viên ngoài Đảng, tự do.

Tham khảo chính trị Hoa Kỳ qua bài Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?, ta thấy Mỹ có rất nhiều cái gọi là “đảng”, nhưng chỉ có hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thay nhau nắm quyền trị quốc được gọi là hệ thống lưỡng đảng, và những “đảng” còn lại nếu có “đảng viên”muốn ra tranh cử thì phải mang thân phận “ứng viên tự do” chứ không với tư cách “đảng viên đảng nào” để không bao giờ có bất kỳ “đảng” nào khác được cạnh tranh với Lưỡng Đảng Cộng Hòa & Dân Chủ tại Hoa Kỳ.

Như vậy, Việt Nam gia tăng số lượng “ứng viên tự do” từ nhân dân ngoài Đảng (do đảng viên – kể cả đảng viên hưu trí – không được Đảng cho phép “tự do ứng cử”) tức từ những người có bản lĩnh về trình độ, có tự chủ về thu nhập, có quyền đối với thời gian cá nhân và thời gian công việc riêng, có mong muốn thực thi quyền công dân đối với phụng sự quốc gia tại nghị trường, có quyền tham gia làm chính trị công bằng, và có sự ủng hộ của nhân dân qua lá phiếu bầu của cử tri.

Việc làm trên đúng với Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về dân quyền và nhân quyền, đúng với bài bản quản trị quốc gia, đúng với yêu cầu thực tế, và đúng với chiến lược dụng nhân trong lập hiến và lập pháp trong thời đại mới.

Như vậy, người dân Việt Nam không được Đảng Cộng Sản cho gia nhập Đảng vẫn  không cần “Đa Đảng” để được phụng sự quốc gia theo con đường chính trị nghị viện, để không bao giờ có bất kỳ “đảng” nào khác được cạnh tranh với Độc Đảng Cộng Sản tại Việt Nam.

Phụng sự quốc gia trong lĩnh vực và môi trường chính trị nghị viện không bao giờ là đặc quyền chỉ dành cho Đảng Viên Cộng Sản.

Phụng sự quốc gia trong lĩnh vực và môi trường chính trị nghị viện là quyền và nghĩa vụ của tất cả công dân Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu luật định.

Đại Kế 3: Nếu các nghị sĩ chuyên trách bắt buộc phải được chọn từ các nghị sĩ kiêm nhiệm là đảng viên chức sắc cao cấp của Trung Ương Đảng, các Bộ/Ban/Ngành/Đoàn Thể/Địa Phương, thì trong trường hợp năng lực của lực lượng tinh hoa trí tuệ này của Đảng không cao như mong đợi từ kết quả đầu tư, Quốc Hội phải có cơ chế thoáng, theo đó những nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) nào có năng lực cao hơn có thể được Quốc Hội ký hợp đồng thời vụ cho một dự án luật cụ thể hay một công việc cụ thể phụ giúp các ủy ban của Quốc Hội, dưới tên gọi Hợp Đồng Tham Vấn Chuyên Gia, để các nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) không còn ở vị trí như bấy lâu nay (tức có mặt ở Quốc Hội chỉ để phục vụ số liệu thống kê nhằm khoe khoang với quốc tế rằng Quốc Hội Việt Nam có bao nhiêu nghị sĩ người dân tộc thiểu số, người ngoài Đảng, người làm doanh nhân, người có học vấn cao) mà sẽ thực sự là những nhà chính trị nghị viện có thực tài thực tâm phụng sự quốc gia dân tộc.

Dần dần, sau nhiều Khóa áp dụng Đại Kế này, Quốc Hội có thể mạnh dạn thử nghiệm đưa một nghị sĩ kiêm nhiệm (tự do, ngoài Đảng) vào đội ngũ nghị sĩ chuyên trách tại một ủy ban ít nhạy cảm (chẳng hạn không phải Ủy ban An ninh Quốc phòng), rồi theo thời gian hoạt động nghị viện Việt Nam sẽ thay đổi nhiều hơn, thực tế hơn, hiệu quả hơn, hợp Hiến hơn và hợp pháp hơn.

Trước mắt, nếu áp dụng Đại Kế 2 và 3 này, Chủ Tịch Quốc Hội sẽ không phải liên tục than vãn Kỳ Họp Quốc Hội luôn có quá nhiều ghế trống. Đã không tài cán làm lập hiến và lập pháp, không quan tâm làm lập hiến và lập pháp, không ưa thích làm lập hiến và lập pháp, thế tại sao cứ phải ấn nhét nhồi tống số lượng nghị sĩ đảng viên ấy vào Quốc Hội cho bằng được, khiến tạo ra một thuyết âm mưu rằng do đảng viên phải tuyệt đối tuân lệnh Đảng nên các nghị sĩ đảng viên phải chiếm tuyệt đại đa số trong Quốc Hội để bảo đảm các luật lợi ích nhóm của các lãnh đạo sẽ được thông qua một cách danh chính ngôn thuận chăng?

Đại Kế 4: Cần nhớ một thực tế tại Quốc Hội Việt Nam rằng Quốc Hội có những nghị sĩ thuộc nhiều ngành khác nhau được mặc định rất đúng rằng họ có sự hiểu biết về ngành của họ. Song, chưa từng ai chịu hiểu một điều rõ ràng rằng một luật sư biết về các luật hiện hành chứ bản thân nghị sĩ luật sư không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; rằng một nhà tu hành biết về kinh kệ và đạo pháp hiện tu chứ bản thân nghị sĩ thầy tu không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; rằng một tướng lĩnh biết về chiến thuật bố trận bày binh chứ bản thân nghị sĩ tướng lĩnh không đương nhiên là nhà lập hiến & nhà lập pháp; v.v. và v.v. Như vậy, việc bảo đảm “có đủ mọi thành phần” hóa ra sẽ vừa không bao giờ “đủ” (thí dụ không có nghị sĩ Tin Lành, không có nghị sĩ Bà La Môn Giáo, không có nghị sĩ thợ hầm lò, không có nghị sĩ chiến sĩ nhà giàn, không có nghị sĩ tuổi Teen, không có nghị sĩ hài nhi, v.v.) vừa không bao giờ bảo đảm công tác lập hiến và lập pháp đạt chất lượng cao như kỳ vọng vốn thiên về ảo tưởng; trong khi đó, ở Việt Nam còn có thêm khâu gởi các dự án luật cho tất cả các ban/ngành/đoàn thể/quần chúng nhân dân góp ý, thế mà chất lượng làm luật vẫn chưa bao giờ đạt yêu cầu. Lý do duy nhất là: Quốc Hội đã chưa từng có một nhà lập hiến và lập pháp đúng nghĩa, hoặc đã có một người ở Khóa XIII nhưng đã chèn ép người đó không có quyền được thi thố chẳng qua đó là người tự do, ngoài Đảng.

Do đó, nếu chẳng may do người dân chán ghét chế độ Cộng Sản nên không dồn phiếu cho ứng cử viên “thân Cộng” pro-communist Hoàng Hữu Phước, hoặc nếu chẳng may do Đảng thất bại hoàn toàn bó tay trước bầy sâu phản Đảng trong Mặt Trận Tổ Quốc khiến chúng tiếp tục ra tay phá hoại bầu cử làm ứng cử viên Hoàng Hữu Phước không có đủ số phiếu bầu khiến Quốc Hội Khóa XV tiếp tục không thể có một nhà lập hiến và lập pháp đúng nghĩa, thì Quốc Hội vẫn có thể ký Hợp Đồng Tham Vấn Chuyên Gia với nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước khi có các đại dự án luật hoặc khi có các hoàn cảnh khó khăn quốc gia đại sự mà bản thân các ủy ban của Quốc Hội và các nghị sĩ chuyên trách và kiêm nhiệm Khóa XV bó tay không thể đề ra các giải pháp tối ưu. Đại kế này như một cách có quân sư Hoàng Hữu Phước phi-Hoàng-Hữu-Phước vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Khóa XIII, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, Nhà Chính-trị Cộng-sản Thiên Khổng Dân-tộc Chủ-nghĩa

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Các Tứ Đại:

Tứ Đại Đần: Tứ Đại Đần  01-9-2017

Tứ Đại Điều: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Tứ Đại Hỗn: 9 Kẻ Đào Tẩu 26-9-2019

Tứ Đại Kế: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  05-8-2012

Tứ Đại Vấn: Quốc Hội Việt Nam Khủng Hoảng Nhân Sự  02-10-2019

Bài Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Đa Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?   18-5-2013

Giới nghị sĩ phải thay đổi: Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam  04-02-2018

Giới tinh hoa chính trị phải thay đổi: Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Không cần Đa Đảng: Luận Về “Đa Đảng”  13-02-2011

Làm chính trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Mặt Trận Tổ Quốc: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Phản Đảng: Đảng Ơi, Họ Lại Diễn Trò Cũ Rích Rồi!  05-6-2019

Ra tay phá hoại bầu cử làm ứng cử viên Hoàng Hữu Phước không có đủ số phiếu bầu: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Tuổi teen: Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

VN Phạc Ma: Pharma  29-9-2019

Hoàng Hữu Phước Bái Phục Nguyễn Nguyệt Linh

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2019

Tất cả những trẻ em hạnh phúc ở Âu Mỹ đều xem bố của chúng là những anh hùng (My Dad is my hero!).

Tôi đã là một đứa bé hạnh phúc.

Tôi xem Ba của tôi là một vị anh hùng dù ông là người đứng chỉ cao đến vai tôi, không tham vọng vươn cao, luôn thanh liêm chính trực. Song, hơn tất cả những trẻ em hạnh phúc ở Âu Mỹ từ khai thiên lập địa đến nay chưa hề xem mẹ của chúng là gì, tôi xem Má của tôi là một bà tiên thông tuệ dù bà học chữ chỉ đủ để biết thêu tên các con lên áo sơ mi hoặc áo dài khi con còn ở tiểu học/trung học, và để đọc thư của các con gởi về từ hải ngoại.

Đức tính của vị anh hùng là dũng mãnh xả thân bảo vệ người yếu thế. Ba tôi đã xả thân (theo nghĩa bóng) bảo vệ gia đình (vợ là phụ nữ nên thuộc cộng đồng yếu thế, các con thơ dại nên cũng thuộc cộng đồng yếu thế, Hoàng Hữu Phước tiên sinh sinh thiếu tháng nên càng ở thế yếu) tồn tại vững vàng an toàn tuyệt đối dưới chiếc ô dù của đạo đức thiên Khổng trong cơn mưa như trút nước nặng hạt của bao bụi bẩn, bùn nhơ, mầm bệnh. Ba tôi cũng đã dũng mãnh xả thân (theo nghĩa đen) bảo vệ những đứa bé gái trên dọc đường gió bụi.

Đức tính của bà tiên là dịu dàng xả thân bảo vệ người yếu thế. Má tôi đã dịu dàng xả thân (theo nghĩa bóng) bảo vệ gia đình tồn tại vững vàng an toàn tuyệt đối dưới chiếc ô dù của đạo đức thiên Khổng trong cơn mưa trút nước nặng hạt của bao bụi bẩn, bùn nhơ, mầm bệnh. Má tôi cũng đã dịu dàng xả thân (theo nghĩa đen) bảo vệ những người nghèo khó hoạn nạn trông xóm hay trên vạn nẽo quan san. Còn sự thông tuệ nơi bà là bà đã quá thông minh khi đặt lòng tin tuyệt đối không bao giờ suy suyển vào đạo đức thiên Khổng của cha mẹ và của chồng, thực hiện được đạo đức ấy, truyền được vào tâm trí của đàn con niềm tin vào đạo đức ấy, và làm cả gia đình được tôn kính tôn trọng trong cả cộng đồng dân cư nơi cư ngụ.

Tôi xem Ba của tôi là anh hùng, và xem Má của tôi là bà tiên thông tuệ. Nhưng tôi chưa bao giờ nói tôi xem Ba tôi hay Má tôi là thần tượng của tôi cả.

Thế tôi đã xem ai tại Việt Nam và trên thế giới là thần tượng của tôi để tôi bái phục? Chẳng bất kỳ ai cả. Tôi có thán phục vài ba người Việt Nam – trong đó có Lý Thường Kiệt, Hồ Chí Minh, và Nguyễn Phú Trọng, nhưng chưa hề thán phục bất kỳ ai thuộc huyền sử Tàu hay chính sử Tây dù đó là Quan Vân Trường, Trần Huyền Trang, Bill Gates, Khổng Tử, hay Albert Enstein, v.v., sá gì mấy thằng giặc A-Léc-Xăng-Đờ-Rốt hoặc Ríc-cha Ních-xơn. Chưa kể, “thán phục” và “bái phục” một ai không có nghĩa xem người đó là “thần tượng”. Còn mọi người thuộc giới “công nghiệp giải trí” như ca sĩ, diễn viên, nhạc sĩ, v.v., tôi đều xem như giới mà tôi bỏ tiền ra mua vé hay mua dĩa để chính tôi được họ phục vụ khi nào tôi “quởn” nên còn khuya mới có ai trong cái giới ấy khuynh loát được tâm trí của tôi để tôi bảo họ là thần tượng của tôi.

Song, tôi vừa nghĩ mình vừa có thêm một nhân vật để thán phục và bái phục: đó là Nguyễn Nguyệt Linh.

Cần nói rõ Nguyễn Nguyệt Linh trong bài này hoàn toàn không phải là cô bé được nói đến trong mấy cái trang web như Gia Đình Việt Nam hay Báo Mới là hai trong nhiều nơi đã “chạy tít online” rằng “Bé Gái 6 Tuổi Viết Thư Gửi Các Trường Học Đề Nghị Không Thả Bóng Bay Ngày Khai Giảng”. Làm gì có “bé gái 6 tuổi” – tức mới học lớp 1 – nào ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam theo cái hệ thống và chương trình giáo dục sai bậy của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà lại viết được thư như thế cơ chứ!

Lý do đơn giản vì duy nhất chỉ có học sinh tiểu học Hoàng Hữu Phước ở Việt Nam Cộng Hòa là học sinh tiểu học xuất sắc về viết văn làm trưởng lớp suốt 5 năm tiểu học rồi kiêm trưởng ban báo chí khi lên lớp 4 và lớp 5 (ngày xưa gọi là từ lớp Nhì đến lớp Nhất) trường Phan Đình Phùng, Quận 3, Sài Gòn, nghĩa là Hoàng Hữu Phước  bắt đầu “viết văn làm báo” từ năm 9 tuổi thì vĩnh viễn không bao giờ có chuyện em bé 6 tuổi lớp 1 lại viết thư tâm tình trí tuệ tại Việt Nam hay trên thế giới tức giỏi hơn Hoàng Hữu Phước cả! Dứt khoát là vậy.

Vì vậy, cần nói rõ ở đây rằng: người mà Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thán phục bái phục là nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh học lớp 5 (tức chừng 10 tuổi) trường Marie Curie, Hà Nội, chứ không phải bé “6 tuổi” nào đó tên Nguyễn Nguyệt Linh.

Nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh học lớp 5 giỏi hơn nam sinh Hoàng Hữu Phước học lớp 5, vì nữ sinh Nguyễn Nguyệt Linh viết về một điều của tuổi thơ ở Việt Nam hòa quyện vào bầu không khí bao trùm địa cầu trong khi nam sinh Hoàng Hữu Phước chỉ viết bình giảng tục ngữ ca dao và về lòng yêu nước.

Trong thế giới nhiễu nhương tạp nhạp này, Nguyễn Nguyệt Linh trở thành một ngôi sao ngời rạng.

Hiện nay bọn báo chí không-ra-chi trên toàn thế giới đang rầm rộ đưa các thông tin về cô bé 16 tuổi người Thụy Điển tên Greta Thunberg như sau:

(a) Greta Thunberg cách nay một năm “biểu tình” một mình trước Quốc Hội Đan Mạch về biến đổi khí hậu;

(b) Ngày nay “biểu tình” của hàng triệu người ủng hộ Greta Thunberg diễn ra trên toàn thế giới Âu Mỹ;

(c) Greta Thunberg vừa được mời phát biểu trước các lãnh đạo Châu Âu về biến đổi khí hậu;

(d) Greta Thunberg tại Liên Hợp Quốc lên án các chính phủ đã đánh cướp tương lai của nhân loại đối với đại nạn biến đổi khí hậu.

Nhà chính trị Việt Nam đoan chính duy nhất hoạt động trên các diễn đàn quốc tế là Hoàng Hữu Phước đã có các phản pháo bằng tiếng Anh trên Twitter chống lại bọn lợi dụng Greta Thunberg với các ý chính như sau:

(a) Ngay cả gia đình Greta Thunberg, hàng trăm nghị sĩ Thụy Điển, dân cư thủ đô,  cũng không ai ủng hộ cô, nên mới có chuyện cô “một mình” ngồi cạnh một ba-lô và một tấm bảng “biểu tình”;

(b) Nhiếp ảnh gia chụp hình Greta Thunberg ngồi một mình đã không điện thoại báo gia đình cô, báo cơ quan cảnh sát, mà chạy bay về tòa soạn để “post” ảnh gây chấn động địa cầu, bỏ mặc cô bé “biểu tình” có nguy cơ trở thành nạn nhân của một vụ cưỡng dâm có thể xảy ra;

(c) Vậy liệu bức ảnh được chụp ấy có phải đã được dàn dựng công phu với gia đình cô ấy đứng sau lưng “nhiếp ảnh gia”;

(d) Thế quý vị “làm chính trị”, vậy cách nay một năm quý vị có ai “biểu tình một mình” như Greta Thunberg không, nghĩa là cả đám quý vị “làm chính trị” mà chẳng có ai nghĩ gì về vấn nạn biến đổi khí hậu hay sao mà khi thấy có Greta Thunberg xuất đầu lộ diện là quý vị vội “ăn theo” đăng đàn tuyên bố hung hăng để kiếm phiếu bầu hay sao vậy; và

(e) Hỡi cháu Greta Thunberg yêu quý, có vô thiên lủng thứ gây hại cho sự biến đổi khí hậu, từ xe cộ, máy điều hòa không khí, máy bay, tàu thủy, hàng không mẫu hạm, chăn nuôi gia súc và thú cưng, sản xuất thực phẩm, sản xuất thép, sản xuất xi-măng, cho đến thủ nghiệm vũ khí, thử nghiệm thuốc men, tiêu hủy vũ khí, tiêu hủy thuốc men, du hành vũ trụ, v.v. và v.v. Vậy cháu muốn chống cái nào và lờ đi cái nào đây?

Như vậy,

a– trong khi Greta Thunberg nữ sinh lớp 9 của Thụy Điển mặt mày hung tợn nhăn nhó hung hăng gằn giọng phát biểu nảy lửa chung chung cứ như đang được cha mẹ hoặc một thế lực nào đó mớm ý dọn đường cho đại cuộc trở thành một nữ chính trị gia tầm cỡ Thủ Tướng Đức (German Chancellor) Angela Merkel sau hai năm nữa đủ 18 tuổi; và

b– được báo chí Việt Nam nhơi lại, tụng ca thành nào là “nhà hoạt động”, nào là “biểu tượng chống biến đổi khí hậu của thế hệ trẻ”, nào là “đại diện cho nhiều triệu người trên thế giới”, nào là “nhà đấu tranh cho nhân quyền”, nào là “xứng đáng cho giải Nobel vì Hòa Bình”, thậm chí nhắc đi nhắc lại cụm từ “nữ sinh lớp 9 bỏ học để biểu tình nâng cao nhận thức về sự nguy cấp của biến đổi khí hậu”, và cụm từ “kêu gọi giới trẻ xuống đường”, v.v. và v.v., cứ như thể muốn tác động vào giới trẻ Việt Nam rằng hãy thực tập xuống đường cho quen dần với “thế giới” đi, để sau này làm chính phủ Việt Nam phải đổi thay vì chính phủ “có tội”; mặc dù

c– Hoàng Hữu Phước mới là người đã trên thực tế nhận ra trước tất cả người Việt Nam về đại nạn ô nhiễm môi sinh nên đã thường xuyên công khai chống cái gọi là “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” (do hoàn toàn không thấy có các hạng mục xử lý chất thải/nước thải tại tất cả các nhà máy dệt nhuộm, các nhà máy xi măng, các nhà máy luyện cán thép, các nhà máy thực phẩm, các nhà máy dược phẩm, v.v. tại Việt Nam mà Hoàng Hữu Phước của TICO LTD (Japan) và CIMMCO International (India) đã từng đến thăm để điều nghiên về nhu cầu trang thiết bị và đầu tư trong cuối thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước), cũng như chống “phát triển ngành công nghiệp không khói” (do hoàn toàn thất vọng khi thấy vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước các đầu não tham mưu của Đảng chỉ biết mạnh miệng hăng hái vô tư như trẻ nít nói về SSS tức Sea-Sun-Sex tức phát triển du lịch dựa trên thế mạnh về Biển, Nắng và Đĩ, mà chẳng ai biết “đĩ” có do Nhà Nước đầu tư đào tạo kiểm tra chất lượng hay không và rằng du lịch mà lấn đến đâu thì môi trường hủy hoại đến đó), đồng thời chống xuất khẩu gỗ tròn gỗ xẻ wood log & timber từ lúc nhận bản chào giá của Savimex (do từ “lớp 5” tiểu học ở Việt Nam Cộng Hòa đã biết rằng tàn phá rừng sẽ tàn hại môi trường gây lũ lụt sát hại nhân dân), và luôn chống phát triển thủy điện (do biết Việt Nam hoàn toàn không có các kỹ sư và nhà quản lý đức tài nào, các đại họa sẽ ra sao khi núi rừng bị tàn phá, dòng chảy bị can thiệp, và bản thân đập thủy điện bị vỡ vì bất kỳ lý do nào); thế nên

d– Hoàng Hữu Phước cho rằng biến đổi khí hậu là do tác động của sự hủy hoại môi trường và ô nhiễm môi sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp rầm rộ đại quy mô của các cường quốc và các hoạt động sản xuất công nghiệp lạc hậu của các quốc gia nhược tiểu nên (i) không bất kỳ công dân Âu Mỹ nào – kể cả nữ sinh lớp 9 Greta Thunberg của Thụy Điển – có quyền lên tiếng về vấn nạn biến đổi khí hậu với tư cách “lương tri nhân loại” vì chính đất nước của Greta Thunberg và bọn tương cận Thụy Điển đã góp phần vào vấn nạn ấy để nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế nhằm cung cấp cho đám trẻ như Greta Thunberg cuộc sống viên mãn; (ii) các nước Âu Châu sống bám vào Mỹ một cách đê tiện và hèn hạ như đã bị Donald Trump vạch mặt như không đóng góp ngân sách cho NATO, được miễn thuế xuất khẩu vào Mỹ nhưng đánh thuế cao hàng hóa nhập từ Mỹ, nên tất nhiên nhao nhao phản đối việc Donald Trump rút ra khỏi Thỏa Thuận Chung Paris trong khuôn khổ UNFCCC khiến Châu Âu mất phần tài trợ khổng lồ của Hoa Kỳ cho các chương trình thong thả xa xỉ nghiên cứu của EU về vấn đề cấp bách của biến đổi khí hậu; nên (iii) Việt Nam hãy vì chính sự sinh tồn của Việt Nam mà chấn chỉnh lại hoạt động sản xuất, du lịch, v.v. cũng như mỗi nước hãy tự chủ động để chứng minh bản thân là một chính phủ có trách nhiệm với chính sự tồn vong của dân tộc mình, thay vì vô lý vô đạo vô duyên vô trí chống việc Donald Trump khạc nhổ vào bản Thỏa Thuận Chung Paris trong khuôn khổ UNFCCC;

mà với tất cả những điều trên thì Hoàng Hữu Phước cho rằng chỉ có Nguyễn Nguyệt Linh của Việt Nam mới nêu một vấn đề cụ thể, hoàn toàn khả thi, cực kỳ chính xác, từ một nội hàm đúng sát với phát triển tư duy sinh học chan hòa tình cảm trong sáng thiết tha của một nữ sinh lớp 5 đối với một thú vui vốn bản thân luôn thuần quyện với chính tuổi thơ: các quả bóng bay đầy màu sắc mang dấu vết đặc trưng văn hóa, tuổi thơ, và hạnh phúc.

Những quả bóng ấy cũng đã hình thành cốt truyện tuyệt diệu của một phim hoạt hình khổng lồ tuyệt vời “Up” của Walt Disney ngự trị trong lòng tất cả trẻ em và phụ huynh

Kêu gọi sự lưu tâm của người lớn đến vấn đề những quả bóng bay tiến đến vứt bỏ hẳn việc thả bóng bay, Nguyễn Nguyệt Linh can đảm rứt bỏ khỏi lòng mình một thú vui thuần khiết trẻ thơ của một hạnh phúc nhỏ nhoi: được cha mẹ dẫn dạo tung tăng nơi công viên với cổ tay buộc sợi dây có quả bóng bay mà mẹ cha dã chuộng chìu mua cho con trẻ. Rời xa quả bóng bay chính là hành động hy sinh cao cả mà chỉ có lòng hướng thượng tự thân, lòng nhân hậu với tha nhân, lòng nhân từ dành cho muôn loài, và sự nhân văn mà bản thân chỉ khi vượt lên khỏi tầm vóc của tuổi tác nớt non mới thấu hiểu được những thông tin tiếp nhận được từ truyền thông về vấn nạn biến mất của các chủng loài đa dạng sinh học, sự biến dạng của bề mặt Trái Đất từ những can thiệp thô bạo của con người cho các công trình thủy điện và phát triển du lịch hay sản xuất, mà tất cả tác động đến sự biến đổi khí hậu, để từ đó có những khắc khoải muộn phiền thố lộ tâm tư.

Khi con người thấu thị Hoàng Hữu Phước nhìn những chùm bóng bay, ông chỉ nghĩ hạn hẹp đến việc an nguy của các chuyến bay và các đường truyền tải điện. Đó là vấn đề an nguy của những hành khách sử dụng đường hàng không, và an nguy của nguồn điện cho dân sinh và phát triển kinh tế. Ông không có được trình độ tư duy nhân hậu nhân văn bằng được như Nguyễn Nguyệt Linh đã có: vấn nạn Nguyễn Nguyệt Linh nghĩ đến là sự sinh tồn của loài vật từ ô nhiễm môi trường mà vấn nạn này cũng quan hệ nhân-quả rất rõ ràng và cụ thể nhãn tiền đến sự sinh tồn của cả nhân loại. Nguyễn Nguyệt Linh không đỗ trách nhiệm cho ai. Nguyễn Nguyệt Linh không vung nắm đấm như Greta Thunberg kết tội các nguyên thủ quốc tế mà nội hàm đương nhiên có cả nguyên thủ Việt Nam. Nguyễn Nguyệt Linh không hung tợn đốp chát chống nhà ái quốc vĩ đại Donald Trump tại Liên Hợp Quốc như Greta Thunberg. Sự việc do Nguyễn Nguyệt Linh nêu lên là sự việc nhỏ nhưng hoàn toàn khả thi đối với Nguyễn Nguyệt Linh bằng cách hy sinh quyền hạnh phúc tung tăng với quả bóng bay và cũng có thể trở thành khả thi đối với các trường học nào nhận được nơi Nguyễn Nguyệt Linh sự lay động lòng người, mà một khi đã giải quyết được nhờ tính khả thi đó thì không có lý gì mà không có thể nói rằng từng vấn đề một lớn hơn quả bóng bay rồi cũng sẽ được tiệm cận, xử lý, ổn thỏa, ổn định. Biến đổi khí hậu được cho là phần lớn từ tác nhân của ô nhiễm môi trường. Quả bóng bay tưởng chừng vô hại nhưng tiềm tàng khả năng góp phần không nhỏ vào vấn nạn ô nhiễm môi trường. Và quả bóng bay góp phần gây hại cho biến đổi khí hậu. Một thứ nhân-quả giản đơn như một lẽ chân lý tuy cao vời và xa vời vẫn hoàn toàn thích hợp với tư duy trẻ thơ. Đó là điểm khiến Nguyễn Nguyệt Linh đúng đắn hơn, dễ thương hơn, thuyết phục hơn, gây xúc động hơn nơi lòng người có-trí-hóa-cao.

Rồi sẽ có những nhà trường cho rằng thế thì hãy đổi thành những quả bóng không bay để sau các buổi lễ sẽ chọc thủng tất cả rồi cho vào thùng rác có dán nhãn phân loại rác.

Thế thì sao không làm như thế này nhỉ:

1- Mỗi trường tiểu học và trung học tặng quà cho mỗi học sinh trong ngày Lễ Tựu Trường;

2- Món quà ấy là những chiếc dù đơn sắc mang tính biểu tượng của sự chở che từ kiến thức, sự bảo vệ của ngành giáo dục, sự vững tay nắm bắt nắm giữ kiến thức, sự nâng niu trân trọng những gì mà nền giáo dục nước nhà dành cho, tốt hơn nhiều so với việc phát cho học sinh chiếc bóng bay vô nghĩa;

3- Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên phải đơn giản, nhỏ, và nhẹ, với kích cỡ nhỏ gọn như đường kính 40cm, đẹp rực rỡ nhưng không là gánh nặng chi phí cho nhà trường;

4– Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên có in chữ thật nhỏ trên dù chi tiết tên trường và niên khóa để học sinh lưu trữ như kỹ vật chứ không để sử dụng che nắng che mưa và không là thứ để nhà trường quảng cáo;

5– Chính vì là quà tặng mang tính biểu tượng nên phải có màu đơn sắc như các quả bóng bay, tuyệt đối tránh việc nhà trường “phát huy sáng kiến” tạo hoa văn để tạo sự khác biệt giữa trường nhà với trường bạn;

6– Vào buổi Lễ Tựu Trường – tức Lễ Khai Trường cho năm học mới – các học sinh tập trung trên sân đều giương dù lên tạo cảnh đẹp rực rỡ nếu nhìn từ trên cao xuống;

7– Khi xong phần nghi lễ chính thức, có thể phát hiệu lệnh để các học sinh tung dù lên không – như học sinh trong lễ tốt nghiệp tung mão lên không – rồi chụp lại với nhận thức rằng chiếc dù nào màu sắc cũng đẹp và chiếc nào mình chụp được từ rừng dù tung lên rơi xuống mới là chiếc làm vật kỷ niệm trên kệ nơi góc học tập ở nhà cho mỗi năm học của mình; và

8– Mỗi trường cũng có thể treo dù giăng ngang sân trường như ảnh dưới đây và sau phần nghi lễ sẽ là thời điểm cắt dây để dù (dù nhỏ và nhẹ) rơi xuống cho học sinh chụp lấy thay vì phát cho mỗi học sinh khi vừa bước vào cổng trường dự lễ.

Nguyễn Nguyệt Linh đương nhiên cao quý hơn Greta Thunberg.

Nguyễn Nguyệt Linh thua Greta Thunberg chỉ ở chỗ Greta Thunberg có trò dàn dựng của truyền thông và sự tận dụng thời cơ ăn theo của bọn đầu cơ chính trị và của cả bọn thất nghiệp và đám trẻ ham vui đông vô kể không biết làm gì nên xuống đường la lối cho có miếng ăn (phát miễn phí ở nơi tụ tập) và vé xe buýt.

Nguyễn Nguyệt Linh còn thua Greta Thunberg ở chỗ Greta Thunberg không nói tiếng Việt.

Nguyễn Nguyệt Linh có tấm lòng. Nguyễn Nguyệt Linh có khả năng diễn đạt giỏi bằng tiếng Việt. Đó luôn là cơ sở để Nguyễn Nguyệt Linh giỏi tiếng Anh – theo kinh nghiệm và biện luận thuyết của Hoàng Hữu Phước về “học giỏi Tiếng Anh”.

Nguyễn Nguyệt Linh không cần – và không nên phí thời gian – quan tâm đến Greta Thunberg hay những cái phiếm phù mà thiên hạ đang ngợi ca Greta Thunberg. Đơn giản vì Nguyễn Nguyệt Linh thuộc một đẳng cấp khác, cao quý hơn nhiều. Đơn giản vì Greta Thunberg sẽ y như quả bóng bay màu sắc rực rỡ với sự tồn tại hoàn toàn vô nghĩa lý insignificant nonentity, trong khi Nguyễn Nguyệt Linh là chiếc dù rực rỡ sắc màu của đức hạnh. Đơn giản vì Greta Thunberg nếu có tiếp tục “hoạt động” như hiện nay thì quả bóng có bay cao cũng nổ xẹp rồi biến mất vào hư không nothingness của trò chơi chính trị, trong khi Nguyễn Nguyệt Linh nếu vẫn tiếp tục là trẻ thơ như hiện nay với lòng nhân hậu trưởng thành rồi dần trưởng thành theo năm tháng thì Nguyễn Nguyệt Linh sẽ là một khởi phát văn tài. Có xuất phát điểm như vậy, Nguyễn Nguyệt Linh sẽ ở trên vị trí cao vời mà một nữ giáo viên nọ dù lớn tuổi và chẳng biết lượm đâu ra cái bằng thạc sĩ Văn chỉ để đẻ ra trên mạng “chùa” một bài thơ rác rưởi cẩm ca cẩm lẩm hạ đẳng.

Giá như Viêt Nam còn có người thứ hai như Hoàng Hữu Phước ở Hà Nội để có thể giúp Nguyễn Nguyệt Linh thành nhà hùng biện tiếng Anh, vì ngoài Hoàng Hữu Phước thì không bất kỳ giáo viên nào của bất kỳ trường nào tại bất kỳ quốc gia nào có thể luyện Nguyễn Nguyệt Linh thành nhà hùng biện tiếng Anh và nhà văn nhà thơ tiếng Anh cả. Song, chỉ cần Nguyễn Nguyệt Linh đừng để bị cuốn hút vào các mạng xã hội rẻ tiền như Facebook và các mạng xã hội của các nước khác kể cả bất kỳ mạng xã hội nào của Việt Nam rồi dành thời gian áp dụng cẩm nang của Hoàng Hữu Phước, thì việc vươn lên về học vấn nói chung và ngoại ngữ nói riêng ắt sẽ vẫn trong tầm tay của Nguyễn Nguyệt Linh.

Và nếu như một Nguyễn Nguyệt Linh tâm đắc các lưu ý của Hoàng Hữu Phước rằng

(a) “biểu tình” dưới dạng xuống đường– kể cả các cuộc “xuống đường” của sinh viên học sinh Sài Gòn trước 1975 – là hành động hạ cấp hạ tiện và hạ đẳng vì gây cản trở giao thông, gây thiệt hại cho dân nghèo kiếm sống trên lề đường, đe dọa sinh mệnh sản phụ và bịnh nhân trên đường cấp cứu; và luôn là hành động vô hiệu, vô dụng, thuần phá hoại của bọn bất tài vô dụng; nhất là khi

(b) đang có sự bùng phát cái quỷ quái gọi là “mạng xã hội” vậy sao không “biểu lộ tình cảm” trên không gian mạng đi; chưa kể

(c)  đang là thế kỷ XXI với bao điều khoe khoang kỳ vĩ về tri thức, về trí thức, về văn bằng, về văn minh, về văn hóa văn vật văn vẻ, thì sao không trổ tài thảo ra các kiến nghị gởi đến đúng người đúng nơi; vì rằng

(d) lẽ nào đã xóa nạn mù chữ mà vẫn chưa đọc hoặc đọc không hiểu các bài viết của Hoàng Hữu Phước về “biểu tình” để biết Singapore trở thành cường quốc kinh tế nhờ tuyệt đối cấm “biểu tình”;

thì Nguyễn Nguyệt Linh sẽ không để bị lôi kéo vào những chiếc bẫy chính trị vốn đã nặn ra những hình hài vô dụng như Lê Công Định, Vu Cu (hình như trước khi thành người Mỹ thì có tên Vũ họ Cù), hay “Ngộ Quá Bà Bà” mà thôi.

Nguyễn Nguyệt Linh cứ vui hưởng tuổi thơ, và hãy để những hoa đức hạnh tự thân rộ nở tự nhiên theo thời gian. Đây mới là điều giúp đất nước này có được Nguyễn Nguyệt Linh làm gương sáng.

Kính cảm ơn hai đấng sinh thành của Nguyễn Nguyệt Linh đã cho Việt Nam được quyền kỳ vọng vào tiềm năng một nhân tài.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Anh hùng: Anh Hùng 29-11-2018

Cẩm nang của Hoàng Hữu Phước: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước 20-5- 2019

Chống phát triển thủy điện: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Đẻ ra trên mạng chùa một bài thơ cẩm ca cẩm lẩm hạ đẳng: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Hoàng Hữu Phước là học sinh tiểu học xuất sắc: Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi  11-8-2019

Hoàng Hữu Phước tiên sinh sinh thiếu tháng: Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo  24-10-2017

Học giỏi tiếng Anh: Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam  10-01-2016

Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam 11-9-2015

Hư không Nothingness: Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai 10-11-2014

Ngộ Quá: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng  14-02-2016

Lê Công Định: Tôi Và Lê Công Định  22-9-2014

Lý Thường Kiệt: 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975  30-5-2011

Singapore: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore 23-02-2016

Trưởng lớp suốt 5 năm tiểu học và kiêm trưởng ban báo chí: Đố Vui Để Học 18-3-2018

Tung mão: Hướng Dẫn Của Hoàng Hữu Phước Về Đội Mão  15-5-2019

Vu Cu: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011  18-5-2014

Vấn Nạn 567 Từ Cơ Quan Điều Tra Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-9-2019

Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước – tức Thế Kỷ XX – khi thế giới chưa ai nghe nói gì về chữ “internet” hay “world wide web” thậm chí cũng chưa biết là sẽ có thời điểm sẽ lòi nhú ra một cái đầy mê muội gọi là bốn-chấm-không dù trước đó không hề có một/hai/ba-chấm-không quái gì cả; còn Việt Nam chưa có các mục quảng cáo bất kỳ trên báo chí hay truyền hình, chưa người dân nào dám hó hé mở mồm hát hoặc công khai nghe “nhạc bolero”, thậm chí khách sạn chưa cho phép hai người khác phái ở chung phòng nếu họ không “xuất trình giấy đăng ký kết hôn”, và xã hội Việt Nam chưa có “luật sư” do chưa có đại học nào có Khoa Luật nên chỉ mới có “luật gia” mà tiêu chuẩn để làm “luật gia” và “thẩm phán” là có “đạo đức cách mạng” chứ không phải có văn bằng tốt nghiệp khoa Luật, thì tôi đã tận dụng cơ hội khi dạy môn Văn Minh Anh British Civilization (tức cái mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gọi là Đất Nước Học Anh) thấy có xuất hiện chữ MP trong giáo trình là tự động tự tung tự tác tự quyết định ứng khẩu thuyết trình luôn một mạch về MP, MOCNAR, nên có thể nói chắc chắn một-tỷ-phần-trăm rằng sinh viên của Hoàng Hữu Phước là những người Việt Nam đầu tiên được nghe nói đến đầy đủ và được nghe giải thích tường tận bằng tiếng Anh về sự khác nhau về tổ chức và tên gọi giữa các cơ quan lập pháp – tức “quốc hội” –  của ba siêu cường chính trị tiêu biểu mẫu mực hoàn toàn khác nhau trấn giữ thế ba chân vạc khác nhau gồm Anh ở Châu Âu, Hoa Kỳ ở Châu Mỹ, và Việt Nam ở phần còn lại của thế giới, mà trong đó cơ cấu của Mỹ và Việt Nam là độc nhất vô nhị trên thế gian này không hề có thể chế chính trị nào tương tự cả.

Với tư thế tiên phong như thế trên mặt trận tri thức lập pháp, tác giả bài viết này là “nhà làm luật” duy nhất có trình độ “làm luật” ở Việt Nam, do đó, có đầy đủ tư cách, trình độ, tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm, để cho ra các nhận xét khoa học, nghiêm túc, chính xác, và đầy đủ về hoạt động “cho ra kết luận điều tra” của Cơ Quan Điều Tra của Việt Nam.

A) 5 Điệu Múa

Từ xa lắc xa lơ, chữ Hán-Việt của “múa” là “vũ”.

Gần đây thôi, Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước có sử dụng trong một bài viết một câu thơ Hán-Việt “Phượng Loan Minh Vũ Nghê Thường Khúc” với chữ “vũ” nghĩa là “múa”. Cần nói thêm rằng câu thơ Hán-Việt trên là của Cử nhân Anh Văn Đàm Dược Côn, giáo sư trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn (đường Bùi Chu, Sài Gòn – nay  là trường Bùi Thị Xuân đường Bùi Thị Xuân, Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh), mà giáo sư ngâm trổ tài thi phú với Hoàng Hữu Phước là người học trò mà ông thấu thị vài chục năm sau sẽ “công khai” đứng đầu thiên hạ ở nước Nam này cả về thơ văn tiếng Anh và thi ca tiếng Hán-Việt. (Câu thơ đầy đủ của Thầy Đàm Dược Côn là:  “Phượng Loan minh vũ Nghê Thường khúc, Hoan lạc nhân gian đệ nhất chi”). Cần nói thêm rằng tôi chỉ thích hai vũ điệu “Tây” của hai anh môi hở răng lạnh là “Twist” của Mỹ do đặc tính độc lập sinh động dữ dội của nó và nhạc của nó, và Cha-cha-chá của Cuba do đặc tính độc lập sinh động dứt khoát của nó và nhạc của nó mà thôi. Còn mấy thứ khiêu vũ linh tinh nhũn xèo lệ thuộc như Waltz, Rumba, Mambo, Lambada, Merengue, Salsa, Cumbia, Tango, v.v. của thế giới, hay như khiêu khích nhảy múa diễn cướp ngang nhiên phạm pháp của Việt Nam mà tôi gọi là vũ điệu Rob-in-Hood (tức bọn cướp đội mũ trùm láu cá nhập nhằng đánh lận con đen với Robin Hood) thì tôi xem như thứ chả hay ho gì sất.

Vài năm trở lại đây có nhiều vụ múa may diễn cướp ngang nhiên phạm pháp giữa ban ngày thanh thiên bạch nhật ở Việt Nam mà trong những thằng những con thuộc “cõi trên” múa may phạm pháp giữa ban ngày đó có nhiều đứa họ hoặc tên và, tất nhiên, cùng những tên tương cận với đám phạm pháp này dù trong sinh vật học thì chúng thuộc những chủng loài khác nhau như giáp xác, bò sát, lưỡng cư, sâu bọ, tôm càng đỏ, ốc bươu vàng, bửa củi, hóa thạch, v.v., chứ không thuộc họ hoặc có tên gì cả.

Mới nhất là vụ của một tên vũ công Rob-in-Hood múa may phạm pháp giữa ban ngày có tên dịch ra tiếng Hán-Việt là Nhật Vũ.

Nếu đọc nội dung kết luận điều tra của cái gọi là “cơ quan điều tra” (như đăng trên “Tuổi Trẻ Online”) thì chỉ với mỗi vụ Nhật Vũ thôi thì “nhà làm luật Khóa XIII” Hoàng Hữu Phước đã nhận thấy kết luận ấy mặc trang phục xuyên thấu trên thảm đỏ để lòi nhú ra những 5 vũ khúc múa may loạn xạ gồm:

1– Chiếm đoạt tài sản Nhà Nước đương nhiên là chiếm đoạt tài sản của quốc gia dân tộc, nhưng chẳng bao giờ Nhà Nước dại dột công khai tuyên bố khẳng định tiền của Nhà Nước chính là tiền của quốc gia dân tộc vì theo lẽ đạo đức thường tình thì kẻ nào dám động đến tiền quốc gia dân tộc dứt khoát phải đối mặt với mỗi án tử hình mà không có kèm theo bất kỳ điều kiện kỳ quái nào gọi là “khắc phục hậu quả” để được giảm nhẹ hình phạt cả.

2– Các nhân vật quyền bính sử dụng quyền lực để thu lợi bất chính từ nhận hối lộlại quả nhưng Việt Nam không bao giờ coi hối lộ cùng nhận hối lộlại quả thuộc chung phạm trù với tham nhũng để xử tội nghiêm khắc cùng thang bậc y như tham nhũng.

3– Đem một phần tiền tham nhũng hoặc tiền múa cướp Rob-in-Hood đi bố thí chùa cho “Chùa” – không được cho “Nhà Thờ” – và cung cấp một phần tiền tham nhũng/ múa cướp Rob-in-Hood cho các phong trào xã hội của Nhà Nước sẽ được Cơ Quan Điều Tra xem là vô cùng thánh thiện y như Robin Hood rất xứng đáng được tính đến như những tình tiết giảm nhẹ nếu chẳng may bị phát hiện tham nhũng hoặc múa cướp Rob-in-Hood.

4– “Có công với cách mạng” đồng nghĩa với việc cả dòng họ có đặc quyền phạm pháp phạm tội trong ít nhất là một thiên niên kỷ, tức 1.000 năm.

5– Việt Nam quý trọng nhất thế giới nên chỉ cần nộp 500 triệu đồng Việt Nam khi chẳng may bị phát hiện tham nhũng (tức đồng nghĩa với hối lộ/nhận hối lộ/lại quả) 3 triệu USD sẽ được tự động xem như đã khắc phục hậu quả xong vì 500 triệu đồng có đến 9 chữ số so với 3 triệu USD chỉ có 7 chữ số, và vì Việt Nam chiến thắng đế quốc Mỹ nên Việt Nam là đại siêu cường quốc và đồng tiền Việt Nam là siêu tệ tức “tệ rất siêu” so với đồng tiền Mỹ chỉ là cái thứ tệ tệ tức “tệ rất tệ”.

5 vũ điệu Khinh Thường Khúc trên không những được ưa chuộng bởi tất cả các kẻ tham nhũng/hối lộ/nhận hối lộ/lại quả mà còn bởi các cơ quan điều tra tố tụng Việt Nam vì

(a) Bên đại quan thì hoặc hạ cánh an toàn do không bao giờ bị bại lộ, hoặc nếu “hy sinh đời Bố/cũng cố đời con” lấy thì vô thiên lủng trả lại thì chút ít thì cũng chỉ “hy sinh vì đại nghĩa” nín thinh chịu có vài năm sống đế vương trong tù ngục để dòng họ sống đế vương ngoài tù ngục cũng như để “nhóm quyền lực” không bị vạ lây, còn

(b) Bên Điều Tra thì tận dụng “luật pháp nhũn xèo” ra tay cứu gỡ tội trạng tội danh cho các đại quan, với sự nhận thức rất rõ ràng rằng ta đây (i) sẽ được bề trên cất nhắc thậm chí được Mặt Trận Tổ Quốc hoan hỷ cho vào Quốc Hội; (ii) sẽ được bề trên cứu nguy tương tự nghĩa là nếu bản thân cũng táy máy ngân khố y theo sách của đại quan mà xui xẻo bị bại lộ sớm thì bề trên sẽ trả ơn bằng cách cho hưởng y như nêu ở a ở ngay trên đầu đoạn này; và (iii) bất khả xâm phạm vì thân nhân có “công với cách mạng”, nhân thân có nhiều “đóng góp” cho sự phát triển của ngành dù chỉ phát triển theo chiều ngang tức bung tòe loe tanh banh, và bản thân có đem tiền ăn cướp tàn nhẫn trên xương máu và tương lai của dân tộc để thành tâm đãnh lễ dâng cúng cho chùa cầu an cho bá tánh và tặng cho nạn nhân chiến tranh/thiên tai để chứng minh Nhà Phật thật sự có luật nhân-quả lãng xẹt.

B) 6 Vấn Nạn Luật Pháp Việt Nam

Nguồn cơn tạo nên các sự múa may phạm pháp giữa ban ngày Rob-in-Hood như nêu trên sẽ dễ dàng khiến người dân có ngay mối hoài nghi rằng phải chăng đó là do mưu đồ của ai đó trong số các lãnh đạo của các thời kỳ muốn vừa

(a) vinh danh bản thân/gia đình/dòng họ để tranh phần với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ; vừa

(b) tạo khuôn luật pháp cung cấp sự an toàn tuyệt đối cho bản thân/gia đình/dòng họ, tức một kiểu tân-gia-đình-trị phi-gia-đình-trị (non-nepotistic neo-nepotism), tức không có việc truyền ngôi kế tập cho cá nhân một dòng họ nhưng có sự phát ban cho một tập thể Đảng rất nhiều cá nhân Đảng viên những tấm “miễn tử kim bài” (tức tha khỏi tội tử) núp ẩn trong các mật lệ của Đảng và công điều của tất cả các bộ luật có-liên-quan của quốc gia để bản thân cả nhóm đông người của họ/tất cả các gia đình của họ/tất cả các dòng họ của họ được “bất khả xâm đại phạm” (tức tội nếu chẳng may bị bại lộ sẽ không chịu án nặng); và vừa

(c) hình thành nhóm tinh hoa chính trị elite yên tâm hành sự vì được bảo vệ tuyệt đối bởi luật pháp nhũn xèo để hân hoan trung thành đối tuyệt.

Những chiêu trò luật pháp trong lập pháp ở Việt Nam không bao giờ là khả dĩ khả thi nếu như đất nước đã không gặp phải những vấn nạn sau đây.

1- Vấn Nạn Nhà Làm Luật Tay Mơ

Khi giảng dạy về hoạt động và tên gọi các Quốc Hội khác nhau của các thế lực chính trị khác nhau như Quốc Hội Mỹ Congress, Quốc Hội Anh Parliament, và Quốc Hội Việt Nam National Assembly, chỉ mới 6 năm sau Ngày Giải Phóng 30-4-1975, tôi đã lưu ý sinh viên của tôi rằng có một điều luôn giống nhau ở cả ba thế lực chính trị này: tất cả các nghị sĩ đều đương nhiên được gọi là những nhà chính trị và là những law-makers tức “nhà làm luật”.

“Nhà làm luật” law-maker tức nghị sĩ quốc hội dù Việt Nam gọi là RNA Representative of National Assembly, Mỹ gọi là MOC tức Member of Congress, còn Anh Quốc gọi là MP tức Member of Parliament, v.v.

“Nhà làm luật” hoàn toàn không dính dáng gì đến nghề nghiệp “luật sư”.

Trong một bài viết trước đây cũng trên blog này, tôi đã cung cấp số liệu thống kê những nghị sĩ đã hình thành nên bản Hiến Pháp Hoa Kỳ thuộc các nhóm nghề nghiệp nào, trong đó có một số đông chủ nô lệ, sĩ quan, thương nhân, cộng với hai ba “luật sư”, hai ba vị “có học luật nhưng không hành nghề luật”, v.v.

Cũng trong bài 9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam, tôi đã nêu các yếu kém của tuyệt đại đa số các “nhà làm luật” ở Việt Nam.

Trong bài này, tôi có các biện luận mới như sau:

Bác sĩ là người được đào tạo để chăm sóc sức khỏe khách hàng (bịnh nhân), giúp khách hàng vượt qua bịnh tật, bất kể khách hàng là thường dân hay tử tù, miễn được thanh toán chi phí bất kể từ tiền của khách hàng hay của cơ quan bảo hiểm y tế. Bác sĩ không tự tay chế ra ống nghe, ống tiêm, kim tiêm, chai dịch truyền, ống dẫn dịch truyền, kềm nhổ răng, máy chạy thận, máy chụp cắt lớp, v.v. Tương tự, giáo viên không tự mình rặn đẻ ra các định luật toán học, đặt tên cho các hành tinh, lặn xuống đáy biển thám hiểm đo đạc hố sâu nhất ở Thái Bình Dương, cũng như không mày mò đẻ ra tiếng Anh để dạy học môn tiếng Anh, không viết Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để dạy môn Sử. Và cũng tương tự, “luật sư” là người được đào tạo để chăm sóc quyền lợi khách hàng (nguyên đơn hay bị đơn), tận dụng các khe hở của luật pháp sẵn có để giúp khách hàng vượt qua tội danh để hoặc trắng án hoặc chịu án nhẹ nhất có thể được, bất kể khách hàng là thường dân hay tội phạm xuyên quốc gia thủng biên giới, miễn được thanh toán công xá bất kể từ tiền của khách hàng hay của cơ quan pháp luật Nhà Nước, chứ không bao giờ có chuyện luật sư là người soạn/viết/làm luật.

Như vậy, nhà làm luật – theo nội hàm phổ biến đương nhiên ở các nước văn minh – đơn giản là người (a) quan tâm sâu sắc đến việc “làm chính trị trong môi trường nghị viện” với “làm chính trị” chỉ mang ý nghĩa “chính thức phục vụ quốc gia và quốc dân về mặt lập hiến và lập pháp”; vì quan tâm nên người ấy (b) đầu tư nhiều nhất trong thời gian dài cho tri thức tổng hợp về các hoạt động đa dạng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và nền chính trị xã hội quốc gia trong tương quan với khu vực/thế giới/tổ chức song phương/tổ chức đa phương, trong đó có các bộ luật các quốc gia và các bộ quy tắc quốc tế thành văn trong xử lý các tranh chấp thương mại hoặc chủ quyền, rồi (c) sử dụng sự hiểu biết ấy vào công việc chính thức của mình để tích lũy kinh nghiệm và thu hoạch kết quả cũng như truyền bá/sẻ chia sự hiểu biết cùng tri thức ấy với vai trò tương đương một nhà tư vấn dù tại doanh nghiệp/cơ quan/trường học/lực lượng vũ trang, từ đó (d) tạo dựng tên tuổi được đủ số người dân biết đến để họ trở thành “cử tri” riêng khi bản thân đến thời điểm (e) quyết định dứt khoát từ bỏ công việc chính thức của mình để ứng cử vào nghị viện nước mình hầu theo đuổi bước đường “làm chính trị trong môi trường nghị viện”.

Theo 5 chuẩn mực trên, Quốc Hội Việt Nam chỉ có mỗi nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là “nhà làm luật” đúng nghĩa nhất. Kỳ dư, tuyệt đại đa số đại biểu quốc hội Việt Nam không có chất lượng cao do bị trì trệ bỡi 5 điểm đặc biệt chung sau:

(a) Không bất kỳ ai hoặc từ nhỏ hoặc từ lúc bước chân vào đời cho một cuộc sinh nhai đã quan tâm đến việc sẽ “làm chính trị trong môi trường nghị viện” với “làm chính trị” chỉ mang ý nghĩa “chính thức phục vụ quốc gia và quốc dân về mặt lập hiến và lập pháp”; vì không từng quan tâm nên

(b) Không bất kỳ ai đầu tư nhiều nhất trong thời gian dài và liên tục cho tri thức tổng hợp về các hoạt động đa dạng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và nền chính trị xã hội quốc gia trong tương quan với khu vực/thế giới/tổ chức song phương/tổ chức đa phương, trong dó các bộ luật các quốc gia và các bộ quy tắc quốc tế thành văn; chẳng qua vì

(c) Họ tuyệt đại đa số là Đảng Viên nên không bất kỳ ai có quyền tự ra ứng cử nghị viện mà phải tùy vào sự phân công của Đảng trong từng nhiệm kỳ Quốc Hội; và chính vì sự lệ thuộc vào việc “Đảng đặt đâu thì ngồi đó” này mà

(d) Không bất kỳ ai trong số họ tạo dựng được tên tuổi bất kỳ về “làm chính trị” để tạo cho mình có được đủ số người dân biết đến để những người dân này trở thành “cử tri ruột” cả, mà người dân chỉ biết khi đọc giới thiệu đầy hào quang trong danh sách ứng cử viên của mỗi kỳ bầu cử do Ủy Ban Bầu Cử phối hợp với Mặt Trận Tổ Quốc biên soạn;  chưa kể

(e) Không bất kỳ ai phải từ bỏ công việc chính thức của mình trừ phi được Đảng phân công làm Trưởng/Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội địa phương hoặc làm “đại biểu chuyên trách” các ủy ban Quốc Hội trung ương.

Chính vì hệ thống quy trình không chuyên nghiệp như vậy mà các “nhà làm luật” Việt Nam có 4 công việc chính là (i) lắng nghe trình bày các dự án luật do các Bộ có liên quan soạn sẵn, (ii) đọc phát biểu ý kiến tại nghị trường – mà theo bài bản văn bản quy trình của Bộ Tài Chính áp dụng cho Quốc Hội thì bài phát biểu đó là do sử dụng tiền Bộ Tài Chính để thuê “chuyên gia” viết giúp – hoặc tại tổ, (iii) nhấn nút thông qua dự án luật, và (iv) tiếp xúc cử tri để lắng nghe hoặc ý kiến cử tri để chuyển ra Thường Vụ Quốc Hội hoặc những chưởi bới của cử tri do đã có quá nhiều nghị sĩ lắng nghe qua quá nhiều Khóa Quốc Hội mà chả có giải quyết hay hướng dẫn xử lý gì cả.

Và cũng vì rất nhiều năm thiếu đầu tư chất xám cho “làm chính trị nghị viện”, không kinh nghiệm làm việc chuyên môn, chẳng nghiên cứu luật quốc tế có liên quan đến công việc chuyên môn ấy, nên (a) các bộ luật được các “nhà làm luật từ trên trời rơi xuống” này thông qua có tính khả dụng rất ngắn hoặc chưa đến thời hiệu áp dụng đã phải tu chỉnh; còn (b) các nghị sĩ có những người như trẻ thơ như khi nói về một luật quan trọng như Luật Biểu Tình chẳng hạn thì phát biểu oe oe giữa nghị trường rằng “thiên hạ biểu tình rất lịch sự thì Việt Nam cũng biểu tình được như vậy!”; (c) có nghị sĩ Chủ Tịch Công Đoàn Lao Động Việt Nam tự nhiên giựt mình sủa ăng ẳng giữa nghị trường về đại công của những “anh hùng Việt Nam Cộng Hòa” trong cái hoang đường gọi là “Hải Chiến Hoàng Sa”; trong khi (d) nghị sĩ khác thì do không hề đọc luật nên son phấn đậm đà đẫy đà như lạc đà lỡ đà đi lạc chui vào lỗ kim nhỏ xíu xìu xiu vô ngồi chình ình trong lòng Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam dưới thời một tên chủ tịch bất tài vô dụng để làm Phó Chủ Tịch Mặt Trận cho nó rồi cùng chồng và các con của ả lẻn nhập quốc tịch nước khác chờ ngày bôn tẩu; thậm chí (e) có nghị sĩ nắm quyền bính cực cao ở Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ biết vắt óc ngày quên ngủ đêm quên ăn để cuối cùng hý ha hý hửng hí vang trời đất khi tìm ra được phương pháp bịt miệng Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước bằng cách cà õng cà ẹo thị uy quát tháo Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập; ôi thôi đủ thứ bi hài v.v. và v.v. tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh vĩ đại.

Chính toàn là dân làm luật tay mơ nên mới đẻ ra những bộ luật nhũn xèo, tạo điều kiện cho các tay mơ làm chuyện chuyên nghiệp chuyên lừa Đảng, lừa Chính Phủ, lừa dân.

Chính vì có những bộ luật nhũn xèo mà Cơ Quan Điều Tra mới có cơ sở để kiến nghị áp dụng luật nhũn xèo ấy vào các trường hợp đại quan bị bại lộ đang làm trò cười cho thể chế quốc gia, thể thống quốc thể, và thể diện quốc dân trên trường quốc tế.

(Ghi chú: trường quốc tế ở trên không phải là trường quốc tế ở chỗ link này đâu

2- Vấn Nạn Học Đòi Tư Bổn Nửa Vời

Thủa mới xuất hiện cái gọi là điện thoại di động mobile phone (mà nếu áp dụng công thức chế tạo từ mới hiện nay thì phải gọi thứ phone đó là điện thoại ngu đần do chỉ có phone hiện nay mới có tên “điện thoại thông minh”), ngòai đường phố Thành Phố Hồ Chí Minh xuất hiện lắm kẻ quê mùa từ thằng thương nhân mặt mũi Đài Loan hay Singapore đi bộ ngoài đường tay cầm cục gạch tổ bố (mobile phone) để khoe khoang dù quàng cặp da sang trọng toòn teeng trên vai cho đến mấy con nhóc chạy xe máy một tay nắm ghi-đông xe rồ máy một tay cầm cục gạch bố tổ (mobile phone) cũng để khoe khoang dù máng giỏ xách toòn teeng ở ghi-đông. Hoàng Hữu Phước giám đốc FOSCO là bậc trưởng thượng quý tộc sang trọng nên hoặc đút luôn cục gạch tổ bố (mobile phone) vào túi quần hoặc nếu áy náy không muốn gây sự chú ý nơi phụ nữ trước cái sự cồm cộm khiêu khích lộ lồ ấy thì nhét luôn cục gạch vào chiếc cặp da Samsonitechị tôi bên Mỹ – người chị bị đuổi khỏi Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh vì dám mặc áo dài trắng tiểu tư sản đến trình diện “nhà trí thức cách mạng” đại diện Ủy Ban Quân Quản đến tiếp quản Đại Học Sư Phạm ngày 02-5-1975 như đã kể ở bài trước – gởi tặng.

Rồi đất nước lại xuất hiện lần lượt trước sau hai đám quê mùa hiện đại sau 30-4-1975 gồm:

a) Đám quê mùa thứ nhất là đám trong chiến tranh đi học đại học ở các nước xã hội chủ nghĩa, chưa từng ngày nào ăn cơm nắm dưới hầm trú bom cùng với nhân dân, để rồi sau giải phóng chiếm luôn các suất du học tư bổn thấy cái gì của tư bổn cũng tuyệt đẹp hơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa và hơn đất nước điêu tàn ở quê nhà, từ đó mơ màng đến các điều vĩ đại như bãi bỏ án tử hình, bãi bỏ sử dụng nhục hình, bãi bỏ lao động khổ sai, đề cao giáo dục giới tính, đòi hỏi luật hóa đĩ, v.v. và v.v. Tiêu biểu của đám này là bọn dở hơi ở lứa tuổi 50-70 hiện diện trong vị trí lãnh đạo/nguyên lãnh đạo ngay cả tại cơ quan lập pháp và truyền thông chính thống.

b) Đám quê mùa thứ hai là đám sinh ra sau 30-4-1975 có cơ hội kép từ (i) tổng hợp công gồm các siêu dự án ồ ạt “đào tạo nhơn tài” là con đỏ của các tỉnh thành nhớn từ tiền thuế của dân đen và các chính sách của Đảng và Nhà Nước trong tuyệt đối sùng bái bằng cấp từ chương; và từ (ii) tổng hợp tư gồm điều kiện làm giàu thông thoáng, việc du học là chuyện tài chính riêng của cá nhân và gia đình, và các trường đại học trên toàn thế giới tư bổn đồng loạt hạ cấp nghĩa là chấp nhận luôn chuyện du học thạc sĩ không cần giỏi tiếng Anh trước và không cần đã kinh qua quá trình làm việc thực thụ sau cử nhân. Tiêu biểu của đám này là bọn dở hơi ở lứa tuổi như Lê Công Định hay Ngô Di Lân trở về sau này, đứa nào cũng ngợi ca tự do – dân chủ nhơn quyền, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do biểu tình, xã hôi dân sự, mô hình giáo dục đào tạo của tư bổn, và đặc biệt là “làm chính trị để làm loạn” chống chính phủ, v.v. và v.v.

Chính bởi cái gốc của bọn quê mùa này là hoặc mục ruỗng trống phoọc do mối mọt hoặc là rau muống vừa rỗng ruột vừa có rễ chả bám vào đâu cho ra hồn ra vía nên dù có bằng cấp tư bổn, những thứ chúng tiếp thu được lại là thứ nửa vời, thảo nào với số lượng đông lúc nhúc các “nhơn tài” thạc sĩ/tiến sĩ tư bổn như thế mà đất nước Việt Nam này cứ mãi lung tung linh tinh lăn tăn lộn tùng phèo như hiện nay (một bộ phận không nhỏ người dân ăn bã tư bổn vẫn lảm nhảm đòi thay đổi chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa) chứ không thành cường quốc như Nhựt Bổn (toàn dân ăn đồ sống sít nội địa vẫn dứt khoát duy trì chế độ quân chủ thế tập cha truyền con nối đến muôn đời).

Với những thứ chúng tiếp thu được chỉ là thứ nửa vời với bằng cấp nửa vời, chúng ta có thể thấy 5 điểm rõ nét sau nơi chúng:

(a) không bất kỳ đứa nào sử dụng được ngoại ngữ ở cấp độ hàn lâm và ở đầy đủ các dạng hùng biện viết và hùng biện nói để làm gương tham khảo ngưỡng mộ cho triệu triệu người dân Việt đã và đang học tiếng Anh từ 30-4-1975 đến nay gần nửa thế kỷ và xuyên qua hai thế kỷ;

(b) bọn rao giảng về “tính nhân đạo” trong bỏ bớt án tử hình thậm chí bỏ hẳn án tử hình, đã ngu si không biết rằng (i) Châu Âu nhanh tay lẹ chân bãi bỏ án tử hình chỉ vì trong Đệ Nhị Thế Chiến Châu Âu hèn hạ toàn là bọn phản quốc cúng dâng đất nước của chúng cho Adolf Hitler với sự hân hoan ủng hộ của Vatican giết biết bao dân quân du kích cách mạng và bao triệu dân Do Thái nên án tử hình đe dọa tất cả bọn chính khách và đám tăng lữ ấy, và rằng (ii) cái nước Mỹ đã cấp văn bằng cho chúng sẽ vĩnh viễn không bao giờ bỏ án tử hình;

(c) bọn rao giảng về “nhục hình” và bao cái linh tinh khác trong đó có “biểu tình” thì  cái nước Mỹ cấp văn bằng cho chúng vẫn đang dùng nhục hình trong tra tấn (vì cái đạo lý duy nhất và cao nhất là phải tra tấn thật tàn bạo các nghi can để may ra moi được lời khai của chúng chẳng hạn về vị trí chúng đã đặt bom khủng bố có nguy cơ sắp cướp đi sinh mạng nhiều người thậm chí nhiều trăm ngàn người nếu vị trí đặt bom phá hoại là nhà máy điện nguyên tử hoặc thủy điện), và cũng đang cho phép “biểu tình” song hành với quy định phải chấp hành yêu cầu giải tán ngay của nhân viên công lực mà sự bất tuân sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu hoàn toàn hợp pháp là bị đánh đập, bị xử tù giam, hoặc trở thành mục tiêu của các cảnh sát chống bạo động bắn tỉa từ các nóc nhà;

(d) cái nước Mỹ cấp văn bằng cho chúng không bao giờ “luật hóa đĩ”; và

(e) còn biết bao sự thật khác mà mọi người dân không là thành viên bọn quê mùa trên đều biết rõ và đầy đủ.

3- Vấn Nạn “Có Công Với Cách Mạng”

Tổ Quốc Ghi Công là một cụm từ cao vời trên cả đạo lý đạo nghĩa.

Tổ Quốc Ghi Công cao vời trên cả đạo lý đạo nghĩa vì chỉ có Tổ Quốc Ghi Công mới khẳng định đạo lý đạo nghĩa ấy bao gồm hai đại nghĩa của sự hy sinh cái quý trọng nhất của đời người là sinh mạng bản thân cho nước cho dân hiện nay, và sự hy sinh cái quý trọng nhất của đời người là sinh mạng bản thân cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc mai sau.

Bản thân của cụm từ Tổ Quốc Ghi Công là đạo lý đạo nghĩa.

Bản thân của cụm từ đạo lý đạo nghĩa là phải bao hàm việc thực hiện Tổ Quốc Ghi Công đối với những công dân đã hy sinh sinh mạng bản thân cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc ngày nay và mai sau.

Có công bắt buộc phải được thưởng. Có tội bắt buộc phải bị trừng. Đây là nguyên tắc bất biến bất di bất dịch không những của phạm trù đạo lý đạo nghĩa mà còn của tất cả các tôn giáo.

Đối với những anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân, cái đạo lý đạo nghĩa của đất nước và người dân phải và luôn là

(a) đời đời vinh danh;

(b) đời đời không dứt khói hương tưởng niệm;

(c) đối với những liệt sĩ vô danh những liệt sĩ có danh tính nhưng không còn thân nhân, chế độ chính trị phải vì nước vì dân vì sự cường thịnh của quốc gia và vì danh dự của dân tộc để xứng đáng với anh linh của những liệt sĩ này;

(d) đối với những liệt sĩ có danh tính còn thân nhân, chế độ chính trị phải có đầy đủ các cơ chế chính sách để thay mặt các liệt sĩ này chăm sóc cha mẹ ông bà của họ về đời sống và y tế, dành sự ưu tiên hợp lý về học tập/đời sống/y tế/việc làm cho vợ/chồng/con của các liệt sĩ.

Ưu tiên hợp lý là trên 4 nguyên tắc:

(a) Thân nhân thuộc diện có khó khăn thực sự về kinh tế/đời sống. Không thể chấp nhận việc “cào bằng” cung cấp chế độ như nhau cho thân nhân nghèo khổ của liệt sĩ này và thân nhân giàu sang của liệt sĩ khác.

(b) Nhu cầu học tập của thân nhân phải dựa trên cơ sở năng lực học tập của thân nhân đó. Không thể chấp nhận việc cung cấp cơ hội “đào tạo nhân tài” cho thân nhân liệt sĩ bất kể thân nhân ấy có năng lực học tập hạn chế.

(c) Nhu cầu làm việc của thân nhân phải dựa trên cơ sở năng lực làm việc, kinh nghiệm làm việc của thân nhân đó với điều kiện có nhu cầu tuyển dụng trên thực tế, đáp ứng yêu cầu thực tế của nơi tuyển dụng. Không thể chấp nhận việc cung cấp cơ hội làm việc cho thân nhân liệt sĩ bất kể thân nhân ấy không có năng lực làm việc, không có kinh nghiệm làm việc, không theo quy trình xét tuyển của đơn vị tuyển dụng, đã vậy còn đưa vào vị trí quản lý.

(d) Phải chấm dứt sử dụng cụm từ “có công với cách mạng” vì đã và đang có sự nhập nhằng đánh lận con đen giữa “gia đình liệt sĩ” với “gia đình có công với cách mạng”, vì rằng cả đất nước và dân tộc chỉ có đạo lý đạo nghĩa phải gìn đối với liệt sĩ (vô danh, có danh không thân nhân, và có danh còn thân nhân) mà thôi. Còn đối với “gia đình có công với cách mạng”, bản thân cụm từ không mặc nhiên mang nội hàm có sự hy sinh tính mạng để trở thành liệt sĩ, bản thân cụm từ mang nghĩa rất rộng bao gồm  cả “công” nuôi giấu cán bộ/“công” cất giấu vũ khí/“công” cung cấp tài chính trong hoạt động kinh tài/“công” hoạt động nội tuyến/nội gián/“công” ám sát quan chức Mỹ/Việt Nam Cộng Hòa, v.v. Như vậy, trên nguyên tắc “Có công bắt buộc phải được thưởng” thì những người “có công với cách mạng” tức “có công với Đảng” thì Đảng có quyền tưởng thưởng bằng các ưu ái đặc quyền/chức cao/quyền trọng như liên tục từ 30-4-1975 cho đến tận ngày nay. Song, Đảng không có quyền buộc nhân dân phải tự động hiểu “có công với cách mạng” đồng nghĩa với “tổ quốc ghi công”, nhất là khi cái “có công với cách mạng” đó lại mặc định được kéo dài miên viễn, được kế tập truyền lưu, được trở thành “miễn tử kim bài” tức giấy phép tham nhũng/ăn hối lộ/nhận lại quả/phá tanh banh cơ nghiệp cơ quan, trong khi gia đình liệt sĩ có danh có thân nhân thì nhiều người sống trong cảnh nghèo với trợ cấp ít oi, gia đình liệt sĩ vô danh có thân nhân sống trong cảnh nghèo không trợ cấp vì không xác định được danh tính liệt sĩ, và hương hồn các liệt sĩ vô danh không còn thân nhân phải chứng kiến cảnh gia đình “có công với cách mạng” hưởng các ưu đãi ưu ái ưu tiên thậm chí có quyền làm nghèo đi đất nước và làm nhục cái chế độ mà họ đã cùng bao liệt sĩ vô danh khác hy sinh mạng sống để giữ gìn phụng sự.

Chưa kể, Đảng và Nhà Nước đã tập trung cho duy chỉ một vế của đạo lý đạo nghĩa: Có Công Bắt Buộc Phải Được Tưởng Thưởng Hậu Hỉ Không Được Chậm Trể; còn vế còn lại của Có Tội Bắt Buộc Phải Bị Trừng Trị Nghiêm Khắc Không Được Dung Thứ thì Đảng đã cho phép biến dạng biến hình biến thái thành “có nhân thân tốt, thuộc gia đình có công với cách mạng, có nhiều đóng góp cho cách mạng, và có làm công quả cúng kiến tài trơ cho tôn giáo chính và duy nhất của Đảng (Đạo Phật)” để xử phạt nhẹ hơn – nếu đại sự làm nghèo đất nước của chúng bị bại lộ.

Do vậy, ngay từ đầu thì cụm từ “có công với cách mạng” đã được khôn khéo đề ra nhằm vinh danh gia đình những cán bộ đảng viên không có thân nhân nào làm anh hùng liệt sĩ để những gia đình này được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, mà đương nhiên đa số các cán bộ đảng viên ấy không có thân nhân nào là anh hùng liệt sĩ.

Về phương diện tu từ, “có công với cách mạng” được tự động đứng chung đối vần thi phú với “có tội với nhân dân” như kiểu phát biểu của cán bộ đảng viên Cộng sản Việt Nam Lê Văn Toan khi nói chuyện với công dân Hoàng Hữu Phước. Tuy nhiên, bản thân “có công với cách mạng” không đồng nghĩa với “có công với đất nước” vì chỉ có “đất nước” mới được đi đôi với “nhân dân”.  Và như vậy, “có tội với nhân dân” dứt khoát phải bị trừng trị, còn “có công với đất nước” dứt khoát phải được tôn thờ tôn vinh tôn trọng. Suy ra, “có công với cách mạng” không thuộc phạm trù “dứt khoát phải được tôn thờ tôn vinh tôn trọng” bởi quốc gia dân tộc đến độ quyền lợi thì thượng đẳng, mang yếu tố kế tập, còn sự tận dụng lạm dụng sử dụng danh xưng “có công với cách mạng” lại chỉ nhằm cứu nguy giải cứu cho những trường hợp hèn hạ tởm lợm luôn bị loài người ở thế giới văn minh miệt thị rẻ khinh trừng trị: tham nhũng (bao gồm hối lộ/nhận hối lộ/lại quả/móc ngoặc/tham nhũng trinh tiết) và phản quốc.

Có công với cách mạng”, do đó, nhất thiết phải (i) được định nghĩa rõ bằng luật pháp và trong pháp luật; (ii) không được giới hạn ở chủng loại vì thời bình vẫn rất cần có những công dân “có công với đất nước” dù không phải đảng viên và dù việc “có công” thuộc các phạm trù đa dạng như bảo vệ chính nghĩa quốc gia, bảo vệ an ninh trật tự quốc gia, bảo vệ danh thắng, bảo vệ tài sản quốc gia, bảo vệ người yếu thế, tố cáo tham nhũng, tố giác tội phạm, ngăn chặn thảm họa, nêu gương sáng đạo đức gia phong thiên Khổng.

Không phân định rạch ròi về ngữ nghĩa tu từ cũng như không giới hạn ngữ nghĩa của “có công với cách mạng” và “có công với đất nước”, sẽ mãi mãi không chặn ngăn được tham nhũng (đồng nghĩa với hối lộ/nhận hối lô/lại quả/ăn lại quả/tham nhũng trinh tiết) vì sự việc tầy huầy tham nhũng không thể được xem là “có công với đất nước” nên chỉ có thể núp dưới ô dù tàn che phủ rộng của “có công với cách mạng” như một nhắc khéo rằng “đó cùng là đảng viên cộng sản cả thôi mà”.

4- Vấn Nạn “Khắc Phục Hậu Quả”

Trong một bức thư gởi Quốc Hội và Đảng (có đăng trên blog này), tôi có nêu ý kiến rằng để triệt tiêu tham nhũng, chỉ có thể bằng cách áp dụng sự cứng rắn theo đó một người tham nhũng 100 tỷ nếu bị bại lộ phải nộp lại đủ 100 tỷ, phải đóng phạt 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ, phải đóng thêm 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ để làm tiền thưởng cho người/những người tố giác tham nhũng, và đóng thêm 100% số tiền tham nhũng tức 100 tỷ để tưởng thưởng cho  Cơ Quan Điều Tra. Vị chi: tham nhũng 100 tỷ, phải nộp cho Nhà Nước 400 tỷ và chịu đủ án tù giam theo luật định. Nếu tài sản đứng tên bị đơn không đủ 400 tỷ thì tịch thu tài sản của vợ và các con của bị đơn phát mãi thu về cho đủ 400 tỷ.

Bản thân luật pháp là giáo dục.

Chỉ có quốc gia nhược tiểu có quyền lực nhũn xèo mới tách bạch luật pháp và giáo dục thành hai phạm trù riêng biệt để cứ mãi “tuyên truyền giáo dục nhân dân về luật pháp”.

Hình luật kinh kiếp kinh khủng kinh hoàng của Hoa Kỳ luôn được công dân Mỹ gốc Việt có đầu óc khỏe mạnh và chưa lâm vào cảnh tuyệt lộ cùng đường tuyệt đối tuân thủ. (Xin đón đọc bài viết tiếp theo của Hoàng Hữu Phước chứng minh đám nhà quê du học Mỹ về đã có bằng cấp diễu hề ra sao và tình trạng tâm thần khủng hoảng ra sao khi để tâm trí chúng bị tẩu hỏa nhập ma do vỡ mộng thiên đàng trước luật pháp dữ-dằn-hơn-cộng-sản đến độ khi kẹp nách tấm văn bằng trở về Việt Nam thì quá uất ức hóa rồ thi nhau chống chế độ, chống chính phủ, chống Hoàng Hữu Phước, chỉ vì chế độ tốt hơn Mỹ, chính phủ nhơn đạo hơn Mẽo, còn Hoàng Hữu Phước thì được các bố Huê Kỳ của chúng thường xuyên đàm đạo chính trị chứ chả ma Mỹ nào thèm nói chuyện với chúng do chả thằng nào con nào nách kẹp văn bằng Thạc Sĩ/Tiến Sĩ Mỹ mà nói được tiếng Anh hùng biện hàn lâm.)

5- Vấn Nạn Hình Thức Phi Thực Tế

Thời gian qua có nhiều lãnh đạo Đảng tại các Bộ, các tổng công ty, các chính quyền địa phương, các quân binh chủng, vương vòng lao lý, bị xử lý kỷ luật, v.v. Thế nhưng, có một hình thứ kỹ luật rất tức cười của Đảng là “cách tất cả các chức vụ trong Đảng và trong chính quyền tron thời kỳ ABC và XYZ từ năm nào đến năm nào”.

Một Bộ Trưởng Bộ Tài Cán nếu bị xử lý như vậy cũng đâu có sao, vì nếu ông ta có tài cán (chẳng hạn có bằng tiến sĩ kinh tế Mỹ mà!) thì khi một ngân hàng Mỹ mời ông ta làm cố vấn cho chi nhánh ở Việt Nam thì ông ta vẫn có quyền khai trong CV tức “lý lịch khoa học hàn lâm” của ông ta rằng từ năm ABC ông ta đã làm bộ trưởng Bộ Tài Cán và rằng từ năm XYZ ông ta làm bộ trưởng Bộ Còn Nguyên của Việt Nam cũng có sao đâu, vì ngay cả “dân đen” Hoàng Hữu Phước mà các công ty Mỹ còn không bao giờ yêu cầu đi chứng nhận lý lịch/không bao giờ yêu cầu kèm giấy giới thiệu của bất kỳ cơ quan nào của Nhà Nước Việt Nam/không bao giờ yêu cầu nộp bản sao văn bằng mà chỉ hý ha hý hửng xin Hoàng Hữu Phước ký tên ngay vào hợp đồng lao lung, huống hồ là “quan đỏ”. Nói tóm lại, Đảng và truyền thông đại chúng không biết Hoàng Hữu Phước đã là ai, chứ các đại gia Mỹ biết các lãnh đạo Đảng tại các Bộ, các tổng công ty, các chính quyền địa phương, các quân binh chủng, vương vòng lao lý, bị xử lý kỷ luật, v.v., là những ai nên việc cách tất cả các chức vụ ở các thời kỳ trong quá khứ chỉ cho thấy vấn nạn phi thực tế của thứ kỹ luật mà bọn tham nhũng chẳng sợ gì sất. Cái mà chúng sợ là bị tịch thu tài sản và bị tử hình. Chúng tiếp tục thành bầy sâu vì chúng biết “khắc phục hậu quả kiểu Việt” sẽ triệt tiêu nỗi khiếp sợ “tịch thu tài sản”; còn “gia đình có công với cách mạng” (đảng viên nào chả vậy), “nhân thân tốt” (đảng viên nào chả vậy), “có nhiều đóng góp cho ngành” (nên mới được Đảng Bề Trên cất nhắc cho vào ngự trong lu gạo nếp Nhựt tha hồ ăn no nê và để lại đống phân trong đấy), và “có đóng góp thiện nguyện” (lập đại công chứng minh cộng sản Việt Nam chăm chỉ cúng dường Tam Bảo chứ không phải vô thần).

6- Vấn Nạn Bó Tay

Những vấn đề nêu trên tạo ra vấn nạn thứ sáu này, và đây là quan hệ Nhân Quả Dây Chuyền.

C) 7 Lời Phán Của Hoàng Hữu Phước

Vấn nạn “bó tay” nêu trên rất ngắn gọn vì bó tay là bó tay, còn viết lách giải bày biện luận thêm thế nào nữa được.

Song, do Hoàng Hữu Phước muốn trở thành người “có công với đất nước” trên cơ sở “không có tội với nhân dân” nên cố ra sức cho ra 7 nhận định sau, với hy vọng mong manh rằng có khi do lòng thành thấu đến Trời cao nên ngay cả khi Chùa Ba Vàng không được nhờ cúng giải oan gia trái chủ cho đất nước Việt Nam thì vẫn có khả năng bài này được một đấng nhơn tài ăn học đàng hoàng từ Mỹ về đọc rồi Eureka một tiếng mà tồng ngồng chạy bay đến gặp các lãnh đạo Việt Nam vấn kế định quốc an bang khiến thiên hạ thới bình muôn dân an lạc chỉ cần búng tay một cái là thu hồi Hoàng Sa Hải Đảo chăng.

1- Phản Cách Mạng

Tham nhũng (theo văn hóa văn minh Âu Mỹ thì bao gồm hối lộ/nhận hối lộ/đưa lại quả/ăn lại quả/móc ngoặc/biển thủ/tham nhũng trinh tiết) là hành vi/hành động nhơ bẩn, đê tiện của bọn thất học và mất dạy. Tham nhũng tồn tại cùng với quyền lực con người từ thủa khai thiên lập địa. Cách mạng là đổi mới dứt khoát. Tham nhũng, do đó, là phản cách mạng. Cách mạng không bao giờ bảo vệ tham nhũng. Chỉ có bọn thất học và mất dạy chui vào hàng ngũ những nhà cách mạng mới bảo vệ bọn phản cách mạng. Chỉ có bọn tham nhũng mới bảo vệ bọn tham nhũng.

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, chính là phản cách mạng.

2- Bao Che Cùng Phe

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, chính là phản cách mạng, chống cách mạng, vì bản thân những kẻ mở miệng biện minh cảm thông với bọn tham nhũng là cùng một giuộc với bọn tham nhũng.

3- Bất Công Xã Hội

Bảo vệ bọn tham nhũng, không trừng trị triệt tiêu bọn tham nhũng, biện minh cảm thông cho bọn tham nhũng, chính là hành vi tạo nên bất công xã hội (a) giữa người dân gia giáo thiên Khổng tạo nên ngân khố quốc gia mà không được hưởng gì với bọn chà đạp đạo lý đạo nghĩa xé nát tài sản quốc gia sống xa hoa xa xỉ; (b) giữa những anh hùng liệt si và gia đình của họ không thể được họ phụng dưỡng, với những kẻ ăn theo gia đình “có công với cách mạng” của họ để đẩy bao va-li chất cứng tiền mặt lấy từ tiền thuế của dân về cho cha mẹ của chúng mua sắm địa ốc biệt phủ xa hoa và con cháu mở siêu doanh nghiệp tự hào đẩy Tổng Thống Mỹ Donald Trump xuống chiếu dưới về tổng tài sản đô-la Mỹ; và (c) giữa những công dân gia giáo thiên Khổng giáo dục con cái thành những công dân đoan chính tài năng, với những kẻ ăn theo gia đình “có công với cách mạng” để không cần tư cách đoan chính và tài năng vẫn chiếm giữ vị trí lãnh đạo để rồi đàn áp ganh tỵ tài năng vói những công dân đoan chính tài năng con cái của những công dân duy trì nền nếp gia giáo thiên Khổng để làm chỗ dựa của Đảng.

Bất công xã hội có thể bị xóa bỏ mà không cần thay đổi các đặc quyền mà Đảng trả ơn cho những người có công với Đảng, chỉ cần thực hiện hai điều rằng (i) công-tội phải phân minh, cái gì phải ra cái đó, “công với Đảng” luôn không là gì cả so với “tội với dân”, nên không thể mãi lấy cái hào quang “công với Đảng” để ngụy biện du di cho sự phạm trọng tội với dân cứ như thể Đảng đáng quý trọng hơn dân; và do đó (ii) phần ban thưởng về quyền lợi và quyền lực đã cho ra để đền ơn “công với Đảng” thì không có gì bất công hay chưa đủ để mà tiếp tục bắt nhân dân tiếp tục đền ơn những người “có công với Đảng” bằng cách nai lưng gánh chịu thêm tất cả các hậu quả của sự suy đồi đạo đức của cán bộ lãnh đạo “có công với Đảng” cùng các hệ quả đời sống tiện nghi xã hội bị suy sụp suy vi từ hậu quả của sự phá hoại của các cán bộ lãnh đạo “có công với Đảng” ấy.

4- Phản Giáo Dục

Toàn bộ những nỗ lực giáo dục tuyên truyền của Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam đều đổ sông đổ biển do những vấn nạn như nêu ra trong toàn bộ bài viết này, biến tạo nên tư duy rằng những bài giảng về đạo đức cách mạng là những lời gian trá, vô hiệu, tự tạo hào quang, từ đó hình thành sự phản kháng xã hội hoặc bùng phát, hoặc ngấm ngầm, hoặc biến thành phản ứng cam chịu thụ động và phó mặc, mất lòng tin, biến những khoản đầu tư khổng lồ của Nhà Nước vào giáo dục tuyên truyền trở nên vô hiệu, thành một thứ phản giáo dục, vì càng tuyên truyền giáo dục càng tạo nên sự suy giảm về nhận thức, suy thoái về đạo đức cách mạng, suy tàn về lý tưởng cộng sản, và suy sụp nền nếp gia phong từ ngay chính phạm vi tế bào của xã hội.

5- Phản Đảng

Tất nhiên, học trò của Hồ Chí Minh không thể là những đại quan của Đảng đang lũ lượt ào ạt chúc chen trước vành móng ngựa chốn pháp đình đan tâm phá tan ba cột trụ đạo đức gồm cột trụ đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, cột trụ đạo đức truyền thống ái quốc của dân tộc và cột trụ đạo đức gia phong thiên Khổng của xã hội. Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc đã đặt để những kẻ phản Hồ Chí Minh, phản truyền thống ái quốc, và phản truyền thống gia giáo vào những vị trí chễm chệ ngôi cao tham chính và trị quốc. Không chỉ những kẻ phản phúc đó phản Đảng mà sự yếu kém cẩu thả vô trách nhiệm và ngu xuẩn trong đề bạt cán bộ sai và giám sát sai cán bộ cùng quản lý sai cán bộ của Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị cũng là hành vi phản Đảng.

Cách duy nhất để Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị chuộc tội trước nhân dân là ra lệnh khẩn cấp cho các cơ quan Đảng chấm dứt tất cả các hành vi như vừa diễn ra: phân bua chống chế viện dẫn về “nhân thân”, “có công với cách mạng”, “có khắc phục hậu quả”, “có đau yếu bịnh tật”, “có đóng góp kinh phí cho nạn nhân chất độc da cam”, “có đóng góp cho chùa”, v.v. và v.v., khi ra sức làm nhẹ tội danh của bọn tham nhũng đê hèn bẩn thỉu thối tha phản Đảng.

Công dân Lại Thu Trúc, người đóng góp ý kiến nhiều nhất trong toàn bộ dân chúng Việt Nam cho Đảng, từng nêu lên trong một bức thư gởi Đảng phàn nàn rằng đảng viên cao cấp Nguyễn Thị Quyết Tâm muốn “kiểm tra sức khỏe” các ứng viên nghị sĩ ngoài Đảng. Vậy Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị là chủ soái của Nguyễn Thị Quyết Tâm thì tại sao lại để những đảng viên đau yếu bịnh tật làm Bộ Trưởng làm gì để khi bại lộ tham nhũng thì chúng lập tức lôi nội dung bịnh tật ra làm yếu tố giảm nhẹ tội danh? Thế những công dân trẻ bất chấp bịnh tật đã xung phong ra mặt trận vệ quốc và cứu quốc để rồi trở thành những Chiến Sĩ Vô Danh không để lại ngay cả một lóng xương cho mẹ cha đến ngày nay vẫn còn khắc khoải trông chờ tin lành về mộ phần của con để thực hiện hy vọng cuối đời tàn tạ già nua là dựng được cho con một mộ chí xi măng đơn giản với bát hương ấm lòng hương linh bấy lâu lưu lạc, liệu có được ưu ái như bọn đại quan bịnh tật phạm trọng tội với dân không?

6- Phản Động

Tất nhiên, phản Đảng tức là phản-động-nội-bộ. Thật không bao giờ tổ tiên Việt Nam có thể thứ tha cho đại tội đại ngu khi bảo vệ bọn phá hoại từ bên trong.

7- Phản Quốc

Một khi việc phá hoại từ bên trong xảy ra mà không bị trừng trị tiêu diệt, cả chế độ bị diệt vong, làm tiền đề cho sự dẫn đến hậu quả chiến tranh lan tràn, mà cái kết sẽ tất nhiên là đất nước hoặc mất cả về tay Trung Quốc hoặc bị phân chia làm bốn miền với Miền Bắc bị Trung Quốc giết sạch người Việt rồi chiếm đóng sáp nhập vào các tỉnh cực Nam Tàu, Miền Bắc Trung Phần Cộng Sản lấy Vinh làm Thủ Phủ, Miền Nam Trung Phần Cộng Hòa lấy Cam Ranh làm Thủ Phủ, và Miền Nam bị Cambodia chặt đầu toàn bộ người Việt để chiếm đoạt làm Khu Tự Trị với Thành phố Hồ Chí Minh đổi tên thành Saigonville.

Bọn phản đảng/phản động/phản quốc đang được Đảng ra sức bảo vệ. Đó là chuyện quái lạ không bút mực nào tả xiết.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-Sư Anh Văn, Nhà Tư-vấn Sách-lược Quốc Trị, “Nhà Làm Luật” Khóa XIII, Nhà Tư-tưởng Cộng-sản Dân-tộc Thiên Khổng, Nhà Ái Quốc (do người dân phong tặng)

A) Ghi chú:

Trường Nguyễn Bá Tòng: trường trung học tư thục lớn nhất Sài Gòn của Công Giáo ở số 73-75 Bùi Chu, Quận 1, Sài Gòn, dạy từ lớp 6 (lớp Đệ Thất) đến lớp 12 (lớp Đệ Nhất), có hai học khu gồm học khu nữ bên cánh trái và học khu nam bên cánh phải, và ở cấp Tú Tài (tức lớp 11 và 12) có đủ các chuyên ban A (sinh hóa), ban B (toán lý), và ban C (văn chương & ngoại ngữ). Đến năm 1971, trường chuyển thành nữ trung học, còn nam sinh được dời lên cơ sở mới là trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định. Hoàng Hữu Phước chuyển lên Nguyễn Bá Tòng Gia Định ở số 4 Hoàng Hoa Thám Gia Định học tiếp lớp 8, 9, và 10. Do nam sinh đa số bỏ trường do không chấp nhận đi xa, cơ sở vật chất của Nguyễn Bá Tòng Gia Định trở nên quá rộng, khiến nhà trường chia thành ba học khu gồm học khu nam, học khu nữ, và học khu tiểu học. Chuyện tình Hoàng Hữu Phước và Đinh Thị Mai Trâm kể trên blog này là trong khung cảnh Nguyễn Bá Tòng Gia Định. Hiện nay, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn là trường Bùi Thị Xuân ở số 73-75 Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh, còn trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định là trường Hoàng Hoa Thám ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Giáo Sư Trung Học: tại Việt Nam Cộng Hòa, các từ ngữ sau được tự động sử dụng (tức là không dựa vào bằng cấp, và càng không do “Nhà Nước” phong tặng hoặc phong cho hoặc phong ban): Giáo viên (dạy tiểu học), Giáo sư (dạy trung học), và Giảng sư (dạy đại học). Các học trò của Hoàng Hữu Phước trước 1975 sau này về thăm Việt Nam quen gọi Hoàng Hữu Phước là “giảng ” rồi tự hoán chuyển sang tiếng Anh thành “professor” là do ý nghĩa cực kỳ bình thường bình dân bình dị như vậy, chứ không ngờ ở Việt Nam có ý nghĩa đầy khủng hoảng khủng khiếp đến độ chỉ  có đảng viên dạy học được Nhà Nước ban cho mới được gọi là “giáo sư”. Vì vậy, các “giáo sư” Anh Văn của trung học Nguyễn Bá Tòng rất giỏi đồng thời Anh Văn, Pháp Văn, và Hán Việt, còn các “giáo sư” Sử của trung học Nguyễn Bá Tòng rất giỏi chữ Hán và chữ Nôm để làm dịch giả cho các áng sử nước nhà và tài liệu Á Đông (như thầy Nguyễn Quang Tô đoạt giải thưởng Phủ Tổng Thống cho công trình dịch thuật quyển Việt Nam Vong Quốc Sử của Phan Bội Châu, v.v.). Trong khi đó, các “giáo sư tiến sĩ” ở tất cả các đại học của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều dốt nát ngoại ngữ và không biết gì khác hơn tên phân môn ghi trong bằng cấp do không có nhu cầu nghiên cứu gì sất, mà bằng chứng là (a) chẳng thấy ai dám viết lách ngoại ngữ công khai như Hoàng Hữu Phước; và (b) chỉ thấy toàn thứ hoặc điên loạn bầy đàn ký tên kiến nghị loạn xạ, hoặc có thằng tửng tửng mặc tà-lỏn đi dạy đại học về “sáng tạo”. hoặc có đứa khùng khùng đề nghị thay đổi cách viết chữ quốc ngữ, hoặc có tên mơ màng đòi phong anh hùng những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu sát hại ở cái gọi là “Hải Chiến Hoàng Sa”, hoặc có nhúm lú lẫn bảo phải thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam, hoặc có bọn đần độn mất dạy không hiểu thế nào là “biểu tình dân chủ” nên hùa nhau trả lời phỏng vấn tấn công Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về “dự án Luật Biểu Tình”, v.v. và v.v.

B)Tham khảo các nội dung liên kết trong bài viết này theo thứ tự alphabet:

Bầy Đoàn Ký Tên Kiến Nghị: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam  20-8-2013

Bầy Sâu: Trương Tấn Sang và Vương Đình Huệ  02-12-2018

Cán Bộ Đảng Viên Cộng Sản Việt Nam Lê Văn Toan: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 26-12-2015

Chị Tôi Bên Mỹ: Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn  30-5-2016

Chủ Tịch Bất Tài: Nguyễn Thiện Nhân 10-6-2016

Chùa Ba Vàng Cúng Giải Oan Gia Trái Chủ: Cô Gái Giao Gà 25-3-2019

Chuyện Tình Hoàng Hữu Phước và Đinh Thị Mai Trâm: Hoàng Hữu Phước và Những Phụ Nữ Đẹp – Bài 3  21-01-2018

CV (Lý Lịch Khoa Học Hàn Lâm): Cách Thức Hai Công Ty Nước Ngoài Mời Tuyển Hoàng Hữu Phước  21-3-2019

Công Dân Lại Thu Trúc: Lại Thu Trúc 22-12-2015

Dân Chủ: Phải Có Luật Biểu Tình. 18-8-2016

Dự Án Luật Biểu Tình:  Luật Biểu Tình  26-5-2014

Đa Số Nghị Sĩ Không Có Chất Lượng Cao: Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam 18-01-2017

Đào Tạo Nhơn Tài: Hiền Tài  22-5-2019

Giáo Sư Trung Học/Giảng Sư Đại Học: Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam  10-01-2016

Hải Chiến Hoàng Sa: Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Hoàng Sa Hải Đảo: Hoàng Sa (Tàu-Mỹ-Ta). 30-3-2016

Kiểm Tra Sức Khỏe Các Ứng Viên Nghị Viện: Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm  05-3-2016

Ký Ngay Vào Hợp Đồng “Lao Lung”: Cách Thức Hai Công Ty Nước Ngoài Mời Tuyển Hoàng Hữu Phước  21-3-2019

Làm Chính Trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017,   Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Lê Công Định: bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Báo Nhân Dân ngày 06-9-2012 trên trang 8, và online tại http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Luật Hóa Đĩ: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Luật Nhân Quả Lãng Xẹt: Nhân Quả Nhà Phật  26-8-2019

Luật Pháp Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Mặc Áo Dài Trắng Tiểu Tư Sản: Bánh Trung Thu  02-9-2019

Nắm Quyền Bính Cực Cao: Nguyễn Thị Quyết Tâm  22-01-2016

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước: Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV 29-8-2019

Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập: Nghị Sĩ Huỳnh Thành Lập  25-8-2019

Ngô Di Lân: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân  07-3-2014

Nguyễn Quang Tô: Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô  22-02-2015

Nhà Ái Quốc: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Nhân Quả Dây Chuyền: Nhân Quả Nhà Phật  26-8-2019

Tham Nhũng: Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

Tham Nhũng Trinh Tiết: Tham Nhũng Trinh Tiết  23-4-2018

Thạc Sĩ/Tiến Sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

Thay Đổi Chữ Quốc Ngữ: Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt – Bài 2  29-12-2017   và Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt  28-12-2017

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Việt Nam: Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam  02-02-2016

Thấu Thị: Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

Thủy Điện: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Tổng Thống Mỹ Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Tự Do Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.  02-4-2015

Tự Do Dân Chủ: Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Tự Do Ngôn Luận: Điều Luật 258. 02-4-2016 , Đại Sứ Mỹ Ted Osius. 15-6-2016

Tửng Tửng Mặc Tà Lỏn Đi Dạy: Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Trung Quốc: Sát Tàu  07-7-2014

Trường Bùi Thị Xuân: Trường Bùi Thị Xuân

Trường Hoàng Hoa Thám: Trường Hoàng Hoa Thám

Trường Quốc Tế Ở Chỗ Link Này: Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi  11-8-2019

Vinh Danh Bản Thân/Gia Đình/Dòng họ: Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần  18-12-2017

Yếu Kém Của Các “Nhà Làm Luật”: 9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam  03-7-2016

C) Các diễn đàn thông tin vẫn đang sinh hoạt:

Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh)

Twitter: @RealHoangHPhuoc  (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh)

LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc  (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh)

WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com  (tham gia từ 2013 chủ yếu bằng tiếng Việt, sau khi blog tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước hoạt động từ 2006 tại Emotino.com và Blog.com bị bọn chống Cộng đánh sập 2012)

Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt)

Ý Lớn Gặp Nhau: Hoàng Hữu Phước, Gina Rinehart, Thái Hương, và Nguyễn Phú Trọng

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

30-8-2019

Những nhân vật hội đủ ba điều kiện gồm thông tuệ, thành công tự thân, và hùng biện tư duy chính trị sâu sắc, đều có chung các quan điểm. Các dẫn chứng sau sẽ cho thấy dù Hoàng Hữu Phước là người đã đưa ra các nhận định từ lâu trước đó và dù không ai trong ba nhân vật sau đây từng chịu ảnh hưởng bởi các nhận định của Hoàng Hữu Phước thì họ rồi vẫn sẽ có chung ý nghĩ với Hoàng Hữu Phước, đơn giản vì tất cả những bậc có ba điều kiện trên đều đi chung trên một con đường chỉ dành riêng cho họ.

Dưới đây là bài đăng trên mạng doanh nhân Emotino lúc 23g07 ngày 05-9-2012 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19678/y-lon-gap-nhau-ty-phu-true-milk-day-nguoi. Emotino đã đóng cửa. Bài viết do Cô Lại Thu Trúc chép lại lưu giữ trong tàng thư cá nhân. Cảm ơn Cô đã lục tìm, truy xuất, và cung cấp bản sao.)

Ý Lớn Gặp Nhau: Tỷ Phú – True Milk – Dạy Người

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII

05-9-2012

Tôi và Tỷ Phú Gina Rinehart

Gina Rinehart, nữ doanh nhân Úc thừa kế vương quốc khai khoáng trị giá 19 tỷ USD được cho là người phụ nữ giàu nhất hành tinh hiện nay, vừa tuyên bố rằng người ta đừng nên ngồi đó mà trách phận than thân, mà hãy trở thành nhà triệu phú bằng cách dành thời gian ít hơn cho việc nhậu nhẹt hay hút xách, dành thời gian ít hơn cho việc đàn đúm trên mấy cái mạng xã hội, và dành thời gian nhiều hơn để làm việc (spend less time drinking or smoking and socializing, and more time working).

Tôi đã thường xuyên miệt thị mấy cái mạng xã hội, thậm chí còn khẳng định ngày tàn của chúng. Sự phát triển của công nghệ thông tin là (a) giúp con người học được nhiều hơn, nhanh hơn, dễ dàng hơn; (b) duy trì các mối quan hệ tình thân với gia đình nhiều hơn, nhanh hơn, rẻ hơn; (c) kiếm tìm những giềng mối cũ mà các cuộc chiến tranh đã gây đứt đoạn, mất khúc; và (d) giao lưu kiến thức cũng như những nghiên cứu khoa học nhân văn bản thân đã tiến hành với những công trình tương tự của những nhà nghiên cứu khác ở các nước khác. Thế nhưng, Facebook và những thứ tương cận trong tuyệt đại đa số các trường hợp biến thành môi trường vớ vẩn cho những kẻ luôn kiếm tìm “kết bạn” bốn phương chứ không hề đoái hoài tới ông bà, cha mẹ, anh chị em, thân tộc, hiện có, khiến có kẻ khoe mình đã kết bạn được với vài chục ngàn bạn hữu, gia nhập vài trăm câu lạc bộ, và với duy chỉ 24 tiếng đồng hồ của một vòng quay trái đất sẽ không sao kịp gởi lời thăm hỏi ân cần đến các bạn hữu ấy, nói chi đến ăn uống, học tập, hoạt động, nghỉ ngơi; trầm trọng hơn khi các mạng xã hội ấy lại là nơi mà những tên thảo khấu Lương Sơn Bạc thời hiện đại cho rằng có thể đàn đúm với nhau để bôi bẩn chế độ này, lật đổ chế độ kia, ăn bậy, nói bạ, suy đồi, suy vi, suy nhược, suy tàn, từ nhân cách đến tinh thần.

Tôi nhìn thấy nơi các mạng xã hội những đống rác bẩn chôn vùi tinh thần, thời gian, sức khỏe, bạc tiền của con người, trong đó giới trẻ chiếm đa số. Nữ tỷ phú Gina Rinehart có lẽ cũng thấy việc ngốn thời gian cho đàn đúm với mấy mạng xã hội là việc phí phạm sức khỏe, thời gian, khiến người ta không thể ngoi lên được kiếp giàu sang. Ý Lớn Gặp Nhau.

Nhiều người hỏi tôi cách để thành công. Tôi đã từng trả lời qua vài bài viết trước đây rằng bạn đừng hỏi ai cả vì các tỷ phú Việt Nam không bao giờ cho bạn biết phương pháp đã giúp họ thành tỷ phú; rằng bạn đừng hỏi ai cả vì mỗi người nghĩ khác nhau về ý nghĩa của hai chữ “thành công”, và tôi đã cho thí dụ về sự thành công của Khuất Nguyên trong việc khiến nhiều trăm năm nay đã trói buộc hàng tỷ tỷ người trên thế gian này năm nào cũng phải cúng Khuất Nguyên; và rằng nếu phải thực tâm trả lời bạn về phương pháp “thành công” của tôi thì đó sẽ là “phải học, phải học thêm, học thêm mãi” để không một thầy cô nào và không bất kỳ một người Việt cùng trang lứa nào với tôi có thể giỏi tiếng Anh hơn tôi, cộng thêm với “phải làm việc, phải làm thêm việc, phải làm việc mãi, phải vất bỏ hai chữ nghỉ hưu ra khỏi quyển từ điển cuộc đời mình”. Và bạn thấy đấy, hãy dành thời gian nhiều nhất cho công việc, chứ đừng cho mấy mạng xã hội, mấy quán cà phê, mấy quán nhậu, mấy cuộc thi hoa hậu, mấy buổi biểu diễn ca nhạc hay biểu diễn thời trang.

(Ghi chú: Tôi dịch socializing thành đàn đúm trên mạng xã hội là dịch đúng nghĩa. Người không biết tiếng Anh tra tự điển sẽ bảo đó là “xã hội hóa”. Chuyên gia trong ngành huấn luyện kỹ năng mềm soft skills như tại MYA BizCorp sẽ nói đó là chủ đề quan trọng của kỹ năng trình bày, kỹ năng ăn nói, v.v. của dịch vụ khách hàng. Cả hai đều đúng, vì vậy không thể dùng trong câu nói của Gina Rinehart vốn mang tính quy chụp, kết tội, khinh miệt.)

Tôi và Bà Chủ Thái Hương của True Milk

Đầu tháng 8 vừa qua, trong thời gian tham dự Hội Nghị Lần Thứ 4 Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Ba Nước Campuchia – Lào – Việt Nam về Vai Trò Của Quốc Hội Trong Việc Hỗ Trợ Tam Giác Phát Triển tại Nghệ An, tôi có dịp đến thăm Công ty Sữa TH ở Xã Nghĩa Sơn, Huyện Nghĩa Đàn. TH là công ty nổi tiếng không những ở quy mô có thể nói lớn nhất Việt Nam với vùng trồng cây nguyên liệu chế biến thức ăn mênh mông bát ngát, khu chăn nuôi bò rộng lớn hiện đại, và khu sản xuất sữa công nghệ tối tân, mà còn ở sản phẩm True Milk do là sữa tươi 100% có hàm lượng chất dinh dưỡng tất nhiên cao hơn rất nhiều so với sản phẩm “sữa tươi hoàn nguyên” từ sữa bột pha với nước hoặc từ sữa bột pha với một phân sữa tươi. Kể từ sau chuyến thăm TH, tôi luôn dặn vợ tôi mỗi khi mua sữa ở siêu thị phải chọn mua True Milk. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với tôi là trong bữa cơm chiêu đãi tại Huyện Ủy, tôi ngồi đối diện với bà Thái Hương, chủ nhân Công ty Sữa TH của sản phẩm True Milk. Đó là một phụ nữ thấp người, dáng gầy, và trong lúc đãi mọi người với các món đặc sản vùng biển, Bà Thái Hương chỉ dùng một ít xôi trắng. Và Bà đã làm tôi ngạc nhiên khi Bà nói về điểm yếu của việc “hợp tác bốn nhà” mà chính phủ phát động (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học), và theo Bà chỉ có “hai nhà” thôi, đó là nhà nướcnhà doanh nghiệp. Lắng nghe các lập luận của Bà Thái Hương, tôi tủm tỉm cười thán phục và vui khi thấy … Ý Lớn Gặp Nhau.

Thật ra, trong rất nhiều bài viết trên Emotino nhiều năm qua, tôi cũng đã nêu yếu điểm của “hợp tác bốn nhà” và lập luận rằng chỉ có “hai nhà” là nhà nướcnhà nông nếu muốn đại cuộc phát triển tam nông (nông nghiệp – nông thôn – nông dân) đi đến thành công. Gần đây, trên báo chí xuất hiện các đánh giá của các cơ quan nhà nước phân tích các lý do vì sao “liên kết hợp tác bốn nhà” đến nay vẫn “chưa” phát huy hiệu quả. Tôi vẫn cho rằng “hai nhà” của tôi vững hơn “hai nhà” của Bà Thái Hương, vì rằng “nhà doanh nghiệp” có hai điểm yếu:

Thứ nhất, đó là tập hợp của ba hạng người gồm doanh chủ tốt (kinh doanh y như Kim Sang Ốc của Hàn Quốc, tất cả vì sự phát triển của nền thương mại nước nhà, vì ích quốc lợi dân, vì sự vũng bền của chế độ), doanh chủ xấu (kinh doanh y như bọn qua bên Trung Quốc hốt hết xác heo, xác bò, xác gà vịt chết bịnh, chở về Việt Nam trên các chuyến xe tải “xuyên Việt” vô tận Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam để bán lại cho mấy nhà hàng, quán ăn, giết người không gớm tay), và doanh chủ không tốt không xấu (không qua Trung Quốc lượm xác thú chết, không buôn lậu, chỉ lo “găm” hàng để gây sốt giá như giá xăng dầu chẳng hạn), mà tỷ lệ không phải là lấy 100 chia cho 3.

Thứ nhì, tôi thường lập luận rằng ai cũng là doanh nhân, dù đó là học sinh hay hiệu trưởng, nhân viên hay giám đốc. Thế nên, nhà nông dưới góc nhìn của tôi nhất thiết phải được huấn luyện các kỹ năng để nhận ra chân giá trị “doanh nhân” của chính mình, để có trách nhiệm với chất lượng “hàng hóa” mà mình làm chủ, biết “đàm phán” với nhà “phân phối” hoặc “khách hàng”, rành sự tiếp cận các khoản vốn vay, nhuần nhuyễn cách lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch  kinh doanh, sử dụng vốn, tiếp cận khoa học canh tác và khoa học quản lý, theo dõi thông tin thị trường và biến động giá cả nguyên liệu vật tư, v.v., từ đó hình thành tầng lớp phú nông, hình thành nông trang, phát triển nông thôn, phát triển nông nghiệp nước nhà. Nhà doanh nghiệp thuần túy, do đó không bao giờ có thể thành đối tượng đáng tin cậy của “hai nhà” trong đại cuộc phát triển tam nông.

Tôi và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Vừa qua, các báo lớn ở Việt Nam có tải đăng lượt ghi bài phát biểu rất dài của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi làm việc với Bộ Giáo Dục và Đào tạo ngày 17-8, mà cốt lõi của tư duy mới là “Triết lý giáo dục của mọi thời đại giáo dục Việt Nam là dạy người, dạy làm người. Hãy sống và làm việc như một con người chân chính – đấy là điều nhân dân đòi hỏi…. Dạy người là dạy về nhân cách, về đạo làm người.”

Cách nay rất nhiều năm, tôi có “nạp” chi tiết tự khai về bản thân trên một số trang mạng (như Facebook, Multiply, LinkedIn, Anphabe, v.v.), trong đó ghi bằng tiếng Anh về “khuynh hướng chính trị” của tôi là Nationalist Communist (nhà Cộng sản Dân tộc chủ nghĩa) và Confucianist Communist (nhà Cộng sản theo khuynh hướng trọng Khổng), và lập luận trong những buổi trả lời phỏng vấn của nước ngoài về tầm quan trọng của “đạo làm người”.

Cộng sản vì khẳng định chế độ cộng sản là thứ duy nhất cần có để bảo vệ thành công sự tồn tại của nước Việt Nam trước nanh vuốt Trung Hoa.

Dân tộc chủ nghĩa vì không bao giờ tồn tại cái gọi là thế giới cộng sản của các quốc gia cộng sản vì mỗi quốc gia đều ưu tiên lo cho chính mình, và do đó Việt Nam phải luôn đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết.

Khuynh hướng trọng Khổng để duy trì được chế độ cộng sản dân tộc chủ nghĩa. Tôi đã trả lời phỏng vấn rằng do bọn thực dân Pháp thực thi chế độ ngu dân nên rất ít người Việt được học hành, và khi chỉ với sự căm thù giặc Pháp làm hành trang theo Đảng để đấu tranh võ trang giải phóng đất nước, rất nhiều những con người ít học đó lập nên công trạng hiển hách, trở thành đảng viên và được bố trí giữ những trọng trách trong chính quyền sau khi thống nhất đất nước, và nhiều người trong số họ đã trở thành tội phạm chỉ vì họ đã chưa được giáo dục về đạo làm người với các giềng mối của tư tưởng Khổng giáo, để biết xem trọng nhân-nghĩa-lễ-trí-tín, để biết đạo hiếu với mẹ với cha, để biết cái thứ tự lớp lang quan trọng của tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ, và để biết trọng dân theo kiểu dân-vi-quý-xã-tắc-thứ-chi-quân-vi-khinh. Không phải đảng cộng sản đã giáo dục những con người cộng sản đầu tiên của cách mạng Việt Nam, mà chính lòng ái quốc của các nhà chí sĩ xuất phát từ sự thắm đượm tinh thần trọng Khổng đã khiến họ sáng suốt lựa chọn con đường cộng sản vì đại nghĩa cứu nước cứu dân. Tôi cũng đã tâm sự với vài nhà báo trẻ rằng rất tiếc Việt Nam đã bình dân hóa một điều kỳ vĩ vốn đòi hỏi một trình độ tư duy cực cao khi sớm đem chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa cộng sản khoa học, và kinh tế chính trị Mác-Lênin vào giảng dạy trước trình độ thạc sĩ, khiến người tốt nghiệp thì vô số nhưng chẳng mấy ai thi thố được bất kỳ điều gì đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân hoặc trong việc nâng cao được uy thế của các điều kỳ vĩ đó, có chăng là sự xem nhẹ, xem thường chúng, đem chúng ra bỡn cợt, nhạo báng lúc phiếm chuyện bên bàn nhậu đầy ắp sự tha hóa suy đồi.

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ tránh xa điều tiêu cực mà không cần đọc mấy tấm áp phích đầy những giòng chữ vô nghĩa như “hãy nói không với…”

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ khôn ngoan không để bị kẻ thù của quốc gia lôi kéo vào những sự xách động bạo loạn, tránh xa các “diễn biến hòa bình” mà thực chất là đẩy đất nước vào chiến  tranh.

Có hiếu với mẹ cha, người ta sẽ như các bậc tiền bối yêu nước với trí tuệ và sự khôn ngoan.

Và tóm lại, phải dạy học sinh về nhân cách, về đạo nghĩa, về đạo làm con, về đạo làm người, như những điều căn bản, ưu tiên, vì lý tưởng cộng sản chỉ có thể đơm hoa kết trái nơi những công dân đạo đức, trưởng thành, ưu tú, chứ không phải nơi những đứa bé già non nớt.

Ý lớn rốt cuộc cũng đã gặp nhau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

Xin mời tham khảo thêm (theo thứ tự alphabet):

Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước  20-5-2019

Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước 28-01-2016 có trích đăng lại phần “Hợp Tác Bốn Nhà” trong bài viết năm 2010 trên Emotino tựa đề “Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam” lập lại ý chính của bài “Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm, Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà” viết riêng phê bình đề tài “hợp tác bốn nhà” đăng trước đó cũng trên Emotino.

TH True Milk  11-11-2015

Thế Nào Là Doanh Nhân  15-12-2015

Sự Cố Gateway Hà Nội – Vấn Đề Cốt Lõi

Bài Viết Dành Cho Lãnh Tụ Tương Lai Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Sử Nghiên, Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng Đẳng ở Việt Nam, Nhà Hoạt-động Chính-trị Dân-tộc Thiên Khổng

11-8-2019

Ghi chú đặc biệt: Bài Hiền Tài được viết dành cho cấp lãnh đạo quốc gia, còn bài Sự Cố Gateway Hà Nội này được viết dành cho cấp lãnh tụ quốc gia, không phải lãnh đạo chính trị, và có liên quan đến bài sẽ được viết về tương lai chính trị Việt Nam trong cụm bài Tiên Tri Thấu Thị.

Tất cả hình ảnh trong bài này được chụp bởi Hoàng Hữu Phước theo nguyên tắc trong Thùng Nước Đá.

A) Sự Cố Gateway – Giải Thích Từ Ngữ

Sự cố Gateway là tên gọi giản đơn về một sự cố cực kỳ phức tạp vừa xảy ra tại cái gọi là “Trường Quốc Tế Gateway ở Hà Nội” lột truồng những 4 vấn đề đã vượt qua lằn ranh cảnh báo đỏ của Hoàng Hữu Phước suốt 40 năm qua về vô số sai sót ổ vịt ổ heo ổ khổng tượng loophole mà nay tiến thẳng đến sự sụp lún thành vô số hố tử thần sinkhole chắc chắn sẽ gây ra sự sụp hầm sụp hố vô phương cứu chữa của cỗ xe chế độ gồm (a) sự xuống cấp của con người, (b) sự luống cuống của giới cầm quyền, (c) sự chà đạp luật pháp, và (d) sự thất bại hoàn toàn của hệ thống giáo dục-tuyên truyền vô dụng của Việt Nam.

Cỗ xe chế độ là cỗ xe có thiết kế hiện đại nhất thế giới, trang bị nội thất hiện đại nhất thế giới, hệ vận hành cơ khí hiện đại nhất thế giới, bên ngoài sơn phủ hào nhoáng dán đầy “sticker tranh cổ động 3D” nêu các lời năn nỉ van nài hãy tuân thủ luật giao thông, các “giáo dục tuyên truyền” toàn kiểu xài tiền thật nói lời ảo về ứng xử khi “tham gia giao thông”, được vận hành bởi những người không biết vận hành cỗ xe hiện đại nhất thế giới ấy chạy trên đường mòn trong khu Safari đặc-thù-Thành-Phố-Hồ-Chí-Minh tức lúc Thành Phố Hồ Chí Minh thấp hơn mặt nước biển Vũng Tàu còn Safari không còn là “Công Viên Dã Sinh” mà là chữ viết tắt thuần túy tiếng Anh của “Swamp for Ack-acks Relief” tức Đầm Lầy An Nghĩ Của Pháo Cao Xạ do chỉ có các pháo này mới nhú nhô được nòng lên khỏi mặt nước ấn chìm Thành Phố Hồ Chí Minh mà thôi chứ không phải hươu cao cổ Châu Phi như tại các Safari chính hiệu con nai vàng ngơ ngác khắp nơi trên thế giới chật hẹp một cách bao la hoang vắng lúc nhúc bao con người và con thú này.

Sự xuống cấp của con người là khi có sự biến mất hoàn toàn và triệt để của 2 thứ tinh thần trách nhiệm đạo đức tự thân và tinh thần trách nhiệm công việc nơi tất cả các chủng loại con người bao gồm giới thường dân từ người ăn xin trở lên, cấp lãnh đạo từ chủ tịch Nước trở xuống, và hạng tăng lữ tu hành bất kể từ đâu trở lên hay từ que (where) trở xuống. Sự cố Gateway lẽ ra đã không bao giờ có thể xảy ra nếu đã không có sự biến mất ấy.

Sự luống cuống của giới cầm quyền là khi thiếu vắng 4 năng lực không bao giờ được phép tách rời của (a) xử lý hiệu quả tình huống, (b) xử lý hiệu quả biến cố, (c) giám sát hiệu quả trong cảnh báo và ngăn chặn biến cố, và (d) biết lo trước cái lo của người dân” để từ đó chủ động đề xuất trước các biện pháp và quy định thay vì chờ sự việc xảy ra mới dựa theo đó mà giải quyết hậu quả. Sự cố Gateway đã khiến giới cầm quyền Hà Nội phát biểu vô duyên vô pháp rú rừng chỉ dựa trên từ vựng ngữ nghĩa rằng “Trường Quốc Tế Gateway không phải là trường quốc tế” mà không biết chữ trước chỉ là một chữ tiếng Việt mà bất kỳ người Việt nào cũng có quyền sử dụng còn chữ sau có ý nghĩa liên quan đến phạm vi thế giới – tương tự kiểu giải thích rằng “Ông Nguyễn Phan Mỹ Vượn không phải là loài vượn và không có quốc tịch Mỹ” vậy; và rằng đơn vị cung cấp dịch vụ đưa đón học sinh không có giấy phép cho hoạt động này. Chính sự luống cuống của giới cầm quyền cho thấy tình trạng vô chính phủ, vô luật pháp, đạp chà luật pháp. Mà tất cả đã lột tả sự thất bại hoàn toàn của hệ thống giáo dục-tuyên truyền của Việt Nam mà Hoàng Hữu Phước đã từng thấu thị.

B) Tại Sao “Lãnh Tụ”?

Khi nêu lời chua rằng đây là “bài viết dành cho lãnh tụ tương lai của Việt Nam”, tôi muốn nêu 3 sự thật rằng (a) Việt Nam hiện chỉ có tập thể lãnh đạo chính trị tuyệt đối ngang hàng nhau ở cấp cao nhất, (b) những bước ngoặc lịch sử của bất kỳ quốc gia quốc gia dân tộc nào cũng chỉ do một người duy nhất thực hiện thành công: đó là một vị lãnh tụ cách mạng, và (c) Nguyễn Phú Trọng là một vị lãnh đạo chính trị thuộc bậc nhân tài nhưng không ở cương vị lãnh tụ cách mạng (cách mạng Việt Nam có 3 vị hiền tài duy nhất là các ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Trần Đại Nghĩa; nhưng chỉ có Hồ Chí Minhlãnh tụ).

Chính vì có tập thể lãnh đạo chính trị “tuyệt đối ngang hàng nhau ở cấp cao nhất”, Việt Nam đã vướng 2 điều nghiêm trọng tối kỵ trong trị quốc gồm (a) không có vấn đề trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cao nhất của hệ thống chính trị trước pháp luật, dẫn đến hiện trạng đớn nhục ê chề như của Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay khi sẽ không bao giờ dẫn đến bất kỳ hình phạt trách nhiệm nào được áp dụng động được đến các Ủy Viên Bộ Chính Trị nào đã làm Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng từng xuất thân từ vai trò lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh vào thời điểm xảy ra các tiêu cực đớn nhục chề ê ấy, mà lý do tuyệt diệu cho sự bất khả xâm phạm ấy là hoặc họ đã quy tiên theo nghi thức quốc tang được các lãnh đạo thế giới thông qua các đại sứ đặc mệnh toàn quyền tiễn đưa hoặc đã về hưu từ lâu không còn thuộc thời gian khởi tố quy trách nhiệm; và (b) sự hình thành các phe nhóm phục vụ “lợi ích nhóm” và “tranh giành phiếu bầu”, vì nếu không đã chẳng có việc kỳ quái rằng người đứng đầu một tổ chức đã hoàn thành xong sứ mệnh lịch sử trong thời chiến của nó như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam lại phải làm Ủy viên Bộ Chính Trị chỉ để làm công việc cực kỳ tầm thường nhưng ngốn biết bao ngân sách quốc gia gồm mỗi năm năm một lần tổ chức “hiệp thương” chọn đặt những người-không-được-dân-biết-đến-hoặc-vi-phạm-pháp-luật-và-không-xứng-đáng vào danh sách bầu cử Quốc Hội từng địa phương cho dân từng địa phương chọn bầu sau khi đọc hoặc không cần đọc danh sách ứng viên, mỗi năm hai lần tranh giành với các đại biểu quốc hội ở địa phương để thu gom lượm lặt tập hợp các “kiến nghị của cử tri” để Chủ Tịch Trưng Ương Mặt Trận Tổ Quốc có cái mà đọc tại Quốc Hội dài-lê-thê-7-lần-7-bốn-mươi-chín-phút, mỗi năm vài lần xin tiền các doanh nghiệp để làm công tác xã hội, và mỗi thập kỷ một lần đề ra kế hoạch tuyên truyền vận động nhân dân trình Thủ Tướng phê duyệt cho phép sử dụng ngân sách từ tiền thuế thu của dân để tuyên truyền vận động người dân đã đóng thuế phải nên làm cái gì đó.

Các ý kiến của Hoàng Hữu Phước trong bài viết này, do đó, chỉ có thể ích lợi cho Việt Nam khi Việt Nam xuất hiện một lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam vươn lên làm lãnh tụ để tiến hành cuộc cách mạng đưa Việt Nam hùng dũng nhảy sang giai đoạn thịnh cường mà sự cường thịnh của Việt Nam luôn và chỉ nhờ vào nguồn nhân lực đức tài thông tuệ có gia giáo thiên Khổng, vốn là thứ của cải duy nhất cần thiết mà Việt Nam hy vọng sẽ sở hữu mới trong tương lai gần hoặc xa, nếu sự đã lỡ dại đánh mất lực lượng ấy chưa kịp xô Việt Nam lọt xuống hố thẳm diệt vong của muôn đời hư mất (topple down unto the unfathomable abyss of perennial perdition).

Tập thể lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có thể tạo nên các nâng cấp và đổi mới cho Việt Nam, bất kể các nâng cấp và đổi mới ấy có tốt hơn hay xấu đi, trong trước mắt hay dài hạn, với đặc điểm rằng sử sách không được ghi nhận gì nếu các nâng cấp và đổi mới dẫn đến hậu quả mà không là kết quả.

Chỉ có cá nhân lãnh tụ cách mạng Việt Nam mới có bản lĩnh và quyền lực tuyệt đối để có thể tạo nên sự thay đổi triệt để và toàn diện tại Việt Nam, mà các bước ngoặc luôn thành công miên viễn – ít nhất là về mặt lịch sử do luôn được ghi vào sử sách.

Vấn đề duy nhất cho dân tộc Việt Nam là: lãnh tụ cách mạng Việt Nam chỉ xuất hiện mỗi một lần sau mỗi vài thế kỷ mà thôi.

C) Tại Sao Hoàng Hữu Phước?

Thế tại sao Hoàng Hữu Phước phải là người đứng mũi chịu sào đặt vấn đề về các vấn nạn từ sự cố Gateway Hà Nội?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có nhiều trãi nghiệm thực tế uyên bác uyên thâm về lịch sử hai chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có dũng khí đấu tranh vì nước vì dân vì Đảng Cộng Sản “trong-thời-bình” như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai có tinh thần thiên Khổng trong quốc trị của “biết lo trước cái lo của người dân”  như Hoàng Hữu Phước hay sao?

Rất đơn giản: ở Việt Nam vẫn còn người thứ hai như Hoàng Hữu Phước có trình độ lý luận chính trị ở đẳng cấp ngồi chồm hổm trên đầu đội quân Loạn Kiêu Báo truyền thông chính thống bất tài vô dụng “trong-thời-bình” của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay sao?

Các phân tích Phần D dưới đây sẽ chứng minh 4 điều đơn giản trên cực kỳ chính xác một cách đơn giản nhất có thể được.

D) Vấn Nạn Tổng Hợp

Sự cố Gateway Hà Nội cho thấy các vấn nạn mang tính tổng hợp những vấn đề nan giải trầm kha (trầm trọng hết thuốc chữa) trầm tích (hóa thạch mất hút dưới các địa tầng) trầm lắng (cà lăm) trầm buồn (sầu rầu) sau:

1- Luật Pháp

Hóa ra Quốc Hội Việt Nam có toàn các nhà lập pháp tay mơ (amateurish lawmaker) nên mỗi khi xảy ra sự cố đều đổ lỗi cho 10 nội dung quen thuộc gồm (a) luật hiện hành còn bất cập, (b) còn thiếu các quy định cụ thể, (c) luật hiện hành có các chế tài không còn phù hợp do không có tính răn đe – ý nói luật nhũn xèo làm muôn dân nhờn mặt chớ còn sợ, (d) quy định có nhưng lực lượng quá xuyên thấu – ý nói mỏng te, (e) cái từ ngữ như “quốc tế” chẳng hạn thì đâu phải ai muốn dùng là dùng vì nó có nghĩa như thế như thế, (f) cái từ ngữ ấy bấy lâu nay chưa được quan tâm nên bây giờ các quan chức té ngữa giơ hai chân lên trời đầu hàng, (g) cái dịch vụ đưa đón học sinh ấy bây giờ mới phát hiện là chưa có giấy phép, (h) cái vụ việc này cho thấy chúng ta – không rõ là ai – chưa có quy chuẩn quy tắc quy trình – do 20 năm nay bận bịu bận rộn với cái “quy tắc ứng xử ở Biển Đông” không kịp chèo trở lại bến bờ, (i) ở nước ngoài thì xe đưa đón học sinh rất chuyên nghiệp bằng xe đưa đón chuyên nghiệp – bây giờ mới biết đấy, và (j) cần thiết phải có thêm vài trăm tỷ để đề ra các quy chuẩn quy tắc quy trình cho từng loại nhúc nhích một trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và hoạt động xã hội quốc gia nghĩa là vô thiên lủng thứ.

Thế đẳng cấp thấu thị bao trùm “Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân  lẽ nào chỉ tồn tại mỗi nơi Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay sao vậy?

2- Giáo Dục

Hóa ra “giáo dục” là dành chung chung một cách đầy tốn kém mà Nhà Nước trút hầu bao từ tiền thuế của dân ưu ái dành cho những ai còn đi học chứ đã đi dạy thì dù có “vô giáo dục” cũng không sao, sẽ được tôn vình. Bởi vậy mà có ả giáo viên họ Phết (làm thơ thảy lên Facebook) viết vớ vẩn về “Lạ Quá Phải Hôn Anh?”, có thằng thầy giáo tiến sĩ hiệu trưởng đại học viện trưởng viện này viện nọ họ Trần thà vi phạm Luật Bầu Cử chứ nhất quyết không bỏ buổi yến tiệc ở Ngân Hàng Nhà Nước vừa no say rượu nhiều chục triệu mỗi chai vừa hát Karaoke với ca nữ áo tứ thân phục vụ vừa nhận bao thư 10 triệu đồng lì xì của Thống Đốc, có “thầy cô” dẫn lớp đi tắm biển Cần Giờ làm đuối nước mấy học trò, có thằng hiệu trưởng họ Sầm dâm ô các nữ sinh rồi giáo dục đào tạo cả đám học trò phục vụ tình dục ngay tại trường cho các thằng quan chức giáo dục cấp Tỉnh đến vừa hưởng lạc thú thịt tươi máu đỏ vừa chuẩn bị nguồn nhân sự cung ứng cho các khu đèn đỏ ở các Đặc Khu Kinh Tế, có thằng hiệu trưởng đại học muốn nhanh chóng có một Đống Đô (La) nên bán bằng cấp cử nhân Anh Văn cho những thằng những con muốn đi tắt đón đầu học Thạc Sĩ-Tiến Sĩ từ tiền thuế của dân, và nay có ả giáo viên không thèm đếm xỉa đến sĩ số lớp khiến một học sinh lớp 1 bị bỏ quên đến chết ngạt trên xe đưa đón, v.v. và v.v. Bảo sao Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước chỉ cần thấy trình độ tiếng Anh của học sinh-sinh viên Việt Nam là con số zero là đã cho rằng đủ để cứ luôn mồm mắng mỏ miệt thị rằng giáo dục Việt Nam đã hỏng bét rồi.

3- Tuyên Truyền

Trong thời hiện đại ngày nay, báo chí của Đảng cần được xem như đã hoàn thành xuất sắc vai trò công cụ của Đảng trong thời chiến, vì thật là thơ ngây ấu trỉ khi cho rằng người dân vẫn đang đón đọc bản in của các tờ báo chính thống của Đảng như cách nay 30 năm.

Nếu báo chí vẫn còn là kênh thông tin/tuyên truyền/giáo dục hiệu quả của Đảng thì tại sao báo chí

(a) thất bại toàn diện trong chặn ngăn các cuộc biểu tình,

(b) thất bại toàn diện trong chặn ngăn công dân không sa vào các lọc lừa trên không gian mạng,

(c) thất bại toàn diện trong chặn ngăn được các sự hiểu sai lệch về các chính sách chủ trương của Đảng,

(d) thất bại toàn diện trong uốn nắn tư tưởng lệch lạc của giới trẻ/giới công chức.giới lãnh đạo,

(e) thất bại toàn diện trong “giáo dục tuyên truyền” và “hỗ trợ giáo dục tuyên truyền” người dân cho một cuộc sống xã hội tốt lành hơn và an toàn hơn,

(f) thất bại toàn diện trong đấu tranh – theo nghĩa đen – do không thể đánh bại các luận điệu phản động của nước ngoài bằng bất kỳ ngôn ngữ nào và đạt hiệu quả nhanh chóng tức thì,

(g) thất bại toàn diện trong đưa được bất kỳ thông tin nào về sự liêm chính liêm khiết của bất kỳ lãnh đạo cấp cao nào,

(h) thất bại toàn diện trong bảo đảm có đội ngũ lãnh đạo báo chí tài ba đức độ cho chính tòa soạn của mình,

(i) thất bại toàn diện trong bảo đảm một tờ báo phải có những phần mục chất lượng cực cao về thông tin/tuyên truyền/bình luận như báo chí bình thường của các nước văn minh Âu Mỹ thay vì chỉ toàn đưa tin giống nhau chỉ với các phỏng vấn và tràn ngập quảng cáo như phương cách kiếm ăn duy nhất chứ không dám bình luận chuyện quốc gia đại sự,

(j) thất bại toàn diện trong duy trì vị trí vũ khí ngôn luận sắc bén bảo vệ thành công Đảng và chính nghĩa quốc gia,

(k) thất bại toàn diện trong đạo đức nghề nghiệp của phóng viên và “nhà báo”,

(l) thất bại toàn diện trong tạo dựng uy danh với báo chí thế giới, và

(m) thất bại toàn diện trong vân vân và vân vân.  

Như đã nêu trong phần Kết Luận của bài Rượu, (a) Nhà Làm Luật Việt Nam phải chăng toàn là nhà giáo nên toàn nghiện xài chữ “giáo dục” và phải chăng vì họ cứ nghĩ Việt Nam đang trong thời chiến tranh khốc liệt nên sính xài hoài chữ “tuyên truyền”; và (b) Nhà Làm Luật Việt Nam và lãnh đạo các ban ngành đoàn thể phải chăng do quen xúc phạm nhân dân Việt Nam, xem họ có dân trí thấp nên hở ra cái gì là xoen xoét miệng mồm nói “phải ra sức tuyên truyền giáo dục nhân dân” về cái đó?

Vấn đề, do đó, là Đảng phải nhanh chóng dựng xây hệ thống vũ khí chính trị mới nhằm thay thế cho hai vũ khí đã cùn nhụt và trở nên hoàn toàn vô dụng là báo chí truyền thông chính thống và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Giáo dục/tuyên truyền hiện chỉ được tiếp tục xem như vũ khí chính trị của bọn chống chính phủ chứ không còn là vũ khí của bất kỳ chính phủ nào trừ chính phủ Việt Nam (do lầm tưởng nó vẫn sẽ phát huy tác dụng trong kiến quốc thời bình trong bất kỳ hoàn cảnh phát triển công nghệ vũ bão nào của toàn thế giới) và chính phủ Trung Quốc (do xem nó là thứ vũ khí để lưu manh chống Việt và cướp bóc).

Hệ thống vũ khí chính trị mới mang tính thay thế hiệu quả và thích ứng với môi trường thế giới mới ngày nay ấy nằm trong sách lược quốc trị của tác giả bài viết này mà lãnh đạo cao nhất của Đảng có thể lắng nghe sự trình bày trực tiếp – không thể tiết lộ khơi khơi miễn phí trên không gian mạng – nếu muốn Cộng Sản Việt Nam không tiếp tục thua tan nát về phương diện truyền thông chính trị chính thống chính đạo như từ đầu Thế Kỷ XXI cho đến nay.

4- Tư Tưởng

Như đã nói trong bài Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng, uy thế ưu việt của Việt Nam là có hệ tư tưởng ưu việt nhất nhân loại trong cả hai Thế Kỷ XX và XXI. Song, chính hệ tư tưởng ưu việt ấy lại là nguồn cơn đe dọa sự tồn vong của chế độ do nó tạo nên tâm lý tự mãn, cảm giác an toàn, mà tất cả chỉ dẫn đến sự mất cảnh giác đã bao lần đặt nền chính trị quốc gia vào sự đương đầu với các vấn nạn phải giải quyết một cách lẽ ra đã có thể tránh được, làm chậm lại tiến trình phát triển đất nước như kỳ vọng.

5- Con Người

Và nguyên nhân khiến hệ tư tưởng ưu việt nói trên không trở thành vũ khí ưu việt siêu đẳng là do các vấn nạn luật pháp, vấn nạn tuyên truyền làm cho hoặc bị trì trệ hoặc bị phá hoại, mà cái chính gây ra vấn nạn luật pháp và vấn nạn tuyên truyền đó là vấn nạn về con người nhất là con người trong đội ngũ lãnh đạo chiến lược quốc gia. Vấn nạn con người sẽ được phân tích rõ trong phần E dưới đây.

E)  Chân Lý Hoàng Hữu Phước

Trường Quốc Tế Gateway không phải là trường “quốc tế” – theo hé lộ công khai của một quan chức Hà Nội tại buổi họp báo. Thì “quốc tế” là chữ tiếng Việt, ai muốn đặt thì đặt, có hề chi. Còn Vinataxi là của nước ngoài, và chữ “Vina” có là “Vietnam” cũng chẳng hề chi. Sắp tới nếu có mấy cái “Đặc Khu Kinh Tế” thì liệu có xuất hiện các Vinagarbage tức Công ty Rác Việt Nam, Vinasewageclearance tức Công ty Thông Cống Việt Nam, Vinacasino tức Công ty Sòng Bạc Việt Nam, và Vinabrothel tức Công ty Nhà Thổ Việt Nam, v.v., hay không thì cũng chẳng hề chi. Tên mà! Đầu tư nước ngoài “minh bạch” mà! Có đóng thuế mà! Làm giàu “phú” cho cả nước “quốc” mà. Sướng như trên mây “vân” thiệt mà chứ có “đồn” đại gì đâu!

Tương tự, “Chân lý Hoàng Hữu Phước” không hề mang nội hàm cao đại mãn hào rằng tất cả những phán phê của Hoàng Hữu Phước đều là chân lý. “Chân lý Hoàng Hữu Phước” đơn giản chỉ là một công thức tu từ, theo đó, cái Hoàng Hữu Phước gọi là chân lý là do chính ông ta nêu lên chứ không được công nhận bởi bọn Kiêu Báo ngu đần và bọn Kiêu Đảng phản Đảng; và theo công thức hàn lâm Âu Mỹ thì tên của nhà phát minh có thể được đặt cho công trinh, cho hành tinh, cho Sao Chổi, cho thiên thạch, cho cả vi trùng và siêu vi trùng. Thế nên “Chân lý Hoàng Hữu Phước” như thuốc vắc-xin Sởi luôn chứa đầy vi khuẩn Sởi hấp hối, ai chích thì tốt, ai ngu như dân thành thị Âu Mỹ văn minh hiện đại thì ráng chịu. Tự do tự quyết tự chủ tự tiêu mà!

Thế thì, “Chân lý Hoàng Hữu Phước” đặt trên nền tảng con người vì chính con người quyết định sự tồn vong của cả một chế độ chính trị cùng sự tồn tại vật chất của đất nước của chế độ chính trị ấy. Chân lý, tất nhiên, luôn trên cơ sở những sự thật nào thật sự nhất.

1- Sự Thật Việt Nam Cộng Hòa

Như từng kể nhiều lần trên blog này, tôi lúc học ở trường Tiểu Học Phan Đình Phùng 491/7 đường Phan Đình Phùng Quận 3 Thủ Đô Sài Gòn (nay tên đường là Nguyễn Đình Chiểu, và ở đầu ngõ mới đây lại gắn bảng tên đường là Bàn Cờ, ắt nối dài với đường Bàn Cờ bên đối diện, biến bao nhà trong hẻm 491 này thành nhà…mặt tiền), tôi hai lần nhận phần thưởng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và một lần nhận giải thưởng “bé khỏe bé đẹp bé giỏi bé ngoan” duy nhất của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế tại Việt Nam Cộng Hòa (ở các thành phố lớn Việt Nam như ở Thành Phố Hồ Chí Minh hiện các trường lớn chỉ dám có danh xưng “bé khỏe bé ngoan” vì hầu như bé nào cũng mập ú ăn mặc “hàng hiệu” nên tất nhiên “đẹp” và bé nào cũng thuộc tập thể lớp luôn có 100% học giỏi mà).

(Cần nói rõ là một khi Nguyễn Văn Thiệu đã là “tổng thống” thì bất kỳ ai cũng sẽ gọi Nguyễn Văn Thiệu là “tổng thống”.  Một khi Barack Obama đã là “tổng thống” thì bất kỳ ai cũng sẽ gọi Barack Obama là “tổng thống”, chứ không phải gọi là “thằng nhóc Barack Obama” khi nói về giai đoạn Barack Obama học mẫu giáo – nghĩa là người ta sẽ nói “tổng thống Barack Obama lúc là học sinh ở trường mẫu giáo ABC ở Bang XYZ đã hay cướp giật bánh kẹo của các bé gái”. Phải giải thích ở đây như vậy vì bọn phản Đảng và bọn chống Việt rất cay cú do luôn thất bại trước tôi nên sẽ cố moi móc cộng trừ nhơn chia rồi hê lên rằng tôi nói xạo với bằng chứng của chúng có thể đưa ra là vào cái năm ấy năm ấy Nguyễn Văn Thiệu chưa làm Tổng Thống mà hình như chỉ mới là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Như vậy, Nguyễn Văn Thiệu là “tổng thống” do ông ta ăn ở chình ình trong “Dinh Độc Lập” với vợ ông ta chứ không “ăn nằm” với “thằng” lãnh đạo nào khác, và chức vụ cao nhất cuối cùng của ông ta là “tổng thống” nên ông ta luôn được gọi là “tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”).

Năm tôi học lớp Tư (hiện nay gọi là lớp 2) , phần thưởng tôi nhận được từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một chuyến tham quan Dinh Độc Lập để dự tiệc tối Tết Trung Thu ngoài trời với Tổng Thống và Đệ Nhất Phu Nhân. Gọi là “tiệc” chứ tôi chỉ được phát một túi ny-lông đựng hai chiếc bánh nướng và một chiếc bánh dẻo Bảo Hiên Rồng Vàng cùng một chai xá xị với một chiếc lồng đèn tròn giấy xếp màu đỏ cùng hai chiếc đèn cầy mà thôi. Tôi phải đứng núp ở hành lang vì cơn mưa dữ dội ập đến làm tiệc ngoài trời bị dẹp bỏ không kèn không trống. Nhưng tôi được chứng kiến một cảnh đẹp hơn phim hành động Hollywood khi đoàn xe mô tô Harley-Davidson của cảnh sát công lộ hộ tống xe tổng thống chạy ngược chiều đường Công Lý từ Sài Gòn về đến gần cổng Dinh Độc Lập thì bốn chiến sĩ trên 4 chiếc mô tô dẫn đường đồng loạt đứng lên giang hai tay rộng thẳng ra hai bên (hai xe đầu với hai chiến sĩ đứng hẳn trên yên xe, và hai xe sau với hai chiến sĩ đứng lên trên chỗ gát chân), 4 chiếc mô-tô tự động nghiêng lạng qua trái theo kỹ thuật cá nhân mỗi chiến sĩ đã được đào tạo thuần thục bên Mỹ để tự động rẽ trái vào cổng Dinh, theo sau là chiếc Mercedes tròn trịa to đùng màu đen bóng loáng của tổng thống. Lúc vào trong đường chạy lót sỏi của khuôn viên Dinh, 4 chiến sĩ mở đường mới ngồi xuống yên xe, đặt hai bàn tay lên tay cầm mô-tô để điều khiển xe lên đường cầu bệ vòng cung có mái che. Cảnh biểu diễn độc đáo hơn diễn xiếc ấy gây ấn tượng sâu sắc nơi tôi, cậu bé trưởng lớp tiểu học xuất sắc của thủ đô, cho đến tận ngày nay.

Năm lớp Ba (tức hiện nay gọi là lớp 3) , phần thưởng tôi nhận được từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một chuyến nghỉ mát 10 ngày ở Vũng Tàu. Tập trung tại Trường Tiểu Học Đinh Tiên Hoàng (nay là Trường Tiểu Học Nguyễn Thái Sơn, 12 Huỳnh Tịnh Của, Phường 8, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh) là 500 học sinh tiểu học toàn thủ đô. Mỗi ngày tại Vũng Tàu tất nhiên là có những buổi tắm biển và mỗi tối có sinh họat lửa trại. Những lúc tắm biển, nhiều trăm học sinh nô đùa dưới sự quản lý giám sát cực kỳ khủng khiếp của đội ngũ nam giáo viên: toàn bộ mấy chục thầy mặc quần đùi dàn hàng ngang mỗi người cách nhau khoảng 5 mét, tay giang ngang, nước đến ngang trên rốn dưới ngực, đưa lưng ra biển, mắt quét qua lại trong cung thị-trường-hình-múi-cam-25-độ trước mặt, không bao giờ rời vị trí trong suốt 3 tiếng đồng hồ từ 8 giờ sáng đến 11 giờ dưới ánh nắng gay gắt, hình thành bức-tường-biên-giới-Mỹ-Mê không thể vượt qua của học sinh bất kể chúng đông đến đâu, quậy phá tinh nghịch thế nào. Trên bờ là một nhóm các thầy khác đông tương tự cũng đứng dàn hàng ngang nhưng hướng mặt ra biển giám sát theo dõi các hoạt động trong cung thị-trường-hình-múi-cam-25-độ trước mặt để bảo đảm hai điều rằng không bất kỳ một học sinh nào được phép lên bờ rời khu vực tắm vượt qua bức-tường-Donald-Trump và không bất kỳ một học sinh nào gặp sự cố mà không được phát hiện ngay. Chỉ sau khi có còi tập họp thì bức-tường-biên-giới-Mỹ-Mê tiến lên lùa toàn bộ học sinh lên bờ để được điểm danh xướng tên đầy đủ trước khi được đưa đi tắm nước ngọt chuẩn bị ăn trưa; bức-tường-Donald-Trump tức các thầy đứng trời trồng ba tiếng đồng hồ trên bờ mới được phép nhảy ùm xuống nước bơi lội hay tắm táp tí chút trước khi đi ăn trưa sau mọi người.

500 học sinh tiểu học xuất sắc (chỉ mỗi trường Phan Đình Phùng thôi là đã có 5 cấp lớp, mỗi cấp lớp có 10 lớp, mỗi lớp có một học sinh xuất sắc, vị chi 50 học sinh được phần thưởng),10 ngày tuyệt đối an toàn an ninh an bình sinh hoạt vui chơi ở Vũng Tàu: tắm biển, thăm các thắng cảnh, sinh hoạt lửa trại. Không bất kỳ tai nạn đuối nước. Không bất kỳ tai nạn thương tật do đi xe ra Vũng Tàu, do leo núi, do rối loạn tiêu hóa. Không bất kỳ học sinh nào bị bỏ quên chết ngạt trên xe. Không bất kỳ học sinh nào bị bắt cóc hay mất tích. Không bất kỳ học sinh nào bị chó cắn hay sứa đốt hoặc cá mập ngoạm. Không bất kỳ tai nạn xâm hại tình dục nào. (Má tôi hiện vẫn còn đủ minh mẫn để thuật lại chi tiết đầy “danh dự” này của tôi và về việc em trai tôi khóc nhớ tôi đến độ Ba Má tôi phải đưa chị và hai em của tôi ra Vũng Tàu thăm tôi và tôi là học sinh duy nhất có gia đình đến thăm, được một thầy giáo làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa tôi rời trại học sinh trong 60 phút để đến khu lễ tân giao tận tay Ba Má tôi có ký nhận đầy đủ).

Tại bị vì bởi Việt Nam Cộng Hòa có quy chế quy định quy trình quy chuẩn bắt buộc trường học, nhà giáo, nhà xe, khách sạn, nhà hàng, v.v., ư?

Không hề!

Cái duy nhất thực sự hiện hữu ngập tràn tại Việt Nam Cộng Hòa là: nền nếp gia giáo thiên Khổng cả trong tư duy và thực tế đời sống, cái nền nếp mà các Đạo Chúa kiêng sợ e sợ khiếp sợ vì chính cái nền nếp ấy là bức tường thành thép chặn ngăn vĩnh viễn sự lớn mạnh thống lĩnh của các Đạo Chúa tại Việt Nam. Gia giáo thiên Khổng hình thành nhân cách con người rằng làm người phải có tinh thần trách nhiệm với bản thân/gia đình/xã hội, làm người phải có lòng tự trọng, làm người phải có ý thức về cùng hành động cụ thể trong bảo vệ người yếu thế, làm người phải biết trọng danh dự, và làm người phải có lương tâm chức nghiệp – bất kể giàu nghèo, bất kể chức vụ, bất kể nghề nghiệp, bất kể học vấn, vì rằng tiền bạc cao như núi/quyền lực cao ngất/nghề cao vời/văn bằng cao cấp hoàn toàn không hình thành nên gia giáo. Người gia giáo có đặc quyền tự cao để khinh bỉ khinh khi khinh thường khinh miệt người đẳng cấp cao không-gia-giáo. Người gia giáo luôn hiểu rằng người yếu thế là những công dân lương thiện nào là trẻ em, phụ nữ, người già, người khuyết tật, người nghèo, người gặp tai họa, người bị hại, người chưa xóa nạn mù chữ, người sắc tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, người neo đơn. Không gia giáo chỉ là thứ vất đi trong mắt mọi người có gia giáo. Chính cái gia giáo thiên Khổng ấy đã hình thành nên nhân cách các thầy giáo, các tài xế, các đầu bếp và phụ bếp, và mọi người từng tham gia tổ chức chuyến nghỉ mát ấy ở Vũng Tàu vốn là phần thưởng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa dành cho các “nhân tài tương lai của đất nước”. Bảo vệ học sinh vì (a) học sinh là người yếu thế, (b) học sinh là tương lai đất nước, (c) đó là bổn phận và trách nhiệm của tất cả các nhà giáo, (d) đó là bổn phận và trách nhiệm chỉ của nhà trường chứ không phải kiểu hiện nay kêu gào lôi kéo cả bổn phận và trách nhiệm của phụ huynh chẳng khác nào hãng hàng không phục vụ hành khách 14 tuổi trong máy bay nhưng vẫn gào lên rằng phụ huynh đang ở nhà cũng phải liên đới chịu trách nhiệm với sự an toàn của chuyến bay, (e) đó là bổn phận và trách nhiệm của lái xe và đơn vị cung ứng dịch vụ xe đưa đón và của đơn vị cung cấp suất ăn, và (f) đó là bổn phận và trách nhiệm của luật pháp và toàn xã hội.

Gia giáo không bao giờ được hình thành từ các “vận động tuyên truyền giáo dục” của bất kỳ cơ quan đoàn thể chính trị nào đang ngốn vô số tỷ USD của Nhà Nước Việt Nam.

Những người dân có gia giáo là nhân tố cho sự cường thịnh của quốc gia.

Việt Nam Cộng Hòa đã đại bại, bị xóa tên hoàn toàn khỏi bản đồ thế giới ngày 30-4-1975, không phải vì thiếu vắng người dân gia giáo. Sự tồn vong của bất kỳ quốc gia nào lại lệ thuộc vào ít nhất 5 nội dung không thể tách rời của (a) chủ trương, chính sách, tham vọng, tư duy của người đứng đầu; (b) các tác động ngoại lai mang tính địa chính trị, (c) các tác động ngoại lai mang tính khống chế chủ đạo bất kể cái ngoại lai ấy là siêu cường thế tục hay thế lực tôn giáo, (d) các tác động ngoại lai mang tính thời cuộc, và (e) các tác động nội tại mang tính “thiên định” hoàn toàn không thể không nhìn nhận. Ở Việt Nam còn có nội dung thứ 6 rất đặc thù cho sự tồn vong của quốc gia: nguồn nhân lực gia giáo trong nhân dân.

Chính những lãnh đạo không gia giáo ở Việt Nam Cộng Hòa đã tự nguyện đặt bản thân dưới sự khống chế của thần quyền tôn giáo ngoại laisiêu cường thế tục ngoại bang để rắp tâm nương theo đó mà tạo nên cơ nghiệp đế vương nội địa, khiến dân tộc điêu linh và “đất nước Việt Nam Cộng Hòa” điêu tàn bị diệt vong, gây hại cho những người dân gia giáo lẽ ra đã là nhân tố cho sự cường thịnh của quốc gia Việt Nam thống nhất từ hai hiệp định Geneve 1954Paris 1973.

2- Sự Thật Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Bài Hiền Tài đã nói rõ về nội hàm này. Ở đây chỉ cần nêu cái cốt lõi rằng chính vì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có rất nhiều người dân thuộc gia đình gia giáo mà lịch sử Việt Nam đã được khắc ghi dấu ấn với sự xuất hiện của thánh nhân Hồ Chí Minh và bao triệu liệt sĩ và vô số nhân tài xây dựng nên đất nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa làm nền tảng cho một Việt Nam thống nhất mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của thời đại mới.

Điều nhất thiết phải ghi rõ nơi đây là (a) nhờ thuộc gia đình gia giáo mà Hồ Chí Minh cùng Võ Nguyên Giáp và các anh tài anh thư khác đã ái quốc, vệ quốc, cứu quốc, và kiến quốc; và (b) đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công là nhờ có sự hy sinh xương máu của bao triệu người dân Việt Nam gia giáo cũng như sự hy sinh của bao triệu bậc làm cha làm mẹ của những anh hùng gia giáo vị quốc vong thân ấy.

Sự thật thật nhất ở đây là: đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công không bao giờ kèm theo quy định quy trình quy chuẩn rằng chỉ có Đảng Viên Cộng Sản mới được tổng động viên, mới được phép cầm súng đứng trong hàng ngũ quân đội, mới có quyền hy sinh và trở thành liệt sĩ.

Sự thật thật nhất ở đây là: đại cuộc chống xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất giang san, và chống xâm lăng thành công cũng không bao giờ kèm theo quy định quy trình quy chuẩn rằng nếu không là Đảng Viên Cộng Sản thì phải có tinh thần quốc tế vô sản Mác-xít Lê-nin-nít mới được tổng động viên, mới được phép cầm súng đứng trong hàng ngũ quân đội, mới có quyền hy sinh trở thành liệt sĩ.

Chính những người dân có gia giáo thiên Khổng – trong đó có cả Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, và Trần Đại Nghĩa – mới là nhân tố quyết định sự hình thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là vấn đề chân lý cốt lõi mà Hoàng Hữu Phước là người duy nhất trên thế giới nhận diện được và kiên quyết đề ra như nhận thức mang tính khuôn khổ nhất thiết phải có nơi người Việt nào thực sự yêu nước và yêu chân lý.

3- Sự Thật Việt Nam Ngày Nay

Việt Nam ngày nay có 3 điểm yếu.

a) Điểm Yếu Khách Quan:

Có một việc mọi người có thể đã biết – vì Hoàng Hữu Phước cứ lập đi lập lại bao lần trên nhiều blog trong hơn 30 năm qua – rằng Việt Nam lẽ ra đã sớm cường thịnh nếu như Việt Nam không gặp thằng đại ngu đầnthằng đại ác gian.

Mỹ là thằng đại ngu đần mà theo Hoàng Hữu Phước đã nêu thì lẽ ra Mỹ đã nên ngay sau 30-4-1975 đeo theo ve vản o bế Việt Nam, lăng xăng xum xoe “bồi thường chiến phí”, thay vì tập trung đầu tư vào Tàu và bao vây cấm vận Việt Nam, thì giờ đây cách chi mà có 3 vấn nạn của (i) Tàu trở thành cường quốc, (ii) Tàu làm bá chủ Biển Đông, (iii) Việt Nam lẹt đẹt về kinh tế khó thể tự bảo vệ được thân thì cách chi làm tiền phương che chắn cho khu vực ASEAN vốn đa số là đồng minh trước đây của Mỹ ở Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO tức cái tương tự Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO, (iv) Tàu lấn lướt Mỹ về hải quân trên phạm vi toàn cầu, và (v) Tàu sẽ chiếm Úc Đại Lợi từ hợp đồng thuê Cảng Darwin trong 99 năm.

Còn thằng đại ác gian là thằng Tàu. Ở đây chỉ nêu tóm tắt: Việt Nam đã bị thằng đại ngu đần làm cho khốn đốn một thời gian dài, và đang bị thằng đại ác gian làm cho khốn nạn chừng nào thằng Tàu chưa bị tiêu diệt.

Điểm yếu thứ nhất của Việt Nam là vậy đấy.

b) Điểm Yếu Chủ Quan:

Có một việc mọi người sắp biết – vì Hoàng Hữu Phước đang viết ở đoạn này đây rằng tài sản trên bình diện trị quốc phải luôn được hiểu bao gồm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, tài sản truyền thống, và tài sản tinh thần. Chỉ xem vật chất là tài sản, thì việc này sẽ trở thành điều ngu xuẩn tột cùng.

Sau khi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, thu giang sơn về một mối, những người cộng sản Việt Nam đã không hề đập phá đốt bỏ các dinh thự, các kho vàng, các kho tiền, các kho tàng, các kho vũ khí đạn dược, các cơ sở hạ tầng bao gồm các phi trường, hải cảng, cùng các chiến xa, các chiến hạm, các chiến đấu cơ, các đài vi-ba, v.v. và v.v. – tức những thứ thuộc tài sản vật chất tịch thu được từ sự thất trận của quân thù.

Thế nhưng, tại Thành Phố Hồ Chí Minh ngoài một số trường hợp bất khả kháng mà Ủy Ban Quân Quản phải chấp nhận tiếp tục sử dụng các giảng viên đại học Việt Nam Cộng Hòa nào chưa vượt biên, còn một lãnh đạo Đảng chịu lắng nghe ý kiến tư vấn của một nhân vật Việt Nam Cộng Hòa là Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh (Phó Thủ Tướng và Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa, người khi đã trở thành nghị sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa VIII đã chủ động đăng ký cuộc hẹn rồi đích thân tìm đến thăm Hoàng Hữu Phước năm 1990 để lắng nghe các nhận định của Hoàng Hữu Phước về tương lai khả dĩ khả thi nào của đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam – như đã thuật chi tiết trong một bài viết trước đây trên blog này) thì ngay sau 30-4-1975 đã có việc tịch thu đốt bỏ hàng triệu sách vở tài liệu thuộc quyền sở hữu của cá nhân người dân ở Thành Phố Hồ Chí Minh nghĩa là sách vở tài liệu đã không được xem là tài sản dù cân ký được và dùng làm chất đốt nấu ăn được; 5 năm tiếp theo chứng kiến sự cho nghỉ việc hàng loạt những nhân sự Việt Nam Cộng Hòa ngay cả ở những ngành kỹ thuật tân kỳ (như kiểm soát không lưu với lý do bảo đảm an ninh khu vực quốc phòng trọng yếu) hay kế toán tài chính (với lý do phải theo hệ thống kế toán hạch toán xã hội chủ nghĩa và sử dụng đồng rúp-đô-la) hoặc sản xuất kinh doanh (với lý do không chấp nhận hình thành tư bản bóc lột) thậm chí xử tử ngay trong vài tuần đầu giải phóng những doanh chủ sản xuất công nghiệp (với lý do tư sản mại bản phục vụ đế quốc Mỹ), và tiến hành đưa các gia đình tư sản đi “Vùng Kinh Tế Mới”. Những sự thật này cho thấy tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất/kinh doanh/thương mại/thương trường đã không được xem là tài sản.

Điểm yếu thứ nhì của Việt Nam là vậy: cùng với sự không xem trọng các tài sản tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm của chính quyền; sự ra đi ồ ạt của những người Việt vượt biên và của những người Việt gốc Hoa theo lời tuyên truyền của Giặc Tàu – tức hệ thống tuyên truyền của Việt Nam đã thất bại khiến Việt Nam mất đi nguồn tài sản quý báu của tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm cùng hệ thống sản xuất và mạng lưới phân phối có liên quan đến hoạt động tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm ấy, khiến Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn hơn.

c) Điểm Yếu Ý Thức Hệ:

cùng với việc chính quyền đã không xem trọng các tài sản phi vật chất như tay nghề, kiến thức, kinh nghiệm, Việt Nam tự gây thêm cho mình một điểm yếu khác. Nếu như hai điểm yếu khách quan và chủ quan nêu trên chỉ làm chậm đi sự phát triển của Việt Nam mà theo thời gian thì Việt Nam vẫn có thể và thực sự đã vượt qua được, thì điểm yếu thứ ba lại tiềm tàng mối đe dọa đến sự sinh tồn của cả nền chính trị mà hiện nay hậu quả đã quá nhãn tiền: ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa về đạo đức cách mạng đã trở thành lấn lướt, độc tôn, đè bẹp, tiến đến xóa triệt tư duy về đạo đức gia phong và đạo đức cá nhân thiên Khổng kiểu “kiến ngãi bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” bị dán nhãn “đạo đức tiểu tư sản”.

Điểm yếu thứ ba của Việt Nam, do đó, là sự biến mất của đạo đức gia phong thiên Khổng, khiến ngay cả cán bộ cao cấp của Đảng dù là tướng lĩnh hay bộ trưởng chính phủ cũng trở thành tội phạm tham nhũng/tham ô/thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với số lượng con người đông và khối lượng tài sản gây hại khổng lồ, còn công chức và người dân đa số không còn sở hữu các đức tính mà không có nó thì Quốc Hội Việt Nam sẽ phải chi hàng tỷ tỷ USD để đài thọ việc đề ra hàng tỷ tỷ quy định quy chuẩn quy trình cho từng hoạt động một trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và sinh hoạt xã hội quốc gia, từ sản xuất tăm tre xỉa răng đến sản xuất xe bus đưa đón học sinh, từ bưng bê cà phê đến nhận học sinh lên xe đưa đón, từ cứu người bị nạn đến giúp người bị hại, từ đỡ đẻ đến cúi đầu chào chồng sản phụ, từ dẹp xích lô đạp đến cách tính tiền du khách Nhật, từ quay clip cảnh đánh nhau xé quần xé áo đến cảnh ở truồng dưới ao sen, vân vân và vân vân. Trong khi chỉ cần để yên cho các gia đình phát huy phát triển gia giáo thiên Khổng, Việt Nam lẽ ra đã không phải mất tiền, không bị mất người, không bị ô danh, và sẽ không mất chế độ.

F) Dẫn Chứng Hoàng Hữu Phước

Khác với toàn bộ người dân Việt Nam du lịch nước ngoài luôn chụp ảnh với các biểu tượng các nơi đến để chứng minh bản thân từng đến các nơi ấy, tôi chỉ chụp những ảnh đặc thù về sinh hoạt các nơi đến để làm tư liệu cho các bài viết trong tương lai. Tại Singapore, tôi chỉ chụp hình với kỳ hoa dị thảo trong Vườn Bách Thảo chứ không chịu chụp hình – và thậm chí chả thèm đến tận nơi dù chỉ để xem chơi – với tượng cái con quái thú đầu sư tử mình cá vì cho rằng qua hình ảnh xem trước khi đi thì đó là một tượng tầm thường, rẻ tiền, phi nghệ thuật, cực kỳ quê mùa thô thiển xấu xí do nơi miệng con quái vật đó nhú chìa ra cái ống nước bằng kẽm đen đúa loại phi 1000 ly từ đó nước phun ra xối xả. Cái con ấy mà bơi đi đâu được, nên Singapore chỉ còn cách dậm chân tại chỗ mà thôi với cái nền chính trị độc tài tàn bạo công khai của nó.

Tại New Zealand năm 2014 tôi chụp các bức ảnh sau ở Thủ đô Wellington vì tôi biết 5 năm sau tôi sẽ cần đến chúng để “lên lớp dạy đời” về Sự cố Gateway Hà Nội 2019:

Một trường tiểu học đưa học sinh tham quan Viện Bảo Tàng Quốc Gia New Zealand Te Papa Tongarewa . Trong bức ảnh, giáo viên mang ba-lô xanh là người đứng trụ tại điểm đó ở bãi đỗ xe để điểm danh từng nhóm học sinh khi giao quân và khi thu quân, và để làm mốc định vị xuất phát cũng như mốc định vị tập trung trở lại của các nhóm. Một nhóm tham quan xong được giáo viên đưa về nơi tập trung và chúng ta thấy quân số có 10 học sinh. Khi nhóm thứ nhì trở ra, ta thấy có thêm một giáo viên và quân số học sinh biến thành 20. Và cứ thế mà gia tăng lên 100 học sinh. Suy ra: mỗi nhóm 10 học sinh do 1 giáo viên chịu trách nhiệm giám quản. Suy ra: các học sinh “Tây” rất ngăn nắp và tuyệt đối kỹ luật, không như học sinh “Ta” mà Hoàng Hữu Phước đã miêu tả trung thực trong một bài viết trước đây rằng đám học sinh hàng trăm đứa học thể dục trong khuôn viên Sân Vận Động Quân Khu 7 (nơi “đóng đô” của công ty của Hoàng Hữu Phước trước 2009) đã la hét ồn ào điên loạn nhấn chìm tiếng la hét ào ồn loạn điên của mụ giáo viên thể dục suốt mấy tiết dạy và học thể dục ở đó, nơi mà thầy không ra thầy và trò chẳng ra trò do mất biệt cái tính chuyên nghiệp của người dạy và cái gia giáo của người học. Sự quan tâm của ngôi trường của đám đông người ngợm này ắt đặt vào chỗ khác.

Giáo viên New Zealand tất nhiên chớ biết “gia giáo Thiên Khổng” mà cái ông Hoàng Hữu Phước vớ vẩn ở Việt Nam nói đến là cái quái gì. Họ cũng chả màng đến cụm từ đao to búa lớn của “tinh thần trách nhiệm” mà người Việt hay rao giảng. Cái duy nhất họ có là tính chuyên nghiệp mà “trách nhiệm” là một bó buộc khắng khít mang tính định lượng không thể tách rời khỏi tính chuyên nghiệp. Còn ở Việt Nam, tính chuyên nghiệp nghĩa là có bằng cấp/chứng chỉ hành nghề có đóng dấu tròn kèm dán mã vạch và mã QR; còn “trách nhiệm” là một “tinh thần” mang tính định tính, ở dạng một lời kêu gọi, hoặc như chiếc phao làm cái cớ cho một đợt rút tiền mới từ tiền thuế của dân cho một tân siêu dự án tuyên truyền giáo dục mỗi năm song chưa bao giờ có báo cáo tổng kết thành tích đạt được từ sự tiêu xài ngân sách cho đại cuộc giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức về tinh thần trách nhiệm cứ như thể cái tinh thần ấy của Việt Nam đang ở dưới đáy Rãnh Mariana sâu muôn trượng ở Tây Thái Bình Dương mà mỗi năm cái tinh thần trách nhiệm được nâng cao 1 mi-li-mét nhờ đầu tư tỷ đô của Nhà Nước Việt Nam vậy.

Chính bởi vừa khác nhau trong tư duy từ chương về tinh thần trách nhiệm như nhà giáo New Zealand và Âu Mỹ, và thiếu vắng nền nếp gia giáo thiên Khổng kiểu Việt luôn chứa đầy ắp tinh thần trách nhiệm, mà ở Việt Nam vài năm trước tại Thành Phố Hồ Chí Minh một trường trung học nọ đưa mấy chục học sinh tắm biển Cần Giờ bị chết đuối mấy trò, còn năm nay ở Hà Nội một trường “quét té” kia bỏ sót một học sinh chết ngạt trong xe đưa đón. Phải chăng các nhà giáo nam nữ thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đến Cần Giờ lo khui các thùng bia mang theo để nhậu với cua ghẹ mực khô? Phải chăng giáo viên thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lo xem các video clip đánh ghen tuột quần lòi vú trên điện thoại thông minh để ngu đần bỏ sót học sinh? Và còn bao vụ đánh đập dã man học sinh, hiếp dâm học sinh, để học sinh chết vì khí độc CO2 sau hai ngày cuối tuần bị nhốt trong toilet? Cần nhắc lại một điều mang tính sự thật lịch sử mà chỉ có Hoàng Hữu Phước biết chính xác (do làm Trưởng Lớp suốt 5 năm tiểu học và 7 năm trung học dưới thời Việt Nam Cộng Hòa) và khẳng định (do chỉ chuyên nói về sự thật lịch sử)rằng trong suốt thời gian tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa, toàn Miền Nam Việt Nam không hề có Ngày Nhà Giáo hay Ngày Thầy Thuốc quái quỷ gì cả. Và đó là lý do Hoàng Hữu Phước luôn buộc tội các “Ngày” đã gây ra sự sa đọa suy đồi trong xã hội Việt Nam ngày nay.

Các lãnh đạo Việt Nam ngày nay nếu có đội ngũ nhân lực “ra hồn” biết trân trọng những điều tâm huyết Hoàng Hữu Phước nêu ra ngày nay rồi đúc kết dâng lên lãnh đạo đọc qua để lãnh đạo tâm tư ngậm ngùi than tiếc bản thân họ không thể làm gì thì vẫn may ra có thêm những hiểu biết chiến lược kiến nhân và dụng nhân mà họ còn thiếu vắng, đồng thời nhận ra hiện trạng thực tế Đảng Loạn để may ra có những thay đổi nào đó.

Chỉ có lãnh tụ Việt Nam trăm năm sau nếu có đội ngũ nhân lực “ra hồn” biết trân trọng những điều tâm huyết Hoàng Hữu Phước nêu ra trăm năm trước rồi đúc kết dâng lên lãnh tụ đọc qua rồi lãnh tụ tâm đắc hừng hực thực hiện các thay đổi căn cơ  thì đương nhiên Việt Nam cường thịnh.

Có ngày Hoàng Hữu Phước sẽ là cái tên mới mà Nhà Nước đặt thay cho trường Tiểu Học Phan Đình Phùng của Thành Phố Hồ Chí Minh nơi mà phương tiện đi lại lúc ấy sẽ toàn bằng “bus ca-nô” cho học sinh vừa mặc áo phao vừa nghe cô giáo áp tải hướng dẫn cách câu cá đuối dưới nước mà không bị đuối nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Sử Nghiên, Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng-đẳng ở Việt-Nam, Nhà Hoạt-động Chính-trị Cộng-sản Dân-tộc Thiên Khổng

A- Ghi chú: Quý ông/bà nào xưa kia có tham gia dự tiệc Tết Trung Thu tại Dinh Độc Lập và chuyến nghỉ mát 10 ngày ở Vũng Tàu theo phần thưởng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu dành cho học sinh tiểu học xuất sắc của Thủ đô Sài Gòn, xin vui lòng xác nhận trên Facebook của quý vị rằng các chi tiết có liên quan trên là đúng. Lý do yêu cầu: (1) các thư báo của trường và giấy mời của Phủ Tổng Thống tôi giữ từ nhỏ đã bị mối mọt phá hủy hoàn toàn, và (2) bọn Kiêu Báo ở Việt Nam có thể nhao nhao rằng tôi tạo tin xạo Fake News để “câu view”.  Xin chúc sức khỏe và xin cảm ơn nhiều.

B- Tham khảo theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài:

1) Hiền Tài: Hiền Tài  22-5-2019

2) Tương Lai Chính Trị Việt Nam: Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước – Bài Số 2  13-6-2019

3) Tiên Tri Thấu Thị

Hoàng Hữu Phước Thấu Thị Aitee Việt Nam  08-3-2009

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  01-01-2011

Hoàng Hữu Phước Đã Nói Với Thế Giới Về Bitcoin 20-12-2017

Hoàng Hữu Phước Đã Gián Tiếp Dìm Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc Xuống Bùn Nhơ Vạn Đại 20-6-2018

Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước – Bài Số 2  13-6-2019

Lại Chậm Chân 11-6-2019

4) Thùng Nước Đá: Thùng Nước Đá và Blog 14-3-2013

5) Biết Lo Trước Cái Lo Của Thiên Hạ: “Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân” 11-5-2018

6) Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

7) Võ Nguyên Giáp: Đại Tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

8) Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam  11-9-2015

9) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn 11-10-2017

10) Chọn đặt những người-không-được-dân-biết-đến-hoặc-vi-phạm-pháp-luật-và-không-xứng-đáng: Chống Trọng 12-7-2019

11) Danh Sách Bầu Cử Quốc Hội: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

12) Hoàng Hữu Phước: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh 02-10-2014

13) Loạn Kiêu Báo: Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  (Loạn Kiêu Báo) 05-8-2016

14) Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

15) Ả Giáo Thạc Sĩ Họ Phết: Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

16) Thằng Giáo Tiến Sĩ Họ Trần: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

17) Đi Tắt Đón Đầu: Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

18) Thạc Sĩ Tiến Sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

19) Tuyên Truyền: Rượu

20) Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

21) Đặc Khu Kinh Tế: Luật Đặc Khu – Phần 2  01-10-2018

22) Loạn Kiêu Đảng: Khi Cựu Quan Chức Cầu Cứu (Loạn Kiêu Đảng) 06-10-2016

23) Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: Nguyễn Văn Thiệu Trong Tương Quan Với Những Nhân Vật Lừng Danh Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới  01-5-2019

24) Phản Đảng: Khi Cựu Quan Chức Cầu Cứu (Loạn Kiêu Đảng) 06-10-2016

25) Chống Việt: Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng 09-6-2008

26) Luôn Thất Bại: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước 20-5-2019

27) Gia GiáoGia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần 18-12-2017

28) Chính cái nền nếp ấy là bức tường thành thép chặn ngăn vĩnh viễn sự lớn mạnh thống lĩnh của các Đạo Chúa tại Việt Nam:: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis 01-8-2017 (Bản Tiếng Anh: Letter to His Holiness Pope Francis August 1, 2017)

29) Mỹ Là Thằng Đại Ngu Đần: EU và Darwin 22-3-2016

30) Cảng Darwin: EU và Darwin 22-3-2016

31) Thằng Đại Ác Gian Là Thằng Tàu: Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại  25-6-2016

32) Sách cân ký được và dùng làm chất đốt nấu ăn: Tôi Và Bạn Nguyễn Minh Luân  05-10-2018

33) Ở truồng dưới ao sen: Ở Truồng Với Sen  22-6-2019

34) Singapore chỉ còn cách dậm chân tại chỗ mà thôi với cái nền chính trị độc tài tàn bạo công khai của nó: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore 23-02-2016

35) Sự quan tâm của ngôi trường của đám đông thầy trò này ắt đặt vào chỗ khác: Đồng Phục Học Sinh 30-01-2016

36) Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

37) Nhà Giáo Nam Nữ Thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Nhà Giáo 25-11-2017

38) Ngày Nhà Giáo: Ngày Nhà Giáo Việt Nam  20-11-2018

39) Hoàng Hữu Phước luôn buộc tội các Ngày đã gây ra sự sa đọa suy đồi trong xã hội Việt Nam ngày nay: Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11-2018

40) Thay Đổi Căn Cơ:

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam 02-02-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Luật Đặc Khu 20-7-2018

41) Đảng Loạn:

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn    14-12-2016

Hoàng Hữu Phước Nhận Xét Nhỏ Về Nội Tình Lớn Tổ Chức Chính Trị Việt Nam 01-12-2018

Hoàng Hữu Phước Đã Từng Nói Về Hai Vấn Đề Quan Trọng Của Chính Trị Việt Nam: Báo Của Đảng Và Trí Thức Của Đảng 10-5-2019

42) Áo Phao: Áo Phao 06-6-2016

43) Hướng Dẫn: Hướng Đạo Bài viết gởi Báo Tuổi Trẻ năm 1995

44) Nhà Giáo-dục Duy-nhất Thượng Đẳng: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai 09-4-2015

Hy Vọng

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-7-2019

Hy vọng trong tiếng Anh là Hope.

Hope là tên đoàn thiện nguyện y khoa Mỹ hàng năm đến Việt Nam thực hiện các công tác khám chữa bệnh cho dân nghèo.

Hope do một trường đại học y khoa Mỹ thành lập. Hàng năm Hope đưa y sĩ và sinh viên y khoa của trường đi làm công tác thiện nguyện khám chữa bệnh phối hợp với thực tập y khoa. Hai nơi năm nào Hope cũng có chuyến đến công tác là Châu Phi và Việt Nam. Mỗi đoàn có hàng trăm thành viên gồm giáo sư bác sĩ và sinh viên. Mỗi thành viên phải đóng tiền để được tham gia.

Bức hình trên là khi Hope đến Việt Nam tháng 6-2019 này.

Cháu tôi có mặt trong bức hình trên.

Chúng tôi đón chờ cháu từ đầu năm. Đây là lần thứ năm cháu về Việt Nam, với lần đầu khi cháu mới lên sáu tuổi, và Chị Hai của tôi phải cột dây da cột từ ngang thắt lưng cháu nối với ngang thắt lưng chị để đề phòng cháu đi lạc hay bị bắt cóc giữa đám đông ở các phi trường. Cẩn trọng tuyệt đối là từ gene di truyền của giòng họ Hoàng chúng tôi – thế nên, thật tức cười và ngu xuẩn khi có đám nhà báo tức cười và ngu xuẩn đã dám bảo tôi bất cẩn khi nói “dân trí thấp”, chống “Luật Biểu Tình”, và viết “Tứ Đại Ngu”.  Đứa nào động đến cháu tôi sẽ bị chị tôi ra tay ngay đập cho vỡ mặt đến độ công an Việt Nam tài ba cũng không thể nào nhận diện được kẻ đó qua Chứng Minh Nhân Dân của hắn còn chị tôi từ “phòng vệ chính đáng” ắt bị kết tội “phòng vệ quá đáng” bởi luật pháp Việt Nam. Đứa nhà báo nào dám nhét chữ vào mồm tôi và kêu gào đòi Quốc Hội phải bãi nhiệm tôi sẽ bị tôi tiêu diệt như một lẽ đương nhiên.

Suốt một tuần ở Việt Nam, cháu làm việc thiện nguyện tại vài tỉnh ở Miền Nam, tối về đến hotel phải cùng tập thể ngồi phân chia gói ghém các cơ số thuốc để phát cho dân nghèo ngày hôm sau. Cháu chỉ có thể gởi tôi vài tin và vài hình ảnh qua phương tiện Viber. Cháu nói tội cho dân nghèo quá vì cháu khám phụ khoa – dù chuyên ngành của cháu là gân khớp – mà phòng khám trống hoác không có cửa kín rèm che gì cả. Cháu than thở là hôm trước đoàn khám bịnh cho hơn 200 dân, đến chiều bị phía Việt Nam thúc hối phải lên đường về Thành Phố Hồ Chí Minh, trong khi còn khoảng 50 dân nghèo đến chờ từ sáng sớm nay phải ra về mà không được y sĩ Mỹ khám phát thuốc, khiến lòng cháu bất an trên xe suốt đường về. Cháu hứa sẽ xin phép giáo sư trưởng đoàn để cháu được rời khách sạn lúc 22 giờ chạy đi thăm Cậu Ba chừng 30 phút – tất nhiên chẳng trưởng đoàn nào lại phản quản trị nơi đất khách quê người để cho phép như thế cả.

Việt Nam đối với cháu tôi không là một quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản.

Việt Nam đối với cháu tôi đơn giản nhất và có ý nghĩa nhất: là địa điểm duy nhất trên địa cầu mà cháu lưu luyến mến thương nhung nhớ phải quay về vì tại địa điểm duy nhất đó có Bà Ngoại và các cậu các dì – nhất là có Cậu Ba Hoàng Hữu Phước.

Các công dân Hoa Kỳ gốc Việt nếu sở hữu cùng lúc 4 điều không bao giờ tách rời của (a) có cha mẹ trí hóa cao nhân từ đạo đức Thiên Khổng cao, (b) có học vấn giáo dục bản lãnh cao, (c) có tổ tiên giòng họ toàn những người Việt yêu nước có trí hóa cao nhân từ đạo đức cao đang sinh sống làm việc liêm chính ở Việt Nam, và (d) có lòng tự hào về thân nhân của mình đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam, sẽ không bao giờ lảm nhảm chống Cộng tức chống Việt, nhảy loi choi chống Cộng tức chống Việt, hay về Việt Nam tham gia “biểu tình” sảng mê nhơn quyền dã quyền, dân chủ dân chưởi, tự do khỉ gió, để khi bị tóm thì vợ con đồng loại bên Mỹ tru hú dưới trăng đòi Việt Nam phải “thả ngay”.

Các bạn nghĩ sao về đoạn đối thoại sau đây giữa hai cậu cháu mà các bạn hãy chỉ nên cho đó là sản phẩm của tưởng tượng:

Cháu: Phải chi con làm bác sĩ ở đây.

Cậu: Đâu có gì khó đâu con. Thiếu gì bịnh viện nước ngoài và bịnh viện tư nhân ở đây. Chuyên khoa của con là một ưu thế. Biết tiếng Việt càng là một lợi thế.

Cháu: Mấy chỗ đó đâu dành cho dân nghèo. Con muốn khám chữa bịnh giúp đỡ bịnh nhân nghèo Cậu à.

Cậu: Thì con mở phòng mạch khám chữa bịnh buổi tối miễn phí cho dân nghèo, có sao đâu?

Cháu: Nhưng phòng khám nếu ở địa phương của bịnh viện nước ngoài hay bịnh viện tư nhân nơi con làm việc, vậy chỉ có dân nghèo thành thị được giúp, trong khi dân nghèo ở vùng xa vùng sâu khổ hơn thì làm sao tới mình được cậu?

Cậu: Thì con xin vô các bịnh viện Nhà Nước ở các tỉnh nghèo.

Cháu: Ở Việt Nam tỉnh nào nghèo vậy Cậu Ba?

Cậu: À hèm! Thật ra thì…tỉnh nào cũng báo cáo cuối năm thành công hoành tráng cả. Còn dân nghèo của họ thì hoặc tự do di dân kiếm ăn nơi khác hết rồi hoặc chờ các chương trình xây nhà xây cầu của các đài truyền hình khắp nơi tự do đến giúp chứ chính quyền địa phương chỉ tập trung lo những việc lớn hơn như đòi xây phi trường quốc tế, đòi đường sắt cao tốc chạy xẹt ngang, đòi xây cảng nước sâu, đòi gởi từ vài chục tới vài trăm con em cán bộ lãnh đạo ra nước ngoài đào tạo thạc sĩ tiến sĩ về làm lãnh đạo, v.v.

Cháu: Thì họ không gởi ai ra nước ngoài đào tạo kỹ sư bác sĩ mà chỉ đào tạo quản trị thì cứ để họ quản trị ngồi trên đầu dân chúng, còn những bác sĩ như con tình nguyện làm việc vùng sâu vùng xa chắc Nhà Nước sẽ queo-cơm hả Cậu?

Cậu: Cũng hơi khó, vì họ sẽ viện cớ vùng sâu vùng xa không có trang thiết bị y khoa hiện đại, và không có tiền trả lương cho con.

Cháu: Nhưng con đâu đòi lương cao. Người ta nhận lương thế nào thì con nhận lương thế nấy. Người ta sống được thì con sống được. Còn trang thiết bị y tế thì phải có chứ cậu vì đó mới chính là cách không để dân phải về “tuyến trên”.

Cậu: À hèm. Nhưng bịnh viện Nhà Nước khó nhận con làm “nhân viên Nhà Nước” lắm, vì còn các chế độ phúc lợi dành riêng cho khu Nhà Nước nữa… Riêng về thiết bị y tế thì phải Hope tiếp con à.

Cháu: Vậy con không thể Hope được chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo mình rồi…

Cậu: Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải Hope con à. Cách tốt nhất là con phải (a) ưu tiên trả xong nợ học phí cho chính phủ Hoa Kỳ vì đó là bổn phận công dân Mỹ nghiêm túc của con, (b) giữ gìn y đức khi tác nghiệp gương mẫu ở Hoa Kỳ qua đó trau giồi tay nghề một bác sĩ tài danh, và (c) dành dụm tiền bạc khả dĩ đem về sống được ở Việt Nam khi làm việc cho bịnh viện Nhà Nước, còn (d) cậu sẽ soạn dùm con một lá đơn bằng tiếng Việt gởi Chính Phủ Việt Nam trong đó con cam đoan làm việc cho bịnh viện Nhà Nước nhưng từ chối quyền bầu cử ứng cử để không đe dọa ghế lãnh đạo của ai và từ chối đòi hỏi các đặc quyền để bản thân chỉ còn chữ Việt chứ không có cái đuôi Kiều. Có như vậy thì người dân nghèo nước Việt mới Hope có ngày được con – và các bạn Mỹ có lòng như con – trực tiếp khám chữa bịnh con à.     

Cháu: Dạ…Nhưng như vậy con có bị biến thành kẻ khả nghi không cậu?

Cậu: Sao buồn xo vậy! Phải Hope. Sao lại không nghi kẻ lãnh đạo sau này làm mất đứt mấy chục ngàn tỷ chạy trốn ra nước ngoài làm ô danh chế độ, mà lại đi nghi người khước từ các quyền lợi chỉ để làm một bác sĩ của dân nghèo? Cậu Hope ngày ấy sẽ sớm đến để cậu lúc vẫn còn sức khỏe mỗi tối có mặt ở phòng khám từ thiện của con để làm công tác phát số thứ tự, gói phát thuốc miễn phí, giữ xe, gọi xe Grab chở bịnh nhân về, gọi xe cấp cứu chuyển nhập viện, dỗ dành chơi đùa với bịnh nhi… 

Cháu: Vậy con Hope sẽ không lấy vợ nhe cậu? Con mà có vợ thì đâu còn Hope được làm việc thiện nguyện cho dân nghèo Việt Nam…

Cậu:  Cậu Hope con sẽ không Hope thế về chuyện vợ con của con.

Hope rằng đất nước này ngày càng có những điều hợp lý hơn cho những tấm lòng vàng ròng thật tập hợp về đây nhiều hơn nhằm thay thế cho những sắt phế liệu han gỉ mà Thành Phố Hồ Chí Minh và Đà Nẳng vừa đầu tư tỷ tỷ gởi ra nước ngoài đào tạo chế biến hỏng bét rước về toàn thứ gọi bằng ngôn ngữ Hán-Anh là…vô-Hope.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Luật Biểu Tình:

Luật Biểu Tình.  26-5-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.   02-4-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu 05-8-2014

Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Có lòng tự hào về thân nhân của mình ở Việt Nam: Tâm Tình Một Phụ Nữ Việt Kiều  đăng trên Aspiration của Hoàng Hữu Phước năm 2005, đăng lại trên hoanghuuphuocvietnam của Hoàng Hữu Phước ngày 20-12-2015

Đường Sắt Cao TốcĐường Sắt Tốc Độ Cao  19-11-2018

Hãy Chọn Chim

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-7-2019

Lâu nay nghe rền vang chuyện nhà ái quốc Donald Trump bị mắng vang trời là “quân kỳ thị racist” chỉ vì ra tay ngăn chặn dòng người di dân bất hợp pháp ồ ạt tràn vào nước Mỹ. Nhiều người-Mỹ-chống-Trump đăng đàn Twitter nói rằng tổ tiên họ xưa là di dân và dựng xây nên Nước Mỹ, sao nay Trump lại xô sập cái truyền thống nhân văn lâu đời ấy của Mỹ thế. Thấy nhiều người-Mỹ-ủng-hộ-Trump chưởi bới những người-Mỹ-chống-Trump không được thuyết phục lắm, tôi bèn múa bút vẫy một câu trên Twitter đốp chát bằng tiếng Anh giúp Trump rằng hỡi cái bà có tổ tiên nhập cư kia ơi, bà dốt lịch sử Mỹ rồi, vì lúc tổ tiên nhà bà trốn chạy khỏi Anh Quốc trên con tàu Mayflower đến “Tân Thế Giới” thì đói khát bơ vơ vì chưa có nước Mỹ nên làm quái gì có luật pháp nhập cư và phúc lợi xã hội mà gọi là “tìm về đất hứa”; nay bà ví von như vậy hóa ra hàng triệu người nhập cư trái phép từ Nam Mỹ đang ùa vào nước Mỹ rồi sẽ làm nước Mỹ tanh banh vì họ sẽ noi gương tổ tiên của bà mà lấn chiếm đất đai tàn sát dân Mỹ tại chỗ để lập nên một quốc gia khác chứ gì?

Gần đây nghe nhỏ nhẻ thỏ thẻ chuyện một nữ đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh được nhỏ nhẹ thổn thểnh nêu danh trên báo chí do đã phát biểu gì đó về người nhập cư vào Thành Phố Hồ Chí Minh với ý kiến đề xuất rằng phải có các rào chắn yêu cầu khắt khe về chuẩn mực văn hóa vân vân và vân vân. Không ai mắng phụ nữ ấy để tôi bênh vực bà – do tôi yêu phụ nữ mà. Chẳng ai khen phụ nữ ấy để tôi phản đối bà – do tôi ghét người ngu mà.

Với tư cách một nhà quản trị quốc gia thiên bẩm nghĩa là sá gì làm cái việc cỏn con đàm nhiệm cùng lúc ba nhiệm vụ Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh và Thị Trưởng Thành Phố Hồ Chí Minh – tức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi đã từng chứng tỏ năng lực thấu thị chiến lược cách nay đúng 10 năm qua bài viết sau trên trang mạng doanh nhân Emotino. Kính mời quý độc giả thưởng lãm.

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Hoàng Hu Phước, MIB

29-8-2009

Trong hai ngày dự Hội Nghị Xúc Tiến Đầu Tư – Thương Mại – Du Lịch Vào Thành Phố Cần Thơ (ngày 27/8/2009 chính quyền Cần Thơ tổ chức đưa gần 200 doanh chủ và nhà đầu tư tham quan các công trình trọng điểm của Thành phố và dự yến tiệc tại nhà hàng Hoa Sứ, còn Hội Nghị diễn ra cả ngày 28/8) vừa qua, cũng như những lần tham dự hội nghị tương tự nơi này nơi khác, tôi thường nghe nhắc nhiều đến cụm từ “Đất Lành Chim Đậu”; song, chắc chẳng ai biết và nghĩ đến những đòi hỏi cực kỳ ghê gớm của cái sự lành và cái chuyện đậu này.

Nhiều năm qua, đàn bồ câu xinh đẹp biểu tượng của hòa bình và nhân ái đã trở thành thảm họa cho Italy (tức nước Ý hay Ý-đại-lợi – theo cách gọi Hán-Việt ở Miền Nam trước 1975 – mà nay dùng theo cách quái gở không giống ai và vô tổ chức ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là I-ta-li-a hoặc Italia). Quảng Trường Thánh Mark ở trung tâm Venice (tức quảng trường Piazza San Marco) và nhiều nơi tương tự trên đất Ý đã từng là nơi đặc biệt khi du khách và chim câu là bạn thiết. Nhưng chính ngài Thị Trưởng Venice lại đã ra lệnh phạt bất kỳ ai cho bồ câu ăn (ở mức phạt từ 80 USD đến hơn 700 USD) cũng như đề ra kế hoạch bẫy lưới chim với hy vọng giảm thiểu số lượng nhiều chục ngàn con hàng ngày phóng uế trắng xóa trơn trợt đường phố, làm ô uế các thánh tích cung đình, vấy bẩn đầu tóc du khách, và vô tư thả vào các tách cà phê đen của khách ở các quán vĩa hè truyền thống những chất lỏng màu sữa trắng tanh hôi. Người Ý và hơn hai triệu du khách đến Quảng Trường Thánh Mark mỗi năm đã phải che dù hay mặc áo đi mưa trong tiết trời nóng bức để tránh thảm họa từ loài bồ câu mà nay họ thóa mạ gọi là chim bẩn (dirty birds). Chim khác thì không bẩn, đơn giản vì có giống nào dám sống đàn sống lũ giữa chốn đông người như bồ câu.

Tương tự, khi nói “đất lành, chim đậu” tất phải phân định rạch ròi đó là chim gì, phượng loan minh vũ Nghê Thường Khúc, hay kên kên quà quạ kêu ré điếc tai; số lượng bao nhiêu; và sự tiêu hao nguồn sống sẽ như thế nào, việc vấy bẩn đất lành của thứ mà chim đậu bài tiết sẽ tính sao. Đủ thứ, và trăm công ngàn chuyện.

Nói xa nói gần, chẳng bằng nói thiệt, rằng ở Việt Nam dường như mới duy chỉ có thành phố Đà Nẵng biết rõ thế nào là “đất lành, chim đậu”, nên ở từng ngõ phố đều có treo bảng “cấm bán hàng rong”, “cấm đánh giày”, cấm nhiều thứ, và tuyệt nhiên chớ thấy cảnh bán rong hay đánh giày – nghĩa là dân Việt ở các tỉnh thành khác đừng có mà đổ xô vào Đà Nẳng “kiếm ăn” trong nhếch nhác, nghĩa là không có chuyện người nghèo khổ sống lang thang ăn xin, ngủ bờ ngủ bụi, và phóng uế bừa bải như chim bồ câu Ý. Ấy vậy mà Đà Nẵng chỉ có thể gia giảm những tai họa xảy đến cho cái danh “đất lành” chứ không thể giữ gìn sự trinh nguyên của vùng đât tuyệt diệu, vì con người từ nơi khác đến dù là công dân tốt, không phạm pháp, tìm đến nơi “đất lành” sinh sống, vẫn có thể thả chó phóng uế ngoài đường chung, hút thuốc phà khói ra bầu không khí chung, và giở trò ma mảnh không bất hợp pháp, vân vân và vân vân. Đầu tháng 8 này, tôi công tác tại Đà Nẵng, và đã gặp những con chim làm vấy bẩn Đà Nẵng một cách hợp pháp: một phụ nữ nói giọng Bắc chèo kéo tôi trong Siêu thị Big C, luôn mồm nói nhận ra tôi là người quen xưa cũ ở …Huế hồi thế kỷ trước, sao nay lại hững hờ với chị ta đến thế, rồi xin tôi năm trăm ngàn đồng mua vé tàu lửa về đất Thần Kinh; và khi tôi đi bộ nhanh như đô lực sĩ (mà thực chất là bỏ chạy ra khỏi Big C trốn tránh một phụ nữ chim bồ câu từ đâu đáp xuống xứ sở Sông Hàn) và chui vào một chiếc taxi trước Big C để rồi chạm trán một anh tài xế bản xứ nhưng lại giống chim bồ câu nhập cư (khi xe vừa chuyển bánh, nghe tổng đài nói có khách ở một khu phố nọ có nhu cầu đi đâu đó, anh vội chộp lấy máy và nói như hét rằng anh ta đang trên đường đến đón khách ấy ngay lập tức, trong khi hotel Bamboo tôi ở bên bờ Sông Hàn gần đó mà anh tưởng tôi không biết đường nên giở trò chạy lòng vòng hết 15 phút, vừa chạy vừa trả lời bộ đàm khi tổng đài nói khách vẫn đang chờ sốt ruột rằng anh “sắp đến” rồi). Anh tài xế nói giọng người Đà Nẵng, và anh đã phải chụp giựt như thế, rất có thể vì những đàn bồ câu lạ đã đến giở các chiêu tiểu xảo giựt giành miếng cơm manh áo của anh. Tôi nín thinh, trả tiền, lòng buồn khôn tả.

Nghe nói dân Hà Thành (Hà Nội) thanh lịch. Với tư cách người được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ của đất Sài Gòn và hơn 50 năm qua chưa hề di cư khỏi Sài Gòn, tôi khẳng định dân Sài Thành (Saigon) trước đây thanh lịch (ngay cả sĩ quan quân đội Cộng Hòa đóng quân ở Quận 3 khu nhà tôi lúc nào cũng nghiêm chỉnh, tóc húi cua thật cao, quân phục cực kỳ tề chỉnh, chứ không phải như trong phim truyện luôn tạo hình ảnh sai xạo cho diễn viên để tóc dài, ria mép, đi đứng cà khệnh cà khạng, quân phục cà xộc cà xệch, bụng bia cà chang cà bang – chúng ta chiến thắng vì chúng ta kiệt xuất, mạnh hơn kẻ thù, chứ không phải vì kẻ thù chỉ biết để tóc dài, hút thuốc hơn ống khói xe lửa đang chạy, nhậu nhẹt ở quán bar với đĩ điếm, và đánh bài các-tê, chửi tục). Nay thì tôi nghĩ dân Hà Thành ắt vẫn còn thanh lịch, chứ ở đất Sài Côn (tức Sài Gòn) này khó thấy người thanh lịch.

Chim đã đậu quá nhiều lên vùng đất lành, khiến đất chẳng còn lành. Trong khi đó, những vùng nguyên sơ bảo tồn sinh quyển nhờ không có chuyện chim bầy đàn đậu kiếm ăn nên vẫn chưa được diễm phúc là đất lành; song, ấy lại là cái phước của giống nòi Vạn Xuân này vậy.

Khi có một đứa con gái xinh đẹp, người ta thường không lo che chắn, bảo bọc, bảo vệ, nên ít thấy cô gái nào xinh đẹp mỹ miều mà học lực tri thức hơn người với tư cách đạo hạnh hơn người. Dưỡng Nam Bất Giáo Như Dưỡng Lư, Dưỡng Nữ Bất Giáo Như Dưỡng Trư (có con trai mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi một chú lừa, còn có con gái mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi một ả lợn) – thánh nhân đã phán như thế trong Minh Tâm Bảo Giám – Gương Báu Soi Sáng Tấm Lòng. Có vùng đất lành, nên tập trung bảo vệ, che chắn, đầu tư chính đáng, chọn lọc kỹ càng, luật lệ nghiêm khắc đủ đầy, thì sự lành của đất may ra sẽ được dài lâu hơn. Thiếu cái sự tập trung bảo vệ, che chắn, đầu tư chính đáng, chọn lọc kỹ càng, luật lệ nghiêm khắc đủ đầy, thì cái sự lành của đất nước hay của địa phương sẽ hỏng bét vô phương cứu chữa mà thôi.

Hãy chọn lọc chim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

****

Hóa ra Hoàng Hữu Phước đã nói về chọn lọc chim từ năm 2009. Còn Donald J. Trump đã nói về chọn lọc chim sau đó gần 10 năm.

Té ra những nhà ái quốc thực thụ thì dù kẻ trước người sau, dù thân phận thân thế có khác nhau, chẳng bao giờ gặp nhau trong đời, thì cũng có thể được xem như chí lớn gặp nhau vì cùng có sự sáng suốt như nhau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Thấu-thị Chiến-lược Quốc-trị

Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư-Tưởng và Lý Luận Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Chính-Trị, Nhà Sử Nghiên Chính-Trị

28-6-2019

Bài này không ham hố hàm hồ hăm hở hì hục gợi ý bất kỳ cái gì liên quan đến “tài năng thấu thị” cá nhân của Hoàng Hữu Phước, người Việt Nam duy nhất hiểu đúng nhất ý nghĩa của khiêm tốn trong tiếng Việt qua bài viết “Khiêm Tốn”.

Bài này chỉ đơn giản cho thấy Hoàng Hữu Phước đã đơn giản chỉ làm một việc rất nhỏ và rất đơn giản : tổng luận đơn giản nhất những sự thật rất hiển nhiên mang tính lịch sử và chân lý rất đơn giản luôn tồn tại ở đất nước Việt Nam, nơi dân tộc Việt Nam, trong lịch sử Việt Nam, và từ đời sống Việt Nam, mà bất kỳ ai còn sống trên toàn thế giới cũng có khả năng thiên phú dễ dàng nhận ra tương tự để hào phóng phức tạp viết về.

Điểm khác biệt, do đó, chỉ nằm trong chỉ một câu đơn giản nhất ngắn gọn nhất dễ hiểu nhất sau: trong cái cụm từ “toàn thế giới”đơn giản  ấy, Hoàng Hữu Phước đơn giản chỉ nhờ có chút may mắn cỏn con như hạt cát, nhỏ thua ngọn cỏ, mà trở thành người đầu tiên và duy nhất đơn giản nhận ra và đơn giản viết về vấn đề đơn giản sau với lợi thế đơn giản của võn vẹn năm ngàn năm trí thức tinh hoa trí tuệ của nhân gian mãi miết miệt mài rong chơi cuối trời quên lãng của định kiến trệ trì tạp phức.

I- Hai Giá Trị Thật Của Tất Cả Các Chủ Nghĩa Chính Trị Tại Việt Nam

A) Hành Trạng Tư Duy Về Kinh Tế Và Tiến Hóa Xã Hội

1- Việt Nam trong thời cận đại đã tập tễnh làm quen với các thứ “chủ nghĩa” trong chính trị một cách hoàn toàn vô thức trên hai cơ sở duy nhất của chủ nghĩa quân chủ chuyên chế (gọi mềm đi để ngụy trang là chủ nghĩa tôn quân) và chủ nghĩa dân tộc cực đoan (gọi mềm đi để ngụy trang là chủ nghĩa ái quốc) đã có tự ngàn xưa, khiến tất cả các lĩnh vực khác trong đời sống quốc gia và quốc dân đều trở thành thứ yếu trong đầu óc những đấng “làm chính trị” từ vua chúa đến bầy tôi của họ, rất mờ nhạt, hoặc không hiện hữu thành các ngành học để có các chức quan, và tất nhiên không bao giờ tồn tại trong kiến thức các đấng sĩ phu từng – hoặc mơ màng được – mang danh phò vua giúp nước, khiến Việt Nam trước thời đại Hồ Chí Minh chẳng thể thịnh cường.

2– Cụ thể của điểm 1 ở trên là: “Lục Bộ” của các triều đại quân chủ chuyên chế Việt Nam chỉ bao gồm Bộ Lại (tương tự “Bộ Nội Vụ”, có chức năng đề xuất phong quan tước, thăng quan tước, thuyên chuyển, tiến cử, ban thưởng, bổ nhiệm, bãi nhiệm, v.v.); Bộ Lễ (tương tự “Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Khảo Thí”, có chức năng lo việc lễ nghi, nghi thức, yến tiệc, học đường, thi cử, thiên văn, y tế, thi cử, v.v.); Bộ Hộ (tương tự “Bộ Tài Chính Và Tài Nguyên” với chữ “tài nguyên” bao gồm con người và sản vật, có chức năng lo về kho tàng, nhân khẩu, thuế vụ, điền thổ, thóc lúa, muối, sắt, v.v.); Bộ Binh (tương tự “Bộ Quốc Phòng”, có chức năng lo việc quân sự, quân binh, quân nhu, quân trang, quân dụng, quân lương, v.v.); Bộ Hình (tương tự “Tòa Án Tối Cao”, có chức năng lo việc luật pháp, xét xử, tuyên án, v.v.); và Bộ Công (tương tự “Bộ Xây Dựng và Giao Thông Vận Tải”, có chức năng lo việc xây dinh thự đền đài, xây cầu đường, quản lý thủy lộ, v.v.). Hoàn toàn không có “Bộ” nào lo việc “kinh thương”, “xuất nhập khẩu”, “tiếp thị”, “kỹ thuật”, “đầu tư”, “sản xuất/lưu thông/phân phối”, v.v., cho thấy cái tư duy khinh thường khinh khi khinh miệt thương mại, thương nhân, thương trường, vốn là tư tưởng chủ đạo thâm căn cố đế trong giới tinh hoa trí tuệ phong kiến và tiền-xã-hội-chủ-nghĩa Việt Nam.

3- Từ điểm 2 ở trên, dễ dàng nhận ra ngay lý do vì sao Phong Trào Đông Du đã đại bại, đã thất bại hoàn toàn, triệt để, trong đớn nhục ê chề như sẽ được chứng minh rõ trong các phần tiếp theo bên dưới.

4- Từ điểm 2 và 3 ở trên, dễ dàng nhận ra vì sao giới tinh hoa trí tuệ Việt Nam – nhất là những ai trong các đấng trí hóa cao vời sống vào “thời đại” Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu – khi “tiếp nhận tư tưởng Phương Tây” đã chủ động loại bỏ, chà đạp, chống phá cái mà trí tuệ nhỏ như cọng cỏ, nông cạn như chiếc hủ nhỏ nuôi cá hổ piranha mới được đẻ nhe răng dọa hù con trẻ, không thể hiểu được, tức cái xa lạ gọi là “kinh tế chính trị” và “biện chứng” trong hệ tư tưởng Mác-xít tân thời hiện đại – dù mới hơn và mới nhất trong hệ tư tưởng Phương Tây – đang có khả năng đánh bại hai đại chủ nhơn Pháp Quốc và Mỹ Quốc mà họ quỳ cả gối và đầu lạy lục xin được phép tôn thờ.

B) Hành Trạng Tư Duy Về Tính Thượng Đẳng Và Kỳ Thị

4 điểm nêu trên của Phần A cho thấy 4 sự bật rõ của kiểu tư duy rất cực đoan (“extremism”) kỳ thị  (“racism”) cho mình là thượng đẳng (“supremacism”) của giới tinh hoa trí tuệ cổ hủ Việt Nam như sau:

1- Chống chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít vì chẳng hiểu gì về kinh tế nhưng muốn làm đại chủ, chẳng hiểu gì về chính trị nhưng muốn làm tổng thống, chẳng hiểu gì về biện chứng nhưng hét hò chống Cộng, và xem thường mọi giai cấp nào bị xếp dưới đẳng cấp “sĩ phu” nhưng cứ luôn hào phóng gộp chung cái cụm bị xếp dưới này vào cụm từ mào dầu diễn văn mỗi khi diễn xuất “hỡi quốc dân đồng bào”. Từ đó, các luận điệu chẳng hạn như “Cộng sản khát máu” hoặc “Cộng sản nghĩa là tịch thu hết tài sản nhân dân”, hoặc tương đương, chỉ là những cụm từ đậy che sự ngu dốt về kinh tế chính trị, cũng như đậy che cái ngụ ý cao ngạo ngu xuẩn rằng “ta đây chỉ khát rượu đế vì có chơn mạng đế vương và sẽ lên làm tổng thống”.

2- Tuy thấm đượm thâm sâu chủ nghĩa tôn quânchủ nghĩa ái quốc của 5.000 năm lịch sử, tuyệt đại đa số giới “sĩ phu” Việt Nam lại ở một thái cực hoàn toàn khác lạ và quái lạ. Sau nhiều ngàn năm tích cực tư vấn tất cả các minh quân và hôn quân từ cách vơ vét vàng ngọc, châu báu, ngà voi, sừng tê, trầm hương, kỳ nam, lùng bắt trinh mỹ nữ, dí bắt nghệ nhân, gom bắt thầy bói, lùa bắt thợ thuyền, v.v., triều cống “Thiên Triều Tàu”; đến cách dâng đất đai cương thổ chủ quyền quốc gia cho “Địa Triều Pháp”, đã dẫn đến sự tự động nô dịch về tư tưởng đến độ các “nhà chí sĩ ái quốc” nếu muốn “cứu quốc” thì nghĩ ngay đến việc hoặc khuyên vua “tử tế biết điều” với Pháp để Pháp không nỡ “quánh” mình, hoặc lạy mời Nhật Bản vào đuổi Pháp và cử hàng trăm đấng văn nhân sang nước Nhật kỹ thuật tân kỳ chỉ để du học tiếng Tàu để rèn tay nghề xướng họa thơ văn chữ Hán với ước muốn khi tốt nghiệp sẽ trở về Việt Nam dùng chiếc cọ bút lông viết nên những vần thơ chữ Hán yêu nước láng lai khích lệ toàn dân hãy hy sinh xương máu vùng lên đuổi Pháp để ta đây lên nắm quyền trị quốc, chứ nhất quyết không thèm cậy đến lực lượng “lao động chân tay nghèo khổ thấp hèn nội địa” của gã phụ bếp họ Hồ có tên khởi thủy là Nguyễn Ái Quốc. Việc trị quốc, do đó, có nghĩa trần trụi là: nếu không còn nằm trong tay những quân vương mất nước thì phải thuộc về các vị quan hoặc các vị sẽ làm quan xuất thân tinh thông Hán Học, bất kể các vị quan hoặc các vị sẽ làm quan ấy bất tài vô dụng đã không thể giúp quân vương của họ thoát khỏi họa mất nước.

3- Lịch sử Việt Nam cận đại còn cho thấy “đại quan thượng thư” bất tài vô hạnh Ngô Đình Diệm do không hề đánh đuổi ngay cả một tên lính Pháp gốc Ma-Rốc để giành “độc lập tự do” nên đã rình rập thời cơ chờ gã phụ bếp vĩ nhân Hồ Chí Minh tiêu diệt xong quân đội thực dân Pháp giành được “độc lập tự do” thì nhanh nhẹn lăn lê trườn bò ra ngoạm lấy quyền bính “đế vương” bằng cách giương cao ngọn cờ Vatican và dựa dẫm tài lực Hoa Kỳ. Ngay cả tên võ biền Nguyễn Văn Thiệu do không hề đánh đuổi ngay cả một tên lính Pháp gốc Ma-Rốc giành “độc lập tự do” cũng mô phỏng theo Ngô Đình Diệm để chui vào chính cái tôn giáo ấy và dựa vào sức mạnh của chính cái nước ấy để ngoạm lấy quyền bính “chân mạng đế vương” từ tay “chân mạng thiên tử” Ngô Đình Diệm ra sao. Chính trị, đối với hai tên chuyên gia ngoàm ngoạm này, đều tất nhiên hoàn toàn không bao giờ dính dáng gì đến độc lập dân chủ tự do của quốc gia dân tộc Việt Nam. Chính trị, đối với hai tên này và những chính khách xôi thịt (tiếng lóng Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa) tương cận, chỉ dính dáng đến “chân mạng đế vương của cá nhân mỗi khứa”.

4- Cả hai tên Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không có hành trạng tư duy chánh trị, không hiểu biết gì về “đảng chính trị” tức “chính đảng” nên tên thì cố rặn ra “Đảng Cần Lao Nhân Vị” cho-có-với-người-ta-vì-không-lẽ-thua-dân-đen-Hồ-Chí-Minh mà bản thân cái tên của Đảng ấy đã là một hý hước ngôn từ của sự nhảy múa máng cám heo của lao động cho giống Ông Hồ trộn với nhân quyền cho giống Ông Mỹ; tên thì bậm môi hý hoáy viết mãi không xong mới láu cá chộp ngay chữ “Dân Chủ” trong quốc hiệu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để đẻ ra cái đảng có cái tên “Đảng Dân Chủ”, và chộp ngay lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để đẻ ra cái cờ vàng sao đỏ gọi là “đảng kỳ” đần độn cho cái đảng độn đần chỉ-có-đảng-trưởng-chớ-không-có-tới-một-đảng-viên-và-không-có-trụ-sở-đảng-cùng-cương-lĩnh-chính-trị ấy. Cả hai thứ hỗ lốn về chính trị này của hai tên đần độn đều dẫn đến một nền chính trị duy nhất kỳ quặc trên thế giới mà nhà hùng biện Hoàng Hữu Phước gọi là nền chính trị nhà nước “Zero Đảng” để hậu thế có thể dễ dàng nhận ra sự đường hoàng chính trị rất bài bản đường đường chính chính cực kỳ chuyên nghiệp của nền chính trị nhà nước “Độc Đảng” của Việt Nam Cộng Sản và nền chính trị nhà nước “Lưỡng Đảng” của Huê Kỳ Tư Bổn. 

II- Ba Lý Do Thất Bại Hoàn Toàn Của Chủ Nghĩa Cộng Sản Trên Thế Giới

A) Lý Do 1 Tại Châu Âu: Giai Cấp

Lý do thứ nhất khiến Chủ Nghĩa Cộng Sản thất bại hoàn toàn và triệt để ở Châu Âu là: chủ nghĩa cộng sản vướng phải các bất tương thích giữa ba yếu tố học thuyết, thực tế, và hoàn cảnh, tức yếu tố “thiên thời địa lợi nhân hòa” chỉ đã đạt trên cơ sở cục bộ thời vụ, theo các diễn giải lý luận dưới đây. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Âu, và thực tế hiện không có bất kỳ quốc gia nào ở Châu Âu là nước cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cả.

1- Học Thuyết:  Yếu tố “đấu tranh giai cấp” đã chỉ là một thấu thị mang tính thời vụ của Karl Marx, không có giá trị miên viễn. Thấu thị này chỉ đúng với sự thật một giai đoạn lịch sử rằng thủa ban đầu chỉ cần giương cao ngọn cờ của giai cấp công nhân – gọi là giai cấp vô sản – thì các thế lực chính trị ở nhiều quốc gia đã có thể hình thành sức mạnh quyền lực quyến rũ vô song phục vụ hữu hiệu các ý đồ chính trị của những cá nhân mà không có sự tham chính thống soái của bất kỳ ai xuất thân từ giai cấp vô sản bần cùng quý hóa ấy. Khi những cá nhân nắm được quyền lực trị quốc, đại cuộc đấu tranh giai cấp đương nhiên tan biến như thực tế lịch sử đã luôn chứng minh mà điển hình là Liên Xô. Đã không trực tiếp làm chủ soái chính trường, giai cấp công nhân cũng không bao giờ nắm quyền làm chủ soái tư liệu sản xuất vốn chỉ là một điều thuần lý thuyết luôn trái với thực tế hoạt động đầu tư-sản xuất-kinh doanh, vì giới công nhân đương nhiên phải luôn lệ thuộc vào “giới chủ” bất kể giới chủchủ nhân ông tư bản hay giới chủchủ nhân bà nhà nước. Không còn đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa cộng sản không còn nền móng cho lý luận cộng sản phát triển, lan tỏa, sinh tồn ở Châu Âu.

2- Thực Tế: Thế Giới Đại Chiến II đã làm toàn Châu Âu kiệt quệ cả về nhân lực và tài lực, hạ tầng và thượng tầng. Hầu như từ chính phủ các nước cho đến người dân của họ đều trở thành “vô sản” theo nghĩa đen của sự điêu tàn thống khổ điêu linh điêu đứng không chút điêu ngoa, khiến tự động xóa nhòa ranh giới mong manh của “giai cấp vô sản” so với các “giai cấp” khác, biến “đấu tranh giai cấp” trở thành tối nghĩa, mơ hồ, huyễn hoặc, dễ bị tổn thương, dễ bị đã phá bởi các nhà tư tưởng phi-cộng-sản. Không còn đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa cộng sản không còn nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Châu Âu.

3- Hoàn Cảnh: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa: Cách Mạng Tháng Mười Nga thành công nhờ có các lãnh tụ cách mạng có học thức, thức thời nắm bắt ngay triết thuyết cộng sản đầy mê hoặc mà tình cờ do thiên định đã xuất hiện ngay tại Châu Âu để phục vụ các mưu đồ chính trị sục sôi của thời đại Âu Châu, có Nước Nga Âu Châu tàn lụi của các Sa Hoàng, và có vấn nạn ngoại xâm trong nội bộ Châu Âu. Học thuyết mang tính thấu thị chi tiết cực kỳ chính xác của Karl Marx về đấu tranh giai cấp đã cuốn hút giai cấp công nhân, nhưng đồng thời cũng khai sáng giúp các chính phủ tư bản Châu Âu và Mỹ có được sự cảnh báo tối cần thiết để triệt tiêu sự cuốn hút ấy bằng 3 cách gồm (a) xóa dấu tích bóc lột bằng cách gia tăng cao nhất các phúc lợi tập thể có thể được cho giới công nhân để giai cấp này nhận ra rằng không nhất thiết phải theo cộng sản đổ máu đấu tranh mới có được các phúc lợi dồi dào ấy; (b) vài chính phủ Âu Châu dựng xây xã hội đầy ắp phúc lợi tập thể theo mô hình lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong khi Liên Xô do dồn sức cưu mang các nước Đông Âu trong cái gọi là Phe Xã Hội Chủ Nghĩa đã không thể đem lại cho dân chúng của họ những phúc lợi tương đồng khiến không còn hấp dẫn giai cấp công nhân nói chung ở Tây Âu, Nam Âu, và Bắc Âu; và (c) bao vây Liên Xô, bao vây Nga, cô lập các nước “cộng sản” để chôn vùi chủ nghĩa cộng sản. Không còn sự tồn tại của các quốc gia cộng sản ở Châu Âu, chủ nghĩa cộng sản chấm dứt sự phát triển, tỏa lan, sinh tồn của nó ở Châu Âu.

B) Lý Do 2 Tại Châu Mỹ: Ăn Theo

Lý do thứ hai liên quan đến nội dung Chủ Nghĩa Cộng Sản thất bại hoàn toàn ở Châu Mỹ là: sự ăn theo Chủ Nghĩa Cộng Sản dưới tên gọi kỹ xảo ngôn từ của Chủ Nghĩa Xã Hội. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Mỹ, và thực chất hiện không bất kỳ quốc gia Mỹ Châu nào là nước cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cả.

Chủ nghĩa cộng sản đã không thể tồn tại ở Cuba, đơn giản vì Cuba không phải là một quốc gia phát triển công nghiệp như các nước Tây Âu để hình thành tư bản để nhờ đó có được một giai cấp công nhân đủ về số lượng và về tầm vóc cho một cuộc cách mạng vô sản đúng nghĩa và thành công như cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga đã giúp Nga hùng mạnh chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc của họ rồi dựng xây Khối Xã Hội Chủ Nghĩa một thời hùng cứ. Sự ăn theo Liên Xô của Cuba mà xuất phát điểm là sự thèm khát thôn tính Cuba của Hoa Kỳ đã dồn Cuba vào tuyệt lộ, do đó đã không bao giờ phát huy tác dụng. Không có đấu tranh giai cấp, mà chỉ có sự chống Mỹ để tồn tại nhờ quan hệ với nước Nga mà nay đã không còn là cộng sản, chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là tên gọi ở Cuba, không là nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Châu Mỹ.

Chủ nghĩa xã hội cũng không thể tồn tại ở Venezuela hay bất kỳ quốc gia Nam Mỹ nào vì khu vực “đa đảng” này khét tiếng với những chính phủ tham nhũng, mà cách tốt nhất để triệt tiêu các đối thủ cạnh tranh trong quốc gia “đa đảng” của mình là phải khôn ngoan trở thành đối tác của Nga bằng cách giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa ngay cả khi Nga không còn là quốc gia cộng sản. Không có đấu tranh giai cấp, mà chỉ có sự chống Mỹ để tự bảo vệ lợi ích nhóm, cố tồn tại nhờ dựa dẫm vào quan hệ với nước Nga không cộng sản, chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là tên gọi, không là nền tảng cho lý luận để phát triển, sinh tồn ở Venezuela hay toàn Châu Mỹ.

C) Lý Do 3 Tại Châu Á: Thao Túng

Phần này luận giải lý do thứ ba của sự thất bại hoàn toàn của Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Châu Á. Tất nhiên, “thất bại” mang nội hàm rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản không thể tỏa lan tại Châu Á, và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là quốc gia duy nhất ở Châu Á vẫn còn sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản về mặt chính trị quốc gia chứ không trên bình diện giáo điều ý thức hệ.

Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện ở Trung Quốc dựa trên 5 đòn bẩy lịch sử sau:

1- Nhân Vật: Mao-Xế-Tùng hoặc Mao-Tiêu-Tùng (tiếng Anh phiên âm thành Mao Tse-tung được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Mao Trạch Đông nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu né tránh chữ “Xế” vốn có nghĩa bóng xế chiều tà không hợp “phong thủy”). Thành phần gia đình: phú nông. Quá trình công tác: lao động đồng áng toàn thời gian từ 13 đến 17 tuổi. Học vấn: tốt nghiệp trung học chỉ sau khi theo Sun Yat-sen. Nghề nghiệp: có giấy phép hành nghề dạy học nhưng không dạy học ngày nào mà xin làm phụ tá quản thủ thư viện Đại Học Bắc Kinh. Tính khí: bộp chộp, nhiều thèm muốn.

2- Thời Cơ Chính Trị: Mao-Xế-Tùng gia nhập quân đội của Xuân-Dật-Sen (tiếng Anh phiên âm thành Sun Yat-sen được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Tôn Dật Tiên nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu né tránh chữ “sen” vốn có nghĩa tỳ tất và ô-shin) lật đổ chế độ phong kiến vương triều thành lập Trung Hoa Cộng Hòa (thống nhất công thức tạo từ với cụm chữ Việt Nam Cộng Hòa).

3- Thời Cơ Tư Tưởng: nhờ làm việc ở thư viện có nhiều thời gian và có dịp tiếp cận  sách báo, Mao-Xế-Tùng có thông tin về sự thành công của cuộc cách mạng Nga hình thành nước Liên Xô cộng sản chủ nghĩa vĩ đại, nên nhanh chóng mô phỏng để cùng vài người thành lập Đảng Cộng Sản Trung Hoa, lấy tư tưởng Lê-nin sẵn có để chế biến nấu xào thành chủ nghĩa Mao lấy nông dân làm cốt lõi cho đại cuộc hình thành chủ nghĩa cộng sản riêng cho toàn Châu Á.

4- Thời Cơ Lịch Sử: Khi Xuân-Dật-Sen quy lụy kết liên với Mao-Xế-Tùng, y đã tạo điều kiện cho Mao-Xế-Tùng trở thành nhân vật quyền bính. Lúc Xuân-Dật-Sen qua đời, Chang-Kai-Sếch (tiếng Anh phiên âm thành Chiang Kai-shek được dùng khắp hang cùng ngõ hẻm toàn thế giới trừ Việt Nam, vì tiếng Việt tự chế thành Tưởng Giới Thạch nhằm hỗ trợ tôn sùng tôn kính lãnh tụ Tàu thân Việt Nam Cộng Hòa này đánh lại lãnh tụ Tàu thân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kia, đồng thời né chữ sếch nghe giông giống sếch-xi sexy thiếu nghiêm túc) tàn sát cộng sản. Mao-Xế-Tùng bèn đưa tàn quân toàn nông dân bôn tẩu trong cái mà sử sách thế giới gọi là Cuộc Trường Hành (tiếng Anh là Long March, giới tinh hoa Việt sính hoa lá cành và sính bái lạy Tàu nên gọi là Vạn Lý Trường Chinh trong khi cuộc tháo chạy của 100.000 người đã phải bỏ lại trên đường hết 70.000 xác thì “chinh” cái con khỉ khô, lẽ ra phải là Vạn Lý Trường Tẩu mới đúng) nhờ vậy nhiều thanh niên các vùng miền nghe danh – dù chưa có internetfacebook – cũng lặn lội tìm đến, giúp Mao-Xế-Tùng hình thành quân đội của những tân chiến binh thuộc nhiều ngành nghề. Đến khi Nhật xâm lược Trung Hoa, do chống không nổi, Chang-Kai-Sếch cầu viện Mao-Xế-Tùng, biến Mao-Xế-Tùng thành người hùng chống ngoại xâm thành công đuổi Nhật ra khỏi bờ cõi và nhân tiện đuổi luôn Chang-Kai-Sếch ra khỏi lục địa nương náu ngoài đảo nhỏ Tài-Quan (tiếng Anh phiên âm sử dụng toàn cầu là Taiwan, còn tiếng Việt do những trí thức thất nghiệp đặt cho cái tên lạ hoắc là Đài Loan nhằm tránh chữ Tài Quan giông giống …Quan Tài).

5- Thời Cơ Dân Chủ Tự Do: Cuối cùng, Mao-Xế-Tùng khi áp dụng phương thức “tự do biểu đạt” và “tự do ngôn luận” của dân chủ Tây Phương để mong nhận được các vấn kế định quốc an bang của giới trí thức tinh hoa trí tuệ trong nhân dân nhằm nhanh chóng dựng xây đất nước đẹp giàu, rốt cuộc chỉ tạo điều kiện cho bọn “bảo hoàng” (tôn thờ chế độ phong kiến hoàng triều), “ngụy quyền” (tôn thờ “tổng thống” Chang-Kai-Sếch đã bỏ chạy mất dép sang Tài-Quan), “mông muội” (muốn ta đây làm “tổng thống” như mấy thằng cỡ nhân tài Lê Công Định của Việt Nam hoặc mấy hảo hớn chạy mất dép ở hải ngoại đòi “phục quốc”), “ngu muội” (đi “Tây” học rồi bị tẩu hỏa nhập ma trở về muốn Trung Quốc phải “tự do” như Mỹ), nên làm các mong muốn áp dụng dân chủ Âu Tây của Mao-Xế-Tùng bị tàn xế tiêu tùng, khiến Mao-Xế-Tùng nổi giận, trở thành nhà độc tài tàn bạo tàn khốc tàn nhẫn, thành mối họa sẽ làm tàn tạ các lân bang.

Như vậy, ngay từ đầu, chủ nghĩa cộng sản đã trở thành bức bình phong đậy che sự thật về thao túng. Kẻ cơ hội nhưng ít học như Mao-Xế-Tùng không tài nào hiểu được cái thâm thúy của chủ nghĩa cộng sản. Y chỉ nắm bắt được rằng cái tư tưởng ấy dựa trên đấu tranh giai cấp mà giới công nhân bị tư bản bóc lột sẽ trở thành sức mạnh hình thành đế chế quyền lực mới. Trong điều kiện Tàu không có tư bản, không có tư bản bóc lột, không có giai cấp công nhân; nhưng Tàu lại có gần tỷ nông dân mà y cũng là nông dân, Mao-Xế-Tùng cho rằng dại gì không bê cái tư tưởng Lê-nin ấy, lấy chữ “nông dân” dán đè lên chữ “công nhân”, rồi gọi đó là Chủ Nghĩa Mác-Mao hay lấy tiết kiệm làm quốc sách thì gọi là Chủ Nghĩa Mao tức Maoism cho gọn nhẹ. (Kampuchea tuân theo cái Chủ Nghĩa Mác-Mao ấy nên toàn sử dụng cuốc xẻng của nông dân để hành quyết thị dân, gây ra cuộc đại diệt chủng đầy bịnh hoạn làm nhân hoại kinh hoàng run rẩy đứng như trời trồng nhìn Việt Nam vào cứu nạn, để rồi có thằng khi cử động được thì hét ngay là Việt Nam xâm lược nhất thiết phải bị cấm vận để bớt thói lưu manh, hoặc chờ đến năm 2019 mới dám ỏn ẻn lớn tiếng xun xoe nói Việt Nam đã vô cớ xâm lăng chiếm quyền trị quốc hợp pháp danh chính ngôn thuận của đám Khờ Me Đỏ Mao-ít thế giới tôn kính để khơi khơi tặng lại cho Hun-Sen.)

Và như vậy, từ khởi thủy cho đến ngày bài viết này được post, Trung Quốc chưa hề là một nước cộng sản. Thế giới chính trị hàn lâm tư bản liệt Trung Quốc vào danh sách các nước cộng sản chủ nghĩa là hoàn toàn sai. Mục đích của thế giới chính trị hàn lâm tư bản gọi Trung Quốc là nước cộng sản chủ nghĩa chỉ nhằm vào 3 lý do gồm

(a) che dấu sự xấu hổ nếu phải công nhận Trung Quốc là nước giàu có trong khi nước ấy không cần phát triển trên nền tư bản, đã vậy các nước tư bản phải chen chúc xin vào để “mần ăn”;

(b) ngụ ý cái nước cộng sản chủ nghĩa ấy nếu có “phất” thì cũng là nhất thời và chắc chắn rồi sẽ bị tiến trình dân chủ tại chỗ phá sập; và

(c) công khai cô lập về ý thức hệ rằng toàn thế giới hỡi hãy ghi nhớ rằng đó là một nước cộng sản chủ nghĩa, mà đã là chủ nghĩa cộng sản thì tất nhiên độc tài độc đảng; trong khi đó, chỉ cần xưng thần với tư bản phương Tây thi từ Park Chung-hee của Đại Hàn, Ferdinand Marcos của Philippines và Suharto của Indonesia cho đến Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu của Nam Việt có độc tài độc đảng hay có zero đảng thì cũng đều là những nhà ái quốc vĩ đại cả

Tương tự, bất kỳ quốc gia nào được Phương Tây ghi vào nhóm các quốc gia cộng sản chủ nghĩa cũng đều không đúng về mặt kinh tế, thực tế, và lịch sử. Còn chính trị ư? Chỉ có bọn trẻ nít mồm còn bập vào đầu vú mẹ mới không biết rằng trong chính trị thì mọi “chủ nghĩa” đều chỉ là tên gọi mà thôi. Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ có các đảng viên toàn giới thương nhân tài phiệt và một hai vị chức sắc trong cái “đảng” ấy có quen biết lâu năm với tác giả bài viết này và cứ xin tác giả bài viết này hãy chịu (a) đứng ra tác động thu xếp để đoàn của họ sang thăm Việt Nam được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho phép diện kiến, và (b) tham gia đội ngũ của đoàn để làm chủ soái công tác thông phiên dịch cho các lãnh đạo đoàn. (Ghi chú: tác giả bài viết này có báo chi tiết qua email để đùn đẩy qua Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ, nhưng dường như các đại sứ Việt Nam chỉ làm việc nếu có chỉ thị chỉ bảo chỉ dẫn chỉ đường từ Đảng chứ không tự làm gì sất ngay cả không tự báo cáo nếu sự việc không liên quan đến các chỉ thị chỉ bảo chỉ dẫn chỉ đường nên tác giả bài viết này cho rằng chắc ông ta phái sớm quyết định đứng ra giúp các đảng viên cộng sản Mỹ này thôi. Do không chuộng hư danh vốn dễ làm danh hư, chắc chắn tác giả bài viết này tại buổi gặp – nếu được phép diễn ra – sẽ nêu yêu cầu tiên quyết rằng không cho phép bất kỳ bố nhà báo hay mẹ nhà báo nào của các tờ báo nào đã từng ngu xuẩn dám tấn công ông ta trong đại cố “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu” được vào tác nghiệp kiếm cơm kiếm cháo.)

Tóm lại, chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn thất bại tại Trung Quốc do cái mà Trung Quốc đã/đang/sẽ theo đuổi không phải là chủ nghĩa cộng sản mà là chủ nghĩa bá quyền nước lớn do Quýnh-Xì-Hăng (tiếng Anh phiên âm thành Qin Shi Huang để sử dụng toàn cầu, còn các nhà trí thức thất nghiệp ở Việt Nam gọi là Tần Thủy Hoàng để giúp Tàu né ý nghĩa rất hại “phong thủy” của quýnh quáng xì hơi có mùi hăng chăng) khai sáng. Và chủ nghĩa bá quyền nước lớn kiểu Tàu sẽ có tiếng Anh là Qinnism hoặc Qinnism-Maoism tức Chủ nghĩa Tần-Mao. (Ghi chú: Lăng Tần không có nghĩa là cái lăng tẩm của Quýnh-Xì-Hăng, mà là phiên âm tiếng Phạn trong Kinh Lăng Nghiêm Nhà Phật tên gọi chú chim Ca-lăng-tần-già ngậm xâu chuỗi bay hầu Phật Bà Quan Âm, do Hoàng Hữu Phước yêu phụ nữ chỉ thờ Phật Bà không thờ Phật Ông, nên lấy tên chim làm bút hiệu. Tất nhiên, do đó, Lăng Tần của Ca-lăng-tần-già cũng không phải đại ca của phe nhóm lăng xăng lăng nhăng lăng tăn nào, mà cũng luôn trẻ đẹp chứ hơn 60 năm qua có già bao giờ đâu?)

III- Ba Lý Do Giúp Chủ Nghĩa Cộng Sản Chỉ Trụ Vững Ở Việt Nam

Như vậy, trên toàn thế giới này thì chỉ có Việt Nam là quốc gia duy nhất còn sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản được hiến định và luật hóa.

Dưới đây là sự phân tích 3 lý do chủ lực cho sự tồn tại kỳ vĩ độc nhất vô nhị này.

A) Trình Độ Tư Duy Chính Trị Của Giới Tinh Hoa Phi Cộng Sản:

Những định kiến “vọng ngoại” của giới tinh hoa cổ đã tồn tại song hành với sự tồn tại và phát triển của Việt Nam từ lúc định hình cương thổ ban đầu cho đến sau khi minh định xong biên giới trên đất và trên biển vùng cực Nam. Những định kiến của giới tinh hoa cổ ấy đã hòa quyện hòa nhập hòa tan vào hệ thống tư duy của người bản Việt, nên – giống như hầu hết các dân tộc trên toàn thế giới – không bao giờ hết cổ hủ để có thể chủ quan rằng mọi thứ sẽ tự động thay đổi theo đà tiến hóa chung.

Như đã nêu rõ ở mục I.A.2 ở trên, định kiến “vọng ngoại” là điểm mấu chốt trong tư duy của toàn giới tinh hoa trí tuệ Việt Nam, mà các thí dụ sau là minh chứng thuyết phục hùng hồn nhất. Lời khẳng định cần thiết ở đây là nếu như bài Hoàng Hữu Phước Đối Đầu Với Chu Văn An chỉ nhằm nêu bật vấn nạn trầm kha đối với mức độ tin cậy của sử liệu Việt Nam, mức độ tuân thủ luật pháp của các danh nhân Việt Nam, và mức độ an toàn của công tác tàng thư của các vương triều Việt Nam; thì các nhận xét dưới đây về Phan Bội Châu tất nhiên chỉ nhằm nêu bật vấn nạn trầm kha đối với mức độ tin cậy của sử liệu Việt Nam khi thông tin dược chọn lọc ghi vào sử sách chỉ để phục vụ mục đích chính trị của thời sau thay vì lẽ ra đã chỉ là ghi nhận thông tin thật đầy đủ, thật có thiệt, không dấy lên các tranh cãi về tính chính xác và các ngờ vực đối với tính trung trực trung ngôn trung thực của những nhà chép Sử.

1- Phan Bội Châu phát động Phong Trào Đông Du gởi 200 học sinh sang Nhật Bản du học. Theo sử liệu gia đình, thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đã viết một chi tiết trong bài Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản rằng: Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải mổ bụng tự sát hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện (tên thật ngoài Thanh Hóa là Lê Quốc Túy), một “nhân sĩ chí sĩ”đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị kiểu Tàu”, trở về hoạt động chính trị chống…“Cộng Việt”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ trong đó có quyển Minh Tâm Bảo Giám, trở thành một học giả năm nào cũng được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài quân sự khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài quân sự ấy…

Khi Pháp và Nhật ký hiệp ước với nhau năm 1908, Nhật trục xuất tất cả các du học sinh Việt Nam và Phan Bội Châu ra khỏi đất Nhật, biến Phong Trào Đông Du tan thành mây khói, sự cầu viện Nhật sang đánh đuổi Pháp biến thành bánh vẽ, còn Phan Bội Châu chấm dứt ca ngợi Nhật Bản như đã từng lầm lạc ngợi ca tận mây xanh trong tác phẩm Á Tế Á Ca. Nhà chí sĩ vĩ đại của Việt Nam đã “bé cái lầm”, song luôn được sử sách Việt Nam làm ngơ, cứ như thể ra chỉ thị “miễn phê phán”, “chớ phê bình”, “cấm chê bai”, kẻo Sử Ký nước nhà chẳng có ai là bậc hiền tài để dân tộc tự hào khoe với nhân loại cả.

2- Trước đó, Phan Bội Châu đã phải “đẫm lệ” với Lang-Kỳ-Chao (tiếng Anh phiên âm thành Liang Qichao sử dụng toàn cầu, còn các trí thức Việt chẳng biết dựa vào quy định nào trong sách nào mà đặt tên mang tính thần thánh hóa mỹ miều thành Lương Khải Siêu) thở than cho vận nước và mong muốn thỉnh mời Nhật vào giải phóng quê hương khỏi ách xâm lược của Pháp, chỉ để Lang-Kỳ-Chao trịch thượng cho ra một lời khuyên cực kỳ sơ đẳng nghe na ná giông giống cụm từ “đừng có ngu mà cõng rắn cắn gà nhà” mà đứa trẻ biết chữ nào của Việt Nam cũng thuộc nằm lòng.

3- Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật Bản, Phan Bội Châu sang Tàu cùng 50 thanh niên cày cấy luyện tập võ nghệ chờ ngày về Việt Nam đánh quyền đá cước “phục quốc”, từ bỏ chủ nghĩa quân chủ hướng sang chủ nghĩa dân chủ kiểu Tàu, lập Đảng theo kiểu Tàu.

4- Mọi nhà trí thức đều biết Phan Bội Châu không những tôn thờ Lê-nin; viết sách về Lê-nin, chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội; ca ngợi Các-Mác, Lê-nin cùng với Khổng Mạnh; mà lại còn đặc biệt xem Nguyễn Ái Quốc là thánh nhân giáng hạ phàm trần.

Thế nhưng, mặc cho các điểm 1, 2, 3, và 4 ở phần III.A này về nhân vật Phan Bội Châu, toàn bộ “giới tinh hoa trí tuệ” của Việt Nam Cộng Hòa – và của bọn “tinh hoa trí tuệ” ba rọi nữa nạc nữa mỡ si mê “xã hội dân sự” và “lương tâm nhân quyền” tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – đều ngó lơ, không nhắc đến, chỉ luôn bù lu bù loa rằng Phan Bội Châu là nhà chí sĩ yêu nước đã lập nên Phong Trào Đông Du rồi chấm hết ngang xương lãng xẹt, khiến học sinh nào thông minh sẽ nhận ra ngay rằng các hào quang quanh đầu Phan Bội Châu trong sử sách Việt Nam Cộng Hòa đều là sản phẩm của….chiến tranh chính trị chống Cộng mà ra.

Và cũng thế nhưng, mặc cho các điểm 1, 2, 3, và 4 ở phần III.A này, mỗi khi nói về nhân vật Nguyễn Trường Tộ, người ta vẫn viết về ông như một người hết lòng vì nước vì dân. Không bàn về những luận điểm về nhân vật Nguyễn Trường Tộ mà biết bao người Việt Nam thông tuệ – trong đó có nhân tài nước Việt Trần Chung Ngọc – mắng là quân phản quốc, bài này chỉ nêu một sự thật chưa từng ai nói đến rằng xin đừng vì Nguyễn Trường Tộ nêu điều mới lạ mà bảo triều đình Việt Nam thủ cựu, “từ chương”, không nghe theo các tấu chương hiến kế “cải cách” của y, vì rằng ai là người ở cái đất nước Việt Nam này sẽ theo học “trường nghề” mà y kiến nghị hãy mở ra để dạy nghề đóng sửa thuyền tàu cơ chứ? Các “sĩ phu” chuyên chê bai lao động chân tay hạ cấp chẵng lẽ sẽ xếp bút nghiên theo nghiệp thuyền bè ư?

Chính yếu điểm quá lộ liễu này về trình độ tư duy chính trị của giới tinh hoa phi cộng sản mang tính lạc hậu, cổ hủ, phản tiến hóa, gian giảo, nơi những con người bất khả tư nghị và bất tài vô dụng, mà ngẫu nhiên tạo nên một lợi thế giúp Chủ Nghĩa Cộng Sản chỉ trụ vững ở Việt Nam khi tất cả những bậc hiền nhân quân tử thật sự thông tuệ ở Việt Nam đều dần nhận ra 4 chân lý rằng:

(a) Sự dựa dẫm vào một thế lực vật chất bên ngoài là điều đương nhiên của cách mạng, như Phan Bội Châu hết dựa vào Nhật đến Tàu, Ngô Đình Diệm dựa vào Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu dựa vào Mỹ, Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô. Do vậy, vấn đề là ai đã khôn ngoan chọn đúng thế lực để chiến thắng lưu danh thiên cổ, ai đã ngu xuẩn giao trứng cho ác để lưu xú vạn niên. Do vậy, việc công kích Hồ Chí Minh đã dựa thế lực bên ngoài như “Liên Xô hay Tàu” đều là việc làm của kẻ bại trận mất tư cách chiến binh, và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(b) Sự dựa dẫm vào một vũ khí tinh thần ngoại lai là điều đương nhiên của cách mạng, nhất là khi giới tinh hoa trí thức Việt Nam hoàn toàn không có hành trạng tư duy chính trị như đã phân tích ở Phần I để có khả năng đề ra bất cứ một tân triết thuyết chính trị nào. Phan Bội Châu hết dựa vào học thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản cùng sự thành công của Nhật Bản đến tư tưởng “dân quốc” của Tàu; còn Hồ Chí Minh dựa vào học thuyết cộng sản Mác-Lê, khôn ngoan không chấp nhận cái biến thể của chủ nghĩa Mác-Mao Tàu (Marxism-Maoism) hay chủ nghĩa Mác-Tito Nam Tư (Marxism-Titoism), đồng thời khôn ngoan lồng ghép với chủ nghĩa ái quốc hình thành nên Hệ Tư Tưởng Hồ Chí Minh thay vì tập trung cho một thứ mông muội gọi là chủ nghĩa Mác-Hồ (Marxism-Hoism). Chính Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu cũng dần nhận ra rằng không thể làm chính trị mà không có một đảng chính trị, nên kẻ trước tạo ra Đảng Cần Lao Nhân Vị còn tên sau đẻ ra Đảng Dân Chủ (mà chỉ có Hoàng Hữu Phước biết đến và nêu ra trên blog khiến bọn hải ngoại dựa vào đó sáng tạo lung tung cứ như thể cái Đảng đó có thật và chúng có biết, cũng như để tự cứu thể diện do Việt Nam Cộng Hòa bị Hoàng Hữu Phước gọi là quốc gia của bọn độc tài Zero Đảng). Cả hai tên này còn nhận ra rằng đảng chính trị phải có cương lĩnh dựa theo một triết thuyết chính trị nào đó; vì vậy Ngô Đình Diệm soạn ra cái gọi là chủ nghĩa cần lao nhân vị, còn tên võ biền Nguyễn Văn Thiệu nín thinh. Do vậy, việc công kích Phan Bội Châu hay Hồ Chí Minh đã dựa vào một vũ khí tư tưởng bên ngoài đều là việc làm của kẻ bại trận mất tư cách trí tuệ. Do vậy, vấn đề là ai đã khôn ngoan chọn đúng vũ khí tư tưởng để chiến thắng lưu danh thiên cổ, ai đã ngu xuẩn như Ngô Đình Diệm lấy Cơ Đốc Giáo làm tư tưởng soi đường chính trị hoặc Nguyễn Văn Thiệu xem hai chữ “chống Cộng” thay cho một hệ tư tưởng chính trị để rồi lưu xú vạn niên. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(c) Sự dựa dẫm vào một thế lực nhân sự bên trong là điều đương nhiên. Lenin và Stalin không thể thành công nếu không có lực lượng nhân sự bên trong nước Nga. Mao-Xế-Tùng không thể thành công nếu không có lực lượng nhân sự bên trong nước Tàu. Hồ Chí Minh không thể thành công nếu không có lực lượng bên trong nước Việt Nam. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều có lực lượng nhân sự bên trong nước Việt nhưng lại thất bại hoàn toàn. Vấn đề, do đó, chỉ đơn thuần là chất lượng của nhân sự bên trong ấy ra sao. Lực lượng nhân sự bên trong nước Việt Nam của Hồ Chí Minh được hun đúc bằng 6 sức mạnh của (i) chủ nghĩa ái quốc, (ii) chủ nghĩa cộng sản, (iii) tư tưởng Hồ Chí Minh, (iv) tinh thần chống Mỹ xâm lược, (v) tư thế của chính nghĩa quốc tế do Hiệp Định Geneve đem lại, và (vi) sự đồng tâm trên bình diện toàn dân toàn quốc. Lực lượng nhân sự bên trong nước Việt Nam của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu không được hun đúc từ một sức mạnh bất kỳ, vì chỉ có “chủ nghĩa” chống Cộng hoàn toàn phi-chủ-nghĩa, không có chủ nghĩa ái quốc mà chỉ có chủ nghĩa chư hầu muốn làm một “tiểu bang” của Mỹ, không có hệ thống chủ nghĩa tư tưởng chính trị chủ đạo nào bất kể tương đương hoặc tốt hơn chủ nghĩa cộng sản, không có tư tưởng uyên bác uyên thâm nào của tất cả các lãnh đạo quốc gia trừ câu nói bộc lộ sự ngu xuẩn khôi hài của kẻ ngu đần không hiểu binh pháp Tôn Võ rằng “đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, còn “chống Bắc Việt xâm lược” là một khẩu hiệu cực kỳ ngu đần tự lột mặt nạ quá khứ hủy phá Hiệp Định Geneve, ước ao chia cắt vĩnh viễn đất nước nên mới dùng từ “xâm lược” để phân định vĩnh viễn sự chia cắt xem “Bắc Việt” là “ngoại bang”, nhưng vẫn không tránh né được cái thực thể Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tồn tại ngay bên trong và tại toàn bộ Việt Nam Cộng Hòa, và hoàn toàn chỉ có sự đồng tâm của giáo dân Công Giáo di cư chứ không của toàn bộ dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

(d) Sự dựa dẫm vào một thế lực nhân sự bên ngoài là điều đương nhiên trong lịch sử đó đây của loài người. Vấn đề ở đây sẽ chỉ là: ai dựa dẫm khôn ngoan nhất, chính đạo nhất, và thành công tuyệt đối. Lê Chiêu Thống dựa dẫm Tôn Sĩ Nghị của Tàu và lưu xú vạn niên. Quang Trung Nguyễn Huệ qua Tàu hành lễ bảo tất quỳ ôm gối Càn Long nhận Càn Long làm vua cha, được sử sách Việt Nam sáng tạo ra sự việc bảo toàn danh dự rằng Quang Trung Nguyễn Huệ cử người có ngoại hình giống mình đi thay trong khi người thông tuệ hiểu ngay rằng (i) ngay cả có việc cử người đi thay chăng nữa thì lẽ nào lại không được giữ làm thông tin tuyệt mật quốc gia không thể huỵch toẹt khoe ra để chọc giận “Thiên Triều”, (ii) nếu cái người đi thay ấy có thật thì lẽ ra đã bị thủ tiêu diệt khẩu, (iii) nếu cái người đi thay ấy có thật mà không bị giết diệt khẩu thì sau đó đã được thăng chức gì và con cháu người ấy hiện gồm những ai, và (iv) nếu cái người ấy “đi thay” thì cũng làm quốc gia bị ô danh rằng “vua Việt quỳ ôm gối vua Tàu” chứ nào tránh được sự đàm tiếu của nhân gian. Nguyễn Văn Thiệu dựa dẫm vào các cố vân quân sự Hoa Kỳ rồi đón các quân đoàn viễn chinh gần triêu người từ Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand vào Việt Nam đánh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, không những tạo cớ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố chính nghĩa chống xâm lược, mà còn biến lực lượng quân sự này trở nên vĩ đại vì chỉ mỗi du kích quân của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam thôi mà quân đội hỗn hợp Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand vẫn không sao thắng được. Đến khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kéo rốc đại binh chính quy ào ạt tiến xuống phương Nam hỗ trợ dân quân Mặt Trân Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam thì toàn bộ quân đội viễn chinh ngoại bang hỗn hợp với quân lực Việt Nam Cộng Hòa ấy tạo nên cuộc tháo chạy to nhất, nhanh nhất, điếm nhục nhất, hỗn loạn nhất, tàn tệ nhất, vô nhân tính nhất, trong toàn bộ lịch sử quân sự của loài người từ khi loài khủng long bị tận diệt cho đến lúc loài người bị Tận Thế. Trong khi đó, Hồ Chí Minh chỉ dựa dẫm vào một số ít các chuyên gia nước ngoài từ Liên Xô, Tàu, hay Triều Tiên cho những nhu cầu huấn luyện sử dụng khí tài quân sự hiện đại, không tạo cớ cho bất kỳ một xúc xiểm bất kỳ nào từ phía đối phương. Và người thông tuệ Việt Nam rốt cuộc phải công nhận sự thật rằng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, và cộng sản đã chiến thắng.

B) Sự Bất Tương Hợp Với Học Thuyết Cộng Sản Chủ Nghĩa

Do Việt Nam chưa từng là một quốc gia phát triển để có tư bản, để có giai cấp công nhân, chủ nghĩa cộng sản trở nên bất tương hợp trên bình diện mô phỏng máy móc, áp dụng máy móc, và giáo điều máy móc.

Để đưa được chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam một cách tương hợp, Hồ Chí Minh đã sáng tạo hình thức tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc huy động toàn bộ nhân lực toàn dân cho đại cuộc chống ngoại xâm, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước, dưới ngọn cờ thống lĩnh duy nhất của chủ nghĩa cộng sản.

Chính sự bất tương hợp của chủ nghĩa cộng sản đối với hoàn cảnh Việt Nam đã giúp các nhà lãnh đạo cộng sản phi-giáo-điều của cách mạng Việt Nam sáng tạo bổ sung, uốn nắn học thuyết customization, và chiến thắng, làm chủ nghĩa cộng sản trụ vững tại Việt Nam.

C) Đặc Thù Dân Tộc Tính: Cực Đoan

Đặc điểm mang tính dân tộc đặc thù của người Việt là cực đoan.

Tính cực đoan ấy toàn thế giới biết rõ nhất trong kinh hoàng khi nhận thông tin đáng tin cậy từ một công dân Việt Nam đáng kính rằng các tín đồ Thiên Chúa Giáo (Công Giáo và Tin Lành) ở Việt Nam kỳ thị tôn giáo, tự mãn thượng đẳng, bất tuân giáo luật, thờ phượng giáo phẩm, xâm hại nhân quyền, chà đạp tự do tín ngưỡng của cộng đồng, như thể hiện đầy ngạo mạn dưới triều đại mọi rợ man di của Ngô Đình Diệm và qua việc giáo dân cho đến Thế Kỷ XXI này mà vẫn còn tiếp tục tự bày ra các đòi hỏi buộc người phối ngẫu có tín ngưỡng khác phải vào đạo Thiên Chúa.

Tính cực đoan ấy cộng với mưu đồ quyền lực cá nhân đã như thể hiện rõ nét của Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp Định Geneve và của Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp Định Paris, thà để dân tộc điêu linh chứ dứt khoát không “sánh vai” với “Cộng sản Bắc Việt” trong bất kỳ cuộc tổng tuyển cử nào để thống nhất đất nước, dứt khoát không sẻ chia quyền lực trị quốc, không chấp nhận “Đa Đảng” với Cộng sản.

Chính sự cực đoan mang dấu vết dân tộc tính ấy đã đẩy Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu vào ngõ diệt vong, vì khi dựa dẫm vào sức mạnh cơ bắp để phát huy dân tộc tính cực đoan đối đầu với đối thủ, buộc đối thủ cũng phải thi thố cùng cái dân tộc tính cực đoan ấy thì phần thắng đương nhiên luôn thuộc về phía mạnh hơn và sự tiêu diệt là phần dành cho bên thua trận. Trong cuộc đối đầu không khoan nhượng trong cái mà thế giới gọi là Chiến Tranh Việt Nam thì phía mạnh hơn là bên mà phía Việt Nam Cộng Hòa gọi là “Cộng Sản Bắc Việt”. Kết quả này đã dẫn đến một nẽo đường đơn cực trong chính trị Việt Nam: không có sẻ chia quyền lực qua tổng tuyển cử mà chỉ có quyền lực trong tay bên thắng trận trong cuộc quyết đấu do Việt Nam Cộng Hòa khởi phát. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đã xé nát cơ hội cho một nước Việt Nam “đa đảng”. Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu là “đầu têu” cho một cực đoan Việt Nam “độc đảng” hoặc “zero đảng” bằng cách phá hoại các hiệp định hòa bình quốc tế về Việt Nam và tập trung tiêu diệt Đảng Cộng Sản bằng mọi giá – kể cả mong muốn Mỹ sử dụng bom nguyên tử tấn công “Bắc Việt”. Rốt cuộc, Việt Nam Cộng Hòa vẫn chỉ là một thực thể Zero Đảng lưu manh đàng điếm chuyên gây hấn để tự gây ra họa diệt vong, và Đảng Cộng Sản Việt Nam bị buộc phải trở thành thế lực chính trị duy nhất còn lại ở Việt Nam, hình thành một nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “độc đảng” trên nền lịch sử một Việt Nam Cộng Hòa “zero đảng” hiếu chiến và hiếu sát bị tiêu diệt.

Có thể nói: cái dân tộc tính cực đoan độc tôn của Việt Nam đã thúc đẩy sự đối đầu không khoan nhượng, dẫn đến sự bĩnh trị độc tôn của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

IV- Ba Yếu Tố Đe Dọa Sự Tồn Tại Của Chủ Nghĩa Cộng Sản Ở Việt Nam

Tuy chủ nghĩa cộng sản trụ vững ở Việt Nam, vẫn có manh nha 3 dọa đe sau cho sự trụ vững ấy.

A) Sự Bất Khả Tương Hợp Của Lý Thuyết Và Thực Hành Trong Chính Trị Và Trị Chính

1- Chống Tham Nhũng:

Chỉ sau khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng nắm giữ quyền bính tối cao trong Đảng, đại cuộc chống tham nhũng mới bước từ lý thuyết trừu tượng bầy sâu ra thực tế đời sống những bản án chốn pháp đình dành cho những đảng viên cao cấp từ ủy viên Bộ Chính Trị như Đinh La Thăng đến các tướng lĩnh lãnh đạo trong Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An. Điều này cũng đồng nghĩa với nội hàm rằng từ 30-4-1975 cho đến sát trước Thời Đại Nguyễn Phú Trọng (The Nguyen Phu Trong Era) tham nhũng đã được tạo điều kiện cho sự lan tràn nhũng nhiễu mà các khiếu kiện kéo dài nhiều chục năm của lương dân ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các thất bại thất thoát thất kinh của các siêu dự án cũng của Thành Phố Hồ Chí Minh là minh chứng, và toàn bộ các lãnh đạo Đảng và lãnh đạo chính quyền của Thành Phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lẽ ra đã phải chịu trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc Việt Nam ngay khi họ nhúng chàm, không thể có đủ tư cách để sau đó ra trung ương trở thành lãnh đạo Nhà Nước và lãnh đạo chính phủ.

Hồ Chí Minh không thể là người đã rèn luyện nên những học trò tắc trách, vô trách nhiệm, đồng hóa tan chảy vào bãi đàm nhớt kinh tởm mang tên tham nhũng bất lương phản phúc phản Đảng phản quốc như thế.

2- Giám Sát Và Trách Nhiệm:

Những đấng nắm quyền lực trước Thời Đại Nguyễn Phú Trọng đã rắp tâm hủy phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng những hạ sách quái gở phục vụ lợi ích nhóm, trong đó nổi bật nhất là việc (a) trao cho “nhà báo” các “thượng phương bảo thẻ” được tự tung tự tác dìm đầu đè cổ trấn áp vô hiệu hóa uy lực của Công An hầu trở thành thế lực phục vụ cho thanh thế riêng cá nhân một lãnh đạo chính quyền để đương đầu với các lãnh đạo còn lại trong Bộ Chính Trị như phân tích trong Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn, và (b) sử dụng bọn con nít bất tài vô dụng nhưng dễ sai bảo như tỏ tường cũng trong bài ấy chỉ để dựng nên những đấng lãnh đạo có phong cách như đám con nít cà tửng cà tửng làm chính trị mà thôi. 

B) Sự Thất Bại Hoàn Toàn Của Chính Sách Và Thực Hành Trong Dụng Nhân

Phần IV.A.2 ở trên cho thấy vấn nạn đã trở thành nan giải đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam là trong cung cách kỳ thị cực đoan đối với khâu dụng nhân.

Về chính sách, Đảng đã sa lầy trong cái gọi là đào tạo nhân tài trong khi không hiểu nhân tài là gì và những gì cần và đủ để có được một nhân tài. Những kẻ đã tư vấn cho Đảng đầu tư khổng lồ vào đào tạo nhân tài dứt khoát chỉ vì muốn hưởng 4 lợi lộc của (a) đưa con em của chính mình vào danh sách du học nước ngoài bằng tiền thuế của dân, (b) tạo điều kiện cho con em của chính mình sau khi du học trở về có đủ cái gọi là “trình độ” để ngồi vào các vị trí quản lý cấp cao dù không kinh qua thực tế làm việc thành công bất kỳ, (c) có các suất du học để nịnh bợ cấp trên hoặc để vòi tiền hay đòi ân huệ từ những cán bộ cần các suất ấy cho con em của họ, và (d) nhận các “lại quả” từ các tổ chức kinh doanh du học nào thụ hưởng khoản USD khổng lồ do Đảng đầu tư từ tiền thuế của dân.

Trong thực hiện chính sách dụng nhân, Đảng đã sa vào bãi lầy tự tạo mang tên kỳ thị bất công khi gián tiếp phủ nhận thành quả học tập tự lập chủ động của con em các gia đình Ba Không (không có công với cách mạng, không là đảng viên, không được đào tạo từ tiền đầu tư khổng lồ của Đảng), mặc nhiên thừa nhận chỉ có sự đầu tư do Đảng bỏ tiền USD khổng lồ từ tiền thuế của dân ra đào tạo nhằm vào các đảng viên trẻ hoặc con em cán bộ cao cấp của Đảng thì đất nước mới có nhân tài. Bằng cách gọi các công chức trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa làm việc ở đâu là “trí thức trẻ”, Đảng đã khẳng định vừa xem quá nhẹ ý nghĩa và tầm vóc của nhà trí thức vừa muốn ngụ ý tất cả các đảng viên của Đảng đều là nhà trí thức do đa số có bằng cấp cử nhân, biến Đảng là tổ chức của toàn những nhà trí thức nên tự động đủ sức lèo lái con tàu đất nước trong thời đại mới tân kỳ phức tạp.  Qua việc “gởi ra nước ngoài đào tạo thạc sĩ tiến sĩ”, Đảng đã hé lộ rằng tư tưởng trọng bằng cấp đã trở thành lực chủ đạo khống chế công tác dụng nhân của Đảng, qua đó, bằng cấp thay vì chỉ là chứng thực kết quả một quy trình thi cử có các bài đạt cơ số tổng điểm yêu cầu của nhà trường đối với một môn hay ngành học cụ thể mà cá nhân học viên quan tâm riêng để hoặc thỏa mãn cái tôi hoặc có thể cạnh tranh cho một công việc có thể giúp thực thi cái đã học thì lại được Đảng xem như sự chứng nhận tài năng, đẳng cấp, tài ba quản trị cấp Nhà Nước để ngồi vào vị trí quản lý cấp cao mà không cần phải kinh qua thời gian làm việc hiệu quả như bó buộc đối với “con cái của dân đen”.

Chính sự dụng nhân kỳ thị cực đoan kỳ dị phản-Hồ-Chí-Minh như trên mà Đảng đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng trong đó có 3 vấn nạn nổi bật nhất gồm

1- Sự thờ ơ của toàn dân – do số lượng đảng viên chỉ là phần nhỏ so với dân số cả nước – đối với quy trình học tập trong nước-thi cử trong nước-tìm việc trong nước, dẫn đến tư tưởng mất niềm tin vào sự công minh công bằng, và thực hiện ngay khi có thể được việc xuất ngoại du học và tìm cách tìm việc ở ngoài nước, khiến tiềm lực nhân sự giỏi và nhân sự tài nếu có chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón thế mà nhân dân cũng không hề biết tên đầy đủ của ai và những ai đang ngồi xỗm trên các đầu ngón tay ấy.

2- Sự bố trí sai nhân sự do không có nhân sự đúng để bố trí mà ngay cả khi quy trình bố trí cán bộ có chặt chẽ và nghiêm minh nghiêm túc đến đâu chăng nữa (do số lượng nhân sự Đảng có trong tay – qua trực tiếp đầu tư đào tạo – thì không bất kỳ ai có kiến thức đầu tư đào tạo, có kinh nghiệm đầu tư đào tạo, và có chịu trách nhiệm về chất lượng đầu tư đào tạo) thì nhân sự chất lượng tồi đương nhiên không thể phục vụ đất nước nhân dân ở tầm vóc và hiệu quả mà Đảng kỳ vọng.

3- Các sai phạm va vấp tiêu cực thậm chí có cả trọng án ở tất cả các lĩnh vực từ giáo dục, y tế, pháp đình, quân đội, công an, công thương, đến đầu tư, tài chính, ngân hàng, công nghiệp, v.v., chứng minh Đảng đã sai vì có đội ngũ hoạch định chính sách dụng nhân tồi, đội ngũ tư vấn chiến lược dụng nhân tồi, đội ngũ thực hiện dụng nhân tồi, mà tất cả các nhân sự của các đội ngũ tồi tệ này đều do Đảng đào tạo, đánh giá, bố trí, và không chịu trách nhiệm về họ.   

C) Quyền Lực Nhũn Xèo

Phần này được phân tích trong bài Quyền Lực Nhũn Xèo

V- Ba Biện Pháp Để Cộng Sản Việt Nam Vững Vàng Tiến Được Qua Thế Kỷ XXII: Chủ Nghĩa Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng

A) Chủ Nghĩa Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng: Yếu Tố Định Luật

1- Bản Sắc Hồ Chí Minh:

Tuyệt đại đa số người Việt từ thời tiến hành cuộc Trường Di rời Động Đình Hồ xuôi vạn lý về phương Nam cho đến lúc Thế Kỷ XX bước vào ba thập kỷ cuối cùng thì vẫn luôn thắm đượm tinh thần tích cực, văn hóa tích cực, lối sống tích cực, và cách nhìn tích cực có ảnh hưởng tỏa lan tích cực. Sự tích cực ấy là từ tư duy và qua thể hiện tổng hợp của 8 phạm trù hiếu, dũng, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và tôn ty quân-thần/phụ-tử/phu-thê, tất cả hình thành các khuôn mẫu khuôn phép bài bản cho con người tiến ra xã hội với quy trình bất di bất dịch 4 bước miên viễn đúng tuyệt đối đúng của tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ. Tất cả ngần ấy thứ phạm trù tích cực và quy trình miên viễn đúng đều do từ giáo dục gia đình chứ không từ trường học. Gia đình là cha mẹ cùng các bậc trưởng thượng. Chính nhờ giáo dục gia đình mới tạo nên những người con hội đủ 8 phạm trù và có nhận thức về quy trình 4 bước. Và những người con như vậy tự trở thành những con người có trách nhiệm cao nhất, tiền đề cho sự hình thành những nhà ái quốc.

Lịch sử Việt Nam lưu danh bao vị anh hùng ái quốc. Và các phân tích ở trên phác họa tiến trình phải qua cùng những đức tính cao quý phải có nơi những nhà ái quốc.

Xuất phát từ gia giáo như thế, Nguyễn Ái Quốc là một nhà ái quốc, là người con của hai đấng sinh thành cũng là hai nhà ái quốc. Nhờ gia giáo, Phan Bội Châu là một nhà ái quốc, là người con của hai đấng sinh thành cũng là hai nhà ái quốc. Dù thành công hay thất bại, họ đều là những nhà ái quốc đã vì nước vì dân mà hy sinh các hưởng thụ cá nhân để gian nan lao lung kiếm tìm phương cách họ cho là tốt nhất để cứu nước cứu dân.

Tuy nhiên, không thể đoan chắc rằng học trò của Phan Bội Châu có gia giáo tương tự Phan Bội Châu để trở thành những nhà ái quốc nối chí Phan Bội Châu. Đó là lý do không bất kỳ ai dưới thời Việt Nam Cộng Hòa được thế giới biết đến như một nhà ái quốc Việt Nam.

Tất nhiên, không thể đoan chắc rằng học trò của Hồ Chí Minh có gia giáo tương tự Hồ Chí Minh để trở thành những nhà ái quốc nối chí Hồ Chí Minh. Đó là lý do chưa bất kỳ ai dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được thế giới biết đến như một nhà ái quốc Việt Nam.

Không có tính cách mang bản sắc Hồ Chí Minh, không đảng viên cộng sản nào là nhà ái quốc. Đã không có lực lượng nhân sự toàn là nhà ái quốc, Đảng chỉ có những đảng viên trong danh mục 11 loại đảng viên được liệt kê ở phần V.C tựa đề “Trị Quốc Theo Mô Hình Hoàng Hữu Phước” bên dưới, mà cả 11 loại này đều không thể giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam vững vàng tiến được qua Thế Kỷ XXII.

Định luật 1: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, các đảng viên Cộng sản phải là những nhà ái quốc hội đủ bản sắc Hồ Chí Minh.

2- Cộng Sản:

Chủ nghĩa cộng sản là tác phẩm trí hóa mới nhất của nhân loại. Từ sau sự xuất hiện của chủ nghĩa này trong đời sống chính trị thế giới, cho đến nay chưa hề có một hệ tư tưởng nào khác, bất luận hệ tư tưởng ấy nghiêm túc hay diễu hề. Đặc biệt, chủ nghĩa cộng sản phát huy tác dụng một cách đầy thuyết phục và cực kỳ khủng khiếp trong 9 mặt sau:

a) Tiêu diệt hoàn toàn tất cả các đế quốc thực dân toàn cầu, dẫn đến giải phóng toàn bộ các thuộc địa trên toàn thế giới;

b) Tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ;

c) Hình thành siêu cường đối trọng của toàn thế giới tư bản: Liên Xô;

d) Tiêu diệt Đức Quốc Xã, quyết định sự kết liễu Đệ Nhị Thế Chiến, khiến Mỹ phải vội vàng sử dụng bom nguyên tử với Nhật Bản để giành lấy cơ hội chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản để được mang danh có vai trò to lớn tương tự Liên Xô.

e) Hình thành Khối Xã Hội Chủ Nghĩa Đông Âu;

f) Trở thành công cụ hữu hiệu hình thành siêu cường bành trướng bá quyền Trung Quốc đe dọa sức mạnh Hoa Kỳ và dọa đe toàn thế giới;

g) Trở thành công cụ hữu hiệu trong tay những nhà ái quốc Việt Nam trong tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa, oanh liệt đuổi xua tống khứ các quân đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh trong cuộc tháo chạy tán loạn hỗn loạn chưa từng có tiền lệ trong lịch sử quân sự của nhân loại, hình thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thống nhất trở thành quốc gia không những tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ Kampuchea, đánh tan cuộc xâm lược của Trung Quốc, đánh bại lịnh cấm vận của Mỹ và đồng minh để vươn lên giữ vị thế đối tác chiến lược của các cường quốc trong phát triển kinh tế, quan hệ đối ngoại, và chặn ngăn sự bành trướng của bá quyền Trung Quốc xuống Nam Bán Cầu;

h) Biến đổi hoàn toàn thế giới tư bản từ chủ nghĩa bóc lột giai cấp vô sản sang chủ nghĩa dân túy dựng xây nhiều hơn các phúc lợi cho người lao động, nghĩa là khiến giới tư bản toàn cầu buộc phải chi ra nhiều hơn từ các lợi nhuận; và

i) Lột mặt nạ thế giới Âu Mỹ rằng đã chưa hề có chủ nghĩa chống Cộng mà chỉ có chủ nghĩa bài Nga do Nga đã không còn là quốc gia cộng sản; qua đó chứng minh chống cộng là nội hàm xằng bậy, không có thật, mà chỉ có chống Việt hay bài Việt, biến tất cả các phe nhóm Việt phản động trở thành bọn hề xuản ngốc cực đoan do nhân loại chưa từng có ai chống đất nước của mình bao giờ.

Do hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa có sức mạnh khủng khiếp đến vậy, Việt Nam nhất thiết phải duy trì hình thức của chủ nghĩa cộng sản trong thể chế chính trị của mình. Đây là một yếu tố quan trọng, song chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ. Liên Xô và toàn bộ Khối Xã Hội Chủ Nghĩa bị diệt vong do đã không hội đủ 4 yếu tố mang tính định luật như nêu trong phần V.A. này.

Định luật 2: Muốn Việt Nam tồn tại trước nanh vuốt Trung Quốc được hỗ trợ bởi bọn người Việt và người gốc Việt chống Việt, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải không bị tiêu diệt ở Việt Nam.

3- Dân Tộc:

Chủ nghĩa dân tộc luôn tồn tại mang tính trỗi vượt rõ nét nơi những người yêu nước và những nhà ái quốc. Theo luận cứ trong bài này, người yêu nước không phải là từ thuần Việt của nhà ái quốc. Người yêu nước tồn tại ở tất cả các quốc gia ở tất cả các thời đại. Hitler, Stalin, Tito, Kim Jong-un, Donald Trump, Xì-Dính-Bình, v.v. là những người yêu nước. Hồ Chí Minh là nhà ái quốc. Những nhà ái quốc đều đồng thời mặc nhiên là những người yêu nước; song, người yêu nước cần phải có các bản sắc cao vời mới trở thành nhà ái quốc. Do tất cả những nhà ái quốc và những người yêu nước đều dân tộc chủ nghĩa từ bản chất, bất kỳ nhà chính trị nào cổ súy cho chủ nghĩa đại đồng hoặc biến thể hiện đại của nó là chủ nghĩa toàn cầu hóachủ nghĩa hội nhập đêu là hoặc (a) ngu xuẩn bầy đàn, hoặc (b) gian ngoan ngụy trang. Và một khi chủ nghĩa dân tộc từ vị trí tàng ẩn tự nhiên tự thân nơi tư duy con người tiến ra ngạo nghễ tự hào công khai thách thức thế giới chính trị toàn cầu như đang thống lĩnh sinh hoạt chính trị hiện nay, những lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhất thiết phải đặt Việt Nam Trên Hết làm tư tưởng chủ đạo cực đoan. Hãy hoặc công khai tự hào như Donald Trump và Hoàng Hữu Phước, hoặc gian ngoan ngụy trang. Không bao giờ được phép ngu xuẩn bầy đàn thực tâm ngợi ca cái xảo ngụy của chủ nghĩa toàn cầu hóachủ nghĩa hội nhập vốn chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có thật.

Định luật 3: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải tuân theo xu hướng thống lĩnh thế giới của thời đại mới mà Hoàng Hữu Phước đã cổ súy hơn 30 năm qua trên các diễn đàn tự do ngôn luận tại Việt Nam: khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa cho một tư duy duy nhất đúng của Việt Nam Trên Hết.

4- Thiên Khổng:

Hồ Chí Minh và những nhà cách mạng Cộng sản ái quốc cùng thời với Hồ Chí Minh đều xuất thân từ nền gia giáo thiên Khổng. Ngay cả nhiều người trong đám đông chống Hồ Chí Minh cũng có xuất thân tương tự.

Hồ Chí Minh dựng xây Đảng Cộng Sản Việt Nam và giáo dục đảng viên về đấu tranh giai cấp, về chủ nghĩa cộng sản, về đấu tranh chống thực dân đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc tiến đến thống nhất đất nước, về không có gì quý hơn độc lập tự do cho dân tộc, về tinh thần quốc tế vô sản, và về nội dung cụ thể phải làm vì nước vì dân. Hồ Chí Minh không bao giờ dạy bảo rèn luyện cán bộ về 8 phạm trù khuôn phép cùng 2 bước quy trình tu thântề gia, vì tất cả những nội dung này chỉ có từ tự thân và từ gia giáo. Hồ Chí Minh dựa vào những con người sẵn có các tố chất bản sắc người tài ấy để tạo điều kiện cho họ trị quốc để lãnh đạo họ vào đại cuộc bình thiên hạ. Cái uy đức của thánh nhân nơi Hồ Chí Minh giúp quy tụ quanh Người vô số những nhà ái quốc tạo nên lực lượng bất khả chiến bại.

Trong thời đại mới này, Đảng Cộng Sản Việt Nam khi kết nạp Đảng, sử dụng nhân sự đảng viên, bố trí giao việc lớn trị quốc trong guồng máy chính quyền các cấp cho cán bộ đảng viên, chỉ thuần trên 6 nội dung của 

(a) đúng quy trình kết nạp/dụng nhân/bố trí của Đảng;

(b) đạt yêu cầu “tư tưởng chính trị” qua các khóa “cao cấp lý luận chính trị” của Đảng;

(c) đạt yêu cầu “bằng cấp” do chính Đảng đài thọ chi phí đào tạo;

(d) đạt yêu cầu “thời gian/vị trí/nơi công tác của Đảng” dù không bao giờ làm việc từ cấp thấp đạt kết quả mỹ mãn mang tính nghiệp vụ chuyên môn theo thời gian mà chỉ ngồi ngay vào ghế lãnh đạo cấp cao để thừa hưởng thành quả dâng lên từ cán bộ thuộc quyền cấp thấp tại đơn vị “công tác”;

(e) đặt ưu ái cho thành phần đảng viên thuộc gia đình có công với cách mạng chứ không trên cơ sở gia đình gia giáo thiên Khổng; và

(f) Đảng không phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ hậu quả nào của việc kết nạp sai, đào tạo sai, sử dụng sai, bố trí sai.

Khi Đảng không hề có và không thể có chức năng rèn luyện đào tạo cán bộ Đảng có được 8 phạm trù khuôn phép cùng 4 bước quy trình, Đảng phải không được quên tầm quan trọng dứt khoát phải được tôn trọng của gia giáo.

Chưa kể, học đường là nơi phổ biến kiến thức và kiểm tra kiến thức chứ cũng không hề có và cũng không thể có chức năng rèn luyện 8 phạm trù khuôn phép đạo đức con người nhằm đáp ứng 4 bước quy trình bước vào xã hội một cách có tư cách và trách nhiệm của công dân. Việc rứt học sinh ra khỏi giáo dục gia đình bằng cách gia tăng thời gian ở trường của học sinh, giảm thiểu thời gian sinh hoạt ở nhà của học sinh, ngợi ca quá đáng vai trò giáo dục đạo đức của trường học mà bản thân học đường không bao giờ có, đã khiến làm biến mất toàn bộ cái gọi là gia giáo mà lẽ ra học sinh có quyền chính đáng được thụ hưởng, dẫn đến hậu quả là đạo đức học đường xuống cấp nghiêm trọng, đạo đức xã hội suy đồi, và Đảng không còn có thể có được lực lượng kế thừa nào trong sạch vững mạnh minh bạch liêm khiết tài năng.

Nghiên cứu tất cả các bài viết của Hoàng Hữu Phước về giáo dục và đào tạo, áp dụng mô hình trợ cấp cho những người vợ làm “nội trợ” như cơ chế từng có tại Việt Nam Cộng Hòa hay đang có tại nhiều cường quốc kinh tế Tây Âu, là những biện pháp nên làm để dần dần tái lâp sự giáo dục của gia đình đối với con cái của chính họ, dù ngay cả khi đề xuất vấn kế này có được áp dụng ngay trong tuần này thì cũng đã quá muộn màng: Việt Nam từ nay không thể có nhân tài và càng không thể có hiền tài – trừ khi Đảng tự đề cao ai đó hoặc tác giả bài viết này tự đề cao chính y như một hý hước của một nhà châm biếm bậc thầy duy nhất còn sót lại ở Việt Nam.

Định luật 4: Muốn chủ nghĩa cộng sản không bị tiêu diệt ở Việt Nam, các đảng viên Cộng sản phải là những nhà ái quốc hội đủ bản sắc Hồ Chí Minh, mà bản sắc ấy hình thành chỉ từ gia đình thắm đượm tinh thần ái quốc từ khuynh hướng thiên Khổng chủ đạo chứ tuyệt nhiên không bao giờ có được từ sự giáo dục cộng sản chủ nghĩa của Đảng Cộng Sản. Không trên nền thiên Khổng trong tu thân tề gia, dứt khoát không bao giờ nhận được sự tôn trọng tôn kính tôn sùng của người dân Việt để có thể nắm quyền trị quốc.

B) Áp Dụng Tuyệt Đối Cẩm Nang Trị Quốc Duy Nhất Đúng Miên Viễn Của Hồ Chí Minh

Vạn vật đều biến đổi. Thương hải biến vi tang điền. Trăm năm biển cả biến ruộng dâu. Ấy là khi xưa người ta tư duy còn hạn hẹp nên có khi cho rằng trăm năm ấy đã rất dài, còn có lúc lại cho thời gian chỉ như như bạch câu quá khích bóng câu vút ngang qua khe cửa hé mà thôi. Thế nên, miên viễn dùng trong phần này không với ngụ ý vĩnh cửu tức chống lại mọi định luật của tự nhiên, mà chỉ đơn giản mang nội hàm của một chân lý có thể áp dụng dài lâu nhất.

Hồ Chí Minh đã một cách thông tuệ để lại cho các học trò của Người một cẩm nang trị quốc có giá trị đúng miên viễn, và đó là câu “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Tuy nhiên, cái sự học nhiều đọc nhiều biết nhiều bằng cấp nhiều chỉ có thể đẩy một người vươn lên hàng ngũ người giỏi, song chỉ có quá trình hiểu đúng, diễn giải đúng, truyền đạt đúng, truyền bá đúng, áp dụng đúng, đạt hiệu quả đúng trong trị quốc mới biến người giỏi ấy thành bậc thông tuệ nhân tài và được lưu danh trong sử sách như những bậc hiền tài. Các đảng viên đẳng cấp cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam đều là học trò thật của Hồ Chí Minh, học trò tự nhận của Hồ Chí Minh, hoặc những người hiếu học luôn giương cao biểu ngữ học tập theo gương Hồ Chí Minh dù thực tế chỉ cho thấy sự ngỡ ngàng của người dân không rõ các vị hiếu học ấy học cái gì của Hồ Chí Minh và học được gì từ Hồ Chí Minh mà “học” mãi không thuộc và “hành” thì suy bại đến thế; song, dù thuộc bất kỳ nhóm nào trong các nhóm chuyên gia học tập này thì không có bất kỳ ai thông tuệ để vừa hiểu bí kíp thông tuệ ấy của Hồ Chí Minh vừa đem ứng dụng được cái sự hiểu ấy vào trị quốc để duy trì phong cách bách chiến bách thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã tự hào tạo dựng.

Trong bài Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam ở phần “Cẩm Nang Bửu Bối Của Hồ Chí Minh”, tác giả Hoàng Hữu Phước có giảng giải rằng: “…tôi thấy cần khẳng định lại hai lập luận của tôi trong nhiều chục năm qua là: (a) tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng thực tế đời sống đã khiến những khái niệm hay quan niệm trước đây trở nên hoặc obsolete không còn phù hợp hoặc cần có các upgradation chỉnh lý nâng cao tương thích, và (b) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng tiên tri thấu thị về những đổi thay mang tính thời đại mới ấy nên để lại cho các học trò một bửu bối trong trị quốc bình thiên hạ: đó là câu “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” với đại ý rằng cái gì có lợi cho độc lập dân tộc và quốc gia ổn định cường thịnh thì cứ biến hóa ra vạn cách để làm, ngõ hầu thực hiện cho được mục tiêu ấy chứ không cớ gì phải bám theo sát sàn sạt từng chữ một tất cả những lời Người đã dạy.”

Thực tế lịch sử Việt Nam hiện đại đã chứng minh, chứng kiến, chứng nhận các thành quả của hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam từ “Dĩ Bất Biến” trong xác quyết ấn định cố định con đường dựng xây đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đến “Ứng Vạn Biến” thiên hình vạn trạng mà vài thí dụ điển hình như sau:

1- Ứng Vạn Biến 1: Không cần đánh tiếng trước với thế giới, chủ động đưa đại quân vào lãnh thổ nước Kampuchea “cộng sản anh em” để tiêu diệt quân Khmer Đỏ xâm lược, lật đổ chế độ diệt chủng của Pol Pot, giải phóng hoàn toàn Kampuchea khỏi họa diệt vong. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

2- Ứng Vạn Biến 2: Vừa đánh tiếng với thế giới về sự xâm lược của Trung Quốc, vừa chủ động không đưa quân vào lãnh thổ nước Trung Quốc “cộng sản anh em” truy sát tàn quân Trung Quốc chiếm lấy Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông; từ chối không noi gương Lý Thường Kiệt xưa kia (vừa công bố Phạt Tống Lộ Bố Văn vừa chủ động đưa quân vào lãnh thổ nước Trung Hoa “thiên triều” đánh chiếm Khâm Châu, bức hạ Liêm Châu, thu nạp Bạch Châu, san thành bình địa Ung Châu, tàn phá Tân Châu). Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

3- Ứng Vạn Biến 3: Tham gia tổ chức ASEAN mà tiền thân là SEATO Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á (đứa con sinh sản vô tính từ Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO), đầy thù địch (không những gởi quân sang tham chiến tại Việt Nam dưới ngọn cờ hiệu triệu của Mỹ mà còn cho Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự để xuất kích các cuộc oanh tạc tàn phá “Bắc Việt”, và sau khi tất cả tháo chạy lạch bạch như vịt khỏi Việt Nam thì cho các phiến quân hải ngoại đến lập căn cứ để tung các “Kinh Kha” đột nhập vào Việt Nam để phá hoại hòa bình ổn định của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam). Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

4- Ứng Vạn Biến 4: Noi gương Phong Trào Perestroika của “đàn anh” Liên Xô để tạo ra Tiến Trình Đổi Mới của riêng Việt Nam, điềm nhiên chứng kiến nước “cộng sản anh em” Liên Xô bị Perestroika làm cho bị tiêu diệt, rồi tự tin thúc đẩy Đổi Mới làm bệ phóng cho Việt Nam Cộng Sản trở thành đầu kéo duy nhất của chủ nghĩa xã hội không có toa tàu nối đuôi. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

5- Ứng Vạn Biến 5: Mở rộng cửa bang giao hữu hảo với tất cả các cường quốc tư bản từng là đại thù, khép bớt cửa với cường quốc bá quyền từng là hữu hảo. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

6- Ứng Vạn Biến 6: Chủ động đề ra học thuyết kinh tế “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để phát triển kinh tế cộng sản trong môi trường toàn cầu tư bản. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

7- Ứng Vạn Biến 7: Biến chủ nghĩa cộng sản thành tư tưởng chính trị chủ đạo của trị quốc theo đường hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa của thời đại mới, thay cho các vai trò nguyên thủy, nghĩa là nay không đấu tranh giai cấp vì giai cấp công nhân ở mọi nơi không màng gì đến đấu tranh giai cấp, không theo phe nhóm chống đối chủ nghĩa tư bản như Khối Xã Hội Chủ Nghĩa và các Quốc Tế Cộng Sản vì toàn bộ các nhóm đã tiêu vong mà Việt Nam chẳng chống chủ nghĩa tư bản, không hô hào thế giới đại đồng vì thế giới vĩnh viễn không bao giờ đại đồng trong khi Việt Nam không bao giờ dại dột đứng lên hô hào như vậy, không kêu gọi vô sản các nước đoàn kết lại vì chẳng vô sản nào còn nghe theo trong khi Việt Nam chẳng hề muốn lãnh đạo dưỡng nuôi bảo bọc vô sản các nước, v.v. Tất cả vì “Dĩ Bất Biến”: Việt Nam phải trường tồn.

Và còn nhiều các “ứng vạn biến” khác.

Tuy nhiên, các “ứng vạn biến” do chưa trên quy mô đầy đủ toàn diện, khiến hạn chế tầm phát triển suông sẻ của Việt Nam, thậm chí đã và đang đẩy Việt Nam tiến gần hơn đến miệng vực của trì trệ, thất bại. Tất cả những suy đồi suy sụp suy vi qua các đại án kinh tế đang hằn vết nhơ lên lá cờ chủ soái của Đảng là do những sai lầm mang tên “không bao giờ áp dụng ứng vạn biến trong dụng nhân” mà ra.

Phần dưới đây liên quan đến “ứng vạn biến” trong dụng nhân như mẫu ghép cuối cùng nhưng lại là quan trọng nhất vì là phần ghép đế móng của tòa tháp chế độ mà lẽ ra đã phải được ghép đầu tiên và trước hết.

C) Trị Quốc Theo Mô Hình Proxy Governance Của Hoàng Hữu Phước

Từ bản chất Hồ Chí Minh đã nêu trên ở phần V.A.1. , từ cẩm nang trị quốc mang tên “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” của Hồ Chí Minh, và từ chính thực tế dụng nhân của Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng việc trị quốc theo mô hình dụng nhân sau đây của Hoàng Hữu Phước hoàn toàn tương hợp, nhất là khi thực tế hiện nay chứng minh toàn bộ các lãnh đạo cộng sản cấp cao ở tất cả các mặt trận của nền kinh tế quốc dân đều chỉ thuộc một trong 11 hạng gồm

(a) trung kiên với Đảng,

(b) không có tì vết,

(c) tội phạm bị phát hiện,

(d) tội phạm tiềm tàng sẽ bị phát hiện trong tương lai gần hoặc xa hay rất xa,

(e) phạm tội nhưng không bao giờ thành tội phạm,

(f) không bao giờ thỏa hiệp với tiêu cực nhưng không bao giờ tố giác tội phạm,

(g) thực tâm không xem chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng,

(h) không bao giờ có tâm thức “phục vụ quốc gia dân tộc”,

(i) xem kiếm tiền là mục đích chính của mọi chức vụ đảm nhiệm,

(j) không có chồng/vợ/con có “gia giáo” tức đã không có năng lực “tề gia”, và

(k) không bao giờ có danh thanh liêm chí công vô tư tức đã không hề “tu thân”.

Khi rõ ràng rằng cả 11 hạng cán bộ cộng sản nêu trên tất nhiên không mang bản chất Hồ Chí Minh, không là người giỏi khiến chưa từng có ai là nhân tài – kể cả nhân tài trong giỏi phát hiện và giỏi diệt trừ tham nhũng – từ khi thống nhất đất nước cho đến nay, và do đó tất nhiên những cán bộ này không thể sử dụng thành công cẩm nang trị quốc của Hồ Chí Minh, thậm chí có khi tích cực “ứng vạn biến” chỉ để phục vụ lợi ích nhóm cán bộ cấp cao và quyền lợi cá nhân cán bộ cấp cao, rời xa vĩnh viễn “dĩ  bất biến”, đặt chế độ cộng sản chủ nghĩa đối diện với nguy cơ bị diệt vong từ sự bất mãn của người dân trước sự thật rằng các lãnh đạo ở Bộ Chính Trị, ở Trung Ương và ở tất cả các tỉnh thành trong thời đại “mở cửa hội nhập” đều chưa có ai hữu tài hữu dụng nổi bật công khai để dân chúng thán phục như “nhân tài” cả – trừ nhân vật Nguyễn Phú Trọng.

1- Mô Hình Hoàng Hữu Phước:

Mô hình trị quốc Hoàng Hữu Phước tức mô hình national proxy governance mang yếu tố “dĩ bất biến, ứng vạn biến” bao gồm 5 điểm căn bản sau:

a) Dĩ Bất Biến: Đảng Cộng Sản thống lĩnh các mặt tư tưởng chính trị, thể chế chính trị, chủ trương, hoạch định đường lối, chính sách chiến lược quốc gia trong đối nội và đối ngoại, với mô hình quyền lực Đảng từ trung ương (Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng) đến địa phương (thành ủy, tỉnh ủy; xóa bỏ các cấp chính trị “ủy” ở quận/phường/xã).

b) Dĩ Bất Biến:Đảng Cộng Sản trực tiếp thống lĩnh các lực lượng vũ trang quốc gia.

c) Dĩ Bất Biến: Đảng Cộng Sản trực tiếp thống lĩnh mặt trận ngoại giao.

d) Ứng Vạn Biến: Toàn bộ ban lãnh đạo chính quyền đối với các mặt lãnh đạo chính phủ trung ương (từ Thủ Tướng đến các Bộ Trưởng – trừ các Bộ Quốc Phòng, Công An, và Ngoại Giao), lãnh đạo nhà nước địa phương (các ủy ban nhân dân và các hội đồng nhân dân các cấp) đều do người giỏi ngoài đảng đảm trách. Người giỏi ngoài đảng phải tự ứng cử, ra tranh cử, được người dân bầu lên qua các cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức theo các luật hiện hành có liên quan. Người giỏi trong đảng cũng phải tự ứng cử, ra tranh cử, nếu được Đảng cho phép và nếu chỉ có các chức vụ trong Đảng, được người dân bầu lên qua các cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức theo các luật hiện hành có liên quan. Đối với tranh cử vào Quốc Hội, những người giỏi ngoài đảng tự ứng cử và những người giỏi trong đảng tự ứng cử khi đắc cử sẽ tiến hành bầu ra ban lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo chính phủ từ những nghị sĩ vừa đắc cử chứ không theo danh sách khống chế đề ra bởi Bộ Chính Trị nhưng chưa hề có ai trong Bộ Chính Trị phải chịu trách nhiệm về nhân sự do mình đề cử.

e) Ứng Vạn Biến: Tuyên bố ghi ơn và chấm dứt vai trò lịch sử của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

2- Nhị Ưu Việt Của Mô Hình Hoàng Hữu Phước Tức Mô Hình Lãnh Đạo Ủy Nhiệm National Proxy Governance:

a) Điểm ưu việt thứ nhất: Chức năng được phân định

Với thực tế từ 30-4-1975 cho đến nay chỉ chứng kiến sự suy đồi của quá nhiều quan chức và tướng lĩnh mà tất cả đều là đảng viên, do Đảng giáo dục rèn luyện và do Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu, đã chứng minh:

(i) Đảng viên không thể là nhân tài chỉ với sự giáo dục của Đảng mà không cần có sự giáo dục tự thân, của cha mẹ – nếu thủa ấu thời còn cha ẹm –  hay bậc trưởng thượng trong gia đình;

(ii) Đảng không thể thay cha mẹ hay bậc trưởng thượng trong gia đình đảng viên để giáo dục tư cách nhân cách con người ngay từ tuổi ấu thơ của đảng viên;

(iii) Đảng không có lực lượng đảng viên người tài để có thể sử dụng đảng viên nắm các chức vụ quản trị nhà nước rất đa dạng đa ngành trong hoàn cảnh mới của Việt Nam;

(iv) Đảng đã thất bại trong giám sát kỷ cương cán bộ do chính Đảng rèn luyện, đầu tư, phân công;

(v) Đảng không thể gạt phần dụng nhân ra khỏi cẩm nang “ứng vạn biến” trong trị quốc của lãnh tụ Hồ Chí Minh;

(vi) Đảng đã bất lực không xử lý được đảng viên sai phạm trong rất nhiều năm qua do cơ chế bảo vệ đảng viên của chính Đảng; và

(vii) Đảng không có quyền để Đảng bị ô danh vì chính sự dụng nhân “bất biến” của Đảng.

Với mô hình ủy trị quốc gia national proxy governance, điểm ưu việt thứ nhất sẽ là sự cộng hưởng của 4 thành tố gồm:

– Đảng thực hiện phần chức năng Đảng thực sự hùng mạnh, có kinh nghiệm tuyệt đối, và có thể chịu trách nhiệm (trực tiếp thống lĩnh các mặt tư tưởng chính trị, thể chế chính trị, chủ trương, hoạch định đường lối, chính sách chiến lược quốc gia trong đối nội và đối ngoại, với mô hình quyền lực Đảng từ trung ương đến địa phương);

– Đảng chấm dứt trực tiếp điều hành Nhà Nước tức chấm dứt nắm quyền lực Nhà nước ở các cơ quan Nhà Nước và Chính Phủ, để tập trung thực hiện phần chức năng Đảng chưa bao giờ có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy đã từng đạt hiệu quả trong thời đại mới: giám sát kỷ cương trị quốc;

– Những chức sắc ngoài Đảng khi sai phạm bị sự giám sát của Đảng đưa ra chịu tội trước pháp luật sẽ không làm Đảng bị ô danh, nâng cao vị thế của Đảng trong nhận thức của người dân, triệt tiêu hoàn toàn các cáo buộc tiêu cực về sự dung túng của Đảng đối với đảng viên; và

– Người giỏi có cơ hội tham chính mà không cần vào Đảng, khiến đất nước có cơ hội có được người tài, và sử sách có thêm danh mục các bậc hiền tài từ sự “ứng vạn biến” này trong khâu trọng yếu của Đảng: dụng nhân. 

b) Điểm ưu việt thứ hai là sẽ có sự lột xác của giới tinh hoa chính trị Việt Nam như phân tích trong bài Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021 , biến giới này từ trạng thái vô hình vô cảm vô tâm vô tích sự từ 30-4-1975 đến nay sẽ trở thành lực lượng ưu tú chuyên nghiệp có trách nhiệm của Đảng trong chức năng thống lĩnh mặt trận tư tưởng và thể chế quản lý thượng tầng và giám sát từ thượng tầng. Tương tự, như thấu thị chiến lược của Hoàng Hữu Phước, sẽ phải nhanh chóng có hệ Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam một khi người giỏi ngoài Đảng và người giỏi trong Đảng tự ra ứng cử Quốc Hội mà không dưới ô dù của Đảng hay Mặt Trận Tổ Quốc, để trở thành nghị sĩ và từ đó bước lên vị trí lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo chính phủ, lãnh đạo Nhà Nước đường hoàng trong tư thế và tư cách phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện các định hướng chủ đạo của Đảng và dưới sự giám sát của Đảng.

Dĩ bất biến, ứng vạn biến” luôn là cẩm nang tự có trong vô thức của tất cả những nhân vật thành công – hoặc muốn thành công – trong lịch sử loài người. Đó là tinh thần linh hoạt linh động ứng phó ứng đối xử trí xử lý hoàn cảnh vì mục đích đã được xác quyết.

Song, Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất của loài người minh định công khai cẩm nang ấy thành ngôn từ mang tính chỉ thị thấu thị truyền lưu, biến “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” thành phát kiến riêng thuộc về Hồ Chí Minh, người con kiệt xuất nhất của nước Việt.

Phát kiến ấy của vị lãnh tụ cộng sản Việt Nam duy nhất lừng danh duy nhất vĩ đại  Hồ Chí Minh, do đó, không thể không được tuân thủ áp dụng triệt để bởi những đảng viên cộng sản được cho là đang tích cực học tập theo lời dạy của chính Người.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng và Lý Luận Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Sử Nghiên Chính-Trị

Liên kết tham khảo các bài viết của Hoàng Hữu Phước theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài trên:

Tài Năng Thấu Thị: Tin Quảng Bá  20-10-2018

Khiêm Tốn: Khiêm Tốn  22-02-2015

Làm Chính Trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Gã Phụ Bếp Họ Hồ: Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam 11-9-2015

Ngọn Cờ Vatican: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017

Chính Trị: Chính Trị  14-01-2016

Tự Do-Dân Chủ: Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Đảng Chính Trị Tức Chính Đảng: Việt Nam Cộng Hòa – Đảng Chính Trị 18-9-2017

Zero Đảng, Độc Đảng, Lưỡng Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. 14-4-2015

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu 05-8-201

Hoàng Hữu Phước Đối Đầu Với Chu Văn An: Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo”  25-4-2019

Phong Trào Đông Du:  Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Đi Tắt Đón Đầu: Đi Tắt Đón Đầu  08-9-2017

Lập Gia Đình:  Đám Cưới  09-12-2015

Nhà Chí Sĩ Lê Quốc Túy (Lê Phục Thiện):  Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Từ Chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Nhân Tài Nước Việt Trần Chung Ngọc: Trần Chung Ngọc

Đừng Nghe Những Gì Cộng Sản Nói Mà Hãy Nhìn Những Gì Cộng Sản Làm:  Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”  26-12-2014

Đừng Nghe Những Gì Bọn Chống Cộng Nói Mà Cũng Đừng Nhìn Những Gì Bọn Chống Cộng Làm:  NHỮNG LẬP LUẬN KỲ QUÁI CỦA NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ TS TRẦN MINH HOÀNG  25-01-2014

Quân Đội Viễn Chinh Gần Triệu Người Từ Mỹ, Đại Hàn, Úc, Thái, Phi, New Zealand: Tứ Trụ Bắc Việt  19-7-2016

Quỳ Ôm Gối: Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu  11-9-2016

Cộng Sản Buộc Phải Trở Thành Thế Lực Chính Trị Còn Lại Duy Nhất Ở Việt Nam: Luận Về “Đa Đảng” 27-6-2019

Tham Nhũng: Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng 14-02-2016

Nhà Báo: Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  05-8-2016

Đảng Loạn: Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn 14-12-2016

Bọn Con Nít Làm Chính Trị: Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Các Công Chức Trẻ Vừa Tốt Nghiệp Đại Học Là “Trí Thức Trẻ”: Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình  14-9-2016

Nhà Trí Thức: Thế Nào Là Nhà Trí Thức 14-02-2014

Quyền Lưc Nhũn Xèo: Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017

Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến: Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”  27-10-2015, và  Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam  02-02-2016

Người Giỏi, Nhân Tài, Hiền Tài: Hiền Tài May 22, 2019

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam: Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Phạt Tống Lộ Bố Văn: 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975 30-5-2011

Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi: Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021

Chuẩn Mực 46: Chuẩn Mực 46 Của Nghị Sĩ Việt Nam  04-02-2018

Lại Chậm Chân

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

11-6-2019

Như đã luôn được nhắc đến trong 500 bài trên blog này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không may vướng phải 6 hoàn cảnh trầm kha trong đại cuộc kiến quốc gồm (a) đã không bất kỳ đảng viên nào thông tuệ ngộ ra được quy trình người giỏi-người tài-nhân tài-hiền tài trước thạc sĩ Hoàng Hữu Phước; (b) vì không biết nên đã không có kế sách phù hợp trong dụng nhân; (c) vì không có kế sách phù hợp trong dụng nhân nên đã chưa hề có được trong tay bất kỳ nhân tài nào phục quốc tức phục vụ quốc gia; (d) vì không có nhân tài lãnh đạo thực hiện kiến quốc nên lãnh đạo Đảng vốn toàn là những vị “thinker” tức chiến lược gia cho ra bao kế sách vĩ đại song đã không có các “doer” tức các nhân tài thực hiện khiến phải nghe lời tư vấn của những kẻ nếu xách dép cho nhân tài chỉ làm thối bẩn đôi dép ấy để tiêu tốn biết bao tỷ USD cho “đào tạo nhân lực” chỉ để sản xuất ra những sản phẩm tương tự Tề Trí Dũng và những tên tương cận chứ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề nêu lên được bất kỳ một cái tên nào cao hơn Tề Trí Dũng về tài năng kiến quốc cụ thể từ các đại sư đoàn bí mật thụ hưởng “chương trình đào tạo nhân tài” tỷ tỷ USD đó; (e) tư tưởng nông nô lấn át nên thậm chí chẳng đảng viên nào hiểu cái câu “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” có nghĩa thâm thúy rằng hãy bỏ công sức vô bao sỏi đá vác đi bán cho các công trường xây dụng lấy tiền mua cơm chứ nào phải mang nghĩa hì hục cuốc vào đá sỏi kiên trì thế nào nó cũng phải mọc lên cây lúa, mà với cái tư tưởng nông nô như vậy đã dẫn đến việc chỉ xài người của Đảng do Đảng đầu tư; và (f) cũng vì ngần ấy thứ a bê xê dê e ấy mà nước nhà cứ phải mãi chậm chân.

Bài này viết về một cái chậm chân.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Tháng 8-2007, Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Sheraton Hotel Thành Phố Hồ Chí Minh về chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới. Hoàng Hữu Phước là một trong số 2000 người khắp nơi trên thế giới đóng tiền dự thính.

Tháng 8-2007, đột nhiên báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng rằng Philip Kotler cho Việt Nam một lời khuyên về “thương hiệu quốc gia” là “Việt Nam: Bếp Ăn Của Thế Giới”.

Tháng 8-2007, tất cả các báo chí chính thống của Đảng trên toàn cõi Việt Nam dậy sóng đua nhau đề xuất Phở là món ăn “thương hiệu quốc gia”, và với nhiều món ăn khác, Việt Nam hãy trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới.

Tháng 8-2007, một nữ đảng viên chức sắc ở Thành Phố Hồ Chí Minh về báo chí và thương mại (cũng là một “trí thức” xuất thân từ lực lượng sinh viên “nằm vùng” đấu tranh chống Mỹ tại Sài Gòn trước 1975) than rằng Việt Nam đã chậm chân, vì Thái Lan đã đoạt mất danh hiệu Bếp Ăn Của Thế Giới rồi.

Tháng 11-2007 (ngày 5), thấy thiên hạ bị tẩu hỏa nhập ma vì truyền thông chính thống của Đảng, Hoàng Hữu Phước vội vàng không thể không ra tay cứu độ, lập tức đăng đàn trên blog Aspiration HoangHuuPhuoc tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc (đã đóng cửa) viết một bài bằng tiếng Anh khẳng định rằng Philip Kotler đã không hề khuyên Việt Nam hãy lấy “Nhà Bếp Của Thế Giới” làm “thương hiệu quốc gia”, rằng Thái Lan và toàn cầu chả có nước nào có thương hiệu quốc gia là “Nhà Bếp Của Thế Giới”, rằng cái cum từ ” Nhà Bếp Của Thế Giới” là tên một cuộc thi nấu ăn của một khách sạn hạng xoàng ở Bang Kok tổ chức cho du khách trú ngụ tại đó vui chơi, rằng Phở nào có ra chi mà đem lại cái thương hiệu quốc gia ấy cho Việt Nam, rằng có nhiều lý do vì sao không bao giờ có quốc gia nào có cái thương hiệu ấy, và rằng nếu báo chí Việt Nam quá thèm muốn có một thương hiệu quốc gia thì tôi đây xin vấn kế, và rằng, và rằng.

Tháng 8-2008 (ngày 7), thấy báo chí của Đảng vẫn còn tẩu hỏa nhập ma do toàn bộ lực lượng báo chí và trí thức của Đảng mới có 33 tuổi sinh ra ngày 30-4-1975 chưa kịp trưởng thành để học tiếng Anh cho ra ngô ra khoai, tôi dịch bài ấy ra tiếng Việt và đăng tại  http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam (đã đóng cửa) dưới tiêu đề dài dòng Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới. Bài này được báo Tuổi Trẻ đăng lại dưới dạng rút ngắn. Tôi cũng đăng lại riêng phần tiếng Anh tựa đề National Branding: Vietnam, the Campus of the world tại http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world (đã đóng cửa)

Tháng 1-2015 (ngày 14), tôi đăng lại gộp chung cả hai bài viết Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world ngay trên blog WordPress này bằng song ngữ Anh-Việt. Các bạn quan tâm xin mời đọc tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ để biết Hoàng Hữu Phước đã đề xuất kế sách xây dựng nước nhà ra sao để có thương hiệu quốc gia “Ngôi Trường Của Thế Giới” làm giàu cho Việt Nam, làm Việt Nam lừng danh, làm Việt Nam hưởng lợi thế nào về đào tạo, làm các dự án đầu tư đại công nghiệp khỉ gió tàn hại môi trường lung lay chế độ không bao giờ còn được nhắc đến ở Việt Nam.

Tháng 6-2019, cách nay mấy ngày có tin tức truyền hình Việt Nam cho biết một nước vùng Trung Đông nắng cháy đã biến thành thiên đường đại học quốc tế với tiền học phí thu được mỗi năm tương đương 50.000 (năm mươi ngàn) tỷ đồng Việt Nam tức hơn 2 tỷ USD.

Chao ôi, lại chậm chân.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước doer từ 2007 thì nay cứ thong thả lấy tiền thu học phí của 2007-2018 xây cho xong mấy cái dự án chống ngập Thành phố, chống thối Đa Phước, chống chậm Suối Tiên; còn nhín ra tiền thu học phí 50.000 tỷ của chỉ một năm 2019 này thôi cũng dư bù cho mấy cái chết tiệt mất sạch mất hút mất tiêu núi tiền đồi vàng ở các ngân hàng nước Việt.

Hỡi ơi, giá như Đảng thinker chịu sử dụng người tài ngoài Đảng Hoàng Hữu Phước làm doer thì đất nước của Lạc Long Quân nào cứ chậm chân lạc lỏng xà quẫn xà quần mãi thế kia.

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Tư Vấn Chiến Lược Quốc Gia

Tham khảo:

Người giỏi-Người tài-Nhân tài-Hiền tài: Hiền Tài  22-5-2019

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt NamViệt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới National Branding: Vietnam, the Campus of the world – song ngữ Anh-Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2019

Bài viết sau đây được đăng trên trang mạng doanh nhân emotino lúc 4 giờ sáng ngày 08-01-2010 với mã số 18358.

Việc đăng lại hôm nay chỉ để chứng minh nếu một người thực sự là thạc sĩ/tiến sĩ, người ấy dứt khoát không sao dứt được niềm say mê nghiên cứu tài liệu nước ngoài và viết lách vì nghiên cứu và viết lách là đặc điểm của đẳng cấp luôn để sẵn tua mão bên phía trên vai trái của mình. Nếu lãnh đạo cơ quan của bạn là thạc sĩ/tiến sĩ mà hắn ta/ả ta chẳng hề yêu nghiên cứu viết lách hàn lâm để sẻ chia hành trạng tư duy chuyên nghiệp của mình với tập thể, mà chỉ khoái làm con nít cà tửng cà tửng trên Facebook và/hay Instagram hoặc chỉ khoái là đại gia tức đi siêu xe ở siêu hang quen siêu gái khoái siêu bợm hưởng siêu quyền (cho xe xồng xộc vào đón vợ/chồng ngay chân cầu thang máy bay dù vợ/chồng không phải là tổng thống/đệ nhất phu quân/đệ nhất phu nhân), thì bạn có thể chắc chắn một tỷ phần trăm rằng bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ của hắn ta/ả ta có được là do nhờ người thi hộ, nhờ trường không tên tuổi cấp cho miễn có chường mặt mũi đủ số giờ ngồi trong lớp, nhờ được Gà Rừng cung cấp theo giá rao trên mạng, hoặc xem bằng cấp là đồ trang sức để “cho có với người ta”, hoặc thấy mình thấp kém ngỡ có bằng cấp sẽ đương nhiên biến thượng lưu, hoặc nhờ “phe ta” ở ngay trong nội tình phe nhóm tiến sĩ ở Việt Nam chấm đạt rồi cấp bằng theo chỉ đạo của hệ thống chính trị để ngồi vào các chiếc ghế cao quyền lực kinh-tài của chế độ để sau đó tạo điều kiện cho các cơ quan công tố/công an/toà án/trại giam có nhiều việc để làm để trau giồi tay nghề cho hoàn hảo hơn.

Ắt không cần nhắc thêm rằng bài lập lại dưới đây –như rất nhiều bài đăng lại khác – được viết trước khi tác giả Hoàng Hữu Phước có danh-vị-trọn-đời “Nghị Sĩ Khóa XIII” của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Sự Thật Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản Và Chân Giá Trị Của Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-01-2010

I. Dẫn Nhập: Các Ngộ Nhận Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Nhật Bản

Thường thì khi nói về Nhật Bản, nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới, người Việt Nam hay nghĩ đến đất nước hứng chịu hai quả bom nguyên tử đầu tiên và duy nhất – tính đến ngày 08 tháng Giêng năm 2010 – của nhân loại, đến cảnh điêu tàn của Hiroshima và Nagasaki, đến sự đầu hàng của Nhật cùng với sự sụp đổ của Khối Trục Đức-Ý-Nhật của Đệ Nhị Thế Chiến, đến thương hiệu Japan chiếm lĩnh vị trí độc tôn đồng nghĩa với hàng công nghiệp cao chất lượng cao – xóa sổ vĩnh viễn sự kiêu hãnh của Đức và dập tắt ngay cả khát vọng mong manh vươn lên của Hoa Kỳ, và đến vị trí thống lĩnh kinh tế toàn cầu. Tất cả dẫn đến sự cảm phục, thán phục, rồi thần phục, cứ như dân tộc Nhật ấy thật sự là con Trời, không biết rằng còn có nhiều sự thật khác đã không được bàn đến, khiến những sự thật được nêu bấy lâu nay đưa người ta đến với ngộ nhận. Một đất nước chỉ có hai thành phố bị san thành bình địa chứ không phải từ Bắc Chí Nam từ Đông sang Tây, từ đảo lớn đến đảo nhỏ bị san thành bình địa, nên khác rất xa cảnh hoang tàn tang thương ngẫu lục người ta hay tưởng tượng trong cảm thương. Một đất nước đã bạo tàn thu tóm của cải khổng lồ của các quốc gia trải dài từ Đông Bắc Á – kể cả Trung Quốc – đến Đông Nam Á – có cả Việt Nam – đem về chính quốc, thì việc hai thành phố bị bom nguyên tử tàn phá cũng giống như một tên kẻ cướp chở chuyên về quê nhà vô thiên lủng ngọc ngà châu báu, mua sắm đất đai đồng ruộng mênh mông thẳng cánh cò bay, tậu biệt thự và địa ốc cao cấp khắp chốn, thì cái garage chứa hai chiếc Rolls-Royce Phantom và Rolls-Royce Ghost có cháy rụi thành Rolls-Royce Spectre và Rolls-Royce Spook cũng khó làm tên kẻ cướp nghèo đi. Duy chỉ có chuyện đầu hàng Mỹ mới luôn là nỗi nhục nhã của một dân tộc hãnh diện với tinh thần võ sĩ đạo: nhanh chóng đầu hàng Mỹ chỉ vì sợ sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản sau sự phản công vũ bảo của Hồng Quân Liên Xô đánh bật Nhật Bản khỏi Mãn Châu, giải phóng cả khu vực rộng lớn Đông Bắc Á, ắt sẽ cùng Hồng Quân Trung Quốc vượt biển chiếm đóng Phù Tang.

II. Sự Thật Về Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản

A) Đôi Dòng Lịch Sử

1- Nhật và Khối Trục Quốc Xã Đức- Phát Xít Ý- Quân Phiệt Nhật

Trước sự lấn lướt về ý thức hệ cộng sản đang chiếm thế thượng phong và sự lớn mạnh của Liên Xô, Quốc Trưởng Hitler của Đức Quốc đã cùng Thủ Tướng Nhật Bản Hiranuma k‎ý hiệp ước năm 1936 cam đoan bảo vệ nhau nếu Liên Xô tấn công, và Ý cùng tham gia k‎ý kết năm 1937 để dựa oai hùm, tạo thế ba chân vạc với Quốc Xã Đức – Phátxít Ý – Quân Phiệt Nhật. Song, với việc Hitler khôn ngoan k‎ý riêng với Liên Xô vào năm 1939 một hiệp định không gây hấn lẫn nhau, khối Trục chuyển hướng với hiệp định mới vào tháng 9/1940 cùng nhau chống Mỹ. Khi thấy anh-em-ba-chân-vạc Đức chiếm Pháp Quốc lập nên chính phủ Vichy, Nhật Bản thừa cơ hội xua quân “hưởng sái” chiếm đoạt Đông Dương thuộc Pháp (gồm Việt Nam, Lào, và Cam-bốt tức Cambodia)

2- Vì Sao Nhật Xâm Lược Đông Nam Á và Tấn Công Trân Châu Cảng

Năm 1895 sau khi dễ dàng đánh bại Trung Quốc, chiếm cứ Đài Loan, Nhật Bản bắt đầu tấn công Liên Xô dành quyền kiểm soát bán đảo Hàn Quốc và Mãn Châu, chiếm được Nam Mãn Châu và bán đảo Sakhalin, tạo nên tâm l‎ý tự tin bá quyền nước lớn, cho mình có bổn phận bảo vệ các quốc gia Châu Á khỏi chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây. Từ năm 1937, Nhật xâm lược đánh chiếm Bắc Kinh, Thượng Hải, Nam Kinh, và thâu tóm gần hết vùng lãnh thổ Đông Bắc Trung Quốc, đặt 300 triệu dân Trung Quốc ở những nơi chiếm đóng dưới sự cai quản bạo tàn của 600 ngàn quân Nhật. Sự tiến quân xuống phương Nam đến vùng Đông Nam Á chỉ là chuyện của thời gian.

Thấy Nhật đã nuốt gọn Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt kêu gọi thế giới cấm vận nhiên liệu với Nhật Bản, nhằm buộc Nhật rút quân hoàn toàn khỏi Trung Quốc và Đông Dương, khiến Nhật quyết định tấn công các thuộc địa giàu dầu mỏ tại Đông Nam Á của Anh Quốc, Hà Lan, và Hoa Kỳ (như ở Mã Lai, Indonesia, Philippines) đồng thời tung 535 chiến đấu cơ xuất kích từ 6 hàng không mẫu hạm đánh phủ đầu răn đe Mỹ tại căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng (Pearl Habour, đảo O’ahu, Hawaii) ngày 07/12/1941, và Cuộc Hành Quân Mật Danh Z này đã làm Mỹ mất 18 chiến hạm, 188 chiến đấu cơ, 2.402 sĩ quan và binh sĩ hy sinh, và 1.282 quân nhân trọng thương, trong khi số thiệt hại của Nhật ở mức tối thiểu, với 29 phi cơ bị bắn rơi, mất 5 tàu ngầm tiếp tế, 65 binh sĩ thương vong, và một thủy thủ bị bắt làm tù binh. Cuộc tấn công này đẩy nước Mỹ trực tiếp tham dự vào Đệ Nhị Thế Chiến.

3- Kế Hoạch Marshall: Mỹ và Châu Âu

Kế hoạch Marshall được đặt theo tên của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall, là kế hoạch tái thiết Châu Âu trong thời gian 1948-1952 với gói viện trợ 13 tỷ USD mà Hoa Kỳ dành cho Áo, Bỉ, Luxemburg, Đan Mạch, Pháp, Tây Đức, Hy Lạp, Iceland, Ái Nhĩ Lan, Ý, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm triệt tiêu mầm mống trỗi dậy đầy hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản tại các nước này sau Đệ Nhị Thế Chiến. Và hàng hóa của Hoa Kỳ, quốc gia chẳng những chẳng có tổn hại đáng kể nào trong Thế Chiến mà còn hưởng lợi từ sự điềm nhiên tọa thị của bạng duật tương trì để trở thành nhà cung ứng hàng tiêu dùng và nguyên liệu hàng đầu thế giới, được bán cho các quốc gia nhận viện trợ từ Kế Hoạch Marshall.

4- So Sánh Một Kế Hoạch Marshall Nhỏ: Mỹ và Nhật Bản với Douglas MacArthur

Đại tướng Douglas MacArthur chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương bắt đầu tổng tấn công Nhật giải phóng lần lượt các đảo New Guinea, New Britain, Solomons, Admiralty Islands, và Philippines, trước khi bệ vệ chứng kiến Nhật k‎ý văn kiện đầu hàng trên chiến hạm Missouri ngày 02-9-1945, và đổ quân chiếm đóng Nhật Bản, thực hiện các chương trình cải cách nhằm biến Nhật thành một quốc gia theo thể chế dân chủ. Thế nhưng cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn với sự tham dự chủ lực của MacArthur từ năm 1950 đã tạo cơ hội cho Nhật Bản trở thành hậu phương cung cấp hàng hóa và nguyên liệu chủ lực cho Liên Hợp Quốc và bốn năm của cuộc chiến đã đem lại cho Nhật Bản một nguồn thu khổng lồ mà không bất kỳ quốc gia Tây Âu nào hưởng được tương tự từ Kế Hoạch Marshall. Ngoài ra, cuộc chiến Nam-Bắc Hàn cũng làm Hoa Kỳ nhận ra một tiềm tàng nguy hiểm của sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nên gia tăng đầu tư vào Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Hàn Quốc, đồng thời khôn ngoan cách chức MacArthur khi vị tướng này chưa đánh thắng Bắc Triều Tiên đã vội tuyên bố tấn công Trung Hoa lục địa để tiêu diệt Trung Cộng.

5- Cùng Một Giuộc

Học giả Noam Chomsky, người mà các sinh viên Ban Anh Văn ở Việt Nam đều học biết các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học của Ông – nhưng ít ai biết Ông đã đến được Hà Nội trong thời gian chiến tranh Chống Mỹ của Việt Nam ở cao trào khốc liệt, để nói lên tiếng nói nhà trí thức Mỹ ủng hộ nước Việt Nam của Tổng Thống Hồ Chí Minh, đã mĩa mai rằng số tiền Hoa Kỳ viện trợ cho Pháp và Hà Lan đã được hai nước này dùng cho đại cuộc tái xâm lược Đông Nam Á, mà điển hình là Hà Lan tái chiếm Indonesia, cùng với quân Anh nhảy dù chiếm thủ đô Jakarta và quân Úc đổ bộ giải giới quân Nhật, dù Indonesia đã tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 sau khi quân Nhật đầu hàng đồng minh. Những trận chiến đẫm máu kéo dài cho đến khi quân Hà Lan k‎ý văn kiện công nhận nền độc lập của Indonesia ngày 02-11-1949, chấm dứt sự hiện diện của các đoàn quân ngoại bang vừa thoát thảm họa Đức Quốc Xã, vừa nhận tiền của Mỹ đã ngay lập tức xua quân trở lại nhằm áp đặt nền đô hộ lên toàn Đông Nam Á, thậm chí một quốc gia loại cò con theo đóm ăn tàn như Hà Lan cũng gây nợ máu với nhân dân Indonesia, chứng tỏ dù những quốc gia Tây Âu này là nạn nhân của chủ nghĩa Quốc Xã Đức hay Phát-xít Ý, vẫn không có một ranh giới định hình rõ nét giữa họ với những kẻ tội đồ gây ra Thế Chiến Thứ II, có chăng chỉ là vị trí bọn cướp thắng với bọn cướp thua.

B) Sức Mạnh Thật Sự Của Nhật Bản – Những Gì Việt Nam Không Có, Muốn Có, và Không Muốn Có

1- Tài Chính và Cơ Hội Từ Kẻ Thù

Người dân Nhật không thể nào quên mối thâm thù khi phải đầu hàng Hoa Kỳ và để quân Mỹ đổ bộ chiếm đóng xứ sở Mặt Trời Mọc. Nhưng không thể phủ nhận chính sự chiếm đóng của Hoa Kỳ và việc MacArthur xóa sổ quân đội Thiên Hoàng đã giúp đất nước Mặt Trời Mọc tiết kiệm được ngân sách khổng lồ lẽ ra phải chi ra cho quân đội và chiến tranh, khiến tổng sản lượng quốc gia GNP của Nhật tăng đến 73% (trong khi Tây Đức tăng 28,5%, Pháp 18,7%, Anh 12,7%  và Mỹ 8%) và Nhật hàng năm chỉ sử dụng 1% của GNP cho chi phí của Cục Phòng Vệ. Ngoài ra, dù bảo hộ mậu dịch cao, Hoa Kỳ vẫn mở rộng cửa thị trường cho Nhật, giúp Nhật trở thành đối tác lớn với các ưu đãi thuế quan, được mua nhiên liệu và nguyên liệu với giá thấp để phát triển công nghiệp Nhật Bản. Thêm vào đó những số tiền khổng lồ Mỹ trả trước để đặt hàng phục vụ cuộc chiến ở Hàn Quốc chiếm đến 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, khiến tài lực của quốc gia này được ưu ái gia tăng mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính nhờ có cơ hội này từ kẻ thù, Nhật Bản có được đà cất cánh bay cao về kinh tế trong những năm sau đó.

2- Quyết Tâm Của Chính Phủ

Chính phủ Nhật đã có quyết tâm cung cấp tài chính cho nền kinh tế và những sự hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp, hình thành một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, trên cơ sở xuất khẩu tối đa hàng hóa sản xuất được, và ngoại tệ nhận về tập trung cho mua sắm công nghệ, đầu tư quản trị, nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng để gia tăng phát triển kỹ nghệ, trong hoàn cảnh đất nước không có nhiều nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp và thậm chí không có trữ lượng dầu mõ nào (trừ vài phát hiện có mức độ nhỏ sau này). Các ngân hàng tư nhân và nhà nước sử dụng tiền tiết kiệm cá nhân của dân để cho các doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi. Để đầu tư vào kỹ nghệ. Việc tập trung phát triển doanh nghiệp tư nhân và hình thành các tập đoàn độc quyền zaibatsukeiretsu nhằm hạn chế cạnh tranh và gia tăng thế mạnh trên thị trường quốc tế là một số đóng góp mang tính nhà nước trong việc đem lại cho Nhật Bản cơ sở có được sức mạnh kinh tế thần kỳ.

3- Quyết Tâm Của Người Dân

Đáp lại lời kêu gọi của Chính Phủ hy sinh tất cả để đất nước chiếm lĩnh vị trí kinh tế cao trên thế giới, người dân Nhật đã chấp nhận mua hàng tiêu dùng sản xuất trong nước với giá cao cắt cổ, trong ‎ý thức chính họ mới là giống dân cao qu‎ý nhất trong giống da vàng và thậm chí cao hơn cả dân da trắng, không đoái hoài đến hàng hóa rẻ mạt của nước ngoài. Sự cam chịu khủng khiếp này của thời hậu chiến đã hình thành nơi người Nhật đức tính trầm tĩnh, không nói về những lo lắng, căng thẳng, tức giận, hay về xung khắc tôn giáo, khi toàn dân là một, đồng lòng mua hàng nội hóa với giá cao để các công ty Nhật có thu nhập cao đủ bù đắp cho họ yên tâm bán hạ giá sản phẩm của mình trên thị trường hải ngoại, từ đó chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ngoài ra, người lao động Nhật chấp nhận lương thấp, đổi lại được hưởng cơ chế làm việc trọn đời, được huấn luyện nghề nghiệp, về sau góp phần quan trọng vào sự cất cánh về kinh tế của nước Nhật thời hậu chiến. Ngoài ra, rất đông dân chúng Nhật chấp nhận làm bán thời gian tại vô số các xí nghiệp nhỏ, không có an sinh xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào khác, nhận lương bèo, tạo điều kiện cho các công ty lớn như Toyota và Sony sử dụng dịch vụ của các xí nghiệp nhỏ này với chi phí rẻ mạt, giúp chính Toyota và Sony và các công ty lớn thu lợi nhuận nhiều hơn và nhanh hơn, hình thành tư bản.

4- Giai Thoại Samurai

Samurai là những quân nhân kỵ binh dũng cảm, quên thân, phục vụ hết lòng chủ soái của mình, đích thị là những người xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đa số các samurai do chiến công hoặc đơn giản vì sự phục tùng của họ có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại của các sứ quân nên trở thành những nhà qu‎ý tộc. Ở đây, tinh thần samurai được cho là hòa quyện vào ý chí của người Nhật trước các biến động: hết lòng phò tá quân vương phục vụ chiến tranh, và lúc chiến bại thì hết lòng phục vụ nước nhà cho một danh dự đoạt lại hay một danh dự mới khác. Đối với Đệ Nhị Thế Chiến thì việc bị giải giáp và bị cấm có quân đội riêng đã đưa người Nhật từ cuộc chiến chiếm đoạt lãnh thổ sang cuộc chiến chiếm lĩnh thị trường bằng hy sinh mọi giá.

5- Giai Thoại Ninja

Trong chiến tranh chống Mỹ, người ta thường nghe nói nhiều đến những chiến sĩ đặc công (thời trước gọi là “đặc công Việt Cộng”), những siêu nhân xuất quỷ nhập thần, đến độ cảnh sát Sàigòn khi điều tra hiện trường phát hiện mảnh lựu đạn loại tự sát (loại rút chốt là nổ ngay, không phải loại tấn công có thể ném trong năm giây) là gấp sổ lại ngay và kết luận do đặc công Việt Cộng gây ra vì chỉ có đặc công Việt Cộng mới có khả năng dùng lựu đạn tự sát để sát thương kẻ thù rồi…phi thân tẩu thoát toàn vẹn. Ninja là những tay đặc công mặc trang phục toàn nâu sậm, chuyên lợi dụng đêm tối để ngụy trang đột nhập, do thám, dùng kiếm và phi tiêu để ám sát theo lịnh của chủ nhân. Và dù không thuộc đẳng cấp qu‎ý tộc samurai, các ninja nhất nhất thực hiện mệnh lệnh và bắt chước các samurai tự sát khi kế hoạch bất thành để bảo vệ bí mật về chủ nhân. Tuy không là quân nhân và chỉ là các sát thủ, không đáng để ngợi ca, song do dân Nhật có cái hay là không bao giờ dè bỉu chê bai đồ bản xứ và ra sức đánh bóng thương hiệu để thống trị thế giới nên cái tinh thần ninja cũng được truyền bá như một điểm cao qu‎ý của đức tính phụng sự và hy sinh cá nhân cho nghĩa lớn.

6- Giai Thoại Du Học Sinh

Đã có nhiều truyện truyền khẩu mang tính giai thoại về những du học sinh Nhật tại Hoa Kỳ thời hậu chiến, chẳng hạn có quá nhiều ca tử vong kiểu hara-kiri (mổ bụng tự sát) trong giới du học sinh Nhật trong thời gian dài, để rồi về sau giới chức Chính phủ Hoa Kỳ đâm ra nghi ngờ, theo dõi, kiểm tra, mới biết các xác chết hồi hương về Nhật Bản có chứa các tài liệu khoa học, kỹ thuật cao, tình báo kinh tế dấu trong các bọc nylon bên trong ổ bụng của kẻ tự sát đã được khâu lại. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đã hình thành những phi đội Thần Phong Kamikaze (gồm những phi công cảm tử chỉ cần được huấn luyện lái máy bay rồi xuất kích với lượng nhiên liệu đủ tiếp cận mục tiêu mà không cần học kỹ thuật hạ cánh) lao chiến đấu cơ Mitsubishi A6M Zero mang đầy bom vào ngay tử huyệt (giữa tháp điều khiển và ống khói các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ) đủ để đánh gảy xương sống chiến hạm nhấn chìm nó xuống biển sâu. Vì đất nước quân chủ lập hiến của họ, họ đi du học để lấy thân mình chuyển tài liệu về cho các nhà khoa học nghiên cứu, hầu có kết quả nhanh hơn là chờ đến khi họ tốt nghiệp sau những năm dài du học đầy tốn kém cho quê nhà. Đối với các kamikaze có thật và các du học sinh là giai thoại do không bên nào xướng nhận sự thật của các vụ mổ bụng tự sát, người ta có thể thấy toát lên từ cái cực đoan của tinh thần samuraininja chỉ biết có chủ nhân – sau này chủ nhân có nghĩa là đất nước Nhật Bản – là sự tự hào dân tộc, xem thường dân da trắng phương Tây, và chủ tâm lấy cái cực hay của Tây để thống trị Tây, chứ không bao giờ lấy cái tàm tạm của Tây để rồi hoặc bỏ quê hương hoặc trở về chê bai thóa mạ quê hương, đòi thay đổi thể chế và lật đổ chính quyền đang lèo lái quê hương qua cơn quốc nạn. 

III. Kết Luận: Chân Giá Trị Về Sức Mạnh Kinh Tế Thần Kỳ Của Việt Nam

Như vậy, nếu Nhật Bản có 7 điều kiện cực kỳ đủ để cất cánh phô trương sức mạnh kinh tế thần kỳ như:

a- có sẵn kho tàng cướp được từ các quốc gia bị chiếm đóng vùng Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương, trong đó có Việt Nam;

b- được kẻ thù không đội trời chung cung cấp tài lực để trở thành tiền đồn ngăn cản sự bành trướng của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, bảo vệ sự an nguy cho đất nước Hoa Kỳ về mặt Thái Bình Dương;

c- được kẻ thù không đội chung trời cung cấp cơ hội sản xuất và xuất khẩu làm giàu trên xương máu dân nước khác trong cuộc chiến Nam-Bắc Hàn;

d- chính phủ không cần chăm lo cho đời sống nhân dân và chỉ phải tập trung xây dựng tập đoàn kinh tế;

e- nhân dân cam chịu sống trong cảnh củi quế gạo châu, không dám mở miệng chống đối;

f- tinh thần SamuraiNinja chỉ biết cúc cung tận tụy thực hiện mệnh lệnh cấp trên; và

g- giới trẻ du học để nắm kiến thức khoa học kỹ thuật về phục vụ phát triển kinh tế đất nước chứ không bao giờ muốn lật đổ chế độ quân chủ ở quê nhà hay “phản biện” cung cách chính phủ đang điều hành kinh tế đất nước;

thì Việt Nam mới thực sự có được sức mạnh siêu thần kỳ vì trong điều kiện

a- không có bất kỳ kho tàng nào cướp được của lân bang để làm vốn đầu tay “tự có”;

b- bị kẻ thù cô lập chính trị, cấm vận kinh tế, bôi nhọ thanh danh Việt Nam từ đất nước duy nhất trên hành tinh cứu nguy dân tộc Campuchia thoát nạn diệt chủng kinh khủng điên rồ trở thành kẻ xâm lược quốc gia của Khờ-Me Đỏ;

c- không còn nhận được sự hỗ trợ kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa, đã vậy còn bị siêu cường Trung Quốc gây hấn, tấn công quân sự;

d- chính phủ thực hiện lời dạy của thánh nhân trong trị quốc: minh quân thương dân như con đỏ, chăm lo đến từng miếng ăn cái mặc cho toàn dân trong khi hoàn cảnh kinh tế đất nước ngặt nghèo, bảo đảm thiếu hụt lúa gạo có ngay bo bo, lấy bao cấp làm quốc sách chứ quyết không để nhân dân phải chịu đựng như dân Nhật Bản mua củi đắt hơn quế nấu gạo đắt hơn châu, và trong nhiều chục năm trời không dám đưa giá điện và nước lên đúng giá thành sản xuất, chỉ để sao cho nhân dân được sống ít khó khăn hơn trong thời gian dài hơn một phần ba thế kỷ;

e- người Việt thích đôi co, tranh luận mọi việc, khiến ngay cả việc đơn giản có văn hóa cực cao như đội mũ bảo hiểm cũng nhao nhao “phản biện” thay vì răm rắp thực hiện quy định của nước nhà; và

f- không ít người trong giới trẻ du học kiểu bá đạo, chưa thành nhân đã tự xưng nhân tài, chưa đóng một xu thuế đã lo thu nhập bị hao hụt, không học kỹ thuật dính dầu mỡ sản xuất nhọc nhằn mà chọn quản trị kinh doanh và luật sang trọng để dùng mớ kiến thức sách vở nào cũng có để phỉ báng chính phủ không biết tăng gia sản xuất làm kinh tế, vi phạm nhân quyền và dân quyền, đòi áp dụng luật ngoại lai, quăng ném bã dân chủ-tự do-đa đảng-đa nguyên thiu ôi cũ rích mà không một công dân trí thức trẻ nào tại các nước tiên tiến xem trọng, và đòi thay đổi cả thể chế chính trị nước nhà, mong làm Tổng Thống ngồi trên đầu thiên hạ;

Việt Nam vẫn tồn tại được suốt 35 năm qua, đánh bại quân đội siêu cường Trung Quốc, cưu mang cứu mạng dân tộc Campuchia, tiêu diệt Khờ-Me Đỏ, chặn bắt toàn bộ các toán Kinh Kha của bọn Việt Kiều Mỹ-Thái-Úc đột nhập toan sát hại lương dân, kiên trì giáo dục người dân, xây dựng kinh tế ổn định phát triển, tạo uy thế chính trị cao vời, uy tín quốc tế gia tăng mà đất nước mang tên Việt Nam chưa bao giờ có được trước đó, mới thấy sức mạnh kinh tế của Việt Nam thực sự trên cả thần kỳ.

Tóm lại, mỗi khi ai đó trong cộng đồng người Việt chúng ta trầm trồ về sự thần kỳ hay kỳ tích kinh tế của một quốc gia nào khác, nên biết rằng người dân nước đó phải đồng cam cộng khổ hy sinh nhiều đến dường nào cho đất nước họ phồn vinh, rằng người dân nước Việt có đã và đang thắt lưng buộc bụng tự nguyện gánh chịu tất cả vì sự sinh tồn nòi giống và danh dự quốc gia, và có đã và đang hiểu biết chính phủ của mình đã và đang thực hiện có hiệu quả những kế sách kinh tế chưa từng được nêu lên tại các học viện hàn lâm trên thế giới, với cung cách, tư cách, và uy thế của những nhà giáo cấp thấp, chân quê, từng đánh thắng các tướng lĩnh thế gia vọng tộc ngôi sao sáng chói của các học viện quân sự Hoa Kỳ, xây dựng kinh tế Việt Nam phát triển mà chưa một tiến sĩ hàn lâm nước ngoài nào có thể làm điều tương tự tại Việt Nam Cộng Hòa.

Có như vậy mới đúng là người tôn trọng sự thật, yêu lẽ công bằng, và mới biết Đảng đã thương dân như con đỏ quá sức và quá mức như thế nào,

để nhận ra rằng chính Bụt chùa nhà mới thực sự thiêng liêng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

*PhantomGhost đều có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt được hãng Rolls-Royce dùng đặt tên cho hai model xe ô-tô đắt tiền của họ (dường như đã có hai chiếc Rolls-Royce Phantom ở Việt Nam). Đây là kiểu đặt tên nghèo nàn thường gặp ở các nhà sản xuất Âu Châu vốn rất kiêng kỵ với văn hóa trí hóa cao ở Việt Nam, và tôi nương theo đó mà dùng hai từ SpectreSpook cũng có nghĩa là “con ma” trong tiếng Việt để nhạo bọn Rolls-Royce, chứ trên thị trường thế giới chỉ mới có thêm phiên bản Rolls-Royce Phantom Coupé chứ chưa có xe Rolls-Royce SpectreRolls-Royce Spook.

Bài viết về Nhật Bản sau khi trở thành Nghị Sĩ Khóa XIII:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản  28-02-2016

Tham khảo liên kết có nhắc đến trong bài:

Hướng Dẫn Của Hoàng Hữu Phước Về Đội Mão 15-5-2019

Bằng Giả – Đại Học Gà Rừng  28-9-2010

Mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern Và Lời Khuyên Cho Đảng Cộng Sản Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

08-5-2019

                         Mục Lục

A– Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

B– Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

C– Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

D– Năm Điều Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

E– Năm Lòi Khuyên Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

A- 3 Vấn Đề Ngu Xuẩn Của Thế Giới Âu Mỹ

1) Thế giới Âu Mỹ mụ mẫm không có gì để làm nên đã xúm lại ngợi ca mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern. Đó chính là vấn đề. Và vấn đề là đang có một công thức hành xử kiểu hai-trong-một được thiết lập cố định cho giới lãnh đạo Phương Tây rằng (a) hãy chống Tổng Thống Các Tiểu Quốc Thống Nhất À-Mế-Rì-Ka – cái quốc gia mà những kẻ mông muội thủa chưa học rành Tiếng Việt và chẳng đủ trình độ dịch thuật tiếng Pháp tiếng Anh tiếng Bồ nhưng học đòi làm trí thức đã đặt tên là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà thời Việt Nam Cộng Hòa đám “trí thức” cải lẫy chí chóe rằng lẽ ra đã phải là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ mới đúng –  Donald J. Trump vì đó là đấng dám có luận điệu tương tự ý kiên định của Hoàng Hữu Phước rằng EU hèn hạ sống ký sinh vào Hoa Kỳ, và (b) hãy ve vản dân nhập cư Hồi Giáo để vừa che đậy quá khứ nhớp nhúa của tiền nhân EU bao phen xua quân “Thánh Chiến” đánh phá/cướp bóc/hãm hiếp/miệt thị/tàn sát/bắt nô lệ người dân các nước Hồi Giáo xa xưa, vừa lạy mong các chiến binh Hồi Giáo Cực Đoan hùng mạnh hiện nay bớt thực hiện những đại cuộc khủng bố báo oán kinh hoàng trên toàn cõi trời nước Chúa.

2) Hình ảnh của mụ Thủ Tướng New Zealand Jacinda Ardern ôm chầm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi được chiếu lên tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa (829 mét) ở Dubai thuộc UAE (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất) được báo chí toàn thế giới tải đăng. Đó chính là vấn đề.

Và vấn đề ở đây là (a) sự mất tư cách mất tư thế của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất khi hóa ra điều cực đoan mà một đất nước Hồi Giáo hùng mạnh như UAE thèm thuồng đến nỗi dễ dàng tôn vinh ngay Jacinda Ardern là khi có bức ảnh mụ ta đội khăn Hồi Giáo ôm chầm một nữ công dân New Zealand đạo Hồi cùng những tuyên bố đầy cảm xúc dành cho dân Hồi Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Thiên Chúa Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Hồi Giáo, (b) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Vatican và lãnh đạo các nước Âu Mỹ qua việc không bất kỳ ai trong số bọn chúng đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước họ theo Thiên Chúa Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Thiên Chúa Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố do những tên Hồi Giáo Cực Đoan gây ra chống các tín đồ Thiên Chúa Giáo hoặc do hậu quả của các cuộc choảng nhau giữa hai bọn Công Giáo Cực ĐoanTin Lành Cực Đoan ở Châu Ân dù đã có Bức Tường ngăn cách mà Hoàng Hữu Phước đã từng nêu lên trong bài Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới, (c) sự rụt rè trốn chui trốn nhũi của lãnh đạo Liên Hợp Quốc và lãnh đạo các quốc gia đang ngợi ca “toàn cầu hóa” qua việc không bất kỳ ai trong số bọn họ đã từng chụp hình ôm chầm nữ công dân nước Myanmar theo Phật Giáo cùng tuyên bố những lời đầy cảm xúc dành cho dân Phật Giáo khi xảy ra các cuộc khủng bố được những tên Hồi Giáo Cực Đoan Myanmar gây ra chống các tín đồ Phật  Giáo Myanmar, và (d) hầu như do đã không nghe lời Hoàng Hữu Phước của Việt Nam hai thập kỷ trước đã thống thiết kêu gọi đừng động đến Saddam Hussein và Muammar al-Qaddafi là hai vị chúa tể duy nhất của toàn nhân loại có tài dìm đầu khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan mà toàn thể giới chính trị gia Âu Mỹ ngày nay phải run sợ khiếp sợ kinh sợ khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan đến độ phải làm đủ mọi trò hề kêu gọi sự thương yêu và chỉ dám tập trung lên án những tên da trắng thượng đẳng kỳ thị chủng tộc/giới tính/màu da chứ không dám gọi tên “Thiên Chúa Giáo Cực Đoan” khiến khủng bố Hồi Giáo Cực Đoan thêm tức giận như bị châm thêm dầu vào lửa và khiến khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan càng lộng hành như được khuyến khích động viên làm toàn thế giới bất ổn bất an bất…thành văn (tức…cạn lời).   

3) Tên tuổi của mụ Jacinda Ardern được đề xuất cho giải Nobel Hòa Bình. Đó cũng chính là vấn đề. Và vấn đề là Giải Nobel Hòa Bình là một giải dù cho đến nay đã trao 99 lần cho 106 cá nhân và 27 tổ chức vẫn mang một công thức hai-trong-một mặc định gồm (a) tổ chức thắng giải phải là tổ chức của Liên Hợp Quốc hoặc tổ chức do Mỹ tài trợ chính; và (b) cá nhân đoạt giải phải có “tư cách cao trọng” rằng phải  chống lại thể chế chính trị của quốc gia mà cá nhân ấy là công dân đang ngụ cư và phải đạt hiệu quả ở chỗ vi phạm luật pháp quốc gia để bị bỏ tù, hoặc phải thành công đi hay chạy hay bơi hay bay ra khỏi nước ây để tiếp tục “sự nghiệp chửi”; hoặc cá nhân đoạt giải phải có giá trị “thí cô hồn” cho một đại sự dành riêng cho cường quốc đang chống lại thể chế chính trị của quốc gia của kẻ bị “thí cô hồn” ấy – thí dụ như bọn giám khảo Giải Nobel Hòa Bình 1973 buộc phải “thí” ½ giải cho Lê Đức Thọ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để danh chính ngôn thuận “ban” ½ giải tôn vinh Henry Kissinger của Mỹ qua đó gián tiếp khẳng định Mỹ không xâm lược tàn phá Miền Bắc cũng không thuộc địa hóa biến Miền Nam thành tay sai Mỹ, mà đến Việt Nam với chính nghĩa đầy tự hào dựng xây nền “hòa bình” lâu dài cho một Việt Nam mà nội bộ “hai chính phủ” của “hai nước” cứ hục hặc mãi gây nên “nội chiến” kinh hoàng khiến nhân dân Việt Nam của “hai nước” cứ mãi thống khổ điêu linh còn nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới mà Mỹ là đại diện cứ mãi đau lòng xót xa rơi lệ ngày quên ngủ đêm quên ăn đến độ bộ đồ lòng không có gì cho cơ quan tiêu hóa làm việc để khỏi bị bít bón. Cái tên Jacinda Ardern xuất hiện như một cứu tinh cho ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 trong nổ lực cứu nguy cho EU bằng cách chứng tỏ với thế giới Hồi Giáo rằng đã luôn có sự quan tâm đến và đánh giá cao các hành động ve vuốt thương yêu tín đồ Hồi Giáo ở nội bộ ủy ban này của Tây Âu.

B- Sự Thể Gây Ra Mọi Vấn Đề

Ngày Thứ Sáu 15-3-2019, một tên sát thủ da trắng 28 tuổi tên Brenton Tarrant từ Úc sang đã tìm đến xả súng vào các tín đồ Hồi Giáo đang cầu nguyện tại hai nhà thờ Hồi Giáo ở Christchurch thuộc Đảo Nam của New Zealand, giết chết 51 người và làm trọng thương 50 người khác. Hắn có quay phim cuộc tấn công và phát trực tiếp trên Facebook. Nạn nhân trẻ tuổi nhất là các cháu bé mới chập chững biết đi.

Nhà nghiên cứu chính trị thế giới Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước thấy cần nhắc lại những điểm sau mà rất ít người Việt Nam bất kể là công dân Việt Nam gốc, công dân Việt Nam mới nhập tịch chủ động hay thụ động, người có gốc gác Việt Nam dù muốn hay không muốn, công dân Việt Nam mất gốc hoặc mục gốc, đang ở Việt Nam hay đang ở nơi nào khác trên thế giới từng biết đến hay nghe về:

1) Úc (Australia) không bao giờ hết tự ti mặc cảm đối với Tân-Tây-Lan (New Zealand) vì giữa hai quốc gia thì New Zealand nhỏ bé lại có danh tiếng toàn cầu là

a– dân tộc thông minh hơn;

b– dân tộc đôn hậu hòa hiếu thân thiện văn minh văn hóa cao hơn;

c– dân tộc biết “phải quấy” hơn với người bản địa Maori: luôn ngợi ca, tôn trọng, phát triển tối đa và tự hào về văn hóa bản địa và truyền thống tập tục của “thổ dân” Maori, nên trở thành quốc gia “văn minh” nhất thế giới trong hệ thống siêu cường vốn luôn đàn áp, miệt thị, tàn diệt, bần cùng hóa“thổ dân”;

d– quốc gia phát triển mạnh trong hòa bình, an ninh trật tự, với người dân an cư, lạc nghiệp, và nền giáo dục nhân văn thượng hạng;

e– quốc gia phát triển kinh tế vượt bậc với các thứ hạng được xếp cực cao về hạnh phúc, môi trường thiên nhiên, môi trường kinh doanh, môi trường giáo dục, v.v. dù diện tích cực nhỏ so với diện tích khổng lồ của Úc; và do đó là

f– quốc gia thu hút được cảm tình của khách du lịch Âu Tây và toàn thế giới.

2) Từ những mặc cảm tự ti trên đã hình thành nơi Úc sự ganh tức nhỏ mọn dẫn đến các hành vi hèn hạ chơi bẩn, chẳng hạn như:

a– buộc du khách phải nộp đơn xin visa và mõi mòn chờ đợi đóng phí visa dù chỉ ghé quá cảnh ở Úc trên đường sang New Zealand khiến rất nhiều du khách Âu Tây buộc phải bỏ tuyến New Zealand do căm ghét kiểu “tận thu” của Úc vốn không giống bất cứ nước văn minh nào khác trên thế giới đối với hành khách “quá cảnh” (miễn thị thực visa nhập cảnh cho diện “quá cảnh” vì hành khách “quá cảnh” chỉ lởn vởn bên trong phi trường chờ chuyến bay chuyển tiếp connecting flight chứ không “nhập cảnh”);

b– trong gần một thập niên qua, Chính phủ Úc đã ngu xuẩn trong quốc phòng khi cho Trung Quốc “thuê” cảng Darwin – mà nhà nghiên cứu địa chính trị Hoàng Hữu Phước đã khuyến cáo từ rất rất lâu 20 năm trước vào năm 1999 ngay cả trước khi cái tên Darwin được nhắc đến trên báo chí Việt Nam và thế giới rằng hãy quan ngại vì  Trung Quốc ắt đang ngắm nghía Darwin do Trung Quốc sở dĩ gây hấn với Việt Nam và chiếm Biển Đông chỉ để nhắm đến lục địa Úc Châu mà Darwin “khỉ ho cò gáy” sẽ là bàn đạp từ sự ngu xuẩn của Úc không chịu nhận ra giá trị của Darwin– và đã ngu xuẩn vừa theo đuôi Mỹ hò hét lung tung chống các nước Hồi Giáo vừa chẳng lo quốc sự trong an ninh khi cho dân nhập cư Hồi Giáo vào ra thoải mái nên dẫn đến tình trạng khủng bố thảm sát xảy ra thường xuyên ở Úc, khiến Úc càng “mất giá” và “mất phẩm giá” so với New Zealand; và hệ quả là

c– từ các thói “chơi bẩn’ của chính phủ Úc đã hình thành nơi những công dân Úc Thiên Chúa Giáo Khủng Bố Cực Đoan tư tưởng cuồng nộ muốn “chơi bẩn” làm mất danh tiếng New Zealand nên thay vì gây thảm sát ở các nhà thờ Hồi Giáo nhan nhãn tại Úc, đã bay sang New Zealand bắn giết các nhà thờ Hồi Giáo tại đó nhằm tạo nên thế “cá mè một lứa” rằng New Zealand cũng đâu có an ninh gì.

C- Jacinda Ardern: Kẻ Cơ Hội Chủ Nghĩa

Trước thực tế một Nhà Nước Úc luôn hèn hạ, “chơi bẩn” công khai với New Zealand, đã sản sinh ra những tên khủng bố Thiên Chúa Giáo Cực Đoan vô duyên vô cớ hèn hạ lặn lội sang nước láng giềng New Zealand sát hại công dân Hồi Giáo New Zealand, Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern đã thay vì cực lực chống lại nước Úc rộng mênh mông, siết chặc các biện pháp an ninh đối với những tên “láng giềng” bịnh hoạn Úc, lại vội vã đội khăn nữ Hồi Giáo ôm một nữ công dân New Zealand theo Đạo Hồi để được “lên hình”, tuyên bố những câu mà nhà chính trị Hoàng Hữu Phước cho là hoàn toàn vô nghĩa điên khùng hạ đẳng như;

1) “Điều tôi nghe được từ cộng đồng Hồi Giáo là chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu.” – Jacinda Ardern

Hóa ra, cũng như ủy ban Giải Nobel Hòa Bình 2019 và lãnh đạo các nước Âu Mỹ, Jacinda Ardern mong đợi một vụ khủng bố xảy ra trên nước mình với số thương vong của dân mình càng cao càng tốt để có cơ hội đến thăm cộng đồng Hồi Giáo nạn nhân nhằm “lắng nghe” và qua đó “thấu hiểu” xem cái cộng đồng ấy muốn gì. Nhà chính trị cộng sản dân tộc thiên Khổng Hoàng Hữu Phước cho rằng lãnh đạo quốc gia mà không ở tầm thế có tâm thế và trí thế “biết lo trước cái lo của người dân” thì chỉ là kẻ cơ hội mà giới “đối lập” ở Việt Nam Cộng Hòa đã đặt một cái tên cực kỳ chính xác mỹ miều về ngôn ngữ là “chính khách xôi thịt” mà thôi. Nghĩa là chỉ sau khi cuộc thảm sát xảy ra, Jacinda Ardern mới biết cộng đồng dân New Zealand theo Hồi Giáo chống chủ nghĩa cực đoan, chống bạo lực, chống sự thù ghét, bất luận nó đến từ đâu, nghĩa là vẫn không hề dám nói rằng “nó” vừa “đến” từ Úc. New Zealand đã suy vi từ khi Chiếc Chìa Khóa từ bỏ chính trường lui về vui thú điền viên không còn lãnh đạo quốc gia!

2) “Tôi không thể kể cho các bạn rõ sự việc thất bại đắng cay đến dường nào khi biết rằng một gia đình tìm đến đây vì sự an toàn và nơi ẩn náu thì lẽ ra họ đã nên được ở an toàn tại đây.” – Jacinda Ardern

Hóa ra Jacinda Ardern công khai cho rằng sự thất bại đắng cay đó là do “chúng ta” đã không bảo vệ được những con người đáng thương ấy có cuộc sống “an toàn” tại New Zealand. Đã từng có một con người nào – ngoài Hoàng Hữu Phước của Việt Nam – kêu gọi Jacinda Ardern hãy từ chức vì (a) chính Jacinda Ardern và chính phủ do Jacinda Ardern thành lập đã thất bại đắng cay không bảo vệ được những công dân New Zealand có cuộc sống an toàn tại New Zealand chứ không phải nhân dân New Zealand thất bại cay đắng, vì (b) Jacinda Ardern qua phát biểu của mụ ta đã biến những công dân New Zealand theo Hồi Giáo dù xuất thân từ tình trạng dân nhập cư thành những ai đó của một cộng đồng xa lạ tìm đến New Zealand để tìm nơi tá túc, nghĩa là (c) Jacinda Ardern xem các công dân “hạng hai” hay “hạng bét” đó là chủng loại mà chính phủ của mụ phải cưu mang nên chỉ có thể một cách giới hạn dành cho họ sự thương cảm mà thôi chứ không có trách nhiệm gì đối với vụ thảm sát đó cả.

3) Để tung hỏa mù sáng rực mù mịt hơn sự việc Sân Hàng Đẫy, Jacinda Ardern đã tung ra ba quả đại pháo gây điếc tai mù mắt nhân dân New Zealand gồm:

a– Khoe khoang rằng khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump gọi điện chia buồn, hỏi có thể giúp gì cho New Zealand sau khi xảy ra vụ thảm sát ở Christchurch, mụ ta đã cho ra thông điệp rằng ông ấy hãy dành sự thông cảm và tình yêu cho tất cả các cộng đồng Hồi Giáo. Với điều này mụ ta mong có thể lái người dân New Zealand từ vị trí buồn đau kinh hoàng trước cuộc thảm sát sẽ chuyển sang vị trí “hã dạ” trước việc nữ thủ tướng của mình cực kỳ can đảm dám vuốt râu hùm, dạy cho Donald Trump vĩ đại bài học vỡ lòng về tình yêu thương.

b– Công kích bình luận của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan khi ông này không những chỉ trích vai trò của Anzacs (quân đoàn phối hợp của 20.000 lính Úc và 8.500 quân New Zealand đã cùng các cánh quân Anh và Pháp đỗ bộ lên Gallipoli) trong chiến dịch Gallipoli (thời Đệ Nhất Thế Chiến, khi quân Anh cùng “đồng minh” Khối Anh đổ bộ lên bán đảo Gallipoli thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, với hậu quả nặng nề cướp đi sinh mạng của gần 220.000 binh sĩ “Anh” chỉ trong một năm từ 1915 đến 1916) mà còn lớn tiếng cảnh cáo bất kỳ “ai” có tư tưởng chống Hồi Giáo dám đến Thổ Nhĩ Kỳ. Người có sức khỏe tâm thần bình thường đều thấy các tuyên bố của Tayyip Erdogan hoàn toàn ái quốc và bình thường. Ấy vậy mà mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern cho rằng “Erdogan đã đưa ra những lời đe dọa đối với người Úc và người New Zealand, những người sẽ tưởng niệm ký ức về Anzac của chúng ta” trong khi Tayyip Erdogan chỉ cảnh cáo những tên Úc-Tân Tây lan Anzacs nào cực đoan chống Hồi Giáo định đến gây án ở Thổ Nhĩ Kỳ chứ không đe dọa người Úc và người New Zealand, cũng như chống đối câu Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ đe dọa rằng những người Úc chống Hồi giáo đến thăm đất nước của ông sẽ trở về nhà trong những chiếc quan tài giống như ông nội của họ. Hóa ra Jacinda Ardern ra sức cứu nguy cho Úc, xóa khỏi nhận thức của người dân New Zealand rằng chính tập đoàn quân Anzacs đã từng riu ríu tuân lịnh Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ, rằng một tên sát thủ công dân Úc của cái tổ tiên Anzacs lừng danh ấy nay  gây ra cuộc thảm sát tại đất nước của hậu duệ quân đoàn Anzacs, nhắc nhở người dân New Zealand rằng trong quá khứ tổ tiên họ đã từng cùng tổ tiên Úc hình thành nên quân đoàn Anzacs lừng danh sát cánh tiến được ra thế giới nhờ được kêu đến núp dưới lá cờ chủ soái vinh diệu của Vương Quốc Đại Anh chiếm đóng bán đảo Gallipoli, làm cho người dân New Zealand phải đồng cảm với sự nổi giận rằng khi Tayyip Erdogan đe dọa các sát thủ tương lai của Úc đã nhắc đến các “ông nội” nghĩa là ám chỉ mắng chưởi luôn “ông nội” của người dân New Zealand vì chửi bới quân đoàn Anzacs tức là chửi luôn tiên tổ của người New Zealand, vì vậy mụ muốn dân New Zealand hãy tập trung chưởi cha Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan (đang thân Nga, chống Mỹ) thay vì chưởi bố thằng sát thủ Úc Đại Lợi “anh em đồng chí”.

c– Sử dụng bài phát biểu đầu tiên của mình trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, mụ Thủ Tướng Jacinda Ardern trực tiếp thách thức quan điểm về thế giới do Tổng thống Mỹ Donald Trump vạch ra trong bài phát biểu trước đó. Mụ kêu gọi một trật tự thế giới khác, tức một thứ trật tự gì đó đặt “lòng tốt” lên trước chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Để chống lại chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc do Donald Trump khởi xướng, Jacinda Ardern cảnh báo rằng hậu quả của việc Mỹ từ bỏ các thể chế, định chế, và thỏa thuận sẽ là “thảm họa” cho nhân loại. Hóa ra, Jacinda Ardern đã lờ đi trước 3 sự thật lịch sử rằng

(i) “Lòng tốt” là từ ngữ hào nhoáng bị tất cả các “chủ nghĩa” lợi dụng, tồn tại song hành với lịch sử loài người, từ “lòng tốt” muốn giáo hóa các dân tộc man di mọi rợ của các đế quốc mà vó ngựa gieo rắc kinh hoàng của các binh đoàn của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn, của Trung Quốc, của Nhà Thờ Công Giáo La Mã, của các Nhà Nước Đế Quốc Thực Dân Anh/Pháp/Bồ/Hà/Tây/Mỹ/Nhật v.v., đã chà đạp bao vùng cương thổ, xóa sạch bao nền văn hóa, cướp trắng bao bảo vật quốc gia, tuyệt diệt bao tinh hoa trí tuệ, sát hại hàng triệu triệu con người, bắt hàng triệu triệu con người làm nô lệ, v.v. “Lòng tốt”, do đó, chỉ được độc quyền sử dụng bởi kẻ làm chính trị gian tà. Nói về “lòng tốt”, Jacinda Ardern đã tự lột trần trụi cái cốt gian tà của mụ. “Lòng tốt” là một thứ hỏa mù của các chính khách dân túy. Một kẻ ngu xuẩn đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(ii) Vì sao cái chủ nghĩa cô lập tức chủ nghĩa “bế quan tỏa cảng”, chủ nghĩa chống đối, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tưởng đã chỉ còn trong sử sách hóa ra lại còn tồn tại đến Thế Kỷ XXI này đến độ Jacinda Ardern phải kêu gào chống lại như thế? Phải chăng Jacinda Ardern ngu xuẩn xác nhận công khai rằng toàn bộ nền văn hóa văn minh dân chủ tuyệt diệu của Phương Tây đã thất bại thảm hại như lời tiên tri thấu thị của Karl Marx và lời ủng hô ông của các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa theo khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa? Chủ nghĩa cô lập mà mụ nêu lên là do “tự cô lập” hay do được Mỹ “giúp cô lập” bằng các lịnh cấm vận? Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đâu có xuất phát từ hoặc lan tràn tại Châu Á, vậy mụ Jacinda Ardern muốn ám chi một hai nước rất rất thiểu số nào đây mà mụ do hèn nhát đã không dám nêu tên? Một kẻ hèn nhát đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand!

(iii) Chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc không phải do Donald Trump khởi xướng. Donald Trump chỉ là người tái lập. Đó là hai hình thái nghiêm túc đã có từ xưa cho đến khi nảy sinh ra cái gọi là toàn cầu hóa và sự xuất hiện của cái tổ chức vô dụng gọi là WTO. Cái thế giới phẳng mà hình tượng dựa vào cái màn hình máy vi tính để hình thành một tư duy sáng tạo về trật tự thế giới mới khoáng đạt hơn đã bị nhà ngôn ngữ Hoàng Hữu Phước thấu thị tiến trình tiến tới vô dụng của nó, vì cái màn hình vật chất từ hơi phẳng đã biến thành siêu phẳng rồi siêu phẳng mỏng rồi cong và sẽ tiến đến giai đoạn gấp lại làm hai làm ba làm tư hoặc cuộn lại thành ống, nghĩa là cái “toàn cầu hóa” sẽ gặp các vấn nạn problems không thể cứu vãn của nó. “Toàn cầu hóa” chính là môi trường hun đúc các chiêu trò đậm chất bảo hộ chủ nghĩa của các nước giàu qua những cái gọi là “điều tra bán phá giá”, dẫn dụ các quốc gia nghèo khổ vào cái thòng lọng “lòng tốt” của tập thể các cường quốc để trở nên nghèo hơn, giúp bọn siêu giàu trở nên “ngoại hạng siêu giàu”. Ngay khi WTO trở nên trần truồng vô dụng không còn che dấu được ai, khiến xuất hiện các mối đe dọa vào sự thịnh vượng của các cường quốc, họ lập tức đẻ ra những cái tổ chức khác nhỏ hơn, trong đó có Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mà sau đó đúng như lời tiên tri thấu thị của Hoàng Hữu Phước về cái sự lấy vải thưa mà che mắt thánh của nó đã phải đổi tên khác thành Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương CPTPP. Và trước sự vùng vẩy của những kẻ thù nhằm thoát ra xoáy nước kinh hoàng của WTO, Trung Quốc cũng lập tức hình thành một tổ chức khác mang tên Sáng Kiến Một Vành Đai, Một Con Đường BRI nhằm lôi kéo những quốc gia còn lại. Phải nói chính xác là: chính sự ăn bám của EU vào Mỹ và sự “chơi cha” của EU và các nước khác trong đó có Trung Quốc đối với Mỹ đã khiến Mỹ thiệt hại khổng lồ mà một nhà đại ái quốc có tư duy kinh doanh đại sáng suốt tài ba như Donald Trump không thể không tái khởi động chủ nghĩa bảo hộchủ nghĩa dân tộc để bảo vệ đất nước và dân tộc Mỹ.

Những tuyên bố của Jacinda Ardern, do đó, cho thấy mụ ta là một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc.

Bất tài vô dụng vì mụ ta đã không đề ra được chính sách phù hợp đặt an ninh quốc gia, an toàn lãnh thổ, an bình dân sinh, lên trên hết.

Cơ hội chủ nghĩa vì mụ ta lợi dụng ngay cuộc thảm sát để đánh bóng tên tuổi như lãnh đạo đầu tiên của thế giới tư bản dám ra luật cấm sở hữu vũ khí, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới “dạy” Donald Trump bài học về đạo làm người, lãnh đạo đầu tiên trên thế giới biến mình thành tiên phong cho một “trật tự thế giới mới”, là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây được một nước Hồi Giáo chiếu hình ngưỡng mộ trên tòa nhà cao nhất thế giới, và do đó là lãnh đạo đầu tiên của thế giới Phương Tây lợi dụng thành công một thảm họa trong chính đất nước mình để đưa chính mình lên vũ đài chính trị toàn cầu thậm chí cho một đề cử Giải Nobel Hòa Bình 2019. Cụ thể, một tài khoản Twitter mang tên Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum đã viết rằng: “Cảm ơn Thủ tướng @jacindaardern và đất nước New Zealand vì đã có lòng thương cảm cùng sự hỗ trợ khiến một tỷ rưỡi người Hồi Giáo kính phục sau vụ tấn công khủng bố làm chấn động cộng đồng Hồi Giáo toàn thế giới.”

Phản quốc vì dưới sự lãnh đạo của mụ ta, New Zealand đã trở nên vulnerable dễ bị tổn thương, không còn là thiên đường của sự an bình, an vui, an toàn, của những người dân lương thiện an cư lạc nghiệp và hạnh phúc.

Một kẻ bất tài vô dụng, một kẻ cơ hội chủ nghĩa, và một tên phản quốc đã được bầu làm Thủ Tướng New Zealand! 

D- Những Gì Một Thủ Tướng Đúng Nghĩa Của New Zealand Lẽ Ra Đã Phải Làm

1) Theo ngữ nghĩa thì tất cả những gì Jacinda Ardern tuyên bố rõ ràng là được dành cho những kẻ kỳ thị ở nước khác một cách nhẹ nhàng mang tính khuyên lơn toàn cầu. Đây là một sự kỳ quái. Với sự thật rằng vụ thảm sát không do một công dân New Zealand gây ra do đó không cần có lời kêu gọi người dân New Zealand hãy có lòng thương người và đừng kỳ thị tôn giáo, Ardern lại thay vì lẽ ra đã hoặc đòi Úc phải chịu trách nhiệm về vụ công dân của họ gây án tại New Zealand hoặc đòi Quốc Hội phải tu chỉnh luật hình sự để tăng án cho kẻ thủ ác đến gây họa cho lương dân New Zealand tại chính New Zealand, thì lại một cách kỳ quặc khuyên lơn toàn thế giới hãy dành tình thương cho người Hồi Giáo trên toàn cầu và đích thân mụ ta làm biến mất tên thủ ác trong lương tâm của người dân New Zealand và người dân thế giới – trong đó có báo chí toàn Việt Nam. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

2) Những gì Jacinda Ardern làm cho New Zealand là tước đi quyền sở hữu vũ khí tấn công của những người dân nổi tiếng hiền hậu của New Zealand chỉ mua vũ khí tấn công để làm vật trang trí trong nhà. Một khi khủng bố không còn là sự đe dọa tiềm tàng mà đã là một hiện thực tại New Zealand, đồng thời với sự thật là lực lượng cảnh sát New Zealand đã chưa hề được trang bị vũ khí để chống kẻ ác gây họa cho lương dân thì hoàn toàn không có bất kỳ lý do gì để tước đoạt quyền sở hữu vũ khí – bất kể loại tấn công assault hay không tấn công – của người dân. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

Hoàng Hữu Phước, New Zealand, 2015

3) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo ái quốc tầm cỡ Donald Trump thì mụ Jacinda Ardern nên tuyên bố ngay và trước hết tăng cường các biện pháp an ninh sàng lọc từ tình báo, lập danh sách cấm nhập cảnh những kẻ hô hào siêu đẳng da trắng, kỳ thị di dân, bất kể kẻ hô hào đó có là chính khách nước ngoài và thậm chí có là Donald Trump hay không. Kế đến, ra tay cải tiến lực lượng cảnh sát, trang bị vũ khí tận răng. Tiếp theo, cải tổ luật pháp gia tăng hình phạt để bất cứ ai định vào New Zealand gây án dù là trọng án hay khủng bố phải suy nghĩ lại.

Đó mới là việc bảo vệ nhân dân mà Jacinda Ardern lẽ ra đã phải làm. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

4) Lẽ ra nếu là người không gian xảo láu cá cơ hội chủ nghĩa mà là một nhà lãnh đạo có “từ tâm” như mụ đang cố gắng thể hiện thì lẽ ra cứ mỗi lần đâu đó trên thế giới – mà điển hình là tại Mỹ – xảy ra các vụ thảm sát thì Jacinda Ardern đã nhanh nhảu khuyên lơn “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Thiên Chúa Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Nhà Thờ Charleston ở Bang South Carolina năm 2015 và “ai đó cực đoan” bên Mỹ hãy yêu thương người Phật Giáo đừng sát hại tín đồ như tại Chùa Waddell Wat Promkunaram ở Bang Arizona năm 1991, v.v. Phải chăng mụ xem những nạn nhân Mỹ bị sát hại chẳng đáng một xu vì đó là chuyện “nội bộ” của Mỹ không phải là đại sự để mụ kêu gọi các sát thủ hãy có “lòng tốt”, và đợi cho đến khi một thằng Úc vào giết dân New Zealand Hồi Giáo của mụ thì mụ mới lập tức ôm hôn người dân Hồi Giáo và kêu gọi toàn thế giới hãy có “lòng tốt” với dân nhập cư Hồi Giáo? Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

5) Tuyên bố vung vít ôm chầm phụ nữ Hồi Giáo, trùm khăn Hồi Giáo, cấm bán vũ khí, đó là hành động của một con hề chính trị!

Trong một vụ xả súng năm ngoái ở Mỹ tại nhà thờ First Baptist như đã nêu trong bài Hoàng Hữu Phước kể về ông da trắng mập lùn Stephen Willeford đang chăm sóc cây kiểng nghe tiếng súng liền vô nhà xách súng chạy đến đấu súng với tên thủ ác. Tên ấy phải ngưng cuộc tàn sát, chạy ra chỗ đậu xe với vết trọng thương. Thấy hắn ta lái xe bỏ trốn, ông mập lùn lúp xúp xách súng rượt theo thì một anh da trắng ốm nhom cao nhòng Johnnie Langendorff chạy xe bán tải ngang tắp vô cho đi ké để truy đuổi với tốc độ vi phạm luật liên bang. Cả hai đã dí ép chiếc xe kẻ thủ ác lao vào trụ đèn đường cao tốc đền tội ác. Không có khẩu súng bán tự động Colt AR-15 của hai lương dân Mỹ cỡ Hớn Minh và Lục Vân Tiên (người sử dụng đại đao người xài song kiếm) ấy, nạn nhân của vụ thảm sát ấy đã không dừng lại ở con số vài chục. Sở hữu vũ khí là quyền tự vệ của công dân đất nước nào đã và đang được luật pháp chế định. Luật pháp New Zealand chỉ cần quy định hình phạt tử hình nếu dùng vũ khí giải quyết tranh chấp, cướp bóc, gây bạo động hay khống chế hãm hiếp, hoặc bán lại vũ khí hợp pháp của mình cho người khác rồi kẻ đó gây khủng bố. Xử chung thân chủ sở hữu hợp pháp làm mất vũ khí. Đó mới là những gì Jacinda Ardern phải làm để bảo vệ dân New Zealand, bảo vệ quyền của dân New Zealand. Ardern đã hoàn toàn sai và không xứng đáng làm Thủ Tướng New Zealand.

E- Năm Lòi Khuyên Thấu Thị Của Lăng Tần Về Chính Trị Việt Nam

Có hai công thức luôn đúng, một rất mới của Hoàng Hữu Phước, và một rất cũ của năm nữ nhi có hiểu biết rất rõ về Hoàng Hữu Phước – một làm việc tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, hai làm việc tại FOSCO, và hai tại Manulife. Công thức do Hoàng Hữu Phước đề ra cho rằng tất cả các chính khách nào mở miệng chống đối ‘anh” Donald Trump đều là bọn hề, bất tài vô dụng, và có kết cuộc không ra gì. Công thức này có thể ít chính xác vì Hoàng Hữu Phước là thiểu số. Công thức còn lại do năm phụ nữ đề ra cho rằng tất cả những ai có hành vi chống lại “anh” Hoàng Hữu Phước đều là bọn ngu đần, bất tài vô dụng bất lương bất học, và cuộc đời có cái kết chả ra gì. Công thức này có thể cực kỳ chính xác vì họ có hai thế mạnh của nữ quyền từ thời mẫu hệ (đang được xã hội xã hội chủ nghĩa tôn vinh và đang được thế giới tư bản nhơi lại) và là đa số (năm trên một).

Do công thức của Hoàng Hữu Phước là thiểu số, đốt đuốc tìm khắp nơi trên toàn thế giới cũng chỉ có thể tìm ra mỗi ba thí dụ cho sự chính xác của công thức Hoàng Hữu Phước mà thôi, gồm ba đứa không ra gì dưới đây: đương kim tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đương kim thủ tướng Canada Justin Trudeau, và đương kim thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern.

Tất nhiên, ai cũng có quyền “làm chính trị” theo quy định của luật pháp mỗi nước, nhưng sẽ là thảm họa nếu bọn con nít làm “lãnh đạo quốc gia”3 bằng chứng cụ thể là.

a) Thằng nhóc Emmanual Macron đang làm nước Pháp khốn đốn với thủ đô Paris bị phá hoại nát tan trong hơn nửa năm trời từ tháng 10-2018 cho đến tận ngày nay bởi các cuộc “biểu tình.” Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

b) Thằng nhóc Justin Trudeau đang vướng bao scandal mà chỉ mới gần đây thôi đã có thêm vụ tham nhũng SNC-Lavalin, vụ địa phương chủ nghĩa Quebec, và tình trạng từ niềm tự hào mỵ dân có nội các đa nữ đã đích thân vất các nữ bộ trưởng vào sọt rác khiến xô đổ thành trì truyền thống tự động ngưỡng mộ lãnh đạo quốc gia của người dân Canada. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

c) Con nhóc Jacinda Ardern đang vướng vào tình thế bị Hoàng Hữu Phước của Việt Nam vạch trần trụi cái hạ đẳng của mụ. Nó là đứa ngu xuẩn khi tuyên bố chống Donald Trump thay vì quỳ lạy bái “Thầy” để photocopy mô hình trị quốc.

Từ ba thí dụ điển hình trên của ba tên nguyên thủ ở ba cường quốc kinh tế Phương Tây Pháp-Gia Nã Đại-Tân Tây Lan, Lăng Tần có 5 lời khuyên sau dành cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và Quốc Hội Việt Nam:

1- Lời Khuyên Thứ Nhất: Không tự động đưa những lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh vào hàng ngũ những nhà lập pháp Việt Nam, tức đưa vào (tất nhiên qua cái “hình thức” giới thiệu ứng cử Quốc Hội) cơ quan “quyền lực nhất” Việt Nam. Đơn giản vì

(a) Quốc Hội không bao giờ đáng phải duy trì hình thức trẻ con bấy lâu nay là một thứ sân khấu chỉ để cho thiên hạ thấy Việt Nam có đầy đủ các “thành phần” giới tính, tôn giáo, tuổi tác, lĩnh vực, dân tộc, nghề nghiệp, Đảng/ngoài Đảng;

(b) “Thanh niên” không bao giờ được tự mặc định tự động đương nhiên đã trải qua thời gian dài học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài học tập cao chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài thực hành cho một-kế-sinh-nhai ở môi trường từ thấp đến cao liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân, thời gian dài đạt các thành tích trong thực hành các học tập chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân tại các cơ quan liên quan đến chuyên ngành liên quan đến kinh tế quốc dân hay trí tuệ cần cho kinh tế quốc dân; từ đó rõ ràng rằng “thanh niên” phải vượt qua tuổi “thanh niên” mới may ra có đủ trình độ trí tuệ làm “nghị sĩ”, và rằng nếu đã vượt rồi và đạt rồi mà vẫn núp dưới danh nghĩa “thanh niên” để đầy đủ thành phần sẽ là sự lừa mỵ dân và lừa mỵ cả thế giới;

(c) “Thanh niên” không bao giờ được xem là một nghề sinh nhai mà chỉ là một tổ chức phục vụ riêng chỉ cho Đảng Cộng Sản, không có “hợp đồng lao động”; do đó, ứng cử viên chính trị là “thanh niên” xem như thiếu chi tiết ở mục “nghề nghiệp” mà ngữ nghĩa đủ có thể được hiểu bởi thế giới hàn lâm;

(d) Đảng và Quốc Hội triệt tiêu sự nghiêm túc trong học tập của giới trẻ, biến sự quan tâm đến trình độ học tập chất lượng cực cao tụt xuống thấp hơn sự quan tâm đến trình độ chính trị vai vế cực cao trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh để từ đó tiến vào Quốc Hội và leo lên Bộ Chính Trị hoặc trở thành các Tổng Giám Đốc Nhà Nước, các Chủ Tịch Tập Đoàn Nhà Nước, v.v., chỉ toàn đẩy đất nước vào các vũng lầy kinh tế, chính trị, đạo đức xã hội, v.v. (bằng chứng: từ 1975 đến nay chính Đảng cũng chưa hề vinh danh bất kỳ một đảng viên cấp lãnh đạo quốc gia nào xuất thân từ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh là đấng tài đức vẹn toàn anh tài nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả);

(e) “Lập Pháp” là công việc đòi hỏi nghị sĩ có trí tuệ bao trùm tất cả hoặc chí ít là đa số các lĩnh vực sống còn của quốc gia chứ không phải là việc phân theo tuổi tác, giới tính hay giai cấp (Quốc Hôi Khóa đầu tiên của Việt Nam Thống Nhất tức Khóa VI có đại biểu Lê Thị Thêu là công nhân Sở Vệ Sinh Thành Phố Hồ Chí Minh thuộc Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh, đại diện cho “giai cấp công nhân”); và

(f) Chỉ vì bảo đảm ghế nghị sĩ phải dành cho một nữ lãnh đạo Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh tại Thành Phố Hồ Chí Minh và cho một nam tiến sĩ lãnh đạo cơ quan Nhà Nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh cũng xuất thân từ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cho Quốc Hội Khóa XIV mà Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh do Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Quốc Hội Khóa XIV Thành Phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cũng đồng thời là ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (việc mà không bất kỳ quốc gia văn minh nào trên thế giới cho phép đảm nhiệm lộ liễu như vậy) đã để xảy ra sự cố 2016 tại buổi “hiệp thương” lần 1 của đương kim nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước, ứng cử viên tự do Quốc Hội Khóa XIV như đã nêu rõ trong Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân, cùng với nó là sự phẫn nộ của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho đến tận ngày nay.

2Lời Khuyên Thứ Nhì:  Nghị sĩ đương nhiên buộc phải thuộc đẳng cấp “biết lo trước cái lo của người dân” (khẩu hiệu của tất cả các bậc hiền tài thời Khổng Tử và là khẩu hiệu tranh cử của ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong bầu cử Quốc Hội Khóa XIII năm 2011) chứ không phải thuộc đẳng cấp “nếu ở lứa 50 tuổi thì chỉ biết lo cho dân lứa 50 tuổi” nên cần phải có nghị sĩ “thanh niên” để có người “lo cho người dân lứa thanh niên”; càng không phải nghị sĩ nữ không lo cho dân chúng nam; càng không phải cần có những nghị sĩ thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh để lo cho dân chúng thiếu niên/nhi đồng/sơ sinh; càng không phải cần có các nghị sĩ lão niên để lo cho dân chúng lão niên; càng không phải cần có các nghị sĩ tu sĩ để lo cho dân chúng có tôn giáo khiến Việt Nam kỳ quái thành quốc gia duy nhất cho tu sĩ làm chính trị (Mỹ không đánh thuế “thu nhập” các tài sản tiền vàng dồi dào khổng lồ của các cơ sở tôn giáo với điều kiện luật định rằng không bất kỳ một kẻ tu hành nào được làm chính trị nhằm bảo đảm sự “công bằng” cho “lưỡng đảng” trong tranh thủ phiếu bầu). Do đó, nhất thiết phải xóa bỏ hình thức chỉ tiêu/tỷ lệ thành phần để tập trung sao cho Quốc Hội Việt Nam có toàn nghị sĩ có năng lực “làm luật” bao trùm thuộc đẳng cấp trí tuệ “biết lo trước cái lo của người dân”, nhờ vậy (a) những ứng viên tự do như Hoàng Hữu Phước năm 2011 hoặc như Hoàng Hữu Phước đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ năm 2016 sẽ không bị lén lút triệt hạ như trường hợp ứng-viên-đã-kinh-qua-“nghề”-nghị-sĩ Hoàng Hữu Phước ấy, và (b) Việt Nam không còn khét tiếng là đất nước có cái Quốc Hội chuyên cho ra những bộ đại luật chưa kịp đến thời điểm có hiệu lực đã phải tu chỉnh hoặc vừa có hiệu lực thì các nhà làm luật đã phải nhao nhao đòi thay mới do vấp phải sự phản đối của công luận dù dự thảo đã được đưa ra lấy ý kiến công luận cả năm trước đó tốn bao tỷ tỷ đồng mà tất cả được mỹ miều hóa đầy cảm động thành “có khả năng thay đổi nhanh chóng nhằm theo kịp với thay đổi của hiện thực hoặc đáp ứng ngay yêu cầu của nhân dân” chứ tuyệt đối không công nhận đẳng cấp làm luật của mình thấp kém đến độ nào.

3- Lời Khuyên Thứ Ba: Với sự tuyệt diệu của việc chủ tịch Đảng kiêm tổng thống, và với các đại biến mới đây liên quan đến nhân sự lãnh đạo đất nước, nhất thiết phải thay đổi luật rằng

(a) Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh không cần có đại biểu thành viên là “Chủ Tịch Nước”;

(b) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và theo luật thì nghị sĩ phải dành bao nhiêu phần trăm tổng thời gian cho công việc Quốc Hội, trong khi tất cả các chủ tịch nước tiền nhiệm buộc phải làm thành viên Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh thì đều vi phạm luật do thường xuyên vắng mặt khi họp thảo luận luật tại Tổ ở Hà Nội hay tại Đoàn ở Thành Phố Hồ Chí Minh;

(c) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì công việc chính của “nghị sĩ” là “làm luật”, và khó thể chấp nhận việc tạo điều kiện cho nước ngoài dè bỉu khi lãnh đạo cùng lúc làm “lập pháp” cùng lúc làm “hành pháp” khống chế cả “tư pháp”;

(d) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước không thể làm “nghị sĩ”, vì lượng công việc mang tính trách nhiệm cực cao của lãnh đạo quốc gia không thể làm vị lãnh đạo ấy bị bào mòn sức khỏe tận cùng đến suy kiệt nếu gia tăng thêm việc làm luật không thuộc chuyên môn của vị ấy và việc tiếp xúc cử tri vớ vẩn chỉ để báo cáo kết quả cuối mỗi kỳ họp Quốc Hội hoặc lắng nghe tâm tư cử tri trước mỗi kỳ họp Quốc Hội; và

(e) Chủ Tịch Đảng Kiêm Chủ Tịch Nước phải làm những việc trọng đại: đề ra chiến lược, hoạch định thực hiện chiến lược, chỉ huy chiến lược, điều chỉnh chiến lược, thông qua chiến thuật, giám sát chiến thuật, sử dụng nhân sự chiến lược, xử lý tiêu cực, vận hành guồng máy, thì không thể rời trung tâm chỉ huy tối quan trọng y như chiếc cặp-hạt-nhân đó chỉ để đi thăm các địa phương thuộc các đới nhiệt độ khác nhau, thăm các cơ sở sản xuất có thể bất ngờ xảy ra chập điện vốn là việc thường xuyên xảy ra một cách bất trị ở Việt Nam, tiếp xúc nhân dân thay vì đơn giản từ trung tâm ra lịnh triệt hạ bọn đã gây ra họa cho dân chúng Thủ Thiêm và cho dân chúng các nơi khác, v.v, chỉ để chứng minh “gần gũi” với nhân dân, v.v., vì tất cả việc “kinh lý’ các địa phương phải và chỉ được thực hiện bởi thủ tướng và các bộ trưởng mà thôi, do những vị này có trách nhiệm chuyên biệt liên quan đến chức trách chuyên biệt của họ trước vị chủ tịch Đảng kiêm chủ tịch Nước, chứ không phải ngược lại;

4- Lời Khuyên Thứ Tư: Toàn bộ các vị như thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư Đảng, chủ tịch/phó chủ tịch hội đồng nhân dân/ủy ban nhân dân các cấp, lãnh đạo các ngành an ninh/quân đội/ kinh tế/tài chính Nhà Nước không được phép được giới thiệu ra ứng cử đại biểu quốc hội, chỉ được ra ứng cử nếu từ bỏ chức vụ trước khi ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, vì rằng tất cả họ đều vừa vi phạm luật pháp do không dành đủ thời gian luật định phục vụ Quốc Hội, vừa không được phép rời xa trận địa quan trọng mà họ gánh vác dù chỉ trong một phút huống hồ một tháng và nhiều hơn thế nữa;

5- Lời Khuyên Thứ Năm: Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam không có quyền giới thiệu ứng viên tu sĩ vì đây là sự lộ liễu rất trái thông lệ quốc tế, và các giáo hội cũng không có quyền giới thiệu tu sĩ ra tranh cử vì không những trái với sinh hoạt chính đạo của tôn giáo mà còn sai hoạt động do giáo hội hoàn toàn không phải là một “đảng chính trị” để có quyền tham chính; nghĩa là tu si do là công dân Việt Nam và do ý thức của bản thân ông ta/bà ta nghịch lại với giáo lý của tôn giáo mà ông ta/bà ta là tu sĩ nên muốn làm chính trị thì có quyền công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – không phải “thần quyền” do Phật hay Chúa ban cho – ra ứng cử với tư cách ứng viên tự do, nhằm công bằng với ứng viên tự do Hoàng Hữu Phước mà Mặt Trận Tổ Quốc không cần phải triệt hạ để chiếm đoạt ghế cho tu sĩ nào đó mà Mặt Trận giới thiệu để đạt “cơ cấu thành phần” vốn là công việc duy nhất mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả sau ngày thống nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Chính Nghiên, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Thế-Giới “Chống Việt”, Nhà Châm-Biếm Satirist, Nhà Thấu-Thị Man of Vision, Nhà Tư-Vấn Sách-Lược Quốc-Trị

Tham khảo theo thứ tự xuất hiện trước-sau trong bài trên:

Saddam Hussein: Tôi và Saddam Hussein 12-7-2016

Muammar Gaddafi: Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?  25-7-2016

Bức Tường: Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới  25-11-2016

Darwin: EU và Darwin  1999

Đối Lập:  Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập  06-8-2015

Chiếc Chìa KhóaChìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

Sân Hàng Đẫy:  https://thethao.tuoitre.vn/treo-san-hang-day-1-tran-phat-clb-ha-noi-70-trieu-vi-phao-sang-cdv-hai-phong-20190424120040595.htm

TPP: Đả Đảo TPP  30-5-2017

CPTPP: CPTPP  05-11-2018

BRI: Một Vành Đai, Một Con Đường  24-5-2017

Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ: Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ  23-7-2016

Khẩu Colt AR-15: Quyền Lực Nhũn Xèo  09-11-2017

Thấu Thị:  Tin Quảng Bá  20-10-2018

Emmanuel Macron: Hoàng Hữu Phước Điểm Báo Việt Nam Đầu Năm 2019  01-3-2019

Justin Trudeau: Cảnh Báo: Nguyên Thủ Canada  10-02-2018

Làm Chính Trị: Chính Trị  14-01-2016

Bọn Trẻ Con Làm “Lãnh Đạo Quốc Gia”: Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn  14-12-2016, Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014, Viexit- Bọn Con Nít Làm Chính Trị  05-7-2016

Sự Cố Hiệp Thương 2016: Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Lưỡng Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Muốn Làm Chính Trị : Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Chủ Tịch Đảng Kiêm Tổng Thống: Hoàng Hữu Phước Nhận Xét Nhỏ Về Nội Tình Lớn Tổ Chức Chính Trị Việt Nam  01-12-2018

Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam: Thư Gởi Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn  11-10-2017

Sử Liệu

Lời nhắc nhở các đấng làm chính sách quốc gia về giáo dục

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập Hiến & Lập Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, Nhà Tư-Tưởng Xã-Hội Chủ-Nghĩa Thiên Khổng, Nhà Sử Nghiên*

04-5-2019

A) 12 năm căn bản nền tảng của giáo dục là để một đứa bé trở thành công dân có đủ tri thức căn bản – theo đích ngắm đầy trọng vọng của công tác giáo dục & đào tạo tại các cường quốc Âu Mỹ – để (a) trước hết người công dân đã qua 12 năm cơ bản nền tảng đó có thể “sống được và sống đúng” trong cộng đồng bao gồm trong gia đình, tại địa phương, ở chỗ làm việc, ở nơi học tiếp lên cao, hoặc chốn quân trường; và (b) thâm sâu thâm thúy hơn cả là người công dân này từ ý thức trách nhiệm với tinh thần dân tộc được hun đúc suốt 12 năm ấy đã hình thành lòng ái quốc tự thân mà không bất kỳ giáo điều hoặc giáo lý hay chủ nghĩa nào có thể dựng xây nên được.

“Sống được” là bản lĩnh có từ sự trang bị kỹ năng mềm tổng hợp của (i) phản ứng phù hợp, (ii) ứng phó trước thử thách, (iii) ứng đối như một vũ khí tìm việc/làm việc, và (iv) các hiểu biết từ phần cứng của sự hiểu biết rộng khắp từ nhiều chục môn học của 12 năm.

“Sống đúng” là (i) tư cách công dân có giáo dục với lòng tự trọng, và điều trước hết và trên hết mà giáo dục đem lại là (ii) tinh thần trách nhiệm cùng ý thức thượng tôn luật pháp như tiền đề cho sự giữ gìn phẩm giá cá nhân và quốc thể.

Cái thâm sâu thâm thúy nêu ở phần b ở trên có liên quan mật thiết đến bản lĩnh “sống đúng”, chủ yếu đến từ những gì có liên quan đến Môn Sử chứ hoàn toàn không phải các môn nào khác, kể cả không phải môn “Giáo Dục Công Dân”; và nền tảng cho sự phát triển Môn Sử do đó dứt khoát phải bao gồm 5 thành tố: (a) vị trí được tôn trọng đối với Môn Sử trong hệ thống giáo dục 12 năm, (b) sách vở đẳng cấp cao của Môn Sử, (c) chương trình đẳng cấp cao của Môn Sử, (d) đẳng cấp cao của giáo viên dạy Môn Sử, và (e) tư cách cao trọng của giáo viên dạy Môn Sử.

Tuy nhiên, Môn Sử lại trở thành vấn nạn tại nước Việt Nam thống nhất kể từ 30-4-1975 còn tại bị vì bởi 7 vấn nạn khác, đó là

1– Chính phủ không hề nhớ sự thật đớn đau rằng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, học sinh chỉ học 9 năm chứ không phải 12 năm, nghĩa là không có đủ thời gian để học đủ, biết đủ, cơ thể lớn đủ, và trí lực mạnh đủ để vào đại học, khiến tất cả các “sinh viên” tốt nghiệp đại học sau 3 hay 4 năm thành những vị “cử nhân đại nhảy vọt” nhanh chóng trèo lên “tiến sĩ” với lổ hổng 3 năm thể lực/trí lực/tâm lực, quá đủ để giải thích vì sao trong số lượng “trí thức” khổng lồ được đào tạo trong nước và “gởi” sang nước ngoài đào tạo bằng tiền thuế của dân đen, chẳng có lực lượng đông đảo nào hoạt động ra hồn về chuyên môn đã được đào tạo cả, dù về tài chính, kinh tế, tiếng Anh, kỹ thuật, hay…Sử, mà oái oăm thay gần như đa số bị “tẩu hỏa nhập ma” đi học toàn những ngành hoành tráng để rồi về thực hành toàn những cái tạp nhạp quái đản của “dân chủ”/“nhân quyền”/“xã hội dân sự”/“biểu tình”/sáng tác thơ “nước mình ngộ quá phải hông tía?”/xả rác trên facebook và nếu bất tài không làm được bất kỳ những tài gì vừa được nêu trên thì hóa ra lại có tài ảo thuật biến bao ngàn tỷ Việt Nam Đồng thành bụi mịn để rồi hoặc tiến thẳng một lèo vô tù hoặc đi một vòng lắt léo ra hải ngoại cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ rồi mới quay về cố quận đút đôi tay mũm mĩm vào còng số 8. Tóm lại, các nhà sử học Việt Nam tuyệt đại đa số đều tóc bạc hưởng bao phúc lợi vinh hiển từ tiền thuế của nhân dân nhưng vẫn còn thiếu nợ nhân dân cái sự học lớp 10, 11, và 12. Nhà sử học thực thụ có tri thức uyên bác không cần học thêm lớp 10, 11, và 12 là người đã dám lên tiếng ngay để ủng hộ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến Luật Biểu Tìnhđại biến Tứ Đại Ngu.

2– Chính phủ không hiểu biết gì về trọng lượng khủng khiếp của 12 năm căn bản nền tảng mà chỉ cắm cúi phát triển số lượng khủng khiếp các trường đại học để rồi hình thành trong nước 5 vấn nạn vượt ngoài tầm kiểm soát gồm (a) sự chạy đua thần phục “từ chương” tức trọng bằng cấp dẫn đến “thừa thầy/thiếu thợ” mà ngay cả từ ngữ trong “thừa thầy/thiếu thợ” mà chính truyền thông chính thống quốc gia lãi nhãi ngày đêm cũng cho thấy sự xem thường giới đối trọng của “thầy”, (b) nỗ lực cung cấp “đầu vào” tức người đi học cho số lượng các trường đại học đã phát triển hơn nấm bằng cách bỏ bớt các kỳ thi vốn sẽ dẫn đến việc “đầu ra” của đại học không thể là nguồn nhân lực ra hồn để cung cấp cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, (c) sự muối mặt cắt giảm số lượng các ngành tuyển sinh đã phát triển hơn nấm tại các trường đại học mà số lượng các trường này cũng đã phát triển hơn nấm, (d) sự chê bai của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các “sản phẩm” nội địa vốn được tạo ra từ sự xem nhẹ 12 năm căn bản nền tảng, và (e) sự thật rằng tuyệt đại đa số “sinh viên” Việt Nam chỉ là những “học sinh” lớp 13, 14, 15, 16.

3– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” xem nhẹ Môn Sử nên đã gạt bỏ Môn Sử khỏi các yêu cầu phải có đủ tri thức căn bản để sống được và sống đúng.

4– Chính phủ dại dột theo lời “tư vấn” của “ban tư vấn Sử quốc gia” đã không xem Môn Sử phải như các môn học khác nghĩa là việc học Môn Sử phải được xem trọng hoàn toàn, việc phải có Môn Sử là không thể đảo ngược, và việc học Môn Sử phải kiểm chứng được qua thi cử hẳn hoi.

5– Chính phủ không hề nhận thức được rằng Việt Nam hiện không có bất kỳ “sử gia” nào cả.

6– Việt Nam hiện có quá nhiều “nhà sử học” toàn do tự phong hoặc do báo chí chính thống tự gọi “phe đồng minh” hoặc do Nhà Nước tự ban “phe ta” để lấp lửng lấp liếm sự thật Việt Nam vắng bóng hàn lâm Sử, và tất cả các “nhà sử học” này kỳ lạ thay chỉ “học” mỗi môn Việt Sử để lên tivi hỗ trợ “Đường Lên Đỉnh Olympia” hoặc trả lời phỏng vấn hành lang Quốc Hội những gì có liên quan đến Hoàng Sa hoặc nổi điên đòi tôn vinh công đức Gia Long hay A-Léc-Xăng Đờ Rốt, vân vân và vân vân, chứ chả biết gì về Thế Giới Sử và cả ngàn môn “Sử” khác. Các “nhà sử học” kiểu này đương nhiên hoàn toàn không đủ trình độ “nghiên cứu” phù hợp với việc hoạch định soạn thảo giáo trình Môn Sử cho đại cuộc 12 năm căn bản nền tảngđã nói ở trên. Ngoài ra, học sinh không biết có biết bao “Sử” để dành đam mê trở thành một sử gia cho một trong số 261 ngành Sử học vinh diệu đầy hấp lực tầm cỡ thế giới ấy.

7– Chính phủ đã hoàn toàn sai khi sau 30-4-1975 biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành. Trên nguyên tắc hàn lâm về Sử, Lịch Sử Đảng là lịch sử một tổ chức chính trị, là nguồn sử liệu cực kỳ quan trọng để hình thành phần bổ sung vào Lịch Sử Việt Nam, mà Lịch Sử Việt Nam cần thời gian tối thiểu 50 năm nghiên cứu thu thập tổng hợp đánh giá tư liệu từ nhiều nguồn sử liệu thế giới có liên quan đến thời kỳ của Lịch Sử Đảng để đúc kết chính thức đưa vào Lịch Sử Việt Nam. Việc biến Lịch Sử Đảng thành mục chính yếu của toàn bộ Môn Sử cấp trung học và phần buộc phải có ở đại học bất kể chuyên ngành, đã hình thành nơi học sinh tâm lý không những không còn xem trọng Lịch Sử Việt Nam trước 30-4-1975 mà còn không xem Lịch Sử Đảng còn tính hấp dẫn kế tục kế thừa vinh diệu của chuỗi lịch sử dân tộc, biến nó thành phương cách đơn giản trả nợ một môn học bình thường nhàm chán nhất mà thôi.

B) Vấn nạn các nhà sử học Việt Nam hoàn toàn không phù hợp với Môn Sử tại Việt Nam có thể được làm rõ qua sự thật họ thiếu vắng 3 hiểu biết (a) về ý nghĩa của công việc một Sử Gia, (b) rằng Sử không chỉ là các chi tiết về những cái tên hay những con số ghi năm tháng trong vài quyển sử Việt cũ hàng trăm năm tuổi vì nếu thế chẳng ai ở Việt Nam – trừ các phóng viên báo chí – cần đến các nhà sử học kiểu Việt cả, và (c) ý nghĩa của từ ngữ “sử liệu” cùng tầm quan trọng của sử liệu.

Sử liệu không chỉ là tư liệu ghi trong những quyển sử hàng trăm năm tuổi vốn không được tự động mặc định là chỉ toàn chứa chất các sự thật đã được kiểm chứng hay đã có bằng chứng. Sử liệu còn là những tài liệu chưa được chính phủ một nước công bố khi chưa hết thời hạn 50 năm hay100 năm mà luật pháp nước họ quy định, và ngay cả khi được công bố sẽ dẫn đến các nghiên cứu hàn lâm/điều tra thực địa/thẩm định chuyên sâu/đánh giá chuyên biệt trước khi một sử liệu được chính thức ghi thêm vào sách sử để bổ sung/thay thế/chỉnh sửa/tiếp tục dán nhãn “còn gây tranh cãi”. Sử liệu còn là những ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau. Và giá trị của Sử trong tương lai sẽ được tôn vinh cao nhất nhờ hiện tại có đầy đủ trang thiết bị giúp nghiên cứu/điều tra/ghi nhận từng sự việc một để các chi tiết lịch sử trong Môn Sử của tương lai đều có tài liệu chứng minh có thực và thực có.

Công việc đặc thù liên quan đến Sử của một sử gia/“nhà sử học”/công chức “viện sử học” có bao gồm cả việc ghi nhận lưu trữ thông tin ngay trong thời hiện tại để phục vụ nghiên cứu Sử của các thế hệ mai sau ấy. Vậy thử hỏi ngoài cái việc chăm bẳm vào chỉ mỗi việc “Thành Đô” theo đà tạo sóng của bọn chống Việt trong khi chả có tài liệu quái gì cả do chưa đến thời hạn công bố tài liệu mật quốc gia của Trung Quốc và Việt Nam theo thông lệ quốc tế để kiểm chứng so sánh tổng hợp, thì đã có “nhà sử học” nào ở Việt Nam quan tâm lưu trữ sử liệu cho hậu duệ?

Tôi có tình cờ quen một bác cao niên trên 80 tuổi tên Nhi khi thăm một người quen tại một bịnh viện ở Thành Phố Hồ Chí Minh cách nay vài tháng. Do tính cách từ nhỏ luôn tạo thiện cảm nơi người đối diện bằng cung cách ăn nói lễ độ trí hóa cao cùng tác phong đĩnh đạc cũng như khuôn trung luôn biểu cảm sự quan tâm chăm chú xem trọng ý kiến người đối diện, tôi không bao giờ chịu trao danh thiếp để không phải “hé lộ” thông tin “bí mật” mình là Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế, Nghị Sĩ Khóa XIII. Nếu được hỏi, tôi chỉ cho biết tôi tên Phước. Only this and nothing more – nghĩa là chỉ thế thôi. Bác Nhi ở Phú Yên, được con cháu đưa từ Nha Trang vào Thành Phố Hồ Chí Minh chữa bịnh. Bác khoe tôi xem hình bác chụp đen-trắng ố vàng xưa cũ, rất đẹp trai, trong quân phục quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Khi bác nói đó là quân chủng Biệt Động Quân, tôi nói hồi nhỏ mỗi chiều nghe radio phát sóng chương trình của quân chủng Biệt Động Quân và có nhớ bài hát dữ dội có lời “…Biệt Động Quân: SÁT!..”, thì bác Nhi lè lưỡi lắc đầu nói rằng bác không có “sát” ai hết do bác chỉ là một quân nhân hành chánh làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ hồi đó gọi tắt là DMRTC mà thôi. Bác nói bác đi Mỹ hoài để thăm các con các cháu, có khi ở vài ba tháng, nhưng bác từ chối sang bên đó sống, trong khi vợ bác thì chịu sang ở theo lời năn nỉ của cháu con. Bác cho biết hình như có cán bộ tình báo gián điệp Việt Cộng thâm nhập vào đội ngũ làm việc ở DMRTC nên khi giải phóng, bác chia tay gia đình ra trình diện ủy ban quân quản, khai báo trung thực vào hồ sơ tập trung đi “học tập cải tạo” dài lâu, nhưng lại được “cán bộ cộng sản” cho về ngay do có một vị nào đó sau rèm đã bút phê rằng bác không “có công với cách mạng” nhưng cũng không thuộc diện DMRTC “ác ôn có tội với nhân dân”. Bác nghĩ chắc là có một cán bộ cộng sản bí mật nào đó trong thời gian thâm nhập DMRTC đã nhận thấy bác là một “binh sĩ văn phòng” có tư cách, làm việc không đụng đến vũ khí, và không tham gia rèn luyện các “sát thủ bậc nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa”, nên đã chiếu cố cho bác sống đời sống dân sự bình an tuyệt đối ngay lập tức. Bác nói “Biệt Động Quân tụi nó dữ lắm” và kể rằng khi chiến sự diễn ra ác liệt, quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã trên khắp các mặt trận các vùng chiến thuật Miền Trung, bác bỏ quân phục, chạy khỏi DMRTC trà trộn theo các đoàn thường dân lánh nạn, và bác nhiều lần chứng kiến việc các binh sĩ Biệt Động Quân xả nguyên băng đạn tiểu liên bắn nát ngực hay lưng thường dân nào có xách va-li “Samsonite” vì trong đó bảo đảm có chứa vàng ngọc và đô-la Mỹ. Họ không chĩa súng đe dọa hét bảo đưa các va-li đó, chẳng qua vì họ biết nếu không nhanh tay giết-cướp-chạy ngay ắt sẽ bị chiến hữu Biệt Động Quân khác bắn nát lưng mình để cướp-của-cướp. Khi tôi hỏi khi chạy tán loạn như vậy thì ai cũng ngụy trang thành thường dân thì sao bác biết các sát thủ đó là binh sĩ Biệt Động Quân, bác nói đó là do nhận diện nhờ có kinh nghiệm thâm niên phục vụ DMRTC, cứ nhìn sắc mặt, đầu tóc, vũ khí, cách cầm vũ khí, cách sử dụng vũ khí, và cách im lặng giết người nhanh gọn ngay lập tức của họ khi gặp “đối tượng” là biết ngay; thậm chí đang chạy mà bác nghe…“tiếng súng của Biệt Động Quân” là bác kêu dân chúng hãy chạy theo bác rẽ sang hướng khác rời xa đường tháo chạy của Biệt Động Quân, còn nếu tiếng súng nghe không giống “của Biệt Động Quân” thì bác hối dân chúng chạy nhanh lên phía trước hoặc tiếng súng quá gần thì nằm dạt ra hai bên đường. Cũng tại khiếp sợ Biệt Động Quân khét tiếng “khát máu” thật, mà bác đã dẫn một đoàn dân chúng chạy thục mạng vào rừng sâu, chấp nhận nguy cơ gặp một thế lực bị Cộng Hòa tuyên truyền rằng“hung tàn khát máu” có tên “Việt Cộng” mà bác chưa từng nhìn thấy cái “khát” đó được “Việt Cộng” thể hiện ra sao.

Trên là những “sử liệu” mà không rõ có công chức nào của Nhà Nước ở các “viện” sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” ruột thịt của Nhà Nước chịu khó tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” hay chưa.

Nếu những đấng hưởng lương và phúc lợi từ tiền thuế của dân và tài nguyên quốc gia là công chức của Nhà Nước ở các Viện sử học hoành tráng của Nhà Nước phối hợp cùng các “nhà sử học” của Nhà Nước muốn tiếp cận, ghi chép, ghi âm, ghi hình để làm “sử liệu” thì chỉ có thể tìm gặp những người nào như bác Nhi, vì tháng trước bác phone cho tôi hỏi thăm sức khỏe của tôi và thều thào nói bác đang cảm thấy rất mệt. Ngày hôm sau, con trai lớn của bác Nhi đã điện thoại cho tôi báo hung tin bác đã đột ngột qua đời. Hóa ra đó là cuộc gọi cuối trước lúc ra đi của bác cho tôi, người tâm giao xa lạ lúc chào bác ra về đã giơ nắm đấm chúc bác khỏe mạnh như một cựu binh “Biệt Động Quân” cho ca đại phẫu hôm sau. Tôi đã thầm xin lỗi vì đã không trung thực đầy đủ với bác, không cho bác biết tôi là ai, dù bác nói trông tôi có phong cách một “ông giám đốc” hay một “ông lớn” nào đó chứ không phải chỉ là một “dân đen tư nhân nghỉ hưu không lương hưu tên Phước” như tôi đã cho bác biết như thế về mình.  

C) Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, không hề ngờ vực bất kỳ chi tiết nào trong đó.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều không rõ ràng cũng được tự động mặc định không thể làm gì hơn cho một định thẩm cứu nghiên.

Người ta chỉ mặc định xem những gì ghi trong các pho Sử cổ của nước nhà là chân lý, ngay cả những điều vô lý vô pháp vô thiên không có bất kỳ sử liệu gì chứng minh cũng không khiến người ta chấm dứt sự tôn vinh đã lỡ lầm trao tặng cho ai đó như trường hợp Chu Văn An.

Người ta chỉ mặc định xem những gì bọn chống Việt – gồm bọn người Việt chống Cộng cùng bọn Tàu và Anh Mỹ vân vân – nêu lên về Hoàng Sa, Trường Sa, Thành Đô, là những vấn nạn Sử duy nhất tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem những gì liên quan đến quốc hiệu của Việt Nam cộng sản hiện nay trong tương quan so sánh với quốc hiệu của Việt Nam – cũng cộng sản – trước đây, là những vấn đề Sử duy nhất cao quý tạo công ăn việc làm cho họ, những nhà sử học Việt Nam.

Người ta chỉ mặc định xem việc điêu ngoa nói nhăng nói cuội chống lại kiến thức “uyên thâm uyên bác” về “biểu tình” của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước là hành vi duy nhất xứng đáng cho công ăn việc làm duy nhất của những nhà sử học Việt Nam từ đường hang chốn tháp ngà sử học chui ra chốn nghị trường lập hiến và lập pháp Việt Nam.

Người ta không hiểu một chân lý rằng chính các sử liệu thu thập được từ những cựu chiến binh như Bác Nhi ở Phú Yên mới là thứ vũ khí có sức công phá hủy diệt cực kỳ ghê gớm triệt hạ các thế lực thù địch chống Việt Nam, vì các sử liệu ấy (a) củng cố chính nghĩa của Cộng Sản Việt Nam để đánh bại bọn “tự diễn biến” nội địa, (b) bóc trần sự nhơ nhớp của “Cộng Hòa” để đánh bại “tàn dư” của “Cộng Hòa” tại hải ngoại, và (c) đó mới là những “sự thật” làm tư liệu phong phú cho việc phát hành bộ  Việt Nam Sử Ký Toàn Thư năm 2075 nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Chiến Thắng.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Sử Nghiên

Ghi chú:

1) Nhà Sử Nghiên là…nhà nghiên cứu sử. Nhà Sử Nghiên cao hơn “Nhà Sử Học” chín bậc cửu trùng vì “nhà sử học” ở Việt Nam (a) chỉ biết học Việt Sử mà thôi, (b) chỉ biết học Việt Sử từ các quyển “sử” cũ đã có trong quá khứ được dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, (c) không biết rằng theo hàn lâm Âu Mỹ thì Sử bao trùm nhiều lĩnh vực như đã được Hoàng Hữu Phước nêu rõ trong bài Thế Nào Là Sử Gia , (d) học lực chỉ ở mức Lớp 9 nhảy lên đại học vốn là nơi để một người được đào tạo cho một nghề chứ không bao giờ đào tạo ra một “nhà” nào cả vì “nhà” là do “nghiên cứu” mà được trở thành, (e) không dám xưng là “Sử Gia” mà cũng chẳng được ai gọi là “Sử Gia”, và (f) chẳng bao giờ được các “Sử Gia” nước ngoài xem trọng do chẳng bao giờ nói được ngoại ngữ –  kể cả tiếng Hán – và chẳng có công trình nghiên cứu tầm cỡ “phá băng” tức điều tra chứng minh giải tỏa được những khúc mắc trong lịch sử dù chỉ trong nội tình lịch sử của chính nước mình để giới sử gia thế giới hiểu tường tận hơn.

2) “Hết sức uyên thâm uyên bác” là lời khen tặng của một đại tá công an họ Võ dành cho Hoàng Hữu Phước bằng tin nhắn và khi đến văn phòng Công Ty MYA thăm Hoàng Hữu Phước và Lại Thu Trúc ngay sau đại biến Luật Biểu Tình; hoàn toàn không phải lời tự phong của Hoàng Hữu Phước dù cho con mèo của ông ta thực sự có cái đuôi rất rất dài.

Tham khảo các bài về Sử của Nhà Sử Nghiên Hoàng Hữu Phước:

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  11-2011

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia   05-02-2014

Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam  04-10-2014

Các tham khảo khác:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh  29-5-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo” 25-4-2019

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Điều Cấm Vận

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

03-5-2019

                   Mục Lục

A- Truyền Thuyết Điều

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

C- Điều Triều

A- Truyền Thuyết Điều

Như điều bắt buộc phải có nơi một nhà giáo đã được nêu cực rõ trong bài “Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai nghĩa là phải có lòng tự trọng mà với lòng tự trọng đó một người sẽ không bao giờ cố len chân chen chúc vào làm “nhà giáo” nếu nhận thấy (a) kiến thức của mình chưa đạt mức uyên thâm, chưa ở thế bao trùm, chưa làm chủ đa dạng, không có khả năng dùng ngôn ngữ hùng biện thật cuốn lôi dẫn hấp để vừa truyền tải ngần ấy sự uyên thâm/bao trùm/đa dạng/cuốn lôi đến với học trò vừa làm bản thân trở thành thần tượng nơi học trò để học trò ngưỡng mộ noi theo tiếp bước trở thành những nhà giáo đúng nghĩa; cũng như khi nhận thấy (b) bản thân vừa không có niềm đam mê trở thành một nhà giáo tài ba chân chính, vừa cho rằng mình không có khả năng quán xuyến được điều kiện sống của bản thân và gia đình để có thể đeo bám cái nghề ấy mà không bao giờ nhỏ lệ buồn than tức tưởi trách phận thân sao lương tiền không dào dồi như ý.

Để trở thành một giảng viên Anh Văn đúng nghĩa một nhà giáo, tôi đã phải ngay từ lớp 6 trung học vừa phát huy năng lực “tấu thư” sáng tạo giàu tưởng tượng, vừa tìm đọc và lắng nghe biết bao câu truyện và câu chuyện của Việt Nam và thế giới để phục vụ hai mục đích gồm (a) hiểu biết thật nhiều với vốn từ thật nhiều, và (b) khi trở thành nhà giáo ngoại ngữ sẽ kể lại cho học trò bằng tiếng Anh những câu truyện và câu chuyện nào thú vị để vừa luyện nghe và luyện nói cho các em, biến tiết học “Luyện Nghe Tiếng Anh” chán phèo không những thành tiết sinh hoạt giải trí hấp dẫn dù theo kiểu tự soạn tự quyết về biết bao chuyện gồm cả kiểu dựa vào thần thoại Cổ La-Hy như Chuyện Tình Của Thần Vệ Nữ Venus và Bán Thần Adonis, kiểu lập lại  truyện dân gian như Đức Ngài Râu Xanh, kiểu biến tấu từ cái tên kinh dị có sẵn như Ác Quỷ Frankeistein, hay kiểu hiện đại hóa truyện rùng rợn Ba Điều Ước từ nguyên tác Cái Vuốt Khỉ, hoặc kiểu phỏng theo truyện tranh tiếng Anh Chiếc Hộp Kinh Hoàng, v.v. và v.v. mà chỉ có tôi mới không những biết mà lại còn kể được chuyện để làm các sinh viên tỉnh ngủ gật, tập trung hồi hộp lắng nghe, ớn lạnh sống lưng, tay viết hý hoáy các từ mới vào tập, miệng phá ra cười ha hả khi tôi biểu diễn thể hiện bộ tịch, dùng âm vực mô phỏng âm thanh và cuồng nộ của yêu tinh quái thú quỷ yêu, mà lại còn sử dụng cái “tấu thư” để kết thúc mỗi truyện kể bằng những lời khuyên mang tính đạo đức với gương mặt “thầy” cực kỳ nghiêm túc “tỉnh bơ” tấu hài mà chẳng cười gì, thậm chí còn trố mắt giả vờ ra vẻ ngạc nhiên tột độ không hiểu vì sao cả lớp lại có cái sự “cười bò” giải tỏa quá trình hồi hộp đứng tim trước đó, khiến cả lớp lại  thêm tức cười biến thành “vỡ rạp” làm phiền các giáo viên các lớp gần bên.

Đoạn trên gồm chỉ một câu duy nhất, tức chỉ có một dấu chấm hết ở cuối câu, sau chữ “gần bên”. Đây là kiểu hành văn viết – ngay cả nói khi thuyết trình – của tôi dù bằng tiếng Anh hay tiếng Việt, mà tôi chịu ảnh hưởng từ văn phong phức tạp cầu kỳ của Edgar Allan Poe (1809-1849), đại văn hào tiểu thuyết kinh dị trinh thám hình sự và nhà thơ vĩ đại trường phái lãng mạn của nền văn học Mỹ cận đại, có ảnh hưởng sâu sắc tác động đến các đại văn hào khác như Jules Verne (tác giả của Du Hành Vào Lòng Trái Đất) và Sir Arthur Conan Doyle (tác giả của bộ Thám Tử Sherlock Holmes), cũng như đến tôi, truyền nhân duy nhất của Thầy Lê Văn Diệm.

Tất nhiên, có những truyện không có cái kết có hậu và cũng hoàn toàn không có tiếng cười mà là sự lắng đọng suy tư nơi sinh viên. Một trong những truyện loại này có tựa đề “Điều” mà tôi đọc được trên một tờ báo ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa nay xin tóm tắt như sau để dẫn nhập vào một vấn đề chính trị mà thế giới vừa qua rất quan tâm.

Truyện kể rằng ở một làng nghề thủ công nọ tại Việt Nam chuyên về làm đồ mỹ nghệ sơn mài, có quy định trai gái của làng dứt khoát không được kết hôn với gái trai các làng khác. Quy định này để ngăn ngừa vấn nạn “mất nõ thần” tức mất bí quyết pha trộn các hóa chất phục vụ vẽ sơn mài. Thế rồi oái oăm thay, cô Mỵ Châu là “con một” xinh đẹp nhất làng của gia đình ông “Hương Quản”, một chức sắc ắt tương đương với “chủ tịch hội đồng nhân dân xóm”, lại bị “rù quến” bởi một thanh niên đẹp trai tên Trọng Thủy ở làng khác. Không may cho đôi uyên ương ấy, vụ việc bị nhanh chóng phát hiện do sau bữa cơm tối lúc nhà thắp đèn cầy tối hù chuẩn bị đi ngủ, ông hương quản cầm chiếc đèn dầu hỏa Huê Kỳ đi kiểm tra trước sau phòng ốc, thấy phòng của ái nữ mình yêu quý hơn châu ngọc có chiếc gối ôm được phủ chăn trên giường trống trơn tăm tối, bèn hô vang kêu gia nhân cùng tá điền đốt đuốc đi cài răng lược băng đồng tìm kiếm. Khi thấy đoàn quân tiến đến dù không có lông thiên nga hay lông vịt dẫn đường, chàng trai bỏ chạy nhanh nhất có thể, nhảy ùm xuống sông bơi qua cù lao tẩu thoát vào đêm trường tịch mịch. Cô gái bị bắt trói giải về. Khi mở phiên xử trước sân nhà, nghe cô con gái bày tỏ sự tin tưởng vào tình yêu cao đẹp của chàng trai, vào lời thề thốt của chàng rằng chàng chỉ yêu nàng vì nàng tốt bụng và nhân hậu chứ không phải vì nàng xinh đẹp nõn nà hay vì nàng là con nhà giàu có hoặc tại anh ta mơ tưởng chiếm hữu bí quyết pha dầu sơn mài, thậm chí nàng có già nua xấu xí tật nguyền chàng vẫn yêu thương suốt đời, v.v., rồi khi nghe con gái lạy xin cha đừng chia thúy rẻ quyên, ông hương quản nổi điên lắc đầu mắng con ngu dại, rằng “lỗi tại ta có con gái mà không nuôi dạy nên chẳng khác nào nuôi heo” – tức dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư – rồi tiện tay vung gậy quất con gái đến máu chảy thịt rơi. Khi gậy gảy, ông ngồi xuống phản, tuyên bố sẽ cho phép con gái được làm vợ chàng Trọng Thủy ấy, và ra lịnh thực hiện gia quy trước khi cho con gái được tự do, tức là quát tháo sai đặt cô gái nằm ngữa trên đất, lột trần áo xống xuống thắt lưng, bảo bốn gia nhân lực lưỡng quỳ gối tỳ đè lên hai đùi và hai vai của cô, trong lúc đó bốn gia nhân khác nhóm lửa, quẳng vào lửa vài nắm hạt điều còn nguyên vỏ, rồi cầm gắp sắt kẹp từng hạt điều bị cháy khét đang chảy dầu ra chèm nhẹp, dí các hạt điều ấy thoa lên toàn bộ gương mặt của cô theo những đường ngang lối dọc và dí luôn lên đầu hai nhũ hoa của cô, mặc cho tiếng thét la đớn đau thảm thiết của cô vang dội cả đêm đen. Tờ mờ sáng hôm sau, lúc tỉnh dậy vì cái lạnh của sương mai, cô gái bò quơ tay vớ được tấm vải bên cạnh che vội thân thể đầy thương tích rồi khập khiểng dọ dẫm bước đi. Cứ thế, cô lết bộ lần từng bước một vừa đi vừa hỏi khi nghe tiếng lộp cộp vó ngựa đến gần, may được người xa phu thương tình cho quá giang một đoạn đường mới sang được làng bên đến tận nhà chàng Trọng Thủy nhân hậu chung tình. Khi chàng kình ngư bơi nhanh hơn rái cá này bước ra, anh ta thảng thốt kinh sợ thét lên trong nỗi kinh hoàng kinh khiếp kinh sợ gào lên xua đuổi rồi bỏ chạy nhanh hơn đà điểu khi nhìn thấy gương mặt bị hủy hoại nhăn nhúm chảy xệ mù lòa toàn thân đẫm máu ghê rợn của cô. Câu chuyện kết thúc ở đoạn truyện đăng trên báo viết rằng người ta tìm thấy cô khi cô nổi bập bềnh theo con nước tắp vào bờ sông mấy ngày sau đó.

Trước khi đi vào nội dung chính trị mà câu truyện “Điều” trên dẫn nhập, kính mời các bạn xem tiếp Phần B dưới đây.

B- Biên Niên Sử Mỹ Cấm Vận Việt Nam

30 năm thì một cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1964-1994).

41 năm thì một cấm vận vũ khí sát thương Mỹ áp đặt lên Việt Nam mới được gỡ bỏ hoàn toàn (1975-2016).

Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành.

C- Điều Triều

Hạt điều thuộc cây công nghiệp mà hạt của nó đem lại cho nền kinh tế Việt Nam thu nhập rất cao từ xuất khẩu hạt điều nhân (cashew kernels), điều thô (raw cashew nuts) hoặc hạt điều thành phẩm đã qua rang muối và chế biến bánh kẹo.

Một sự thật hầu như chưa từng được bất kỳ ai nói đến là không bất kỳ quốc gia nào xuất khẩu hạt điều thành phẩm cho người tiêu dùng thực phẩm – ngay cả xuất khẩu hạt điều “thô” – mà không lột bỏ vỏ của nó. Không chỉ vì từ lớp vỏ ngoài của hạt điều người ta có thể trích ly những thứ hóa chất dù độc hại (như phenolic lipids, anacardic acids, và cardanol) nhưng phục vụ nhiều ngành công nghiệp (từ dược liệu đến thuốc diệt nấm mốc, thuốc diệt mối gỗ, lớp sơn lót công nghiệp, v.v. ), kể cả ngành thủ công mỹ nghệ chế tác phẩm vật sơn mài, mà tất cả đều gây thương tổn cho da, đặc biệt nghiêm trọng nếu người tiêu dùng tự nướng hạt điều rồi chờ nguội đưa lên miệng cắn ăn thì xem như môi bị acid làm cho bị phỏng nặng tiêu tùng. Do đó, khi đối tượng nhập khẩu là để dùng hạt điều như thực phẩm thì bên xuất khẩu sẽ phải tổ chức thuê mướn nhân công bóc vỏ hạt điều. Vỏ ấy sẽ bị vất bỏ nếu như không có xí nghiệp hóa chất nào quan tâm tìm mua như thứ phẩm của hạt điều.

Cấm vận của Mỹ giống như bản chất của hạt điều.

Hạt điều rất ngon và có giá trị cao. Những hứa hẹn cho một sự “ngon ăn” hoặc “ăn ngon” của việc chấp nhận đổi một thỏa thuận nào đó để lấy sự “xóa cấm vận” tức lấy “hạt điều”, hoặc tin vào hứa hẹn đó, cũng chỉ là việc bất khả. Không ai ăn sống hạt điều. Vỏ hạt điều nhất thiết phải được bóc tách (tất nhiên có sản phẩm hạt điều còn vỏ đã bị nướng cháy đen, được làm khô ráo không còn vương các acid, như đang bán tại các siêu thị như một cách chế biến quái đản chỉ có ở Việt Nam). Và hạt điều phải được rang nướng. Sự cấm vận của Mỹ áp đặt lên Việt Nam đòi hỏi rất nhiều công sức “chế biến” qua thời gian rất dài, từ vài năm đến vài chục năm. Phải mất 30 năm sự cấm vận ấy trên trận địa thương mại mới được gỡ bỏ, và phải mất 41 năm mới có việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí sát thương. Hạt điều thô đã nướng chảy acid, dù để nguội lạnh vẫn tàn phá da thịt con người. Cấm vận đã ban, các đàm phán theo sau, các cánh cửa hé mở cho các cuộc thăm viếng, nó vẫn tàn hại làm cả một đất nước điêu linh.

Đối với Mỹ, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên các quốc gia khác là một thứ “gia quy” khắc nghiệt, hoàn toàn không phải là thứ chỉ để hù dọa đơn thuần. Đó là đòn trừng phạt ghê gớm nhất, phức tạp kéo dài nhất, và nhằm đến sự ưu tiên đạt đỉnh điểm một hệ quả thảm khốc bậc nhất. Một lệnh cấm vận được ban ra không bao giờ để được gỡ bỏ nhanh chóng sau đó. Đây là lý do Tổng Thống Donald Trump hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ dành cho Bắc Hàn, ngay cả việc gỡ bỏ chỉ một phần, và ngay cả khi Tổng Thống Donald Trump có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ vừa nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Đối với Bắc Hàn, lịnh cấm vận do Mỹ áp đặt lên Bắc Hàn không bao giờ có một tương lai giải quyết sớm hơn và tốt hơn. Việc tiền trao cháo múc chứ không phải tiền trao lúa múc đối với Bắc Hàn mới là việc mua bán đương nhiên công bằng: đồng tiền có thể xài ngay và cháo có thể ăn ngay. Bắc Hàn không thể chấp nhận tận hủy tất cả những tài sản nguyên tử quý báu đang có (trao hết tiền), chỉ để dài cổ trông chờ sự giao hàng của một lô lúa mà người dân Bắc Hàn nếu nhận được phải gieo trồng, phải dẫn thủy nhập điền, phải bón phân, phải gặt hái, phải phơi phóng, phải xay giã, phải xay xát, v.v. và v.v., rồi phải đi mót cũi mới nấu thành cháo để múc ăn. Đó là sự chơi trác của tiền trao rơm rạ múc. Chưa kể, sẽ luôn có sự ngụy tạo quen thuộc (như Mỹ đã luôn kiếm mọi cớ đối với Việt Nam, như láo xạo vu vạ Việt Nam lén giam giữ hàng trăm binh sĩ Mỹ, sát hại thoải mái các tù binh Việt Nam Cộng Hòa trong các “trại cải tạo”, và xâm lược cướp bóc chà đạp “nền dân chủ” Kampuchea, v.v., để lờ đi lời hứa bồi thường chiến tranh cho Việt Nam và để áp đặt lịnh cấm vận mới khác chống Việt Nam) rằng Bắc Hàn vẫn còn đang chứa vũ khí hủy diệt tại chốn thâm sơn cùng cốc nào đó mà Mỹ phái điều tra cho ra chân tơ kẽ tóc nên chưa thể gỡ bỏ các cấm vận được ngay cả khi toàn bộ vũ khí nguyên tử có bị Bắc Hàn lỡ dại tiêu hủy hết rồi. Đây là lý do Chủ Tịch Kim Jong Un  hoàn toàn bó tay, bất khả xoay sở khác hơn cho một sự nhượng bộ bất kỳ, ngay cả khi đó là sự nhượng bộ cho phép các thanh sát viên IAEA vào điều nghiên tại chỗ, và ngay cả khi Chủ Tịch Kim Jong Un có thật tâm muốn nhượng bộ vì đại cuộc thì ông cũng không có quyền chấp nhận đánh đổi tất cả mà không nhận được sự trao lại tương đồng ngay lập tức từ phía Mỹ, tức việc Mỹ gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận. Với thứ hạt-điều-thô-nguyên-vỏ-vừa-nướng mà Mỹ chìa ra mời mọc, Bắc Hàn đủ khôn để từ chối nhón lấy nhận về.

Câu truyện tiểu thuyết về cô gái bị thoa dầu acid chảy ra từ hạt điều tàn phá dung nhan dẫn đến cái kết rất tàn nhẫn và tàn khốc, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ phía “trên cơ”, trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như các “gia quy” hãy ràng buộc rằng bí quyết sản xuất không được giao cho con gái dù đó là con một nên việc con gái có đi làm dâu nơi khác cũng chẳng hề chi, rằng bí quyết sản xuất phải được chia thành nhiều phần nhỏ cho nhiều người tín cẩn trong thân tộc mà chỉ có sự tụ họp đủ các phần ấy lại mới có thể tạo nên được công thức sản phẩm bí truyền, hoặc rằng ông bà hương quản phải tôn trọng luật pháp triều đình để từ đó biết xem quốc gia cương thổ là trọng chứ không phải biến lãnh địa chật hẹp ao làng thành khu biệt lập nội bất xuất, ngoại bất nhập, v.v. Nghĩa là các nhượng bộ đều có thể được đề ra, dù cho có thể sự nhượng bộ có khi chỉ trên cơ sở phải lựa chọn giữa cái rất kém và cái kém nhất – mà trong trường hợp này thì cái rất kém là trọng nam khinh nữ phân biệt giới tính chẳng hạn, vẫn có thể thà chấp nhận còn hơn so với cái kém tàn tệ là việc hủy hoại cuộc đời và mạng sống đứa con gái trong truyện và những người con gái tương tự trong đời.

Câu truyện có thật về cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim ngày 27-02 vừa qua đi vào bế tắc dẫn đến cái kết quả quá thất vọng so với sự kỳ vọng đầy hy vọng và phấn khích của nhân loại, lẽ ra vẫn có thể khác đi nếu có sự nhượng bộ từ hai phía trên cơ sở hùng biện thuyết phục, chẳng hạn như thay vì chỉ là một văn bản soạn sẵn dài có hai trang in trên giấy khổ Letter quái gở mà trên thế giới hầu như chỉ có Mỹ dùng, có nội dung nêu lên những gì Bắc Hàn phải thực hiện như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, có thể kiểm chứng được, thì văn bản ấy lẽ ra nên là quyển tài liệu dày cộm vài trăm trang đề xuất một lịch trình cụ thể hai bên phải thực hiện theo một lộ trình tuần tự trước-sau kéo dài trong ít nhất hai năm cho những nội dung bao gồm vài ý chính như:

(a) các cuộc họp cấp chuyên viên cũng như cấp cao về các nội dung theo tuần tự thời gian và bao gồm những chi tiết chẳng hạn như các thời điểm cho cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp chuyên viên tại Bình Nhưỡng để trao nhau bản chi tiết các yêu cầu của mỗi bên, trình bày các lý do đòi hỏi phải có các yêu cầu đó;

(b) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại New York để trao nhau bản chi tiết các đòi hỏi yêu cầu giữ nguyên, các đòi hỏi nay đồng ý gỡ bỏ khỏi danh mục các yêu cầu, và các đòi hỏi nay đồng ý điều chỉnh nhằm giảm bớt các cách biệt giữa các yêu cầu của hai phía;

(c) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng trao đổi các ý kiến của lãnh đạo cao nhất của mỗi bên;

(d) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật tại Seoul nhằm tạo điều kiện cho Hàn-Nhật đề ra các cam kết cụ thể đối với các hỗ trợ xây dựng kinh tế dành cho Bắc Hàn, đồng thời nêu ra các vấn đề quan ngại mong Bắc Hàn giải đáp và giải tỏa;

(e) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA tại Seoul nhằm giải đáp các vấn đề quan ngại của mỗi bên, tạo điều kiện cho mỗi bên đề ra các cam kết cụ thể, nêu ra các yêu cầu cụ thể, giải đáp giải tỏa tại chỗ – nếu có thể – các quan ngại, thảo luận cách tiến hành thanh sát, nội dung thanh sát, giám sát thanh sát, báo cáo thanh sát, giải quyết kỹ thuật việc tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho công tác tiêu hủy vũ khí, kinh phí cấp cho việc giải tỏa mặt bằng và bồi thường người dân liền kề khu vực tiêu hủy, v.v.;

(f) cuộc họp song phương Mỹ-Triều cấp bộ trưởng tại Bình Nhưỡng về các dự án phát triển thuộc các lĩnh vực nào, nội dung các gói viện trợ/cứu trợ, và các hợp tác kinh tế cụ thể nào có thể thực hiện ngay thay vì chờ đến sau ký kết thông báo thượng đỉnh cũng như các hợp tác kinh tế cụ thể nào sẽ thực hiện ngay sau khi ký kết thỏa thuận thượng đỉnh;

(g) các hoạt động ngoại giao bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, v.v. tại Bình Nhưỡng;

(h) cuộc họp đa phương Mỹ-Triều-Hàn-Nhật-IAEA lần chót để rà soát tất cả các vấn đề và nội dung đã nhất trí thỏa thuận được;

(i) các biên soạn tài liệu họp thượng đỉnh, đàm phán về địa điểm họp thượng đỉnh và thời gian họp thượng đỉnh;

(j) họp thông qua bản nháp văn kiện họp thượng đỉnh cùng các vấn đề liên quan; và

(k) họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 3 tại Hà Nội, Việt Nam, ký kết thỏa thuận phi hạt nhân hóa hoàn toàn Bán Đảo Triều Tiên, trước sự chứng kiến của các lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên Hợp Quốc, và IAEA.

Cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ-Triều Lần 2 tại Hà Nội đã thất bại. Nó đương nhiên thất bại. Tất nhiên các phát biểu trước cuộc họp ấy của các nhà phân tích chiến lược chính trị gạo cội của Việt Nam trên tivi đều chỉ dựa trên mong mõi mong muốn mong chờ mong đợi thiết tha của họ chứ không ở tầm cỡ phân tích chính trị chiến lược quốc tế. Tất cả các phát biểu đã thất bại, đơn giản vì không bất kỳ ai trong số họ nhớ đến một sự thật trần truồng (naked truth) rằng:

“Một lịnh cấm vận của Mỹ áp đặt lên một quốc gia không bao giờ là việc cỏn con để có thể được xóa bỏ nhanh chóng sau khi ban hành”.

Không một tổng thống nào của Mỹ đã từng dám nhanh chóng xóa một lịnh cấm vận ngay cả khi lịnh cấm vận đó là của vị tổng thống tiền nhiệm thuộc đảng đối thủ đối nghịch đối đầu.

Người ta có thể kỳ vọng vào những điều sau đây nơi Donald J. Trump:

(a) Donald J. Trump là vị tổng thống ưa chuộng tạo ra các tiền lệ cho hậu thế;

(b) Donald J. Trump không xem trọng các tổng thống tiền nhiệm, luôn khẳng định công khai chính Donald J. Trump mới là tổng thống vĩ đại nhất Hoa Kỳ (mà cho đến nay thì trong toàn nhân loại chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận xét như thế về Donald J. Trump trước cả khi Donald J. Trump tuyên bố như thê);

(c) Donald J. Trump không xem trọng các quyết định quan trọng nào đã có trước đó và do đó luôn muốn ký ban hành các quyết định thay thế để có dấu ấn của ông trong lịch sử nước Mỹ;

(d) cũng vì ba điều trên mà ắt Donald J. Trump có đủ thông minh để nhận ra rằng Mỹ không phải là “ông Hương Quản” của một cái “ao làng”, rằng “cấm vận” không phải là “hạt điều nướng chảy acid” gì ghê gớm mà thí dụ điển hình là chính “cấm vận” đã thúc đẩy Việt Nam trở thành vận động viên nhảy sào để vượt qua “cấm vận” trở nên giàu mạnh và hùng mạnh giữa sự bủa vây của kẻ thù Trung Quốc và hàng xóm ASEAN vốn thoát sinh từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO điên cuồng chống Cộng, và rằng “kẻ thù của Mỹ” không phải là “con gái của Mỹ” để Mỹ dí hạt điều nướng cháy vào đầu vú – nhất là khi “kẻ thù” ấy còn ghê gớm hơn cả Việt Nam vì có vũ khí nguyên tử không những đe dọa sự sinh tồn của các “đồng minh” quan trọng như Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn đe dọa cả an ninh quốc phòng của chính lục địa nơi có nước Mỹ; và

(e) cũng vì bốn điều trên mà tốt hơn hết nên có sự việc Donald J. Trump là tổng thống đầu tiên sẽ làm một việc chưa từng có tiền lệ: dỡ bỏ ngay một phần cái gọi là “lịnh cấm vận”, và nếu như cho đến nay vẫn làm ngơ “xù” luôn khoản “bồi thường chiến tranh” cho Việt Nam thì sẽ không dám không dành ngay cho Bắc Hàn những viện trợ cần thiết nhằm xây dựng một “lòng tin” … như điều kiện tiên quyết, triệt để, toàn diện, vững bền, và có thể kiểm chứng được.

Chỉ khi lớp áo vỏ của hạt-điều-cấm-vận bị bóc tách thải loại, các hóa-chất-chính-trị có thể gây phỏng xót xa cho bên thực thi bị loại trừ, sự cấp bách hối hả cực đoan bị loại bỏ, sự lựa chọn điều rất xấu thay cho điều xấu tàn tệ được ưu tiên, và sự chấp nhận xem là hợp lý khi chọn ngay cả một hướng tiêu cực miễn sao nó ít trầm trọng hơn một điều tiêu cực tệ hại khác, thì hạt điều chính trị sẽ không thể làm bỏng cháy thịt da người ăn, và các bên của cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ không bị hụt hẫng trước một kết cuộc bất thành, tệ hại.

Cuối cùng, lẽ ra Mỹ đã phải nhận ra rằng một tập văn bản kế hoạch dày một gang tay kiểu Hoàng Hữu Phước diễn giải nêu trên nếu đã được soạn thảo ắt đã được vui vẻ ký kết tại Hội Nghị Thượng Đĩnh Mỹ-Triều lần II tại Hà Nội thì đó cuối cùng vẫn sẽ đáp ứng đúng các ý đồ của Mỹ do thời gian hai năm là quá đủ để (a) sự thâm nhập thực địa của IAEA và Mỹ vào Bắc Hàn được tiến hành “từ đồ dần dà” hầu hoạt động công khai từ đó nắm đầy đủ nhất về các nguồn còn lại của mối đe dọa nguyên tử để có các biện pháp loại trừ hữu hiệu ngay khi bùng phát một hiện thực nguy cơ, và (b) sự tác động vào dân chúng Bắc Hàn trong tư duy về “tự do dân chủ” được thực hiện qua tiến trình ngụy trang của viện trợ Mỹ và giao lưu văn hóa cùng hoạt động thể thao với Mỹ từ đó có thể tạo nên tâm lý thiên Mỹ nơi dân chúng Bắc Hàn làm tiền đề cho sự trở nên bớt vững chắc hơn của chế độ Bắc Hàn. Đơn giản hơn: từ hai sự thật rằng một lịnh cấm vận không thể bị xóa ngay bởi một vĩ nhân kiệt xuất như Donald J. Trump luôn bị Quốc Hội ngu xuẩn phá hoại trói tay, và một sự tiền trao mà cháo không múc không thể là hành động bất cẩn của một vĩ nhân kiệt xuất như Kim Jong-Un được hun đúc từ tiền bối thông minh, thì một ký kết giản đơn kiểu mệnh lệnh ngắn gọn áp đặt lên Bắc Hàn tại Hà Nội nếu biến thành hiện thực mới là điều kỳ quái điên rồ nhất từng xảy ra trong cái nhân loại điên rồ do Thượng Đế nặn ra này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII, Nhà Tư-Tưởng Cộng-Sản Dân-Tộc Thiên Khổng, Nhà Hùng-Biện Chính Đạo, Thi-Nhân Bảo-Giang (Bảo-vệ Giang-san), Văn-Nhân Lăng-Tần (Ca-lăng-tần-già), Thi-Bá Tannhäuser Beowulf Thor, Nhà Sử Nghiên, Khắc-Tinh Của Báo-Chí Chính-Thống Việt-Nam Phản Đảng

Tham khảo:

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Nhà Giáo  25-11-2017

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm 22-02-2015

Vì Sao Hà Nội?

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-02-2018

Từ mấy tuần nay, kể cả khi Hà Nội được chọn làm nơi tổ chức cuộc họp thưởng đỉnh Trump-Kim, báo chí toàn quốc Việt Nam – bất kể báo giấy, báo hình, báo tiếng, hay báo mạng – đều tải đăng những bài viết lấy thông tin từ nước ngoài có tiêu đề mang tính giải thích như “Vì Sao Việt Nam Nên Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Việt Nam Được Chọn Làm…”, “Vì Sao Hà Nội Được Chọn Làm…”. Toàn bộ các bài thông tin ấy đều dựa theo các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của báo chí nước ngoài, các giáo sư của viện nghiên cứu chiến lược hay các viện đại học nọ của nước ngoài, mà tất cả các tuyên bố, phát biểu, đánh giá hay nhận định của họ đều xoay quanh 5 điểm gồm (a) “Hà Nội” nằm trong phạm vi bán kính bay của chuyên cơ của Chủ Tịch Kim, (b) “Hà Nội” có kinh nghiệm bảo vệ yếu nhân như chứng minh khi tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (c) “Hà Nội” có kinh nghiệm tổ chức các sự kiện trọng đại như chứng minh từ việc tổ chức APEC thành công ở Đà Nẵng, (d) “Hà Nội” từng có quá khứ căng thẳng với Mỹ nay đã hòa bình phát triển vượt bậc như một khuôn mẫu cho “Bình Nhưỡng”,và (e) “Hà Nội” có quan hệ ngoại giao tốt với cả “Oa-sinh-tơn” và “Bình Nhưỡng”.

Một lưu ý quan trọng từ các điểm trên là theo công thức thuần túy thuật ngữ báo chí Phương Tây thì Tên Thủ Đô một quốc gia = Chính quyền quốc gia của thủ đô đó hoặc dùng thay cho tên gọi của quốc gia đó. Từ đó có kiểu gọi như Washington = Chính quyền Mỹ hoặc Nước Mỹ, Bắc Kinh = Chính quyền Trung Quốc hoặc Nước Trung Quốc, Caracas = Chính quyền Venezuela hoặc Nước Venezuela, hay Moscow = Chính quyền Nga hoặc Nước Nga, v.v. Do vậy, từ “Hà Nội” trong các tiêu đề báo chí nêu trên chỉ mang ý nghĩa “Chính Phủ Việt Nam” hoặc “Nước Việt Nam”. Ngoài một ví von rằng “ Nội có Đại Sứ Quán Triều Tiên nên Chủ Tịch Kim yên tâm hơn” trong đó “Hà Nội” chính là “Thủ Đô Hà Nội” thì không bất kỳ ai từng thấy trên báo chí ở bất kỳ đâu dù trong hay ngoài nước có các phân tích cho nội dung “Vì Sao Thủ Đô Hà Nội Được Chọn Làm Nơi Họp Thượng Đỉnh Trump-Kim” cả.

Bài viết này như dưới đây, do đó, là bài đầu tiên và duy nhất trên thế giới đề ra những lý giải vì sao Thủ Đô Hà Nội của Việt Nam được chọn làm nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019, chứ không là Thành phố Đà Nẵng hay bất kỳ nơi nào khác trên toàn cõi Việt Nam.

Hai biện luận nhận xét đánh giá sau được đề ra bởi Thạc sĩ Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho câu hỏi trên:

1) Ở Việt Nam, chỉ có Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất của quyền lực trị quốc trung ương, hội đủ các điều kiện lịch sử và địa chính trị đặc biệt phục vụ đúng mục đích chiến lược của cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim. Lý giải thêm:

a– Tầm cỡ của hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn đang nắm giữ trong tay sự an nguy tồn vong của nhân loại không thể nào thích hợp cho một cuộc hội kiến tại một địa điểm thuần du lịch như Thành phố Đà Nẵng vốn hoàn toàn không có bất kỳ thế mạnh lịch sử & địa chính trị nào khác. Chưa kể, Đà Nẵng đã là nơi những đoàn quân Mỹ đầu tiên từ các chiến hạm hùng hổ đổ bộ vào Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh thảm khốc chống Việt Nam nên sẽ mang ngụ ý cực kỳ tiêu cực như một răn đe dành cho lãnh đạo Bắc Hàn về một cuộc đổ bộ tương tự để tấn công Bắc Hàn vốn hoàn toàn không bao giờ thích hợp cho nội dung của cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim. 

b– Cả hai nguyên thủ Mỹ và Bắc Hàn nhất thiết phải cùng bày tỏ sự tôn trọng kính trọng vị nguyên thủ Việt Nam qua việc cùng đến tận thủ đô nơi đặt tổng hành dinh của vị chủ nhà tối cao của Việt Nam để chứng minh sự có mặt của vị này rất cần thiết như một thực thể trung gian mang hội tụ đầy đủ sức mạnh lịch sử dân tộc vượt qua nghịch cảnh đối kháng, sức mạnh thời cuộc quốc tế thôi thúc những hòa hợp nhân nhượng mang tính toàn cục vì đại cuộc toàn cầu, và sức mạnh thần uy tự thân một nhà lãnh đạo tài ba có đóng góp cụ thể nhất vào tiến trình hòa giải lớn lao cho một kết quả cụ thể lớn lao cho cuộc họp thượng đỉnh này.

cHà Nội tượng trưng cho sự tôn trọng các bên và sự các bên được tôn trọng. Hình ảnh Chủ Tịch Nguyễn Phú Trọng đứng giữa Tổng Thống Donald Trump và Chủ Tịch Kim Jong-Un sẽ phát đi một thông điệp cực kỳ khúc chiết rõ rằng và tốt đẹp rằng thể chế chính trị Việt Nam được Mỹ tôn trọng, sự hợp tác phát triển kinh tế Việt-Mỹ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định, và vị thế Việt Nam cùng lãnh đạo Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới; nghĩa là thể chế chính trị Triều Tiên cũng sẽ được Mỹ tôn trọng tương tự, sự hợp tác phát triển kinh tế Triều-Mỹ sẽ là một thực tế hiển nhiên vững mạnh vững vàng và ổn định tương tự, và vị thế Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên cũng sẽ được nâng cao trên trường quốc tế tích cực góp phần ổn định chính trị khu vực và thế giới.

d– Thủ đô Hà Nội là một chứng nhân lịch sử bi tráng của sự tàn phá hủy diệt từ bom đạn của Mỹ trong chiến tranh mà Phố Khâm Thiên là một trong những khu vực điển hình bị san thành bình địa, và là chứng nhân của sự vươn mình phát triển hiện đại đầy tự hào và đáng ngưỡng mộ như hiện nay sau khi chiến tranh kết thúc. Ngụ ý sâu xa từ quá khứ của Thủ đô Hà Nội là: sự xung đột vũ trang trong một cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia thù địch đã làm tiêu hao biết bao nguồn nhân lực vô giá và nguồn tài lực khổng lồ lẽ ra đã có thể giúp cho hai đất nước nhanh chóng phát triển hùng mạnh hơn, cường thịnh hơn, hạnh phúc hơn. Và thay vì phải chờ đợi đến khi có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thương đau từ những hệ quả hoang tàn và hệ lụy đầy ám ảnh của chiến tranh, Tổng Thống Trump cùng Chủ Tịch Kim có thể nhìn thấy ở Thủ đô Hà Nội một tham khảo cụ thể cho thôi thúc đạt cho được một kết quả đồng thuận cụ thể với một quyết tâm chính trị cụ thể mà tất cả vì sự hùng mạnh, cường thịnh, và hạnh phúc cho hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, cho nhân dân hai đất nước Mỹ-Bắc Hàn, và cho nhân loại.    

2) Ở Việt Nam, với cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim, Thủ Đô Hà Nội là nơi duy nhất ở Việt Nam mang tính biểu tượng cao nhất, duy nhất, và độc nhất cho vai trò trở thành địa điểm của các cuộc hòa đàm khu vực và thế giới như một thành phố toàn cầu (global city), một trung tâm ngoại giao thế giới (worldwide centre for diplomacy), và là một Geneva của Việt Nam (Vietnam Genève).

Vì vậy, những vấn đề mà Việt Nam nên tập trung thực hiện cho cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim cuối tháng 2-2019 bao gồm:

1) An Ninh: nghiêm cấm sử dụng “máy bay không người lái” toàn khu vực các tỉnh Miền Bắc trong suốt thời gian Tổng Thống Trump và Chủ Tịch Kim đến Thủ đô Hà Nội. Bắn hạ tất cả các “máy bay không người lái” vi phạm lịnh cấm này.

2) Quốc Phòng: tổ chức phi đội chiến đấu cơ bảo vệ phi cơ của Chủ Tịch Kim, kiên quyết không cho phép chiến đấu cơ không quân Trung Quốc được vào không phận Việt Nam.

3) Đối Ngoại: nghiêm cấm báo chí Việt Nam sử dụng các thông tin từ bất kỳ hãng thông tấn nào bị Tổng Thống Trump liệt vào hạng Fake News tức Báo Chí Ba Que Xỏ Lá.

3) Nhân Sự: Sau cuộc họp thượng đỉnh Trump-Kim, Việt Nam đầu tư xây dựng đội ngũ những nhà đàm phán, những nhà hòa giải, để tích cực chủ động tham gia giải quyết các vấn đề xung đột thế giới, đưa các cuộc họp thượng đỉnh vì mục đích này đến Hà Nội, biến Thủ đô Hà Nội thành một Vietnam Genève.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Chính-trị Xã-hội Chủ-nghĩa Thiên Khổng, Nhà Nghiên-cứu Chiến-lược & Chính-sách Quốc-gia

Tham khảo:

A) Chủ Tịch Kim Jong-Un:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn 12-9-2017

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý  24-9-2017

B) Tổng Thống Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump  01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump  12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Chính Thống Việt Nam Lõa Lồ  10-4-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ  04-4-2017

Donald Trump Phơi Bày Gót Chân Achilles Của Giới Lãnh Đạo Chính Trị Việt Nam April 17, 2017

Donald Trump Phơi Bày Thân Phận Người Mỹ Gốc Việt Chống Việt  27-4-2017

Donald Trump Và Trần Đại Quang  12-5-2017

Tiếng Anh Trong Bức Thư Của Tổng Thống Donald Trump  30-5-2018

C) Bài Viết Của Tác Giả Khác:

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump  19-10-2017

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump 19-10-2017

Luật Đặc Khu – Phần 2

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp & Lập Hiến Khóa XIII Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

01-10-2018

 LDK2LuatDacKhu2 (1)

Dẫn Nhập Cho Phần 2

Một tên tiến sĩ óc bùn đại ngu khi trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ, một tờ báo chính thống đại đại ngu của Đảng Cộng Sản Việt Nam từng dám cả gan tấn công nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, đã nói về sự cố bạo loạn gây ra từ Luật Đặc Khu rằng: “Luật đặc biệt nhưng giải thích không rõ nên dân bức xúc”.

LuatDacKhu2 (2)

Tên đại ngu trên đang là nghị sĩ Khóa XIV Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh mà sự tồn tại của nó trong Quốc Hội đã trở nên khét tiếng qua các chi tiết như đã nêu tại Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tên đại ngu trên còn đang là cố vấn cho Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Khoan nói đến việc một tên đại bất tài đại vô dụng đại vô hạnh như nó mà tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng thì đất nước này chỉ có con đường duy nhất là suy vong suy kiệt suy tàn về kinh tế, chỉ cần qua lời phát biểu ngu đần của nó đã thấy lồ lộ bốn điều kinh khủng rằng:

(a) nó bất tài vô dụng không hề biết gì về những hiễm họa khôn lường trong cái gọi là Luật Đặc Khu để tư vấn cho Thủ Tướng các biện pháp phòng ngừa/hóa giải/tuyệt trừ mà cái khả năng thấu thị ấy thì bất kỳ ai thực sự thuộc tầm cỡ cố vấn nhà nước loại kinh bang tế thế dứt khoát phải sở hữu dưới dạng thiên phú tức có-không-do-thọ-giáo-từ-bất-kỳ-ai-khác, rằng

(b) nó bất tài vô dụng không hề phát biểu hoặc – như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay làm là – gởi thư cho lãnh đạo Quốc Hội để cảnh báo về những hậu quả khôn lường về an ninh quốc gia chắc chắn sẽ xảy ra nếu nó và đám người ngợm như nó không biết phải giúp Đảng và Quốc Hội giải thích về Luật Đặc Khu như thế nào cho người dân khỏi bức xúc, rằng

(c) nó dám xúc phạm toàn dân tộc khi ám chỉ rằng dân trí của dân tộc Việt Nam này kém đến độ thông tin về Luật Đặc Khu được in bằng tiếng Việt mà vì đọc vẫn không hiểu gì sất nên mới bức xúc làm loạn, và rằng

(d) nó dám bao che cho bọn lưu manh phản loạn bằng cách đổ tất tần tật lỗi cho sự “giải thích không rõ” mà toàn Đảng, toàn Chính Phủ, toàn Quốc Hội phải chịu tội về cái sự “giải thích không rõ” ấy.

Ở một xó xỉnh khác thì một tên thạc sĩ óc sình đại đần nghị sĩ Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh Khóa XIV – lại là Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng! – khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo chính thống khác đã tư vấn rằng “nên làm trước một đặc khu để rút kinh nghiệm”.

LuatDacKhu2 (3)

Tên nghị sĩ đại đần này phải chăng muốn ám chỉ rằng:

(a) cái đặc khu kinh tế đầy quan trọng vì phải thọ nhượng biết bao tài nguyên hữu hình tangible như cảnh quang thiên nhiên và tài nguyên vô hình intangible như toàn bộ hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia và tương lai bất định/vô định/phi định của cả dân tộc lại có thể cứ hoạt động mà không cần phải có bộ luật chính thức về đặc khu kinh tế hay sao, rằng

(b) cái đặc khu kinh tế mà muốn có nó thì Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải bỏ ra toàn bộ của cải kho tàng ngân khố quốc gia để xây dựng thành thiên đường vật chất tuyệt mỹ hạ giới trước để dâng cho nhà đầu tư tà tà bước vô hưởng thụ vui chơi trác táng cờ bạc đỉ điếm trong “99 năm” lại chỉ để rút kinh nghiệm sau “99 năm” – hoặc 98 năm – ư, và rằng

(c) nếu như sau “99 năm” có cuộc tụ họp đại hội nghị ở tòa nhà Quốc Hội đúc rút kinh nghiệm mà thấy thất bại thì Quốc Hội sẽ hùa nhau tuyên bố hủy bỏ kế hoạch thông qua Luật Đặc Khu rồi kéo nhau đến mộ phần những đứa nào trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, những đứa nào trong Chính Phủ, những đứa nào trong Quốc Hội mà cách đó “99 năm” – hay 98 năm – đã cổ súy cho cái Luật Đặc Khu, để chưởi cha vào bia mộ của chúng hoặc tổ chức đóng xiềng xích sắt quanh mộ của chúng – y như kiểu Nhà Nguyễn đã hành xử đối với mộ phần Lê Văn Duyệt – do có đại tội với nhân dân đã làm mất sạch của dân tộc toàn bộ kho tàng ngân khố quốc gia và đại tội chuyển hóa thời gian “99 năm” – hay 98 năm – thành rác thải ư?

Vì vậy, (a) trước sự ngu-muội-có-pa-tăng-cầu-chứng-tại-tòa-thương-mại-quốc-tế của hai tên nghị sĩ nêu trên của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng, (b) trước thực tế không bao giờ có chuyện người dân Việt Nam do dân trí thấp đã không hiểu cái dự án Luật Đặc Khu nó nói cái gì và đặc biệt chỗ nào mà Toàn Đảng/Toàn Chính Phủ/Toàn Quốc Hội khinh rẻ dân chúng chẳng thèm giải thích nên bức xúc vùng lên đốt phá, và (c) cũng như trong Phần 1 của bài Luật Đặc Khu có giải thích kỹ về mọi ngóc ngách của ngôn từ như một thói quen cố hữu – dù khi viết hay nói bằng tiếng Anh hay tiếng Việt – mang tính chuyên-cá-nghiệp personal professional signature  của Thầy Phù Thủy Ngôn Từ Hoàng Hữu Phước, Phần 2 này có tiêu đề “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” cũng không thể không cần đôi lời giải thích như dưới đây.

Ở đây, tiêu đề được đặt ở trên là “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” chứ hoàn toàn không phải và không đồng nghĩa với “Luật Đặc Khu Của Việt Nam” đơn giản vì tác giả bài viết này chưa hề cầm trong tay bản copy nào của cái dự thảo luật ấy để đọc xem nó tròn méo như thế nào. Ngay cả khi có toàn văn bản dự thảo ấy trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật của Giám Đốc Luật Sư Vũ Ngọc Dũng là vị tôi trước đây hay xướng họa thơ ca trên trang mạng doanh nhân Emotino thì tôi cũng không click vào để đọc xem cái dự thảo luật ấy nó tròn méo ra sao.

Lý do của “chưa hề cầm trong tay bản dự thảo ấy để đọc xem nó tròn méo ra sao” vì như đã nêu trong bài viết trước đây về chi phí hàng năm cao khủng khiếp của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh cho khâu in ấn các dự thảo dự án luật để gởi sâu rộng đến các cơ quan/ban/ngành/đoàn thể/địa phương để lấy ý kiến đóng góp sâu rộng của chuyên gia và các tầng lớp nhân dân cho từng dự thảo dự án luật rồi Văn Phòng tổng hợp chuyển tải cho Thường Vụ Quốc Hội nghiên cứu xem xét hoàn thiện dự án luật, thế nhưng kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII chưa bất kỳ một bản in nào như thế được Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh gởi đến Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cả – tất nhiên, bảo đảm các nghị sĩ khác của các khóa tiền nhiệm đều đã và đang nhận được các bản photocopy các dự thảo dự án luật ấy do các ông các bà nghị sĩ này là đảng viên chức sắc cao cấp của Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh trong khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là nghị sĩ ngoài Đảng.

Trên là chi tiết đơn giản nhất giải thích vì sao tiền của của nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã đổ sông đổ biển trong rất rất nhiều thập kỷ qua, mà bằng chứng hiển nhiên nhất là do cái dự thảo dự án Luật Đặc Khu ấy dù tiêu tốn tỷ tỷ tiền thuế của người dân để “lấy ý kiến” của người dân và các ban ngành đoàn thể Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn lồ lộ cái tiêu cực hiển nhiên của

(a) hao tốn điện/giấy/mực/môi sinh/bưu gửi,

(b) ắt có sự gia tăng thu nhập của cơ sở in ấn lợi ích gia đình – nếu như sự in ấn được thực hiện bên ngoài Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh,

(c) tất cả các ý kiến đóng góp của đại diện các ban/ngành/đoàn thể tại buổi họp ở Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh – tức những người dự họp đều có nhận phong bì tiền bồi dưỡng – đều vô bổ và vô ích vì té ra chả có gì ra hồn để “chuyển tải” ra chốn Nghị trường Quốc Hội cả, mà bằng chứng lồ lộ là cái nguyên nhân chính được chính mồm một tên nghị sĩ Khóa XIV của Thành Phố Hồ Chí Minh nêu lên trên báo nhằm lý giải cho sự thúc thủ (tức bó tay chịu trận) toàn diện – may mà  chưa thất thủ (tức bị lật đổ) – của Thành Phố Hồ Chí Minh và những tỉnh có “biểu tình” là do người dân chưa nắm rõ hay hiểu biết rõ về cái Luật Đặc Khu ấy;

(d) tất cả các bài vở thông tin trên báo chí về Luật Đặc Khu đã đều vô bổ và vô ích vì té ra ngay tại Thành Phố Hồ Chí Minh cực lớn và tại vài tỉnh có danh tiếng đã có nhũng cuộc “biểu tình” làm ô danh chính quyền, hóa ra báo chí Việt Nam chính thống tại Thành Phố Hồ Chí Minh rõ ràng hoàn toàn thất bại, hoàn toàn vô dụng, hoàn toàn là thứ vất sọt rác, không còn là vũ khí chính trị ra hồn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thông tin, giáo dục, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân của Thành Phố Hồ Chí Minh ủng hộ các quyết sách của Đảng, nên mới có chuyện càng đọc báo giấy và báo mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam người dân càng chẳng hiểu gì hết về Luật Đặc Khu và luật pháp nói chung nên mới bức xúc rồi tự do biểu tình tự do đốt phá.

Vì tất cả các vấn nạn trên, các nội dung bình thường sau xin khép nép được rón rén nêu ra đây trên trang blog bình dân này cho công luận đồng bào nghiền ngẫm cuộc vuông tròn của vấn đề Luật Đặc Khu tại Việt Nam, còn để vấn đề Luật Đặc Khu của Việt Nam tôi xin nhân đây giao nhiệm vụ cho các nhân-sĩ-trí-thức-tiến-sĩ-thạc-sĩ là đảng viên của Đảng đang hiện diện lúc nhúc trong các viện/cơ quan hoành tráng sang trọng của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải giải thích cho quốc dân đồng bào được rõ.

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

A- Thế Nào Là Đặc Khu Kinh Tế

1) Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Đặc Khu Kinh Tế thoát thai từ cụm từ tiếng Anh Special Economic Zone viết tắt là  SEZ.

Đặc Khu Kinh Tế (viết hoa, với chữ viết tắt là SEZ) ở trên là theo phạm trù từ nguyên học.

Còn theo thực tế ngữ nghĩa học thì đặc khu kinh tế tức khu kinh tế đặc biệt (viết thường, không viết tắt là SEZ) đã xuất hiện từ lâu, lan tràn, rộng khắp, và dưới các tên gọi quen thuộc khác nhau như Free Port FP, Free Zone FZ, Bonded Area, Foreign-Trade Zone hoặc Free Trade Zone FTZ, Free Economic Zone FEZ, Free Economic Territory FET, Export Processing Zone EPZ, Special Customs Control Area, Customs Zone, hay International Zone, v.v. và v.v. Trong rừng tên gọi trên, ắt đại đa số người Việt nhận ra ngay cái khu kinh tế đặc biệt mang tên Export Processing Zone EPZ (tức “khu chế xuất”) đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay. Trong khi đó, dù Hoa Kỳ có hơn 230 khu kinh tế đặc biệt chính với 400 khu kinh tế đặc biệt phụ mà khu đầu tiên xuất hiện năm 1937, họ vẫn cứ vui vẻ với tên gọi tiếng Anh Foreign-Trade Zone FTZ, tức Khu Ngoại Thương, với một phong cách triết nhân rằng con người hay dùng thời gian nhàn rỗi của kẻ thất nghiệp để đẻ ra các tên gọi mỹ miều, biến thiên từ manager sang general manager sang director sang managing director sang general director sang cái mới nhất là CEO cho oách rồi sang cái quái gì nữa thì cũng chỉ là tên gọi khác nhau của anh giám đốc, mà cái chính duy nhất là công ty có ra chi không, và tương tự, cái khu kinh tế đặc biệt có ra chi không chứ chẳng phải nó nên có chữ tiếng Anh viết tắt là gì, EPZ, FTZ, hay mới nhất là SEZ cho thật oách mà chỉ để lùng bùng lổ tai.

Thế là sau thời gian dài loài người tạo ra hết hình thức khu kinh tế đặc biệt này đến khu kinh tế đặc biệt kia, người Tàu không cam tâm bắt chước thiên hạ nên đã ra sức  kiếm tìm, thiết kế, rồi hình thành một hình thức mới khác của khu kinh tế đặc biệt và lần này họ đặt tên là Special Economic Zone SEZ mà tiếng Việt dịch sát nghĩa đen luôn thành Đặc Khu Kinh Tế với nội hàm chủ đạo rằng cả công việc kinh doanh và luật pháp kinh doanh đều khác biệt so với phần còn lại của quốc gia.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ là một khu vực trong một quốc gia, bản thân nó có những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt so với luật pháp chung/chính/chuẩn của chính quốc gia đó. Những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt như vậy nhằm – và chỉ nhằm – thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, với món quà ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng mang tên nhà đầu tư đương nhiên được giảm thuế rất rất nhiều và nhà đầu tư đương nhiên gia tăng thu nhập cùng lợi nhuận rất rất nhiều.

Sự khác biệt giữa các Đặc Khu Kinh Tế SEZ và các khu kinh tế đặc biệt là ở chỗ:

(a) Các khu kinh tế đặc biệt có trước các Đặc Khu Kinh Tế SEZ;

(b) Các khu kinh tế đặc biệt ở Việt Nam không được gọi là đặc khu kinh tế, mà được gọi theo cách dịch ra tiếng Việt các cụm từ tiếng Anh của EPZ trong tập thể các cụm FP, FZ, FTZ, FEZ, FET, EPZ, v.v.

(c) Các khu kinh tế đặc biệt cũng nhận được các ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng về thuế và lợi nhuận nhưng phải hoạt động bên trong tường rào của một khu đất riêng mà theo địa giới hành chính địa phương được gọi là “Khu”, trong khi các Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoạt đông tại một vùng mà theo địa chính trị trung ương quốc gia được gọi là “Đặc Khu”;

(d) “Khu” của các khu kinh tế đặc biệt có một “ban quản lý” do địa phương của thành phố hay tỉnh lập nên các “Khu” ấy cử đến làm công tác quản lý bình thường của các công chức cấp cao bình thường; trong khi Đặc Khu Kinh Tế SEZ có “ban lãnh đạo” với luật pháp riêng; và

(e) Các nhà đầu tư tại các khu kinh tế đặc biệt chỉ có những nghĩa vụ về trả tiền thuê đất, đóng thuế – kỳ dư, không có bất kỳ quyền hành nào khác vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp chung của nước sở tại; trong khi đó, các nhà đầu tư tại các Đặc Khu Kinh tế SEZ được hành xử quyền hạn vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp

2) Đặc Khu Kinh Tế SEZ Trên Thế Giới Có Giá Trị Gì?

(a) Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên:  Như đã sơ giải ở trên, Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên trên thế giới được cho là do Trung Quốc hình thành tại Shenzhen (Sen Gien – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Thâm Quyến” hoặc “Thẩm Quyến”) dưới thời Deng Xiaoping (Đen Xạo Bình – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Đặng Tiểu Bình”) vào những năm đầu của thập kỷ 1980. Mô thức này thành công vượt bậc và dần được lũ lượt noi theo bởi Ấn Độ năm 2007 và lan ra nhiều nước trên thế giới.

(b) Sự Bùng Nổ Của Các Đặc Khu Kinh Tế SEZTheo số liệu không đồng nhất về năm thống kê ở từng quốc gia thì đơn cử vài ba  nước sau có nhiều Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Tên Quốc Gia  –  Số Lượng Đặc Khu Kinh Tế SEZ  – Ghi Chú

Bangladesh   46

Cambodia     22

Ấn Độ          187    ngoài 634 SEZ đã được cấp giấy phép thành lập

Philippines   208

Ba Lan          44

Thái Lan       14

Ukraine         12

(c) Chủ Nhân Các Đặc Khu Kinh Tế SEZCần lưu ý rằng nhiều quốc gia khác như Bắc Hàn (Triều Tiên), Cuba, Congo,  Indonesia, Iran, Jamaica, Malaysia, Mexico, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Panama, Ai Cập, Hy Lạp, v.v. mỗi nước đều có từ 1 đến vài chục các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong đó đơn cử Uzbekistan và Zambia có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nhưng tất cả nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc vì không bất kỳ nhà đầu tư quốc tế nào khác chịu tìm đến “đầu tư” cả.

(d) Tên Gọi Đặc Khu Kinh Tế SEZ:  Cũng cần lưu ý rằng hơn 70 quốc gia khác (8 ở Châu Phi, 19 ở Châu Á, 29 ở Châu Âu, và 14 ở Châu Mỹ) trong đó có nhiều cường quốc và siêu cường quốc đơn cử như Hàn Quốc, Anh, Nga, và Hoa Kỳ đều không màng đến việc mở ra cái gọi là Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì họ xem những khu kinh tế đặc biệt đang có mà họ gọi là Khu Kinh Tế Tự Do/Khu Kinh Tế Ngoại Thương FEZ là đã quá đủ cho đại cuộc chấn hưng kinh tế nước nhà. Ngay cả một tiểu quốc như Bahamas nằm trong số các quốc gia giàu nhất Châu Mỹ cũng tự hào có Khu Kinh Tế Tự Do FEZ tên Freeport thành lập từ năm 1955 mà không hề đoái hoài đến việc bắt chước dựng xây Đặc Khu Kinh Tế SEZ mô hình Trung Quốc.

(e) Những Đặc Khu Kinh Tế SEZ Như Shenzhen Thành Công Như Shenzhen: Điều oái oăm là không bất kỳ ai có thể nêu tên một Đặc Khu Kinh Tế SEZ nào khác thành công tương tự cái SEZ tại Trung Quốc, trong số hơn 4300 Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động trên toàn cầu cả.

(f) Tuyên Bố Của Chuyên Gia Về Số Phận Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: Nhà tư vấn chính sách quốc gia Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước cả quyết rằng Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoàn toàn không có giá trị chung đồng nhất đồng dạng đồng phục trên toàn cầu. Mục A.2.b. ở trên chứng minh hùng hồn rằng số lượng nhiều trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở một quốc gia không hề làm quốc gia ấy cường thịnh mà trái lại dường như đẩy chính quốc gia đó vào nẽo đường vô định bấp bênh.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được đặt kỳ vọng sẽ cuốn hút đầu tư nước ngoài, phát triển kỹ nghệ nội địa, và thúc đẩy cải cách thể chế, mà tất cả nhằm đến sự tham gia tích cực vào nền kinh tế toàn cầu. Nhân tố hỗ trợ sự thành công của SEZ bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam có chấp nhận mô thức quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập áp dụng cho nhân vật được phân công quản lý một Đặc Khu Kinh Tế SEZ; và (ii) nếu không chấp nhận nguy cơ phát sinh nhà nước trong nhà nước/chính quyền trong chính quyên/lãnh thổ trong lãnh thổ từ thói quen táy máy tiêu cực lạm quyền của tuyệt đại đa số các cán bộ cao cấp một khi lọt thỏm vào môi trường quyền lực kinh tài, liệu Việt Nam sẽ hủy bỏ kế hoạch Đặc Khu Kinh Tế SEZ, biến đổi SEZ thành một mô thức mới với tên mới, hay chấp nhận sự tham vấn của chuyên gia Hoàng Hữu Phước như nêu ở phần D dưới đây về hình thức SEC?

B- Đảng Cộng Sản, Chính Phủ, Và Quốc Hội Việt Nam Đã Sai Ra Sao Đối Với Dự Án Luật “Đặc Khu Kinh Tế?

1) Sai Về Nhận Thức Thực Tế

Trước sự thành công của Trung Quốc khi đẻ ra mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ với cái tên Shenzhen chấn động thế giới kinh tài, hầu như quốc gia nào cũng cố mở ra cho mình ít nhất là một SEZ. Thậm chí có những quốc gia mở từ 200 SEZ trở lên ở nước mình, trong đó có Ấn Độ là nước đang sở hữu bom nguyên tử và Philippines quốc gia công giáo đang dưới quyền cai trị của vị tổng thống từng chửi “đù mẹ Đức Giáo Hoàng”.

Việc Việt Nam bắt chước mở SEZ sau thiên hạ cho thấy đã có sự cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phục vụ quốc gia đại sự chỉ có thể được tiến hành bởi những đấng anh tài trí hóa cao, trong khi Đảng chỉ có các viện nghiên cứu hoành tráng có nhiều bàn ghế cho nhiều người ngồi làm việc mà tất cả những người này không ai là bậc anh tài trí hóa cao, mà bằng chứng là Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội đã bị dắt mũi vào mớ lùng nhùng rối ren rối rắm rối tung rối loạn của dự án Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Thực tế Shenzhen thành công đã cung cấp 6 thực tế sau mà tiếc thay chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra được từ lâu:

a) Thực Tế 1: Chỉ Có Shenzhen Của Trung Quốc Thành Công

Trên blog Aspiration của nền Yahoo!3600 của Hoàng Hữu Phước cách nay 20 năm viết các tiểu luận kinh tế/chính trị/giáo dục/xã hội/kinh doanh chỉ bằng tiếng Anh, thì bài “People Say Chindia, I Say Vietnam” (tạm dịch: Quý Vị Cứ Khen Chindia! Tôi Khuyên Quý Vị Nếu Khôn Hãy Vào Việt Nam!) nêu rõ nhận định của Hoàng Hữu Phước rằng giới hàn lâm quản trị kinh doanh quốc tế Âu Mỹ đã hoàn toàn sai khi đánh giá Trung Quốc và Ấn Độ (China + India = Chindia) là hai thị trường duy nhất mà giới sản xuất tư bản toàn thế giới nên đổ xô vào ngay để chụp lấy thời cơ vàng lúc hai nước bảo thủ này trải thảm đỏ mở toang cửa mời đón đầu tư. Thời cơ vàng ấy là: sản xuất tại Chindia với ưu đãi về thuế quan thấp với lượng “khách hàng” sẵn có tại chỗ mỗi nơi có hàng tỷ người dân, khỏi phải đi bán ở đâu xa. Hoàng Hữu Phước đã biện giải rằng đó là nhận định ngu xuẩn của giới hàn lâm Âu Mỹ, vì rằng việc đổ xô vào Chindia sẽ dẫn đến hai nghịch lý và một kết luận sau:

(i) Ấn Độ thất bại và Âu Mỹ thất bại vì môi trường văn hóa đặc thù của Ấn tự thân chất chứa những bất an xung đột thường trực thường xuyên về chính trị/xã hội/tôn giáo/an ninh, chưa kể mưu lược của Ấn chỉ nhằm vào điều “sản xuất thay thế nhập khẩu” mà Hoàng Hữu Phước luôn cho là ngu đần tự hủy, còn tư thế của Ấn Độ luôn cho rằng ta đây giỏi giang uy trấn thiên hạ nên luôn xét nét các hoạt động của nhà đầu tư hải ngoại, cộng với việc lãnh đạo quốc gia hoặc không có thực quyền, hoặc có quyền hạn luôn bị các đảng đối lập chính trị thách thức gây cản trở hoặc dọa đe thay thế;

(ii) Trung Quốc thành công và Âu Mỹ thất bại vì thuận lợi tuyệt hảo của Trung Quốc là ở chỗ chính quyền Trung Quốc nắm toàn quyền lãnh đạo quốc gia, tạo thế ổn định tuyệt đối về chính trị mà Hoàng Hữu Phước khi trả lời phỏng vấn của Đài Châu Á Tự Do kể cả khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và gần đây là trả lời phỏng vấn của Đài Phố BolsaTV đã từng nêu rằng các nhà đầu tư Mỹ ưa chuộng sự ổn định chính trị, không có biểu tình bạo loạn ở Việt Nam và do đó sẽ giúp Việt Nam nắm bắt thông tin tình báo hầu đập tan các manh động của bọn chống Cộng nhằm gây rối loạn tại Việt Nam gây hại cho đại cuộc làm ăn của họ. Suy ra tương tự, Âu Mỹ hóa ra giúp sức cho Trung Quốc ổn định hơn, dần có uy hơn trên trường kinh tế thế giới một khi hàng hóa hàng hiệu Âu Mỹ tràn ra thế giới với dòng chữ Made in China vinh diệu. Còn mưu lược của Trung Quốc dễ thành công ở chỗ Trung Quốc trong tư thế hoàn toàn yếu về sản xuất công nghiệp và sản xuất tiêu dùng nên các nhà đầu tư tiến vào đã mất cảnh giác khi thấy mình được kính trọng và mình đến để truyền dạy kinh nghiệm của các bậc thầy. Các dự án đầu tư đều ở quy mô từ lớn đến rất lớn đã nhanh chóng đem đến các nhà đầu tư nước ngoài những nguy cơ loại một lần và mãi mãi tức mang hệ lụy kết liễu như bổng dưng giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu lực lượng lao động khổng lồ có tay nghề cao, còn việc ăn cắp công nghệ tại các nhà máy Âu Mỹ đang mọc lên hơn nấm giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều xuất hiện các tổ hợp sản xuất hoặc các công ty tư nhân nội địa tung ra các sản phẩm có thiết kế tương tự với quảng cáo chúng tốt hơn các sản phẩm của các nhà máy Âu Mỹ và ở mức giá hủy diệt; và khi đã mất khách hàng thì các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải bán tháo bán đổ nhà xưởng thiết bị chạy khỏi Trung Quốc khiến Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu các nhà máy hiện đại sản xuất hàng hóa tung ra tràn ngập ASEAN, vừa biến Trung Quốc chính thức thành quốc gia công nghiệp hàng hóa hiện đại lấn chiếm thị trường hàng hóa từng có của các hãng thương hiệu lớn của Âu Mỹ, vừa lũng đoạn khống chế thị trường hàng hóa các nước ASEAN, biến Trung Quốc chính thức thành cường quốc kinh tế,bước đầu cho đại cuộc biến đồng Nhân Dân Tệ thành đồng tiền tự do chuyển đổi trong giỏ tiền tệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB, ngang hàng với các Đồng Mỹ Kim, Đồng Đức Mã, Đồng Bảng Anh, Đồng Phật Lăng, và Đồng Yên Nhật, v.v.

(iii) Trung Quốc thành công và Việt Nam thất bại vì mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ là do Trung Quốc đề ra trên cơ sở quyền năng thực tế, quyền năng tiềm tàng, quyền lực thực tế, quyền lực tiềm tàng của riêng Trung Quốc trong thế lực tuyệt hảo của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, vào đúng thời điểm các siêu cường Âu Mỹ đột nhiên ngu xuẩn rơi vào bẫy của thiên định rằng phải ngu xuẩn để tạo đà cho sự vùng lên của Trung Quốc. Mô hình ấy hoàn toàn không phù hợp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Bài tập cho trận đấu của võ sĩ quyền anh hạng nặng hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp tham dự Grand Slam không bao giờ dành cho trẻ em mười tuổi tập quyền anh tại nhà văn hóa thiếu nhi Thành Phố Hồ Chí Minh hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp Challenger. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Trung Quốc phát triển đè bẹp thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Việt Nam mời mọc thêm các đầu tư nước ngoài mà “nước ngoài” ấy có cả Trung Quốc vốn sẽ đương nhiên chiếm lĩnh vị trí hoặc mạnh nhất hoặc độc tôn khi lấy thịt đè người đuổi xua toàn bộ các nhà đầu tư các nước khác ra khỏi các SEZ ấy của Việt Nam.

b) Thực Tế 2: Không Nên Có Các Đặc Khu Kinh Tế SEZ Ở Bất Kỳ Quốc Gia Nào Khác

Từ thực tế số 1 ở trên, có thể nói Đặc Khu Kinh Tế SEZ do Trung Quốc khai sinh chỉ có thể thành công tại Trung Quốc. Sự thành công tương tự Shenzhen có thể lặp lại tại tối đa từ một đến hai SEZ khác cũng tại Trung Quốc với điều kiện những SEZ này cũng xuất hiện hoặc cùng thời hoặc không có khoảng cách lớn về thời gian so với Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mạnh mẽ sắt máu như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mưu lược và có thế mạnh kinh tài tự thân như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có lượng khách hàng nội địa khổng lồ như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực đàm phán “ngang cơ” với các siêu cường trong giải quyết các vấn đề địa chính trị như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực trấn áp làm chủ khu vực về kinh tế như Trung Quốc đối với ASEAN, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như thiên hạ sau khi đọc các phân tích này của Hoàng Hữu Phước, sẽ hoặc không đoái hoài đến các SEZ ở Việt Nam hoặc sẽ tận dụng các ưu ái ưu đãi ưu tiên của Việt Nam để vào Việt Nam hưởng thụ, hưởng lợi, rửa tiền, bần cùng hóa Việt Nam, thay đổi chế độ Việt Nam trước thời điểm “99 năm” chỉ bằng cách rời bỏ các SEZ sau vài năm nghĩa là khiến Việt Nam sụp đổ về kinh tế do mất trắng toàn bộ ngân khố ngân sách quốc gia đã bỏ vào đầu tư hạ tầng cho các SEZ và phải chịu khối nợ công khổng lồ của quốc gia, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ, biến Việt Nam con nợ thành một thứ “chư hầu” hoặc của chủ nợ Mỹ hoặc của chủ nợ Tàu hoặc của bất kỳ ai – kể cả Cambodia – mà đã từ lâu họ không còn quan tâm đến việc mở các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội Việt Nam nay trước các thấu thị của Hoàng Hữu Phước có sẽ làm một việc duy nhất đúng là quẳng dự án Luật Đặc Khu vào sọt rác hay không?

c) Thực Tế 3: Shenzhen Thành Công Vì Không Có 4.0

Cuối cùng, song lại có tính thời sự bậc nhất: Shenzhen thành công nhờ là một SEZ của các tập trung đầu tư vào những phạm vi công nghệ kỹ thuật của thời đại cách xa thời 4.0. Cần lưu ý rằng không phải cứ do Đen Xạo Bình Deng Xiaoping chi đạo là các Đặc Khu Kinh Tế SEZ cùng thời và cùng khu vực với Shenzhen như Zhuhai, Shantou và Xiamen tức ven bờ biển phía Nam gần Hong Kong và Macao, cũng thành công tương tự Shenzhen.

Từ một làng chài với dân số chưa đến 30.000 người, Shenzhen trở thành một thành phố với 12 triệu dân theo số liệu năm 2015. Như vậy, dân số gia tăng đáp ứng nhu cầu lao động tại các cơ sở sản xuất chế tác y phục, đồng hồ, nữ trang, thiết bị điện tử, kim khí điện máy, v.v., tức những ngành có nhu cầu từ cao đến rất cao về lực lượng lao động.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) những ngành Việt Nam đang tưởng tượng ra rằng các nhà đầu tư sẽ mang vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam là gì, có thuộc loại cần nhiều lao động không; (ii) có cần phải dành cho họ sự ưu đãi kéo dài “99 năm” cho các ngành nghề đó không; và (iii) nếu các Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam thành công thành công đại thành công thì quy mô hạ tầng của Bắc Vân Phong, Vân Đồn, và Phú Quốc sẽ cơi nới lấn ra như thế nào khi dân số “đất lành chim đậu” tăng lên mỗi nơi hàng chục triệu con người như Shenzhen? Trung Quốc phát triển SEZ để biến làng chài thành thành phố vĩ đại tầm cỡ trung tâm tài chính thế giới. Việt Nam xây dựng SEZ để có các sòng bạc và động đĩ phục vụ 4.0 chăng?

d) Thực Tế 4: Shenzhen Không Phải Là Thiên Đường

Shenzhen đang đối mặt với những vấn nạn nhức nhối về nhân mãn với 9 triệu dân lao động nhập cư, và nhiều dân ngụ cư bất hợp pháp, tệ nạn tham nhũng, tình trạng ô nhiễm môi sinh, sự mọc lên các khu ổ chuột, điều kiện lao động tệ hại, và sự bất lực của chính quyền trong xử lý các vấn nạn này. Thậm chí, cách xử lý bao gồm cả biện pháp ngăn chặn gia tăng nhập cư bằng cách bãi bỏ các cắt giảm thuế từ năm 2000 khiến từ dạo ấy đã không còn tồn tại khái niệm hay ý niệm gì về Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Shenzhen. Với một Trung Quốc phát triển kinh tế toàn diện và đa dạng, các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã không còn có ý nghĩa gì trong thực tế.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam phải chăng đang quan tâm đến cái thứ mà ngoài Shenzhen chưa có bất kỳ SEZ nào khác trên toàn thế giới thành công tương tự, và (ii) Việt Nam với những nhà lãnh đạo tài ba như của Thành Phố Hồ Chí Minh bó tay thúc thủ – không phải thất thủ – trước kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch nhưng sẽ đột biến trở thành nhà lãnh đạo “mĩu” tài ba thực thụ nếu được Đảng treo trước mặt miếng mỡ to tướng mang dòng chữ SEZ đảm bảo cái vấn nạn muôn đời của kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch sẽ là chuyện lạ của ai khác chứ không phải của lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ?

e) Thực Tế 5: Shenzhen Thành Công Vì Là Đối Trọng Ý Chí Quyền Lực Của Trung Quốc Với Hong Kong

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được khai sinh tại Trung Quốc dựa theo chiến lược tạo nên một đối trọng mang tính ý chí quyền lực đầy ngạo nghễ đối với Hong Kong, làm hạ phẩm giá của Vương Quốc Anh và thế giới tư bản phương Tây khi cận kề thời diểm giao trả “nhượng địa” Hong Kong cho Trung Quốc. Ý chí quyền lực không bao giờ là vũ khí của bất kỳ ai. Lịch sử nhân loại đã chứng minh ý chí quyền lực chỉ có nơi những nhà độc tài bẩm sinh. Thế thì, ý chí của Việt Nam là gì, và liệu đó có phải là xây dựng Phú Quốc thành một đối trọng với Singapore? Thế còn Vân Đồn là đối trọng với ai, và Bắc Vân Phong là đối trọng với ai? Thiếu vắng một đối trọng cụ thể, không thể có được chất xúc tác cho manh nha một thành công,như đã được minh chứng từ 4.300 SEZ trên toàn thế giới, mà số lượng mới nhất có thể là 4.303 nếu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc được hình thành và xuất hiện trong danh sách cập nhật của thế giới.

f) Thực Tế 6: Shenzhen Thành Công Nhờ Sức Mạnh Nội Tại Của Trung Quốc

Với sức mạnh nội tại tổng hợp của kinh tài, kế hoạch, quyết tâm chính trị, nguồn nhân lực lao động, dư địa tài nguyên, và ý chí khởi nghiệp, Shenzhen đã ươm nghén thành công các đại công ty lừng danh thế giới như Shenzhen Electronics Group SEG, Beijing Genomics Institute BGI, Build Your Dreams BYD, Zhongxing New Telecommunications Equipment ZTE, Huawei, và Tencent, v.v. Có thời điểm 70% tổng lượng điện thoại thông minh toàn thế giới được sản xuất tại các Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Trung Quốc và 80% điện thoại thông minh toàn Trung Quốc xuất phát từ Shenzhen.

Đặc biệt, Shenzhen thành công do Trung Quốc sẵn có vô số các cơ sở cung ứng công nghiệp phụ trợ khiến những nhà đầu tư vào Shenzhen không bao giờ phải tự thân vận động kiếm tìm hay nhập khẩu nhiêu khê.

Cần lưu ý rằng Shenzhen thành công hoàn toàn không có nghĩa tất cả các mục tiêu đều đã đạt được. Những thất bại của Shenzhen đã được che đậy bằng (i) tài lực dồi dào khổng lồ của Trung Quốc, và (ii) hình ảnh “phần cứng” hoành tráng của cơ sở hạ tâng. Thất bại của Shenzhen bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – không bảo đảm có công việc tốt, không bảo đảm có lương cao, không bảo đảm có phát triển công nghiệp hiện đại; chưa kể phát sinh vấn nạn quản lý kém đầy tiêu cực.

Tất cả làm bật một chân lý hiển nhiên rằng việc bỏ tiền khổng lồ đầu tư vào hạ tầng chuẩn bị cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thu thuế cực ít từ việc hạ mức thuế thấp nhất trong thời gian cực dài kèm các ân hạn, và hy sinh quyền lợi/phúc lợi của người lao động do luật pháp chung của quốc gia không thể can thiệp vào hoạt động của nhà đầu tư trong các SEZ, v.v., khiến gia tăng khủng khiếp nợ công, và việc kinh tế địa phương cùng kinh tế quốc gia phát triển nhờ có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ chỉ là ảo tưởng để dối người và lừa mỵ nhân dân.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) sức mạnh nội tại của Việt Nam là gì, (ii) các doanh chủ đại gia Việt Nam có vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Việt Nam hay Việt Nam chỉ chầu chờ các nhà đầu tư nước ngoài bất kể đó là nhà đầu tư nhỏ hay nhà đầu tư lớn của Tàu, và (iii) liệu các SEZ Việt Nam sẽ ươm nghén thành công các đại công ty Việt Nam lừng danh thế giới tương tự kỳ công của Shenzhen?

2) Sai Về Nhân Lực

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hoàn toàn không có bất kỳ ai là nhân sự phù hợp cho các chức danh quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Từ khi Việt Nam thống nhất 1975 đến nay, Đảng chưa hề công bố thành quả xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân và trong nội bộ cán bộ Đảng/Đoàn. Chưa hề có bất kỳ ai được vinh danh và tưởng thưởng. Tất cả các lãnh đạo, tân lãnh đạo, ứng viên nghị viện, v.v., đều đột nhiên xuất hiện với bản lý lịch chỉ ghi những chức vụ đã kinh qua mà đạo đức cao nhất chỉ được thể hiện bằng con số bao nhiêu năm tuổi Đảng trên chiếc huy hiệu mà thôi.

Con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân tất nhiên phải trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình chứ không trên cơ sở hủy phá toàn bô nền tảng đạo đức truyền thống gia đình để xây dựng con người hoàn toàn mới hoàn toàn “thoát ly” có đặc điểm lạ xa với và phỉ nhổ vào nền tảng đạo đức truyền thống gia đình vốn bao gồm các thứ đạo đức đạo lý đạo nghĩa của lòng hiếu thảo, sự hiếu thuận, đức thanh liêm, tâm hướng chân thiện mỹ và bi trí dũng. Những con người trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình ấy tiếp nhận và công nhận định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa để nâng lên tầm vóc cụ thể vì nước vì dân, và đó là con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề có được dù chỉ một người, bất kể đó là trong xã hội hay trong Đảng/Đoàn/Hội/Đội hay Mặt Trận.

Đảng đã không xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tuyệt đối ưu việt của chủ nghĩa xã hội dân tộc thiên Khổng do Hoàng Hữu Phước khởi xướng và cổ súy. Thiếu vắng yêu tố cốt lõi của bản sắc hiền nhân, con người do Đảng tuyên giáo từ các đội hậu bị của Đảng đã có những lỗ hổng và chỗ khuyết nên thiếu vắng  lòng ái quốc, tính liêm khiết kiên trung, đạo nghĩa vì nước vì dân, cùng trí dũng chính đạo, dẫn đến tất cả các Đảng viên chức sắc cao cấp của Thành Phố Hồ Chí Minh là hoặc tội phạm hoặc quân bất tài vô dụng vô tâm bó tay để mặc cho Thành Phố Hồ Chí Minh lụn bại suy đồi dưới sức nặng thống khổ của người dân nạn nhân của các mưu đồ chiếm đoạt đất đai từ những dự án chiến lược cấp quốc gia, mà ngày nay giới lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ giỏi mỗi việc ăn nói hùng hồn về chính quyền đô thị, về thành phố thông minh, về cái bùa chú huyễn hoặc mông muội bốn chấm không, về tự chủ tài chính, về xây dựng các thành phố trong Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v., tức toàn những thứ vô dụng không bao giờ biến Thành Phố Hồ Chí Minh thành một Tân Singapore, đơn giản vì Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ có toàn những cán bộ Đảng bất tài vô đức, hoàn toàn thiếu vắng cán bộ thuộc đẳng cấp tài đức vẹn toàn.

Đã không thể có nhân lực tài đức vẹn toàn, có sự giáo dục của gia đình (tức được cha mẹ hiền đức giáo dục) và có giáo dục gia đình (tức giáo dục con cái nên người trong gia đình mình), có kinh qua kinh nghiệm duy nhất đúng để rèn luyện trở thành lãnh đạo quốc gia trong tư thế là chiếc chìa khóa của cường thịnh của quốc gia, thì Đảng không thể bổ nhiệm bất kỳ nhân lực nào vào vị trí lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ – nếu chúng vẫn được Đảng cho hình thành.

Và nếu Đảng vẫn bất chấp lời khuyên thấu thị luôn luôn chính xác của Hoàng Hữu Phước, vẫn cứ cho thực hiện việc thành lập các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, Đảng nhất thiết phải công bố danh sách nhân lực dự kiến cho các chức vụ quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ để lấy ý kiến của người dân nhằm phát hiện những chi tiết tiêu cực từng nảy sinh nhưng đã bị dấu nhẹm trong quá trình học tập và công tác của mỗi nhân sự, và đối với nhân sự Đảng buộc phải lựa chọn do không thể có nguồn khá hơn thì nhân sự ấy nhất thiết phải được Hoàng Hữu Phước phỏng vấn và trực tiếp làm công tác tuyên giáo, thứ công tác đã được thực tế chứng minh là thất bại cả ở cơ quan tuyên giáo của Đảng và ở Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Các tổng công ty nhà nước, các ngân hàng của nhà nước, các cơ quan hành chính công quyền đều đã thất bại hoàn toàn với bao nhân sự cấp cao của Đảng đào thoát, bị bắt giam, bị kết án, v.v.

Sự thật ấy không được phép xảy ra với nhân sự lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì đã có lợi ích từ sự rút những kinh nghiệm nhãn tiền ngay trong thập kỷ này vốn có thể giúp chặn ngăn hữu hiệu sự bần cùng hóa quốc dân từ sự sụp đổ các dự án lớn của quốc gia này nếu đặt vào tay những phiên bản điếm nhục mang tên Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, Vũ Đình Duy, v.v., cùng những con tương cận.

3) Sai Về Ngôn Ngữ

Thật là rồ dại khi Quốc Hội nhũn xèo không tát vào mồm thằng nghị sĩ đần độn nào đã phát âm trọn vành rõ chữ cụm từ “nhượng địa”. Việc sử dụng cụm từ ấy cho thấy hoặc (a) thằng ấy dốt tiếng Việt, hoặc (b) thằng ấy dốt Sử, hoặc (c) thằng ấy không hề nhận ra mức độ nhạy cảm của ngôn từ hắn sử sụng tác động lên tình hình an ninh chung – thậm chí bản thân có bị Hoàng Hữu Phước mắng là “ngu hơn chó” thì hắn ắt cũng đực mặt ra cười ngu dại, hoặc (d) thằng ấy cố tình mớm cho bọn chống Việt/Đảng/Chính Phủ cơ hội bằng vàng chống đối cụ thể làm lung lay tận gốc rể chế độ làm nhục chế độ sẽ tiến tới lật đổ chế độ sau khi chứng kiến lực lượng an ninh vũ trang vất bỏ quân trang quân phục vũ khí run sợ đầu hàng trước đám người đang hùng hổ xuống đường đốt phá, hoặc (e) thằng ấy hội đủ cả 4 nội dung trên.

Ngoài ra, việc bày ra nội dung “99 năm” trong dự thảo để chứng minh Việt Nam quá ưu ái ưu đãi ưu tiên đối với các nhà đầu tư đã cho thấy Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV  đã lâm vào tình trạng hoàn toàn thiếu vắng một nghị sĩ có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Dộ/Người Dân/Dân Tộc để chặn ngăn trên hội trường tất cả những gì thuộc vô tình ngu xuẩn hoặc cố ý gian tà của bất kỳ nghị sĩ nào khác.

Thêm vào đó, việc đề ra cụm từ “99 năm” ngay cả khi chẳng bị lợi dụng để lái sang nội hàm “nhượng địa” cũng cho thấy trình độ làm luật của các nghị sĩ Khóa XIV đang có vấn đề nghiêm trọng do rời xa các thực tế sau:

(a) Thời gian dài cỡ 99 năm là cách nhà quê nhất để thể hiện sự ưu ái ưu đãi ưu tiên của một quốc sách;

(b) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy tư duy hồng hoang lạc hậu trước tình hình phát triển công nghệ toàn cầu;

(c) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy hoặc sự ngu khờ hoặc sự thơ ngây hoặc sự giả nai của các nhà làm luật cố tình lờ đi sự thật là tính theo xác xuất-thống kê thì vẫn có khả năng hoặc (i) các SEZ Việt Nam sẽ vắng bóng các nhà đầu tư, hoặc (ii) các SEZ Việt Nam chỉ có các nhà đầu tư Trung Quốc tức những thế lực hùng mạnh nhất thê giới về vốn đầu tư; mà nếu rơi vào trường hợp thứ nhì thì điều gì sẽ xảy ra sau một thế kỷ các nhà đầu tư ấy của Trung Quốc ăn nằm dầm dề tại các SEZ với sự sinh sôi nảy nở các hậu duệ công dân Việt Nam lai Tàu hình thành những tân địa phương mang bản sắc phi Việt nơi những địa danh mà thế kỷ trước đó còn thuần Việt;

(d) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam, cùng tận dụng lợi thế tiếp giáp hai “nhượng địa” Hong Kong và Macao theo cách tay đua xe đạp chuyên nghiệp luôn núp bóng tay đua phía trước để tận dụng lợi thế quán tính tự nhiên lao lên với ít sức lực và ít sức cản phá hơn, thì Việt Nam lại theo lối tư duy cũ rích muốn mỗi khu vực Bắc – Trung – Nam mỗi nơi có một SEZ như Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc để làm lực đẩy cho toàn khu vực. Cách của Việt Nam sẽ thất bại vì không tạo thế núp gió đua xe đạp cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Đen Xạo Bình quan tâm đến việc bắt buộc phải có ít nhất một SEZ thành công mỹ mãn, tương tự quan tâm đến việc đội đua xe đạp Trung Quốc phải có 4 cua-rơ mà nhiệm vụ của 3 trong số đó phải bảo đảm 1 còn lại sẽ đoạt cúp – và Shenzhen đã thành công. Còn lãnh đạo Việt Nam – theo vấn kế của các nhà tư vấn thuộc đẳng cấp bị Hoàng Hữu Phước khinh miệt – lại quan tâm đến việc cử 3 cua-rơ mỗi người tham dự một giải đua xe đạp khác nhau và mạnh ai nấy hãy tự thân vận động để may ra có ai đó sẽ đoạt được cúp.

(e) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam hoàn toàn tránh xa vùng biển Đông Hải (East China Sea – Biển Hoa Đông) và Hoàng Hải (Yellow Sea) luôn căng thẳng với Nhật Bản và Hàn Quốc, thì Việt Nam lại tự nguyện đưa đầu vào tử địa. Khi căng thẳng ở Biển Đông (tức South China Sea – Biển Hoa Nam) trở thành đỉnh điểm xung đột vũ trang, Vân Đồn có nguy cơ bị Trung Quốc xóa sổ chỉ sau bảy phút tấn công, Bắc Vân Phong có nguy cơ bị san thành bình địa từ sự tấn công của hỏa tiễn và bom đạn Trung Quốc từ các chiến hạm/hàng không mẫu hạm/trận địa pháo phía các hải đảo Trung Quốc đã chiếm đóng thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, còn Phú Quốc vẫn còn đó chứng tích lịch sử bi tráng của sự xâm lược từ Kampuchea năm 1975 nghĩa là Phú Quốc vẫn thuộc loại vulnerable tức phơi mình trần trụi trước hiểm họa xâm lược. Shenzhen thành công nhờ núp gió và hoàn toàn không có nguy cơ bị tác động hủy phá từ bên ngoài.

99 năm”, do đó, là một điểm sai nghiêm trọng trong sử dụng ngôn từ lập pháp của Quốc Hội Khóa XIV.

4) Sai Về Tổ Chức & Quy Trình Luật Hóa

Quy trình luật hóa tức quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam để tự động đưa ra ấn nút thông qua một dự án luật cho thấy đã không có sự phân biệt về tầm quan trọng khác nhau của từng dự án luật.

Quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam đã hoàn toàn bị phá sản đối với dự án “Luật Đặc Khu”.

Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV nay đã lâm vào tình trạng hoàn toàn tê liệt do thiếu vắng vị nghị sĩ duy nhất có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Độ/Người Dân/Dân Tộc để đứng lên yêu cầu Quốc Hội cẩn trọng tuyệt đối khi xem xét dự án Luật Đặc Khu.

5) Sai Về Quy Trình Chuyên Nghiệp

Quốc Hội Việt Nam cũng đã sai về quy trình chuyên nghiệp.

Khi một lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng, dứt khoát Việt Nam phải cậy nhờ đến sự chữa trị của chuyên gia, bất luận chuyên gia ấy là người nước ngoài và thuộc quốc gia thù địch. Lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng mà phải yêu cầu được chữa trị bỡi một y sĩ đảng viên Cộng Sản do Đảng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, và do Đảng dùng tiền thuế của dân để cử sang nước ngoài học tập, và đang là lãnh đạo cao cấp một bịnh viện hàng đầu của Nhà nước tại Việt Nam, thì đó không là quy trình chuyên nghiệp.

Quốc Hội Việt Nam là cơ quan lập pháp, nhưng không vì vậy mà cho rằng các nhà lập pháp đều biết rõ tất cả các vấn đề có liên quan đến mỗi dự án luât. Do vậy, việc tham vấn ý kiến chuyên gia chính là quy trình chuyên nghiệp của công tác lập pháp. Song, vấn nạn của Việt Nam gồm (a) tất cả các cơ quan của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đều cho rằng đã có sẵn lực lượng “chuyên gia” lúc nhúc dưới trướng bất kể sự thật là các “chuyên gia” này là đảng viên và không hề được mời mọc phỏng vấn lựa chọn từ những nhân vật nổi tiếng mà nhân dân biết tiếng, và (b) Quốc Hội Việt Nam đã mời một doanh nhân luật gia nước ngoài đến báo cáo với Thường Vụ Quốc Hội về Hiệp Định TPP bất kể sự thật rằng chính doanh nhân luật gia nước ngoài ấy đã thỉnh mời nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đến phát biểu bằng tiếng Anh về Hiệp Định TPP tại buổi họp mặt với 100 doanh chủ Âu Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Không thỉnh mời tham vấn của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về dự thảo Luật Đặc Khu, Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam phải chịu liên đới trách nhiệm về các biến động xã hội làm nhục quốc thể trong thời gian vừa qua, có liên quan đến dự thảo Luật Đặc Khu ấy.

6) Vấn Đề Trách Nhiệm Đối Với Các Sai Lầm Nghiêm Trọng Của  Đảng, Quốc Hội, Và Chính Phủ

Khi việc đưa ra dự án Luật Đặc Khu với quá nhiều những sai lầm sai sót sai quấy cực kỳ nghiêm trọng tạo thời cơ cho phía chống đối ra tay chống phá quốc gia, đặt quốc gia vào tình thế bị dọa đe với nguy cơ cái đặc tính cố hữu lẽ ra vững như bàn thạch không thể bị thách đố thách thức tách rời khỏi chế độ nay lại lung lay tận gốc rể qua nỗi nhục lực lượng vũ trang an ninh quốc gia vất bỏ quân trang quân dụng quân phục đầy sân, tái lập hình ảnh quân trang quân dụng quân phục của “Ngụy Quân” vất bỏ đầy đường;

Thì việc duy nhất phải làm một cách đúng đắn là phải vất bỏ dự án Luật Đặc Khu;

Còn nếu như luôn kiên định duy ý chí rằng sức mạnh của Trung Ương Đảng đủ lấp biển dời non bách chiến bách thắng để đi đến quyết định lao tới trước, bất chấp lời răn thấu thị của tác giả bài viết này, thành lập cho bằng được ba Đặc Khu Kinh Tế SEZ – hoặc một Đặc Khu Kinh Tế SEZ theo gợi ý rút kinh nghiệm của thằng nghị sĩ đần độn cốt luật sư của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh như đã dẫn ở đầu bài – thì phải bảo đảm đáp ứng các quy định sau:

a) Kê khai chi tiết và đầy đủ toàn bộ tài sản vật chất của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ), của các thành viên gia đình của họ, để làm cơ sở sau này có thể khẳng định rằng tài sản kếch sù họ có được là chỉ từ tiền lương cao ngất của các Toàn Quyền/Sứ Quân;

b) Cấm xuất cảnh trong suốt thời gian tại vị của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ) các vị ấy và tất cả các thành viên gia đình của họ – kể cả cấm xuất cảnh du học, để bảo đảm hai điều rằng Toàn Quyền/Sứ Quân (i) chỉ có mỗi chức năng quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ chứ không tận dụng được thời cơ làm một nhà nước trong nhà nước để gây ra nguy cơ tự phong chức năng ngoại giao cấp nhà nước với nước ngoài tại nước ngoài, và (ii) không tận dụng được thời cơ quyền lực để gây ra nguy cơ tự do đào thoát khỏi Việt Nam trường hợp gây ra điều tệ hại cho Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

c) Cứ mỗi Đặc Khu Kinh Tế SEZ phải có văn bản ghi rõ và đầy đủ tên những ai trong Trung Ương Đảng (tất nhiên các vị trong Bộ Chính Trị đều thuộc Trung Ương Đảng) biểu quyết thông qua quyết định thành lập Đặc Khu Kinh Tế SEZ ấy. Việc này nhằm văn minh hóa phương thức quy trách nhiệm, để vừa (i) chấm dứt sự ẩn nấp của những kẻ bất tài vô hạnh trong áo choàng trách nhiệm tập thể chỉ làm Đảng bị ô danh, vừa (ii) thuận lợi hóa quy trình xử tội theo hướng tự động tự nhiên bất luận vị trí quyền lực của kẻ đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm hay ký chấp nhận sự bổ nhiệm phân công.

d) Ngay cả khi một Đặc Khu Kinh Tế SEZ vào cuối niên hạn “99 năm” của nó xảy ra điều tệ hại, việc luận tội những kẻ trong Đảng đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm “99 năm” trước đó vẫn phải được tiến hành để chính thức ghi rõ vào sử sách kẻ hay những kẻ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với đại cuộc quốc gia, từ đó tước bỏ các danh hiệu danh dự danh xưng đã từng ban, thu hồi các quyền lợi truyền lưu hậu thế mà con cháu của họ được hưởng trong thời gian dài từ ngân khố quốc gia tức tiền thuế quốc dân.

e) Sửa đổi Luật Hình Sự (i) xử tử hình những Toàn Quyền/Sứ Quân nào phạm các tội tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ như biển thủ tài sản Đặc Khu Kinh Tế SEZ, tham nhũng từ quyền lực quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ, đào thoát thất bại, v.v.; và (ii) tịch thu tài sản của các Toàn Quyền/Sứ Quân bị án tử hình và của tất cả các thành viên gia đình của họ. Nội dung tịch thu tài sản và áp án phạt tiền có thể theo các đề xuất năm 2015 trong các bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự”Diệt Tham Nhũng.

C- Khẳng Định Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước Về Số Phận Của Tất Cả Các Đặc Khu Kinh Tế ở Việt Nam

Tất cả các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nếu được xây dựng ở Việt Nam sẽ hoàn toàn thất bại. Đây là một nhận định mang tính thấu thị chính xác và khẳng định tuyệt đối đúng của Hoàng Hữu Phước thuộc phạm trù toàn diện, có thể kiểm chứng được, và không thể đảo ngược. Thấu thị này dựa trên các luận cứ khoa học chính xác như đã nêu ở trên và như sẽ nêu ở phần tiếp theo dưới đây.

D- Tư Vấn Cộng Sản Chủ Nghĩa Của Thạc Sĩ, Nhà Lập Pháp, Chính Trị Gia Hoàng Hữu Phước Về Mô Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế

1) Thực Trạng Nhãn Tiền Về Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Theo tờ Economist thì Đặc Khu Kinh Tế chả có quái gì là đặc biệt cả. Ngày nay Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã mọc lên hơn nấm, và cứ mỗi bốn quốc gia thì đã có tới ba quốc gia có ít nhất một Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Châu Phi đang có lúc nhúc những Đặc Khu Kinh Tế SEZ chẳng biết phải nên xử trí thế nào vì để thì vẫn không thể phát triển được, mà bỏ cũng chẳng xong. Ấn Độ thì có hàng trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ không thể phát triển, mà chỉ nội Bang Maharashtra đã có tới 60 Đặc Khu Kinh Tế suy vong.

2) Bản Chất Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: 

Như đã nêu ở trên về lý do thành công của Đặc Khu Kinh Tế Shenzhen của Trung Quốc, Đặc Khu Kinh Tế mang nội hàm đặc thù của một quốc gia cộng sản do run sợ không dám thực thi chính sách tự do hóa nền kinh tế quốc gia nên đã áp dụng hình thức kiểu miếng vải khác màu vá chằng vá đụp nơi này nơi khác làm biến dạng loang lổ tấm vải chung của cả nền kinh tế, ngõ hầu có thể kỳ vọng vào một sự thành công vật chất khả dĩ có thể lấy đó nuôi sống phần còn lại của nền kinh tế đang lất lây tồn tại trên nền tảng kinh tế yếu ớt hơn trong tay quản trị và điều hành của Nhà Nước.

3) Những Nguy Cơ Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Là Thời Cơ:

Như vậy, cùng với những điều kiện đặc thù khác – chỉ có ở Trung Quốc như đã được Hoàng Hữu Phước luận giải ở trên – mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ sẽ không những không thể thành công ở Việt Nam mà còn không thể thành công ở bất kỳ quốc gia nào khác.

Ba Đặc Khu Kinh Tế tương lai của Việt Nam sẽ đương nhiên thất bại do những nguy cơ vĩnh viễn, bất biến, mà sự liệt kê đầy đủ hơn ngoài hai nguy cơ tạm đơn cử sau có thể được nhà tư vấn chính sách Hoàng Hữu Phước thực hiện theo yêu cầu hợp đồng đặt hàng chính thức của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ Việt Nam.

Điện năng cung cấp là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang tính sống còn. Và chỉ những kẻ mông muội mơ hồ hạ đẳng mới không xem có tiềm tàng nguy cơ thiếu điện năng cho Phú Quốc khiến Đặc Khu này vỡ trận, và cho rằng Phú Quốc không cần có một nhà máy điện hạt nhân riêng công suất cực lớn vẫn có thể cung cấp đủ điện cho sự hoạt động của các nhà đầu tư công nghiệp và công nghệ.

Quyền lực thiết lập luật lệ riêng tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ luôn tạo nên nguy cơ hình thành một thứ Nhà Nước trong Nhà Nước, Quốc Gia trong Quốc Gia, Lãnh Thổ trong Lãnh Thổ.

Như đã phân tích sâu sắc sâu sát về cố tật của những kẻ được Đảng và Chính Phủ mời mọc làm cố vấn luôn rặn đẻ ra những vật thể từ mạt cưa cây giậu có xịt mùi hương chiến thuật hay chiến lược như Đi Tắt Đón Đầu, Hợp Tác Bốn Nhà, v.v. mà giá trị thực sự của các cụm từ ấy thì chỉ ngang bằng với mạt cưa mạt hạng vì thoát thai từ cây cối rẻ tiền chỉ được trồng làm rào giậu thấp chỉ có thể làm kinh tế trở thành tàn mạt.

Tương tự, đã có sự phấn khích giả tưởng nơi các nhà lãnh đạo quốc gia bằng cái mồm nhằm tung hỏa mù phủ che các liều lĩnh sặc mùi lợi ích nhóm hùa nhau xẻ thịt kinh tế nước nhà bằng cách luôn sử dụng điệp khúc dỡ òm ngu xuẩn của “trong nguy cơ có thời cơ”, “trong chữ nguy cơ có chữ cơ là thời cơ” mà bất kỳ bậc đại trí nào cũng dễ dàng nhận ra ngay cái nội hàm ẩn dấu của “đục nước béo cò” và “xúi trẻ ăn cứt gà”. Đơn giản vì công việc của tất cả các lãnh đạo đại trí là triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ chứ không phải là chụp lấy các thời cơ như bọn đầu cơ tích trữ và lũng đoạn. Và khi luôn trong tư thế luôn dợm triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ, các bậc đại trí sẽ cho rằng hãy cẩn trọng với thời cơ, đừng hấp ta hấp tấp khi thấy cái thời cơ tiềm tàng hay tưởng tượng, vì rằng chữ trong thời cơnguy cơ, nghĩa là trong thời cơ luôn có nguy cơ, vì vậy phải vạch mặt chỉ tên tất cả các nguy cơ tiềm ẩn hay lộ diện để bày binh bố trận quyết liệt triệt phá, ngăn chặn, vô hiệu hóa, biến dạng nguy cơ, vận dụng cái chân lý muôn đời của người nông dân nhổ cỏ rằng phải triệt tiêu nguy cơ để may ra có thể có được một thời cơ.

Một Thời Cơ Luôn Có Nhiều Nguy Cơ.

Bán tạp hóa là một hình thái làm kinh tế. Song, làm kinh tế không phải là bán tạp hóa.

Nhà cố vấn kinh tế nhà nướcViệt Nam, do đó, không được dùng ngôn ngữ bán tạp hóa để có thời cơ mê hoặc lãnh đạo Việt Nam và mê hoặc nhân dân Việt Nam; bằng không, sẽ đối mặt với nguy cơ bị lột truồng bỡi Hoàng Hữu Phước của Việt Nam.

4) Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu:

Do vậy, khi phải đối mặt với quá nhiều những nguy cơ không bao giờ là thời cơ,  Việt Nam nếu khôn ngoan phải lưu ý đến mô hình sau vốn dành riêng cho Việt Nam mà Việt Nam chỉ có thể áp dụng để trở thành cường quốc kinh tế thực thụ: thay mô thức Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu bằng mô hình Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác.

(a) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu là hình thức Đặc Khu Kinh Tế/Khu Kinh Tế Đặc Biệt SEZ như nội dung phân tích của bài viết này.

(b) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác  là đại cuộc biến Việt Nam – chứ không phải vài địa điểm nào đó của Việt Nam – thành một Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) với nền tự do thương mại đồng nhất và cao nhất, cắt giảm đồng nhất và cao nhất các rào cản thương mại, tăng khả năng cạnh tranh đồng nhất và cao nhất qua cắt giảm thuế quan đồng nhất và cao nhất, dưới sự điều chỉnh của các khung luật lệ đồng nhất và thông thoáng nhất hấp dẫn nhất.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến cả đất nước Việt Nam thành một “đặc khu kinh tế quy mô quốc gia” nghĩa là hoàn toàn theo luật pháp chung dưới sự quản lý chung của Nhà Nước mà không hề tạo ra tình trạng nguy cơ quái gở của nhà nước trong nhà nước, quốc gia trong quốc gia, lãnh thổ trong lãnh thổ.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, dù đầu tư vào lĩnh vực nào tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến tất cả các địa phương trên toàn đất nước Việt Nam tự động thành những “đặc khu kinh tế không ranh giới hành chính”  hoàn toàn tùy thuộc sự quan tâm lựa chọn của nhà đầu tư nội địa hay nước ngoài, làm bất kỳ địa phương nào cũng có điều kiện phát triển kinh tế/xã hội/tri thức theo hướng công bằng nhất. SEC còn biến các EPZ tức Khu Chế Xuất đang hoạt động ở Việt Nam tự động hưởng chung các ưu tiên ưu đãi ưu ái do mô thức SEC đem lại mà không lũ lượt rời bỏ các Khu Chế Xuất EPZ để chen chúc vào một trong 3 Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Nghĩa là nếu SEZ tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư co cụm bên trong các Đặc Khu Kinh Tế SEZ với các nhà đầu tư hoạt động tại các Khu Chế Xuất EPZ và các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động bên ngoài tường rào của Khu Chế Xuất EPZ hay bên ngoài Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì SEC biến tất cả các nhà đầu tư trở thành chủ thể chủ động bình đẳng trong hưởng lợi nhiều nhất tại quốc gia Việt Nam.

Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác là một yêu cầu cách mạng kinh tế đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải công nhận và áp dụng quy trình tự do hóa nền thương mại và kinh tế nước nhà như các cường quốc kinh tế và áp dụng các hình thức mang tính cạnh tranh cao hơn hấp dẫn hơn để thu hút các nhà đầu tư bất kể đó là nhà đầu tư nội địa Việt Nam hay nước ngoài. Miếng vải mới không là miếng vải cũ với các miếng vá đụp mới khác màu mang tên SEZ. Miếng vải mới cùng màu khác là hình thành áp dụng chung một mô hình duy nhất hoàn toàn mới về kinh tế gọi bằng tên quen thuộc là “kinh tế thị trường” thay thế cho mô hình đang tồn tại là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” với đặc điểm nếu như nền “kinh tế thị trường” quen thuộc của thế giới là môi trường cho sự hình thành các Khu Tự Do Thương Mại FTZ (Free-Trade Zone) hay những thứ tương đương như đã liệt kê ở các phần trên, thì chính nền “kinh tế thị trường” quen thuộc này của thế giới sẽ là môi trường mới để Việt Nam hình thành Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) đầu tiên của thế giới.

Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) là sáng kiến của riêng Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc-Đại-Lợi, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Trên thế giới chưa từng có quốc gia nào là một SEC.

Phụ Lục: Nhượng Địa và Thọ Nhượng

(xin xem tại Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng)

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Ghi Chú:

a) Tất cả các số liệu tất nhiên được thu thập từ nguồn tài liệu trên xa lộ thông tin, chủ yêu là Wikipedia (Tiếng Anh) và các trang web của các tổ chức và báo chí từ kết quả gợi ý của Google Search (Tiếng Anh) cho nội dung từ khóa “SEZ”.

b) Tất cả các nhận định phê phán đương nhiên là từ ý kiến rất riêng và duy chỉ của Hoàng Hữu Phước. Việc trích dẫn toàn phần hay một phần của bài viết hoặc của nhận định & phê bình được mặc nhiên đồng ý cho tùy nghi sử dụng như đã nêu tại Thùng Nước Đá Và Blog.

Tham khảo:

a) Luật Đặc Khu – Phần 1 20-7-2018

b) Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng 03-8-2018

e) Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc 29-12-2015

d) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân 14-6-2017

e) Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị 25-4-2018

f) Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

g) Toàn văn bản dự thảo Luật Đặc Khu trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật

h) Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng 11-5-2012

i) Thùng Nước Đá Và Blog 14-02-2013

j) Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

k) Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm,  Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà? 28-01-2016

l) Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

m) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” 14-10-2015

n) Chìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

o) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

p) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

q) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn của Đài Phố Bolsa TV năm 2012:

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”  http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.” http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.” http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.” http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!” http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

r) Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017

Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt

Bài 1: Vấn Nạn Bùi Hiền

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-12-2017

Wordpress Cải Tiến Tiếng Việt 1- Vấn Nạn Bùi Hiền

Mấy tuần nay râm ran lùng bùng vụ gọi là “công bố cải tiến Tiếng Việt” của Bùi Hiền.

Vốn không màng đến bất kỳ “công trình” nào của giới học thuật Việt Nam, bất kể “công trình” ấy về khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên, do đã có niềm tin vững chắc rằng chẳng có gì gọi là đáng để đọc từ các “công trình cất ngăn tủ” ấy, và vốn từ nhỏ đã ưa chuộng ưa thích sự tĩnh lặng thanh bình trầm mặc ngoại vi vốn là đặc điểm thực thụ nơi nhà hàn lâm bẩm sinh (tức những người phải vừa có nội tâm bão loạn với những tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian, vừa có hùng biện bão tố bằng tới tấp các tác phẩm cùng những tranh biện nảy lửa nhằm lột lõa lồ đám đông khán thính giả hàn lâm trước mặt mình theo kiểu của Albert Einstein), tôi đã không nghe gì nhốn nháo trên diễn đàn xã hội về Bùi Hiền tức là cái vị mà tôi chưa từng nghe danh trong cái thế giới hàn lâm vốn luôn ồn ào do chỉ thuộc các nhà hàn lâm bẩm sinh. Bùi Hiền hoàn toàn không có năng lực và năng khiếu của năng động tranh biện nảy lửa để bảo vệ cho các tác phẩm từ tư duy vung-xích-xiềng-quất-vào-mặt-nhân-gian của mình – nếu có. Bùi Hiền chỉ là một gả ỏn ẻn, thiếu tự tin, vừa thuộc dạng công thức nguyên liệu thành phần chung vừa theo công thức hoạt động rất đặc thù chung của chế độ: cán bộ cách mạng ngôi cao chỉ dám tung hê lải nhải lép nhép nhóp nhép gì đó mang tính kách mệnh chỉ khi không còn quyền lực ngôi cao.

Tuy nhiên, không phải cứ nói chẳng quan tâm là sẽ chẳng hề biết gì, vì đời có khối việc chẳng-đặng-đừng như các “forward” hoặc nội dung hoặc đường “link” hoặc cả hai mà các nhà giáo học trò của tôi do đang nhàn hạ rung đùi hưởng lương hưu n