Category Archives: Quản Trị Chiến Lược

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

theo nguyên bản tiếng Anh tại : 

Hoàng Hữu Phước đăng lại trên blog này ngày 19-10-2017 theo sự đồng ý của tác giả Lại Thu Trúc


Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to POTUS Donald J. Trump

Ho Chi Minh City, 19 October 2017


The President of the United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500


Dear Mr. President:


I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this November wish to hereby present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my various opinions as follows.

For over a decade, I have read many blog articles of, and had personal talks with my mentor Mr. Hoang Huu Phuoc, the CEO of our company and also the Representative to the Vietnam’s XIIIth National Assembly (2011-2016) as well as Member to its Foreign Relations Committee. He is probably one of the very strong but unknown supporters of yours as seen via his very smart responses on his Twitter (1). In his blogs dated 01 January 2016 he even made an analysis of the nine unique strengths of yours and was the only person in Vietnam to predict your landslide triumph of the presidency (2). The points from my discussions with him as presented hereunder are non-partisan as both my mentor and I are not communist party members nor government’s officers.

A- The Shield & the Sword Status Quo of Vietnam

It is a well-proven fact that Vietnam has been for centuries being the shield and the sword to defeat and stop the China’s age-long ambitions of southward invasions to militarily colonize the territories which are now ASEAN countries e.g. Laos, Cambodia, Thailand, Malaysia, Singapore, Brunei, and Indonesia, thus indirectly ensuring the peaceful existence of the now Australia the owner of Darwin. This status quo of Vietnam in the present regional arena of an aggressive China claiming its assertions of sovereignty over the whole South China Sea makes Vietnam in dire need of considerable supports from the USA.

In this regard, I believe Vietnam need possess nuclear weapons to protect itself from the threats of invasions from China – and of course to protect regional states as well.

However, as strictly ruled by the NPT (Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons), the NWS pledge not to transfer nuclear weapons or other nuclear explosive devices to any recipient or in any way assist, encourage or induce any non-nuclear-weapon state in the manufacture or acquisition of a nuclear weapon, and this makes the issue of Vietnam’s possession of nuclear weapons impossible.

To solve this problem, I think the government of Vietnam should talk with the USA on the deployment of THAAD or Aegis Ashore systems, should the sales be approved by your Department of State.

B- The Supportive Navy Cooperation between Vietnam and the USA

Also in coping with the tension eruption in the South China Sea ignited by China, the government of Vietnam should also discuss with the USA and approve the development of the naval port at Cam Ranh Bay for deployment of and patrols by warships of both Vietnam and the USA to control, protect, and safeguard the freedom of navigation and maritime trade route security.

C- The Decisive Supportive Aspects from the USA to the World: Considering to Shutter the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor

The very last but never the least point I wish to invite your kind attention to is the inconvenient issue from the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor.

Every year that bureau issues the so-called Country Reports on Human Rights Practices. While failing to offer a fully understandable and convincing definition of “democracy”, this work is a costly practice as huge human resources – and huge budgets – of the administration are simply wasted in toiling to collect data of dubious sources from each country for that reporting to the US Congress. It is of a totally useless purpose, irritating not only the government but also the people of each country listed in the report.

This practice is ignored by all – at least by Vietnam’s government and the majority of its people  – and considered only an individual war game between the US Department of State and its counterpart China’s State Council Information Office who annually publishes its own “Human Rights Record of the United States(3).

Among many other misleading comments, whist blaming Vietnam’s imaginary “the most significant human rights problems in the country were severe government restrictions of citizens’… right to change the government” as stated in its Vietnam 2016 Human Rights Report within the above-mentioned Country Reports on Human Rights Practices, the Bureau ignored the obvious fact that there is a similarity between the Vietnam’s applicable law and the 18 US Code § 2385 on advocating overthrow of government (4).

I personally believe the shuttering of the Bureau of Democracy, Human Rights and Labor under your Department of State just like the recent case of Secretary Rex Tillerson’s decision to shutter the Office of Global Criminal Office J/GCJ (or Office of War Crime Issues) will contribute to your MAGA efforts to make the US State Department to regain its prestige and to achieve its budget management, particularly to stop playing the controversial role of lonesome argumentation with China only. Its talented staffs would help the country a lot if providing their positive supportive services to the other offices under the US Department of State, e.g. EAP, EUR, NEA, or WHA, or the like.


I hope that with your kind consideration, influence and power, the above opinions would be of values in order that both Vietnam and the USA could materialize the effective sustainable cooperation for securing peace and free maritime trade of ASEAN in particular and the world in general.


Most respectfully,


Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207



Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam


(1) @HoangHuuPhuoc

(2)  (in Vietnamese)




Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi – 1

Hoàng Hữu Phước, MIB


Thủa bờ-lốc bờ-liếc mới xuất hiện với Yahoo!3600 tôi có mở trang Hoang Huu Phuoc-Aspiration đăng khoảng gần nửa ngàn bài viết bằng tiếng Anh, đồng thời do vẫn còn chút tưởng tin vào cái lý tưởng gọi là “nhật ký điện tử” hoặc “không gian sẻ chia những cảm điệu” tôi để mở toang cửa cho phần “comments”. Ngoài những comments ngợi khen (thủa ấy “ngợi khen” là cách hành xử duy nhất của mọi người xài blog tức những người đầu tiên bước chân một cách lịch lãm lịch sự với trang phục trang nhã vào không gian mạng chứ không phải đa số trần truồng trơ trẻn trâng tráo đầy trục trặc như hiện nay), mà tôi đọc cho vui rồi gõ trả lời ngắn gọn “Thank You”, tôi còn nhận rất nhiều các câu hỏi bằng tiếng Anh đa số đến từ các sinh viên ở các trường đại học trên cả nước, các giáo viên Anh Văn trung học, hỏi về chủ đề học tiếng Anh, viết tiếng Anh, nói tiếng Anh, dạy tiếng Anh. Năm khi mười họa mới có một câu hỏi nào đó về thời cuộc nước nhà và cuộc thời giới thế.

Cho đến khi Yahoo! phạm sai lầm chiến lược – mà tôi đã viết ngay hai bài bằng tiếng Anh mắng mỏ Yahoo! về sai lầm lổn nha lổn nhổn Mess ấy đăng lên Aspiration – tôi “dọn nhà” sang mạng doanh nhân theo sự tích cực giới thiệu của cô Lại Thu Trúc. Ở Emotino tôi buộc phải viết toàn bằng tiếng Việt, và nếu văn ôn võ luyện phải viết tiếng Anh cho bớt nhớ nhung khắc khoải muộn phiền thì tôi thỉnh thoảng kèm thêm bài song ngữ Việt và Anh.

Rồi khi tôi vào Quốc Hội bị “ném đá comments” bởi báo chí cùng báo chấy, tôi tuyên bố độc lập bằng cách vào mạng mở một hơi 8 blog cho từng chủ đề khác nhau, từ “Chống Tàu” cho đến “Tham Luận”, “Thầy Cô”, v.v., với đặc điểm khóa toàn bộ các “comments”. Dần dà, khi lộ rõ hạ tầng kỹ thuật yếu kém của nó, tôi chuyển hết sang này, và blog của tôi trở thành đa ngành đa chủ đề đa…nguyên đa sự đa đoan, cũng vẫn khóa hết “comments”. Cũng vì vậy, tôi chỉ nhận các câu hỏi từ những người thân quen từ dạo Yahoo!3600 mà thôi, và cách liên lạc duy nhất là bằng email hay tin nhắn điện thoại với điều kiện địa chỉ email hay số phone của người đặt câu hỏi phải đều có sẵn trong danh bạ của tôi; kỳ dư đối với người “mới”, tôi chỉ nhận các câu hỏi qua thư bưu điện hoặc fax.

Nhận thấy hiện có một số câu hỏi liên quan đến vài chủ đề có thể là sự quan tâm chung của nhiều người dân Việt, tôi chọn ra 6 nội dung đã trả lời riêng sau để hình thành bài viết mang tính “tổng hợp” và thời thượng thời sự này.

Câu hỏi 1: Ông Hải Quận 1 sao lại “làm nhục” U Minh?

Chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ các bạn ạ – Much ado about nothing ấy mà.

Chẳng qua xã hội chúng ta luôn có sự hòa âm điền dã của (a) vấn nạn muôn đời “giật tít câu view” của báo chí phe tabáo chấy phe giặc, (b) vấn nạn thời vụ của báo chí phe ta hư đốn phản phúc luôn làm đủ mọi cách để hạ phẩm giá và uy tín của cán bộ nhà nước Cộng Sản để từ đó hạ bệ chế độ, và (c) trình độ hùng biện quái gỡ của cán bộ cao cấp – kể cả cán bộ tuyên giáo cấp cao – chỉ thể hiện khi nói gì đó cơ bản ngắn gọn thuộc lòng về chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và Lịch Sử Đảng in đầy đủ trong giáo trình chứ cà lăm lắp bắp toàn phần hay một phần khi bị cật vấn vặn vẹo về ngôn ngữ, chiến lược quốc gia và chiến thuật địa bàn bất kể cái địa bàn ấy là làng, xã, quận, huyện, thành phố, hay tỉnh.

Ông Hải hùng biện thanh minh ông đâu có điên mà ám chỉ như thế như thế như thế về U Minh.

Lãnh đạo của ông Hải lật đật hùng biện tuyên bố xiết bao yêu thương người dân U Minh.

Lãnh đạo U Minh ra uy hùng biện bảo lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh phải giải thích cho ta ngay lập tức.

Tất cả khơi nguồn nhen nhóm địa chấn làm vỡ vụn sự toàn vẹn toàn khối toàn cục.

Giá như ngay khi bị báo chíbáo chấy giỡ trò, ông Hải giải thích rằng ông ngụ ý sâu xa: chỉ mới ở một điạ phương như Quận 1 với lèo tèo chỉ hai điều cấm liên quan đến đậu xe và lề đường mà đã không tuân theo quy định ấy được thì làm sao tuân thủ quy định của cả Thành phố Hồ Chí Minh, và làm sao đáp ứng được các quy định cực kỳ nghiêm ngặt đặc thù của Rừng U Minh. Cứ về Rừng U Minh mà sống để được dạy dỗ tới nơi tới chốn, là sẽ biết thân biết phận ngay, vì chính quyền địa phương tại đó đương nhiên không cho phép ô tô xe máy tự tiện chạy ồ ạt vào rừng, tự tiện phát cỏ chặt cây làm đường xe chạy, tự tiện dùng phương tiện chạy xăng dầu tức nhiên liệu không xanh làm ô nhiễm không khí, tự tiện bấm còi xe inh ỏi làm kinh động thú rừng, tự tiện dẫm đạp lên thảm thực vật, tự tiện phóng xe tốc độ không chậm khiến làm sai lệch các thiết bị quan trắc, tự tiện hái quả/đào củ/nhổ nấm rừng, tự tiện cắm trại ăn uống, tự tiện nhóm lửa, v.v. và v.v., để Rừng U Minh vẫn còn cơ hội sánh được rừng mỹ miều mỹ mãn của Mỹ quốc:

Questions (1)Questions (7)

Giá như khi thấy ông Hải bị báo chí báo chấy giở trò, lãnh đạo U Minh ra thần uy giáo dục truyền thông rằng lãnh đạo U Minh hiểu nội hàm phát biểu của ông Hải là như trên, nên một mặt cảm ơn ông Hải, một mặt rất lo lắng về trách nhiệm nên sẽ rà soát lại xem các quy định hiện nay cần bổ khuyết những gì để nghiêm khắc hơn, hà khắc hơn, dữ dội hơn, chi li hơn, ngõ hầu bảo vệ được Rừng U Minh, đặc biệt trước quá nhiều nguy cơ không những đến từ Mẹ Thiên Nhiên mà còn đến từ những đứa con thiếu ý thức của Mẹ ấy.

Tất cả những phát ngôn của cán bộ Nhà Nước đều là cơ hội bằng vàng để báo chíbáo chấy sáng tác sáng tạo sáng chế bài viết hoặc công kích – nếu là của quan chức tép riu cấp quận – hoặc tán dương – nếu là của quan chức tôm hùm cấp nước.

Tất cả các phán phê của truyền thông đều là cơ hội bằng vàng để cán bộ Nhà Nước chứng minh các giáo trình và giảng viên bộ môn cao cấp lý luận chính trị hoàn toàn không vô dụng.

Tiếc thay, trong khi báo chíbáo chấy không bao giờ bỏ qua cơ hội thì các cán bộ Nhà Nước luôn vô tư nhổ toẹt vào các cơ hội ấy.

Câu hỏi 2: Vì sao vẫn còn vấp dư luận này nọ về quy định trang phục của Hà Nội và  Cần Thơ?

Hầu như mọi vấn đề trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam đều được nêu lên kèm các tư vấn mang tính biện pháp trên chính blog này, chẳng hạn phát biểu gần đây của một nữ nghị sĩ Khóa XIV Tỉnh Khánh Hòa về đặt tên “thuần Việt” hay của một chức sắc Thành phố Hồ Chí Minh về “đặt tên Tiếng Anh”

Questions (6)

đều không trên cơ sở bút chiến luận sâu sắc mà chỉ là những nêu vấn đề ngắn gọn rất trẻ con, phi hiện thực, phản…“hội nhập” , hoàn toàn không hùng biện, chẳng hạn dễ dàng bị phản luận rằng phải chăng “không có lợi cho truyền thống” đồng nghĩa với “không có lợi cho…kiểu đặt tên Hán-Việt”, vì Hán-Việt không-phải-Việt vẫn được mặc định là chính-danh-thuần-Việt?  Về vấn đề này đã có phân tích tại Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Trong khi đó, về mại dâm mà Quốc Hội và báo chí cứ nhớ nhung nhắc nhở

Questions (5)

thì cũng đã có sẵn hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Luật Hóa Mại Dâm Ư?.

Tương tự, việc đài truyền hình cứ đưa tin hoài về cái việc “còn nhiều ý kiến khác” liên quan đến “quy định trang phục” cũng sẵn có bài hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân mà bạn có thể dễ dàng xem lại hoặc tham khảo thêm.

Để mang tính cập nhật và thời thượng, xin trình cùng bạn rằng bên Mỹ đang có vấn nạn tại giải bóng bầu dục chuyên nghiệp toàn quốc nhiều cầu thủ đẳng cấp triệu phú đã bày tỏ sự chống đối Tổng Thống Trump bằng cách mỗi khi sân vận động trỗi quốc thiều, hát quốc ca, chào quốc kỳ thì họ hoặc ngồi lỳ trên ghế, hoặc ngồi thụp xuống đất quỳ một chân, chứ không chịu đứng lên nghiêm chào cờ với bàn tay đặt trên ngực như từ trăm năm nay. Tất nhiên trên Twitter tràn ngập các tải đăng lời rủa nguyền hành vi bất kính đó từ Tổng Thống Trump và nhiều người dân khác, kể cả các “fan” của các cầu thủ ấy cũng phản đối hành vi hỗn láo ấy. Nhưng ý kiến không-hề-nguyền-rủa sau đây của Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Mnuchin có thể là quà tặng – hay là cẩm nang xử lý công việc – cho các lãnh đạo công quyền ở Hà Nội và Cần Thơ:


Từ đó, có thể nói rằng các công chức viên chức ở Hà Nội và Cần Thơ nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan công quyền chuyên nghiệp nào có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng các bác sĩ và nhân viên y tế tại các bịnh viện nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan y tế chuyên nghiệp có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng ngay khi báo chí và báo chấy viết gì đó hay nói gì đó về quyền tự do cá nhân ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do ngôn luận ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do biểu đạt ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, thì phải hiểu ngay là báo chí/báo chấy hoặc (a) đang xách động cho kiểu tương tự tự do cá nhân đang đứng nói chuyện ồn ào thì vội thụp xuống lột chuối ăn ngay khi nghe loa phóng thanh yêu cầu đứng nghiêm chào cờ:

Questions (4)Questions (3)

và tương tự tự do “treo” cờ trên sàn làm tấm chùi chân này để thực thi quyền tự do biểu đạt:

Questions (2)

của Nước Mỹ Vĩ Đại; hoặc (b) thề không bao giờ đọc tin của bất kỳ báo in/báo mạng của nước ngoài nên chả hiểu biết gì sất về cái biến thiên của cái sự đời.

Câu hỏi 3: Tại sao Việt Nam ngày nay vẫn còn xuất hiện mấy vụ ồn ào như của  Nguyễn Xuân Anh ở Đà Nẳng và làm sao để tránh được các lùm xùm tương tự?

Đơn giản là lãnh đạo Đảng và Nhà Nước nếu muốn đừng có các “lùm xùm” tương tự bất kỳ thì chỉ cần quan tâm đến sự thật là “trẻ hóa” hoàn toàn tối kỵ với 4 điều không bao giờ có thể tách rời gồm (a) “trẻ quá”; (b) thiếu kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, và quản trị; (c) vắng thành quả thực tiễn; và (d) không trên cở sở đạo đức gia phong.

Trẻ hóa là một tiến trình lý tưởng cao nhất của sự công bằng trong dụng nhân ở cấp lãnh đạo, nhất là trong phạm vi chính trị, nhằm đã phá kiểu “ở lâu lên lão làng” hoặc kiểu “con sãi ở chùa mãi quét lá đa”.

Trẻ hóa chỉ phát huy tác dụng tích cực nếu trên cơ sở nền tảng lý luận và nền tảng thực tế rằng trẻ hóa nhất thiết phải luôn gắn liền với bề dày kinh nghiệm cùng số lượng cao của thành quả thực tiễn chất lượng cao – như đã nêu chi tiết trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

1- Trẻ Quá:

Ngay cả giai thoại về Nguyễn Hiền trong Việt Sử cũng cung cấp một bài học đắt giá rằng việc Trạng Nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi phải về quê học hỏi thêm về lễ nghi mới được phong chức chốn triều đình đã chất chứa trong nó hai nội hàm mang tính chân lý toàn cầu rằng (a) việc hoàn tất việc học của một người – ngay cả khi có kết quả học tập thật cao – không có nghĩa là người đó thích hợp ngay với công việc chuyên môn và công tác quản trị, nhất là trong phạm trù trị quốc, lãnh đạo quốc gia về chiến lược phát triển quốc gia và chính trị/kinh tế/tài chính; và rằng (b) học luôn phải đi đôi với hànhhành không phải là thực hành trong đợt thực tập trong thời gian còn đang học mà là đem những gì đã học xong tức đã tốt nghiệp ra thi thố tại nơi làm việc “tư nhân” như đã nêu trong bài Chìa Khóa Của Cường Thịnh tức phải tìm việc trong cạnh tranh gian nan chứ không được bố trí đương nhiên vào công sở đầy đặc ân của Nhà Nước dành cho con em cán bộ cao cấp – cho một kế sinh nhai và có đạt thành quả tốt sau nhiều năm tháng.

Về phương diện Nhà Nước và chính trị, người trẻ quá dứt khoát không được nắm quyền lãnh đạo bất kỳ về chính trị, tài chính/ngân hàng thuộc Nhà Nước, ngoại giao cấp Nhà Nước, và về các kế sách phát triển cấp Nhà Nước.

Trẻ quá chỉ có thể nắm quyền sinh sát tất cả những đơn vị/cơ quan/doanh nghiệp không thuộc Nhà Nước.

Có như vậy, trẻ quá mới không bao giờ trở thành quốc nạn.

2- Thiếu Kinh Nghiệm & Thiếu Thành Quả Thực Tiễn:

Từ nội dung “trẻ quá” nêu trên, lãnh đạo trẻ quá có thể tồn tại ở một doanh nghiệp nếu chỉ trên cơ sở tài sản riêng của gia đình. Lãnh đạo trẻ quá không bao giờ được phép tồn tại trong công việc lãnh đạo cơ quan hay doanh nghiệp trong guồng máy Nhà Nước – trừ phi người trẻ quá đó tuy tốt nghiệp đại học năm 22 tuổi và có bằng thạc sĩ năm 24 tuổi nhưng đã lao lung làm việc từ năm 15 tuổi nghĩa là đã có dồi dào kinh nghiệm 10 năm làm việc vào thời điểm nắm bằng thạc sĩ trong tay. Kinh nghiệm là tiêu chuẩn mấu chốt của mọi tuyển dụng quan trọng. Chỉ trong trường hợp cá biệt người quá trẻ có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh thiên phú nhưng phải là năng khiếu lãnh đạo nỗi bật được nhiều người tại cơ quan người ấy công tác biết đến các thành quả cụ thể chứ không phải bất ngờ xuất hiện như trên trời rơi xuống chễm chệ ngự trị ngôi cao nhờ ô dù của ai đó.

3- Đạo Đức Gia Phong:

Đạo đức gia phong hoàn toàn không bao giờ trùng nội dung với đạo đức cách mạng.

Đạo đức gia phong là thứ đạo đức mang tính kế thừa, dài hạn, thống nhất, phát huy phát triển, lan tỏa, truyền thống, nhân văn, vững bền vượt thời gian bất kể chế độhay triều đại, được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng về những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và mang tính tự nhiên. Không thứ chủ nghĩa xét lại nào có thể làm tan biến giá trị của đạo đức gia phong.

Đạo đức cách mạng là thứ đạo đức không tự nhiên có, mà phải qua giáo dục tư tưởng nên luôn mang đặc tính chính trị, luôn mang tính cá nhân không tự động kế thừa, không có đặc tính tự động phát huy hay tự động phát triển, không thể lan tỏa, không thể tồn tại dài lâu tùy sức công phá có mạnh hay không của chủ nghĩa xét lại, không được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng vì không có những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và rất phổ biến dạng thức tự động có danh đạo đức cách mạng khi là đảng viên cao cấp (giống như khi đã là đảng viên có nhiều tuổi Đảng tự động được danh tiếng trung kiên) còn khi đảng viên cao cấp ấy gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng trốn ra nước ngoài bị truy nã toàn cầu thì cái đạo đức cách mạng ấy tự động tan biến đi không kèn không trống không cần thông báo nghị quyết chính thức tước bỏ.

Vì lý do trên, đại cuộc trẻ hóa và việc sử dụng nhân lực trẻ quá nhất thiết phải không thiếu tiêu chuẩn về đạo đức gia phong trong tuyển dụng và bố trí, vì bốn tiêu chuẩn lớn nhất mà tầng lớp lãnh đạo nên có là sự đoan chính, đức thanh liêm, lòng trung tín, cùng năng lực nhân-trí-dũng hoàn toàn chỉ được hình thành từ nền nếp tự hào gia phong chứ không bao giờ là những nội dung mà một đảng chính trị có thể giảng dạy bằng giáo trình lý luận chính trị cho đảng viên.

Sẽ không thể xuất hiện các đấng “tuổi trẻ tài cao” Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, và Vũ Đình Duy, v.v., làm Đảng lúng túng, làm nhục quốc thể, nếu như việc lựa chọn người lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã trên cơ sở có luôn quan tâm đến những nội dung đánh giá nhân sự “trẻ hóa” như trên.

Gương trẻ hóa tuyệt diệu nhất và thành công nhất còn được minh chứng qua trường hợp các đứa con của Donald Trump: họ là những người tích cực, năng nổ, thành công trong quản trị doanh nghiệp, thành đạt trong sự nghiệp kinh doanh riêng và chung trong thời gian rất dài trước khi Donald Trump trở thành Tổng Thống; và sự “tham chính” của họ làm các trợ lý cho Donald Trump đã khiến Donald Trump trở thành nhà lãnh đạo quốc gia đầu tiên và duy nhất của toàn thế giới được giúp sức hữu hiệu bởi những người con đã thành công nổi bật mà hoàn toàn không dựa vào uy thế tổng thống của người cha, mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong Bài Học Cho Việt Nam Về Công Tác Nhân Sự. Giai tầng “trẻ hóa” không thể áp dụng vào lãnh địa chính trị nếu như các lực lượng kế thừa chính trị không có chất lượng cao bằng con cái của Donald Trump.

Câu hỏi 4: Tại sao đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến việc nội dung truyền thông phải tương thích với trẻ em?

Sự thật thứ nhất là tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri của Đơn Vị 1 Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII của các nghị sĩ Trương Tấn Sang, Trần Du Lịch và Hoàng Hữu Phước suốt từ năm 2011 đến 2016, đặc biệt tại Quận 4 là nơi 100% buổi đều có ít nhất hai cử tri đặt vấn đề về loạn văn hóa phẩm độc hại trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống.

Sự thật thứ hai là các nghị sĩ Trương Tấn Sang và Trần Du Lịch tức hai vị độc quyền trả lời cử tri đã chưa bao giờ trả lời trực tiếp đối với các vấn nạn văn hóa mà cử tri chất vấn tại chỗ.

Sự thật thứ ba là toàn thể các báo đài có phóng viên tác nghiệp trực tiếp tại các buổi tiếp xúc cử tri ấy chưa hề có đăng clip hay bài viết hoặc thông tin về những phát biểu có thật 100% ấy của cử tri, mà chỉ tập trung nói/chiếu/viết về những ý kiến của Chủ Tịch Nước đối với chủ quyền biển đảo Biển Đông và tham nhũng, dù rằng toàn bộ các trả lời về Biển Đông luôn giống hệt các thông tin được lập đi lập lại bởi các lãnh đạo khác, còn tham nhũng thì ngoài hình ảnh đông đúc như “bầy sâu” trong ngôn từ khẩu khí của nghị sĩ lãnh đạo thì người dân cả nước chả thấy tội phạm tham nhũng thực thụ có tên họ nào cả.

Các sự việc sự thật trên chứng minh

1) Việt Nam hoàn toàn không có lãnh đạo nào của Nhà Nước quan tâm đến việc tạo ra các rào cản kỹ thuật đối với văn hóa phẩm đồi trụy của cách mạng dù thời gian đầu giải phóng đã triệt để bài trừ văn hóa phẩm đồi trụy của Mỹ-Ngụy, và đã làm ngơ để mặc cho các cơ quan truyền thông có quyền tự do hủy phá nhân cách, hủy hoại tâm hồn tư tưởng tư duy của con cháu của cử tri toàn quốc, bằng các phim ảnh/tác phẩm nội địa luôn khai thác việc hiếp dâm, đĩ thỏa, trần truồng, chước quỷ mưu ma, gian manh xảo trá, lưu manh giết chóc, ăn nói quàng xiêng, tả chân sa đọa.

2) Lãnh đạo Nhà Nước Việt Nam hoàn toàn không có sự quan tâm đến việc ngăn cấm các cơ quan truyền thông đại chúng làm giàu từ quảng cáo luôn dựa vào các sản phẩm văn hóa có tính đồi trụy, có cảnh hiếp dâm chi tiết, có diễn đĩ thỏa trần truồng, có bày chước quỷ mưu ma, có chiêu gian manh xảo trá, có trò lưu manh giết chóc, có kiểu ăn nói quàng xiêng, và có cách ăn mặc không nghiêm túc, nghĩa là có đủ thứ trừ chất lượng văn hóa nghệ thuật đỉnh cao.

3) Tại Việt Nam, cử tri không được lãnh đạo Nhà Nước lắng nghe nếu ý kiến của họ liên quan đến công kích truyền thông, bảo vệ tâm hồn lành mạnh của trẻ thơ, làm vơi thu nhập tỷ đô của truyền thông.

Câu hỏi của bạn sẽ có câu trả lời rằng nếu nay bắt đầu có như vậy thì đã bắt đầu tốt rồi.

Câu hỏi 5: Vì sao cứ Cải Cách Giáo Dục hoài?

Cải cách giáo dục ở nơi khác trên hành tinh này là hoạt động không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới, với mục đích duy nhất là làm một nền giáo dục đã thành công nay trở nên tương thích hơn, hiệu quả hơn, tốt đẹp hơn, ngõ hầu dẫn đến xã hội có nguồn nhân lực chiếm lĩnh đỉnh cao và bất khả chiến bại trên trường quốc tế. Cải cách do đó phải không ngừng, phải hoài hoài.

Cải cách giáo dục ở Việt Nam là động tác tự cứu mình ngay khi sự thất bại trở thành hiển nhiên của một cải cách giáo dục trước đó và toàn bộ kinh phí đã bị ngốn sạch sành sanh không còn lại chút gì để sửa chữa, chỉnh điều.

Lý do có sự thất bại triền miên mang tính truyền thống thâm căn cố đế trong giáo dục và cải cách giáo dục ở Việt Nam: chưa hề có chuyên viên thực thụ nào về giáo dục có kinh qua giảng dạy thành công, có kết quả hữu hiệu từ giảng dạy thành công, có hiểu biết và nghiên cứu sâu sắc về tất cả các lĩnh vực giảng dạy/học tập/soạn giáo trình/lý luận giáo dục cao cấp trong thấu đáo thế mạnh dân Việt và thế mạnh dân Âu Mỹ, v.v., trong danh sách những “giáo sư” “phó giáo sư” của ban cải cách giáo dục của tất cả các kỳ cải cách giáo dục ở Việt Nam, thậm chí những vị có tên trong công trình cải cách giáo dục thất bại lần này lại tiếp tục có mặt trong danh sách cải cách giáo dục lần sau, với đặc điểm kinh phí cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công sau luôn cao hơn kinh phí đài thọ cho lần cải cách giáo dục không bao giờ thành công trước.

Biện pháp duy nhất có thể khắc phục để có thể lần đầu tiên có được một cải cách giáo dục thành công: đơn giản hãy công khai tuyển chọn qua phỏng vấn trực tiếp các nhà chuyên nghiệp, thay vì tự lập danh sách “chuyên gia giáo dục” bất tài vô dụng từ lợi ích nhóm như từ trước đến nay tức chỉ toàn những nhân vật thuộc bí mật quốc gia đến độ chỉ có lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Quốc Hội, lãnh đạo Nhà Nước mới biết đến năng lực của họ chứ toàn dân chẳng biết gì về các tối mật ấy.

Câu hỏi 6: Tình hình kẹt xe ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ còn có giải pháp nào hữu hiệu?

Ngay khi Hà Nôi công bố giá trị giải thưởng vấn kế giải quyết tình trạng giao thông là tôi đã nói ngay rằng cách chi mà có giải pháp.

Ngay khi Thành phố Hồ Chí Minh công bố làm cầu vượt giải quyết kẹt xe ở cửa ngõ Sân Bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nói ngay rằng cầu vượt sẽ không là giải pháp thành công.

Cơ sở cho những “tiên đoán” không sai của tôi gồm:

– Không bao giờ giải quyết được những vấn đề giao thông/hạ tầng giao thông/kẹt xe/ngập nước nếu vẫn chưa trước hết phải có luật pháp/quy định nghiêm khắc, hà khắc;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu vẫn ngây thơ ngây ngô ngây dại lảm nhảm hoài về “giáo dục người dân có ý thức hơn”;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu chưa tìm đến đúng nhà tư vấn chiến lược thực thụ;

– Không bao giờ giải quyết được gì nếu luôn luôn giở cẩm nang in sẵn rằng lĩnh vực A thì hỏi ông A, lĩnh vực B thì hỏi ông B, lĩnh vực C thì hỏi bà C, nội dung “Sân bay Tân Sơn Nhất” thì hỏi “kiến trúc sư” X, nội dung xây dựng thì hỏi “nguyên Bộ trưởng” Y, nội dung nông nghiệp/giáo dục/kinh tế thì hỏi “giáo sư” Z1/Z2/Z3, v.v. và v.v.

Đối với vấn nạn kẹt xe ở Sân bay Tân Sơn Nhất thì muốn có biện pháp thành công thì nhất thiết phải xử lý các xuất phát điểm gây ra vấn nạn ấy như đã nêu chi tiết tại bài Phi Trường Tân Sơn Nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 18-9-2015

Tứ Đại Ngu  2012

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Phi Trường Tân Sơn Nhất  07-01-2009

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB


Người Chứng Của Chân Lý (1)

Chân lý không được mặc định bó buộc phải là kết quả của tư duy nơi các đấng triết gia, các nhà khoa học, các vĩ nhân kim cổ; đơn giản vì chân lý đến từ cuộc sống thực, chiêm nghiệm thực, mà chiêm nghiệm không bao giờ được mặc định là hành trạng tư duy độc quyền riêng của các tầng lớp cao trọng, quý tộc cao sang, trí thức cao vời của cộng đồng và nhân loại.

Chân lý có khi bật bung ra từ chiêm nghiệm hay cuộc sống của nô lệ, nông nô, thành phần bất hảo, bất kể sự chiêm nghiệm ấy cho những điều tầm thường hay kỳ vĩ, hoặc từ hành động hành vi hành xử của những người mà nhân loại nguyền rủa bất kể sự nguyền rủa ấy đúng hay sai.

Tác giả bài viết này từ quyển Søren Kierkegaard, Người Chứng Của Chân Lý trong ba tá sách phần thưởng ông nhận được từ kỳ Đố Vui Để Học đài truyền hình Sài Gòn dịp Giáng Sinh 1967 khi đội lớp Nhì (tức lớp 4 hiện nay) tiểu học Phan Đình Phùng, Quận 3, của ông (gồm ông là đội trưởng, và hai học sinh khác là Tống Kim Lan – cô này được những chuyên viên phụ trách thu hình yêu cầu ngồi ghế giữa vì nữ sinh này có đôi chân rất dài khiến cô lúc ấy cao hơn đội trưởng…một cái đầu – hiện vẫn ở Quận 3, và Nguyễn Sơn Hải hiện định cư ở Hoa Kỳ) thắng đội lớp Nhì trường “đầm” Hồng Bàng, đã cho title của bài này là Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý để nêu ra những chân lý thời đại nguyên tử như sau.

Người Chứng Của Chân Lý

A) Chân Lý Có Thể Luôn Đúng Nhưng Luôn Không Đúng

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Hai võ sĩ quyền anh thượng đài không bao giờ có việc một bên không được đeo găng tay, không được đi giày, không được mặc quần, và không được ngay cả ra đòn tay hay đòn chân của kick-boxing – nghĩa là một bên buộc phải là cái bị thịt trong một trận đấu tranh giải quyền anh hạng nặng thế giới. Chỉ có quân mọi rợ mới ra cái quy định cấm đoán thiên vị công khai ấy. Liên Hợp Quốc là quân mọi rợ vì đã chỉ cấm Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có sự “cầm cân nẩy mực” của trọng tài dựa trên các các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Không bao giờ có việc một đám 15 đứa trọng tài hè nhau cùng lúc thổi còi trừng phạt một võ sĩ chỉ vì võ sĩ ấy có đeo găng tay, có đi giày, có mặc quần, có ra đòn tay hay đòn chân chạm đến võ sĩ người nhà của trọng tài. Chỉ có quân mọi rợ mới thổi còi như vậy. Hội Đồng Bảo An 15 thành viên chính là quân mọi rợ vì đã chỉ thổi còi trừng phạt Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Kiểu hành xử giang hồ tứ chiếng trên đã được thực thi rất nhiều lần trong lịch sử cận đại và hiện đại, mà cụ thể là hai trường hợp nổi bật sau:

1) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (gọi tắt là Việt Nam) và Liên Hợp Các Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) thì Việt Nam là bên thắng trận lại bị bên bại trận là Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc-gia-đồng-minh với Mỹ hoặc giữ vai trò bàng quan sao cũng được của quốc-gia-khán-giả. Cái gọi là “tinh thần thượng võ” của thể thao khi võ sĩ bị knockout mặt mày bầm dập gảy răng tét môi đầy máu ôm chúc mừng võ sĩ đối phương thắng trận, đã không bao giờ được siêu cường nguyên tử Mỹ áp dụng đối với Việt Nam.

2) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Choson (gọi tắt là Triều Tiên) và tập thể hai quốc gia Liên Hợp Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) cùng Cộng Hòa Hanguk (gọi tắt là Hàn Quốc) thì

a- Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để Triều Tiên và cấm vận liên tục với mức độ ngày càng gia tăng nặng nề nghiêm trọng hơn, với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc gia đồng minh với Mỹ hoặc những quốc gia giữ vai trò bàng quan của khán giả;

b- Mỹ cấm Triều Tiên không được tự vệ khi áp đặt yêu cầu Triều Tiên phải hủy bỏ chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử như điều kiện tiên quyết dù Triều Tiên sở dĩ còn tồn tại nhờ có vũ khí nguyên tử ấy để tự vệ và răn đe kẻ thù, và dù Mỹ-Hàn dứt khoát không chấm dứt các cuộc tập trận theo yêu cầu tiên quyết của Triều Tiên cho các đàm phán có liên quan đến vũ khí nguyên tử, thậm chí Mỹ cũng không chấp nhận yêu cầu của Triều Tiên muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ chứ không thông qua “thiên hạ”;

c- Hàn Quốc tiến hành nhiều chiến thuật tâm lý chiến quyết tấn công triệt hạ chế độ Triều Tiên như lắp đặt hệ thống loa công suất lớn dọc biên giới để công kích Triều Tiên, thả khinh khí cầu qua lãnh thổ Triều Tiên rải truyền đơn kêu gọi lật đổ chế độ Triều Tiên, có sự giúp sức của các đài truyền thông Châu Âu phát chương trình tiếng Hàn nhằm cung cấp cho dân Triều Tiên những thông tin “thật” về tình hình “phản tự do phản dân chủ” của chế độ Triều Tiên; v.v.

B) Chuẩn Bị Chiến Tranh Là Lựa Chọn Duy Nhất Để Bảo Vệ Đất Nước

“Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” là câu châm ngôn lạc hậu, lỗi thời, yếu kém.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” là câu đối đã chưa từng được giải thích chuẩn xác chuẩn mực ngay cả bằng tiếng Việt.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn” không bao giờ là một vũ khí thực tiễn trong chiến tranh trên thực địa chiến trường, mà là một sử dụng kiểu tâm lý chiến hay chiến tranh chính trị trong nội bộ để khích lệ và trong đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế hoặc phục vụ mục đích tranh biện. Trên chiến trường quyết chiến quyết tử được phân định bằng làn ranh mỏng manh của bom đạn thì cái cụ thể nhất của “thắng hung tàn” phải luôn là tiêu diệt tàn sát đối phương mà ta đã nhanh tay đặt tên cho chúng là bọn khát máu hung tàn.

“Lấy chí nhân mà thay cường bạo” luôn chỉ là câu nói của bên thắng trận sau khi đã tiêu diệt xong hỏa lực đối phương, vì rằng chỉ có kẻ ngu xuẩn mới thốt ra trước khi lâm trận trên chiến trường là nơi chỉ có bấm nút bóp cò khai hỏa vũ khí tối tân nã vào quân địch.

Vì vậy, không phải muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, mà chính là luôn phải chuẩn bị vũ khí sát thương cao để nhanh chóng tàn sát quân thù ngay cửa ngõ biên giới nước nhà, đơn giản vì trong thời đại hiện nay hòa bình chỉ có thể là từ ngữ vô nghĩa, thứ chữ vô minh, sự ru ngủ hay tự ru ngủ, sự mất cảnh giác hay khiến đối phương mất cảnh giác, liều ma túy chính trị, sự tự sát, và tấm giẻ chùi chân làm sạch gót giày trước ngưỡng cửa hội đàm Liên Hợp Quốc.

C) Sở Hữu Vũ Khí Nguyên Tử Là Lựa Chọn Duy Nhất Đúng Để Bảo Vệ Đất Nước

Dân tộc Châu Sơn là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu và của Nhật.

Dân tộc Lạc Hồng là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu, của Pháp, của Nhật, của Mỹ, của Campuchia.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ cực đoan của cả Triều Tiên và Hàn Quốc là như nhau, mặc dù cả hai đều có “chính nghĩa” riêng để chống nhau do cả hai là hai quốc gia thành viên riêng biệt của Liên Hợp Quốc.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ đối kháng của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là như nhau, mặc dù duy chỉ có Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có “chính nghĩa” trên cơ sở (a) tổng tuyển cử thống nhất đất nước minh định tại Hiệp Định Geneve hình thành từ chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước Pháp Quốc giải phóng cả Đông Dương, (b) “Miền Nam” là lãnh thổ thuộc Liên Hiệp Pháp lệ thuộc Pháp và không có quyền lực bất kỳ kể cả về quốc phòng, và (c) “Miền Nam” không được Pháp xem như đối trọng chính trị ngang tầm với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hội Nghị Geneve nên đã phá thối bằng cách không tuân thủ thực hiện “tổng tuyển cử”.

Hàn Quốc kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Triều Tiên. Triều Tiên kiên quyết “giải phóng” Hàn Quốc.

Việt Nam Cộng Hòa kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kiên quyết “dọn sạch” các mầm mống “thân Cộng” trong dân chúng Việt Nam Cộng Hòa, và mong chờ Mỹ ném bom nguyên tử tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; thậm chí sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa sổ vĩnh viễn, những kẻ tháo chạy liên tục tổ chức “vũ trang phục quốc”, gây nổ phá hoại, chống đối bằng chữ/bằng lời/bằng biểu tình/bằng vận động/bằng tài trợ/bằng vu vạ/bằng vu khống/bằng sự điêu ngoa đẻ tin láo xạo. Trong khi đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiên quyết dũng vũ lực giải phóng cho bằng được Miền Nam khỏi ách xâm lược của Mỹ, không bao giờ coi Việt Nam Cộng Hòa là “quốc gia” có chính quyền chính thống chính đạo mà chỉ là một thứ chính quyền tay sai do Mỹ lập nên mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gọi là chính quyền ngụy gọi tắt là “ngụy quyền” như một phong thái không đội chung trời đầy khinh miệt khinh rẻ khinh khi.

Trước “dân tộc tính” dữ dội dữ dằn như thế, cộng thêm các đe dọa từ các cuộc tập trận quy mô khủng khiếp Mỹ-Hàn, những căn cứ quân sự đồn trú của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc, cùng những lịnh cấm vận ngày càng tàn tệ hơn, Triều Tiên không thể không buộc phải sở hữu vũ khí nguyên tử. Cái may mắn nhất của Triều Tiên không những nhờ có các nhà khoa học kỹ thuật tài năng hàng đầu tuyệt đối trung thành với chế độ, các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, mà chính các nhà lãnh đạo tài năng của Triều Tiên giữa sự bủa vây cấm vận và đe dọa của kẻ thù vẫn có thể hoạch định thành công xây dựng Triều Tiên thành quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và sản xuất/xuất khẩu vũ khí tầm cỡ. Nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Châu Sơn của Hàn Quốc đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn được phô trương, kế sách “tiêu diệt mềm” được phô bày qua giảo biện về “đàm phán tiến tới thống nhất đất nước” cùng các khoản viện trợ “nhân đạo” và dựng xây khu công nghiệp tại Triều Tiên. Và cũng nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Mỹ đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn qua minh chứng của sự xuống nước ve vản vuốt ve Triều Tiên của các tổng thống Mỹ Bill Clinton và Barack Obama.

Việt Nam không thể có vũ khí nguyên tử vì (a) Việt Nam không bao giờ có các nhà khoa học kỹ thuật hàng đầu, (b) sự tuyệt đối trung thành với chế độ chỉ là khẩu hiệu, (c) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật, (d) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, và (e) Việt Nam không bao giờ có các nhà lãnh đạo tài năng về chiến lược phòng vệ hữu hiệu nhất dám nghĩ đến việc sở hữu uy lực vũ khí nguyên tử trong bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, bảo vệ chế độ, cũng như uy thế đối ngoại của chính quyền trong tư thế sở hữu được vũ khí nguyên tử.

Không thể có vũ khí nguyên tử là một yếu điểm, nhưng yếu điểm này không thể – và không bao giờ có thể – được dùng cho sự giảo biện rằng sở hữu vũ khí nguyên tử không là lựa chọn duy nhất đúng để bảo vệ đất nước.

D) Ngụy Lý Là Chân Lý Của Chiến Tranh Tâm Lý Truyền Thông

Dân tộc Hàn là một dân tộc cực kỳ dữ dội, cực kỳ hung hãn, cực kỳ hung hăng, mà chỉ có “làn sóng Hàn”, “Kê-póp” và các “ù-pá” cùng “ù-nhí” xinh đẹp mỹ miều ngây thơ tuyệt đỉnh thánh thiện mới làm người trần thế quên hẳn cái đặc thù dân tộc tính đó của dân Hàn. Phải cực kỳ ghê gớm bất khuất như thế Triều Tiên mới trụ được trước giặc Tàu trong quá khứ cùng giặc Nhật trong quá khứ, và trước bọn Tàu của hiện tại – nghĩa là trên thế giới hiện đại ngày nay chỉ duy nhất có Triều Tiên công khai khẳng khái không luồn cúi trước Tàu, sẵn sàng cho Tàu lâm vào cảnh không thể cứng rắn với Triều Tiên.

Tuy nhiên, cái cũ rích của chiến tranh tâm lý truyền thông những năm 60 của thế kỷ trước vẫn luôn được áp dụng vượt thời gian.

Nếu như trong thế kỷ XX, báo chí chính thống Việt Nam Cộng Hòa đã đăng ra rả nhiều kỳ nhiều tháng trên trang nhất cái láo xạo gọi là “bài dịch từ nguyên tác tiếng Pháp” nhan đề “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” nhằm tạo ra ảo cảm nơi quần chúng rằng Hồ Chí Minh sang Pháp chỉ để dan díu đú đởn với phụ nữ Pháp chứ không để tìm đường cứu nước, rằng Hồ Chí Minh có lắm con rơi tại Pháp, và rằng Hồ Chí Minh bị các con rơi nhạo báng rủa nguyền tư cách sở khanh đốn mạt của người cha sinh học của chúng; thì nay trong thế kỷ XXI báo chí mạng “chùa” chuyên dựng powerpoint (không bao giờ là video clip “động”) thảy lên YouTube láo xạo về các lãnh đạo Việt Nam hoặc các sự việc loạn lạc lầm than ở Việt Nam. Còn mấy anh truyền thông chính thống Âu Mỹ đã đưa các tin như sau về Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (2)Người Chứng Của Chân Lý (1)

Dù cho có ba người Mỹ “comment” rằng báo chí đã quá láo xạo khi đưa tin như vậy về Kim Jong-un, thêm một người Việt “comment” rằng đừng bao giờ tin bọn “đào thoát” vì chúng toàn là bọn đói khát, bất tài vô dụng, hèn nhát, và phản quốc, thì nhiều trăm người Mỹ khác vẫn “comment” đầy khí thế nguyền rủa Kim Jong-un là dã thú, là dã man, là phải bị tiêu diệt, v.v, thậm chí có người còn hô hào phải giết ngay Kim Jong-un, trong khi những người khác quy chụp ngay rằng tại có đầu óc cộng sản chủ nghĩaxã hội chủ nghĩa mà Kim Jong-un điên loạn, rồi kết luận nhất thiết phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu – tức là tự dưng lôi Việt Nam vào phạm trù đối tượng sẽ điên khùng nguy hiểm như Triều Tiên!

Khi Reuters chính thống phải dùng đến hạ sách của thứ báo lá cải bằng cách sử dụng nguồn tin rác rưởi của bọn “đào tẩu” mà bản chất luôn luôn láo xạo, truyền thông Việt Nam có kẻ đã quỳ mọp lạy Reuters ngay lập tức để hòa âm bôi nhọ Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (2)

Truyền thông Việt Nam còn vô tư đưa tin với cách dùng từ hoàn toàn sai cứ như đang hớn hở tham gia tấn công vào danh dự và niềm tự hào dân tộc của Triều Tiên, chẳng hạn từ “trừng phạt” chỉ luôn dùng cho đối tượng sai và phạm tội trong khi Triều Tiên hoàn toàn không sai về bất kỳ điều gì và không phạm bất kỳ tội gì; từ “khuất phục” chỉ dùng cho đối tượng mạnh mẽ bất khuất bị quyền lực mạnh hơn khống chế, như vậy hoàn toàn sai vì Liên Hợp Quốc không bao giờ là quyền lực ấy; trong khi đó, chỉ có bọn ngu đần mới cho rằng Triều Tiên “theo đuổi tham vọng hạt nhân” vì không những Triều Tiên đã sở hữu vũ khí nguyên tử từ lâu mà việc sở hữu ấy không phải là tham vọng mà là sự tự vệ hữu hiệu của Triều Tiên mà Mỹ muốn tước bỏ quyền tự vệ chính đáng chính nghĩa chính đạo ấy của Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (5)

Tương tự như vậy, việc ăn theo bọn Fake News khét tiếng như Reuters và Washington Post để loan tin “dân Triều Tiên bối rối” để làm nhục nhân dân Triều Tiên của báo Việt:

Người Chứng Của Chân Lý (4)

thì chẳng khác gì sự ngu đần của Independent khi bỡn cợt rằng chỉ cần ném xuống Triều Tiên 25 triệu chiếc iPhone và cho các vệ tinh vần vũ trên không gian cung cấp wifi miễn phí là người dân Triều Tiên sẽ vùng lên giết Kim Jong-un ngay – cứ như thể nhân dân Triều Tiên bị mù thông tin, ngu muội, không biết gì về Kim Jong-un nên nhất thiết cần Mỹ khai sáng, mở mắt, là sẽ tự tay kết liễu Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (3)

Như vậy sự trá ngụy đớn hèn trở thành thông tin (a) tác động khống chế nhận thức của người đọc, và (b) bôi nhọ trở thành hành vi chính danh chính đạo không bao giờ bị trừng trị.

Tác động nhãn tiền còn ở chỗ liên tưởng tự động tự nhiên. Khi thời gian giúp mọi người nhận ra “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” chỉ là một sáng tạo láo xạo hoàn toàn của đám bồi bút vì không bất kỳ ai tìm ra được “nguyên tác tiếng Pháp” của nó, nhà xuất bản của nó, và “tác giả” của nó, thậm chí “dịch giả” của nó; thì từ đồ dần dà hình thành một phản ứng tự nhiên ngay lập tức nơi người đọc “đứng tuổi” và người đọc có trí tuệ công chính rằng Kim Jong-un khi bị bôi bẩn cùng kiểu ắt đúng là danh nhân đáng kính, đúng là anh hùng dân tộc đáng trọng, và đúng là gương sáng đáng nể của dân tộc Châu Sơn và nhân loại.

Hóa ra danh dự của một nhân vật quan trọng được khẳng định và tôn vinh chỉ khi nhân vật đó bị bôi bẩn và sự bôi bẩn được phát hiện là giả trá.

Và khi sự bôi bẩn là vũ khí chủ lực của truyền thông chính thống vốn luôn dưới lớp áo choàng sang cả lấp lánh của chân lý, chỉ có chân lý, và không gì khác hơn ngoài chân lý, thì bản thân đó là một ngụy lý đã trở thanh chân lý vậy.

E) Chân Lý Thường Được Công Nhận Bởi Số Đông Nhưng Người Chứng Của Chân Lý Sẽ Luôn Là Người Cô Độc Như Søren Kierkegaard

Tất cả những dẫn chứng và biện luận trên về các quyết định của Kim Jong-un – và của cha và ông của Kim Jong-un – ắt được số đông gật gù công nhận, không những vì các dẫn chứng biện luận ấy không-thể-tranh-cãi hay khó-thể-tranh-cãi mà còn vì chúng là sự thật hiển nhiên.

Tuy nhiên, không cần phải đi khắp cõi ta bà, chỉ cần rong chơi cuối trời quên lãng trên không gian mạng ngay tại Việt Nam cũng đã nhận ra ngay truyền thông Việt Nam thường xuyên nhơi đi nhơi lại biết bao từ ngữ xúc phạm Kim Jong-un và xúc phạm Triều Tiên mà nguồn xuất phát của chúng lại là từ bọn truyền thông chính thống Âu Mỹ bất kể bọn truyền thông này đã luôn xúc xiểm Việt Nam, láo xạo về Việt Nam, và hỗn láo gọi lãnh đạo Việt Nam là “thugs”:

Triết gia Søren Kierkegaard, nhà thơ Đan Mạch, nhà phê bình xã hội, nhà văn khôi hài, cha đẻ của Thuyết Hiện Sinh, người kịch liệt công kích thói đạo đức giả của Giáo Hội Công Giáo, đã luôn đơn độc, bị chống đối, và đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ, để rồi hậu thế tôn vinh ông là người chứng của chân lý.

Kim Jong-un đã luôn đơn độc đối với thế giới vì đất nước của ông bị cái thế giới đầy dẫy kẻ thù và bọn vong ân bội nghĩa bủa vây, luôn bị thế giới chống đối chỉ vì ông bảo vệ hữu hiệu Triều Tiên tồn tại cho đến ngày nay thay vì đã bị tàn diệt từ nhiều chục năm trước. Ắt chỉ sau khi ông ra đi còn Triều Tiên hỗn loạn bần cùng tiêu vong vì thiếu vắng ông, hậu thế mới sẽ tôn vinh ông là bậc vĩ nhân trọn đời vì nước vì dân trong hoàn cảnh nước ấy và dân ấy luôn là mục tiêu mà Mỹ-Hàn phải tiêu diệt cho bằng được còn cả thế giới thì ngoảnh mặt làm ngơ.


Từ tất cả những biện luận trên, có thể kết luận về chân lý cùng vấn nạn của chân lý rằng:

1) Sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt là để có cơ may lớn hơn cho sự sinh tồn hàng loạt, và chỉ có lãnh tụ/lãnh đạo vĩ đại thực sự mới làm cho quốc gia mình sở hữu vũ khí nguyên tử.

Nếu các lãnh tụ/lãnh đạo của Mỹ, Nga, Tàu, Anh, Pháp “vĩ đại” vì đã làm nước họ sở hữu vũ khí hạt nhân để khống chế nhân loại, thì tại sao trong khi im miệng không nói gì đến Ấn Độ, Pakistan, Israel cũng là những nước sở hữu vũ khí nguyên tử, lại lớn tiếng miệt thị Kim Jong-un, xem Triều Tiên là mối nguy hiểm “đe dọa thế giới” dẫn đến cá nhân Kim Jong-un phải bị tiêu diệt, chế độ Triều Tiên phải bị tiêu diệt, và quốc gia Triều Tiên cùng người dân Triều Tiên phải bị tiêu diệt?

Ấn Độ được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Tàu “Tây Tiến” đe dọa Châu Âu vốn là tấm khiên chắn che bảo vệ Mỹ từ cánh Đông.

Pakistan được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Ấn Độ trở thành một “siêu cường” như Mỹ.

Israel được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Khối Ả Rập “Hồi Giáo” manh động chống Mỹ.

Triều Tiên phải bị Mỹ tiêu diệt vì trong hoàn cảnh nếu không bao giờ tiêu diệt được Nga-nguyên-tử và Tàu-nguyên-tử thì chí ít Mỹ cũng phải cố định danh sách kẻ-thù-nguyên-tử, không cho phép danh sách ấy gia tăng.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

2) Việt Nam nếu sở hữu vũ khí nguyên tử thì đã không bị Tàu liên tục tự tiện lấn chiếm ở Biển Đông, tự tiện tuyên bố chủ quyền toàn Biển Đông để tự tiện kéo dàn khoan vào Biển Đông, tự tiện quân sự hóa các hải đảo ở Biển Đông để tự tiện khống chế Việt Nam từ cánh Đông, và tự tiện hỗn xược với Việt Nam.

Ấn Độ nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên Tàu chỉ có thể thậm thà thậm thụt lấn đất gây ra căng thẳng biên giới lời qua tiếng lại rồi thỏa thuận rút vũ khí hạng nặng ra khỏi “vùng tranh chấp” và rút quân, thậm thà thậm thụt xây dựng hạ tầng ở nơi thâm sơn cùng cốc không có sự canh giữ của Ấn Độ để rồi tuyên bố chủ quyền – tức ngược lại với kiểu áp dụng cho Việt Nam: tuyên bố chủ quyền trước và công khai xây dựng hạ tầng sau.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên rất hào hùng khí thế, chưa bao giờ quy lụy trước Tàu, thường xuyên đặt Tàu vào thế “đồng sự” ngang hàng trên bàn cờ chính trị với Mỹ, thường xuyên làm Tàu mất thể diện với Mỹ do Tàu không thể “ra uy đàn anh sai bảo” được Triều Tiên.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên vẫn tồn tại bất chấp các kế hoạch phá hoại hay tấn công của Mỹ đơn giản vì hậu quả của sự phá hoại hay tấn công đó cũng khiến Tàu và Hàn Quốc gánh thiệt hại lây lan nặng nề.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

3) Việt Nam sẽ không bao giờ còn có cơ hội sở hữu vũ khí nguyên tử nên vĩnh viễn phải áp dụng chiến thuật nhũn mềm và chịu đựng.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” – qua sự diễn giải đầu tiên trong lịch sử Việt Nam như đã nêu ở trên của tác giả bài viết này – không bao giờ là thứ vũ khí hữu hiệu ra hồn trên chiến trường của chiến tranh nguyên tử.

Ngay cả tuyên bố theo đuổi chính sách “chung sống hòa bình” cũng là tuyên bố của bên yếu thế, y hệt hình ảnh một con người nặng 60kg cao 1 mét 60 tốc độ 5km/giờ mặc áo the thâm cầm chiếc loa công suất lớn tiến đến trước bầy đàn lúc nha lúc nhúc sư tử 250kg, cọp 310kg, gấu trắng 450kg, gấu nâu 600kg, beo tốc độ 58km/giờ, linh cẩu luôn nhai sạch đến 95% dân số các mãnh thú khác kể cả chúa sơn lâm, cá sấu Úc dài hơn 5 mét, và trăn Mỹ dài hơn 8 mét, để dõng dạc tuyên bố “chúng tôi yêu hòa bình, chống chiến tranh, muốn chung sống hòa bình với các bạn” thì chỉ cho ra hoặc một truyện cười dành cho trẻ con, hoặc một cái kết hình sự pháp y rằng chỉ còn thấy có chiếc loa móp méo nằm trên mặt đất.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì bọn siêu cường sở hữu thông qua Liên Hợp Quốc đã cấm đoán, trói tay tất cả các quốc gia còn lại, không cho phép sở hữu, và xúm lại bủa vây cấm vận triệt tiêu.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã mất thời cơ từ tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của các thời kỳ lãnh đạo.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã hoàn toàn sai lầm trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo khi luôn tầm thường hóa kỹ thuật, chỉ tôn vinh từ chương chữ nghĩa học vị học hàm trong dụng nhân, nên toàn xã hội đông nghẹt “quản trị kinh doanh” “ngân hàng” “kinh tế” “kế toán” chỉ biết hoặc than thở thất nghiệp hoặc thực hiện mọi yêu cầu của lãnh đạo khiến nảy bung bét ra hết đại án này đến đại án khác; và ngoài mấy cháu “ai-ti” chỉ biết đẻ ra game-on-line hốt bạc thì mất hút mất biệt mất tăm mất tích mất dạng các nhân lực kỹ thuật cơ khí hạng nặng cao cấp/vũ khi nguyên tử lực trừ lực lượng “kỹ thuật” đóng tàu cá vớ va vớ vẩn mà công lực phát huy mạnh mẽ nhất là cực nhanh rỉ sét và uể oải ễnh bụng nhàn hạ nằm bờ; cũng như mất hút các thời cơ ấy toàn do tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của lãnh đạo tất cả các thời kỳ kiến quốc, với các kế sách mà tác giả bài viết này đã từng bảo trong nhiều bài blog là quái gở phi hiện thực như “đi tắt đón đầu” và “hợp tác bốn nhà”, v.v., ở phía Nhà Nước, hay “thiên đường cà-phê”, v.v., ở phía “đại gia tư nhân”.

Để nhạo báng một bộ phận cực lớn trong thiên hạ kém thông minh luôn ra rả xướng ca suốt về tự do ngôn luận,  người chứng của chân lý Søren Kierkegaard đã phán: “Người ta đòi hỏi quyền tự do ngôn luận chỉ vì nó là sự đền bù cho quyền tự do tư tưởng mà hiếm khi họ sử dụng. (“People demand freedom of speech as a compensation for the freedom of thought which they seldom use.”)

Để nhạo báng một bộ phận không nhỏ trong nhân gian kém thông minh luôn ra rả lập đi lập lại các điệp khúc của thế giới gian manh nguyền rủa bôi nhọ lãnh đạo Triều Tiên, tác giả bài viết này tận dụng tự do tư tưởng trước khi sử dụng tự do ngôn luận để phán:

“Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn  12-9-2017

Bôi Nhọ 02-12-2015

Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước, MIB


Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước


 (Bài đăng lần đầu trên Emotino ngày 02-7-2009 tại

Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia như choàng tỉnh sau giấc đông miên nhận ra một thực tế rằng việc lao lung suốt mấy mùa thuận lợi góp nhặt thành quả cũng phải là để chất chứa trong kho lẫm làm nguồn tích lũy dài lâu, và rằng sự đầu tư chăm chút cho cái kho lẫm ấy cũng được xem quan trọng ngang bằng tức phải đạt mức vững chãi, rộng lớn, an toàn cao. Thế giới bắt đầu vừa tiếp tục không buông lơi tìm thị trường xuất khẩu vừa chăm chút cho thị trường nội địa, và thế là cụm từ phát huy nội lực được sử dụng để khuyến khích cổ vũ cho các cố gắng tự cứu mình trong sản xuất kinh doanh. Song, phát huy nội lực còn cần phải nhìn đến yếu tố con người vì chính con người vận hành điều chỉnh sự thành hay bại đại cuộc phát huy nội lực của nền kinh tế một quốc gia.

1) Khi nói đến con người Việt Nam, bất kỳ ai trên thế giới này cũng nêu điệp khúc của cần cù, chăm chỉ, chịu cực chịu khó, tức những gì rất quen thuộc nhưng lại không bao giờ là thứ độc quyền của người Việt vì các dân tộc khác cũng có những “phẩm chất” này – thậm chí tốt hơn – ngay từ thời lao động giản đơn của nô lệ ngàn xưa, nên chẳng tạo ra khác biệt tích cực trong đời sống hiện đại và thực tế của Việt Nam ngày nay, trong đó, năng lực cùng ý thức hay tư duy của từng cá nhân về đổi mới, sáng tạo, trí truệ cùng sở hữu trí tuệ, và động lực cho tất cả mới là thành tố nội lực duy nhất đáng được nói đến và phát huy. Thế nhưng, vì sao lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và luôn “được” các nước xem như nguồn nhập khẩu lao động rẻ tiền, không thích hợp.

Trước hết, có một thực tế là điệp khúc nêu ở trên có thể đúng với người Việt Nam lao động chân tay cá thể hay gia đình, chứ chưa phải luôn có nơi các giới “cổ cồn trắng” tức giới làm việc văn phòng đòi hỏi phải có học lực chuyên môn và kiến thức quản trị nhất định trên nguyên tắc có thu nhập cao hơn và có đóng thuế nhiều hơn, và cả giới “cổ cồn xanh” tức lực lượng công nhân tại các doanh nghiệp. Bấy lâu nay chỉ có chuyện nêu gương những bậc làm cha làm mẹ bương chải cơ cực đủ điều ở các tỉnh kiếm tiền cho con vào Thành phố Hồ Chí Minh lây lất “học chữ”, mục đích giống y như ngàn xưa vẫn là để con cái có việc làm “sung sướng không cực như cha mẹ” chứ chưa hề nêu gương bậc làm cha làm mẹ nào đó đã nai lưng cày bừa cho con vào thành phố học nghề cả!

Chính cái tư tưởng chỉ xem trọng “học chữ” ấy của “vinh thân phì gia” đã làm biến dạng mục đích của sự “ăn học”, triệt tiêu những gì dính dáng đến cần cù chịu cực chịu khó trong lao động vì sự nghiệp. Cần cù đèn sách để tránh xea khỏi cái cần cù trong lao động hậu sách đèn, và chịu cực chịu khó học tập trên chính sự lao nhọc kiếm tiền của mẹ cha và anh chị thì nào phải là sự chịu cực chịu khó sau khi đã tốt nghiệp có được việc làm, nên cái thành phẩm của giáo dục của xã hội lại là lớp đông người cổ cồn trắng có mong muốn được làm việc ít nặng nhọc hơn với lương cao hơn và điều kiện làm việc sung sướng khỏe hơn nhàn hạ hơn, khiến nguồn lực có lạm phát về lao động “chữ” trong khi ngày càng thiếu hụt nghiêm trọng lớp lao động kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu lớn của xã hội. Đó là chưa kể đây còn chính là rào cản tâm lý khiến nhiều người trong số họ hưởng nhàn ngay khi bước chân vào thế giới việc làm. Có thể ai cũng sẽ nói làm việc với “Tây” rất mệt, làm việc với “ta” khỏe hơn. Song, thực tế cho thấy ngay cả khi làm việc với “Tây” mà họ than là rất mệt ấy thì cung cách làm việc ở nhiều người cũng rất “tà tà”, luôn kiếm cách để được “nhàn” hơn, và stress dường như chỉ có ở một ít người có vị trí cao hơn mà thôi. Chuyện gánh thêm việc thì càng hãn hữu.

2) Vấn đề tiếp theo là đối với số ít “cổ cồn trắng” may mắn có được hiểu biết đúng đắn tự thân về tích cực vươn lên qua lao động sáng tạo, họ vẫn có khi không gặp may trong môi trường làm việc thiếu hụt cạnh tranh nhưng dư thừa ganh tỵ – một điều tiêu cực đau xót luôn mãi được dấu diếm, khỏa lấp như điều cấm kỵ nhạy cảm không nên nói về cộng đồng người Việt, đó là: nơi đâu có nhiều người Việt hơn, nơi đó sẽ có ít hơn sự đoàn kết tương thân – hoặc nói cách khác, sẽ có nhiều hơn sự câu kết bè phái và phe nhóm. Sự ganh tỵ không những dễ thấy nơi những người làm việc chung ngang bậc hay bậc dưới đối với bậc cao hơn, mà còn kỳ quái khi lại có nơi chính người trên – thậm chí ngay ở cấp CEO và thậm chí CEO của công ty nước ngoài – đối với người dưới nào giỏi hơn – tất cả dẫn đến những người “may mắn” sẽ không dám phát huy cái may mắn trời ban của mình, triệt tiêu năng lực sáng tạo tự thân, chấp nhận “bị” hưởng nhàn để được yên thân.

Vụ thảm sát gia đình một Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Hiệu Trưởng một trường Đại học ở Việt Nam tháng 8 năm 1997 là một thí dụ khi cấp trên ém tài giảng viên cấp dưới vì cấp dưới có khả năng trở thành nhà khoa học nguyên tử lực tài danh của đất nước. Ngoài ra, hầu như chỉ những “phát huy sáng kiến” rất bình thường – đa số là về “tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất và giờ công lao động” – của cấp dưới và cấp thấp như của giáo viên, nhân viên, công nhân lao động, mới được vinh danh, còn sáng kiến nổi bật, xuất sắc, tầm cỡ nào của cấp nào gần sát lãnh đạo hay của chính lãnh đạo dường như vẫn là điều bí mật với công chúng, khiến vô hình chung tạo nên một thông điệp mặc định cho toàn xã hội rằng năng lực đổi mới sáng tạo không là điều cần thiết, thậm chí là điều không nên có trong nội bộ cơ quan hay công ty, vì năng lực ấy đe dọa chiếc ghế của người cấp cao hơn hoặc chỉ đồng nghĩa với năng lực nguy hiểm tiềm tàng một lật đổ soán ngôi.

3) Thứ đến, chiêu bài tập thể rất có thể cũng được sử dụng cho mục đích tiêu cực khi một công trình cá nhân bị gợi ý mang danh tập thể để đôi bên cùng có lợi : cá nhân được tài trợ hoặc công trình được trao giải thuận lợi, còn tập thể có tên các cấp cao hơn để củng cố vị trí lãnh đạo dài lâu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều cá nhân phải bỏ dỡ công trình nghiên cứu của mình do không chấp nhận sẻ chia quyền sở hữu trí tuệ.

4) Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là cơ chế mang tính quốc gia đối với vấn đề nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và củng cố động lực của nhân viên Việt Nam, trong đó kế thừa là thực tế chứ không là lý thuyết.

Cách nay mười năm (1999), Chính phủ tuyên bố chuẩn chi ngân sách cho việc đào tạo nhân tài với chương trình chọn gởi người du học nước ngoài. Song, điều này có khi lại bị hiểu lầm rằng Việt Nam đang không có nhân tài, rằng không có ai trong mấy mươi triệu dân đã qua học tập và đang đóng góp dựng xây chủ lực cho nền kinh tế quốc dân là nhân tài sẵn có đáng được mời mọc để trọng dụng, và rằng “nhân tài” phải do nhà nước bỏ tiền ra đào tạo chứ những công dân đoan chính không làm gánh nặng của tổ quốc tự đầu tư cho việc học của mình thành danh ở nước ngoài thì không nằm trong danh sách “nhân tài”. Đó là chưa kể người được chọn cử đi du học là trên cơ sở có mang tính thuyết phục cao không và cao đến mức độ nào, tất cả có sẽ hoàn tất thành công việc học tập không, tất cả có sẽ trở về nước sau tốt nghiệp không, tất cả có sử dùng quyền tự do của công dân để không làm việc cho các cơ quan nhà nước khi tốt nghiệp không, và tất cả có thực sự thành nhân tài cống hiến hiệu quả, trung thành với công cuộc dựng xây đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa hay không. Tập trung cho việc đào tạo nhân tài theo bài bản ấy tức bỏ qua tính kế thừa vì đã không nói gì về nhân tài đang có. Sự chuyển giao trọng trách sẽ có khoảng trống một thập niên hay một thế hệ, khiến nhiều người thờ ơ với việc nâng cao năng lực, còn động lực bị lệch hướng hoặc triệt tiêu, gây phản ứng tiêu cực dây chuyền nơi lớp trẻ tức những người hiện nay sẽ thêm thụ động mất hết động lực khi vừa chứng kiến việc nhân tài “đang có” không được dùng, vừa biết số nhân tài được “gởi đi đào tạo” sắp về chiếm hết các công việc quan trọng, không còn chỗ cho lòng tin vào ý nghĩa kế thừa và sự cần thiết của vươn lên.

Do đó, ngày nào cơ chế chưa có những thay đổi tích cực căn cơ và mang tính pháp lệnh, ngày ấy người lao động Việt Nam – bất kể màu sắc của cổ cồn – còn bị đánh giá là chưa đạt chuẩn mực về năng lực sáng tạo, làm việc thụ động, ít tinh thần trách nhiệm cá nhân, và khó thể trở thành con người giúp vận hành hiệu quả chương trình phát huy nội lực nước nhà.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Tham khảo:

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật October 6, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Đại Học November 4, 2015

Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014

Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Đi Tắt Đón Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB


Đi Tắt Đón Đầu – Định Nghĩa Đầu Tiên

(bài được đăng lần đầu tiên ngày 05-3-2009 trên Emotino tại

Nhóm từ “đi tắt đón đầu” đã được sử dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây với một ứng dụng mới khi gắn kết vào trong hoạch định chính sách quốc gia; song như một thông lệ trầm kha ở Việt Nam, chưa bao giờ có một phần định nghĩa mới bất kỳ cho nhóm từ mới hay nhóm từ mang tính thành ngữ được cho thêm một ý mới, khiến không thể đem lại sự thông hiểu tự động tự nhiên đồng nhất nơi mỗi người đọc, nghe, thấy, viết lại cụm từ.

Trước hết, cần phải hiểu “đi tắt đón đầu” là một khả năng siêu việt chỉ có nơi những người mạnh khỏe, cường tráng, có sức chịu đựng cực cao, tinh khôn, nhanh nhẹn, quyết đoán, sáng tạo, và quả cảm khi lao vào nơi cực kỳ gian khó mà thành hay bại chỉ là một đường ranh nhỏ chứ không phải trên một tỷ lệ hên xui may rủi 50/50. Thừa hưởng một gia tài kếch sù – từ cha mẹ hay từ Nhà Nước – rồi nhàn hạ chạy lung tung, đầu tư lung tung, hoàn toàn không phải “đi tắt đón đầu” mà là “lấy thịt đè người” của giới đầu cơ speculator không hơn không kém.

Một vài thí dụ nhất thiết cần được đưa ra để làm rõ lập luận trên.

Trong nhiều phim hành động, diễn viên chính loại cơ bắp như ngài Thị trưởng California hoặc bậm trợn như Clive Owen hay lạnh lùng diễm tuyệt như Matt Damon không bao giờ rượt kịp chiếc tàu hỏa cao tốc nên phải “đi tắt đón đầu” bằng cách chạy như bay lên đồi cao, bị cây cối quất vào thịt vào da vào mặt bật máu, rồi lúc chạy xuống dốc đồi phía bên kia có khi té lăn đùng qua các bụi gai góc, để rồi có khi té xuống hướng ngay trước đầu máy xe hỏa đang vùn vụt lao tới (may mà níu được bờ tường của đường hầm xuyên núi tích tắc trước khi đầu xe lao ra, và sau đó buông tay rơi xuống một toa áp chót để có mặt trên cùng chuyến tàu cao tốc của những người đã mua vé danh chính ngôn thuận từ nhà ga khởi hành xa lắc xa lơ). Đó là “đi tắt đón đầu”. Không cơ bắp, không nhanh nhẹn, không tính toán cân đối sức lực và thời gian một cách khoa học, không lao vào ngõ tắt chưa dấu chân người thì sẽ cứ mãi chạy chân rượt đuỗi trên đường ray các đại gia làm sẵn cho các toa tàu của họ  trong khi con tàu bon bon trên đường ray của chính nó mãi mãi rời xa.

Trong cuộc chiến tranh Chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, lớp lớp đoàn quân dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh Cộng sản Việt Nam, đã chôn vùi tận đáy bùn đen tên tuổi các tướng lĩnh đối phương làm đời đời hoen ố uy danh của học viện quân sự West Point Hoa Kỳ và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung Việt Nam Cộng Hòa, khi đã đưa bao binh đoàn áp sát tiền đồn đối phương, thọc sâu vào trung tâm thị tứ đối phương, chiếm đóng ngay Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, mà đối phương với kỷ thuật hiện đại và tình báo tinh nhuệ vẫn không sao phát hiện được bụi, khói, tiếng động, bóng người của những cuộc hành quân. Đó là một công trình “đi tắt đón đầu” đích thực và hoàn mỹ. Một cuộc “đi tắt” để đón đầu diệt địch. Một cuộc “đi tắt” kéo dài đến mấy mươi năm, hy sinh biết bao, gian khổ biết bao, để “đón đầu” thời kỳ độc lập, tự chủ, hòa bình, phát triển.

“Đi tắt đón đầu” do đó phải mang tính “bí mật”, có tính chiến lược, với đầy sách lược cụ thể cho từng giai đoạn, tận dụng hết sức lực, để cuối cùng có mặt trên con tàu cao tốc không chịu dừng đón khách dọc đường để cùng nó lao đến vinh quang, hoặc giúp người “đi tắt đón đầu” từ từ bò trên nóc các toa tàu tiến lên phía trước, leo xuống buồng lái, rồi trở thành đầu tàu của các toa tàu đại gia.

Việt Nam vừa được xóa cấm vận, mọi người ùa vào thì sao mà gọi họ là “đi tắt đón đầu”? Phải hùng dũng như Pepsi-Cola vào Việt Nam khi vòng vây cấm vận vẫn còn, nằm gai nếm mật với Việt Nam, để rồi khi cấm vận vừa được tuyên bố xóa bỏ thì Pepsi-Cola đã có ngay (sản xuất vài tuần trước đó) sản phẩm Pepsi-Cola bày ra khắp nơi tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh để mời người qua đường ghé vào uống miễn phí, với cờ hoa biểu ngữ đón mừng sự kiện xóa cấm vận Việt Nam. Đó mới là “đi tắt đón đầu” nghĩa là đi vào con đường chưa có lối đi (khung luật pháp của chính quốc Hoa Kỳ) và chưa ai nghĩ đến việc “đi tắt đón đầu” (Coca-Cola vẫn còn ẩn núp bên Thái Lan dõng tai nghe ngóng).

Tóm lại, “đi tắt đón đầu” là một thành ngữ tuyệt diệu, không phải là chuyện giản đơn như kẹt xe thì chui vô các ngõ, các hẻm, các ngách, các “kiệt”, một cách tự phát, không chuyên nghiệp, lấn dùng lối đi nhỏ hẹp có nhiều trẻ em gia đình không khá giả đứng chơi, gây thêm hỗn loạn và hạ thấp tư cách công dân.

“Đi tắt đón đầu” phải là như trong thời cực thịnh của máy vi tính, IBM quyết định bán hết cơ ngơi cho một hãng vi tính Trung Quốc, còn mình tập trung cho các giải pháp quản trị và tư vấn.

“Đi tắt đón đầu” hoàn toàn không phải là thấy người ta phát triển nhãn hiệu điện thoại di động thì nhanh tay tung tiền mở công ty và mua nhiều cơ ngơi mở nhiều chi nhánh bán điện thoại của các hãng điện thoại hầu nắm nhiều khách hàng hơn đối thủ cạnh tranh nghĩa là thực chất chỉ là đầu tư địa ốc chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển sản xuất điện thoại di động; cũng không phải thấy nước ngoài có nhiều đại gia siêu thị là tung tiền nhà nước mua đất vàng ở khắp các tỉnh thành để mở siêu thị trước mà thực chất chỉ là chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển kinh doanh bán lẻ giá sĩ; cũng không phải nghe nói nước ngoài phát triển công nghệ thông tin là vội vàng cho trường lớp trang bị máy vi tính mà thực chất chỉ là kiếm cớ xin xỏ xài sạch tiền ngân sách.

“Đi tắt đón đầu” mà cứ bô bô cái miệng nói về cái “quốc sách đi tắt đón đầu” của ta thì rõ là ta cực kỳ thiếu thông minh, công bố cho toàn thiên hạ biết rõ về “âm mưu” của ta để từ đó thiên hạ né lạng qua chỗ khác cho chúng ta mặc sức tha hồ đi tắt để đón đầu dĩ vãng.

Chừng nào ý nghĩa sâu xa của thành ngữ “đi tắt đón đầu” còn chưa được nghiêm túc hiểu đúng, chừng đó việc “đi tắt đón đầu” vẫn sẽ còn là câu cú cho sự cười cợt và nước ta bao giờ mới có được con đường tắt đúng nghĩa để dồn toàn lực lao đi đón đầu để cùng có mặt trên con tàu của các siêu cường sau 20 năm nữa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cùng chủ đề “hãy cẩn trọng khi sử dụng thành ngữ”:

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Quốc Nhục

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Đả Đảo TPP

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Khóa XIII


TPP (3)

A) Giải Nghĩa Từ Ngữ

1- Đả Đảo TPP là tựa đề một bài viết của một công dân Mỹ, anh M. Tyler, một lâp trình viên ở Thung Lũng Silicon chống lại Tổng Thống Barack Obama vì đã tham gia thành lập TPP. Tuy nhiên, bài viết dưới đây không là bài dịch và cũng không liên quan đến bài viết ngắn ngủn của M. Tyler, mà chỉ đơn giản là sự trùng tên của tựa đề bài viết này với tựa đề bài viết của M. Tyler cũng như trùng với lời hét như sấm dậy của người dân “thế giới tự do” kêu gào Đả Đảo TPP mà thôi.

2- TPP Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, được bộ trưởng đại diện 12 nước Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Malaysia, Mexico, New Zealand, Nhật Bản, Peru, Singapore, và Việt Nam, ký kết ngày 04-02-2016 tại Auckand, New Zealand.

3- TPP tại Việt Nam: Dù tham gia đàm phán từ 2008, Việt Nam – cùng tất cả các nước có liên quan – đều giữ bí mật tuyệt đối nội dung TPP.


Thỉnh thoảng có vài chương “nhạy cảm” được “rò rỉ” bởi WikiLeaks từ năm 2013 làm dấy lên những quan ngại sâu sắc và chống đối mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

Giữ tuyệt mật luôn là hành động chuyên nghiệp, đúng đắn, nhưng PHẢI TRÊN CƠ SỞ SONG PHƯƠNG, y hệt như việc trả giá của một bà nội trợ với một người bán hàng ngoài chợ và giá bán là giá đồng thuận riêng chứ không được bà nội trợ dùng loa phóng thanh báo cho các bà nội trợ khác, tương tự như phỏng vấn xin việc tại một công ty cực kỳ lớn và cực kỳ chuyên nghiệp đẳng cấp quốc tế thì luôn là đàm phán riêng tư có yêu cầu bảo mật chứ không bao giờ theo cái quái quỷ “thang lương bảng lương” kiểu đổ đồng như ở Việt Nam xem nhẹ năng lực đàm phán của mỗi ứng viên.

TPP là một định chế ĐA PHƯƠNG nên chuyện giữ tuyệt mật suốt thời gian gần chục năm đàm phán là điều kỳ quái không bao giờ người dân đoan chính ở những quốc gia văn minh tiến bộ chấp nhận, khiến dấy lên những giả định – mà than ôi, lại là sự thật 100% sau khi TPP được ký kết – rằng các siêu tập đoàn tư bản khống chế toàn bộ các thỏa thuận trong nội dung TPP.

Nội dung duy nhất và chính thức về TPP được Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng – người đại diện Việt Nam sang New Zealand ký kết TPP – thể hiện trong Báo Cáo Số 79/BC-CP ngày 18-3-2016 dài tổng cộng 22 trang khổ A4, gởi các nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII trong kỳ họp chót tháng 4-2016 tại Hà Nội

TPP (1)

trong đó khoảng 3 trang giới thiệu qua loa về TPP, khoảng 1 trang về quá trình đàm phán TPP, 11 trang về các nội dung đàm phán và kết quả đàm phán, 6 trang về cơ hội và thách thức khi gia nhập TPP, và nửa trang về các bước triển khai tiếp theo – nghĩa là chẳng nghị sĩ nào được nhận bản nội dung hoàn chỉnh của TPP hay  bản tóm tắt tức summary của TPP, mà chỉ nhận bản trên y như một bản báo cáo thành tích kèm phân tích toàn thuận lợi sáo rỗng để mê hoặc các nghị sĩ hãy yên tâm nhấn nút phê chuẩn mà thôi; trong khi đó, Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng toàn văn của TPP không những dài đến 5.600 trang mà còn cực kỳ phức tạp không mấy người dân Mỹ có thể đọc hết mà hiểu tường tận được.

B) Quái Gở TPP

Trước thực tế quái gở như trên về TPP đã được trình diễn tại Quốc Hội Khóa XIII;

Trước sự thật là bản tiếng Việt của TPP đã hiện diện trên các trang web của các cơ quan có liên quan mà người dân Việt nếu quan tâm có thể dễ dàng tải về tự nghiên cứu;

Trước sự thật là truyền thông đã cung cấp rất nhiều bài viết về những thuận lợi và thử thách khi gia nhập TPP – mà ngữ nghĩa của “thử thách” trong dụng ý tiếng Việt chỉ mang ý rằng “rất hấp dẫn nên phải chấp nhận để vượt qua” – cũng như tập trung phê phán Donald Trump đã rút khỏi TPP, xem như Mỹ bỏ Biển Đông cho Trung Quốc (!), và bỏ luôn ưu thế thị trường khổng lồ TPP;

Với tư cách chuyên gia duy nhất ở Việt Nam có hiểu biết thực tế, có hoạt động thực tế, có giảng dạy về hợp đồng kinh tế ngoại thương, có chứng minh cụ thể năng lực nhận diện điều khoản tiêu cực và hùng biện giải cứu cơ quan nhà nước và nông dân qua “Sự Cố Hạt Điều” mà Báo Tuổi Trẻ thủa xa xưa có đưa tin; và đặc biệt

Với tư cách một nghị sĩ lúc đương nhiệm Khóa XIII đã được đại diện một tập thể hơn 100 doanh nhân nước ngoài tại Việt Nam tiếp cận mời đến phát biểu hội thảo (bằng tiếng Anh) về TPP, tại đó diễn giả hai người gồm một luật sư danh tiếng của EU sẽ hùng biện về Pros tức những tốt đẹp của TPP sẽ mang đến kinh tế Việt Nam và một nghị sĩ Việt Nam là tác giả bài viết này sẽ hùng biện về Cons tức những tiêu cực TPP sẽ gây ra toàn diện cho Việt Nam (buổi hội thảo hoành tráng đã không diễn ra như ý do tác giả bài viết này lại đang trong thời gian nằm viện dài lâu dù vị luật sư nước ngoài cố gắng thuyết phục cũng như hứa thu xếp có người đỡ đần đón tại bịnh viện, đẩy xe lăn hay dìu đỡ tác giả bài viết này lên sân khấu);

Tác giả bài viết này, do đó, có đầy đủ tư cách để nói về Cons đối với TPP, và sẽ chỉ dành thời gian nói về những điều truyền thông Việt hoặc không biết hoặc không muốn nêu lên hoặc bị cấm đưa tin, cùng những nhận xét hoàn toàn độc lập của riêng tác giả.

1) “Biểu Tình”

Một vấn đề kỳ lạ phát sinh ngay từ trước khi TPP được 12 nước ký kết là đã có nhiều cuộc “biểu tình” chống đối TPP.

Những anti-TPP rallies rầm rộ nổi lên ở nhiều nước, đặc biệt tại Mỹ (có đến 27 thành phố trong đó có Los Angeles, Chicago, Dallas, Denver, Detroit, và Thủ Đô Washington), Úc, New Zealand, Malaysia, Chile, Canada, v.v. Nhiều cuộc “biểu tình” đã biến thành bạo loạn xung đột dữ dôi với cảnh sát chống bạo động, và có cuộc quy tụ đến 65.000 người như ở Quảng Trường Zocalo của Mexico.

Điều khôi hài cần lưu ý ở đây là trong tập thể 12 nước đặt bút ký TPP thì sự chống đối mãnh liệt nổ ra ở 9 nước, còn 3 nước còn lại thì yên ắng bình chân như vại (do Singapore độc tài tuyệt đối cấm “biểu tình” bất kể vì mục đích gì, Brunei có luật lệ Hồi Giáo khắt khe chỉ cho phép “biểu tình” trước Đại Sứ Quán Brunei ở …Hoa Kỳ nghĩa là nếu có nhu cầu “biểu tình” thì cứ đơn giản sang Mỹ “biểu tình” xong thì về, còn Việt Nam chỉ “biểu tình” để “chống Cộng và chống Chính Phủ” hoặc theo lịnh các “cha” chứ chẳng ai hơi đâu bỏ ra 6 tháng đọc mỗi ngày 30 trang cho hết 5.600 trang TPP tiếng Anh hoặc tiếng Việt để xem thử xem có những điểm nào có thể gây phương hại đến quyền lợi quốc gia dân tộc hay không).

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước lớn dưới sự thống trị của các tập đoàn tư bản khổng lồ thì tại sao dân các nước lớn ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ, yêu nước, và yêu lẽ phải, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), chính phủ cường quốc vinh diệu của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của tiểu quốc thấp yếu nào đó trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ, còn các nước nghèo trở thành nạn nhân của giới tài phiệt vì chính phủ nước nghèo đã đàm phán bất lợi bất minh trong bí mật.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho các nước nhỏ thì tại sao dân các nước nhỏ ấy lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ yêu họ và yêu nước, do TPP sẽ làm họ mất job (công ăn việc làm), phải trả tiền thuốc y tế cao khủng khiếp, còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Như vậy, nếu quả thực TPP mang lại các nguồn lợi lớn cho nước nhỏ nhất là nước nhỏ ấy đã “thực sự hưởng lợi” từ một định chế thương mại tự do tương tự thí dụ như Mexico đã sẵn có NAFTA với Mỹ thì tại sao dân Mexico lại chống TPP? Hóa ra họ chống TPP vì họ từng trãi, họ yêu họ và họ yêu nước, do TPP sẽ làm họ thêm nghèo đói (như NAFTA đã làm họ phải chui cống leo tường rào vượt biên giới sang Mỹ), còn chính phủ tội nghiệp của họ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

Việt Nam không thuộc “nước lớn”, cũng không là “nước nhỏ đã thực sự hưởng lợi từ một định chế tự do thương mại tương tự”. Việt Nam là “nước nhỏ” nhưng lại không thuộc nhóm “nước nhỏ” nêu trên vì người Việt không sợ mất job, chấp luôn việc thuốc men lên giá, và mặc kệ chuyện chính phủ có nguy cơ bị bất kỳ công ty nào của các cường quốc trong TPP kiện tụng vô phương chống đỡ.

2) Lợi Thế

Nếu nhìn thấy việc chống TPP đã tạo lợi thế tranh cử cho Donald Trump, cũng như thấy Hillary Clinton quýnh quáng bắt chước để tuyên bố ủng hộ hủy bỏ TPP, chấp nhận chõi lại Barack Obama miễn cứu vớt việc rớt phiếu thê thảm, Việt Nam dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

Nếu nhìn thấy việc Công ty TransCanada nương theo điều khoản của NAFTA đang kiện đòi Chính Phủ Mỹ bồi thường 15 tỷ USD với lý do việc Tổng Thống Barack Obama hủy bỏ dự án Đường Ống Dẫn Dầu Keystone gây ra “thiệt hại về lợi nhuận lẽ ra có thể kiếm được trong tương lai” loss of future profits (tức cùng cái kiểu cách ghi rõ trong TPP) cũng như nhìn thấy việc Donald Trump cứu nguy xã tắc Hoa Kỳ bằng cách một mặt ký ngay sắc lịnh tái khởi động dự án Keystone, một mặt tuyên bố hoặc hủy bỏ NAFTA hoặc phải đàm phán lại nội dung NAFTA riêng với từng nước thành viên một, Việt Nam càng dễ dàng nhìn thấy cái lợi thế của việc từ bỏ TPP ngay lập tức.

3) Sự Lén Lút

Có thể nói không chút định kiến – cùng với công luận thế giới – rằng cái gọi là bảo mật tuyệt đối của tổ chức “đa phương” TPP chính là những thỏa thuận đàm phán bí mật lén lút đáng ngờ.

TPP (2)

Việt Nam đã chủ động tham gia tiến trình lén lút ấy, hay Việt Nam đã thụ động để một Bộ trong Chính Phủ tự tung tự tác “đi đêm”, hoặc tung hỏa mù hoặc nôn nóng lập công vì danh vọng hão huyền hoặc móc ngoặc với đại tài phiệt siêu cường, nên đã né tránh hoàn toàn Chương 28 về Giải Quyết Tranh Chấp?

Sự chủ tâm mê hoặc Nhà Nước, ru ngủ Nhà Nước, làm Nhà Nước lú lẩn, còn được tỏ rõ qua việc chỉ trong một đoạn văn ngắn (paragraph) dưới đây, Bộ Công Thương đã 3 lần dùng từ “cơ hội” cộng thêm 1 lần trong chú thích bên dưới. “Cơ hội”, do đó, đầy ắp trong bản báo cáo. Đã vậy, sự tự tung tự tác còn ở mức độ cực cao khi dám cho rằng TPP đáp ứng các “đột phá chiến lược” của Đảng, và đơn giản hóa sự cạnh tranh tàn khốc tàn nhẫn tàn hại chỉ bằng cách cho rằng Việt Nam tham gia vào các chuối cung ứng vô hình nào đó đang cạnh tranh ghê gớm ấy.

TPP (8)

Sự gian trá lén lút còn được thể hiện rõ trong đoạn báo cáo sau, trong đó nêu cực kỳ vắn tắt cực kỳ láo xạo (đối với một chương cực kỳ quan trọng là Chương 28 vốn khiến dậy sóng chống đối toàn cầu) rằng “có việc cho phép nhà đầu tư được kiện chính phủ trong một số trường hợp đặc biệt như khi chính phủ tước đoạt tài sản của nhà đầu tư:

TPP (7)

Việc để trong ngoặc đơn cho thấy đó không là thông tin quan trọng.

Nhóm từ “trong đó có việc” cho thấy đó chỉ là một nhắc nhở phụ trợ.

Việc “tước đoạt tài sản nhà đầu tư” vừa không là nguyên văn của TPP vừa gian xảo khiến người đọc liên tưởng đến quốc hữu hóa vốn là việc hết sức bình thường mà ai cũng cho là mình đã hiểu từ lâu trước đó, cớ gì phải đợi đến TPP.

Trong khi thật ra, TPP quy định rằng chính phủ các quốc gia thành viên phải đền bù cho các công ty/tập đoàn nước ngoài nếu ban hành các luật lệ/chính sách gây ra những thiệt hại cụ thể và những mất mát cơ hội kinh doanh thu lợi nhuận trong tương lai cho các công ty/tập đoàn ấy. Nói một cách bình dân hơn, nghĩa là chính phủ Mỹ phải lấy tiền thuế của dân Mỹ để bồi thường cho một công ty cá tra của Việt Nam nếu Mỹ bày ra các giám định quá nghiêm ngặt khiến công ty cá tra ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm sắp tới từ thị trường Mỹ, hoặc chính phủ Việt phải lấy tiền từ kinh phí xây cao tốc Bắc-Nam để bồi thường cho một công ty bàn chải đánh răng của Mỹ nếu Việt bày ra hàng rào kỹ thuật chất lượng cao hơn khiến công ty ấy mất cơ hội thu được nhiều trăm tỷ USD trong vài năm tới từ kế hoạch mở rộng sản xuất thống lĩnh thị trường từ Việt Nam đánh ra Đông Dương và ASEAN.

Đã lén lút, tất phải che đậy và giấu diếm. Để giấu nội dung Chương 28, Bộ Công Thương đã lý giải ngắn gọn trong hai đoạn sau, hoàn toàn triệt tiêu mức độ nghiêm trọng của Chương 28, và lảm nhảm về sự quái gở rằng các tiêu chuẩn của TPP đích thị là những tiêu chuẩn để “xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa thực sự của dân, do dân, và vì dân”

TPP (9)

4) Vấn Nạn Của Chính Phủ Việt Nam

Như tác giả bài này đã từng viết đâu đó – mà Cô Lại Thu Trúc đã từ bi cóp nhặt trữ lưu – Việt Nam thiếu vắng những chuyên gia đức tài.

Ở Việt Nam, đức chỉ đơn giản là đạo đức cách mạng chứ không là đạo đức con người do cha mẹ rèn nên, khiến cán bộ Nhà Nước có “đạo đức” (tức là người được kết nạp thành “đảng viên” và được tín nhiệm đặt vào hàng ngũ lãnh đạo) thì làm mỗi nơi đến trấn nhậm mất hàng chục ngàn tỷ, vận dụng bài giảng chiến thuật trên sa bàn của cách mạng trong chiến tranh du kích chống Mỹ vào thực tế nên cứ hễ lủi trốn là Nhà Nước có truy bắt toàn cầu vẫn không ra.

Ở Việt Nam, tài chỉ đơn giản là trên cổ có treo lộng kiếng các bằng cấp Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, được sắm sửa bằng tiền thuế của dân, khiến các cán bộ tinh hoa trí tuệ Nhà Nước gây ra sự cố Hố Hô, làm biến mất rừng phòng hộ, gây ra lụt lội khắp nơi, khiến sụt lỡ nghiêm trọng đất ven sông, đẻ ra đoàn tàu sắt tiến ra biển lớn chế ngự Biển Đông để được kéo về lên đất liền sau chuyến thử rời bờ biển với thân tàu rỉ sét lủng lỗ chỗ còn máy móc ắt chỉ hạp xăng thơm máy bay nên không chịu nổ, làm hết heo tới tiêu/điều/dưa hấu/cá sấu phải sắp hàng cầu cứu Chính Phủ ra tay tế độ, ngành hàng không cực kỳ hiện đại thì nuôi đám chuyên viên không thèm trực kiểm soát không lưu bỏ mặc phi cơ bay vòng vòng Thành phố Hồ Chí Minh hơn 30 phút trong khi đám khác thất bại không bảo vệ được hệ thống vi tính sân bay, các nhà kinh tế thì ngồi chơi ngóng chờ TPP mò đến tự làm kinh tế Việt Nam cường thịnh, và giáo sư tiến sĩ lãnh đạo đại học thì chẳng biết phải lấy gì để làm thí dụ cho cái gọi là “sáng tạo” nên vận áo veston, thắt cravat, và mặc quần tà lỏn để minh chứng hùng hồn rằng chỉ có trình độ giáo sư tiến sĩ Việt Nam mới nhận biết chân giá trị của sự sáng tạo vĩ đại nhất của toàn nhân loại: quần tà lỏn.

Chính phủ nhất thiết phải lưu tâm đến sự thật rằng: bất kỳ văn bản tiếng nước ngoài nào cũng có thể được chuyển dịch nhanh chóng chính xác ra tiếng Việt – hoặc ngược lại – nhưng kiến thức về những vấn đề trong văn bản lại thuộc một kỹ năng/năng lực hoàn toàn khác, chưa kể phát hiện vấn đề và tư vấn cảnh báo hoặc sửa sai vấn đề lại là một thứ năng lực hoàn toàn khác và ở một đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

Một khi Chính Phủ không sẵn có ba bộ phận những chuyên gia trên, hoặc không sẵn có một bộ phận những chuyên gia có cùng lúc ba năng lực trên, thì càng không có cơ sở để mặc định rằng một Bộ của Chính Phủ lại giỏi hơn Chính Phủ khi có đến 3 bộ phận ấy hoặc 1 bộ phận có cả 3 năng lực ấy. (Tất nhiên, chỉ có vài bộ đặc thù như Quốc Phòng, An Ninh là thuộc phạm vi phạm trù hoàn toàn khác)

Cũng vì không sẵn có nhân lực như đã nói ở trên, Chính Phủ nhất thiết không được giao phó vận mạng đất nước vào tay những vị Bộ Trưởng. Chỉ cần sự lươn lẹo ngôn từ trong báo cáo, che giấu các hiểm họa khỏi các báo cáo ấy, là các Bộ có thể làm cả Chính Phủ bị dẫn dụ vào nẽo sai lầm gây nguy hại cho tiền đồ của quốc gia dân tộc. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo đã làm Đảng xiêu vẹo với những vụ như Trịnh Xuân Thanh. Việc tin tưởng tuyệt đối vào các báo cáo của các Bộ đã làm Chính Phủ lao đao với bản hợp đồng đầu tư của Formosa.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài trong Đảng về giúp Đảng và Nhà Nước, mỗi khi có đàm phán cho những hiệp định song phương hoặc đa phương, Chính Phủ có thể nhờ tác giả bài viết này đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào các Bộ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Chính Phủ có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra mà người dân chẳng thấy ai chịu trách nhiệm cụ thể cả.

Chính phủ nhất thiết phải lưu ý rằng cái chính trong thế giới toàn cầu hóa là THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG (Fair Trade) chứ không phải là THƯƠNG MẠI TỰ DO (Free Trade).

TPP (4)

Đơn giản vì Công Bằng là đạo đức, còn Tự Do là Cá Lớn Nuốt Cá Bé.

Đơn giản vì quan hệ chòm xóm bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải quan hệ hàng xóm luông tuồng tất cả vào nhà của nhau để ngủ một cách vô duyên vô đạo.

Đơn giản vì không được sử dụng một quan hệ kinh thương để hình thành một hàng rào chơi riêng mà mục đích nhằm phong tỏa chính trị một quốc gia khác — mà ở đây TPP thực chất nhằm phong tỏa Trung Quốc.

5) Vấn Nạn Của Quốc Hội Việt Nam

Như tác giả bài viết này đã từng nêu về chất lượng yếu kém của nghị sĩ Việt Nam, vấn đề là cứ nghĩ đến “cơ quan lập pháp” là người Việt lại nghĩ đến “luật sư” mà không chịu hiểu rằng cả hai chẳng dính dáng gì đến nhau cả vì luật sư là để bảo vệ thân chủ chứ không để tạo ra các dự án luật. Tương tự, bác sĩ chữa bịnh và bác sĩ giải phẩu chẳng dính dáng gì đến chuyên gia hay công ty chế tạo ống chích, kim tiêm, dao mổ, máy móc thiết bị y khoa hiện đại. Tương tự, giáo viên dùng wifiPowerPoint giảng dạy Văn Học không dính dáng gì đến việc giáo viên ấy phải chế ra được laptop hay overhead projector.

Quốc Hội là nơi dành cho những người được bầu vào vì (a) đã được người dân biết đến từ lâu trước đó chứ không phải trên trời bất ngờ đáp xuống, (b) đã có thời gian quản trị công việc chuyên môn ở cấp độ cao và trong môi trường bất ổn chẳng ô dù – tức khu vực tư nhân để nắm bắt đời sống thật nhất của đấu tranh sinh tồn sinh nhai sinh kế của người dân, và (c) được chứng minh rõ nét đã luôn tích cực vì nước vì dân chứ không qua lời giới thiệu láo xạo của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Đáp ứng ba điều cơ bản này mới khiến một nghị sĩ có đủ năng lực lập pháp đạt yêu cầu đưa luật vào cuộc sống.

Không hiểu được điều này failing to understand this, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã vài khóa nay giới thiệu vào Quốc Hội một tên luật sư, mà tên này ngoài những tuyên bố vung vít về sự cần thiết phải có “Luật Biểu Tình” hoặc xem luật ấy là món nợ với nhân dân, hoặc ngoài việc bảo rằng có sự cần thiết để y xách điện thoại thông minh quay phim mỗi khi có “biểu tình” ở Thành phố Hồ Chí Minh để y nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thì từ 2011 đến nay y chưa hề dám sử dụng sáng quyền lập pháp mà nhân dân đã trao vào tay y để nộp cho Quốc Hội bản thảo dự án nào cho cái luật ấy cả.

Cũng theo hướng này, nhiều chuyên viên phục vụ Quốc Hội có xuất thân luật sư; nhưng đã có quá nhiều luật không di vào cuộc sống, hoặc chưa đến ngày có hiệu lực thì đã phải tu chỉnh một cách không vinh dự vì chỉ có sự tu chỉnh khẩn cấp nâng từ cái tốt lên cái tốt hơn đáp ứng nhanh chóng flexible những phát sinh mới toanh của cuộc sống mới là đẳng cấp cao của cơ quan lập pháp, chứ tu chỉnh khẩn cấp do phát hiện sai sót sai quấy sai lầm sai bét thì chỉ là sự nhục nhã mà thôi.

Trong lúc xã tắc đang như nghìn cân treo sợi tóc, trong lúc đốt đuốc giữa ban ngày kiếm tìm các đấng nhân tài do Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu về giúp Quốc Hội, mỗi khi có nhu cầu phải phê chuẩn một hiệp định song phương hoặc đa phương do Chính Phủ đệ trình, để tránh bị Chính Phủ lén lút qua mặt che dấu, Quốc Hội có thể nhờ tác giả bài viết này – vốn là nghị sĩ Khóa XIII – làm công việc (a) thuyết trình bằng tiếng Việt các phản biện độc lập, và (b) đọc qua bản thảo, cho nhận xét về những điểm mà đất nước nên cần trọng, những bẫy rập nào Chính Phủ chưa nhận ra, và những từ ngữ nào cần phải hiệu đính hay yêu cầu hiệu đính lại trong văn bản ấy. Vì rằng, nếu có sai sót xảy ra thì Quốc Hội có thể đổ hết cho tác giả bài viết này, bắt y bồi thường, làm y thân bại danh liệt, thay vì các sai sót nghiêm trọng cứ xảy ra về mặt lập pháp mà người dân chẳng thấy ai trong Quốc Hội đứng ra chịu trách nhiệm cụ thể cả.

C) Phản Quốc

Nếu Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng thực sự chủ tâm dối trá Chính Phủ, che đậy Quốc Hội đối với các nội dung nhạy cảm của TPP, phải chăng nhất thiết phải tiến hành điều tra cho rõ trắng đen để quy tội hoặc không quy tội phản quốc cho ông ấy?


Trên bình diện quốc gia, tôi đề nghị Quốc Hội Việt nam Khóa XIV không chuẩn y TPP.

Trên phương diện cá nhân, tôi tuyên bố: Đả Đảo TPP!

TPP (5)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Khóa XIII

Ghi chú về “Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương:

Do tác giả bài viết này là giảng viên Anh Văn duy nhất về Business Contract (Hợp Đồng Xuất Nhập Khẩu – vào thủa “hồng hoang cấm vận” ở Việt Nam khi xã hội chưa có các hình thức hợp đồng “kinh doanh” nào khác hoặc chưa có hợp đồng “kinh doanh” nào phải có bản tiếng Anh, tất cả đều phải – và chỉ – là công ty nhà nước, nên “business” thuở ấy đương nhiên phải hiểu chỉ có thể là “xuất nhập khẩu” dù là cho hàng hóa hay công trình nhà máy công nghiệp theo các dự án kiểu độc nhất toàn “chìa khóa trao tay”) có thực tế kinh qua công tác đàm phán xuất nhập khẩu/đầu tư/chuyển giao công nghệ, đã có phát hiện những điều khoản bằng tiếng Anh hoặc quái gở hoặc bất lợi cho Việt Nam hoặc bủa giăng bẫy rập lọc lừa của bất kỳ hợp đồng “kinh tế” nào (chẳng hạn như trường hợp “chứng thư hài lòng của bên mua/người mua của bên mua” và cảnh báo với các tổng công ty xuất khẩu hạt điều (nhưng chỉ nhận được lời khuyên rằng “em không hiểu gì cả, Việt Nam mình từ giải phóng đến giờ ký với Ấn Độ toàn có chứng thư đó theo yêu cầu của nó mà có sao đâu”, để rồi sau đó tác giả phải đích thân giúp Nhà Nước Việt Nam đấu khẩu với các công ty Ấn và Đại Sứ Ấn Độ khi thương nhân Ấn vì điều rớt giá đã không cấp “chứng thư hài lòng” dù toàn sản lượng lô điều của khu vực phía Nam đã có chứng thư chất lượng của công ty giám định  quốc tế của Thụy Sĩ SGS Société Générale de Surveillance theo đúng yêu cầu của Ấn Độ – chi tiết của vụ đấu tranh bảo vệ nông dân thành công này có đăng trên báo Tuổi Trẻ thời ấy).

Tham khảo

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc  05-5-2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương  21-01-2015

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore  23-02-2016

Phải Có Luật Biểu Tình 18-8-2016

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Chống Cộng  21-10-2015

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB


Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam

Việt Nam không ở Mặt Trời, cũng chẳng ở Mặt Trăng hay Cửu Tinh (Planet Nine, quay một vòng quanh Mặt Trời mất chẵn 7.300.000 ngày Trái Đất tức 20.000 năm Trái Đất).

Nếu ở Mặt Trời thì người Việt Nam ắt đã đem đến khái niệm về Người Lửa Fireman hoặc Người Chói Ablazeman mà Hollywood chưa kịp nghĩ ra để bổ sung cho đội ngũ các siêu anh hùng truyện tranh hùng hậu đã từng mê hoặc trẻ em cư dân Sài Gòn trước 1975 như Siêu Nhân Superman, Dơi Nhân Batman, Sắt Nhân Iron Man, X Nhân X-man, V Nhân V-man, Mật Nhân Mystery Man, Dẽo Nhân Plastic Man, Báo Nhân Leopardman, Phút Nhân Minute-man, và…Xanh Lè Nhân Hulk, v.v., bán chạy hơn tôm tươi hốt bộn bạc xây dựng nên siêu cường quốc Hoa Kỳ

Screen Shot 05-05-17 at 08.20 PM

Nếu ở Mặt Trăng thì thiên hạ các nước ắt đã hàng đêm bắt ghế ngồi ngoài sân nhìn lên trển để thấy người Việt đang ca hát Bolero và bắn pháo hoa.

Nếu ở Cửu Tinh thì lẽ nào NASA đến giờ vẫn chưa chịu công bố đã phát hiện sinh vật giống con người đang sống trển?

Việt Nam ở Địa Cầu. Không cần phản biện. Tất nhiên rồi.

Thế nhưng, mọi thứ nói về thế giới như một tổ hợp riêng biệt còn Việt Nam đứng trơ vơ trong lãnh địa khác sẽ hoàn toàn điên khùng.

Bài này, do đó, nói về Việt Nam trong một thế giới chung. Và bao giờ cũng là điều đúng đắn nếu nói về mình trước tiên, tránh vết xe dính đầy phân lợn của Hillary Clinton kẻ luôn hằng năm ủn ỉn sủa về tình hình “nhân quyền” của toàn thế giới – mà thế giới ấy hoàn toàn không có Mỹ nên hoàn toàn vắng tên Mỹ trong cái gọi là báo cáo nhân quyền khắp cõi ta bà ấy.

A- Việt Nam Trên Hết

Cũng vì là một thành tố của thế giới, Việt Nam đã bày ra bao việc cho giống với thế giới, chẳng hạn cố nhét các thuật ngữ “quyền con người” vào Hiến Pháp – thay vì ra uy dạy cho nhân loại biết họ đã xâm hại “quyền con người” của người Việt ra sao – và cố ấn cái gọi là “luật biểu tình” vào cái gọi là “món nợ với nhân dân” – thay vì xuất chiêu dạy cho nhân loại biết Việt Nam khoái ngợi ca phấn đấu trở thành như Singapore mà anh Singapopre thì trở thành cường quốc nhờ ảnh dám triệt để cấm “biểu tình”. Ngoài ra, Việt Nam sính “đi tắt đón đầu” – dù việc “đi tắt” của Việt Nam luôn luôn cho thấy là Việt Nam đi lạc đi lộn sau khi vượt chặn ở khúc quanh vì thiên hạ không ngu gì không quẹo chỗ khác để khỏi bị kẻ láu cá chặn đầu đón ngõ.

Tuy nhiên, Việt Nam đã không “đi tắt đón đầu”, để vuột cơ hội bá chủ ngôn từ vào tay Donald Trump, người đã phất cao ngọn cờ Nước Mỹ Trên Hết làm gương cho nhân loại noi theo.

Đáng tiếc hơn thế, Việt Nam Trên Hết chưa bao giờ được thốt lên bởi bất kỳ vị lãnh đạo chính trị hoặc trị chính nào, dù của các triều đại phong kiến, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa, hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay, vì (a) Việt Nam là tiểu nhược quốc và (b) lãnh đạo người Việt chẳng ai có đủ dũng khí và giọng tốt để hét lên câu nói hùng biện dù võn vẹn có mỗi 4 nốt nhạc này.

Việt Nam Trên Hết là khẩu hiệu của thứ đạo đức cao nhất và đạo lý cao nhất của mỗi người dân Việt có đạo đức cao nhất, mà lẽ ra đã luôn phải được thốt ra bằng miệng – kèm nắm đấm vung lên – bởi tất cả những ai ở cấp lãnh đạo quốc gia dù là của Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản.

Câu duy nhất trong toàn bộ lịch sử Việt Nam chất chứa toàn bộ khẩu khí của Việt Nam Trên Hết chính là: Việt Nam Trên Hết.

Việt Nam Trên Hết chỉ bị những kẻ hoặc kém hiểu biết hoặc gian tà cho là mang ý nghĩa cực đoan, chống toàn cầu hóa.

Thậm chí, dù chẳng bao giờ xem Việt Nam Trên Hết để làm Việt Nam đẹp hơn, sạch hơn, giỏi hơn, trí tuệ hơn, trí hóa hơn, văn minh hơn, một số người chỉ cần nghe phong phanh gì đó láo xạo là đã sẵn sàng ra tay động thủ đánh đập tóe máu người nước ngoài nào bị cho là đang chưởi Việt Nam, hoặc xúm lại ném đá người nước trong nào bị Báo Xạo Fake News chính thống của Việt Nam cho là đã mắng  dân Việt Nam có dân trí thấp.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (2)

Chính bởi là một thành tố tạo nên thế giới, Việt Nam nhất thiết phải có slogan “Việt Nam Trên Hết” treo trước cửa theo mô hình Nước Mỹ Trên Hết do Donald Trump khởi xướng, nếu không muốn trở thành đơn độc lẻ loi không ai giống trong một thế giới mà ai cũng khôn khéo sử dụng chiêu bài toàn cầu hóa để phục vụ một mục đích duy nhất: dụ dỗ những nước nhược tiểu ngu muội mà số lượng ngày càng vơi đi thảm hại.

“Tên Quốc Gia + Trên + Hết” là công thức tu từ hiện đại mà Donald Trump đặt ra hầu khống chế tư duy chính trị toàn nhân loại, bắt đầu từ năm 2017 cho đến năm 2199 tức đến hết Thế Kỷ XXII nếu vào thời điểm đó vẫn chưa xảy ra cuộc di dân đến Hỏa Tinh Mars để bắt đầu cuộc sống mới của những cư dân đầu tiên trong môi trường thế giới cộng sản đại đồng Toàn Hỏa Hóa marsalization của Hỏa Tinh thay thế cho cái Toàn Cầu Hóa globalization của Địa Cầu.

B- Đinh La Thăng

Trong đất nước Việt Nam Trên Hết ấy không thể không ưu tiên nói đến Đinh La Thăng, và những điều sau nhất thiết phải được phân tích để phục vụ một Việt Nam Trên Hết.

1) Gương Trảm:

Ông là một tấm gương trị chính đặt vun những bệ đá đầu tiên cho nền trị chính Việt Nam, một đất nước có vô số “chính khách” mà những đấng này

a) thường lầm tưởng hễ là đảng viên Đảng Cộng Sản tức một đảng chính trị hợp hiến hợp pháp thì tức là bản thân tự động đương nhiên đang “làm chính trị” tức là “chính khách”;

b) dù vậy vẫn không dám công khai nhận mình là “chính khách” hay “làm chính trị” vì không muốn bị Đảng hiểu lầm mình đã xa rời thân phận tuyệt đối trung thành với Đảng để ngang hàng với Đảng;

c) cũng vì vậy mà ngay cả khi đã trở thành nghị sĩ vẫn không dè mình đã chính thức mang thân phận “chính khách” hay “làm chính trị” theo tiêu chuẩn hàn lâm thực tế thực hành thế giới;

d) mà cũng vì vậy mà dù là đảng viên cao cấp trong Quốc Hội hay Chính Phủ vẫn không sẵn có tự thân đủ đầy kiến thức chính trị (kiến thức chính trị không phải là hiểu biết thuộc nằm lòng chủ nghĩa cộng sản, nhuyễn nhuần các bài soạn của tuyên giáo để đạt trình độ cao cấp lý luận chính trị vốn chỉ để dùng nói chuyện thời sự với “đại cử tri” chứ không để hùng biện trực tiếp trực diện với dân chúng và với kẻ thù; mà là kiến thức tổng hợp về tất cả các lĩnh vực có liên quan thuộc các hệ thống chính trị khác nhau ở các nước chính trị khác nhau vận hành guồng máy chính trị khác nhau) cùng năng lực và kiến thức trị chính (tức tất cả các kiến thức có liên quan đến quản trị đời sống quốc gia bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – luật pháp, tư bản, kinh tế, sản xuất, kinh doanh, đầu tư, an ninh, quốc phòng, giáo dục, tôn giáo, v.v. và v.v.); và

e) do tất cả những đặc thù không rõ ràng được nêu rõ ràng ở trên, chỉ có thực quyền duy nhất trong tuyển dụng nhân sự ở cơ quan và quyết định chi tiêu ở cơ quan chứ không ai có bất kỳ thực uy nào để thi thố trừ việc ra uy xử bức cấp dưới nào dám chống các tiêu cực tiền bạc của mình, dám từ chối không thực hiện các thương vụ của riêng mình, hoặc dám sở hữu năng lực và trí tuệ có thể đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của mình.

Trước thực tế trầm kha trên, Đinh La Thăng đã xuất hiện như một điển hình của một chính khách đầu tiên có cả thực quyền và thực uy khi trảm tướng mà không sợ tướng ấy là con cái/thuộc hạ của đại nguyên soái nào, ngay cả khi trong tay không hề có thượng phương bảo kiếm để tiền trảm hậu tấu.

2) Công Bộc Chơi Cha:

Đinh La Thăng khi trảm tướng đã nêu bật một chân lý của muôn đời mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã chưa từng quan tâm áp dụng là

(a) luật pháp về phúc lợi xã hội là dành cho dân chúng chứ không dành cho công-bộc-của-dân tức quan chức/công chức chính quyền; do đó

(b) quan chức/công chức chính quyền phải quyết tâm bảo đảm luật pháp lao động được thực thi cho người dân chứ không phải quyết liệt đòi bản thân quan chức/công chức được luật pháp lao động bảo vệ; tương tự,

(c) những sai phạm của quan chức/công chức nhất thiết phải bị trừng trị ngay, xử lý ngay, gông cổ ngay, xử tội nghiêm khắc nhất ngay, vì liên quan đến an bình của dân chúng và an nguy của thể chế, không thể phải trải qua các bước quy trình luật pháp dân sự vốn chỉ áp dụng để xử lý sai phạm của dân chúng.

3) Định Nghĩa Lãnh Đạo:

Một lãnh đạo không dám trảm tướng chỉ có nghĩa

(a) đó không phải là lãnh đạo mà chỉ là hình nộm được đặt lên để thực hiện các mệnh lệnh của nhóm lợi ích,

(b) đó là lãnh đạo có tì vết trên cả nghiêm trọng trong quá khứ mà các tướng do biết rõ nên sẽ không có lãnh đạo nào dám trảm,

(c) đó không là người leo lên ghế lãnh đạo nhờ tài năng cá nhân mà do chạy chức chạy quyền nên phải cố bám ghịt lấy ghế bằng mọi giá kể cả làm ngơ không bao giờ trảm ai cả, hoặc

(d) đó là lãnh đạo lo chăm chỉ kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền trong suốt nhiệm kỳ nên để yên cho người khác cùng vầy đoàn kiếm ăn kiếm chác kiếm tiền cho đông vui khí thế, v.v.

Như một nhà lãnh đạo thực thụ, Đinh La Thăng đã trảm tướng và những phát hiện cùng cáo buộc gần đây đối với Đinh La Thăng mới được hé lộ lại cho thấy sự nghiêm trọng cơ bản nhất lại không phải về “tiêu cực” hay “lam nhem tài chính” có thể có của Đinh La Thăng – vì việc trảm tướng cho thấy dường như Đinh La Thăng không có tiêu cực gì để che dấu hay để kẻ bị trảm moi ra trả thù – mà là một vấn nạn khác nguy hại hơn tỷ lần, liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam.

C- Đảng Cộng Sản Việt Nam

Như đã viết chi tiết trong một bài trước đây về các vũ khí dũng mãnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đinh La Thăng chỉ là một cái tên để đặt cho vấn nạn nhụt cùn của các vũ khí từng là bách chiến bách thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà đỉnh điểm bất tài vô dụng Việt Nam thời hiện đại đang gánh chịu là Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Nếu thực sự Đinh La Thăng đã có những sai phạm nghiêm trọng về tài chính từ trước khi trở thành bộ trưởng, phải chăng Trung Ương Đảng đã hoặc (a) muốn bao che cho Đinh La Thăng vì “đồng bệnh tương lân”, hoặc (b) tuân lệnh Bộ Chính Trị ém nhẹm các nội dung nhạy cảm, hoặc (c) cung cách làm việc đặc thù của Trung Ương Đảng là chưa ra tay nếu như ngân khố quốc gia từ tiền thuế của dân chưa bốc hơi đủ chẳn số nhiều chục ngàn tỷ, hoặc (d) chính Trung Ương Đảng mù quáng mặc định cho rằng đã là nhân sự lãnh đạo của Đảng tất nhiên tự động tài ba tự động liêm chính tự động là học trò giỏi của lãnh tụ Hồ Chí Minh, hoặc (e) Trung Ương Đảng không có – hoặc không dám – giám sát cán bộ cấp cao, hoặc (f) Trung Ương Đảng sợ bị vạch mặt tố cáo tham nhũng bởi những cán bộ cấp cao mà Trung Ương Đảng muốn xử tội tham nhũng nên cứ nấn ná cho đến lúc tầy huầy tanh bét sụp đổ vô phương cứu vãn trước công luận, và hoặc (g) Trung Ương Đảng quá tin tưởng vào Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam?

Do Việt Nam là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của thế giới, Đảng Cộng Sản Việt Nam đương nhiên cũng là một thành tố – và tác nhân – quan trọng của chính trị thế giới, mà những tư vấn sau đây của tác giả bài viết này dứt khoát là những việc cực kỳ bình thường được áp dụng bởi nhân loại nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa hề được bất kỳ đảng viên cộng sản nào tư vấn tương tự khiến Đảng cứ bị ô danh một cách tự nguyện:

1) Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam:

Đinh La Thăng nếu phạm tội nghiêm trọng thì vì sao vẫn được Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử Quốc Hội trở thành nghị sĩ Khóa XI, XIII, XIV?

Phải chăng cụm công việc duy nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là

(a) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm theo dõi nhân sự của Đảng từ lâu trước đó để khi đúng thời điểm thì giới thiệu “đảng tài” (tức đảng viên tài, trên cả nhân tài hay hiền tài) cho Đảng và Quốc Hội những ứng cử viên tài đức ấy hoặc cản ngăn những ứng cử viên đảng viên bất tài hoặc vô đức hoặc bất tài vô hạnh mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nắm rõ;

(b) hợp thức hóa tất cả các hồ sơ ứng cử Quốc Hội của các đảng viên cấp cao mà không hề có trách nhiệm kiểm tra thẩm tra khẩn trương kiểu nước tới chân mày mới nhảy nghĩa là vào một hai tuần trước kỳ bầu cử hễ “trên gởi gắm” đảng tài nào thì Mặt Trận sẽ tích cực “giới thiệu” ngay chính đảng tài ấy cho Quốc Hội như những ứng cử viên tài đức vẹn toàn có hồ sơ cá nhân mỹ miều, và

(c) sau bầu cử Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp thì thư giản nghỉ ngơi chờ mỗi năm hai lần tổ chức tổng hợp ý kiến cử tri để Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc ra Quốc Hội thong thả đọc với giọng nhừa nhựa gây buồn ngủ phi-hùng-biện trong 45 phút hoặc mỗi năm chờ có thiên tai thì tổ chức xin tiền doanh nghiệp để đi cứu trợ?

Những người dân công chính ắt có ước mong lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam công khai những công việc thành tựu quan trọng nào đó mà Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã thực hiện vì không muốn chỉ khi lãnh đạo Mặt Trận hoặc qua đời hoặc bị tố tham nhũng mới kinh ngạc thấy báo chí chính thống liêt kê ngất ngút tràn ngập ngợi ca công đức công trạng công lao người quá cố hay kẻ phạm tội.

Trước thực tế về sự vô dụng của một tổ chức chính trị của Đảng mà hàng năm Quốc Hội phải thông qua lượng ngân sách khổng lồ cho hoạt động nhàn cư nhàn nhã nhàn hạ nhàn rổi của , nhưng lại vô trách nhiệm giới thiệu vào hàng ngũ nghị sĩ những kẻ như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Châu Thị Thu Nga, Vũ Huy Hoàng, v.v., và nay làm Đảng phải muối mặt xử lý vụ đầy tranh cãi của nghị sĩ Đinh La Thăng vốn cũng là một trong những người mà Mặt Trận hoan hỷ giới thiệu; đặc biệt là

Trước thực tế những tầy huầy lộ liễu đầy tì vết của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh Cần Thơ, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Hà Tĩnh, v.v., về “giới thiệu nhân sự” cho Quốc Hội Khóa XIV, thậm chí có Phó Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nghị sĩ Nguyễn Thị Nguyệt Hường lại chối bỏ tổ quốc Việt Nam để ôm của cải ra làm công dân đảo quốc nọ đã làm lộ rõ sự bất tài vô dụng của chính vị Ủy Viên Bộ Chính Trị Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam;

Trước thực tế bất tài, thiểu năng, vô dụng của lãnh đạo Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng những Mặt Trận Tổ Quốc các tỉnh thành trong đó có Bình Dương, Nghệ An, v.v., đối với các vụ “biểu tình” gây rối và bạo loạn, đặc biệt của giáo dân vốn là đối tượng dân vận của Mặt Trận Tổ Quốc;

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

i– Sa thải và cách chức Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở những tỉnh thành đã thất bại trong cả hai nhiệm vụ “giới thiệu ứng cử viên” Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp, và công tác dân vận địa phương.

ii- Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, từ nay có quy định trách nhiệm cụ thể nếu để xảy ra việc giới thiệu ứng viên bất tài vô hạnh và để xảy ra “biểu tình” bạo loạn ở địa phương.

iii– Sửa đổi “quy trình” bổ nhiệm Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành, theo đó sẽ không bao giờ dựa vào đảng tịch, chấm dứt quy định quái gỡ Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam phải là Ủy viên Bộ Chính Trị chỉ để ngồi cho đủ mặt trong Bộ Chính Trị, nghĩa là từ nay trao các chức vụ cao nhất của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở cấp tỉnh thành cho những công dân yêu nước có đủ đức tài, dám nhận và chịu trách nhiệm đối với các chức năng nhiệm vụ của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, bất kể đó là người ngoài Đảng hay là đảng viên bình thường mà cả hai xuất thân này đương nhiên không bao giờ là Ủy viên Bộ Chính Trị vì chẳng có việc gì để làm trong Bộ Chính Trị.

iv– Ban Bí Thư Trung Ương Đảng phải đổi mới tư duy, không thể đem áp dụng vào Thế Kỷ XXI này lề lối tư duy những nhà cách mạng Thế Kỷ XIX trong dụng nhân và trách nhiệm, nghĩa là từ nay phải sử dụng đúng nhân sự trên cơ sở đức tài (luôn định lượng cực kỳ cụ thể được) chứ không trên cơ sở quá trình tu dưỡng chính trị (chỉ có thể định tính), và trách nhiệm từ nay là của chính Ban Bí Thư chứ không phải luôn là của cấp thừa hành mỗi khi xảy ra sai sót phải thi hành kỹ luật.

2) Truyền Thông Chính Thống Việt Nam:

Truyền thông chính thống của Việt Nam từ ngày Giải Phóng Miền Nam đến nay chưa hề có bất kỳ công trạng nào để chứng tỏ bản thân nó chính là công cụ tuyên truyền hiệu quả của Đảng, như minh chứng qua sự thật rằng đạo đức xã hội ngày càng suy vi, ổn định tư tưởng xã hội ngày càng xa vời, v.v.

Như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã từng nêu trong vài bài viết trước đây, chưa bao giờ truyền thông đưa được bất kỳ gương sáng thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần nào của bất kỳ quan chức cao cấp nào, mà chỉ thỉnh thoảng nêu vài tin về tài xế nào đó tiết kiệm xăng cho cơ quan, hay nhân viên cấp thấp nào đó trả lại tiền thừa của khách để quên, hoặc người dân thấp cổ bé miệng nào đó sống đời đạo hạnh đạo đức vì đạo lý, v.v., cứ như thể thanh bạch thanh liêm thanh sạch thanh bần là những đức tính chỉ của người thường dân chứ không hề được phép có nơi tầng lớp lãnh đạo vậy.

Ấy vậy mà mỗi khi có một chức sắc cấp cao nào đó bị vướng tiêu cực là đột nhiên báo chí làm dân chúng sững sốt ngạc nhiên khi đầu tư tâm huyết viết bài về những bí mật quốc gia tức là về cái “đạo đức” nào đó và cái “tài năng” nào đó mà vị chức sắc ấy đã từng lén thi thố (chỉ cho nhà báo biết) thật nhiều năm trước khi bị tố, rồi báo chí kêu gọi phải xét công-tội phân minh. Hóa ra cái tốt của một đảng viên tinh hoa chính trị chức sắc cấp cao là thông tin tối mật của truyền thông, mà nếu chức sắc ấy đừng bị tố thì thông tin sẽ mãi là bí mật để rồi một nhà báo nào đó sẽ viết thành sách dày cộm hốt bạc khi vị chức sắc ấy về với tổ tiên, trong đó nhà báo tác giả sẽ khoe chính mình là người gần gũi nhất, hiểu biết nhất, được nghe nhiều lời tâm sự thiết tha nhất của đấng đức tài quá cố ấy của Đảng.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

FAKE NEWS của truyền thông chính thống Việt Nam là một sự thật – như đã từng được chứng minh cụ thể qua việc truyền thông chính thống ấy đã từng nhét chữ vào mồm Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước bảo rằng chính ông ta mắng dân Việt Nam “dân trí thấp” nhằm hỗn láo gây áp lực tống cổ ông ấy ra khỏi Quốc Hội, hoặc qua các tầy huầy gần đây của truyền thông làm nhục Đảng qua các hành vi “tác nghiệp” đẻ ra toàn FAKE NEWS của bọn chúng. Vì vậy, nhất thiết Đảng phải hoặc dày công chấn chỉnh giáo dục lại truyền thông hoặc đơn giản sa thải các lãnh đạo của truyền thông nào bá láp bất tài vô dụng, rồi giao việc quản lý truyền thông cho thế lực mới của Đảng trong thời đại mới như nêu ở phần 5 dưới đây.

3)  Lãnh Đạo Việt Nam Về Chính Trị:

Đảng đã hoàn toàn đúng trong Thế Kỷ XX khi lãnh đạo chính trị giữ vai trò quyết định tuyệt đối và lãnh đạo chính trị cũng phải đồng thời là lãnh đạo trị chính.

Đảng đã không còn đúng trong Thế Kỷ XXI do lãnh đạo chính trị thời đại hiện nay nhất thiết phải chỉ về chính trị (thể chế quốc gia và ngoại giao) cùng vài thiết chế liên quan đến an ninh quốc phòng và an ninh tiền tệ, mà không là kiêm lãnh đạo trị chính – tức trị quốc – trên tổng thể. Điều này được lý giải trong phần 4 dưới đây.

Hậu quả nhãn tiền của việc không tự điều chỉnh các quy trình ngay từ đầu Thế Kỷ XXI là ngày càng nhiều đảng viên cấp cao được giao nhiệm vụ quản lý doanh nghiệp nhà nước khổng lồ đã trở thành tội phạm làm tan nát các doanh nghiệp ấy. Còn Nghị Quyết Trung Ương Đảng 4 Khóa XII đã phải nêu rằng:

“…Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục…”

Điều này mặc nhiên thừa nhận sự thất bại trong choàng gánh việc trị chính tức trị quốc đối với những lĩnh vực chỉ dành riêng cho sự quản trị của những chuyên gia thực thụ, vì rằng sự bổ nhiệm những đảng viên cấp cao “choàng gánh” việc quản lý những lĩnh vực phát triển kinh tế-kinh doanh, xao nhãng phần quản lý “chính trị” tất nhiên dẫn đến nhận định cũng trong Nghị Quyết ấy rằng:

“… Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm…”

4) Quản Trị Việt Nam Về Trị Chính:

Xây một chiếc cầu mới hay sửa một chiếc cầu cũ: Đảng lẽ nào xăng tay áo lên lao động đích thân xây sửa, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Dạy tiếng Anh lẽ nào phải do Đảng đích thân giảng dạy, không chấp nhận đó là việc của các giảng viên chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc lắp ráp điện thoại di động hoặc thiết bị vệ sinh lẽ nào phải do Đảng đích thân lắp ráp, không chấp nhận đó là việc của những kỹ sư hay những người thợ chuyên nghiệp ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc cứu nạn hay cứu hộ hoặc bắt giữ tội phạm gián điệp lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những công dân ngoài Đảng hào hiệp qua đường mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Việc giải phẩu thay gan lẽ nào là việc của Đảng phải trực tiếp thực hiện mà không là việc của những bác sĩ phẫu thuật chuyên gia ghép tạng ngoài Đảng mà Đảng vừa không thể tin tưởng vừa không thể tin mình giám quản được họ?

Tất cả các chương trình cải cách giáo dục – kể cả cái dự án cải cách đang được soạn thảo – dứt khoát sẽ thất bại tuyệt đối như nhiều chục năm qua, đơn giản vì các dự án tiền tỷ ấy luôn được giao cho cùng một đội ngũ ngu xuẩn gồm chỉ các giáo sư tiến sĩ đảng viên cao cấp, hoàn toàn không có sự tham gia tư vấn chuyên nghiệp và tham gia soạn thảo chuyên nghiệp của những công dân ngoài Đảng có tri thức cao về chương trình giáo dục.

Đời sống xã hội rõ ràng có vô số những câu hỏi như thế cho vô số các hoàn cảnh, các yêu cầu, các lĩnh vực – kể cả lĩnh vực trị chính tức trị quốc – , v.v., mà phải có bàn tay của những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm.

Tất cả các Bộ trong guồng máy trị chính quốc gia như Kinh Tế, Công Thương, Kế Hoạch Đầu Tư, Giáo Dục, Y Tế, và Nội Vụ, cũng như tại các tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ có thể góp phần xây dựng Việt Nam thành cường quốc nếu được lãnh đạo bởi những nhà chuyên nghiệp ngoài Đảng là các công dân tài đức yêu nước có trách nhiệm, chứ không phải bởi các đảng viên cao cấp có bằng cấp tiến sĩ mà Đảng đã đặt để vào những chiếc ghế lãnh đạo cấp cao.

Một chân lý không bất kỳ ai có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị có thể phản bác lại được là: vĩnh viễn không bao giờ có chuyện Việt Nam trở thành cường quốc nếu lãnh đạo các cơ quan trên luôn phải là các đảng viên cao cấp của Trung Ương Đảng.

Đảng là để hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các đường lối ấy. Đảng dứt khoát phải giao việc định hướng/kiểm tra/giám sát cho những đảng viên Cộng Sản tài đức. Đảng dứt khoát phải giao việc thực hiện cho những công dân Việt Nam tài đức. Đây là cách dụng nhân duy nhất đúng cho một Việt Nam cất cánh bay cao đến thịnh cường.

5) Thế Lực Mới Của Đảng Trong Thời Đại Mới:

Đảng đã thành công tuyệt đối trong chiến tranh Thế Kỷ XX tuyệt đối nhờ vào thế lực những người tuyệt đối theo Đảng trung thành với Đảng  tức followers, một thế lực duy nhất lấp biển dời non. Những người tuyệt đối theo Đảng gồm một ít người được kết nạp Đảng và đông đảo người vì yêu nước, thù Tây, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đảng đã không – hoặc chưa – thành công trong hòa bình Thế Kỷ XXI vì Đảng vẫn không nhận ra thực tế rằng đã hình thành hai thế lực riêng biệt gồm followers (những người theo Đảng) và supporters (những người hết lòng vì Đảng).

Followers hiện chỉ gồm có những đảng viên dù trong quân đội, chính quyền, hay đoàn thể, cơ quan, nghĩa là thuộc guồng máy và dưới sự lãnh đạo chính trị của Đảng. Không thể mặc định Followersnhững người hết lòng vì Đảng vì có một bộ phận không nhỏ – chưa đến mức độ bầy sâu như cách dùng từ không đúng, phóng đại, không bằng chứng cụ thể mang tính pháp luật, của “the then president” (cựu) Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang – followers gây ra những vụ trọng án kinh tế hoặc trọng án phản quốc. Chưa kể, followers hiện nay không tự động mang ý nghĩa trung thành với Đảng, hết lòng vì Đảng, do chưa thể chứng minh định lượng được là các đảng viên cao cấp đã thấm nhuần lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh và noi theo gương sáng của Người. Followers, do đó, bao gồm cả những kẻ vào Đảng là do follow chạy theo quyền lực và lợi ích cá nhân.

Supporters hiện là

– Nhiều chục triệu người Việt yêu nước, yêu độc lập tự do, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, yêu hòa bình, công nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản về chính trị, đánh giá cao những cống hiến và thành tựu của Đảng về chính trị và trị chính, v.v., sẵn sàng sử dụng ngôn ngữ để bảo vệ Việt Nam, chính thể Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhưng không thích sự ràng buộc hữu hình về đảng tịch với Đảng Cộng Sản Việt Nam; và

– Những người sống ở nước khác có thể chế chính trị khác với Việt Nam nhưng yêu công lý, yêu hòa bình, yêu lẽ phải, kính lãnh tụ Hồ Chí Minh, tôn trọng Hiến Pháp/luật pháp/thể chế chính trị Việt Nam, được cụ thể hóa qua những hành động ủng hộ đa dạng khác nhau.

Với phân tích như trên, supporters là thế lực đông nhất, mới nhất, và tốt nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời đại mới.

Kiến nghị của Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đối với Đảng, do đó, như sau:

a) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ followers để bảo vệ nước nhà và bảo vệ Đảng;

b) Đảng nhất thiết phải bảo vệ nguồn lực quý từ supporters để bảo vệ chính nghĩa của Đảng và phát triển nước nhà;

c) Đảng nhất thiết phải lịnh cho công cụ truyền thông của Đảng phải tuyệt đối công khai bảo vệ, công khai nhân rộng, công khai ủng hộ các hành động công khai của supporters;

d) Đảng nhất thiết phải trừng trị ngay và trừng trị công khai công cụ truyền thông nào của Đảng dám “nhét chữ vào mồm” supporters để vu vạ supporters, xách động thế giới mạng công kích hay đích thân sử dụng phương tiện của Đảng công kích supporters; mà hành động trừng trị của Đảng đối với truyền thông vi phạm là để khích lệ sự gia tăng của supporters, động viên cụ thể supporters, biến tập thể đông đúc supporter-thụ-động (“like”/naïve supporters) có lòng ái quốc tự nhiên và có tư duy ủng hộ Đảng thành đoàn quân supporter-chủ-động-toàn-tâm-toàn-ý (proactively involved/engaged supporters) có hành động ái quốc mạnh mẽ thể hiện qua hành động tích cực bảo vệ chính nghĩa quốc gia có sự lãnh đạo của Đảng; và

e) Đảng thể chế hóa nội dung tôn vinh và bảo vệ supporters trong các nghị quyết của Đảng, vì rằng các bản toàn văn của các nghị quyết của Trung Ương Đảng từ trước đến nay chưa bao giờ nêu nội dung này, khiến các nghị quyết ấy chỉ để các đảng viên tham khảo để thực hiện – nếu thực sự hiểu để được gọi là “quán triệt” và thực sự có năng lực thực hiện để nghị quyết tiếp theo không mãi nêu vài thành tựu của quá khứ xa xưa đã trở thành quen thuộc còn kỳ dư toàn những điều tồn tại cần khắc phục cho 5 hay 10 năm tiếp theo – chứ không là thứ người dân quan tâm tìm đọc để thấy chính mình trong đó.

Thực tế đời sống đã chứng minh nội dung thuần lý thuyết khi tiếp tục để người dân tài đức ở ngoài việc trực tiếp lãnh đạo trị chính tức trị quốc mà chỉ khuyến khích họ phản ảnh, tố giác, đấu  tranh, sẽ được lập đi lập lại trong các nghị quyết tiếp theo:

“…người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ trong cán bộ, đảng viên….xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’…”


ASEAN là minh chứng cho sự thành công vượt bậc của Việt Nam về chính trị.

Tuy nhiên, những yếu điểm nghiêm trọng của ASEAN đã khiến dấy lên những quan ngại làm tiền đề cho những cách đặt vấn đề như sau:

1) Hoàn Tất Vai Trò Lịch Sử

Từ Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa  – một thứ tương tự Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO cũng theo kiểu gọi của Việt Nam Cộng Hòa – mà mục đích dựng nên là để chặn ngăn sự bành trướng của Bắc Việt xô đổ toàn vùng Đông Nam Á kiểu hiệu ứng domino, phong tỏa Việt Nam thống nhất, làm căn cứ địa cho các đoàn quân “phục quốc” đánh phá Việt Nam, sự tồn tại vươn lên mạnh mẽ trong hòa hoản hòa bình hòa hợp đầy ấn tượng của Việt Nam Cộng Sản đã làm SEATO sụp đổ, dẫn đến sự hình thành ASEAN theo phong cách hòa hoản hòa bình hòa hợp của trào lưu do Việt Nam khởi xướng, tiến đến ASEAN quyết định dẹp bỏ tất các căn cứ địa chống Cộng, đón Việt Nam vào tổ chức, tạo điều kiện cho Việt Nam chiếm ưu thế về chính trị trong ASEAN, tiến đến các vị trí cao trong những cơ quan quan trọng của Liên Hợp Quốc sau này.

Tuy nhiên, những gì đúng không phải luôn là chân lý bất di dịch, vì bản thân hoàn cảnh và môi trường tạo ra cái đúng ấy lại không bao giờ bất di dịch.

ASEAN đã trở thành lịch sử. Sự sang trang là lẽ thường tình và lành mạnh.

2) Sự Ngu Xuẩn Của ASEAN

Nếu NATO được lập nên để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Liên Xô” thì SEATO là để “liên minh phòng thủ trước mối đe dọa của Việt Nam”. Tuy nhiên, NATO là sự ràng buộc quân sự của một khối thống nhất EU, mà theo đó sự tấn công quân sự vào một nước thành viên sẽ bị xem như cả khối bị tấn công và cả khối sẽ cùng đáp trả. Trong khi đó, ASEAN chỉ là một “liên minh” lỏng lẻo thuần  kinh tế, với những thành viên được kết nạp dường như chỉ để “đông vui”, thậm chí có cả Con Ngựa Thành Troy sẵn sàng đánh phá từ bên trong, mà cụ thể là làm nhục Hoa Kỳ, khăng khăng phản đối sự “đồng lòng” ra tuyên bố chung về Biển Đông, v.v.

Như tác giả bài viết này đã nêu trong một bài viết trước đây, ASEAN đã cực kỳ ngu xuẩn khi trở thành một đối tác thành lập nên tổ chức ASEAN-Trung Quốc, cũng như đã cực kỳ xuẩn ngu khi sự “phản phé” đã tự lột mặt nạ trần trụi cho thấy ASEAN chỉ là một tổ chức có họp định kỳ, có tuyên bố vung vít cầu âu, không có sự đoàn kết hay gắn kết, và sẵn sàng chà đạp mối quan tâm của một nước thành viên chỉ để làm hài lòng Trung Quốc.

3) Bẫy Rập Vong Quốc Vong Thân

Mỗi khi có họp “thượng đỉnh” là ASEAN đều ra thông cáo chung hay tuyên bố chung – kể cả thông cáo của đương kim chủ tịch. Các thông cáo hay tuyên bố ấy, tất nhiên, mặc định có giá trị tiêu biểu cho ý chí tập thể, vì nếu không thì không ai gọi là “thông cáo chung” cả.

Là quốc gia thành viên của ASEAN,Việt Nam có khả năng sẽ vướng bẫy rập nếu như “thiểu số phục tùng đa số” nếu như chủ tịch ASEAN là  Con Ngựa Thành Troy The Trojan Horse thành công trong việc thông qua một thông cáo chung theo đó công nhận rằng Biển Đông thuộc quyền giám quản của Trung Quốc, rằng Trung Quốc có toàn quyền lập các vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông, và rằng ASEAN hoan nghênh việc Trung Quốc cho phép các nước được tự do đánh bắt trên Biển Đông và được hưởng phần chia lợi nhuận như nhau từ việc Trung Quốc khai thác dầu hỏa cùng tài nguyên khác của Biển Đông – nghĩa là những quốc gia thành viên không có biển hoặc có bờ biển chẳng dính đến Biển Đông cũng hân hoan thông qua thông cáo chung ấy, đẩy Việt Nam thành thiểu số, thì Việt Nam có tuân theo cái “chung” ấy để bị bọn chống Cộng có cớ chưởi bới “bán nước” còn dân chúng thì phẫn nộ không?

Trong một tập thể mà chỉ có Việt Nam là cố tình ngây thơ tin tưởng vào cái toàn cầu hóa và tự do thương mại xỏ lá ba que, kỳ dư ai cũng tôn thờ lời hiệu triệu Nước Mỹ Trên Hết của Donald Trump để hình thành Nước Phi Trên Hết, Nước Thái Trên Hết, v.v., thì việc Việt Nam phải đương đầu với nguy cơ sập bẫy không bao giờ là truyện giả tưởng.

4) Việt Nam Phải Rời Bỏ ASEAN

Vì những thực tế mang tính cảnh báo trên, Việt Nam nhất thiết phải rời bỏ ASEAN ngay lập tức.

Việt Nam có thể trở thành một đối tác kinh tế của một tổ chức mới, mang tên ASEAN-Vietnam, tương tự ASEAN-China.

Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đó, nhất thiết phải điều chỉnh lại hướng phát triển kinh tế cho một Việt Nam mới: nước Việt Nam Trên Hết, vì rằng Bất Cứ Dân Tộc Nào Có Lòng Tự Trọng Và Tự Tin Cũng Phải Đặt Chính Dân Tộc Mình Lên Trên Hết.

Những Vấn Đề Khẩn Cấp Của Việt Nam (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng February 8, 2016

Làm Chính Trị & Làm Loạn  January 12, 2017

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam January 18, 2017

Về thực quyền, thực uy November 26, 2013

Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN June 17, 2016

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore February 23, 2016

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Lại Thu Trúc


(Đăng trên Emotino ngày 23-9-2012)



Thông tin về Thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy những vấn đề nghiêm trọng cần phải được xử lý trên cơ sở “an toàn sinh mạng người dân là ưu tiên hàng đầu”, bao gồm tiếp tục nghiên cứu các giải pháp khắc phục và các kịch bản được đề ra quanh việc có nên hay không việc tích nước ở Thủy điện Sông Tranh 2, và nếu có thì ở thời điểm nào là giải pháp tình thế thích hợp. Song, chỉ cần có câu trả lời là không, thì xem như toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên cảnh quang thiên nhiên, v.v.) và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.) xem như đổ sông đổ biển.

Những “vấn nạn” trên làm tôi nhớ đến bài viết “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước” đăng trên từ năm 2010 đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về tai họa khủng khiếp mà một đập thủy điện có thể gây ra như:

“…loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

…  …Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường…”

Vẫn với sự lo âu về tình trạng xây dựng các đập thủy điện, Ông Hoàng Hữu Phước năm 2011 cũng có thêm bài viết “Giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia đòi hỏi cái tầm” đăng trên đưa ra thêm các lời cảnh báo như :

“… việc giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia vẫn còn theo phong cách đối phó kiểu du kích, tài tử, không chuyên nghiệp, y như việc trồng bo bo để nhanh chóng giải quyết nhu cầu gạo quốc gia những năm đầu sau giải phóng.

Để làm cho bằng được những dự án thủy điện Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không là diện tích đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ đất nước nào cũng đều vô giá và không bao giờ được định giá dựa trên cân đong đo đếm so sánh những con số vô hồn; và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào đã từng tồn tại trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải vô giá dành cho hậu thế của cả một dân tộc. Ngụy biện hay xảo biện bằng cách nói về nhu cầu năng lượng của quốc gia và của người dân, người ta thậm chí làm ngơ trước nhu cầu lớn hơn: đó là nhu cầu sống, nhu cầu sinh tồn của bao triệu con người hiện nay và mai sau của toàn khu vực hai bên cũng như hạ lưu của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tài sản thiên nhiên và tự hào về tài sản thiên nhiên ấy của người dân hiện nay và mai sau. Các nhà máy thủy điện tất nhiên sẽ cung ứng một phần năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng không vì thế mà cố tình không nói đến những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ các cặn lắng tụ kết tủa ở turbin, khí methane CH4. và carbon dioxide CO2, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhiều triệu con người, thậm chí trong một số trường hợp các đập thủy điện có khi còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường.

Một vấn đề nghiêm trọng khác ít người nói đến là an ninh quốc phòng, đặc biệt khi Việt Nam luôn là đích ngắm của các thế lực thù địch điên cuồng chống cộng, và khi Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với sự đe dọa mang tính bịnh lý thần kinh lăm le táo tợn tấn công quân sự của Trung Quốc. Lịch sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử khi có những xung đột vũ trang hoặc chiến tranh tuyên bố hay không tuyên bố, nhưng vẫn xảy ra những cuộc không kích hay phá hoại các đập thủy điện như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943, các biệt động Đức Quốc Xã đột nhập vào Hoa Kỳ năm 1942 theo Chiến Dịch Pastorius nhằm phá hoại các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là các toán khủng bố Hồi Giáo tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Trong điều kiện tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở toàn Việt Nam chưa trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và khoa học hiện đại, và trên thực tế ngay cả sự cố bất ngờ của thiên tai cũng gây ra thảm họa khủng khiếp như đã xảy ra với đập Vajont của Ý năm 1963, thì bất kỳ sự cố nào xảy ra với bất kỳ đập thủy điện nào trong chuỗi đập thủy điện Đồng Nai cũng có thể tạo ra hồng thủy cao hàng trăm mét cuồn cuộn cuốn phăng Thành phố Hồ Chí Minh ra biển cùng với hàng chục triệu cư dân.

Xây dựng thêm bất kỳ đập thủy điện nào trên sông Đồng Nai là gia tăng sự trực tiếp đe dọa an ninh sinh tồn của Thành phố Hồ Chí Minh, do đó dứt khoát phải bị loại trừ khỏi các dự án quốc gia. Việc đệ trình lên bàn làm việc của Thủ Tướng hay ra nghị trường Quốc Hội, do đó, sẽ là việc làm thiếu trách nhiệm đối với tiền đồ tổ quốc, thiếu suy xét, đặc biệt khi Quốc Hội và Chính Phủ cần nhiều thời gian tập trung cho các vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, trong hoàn cảnh căng thẳng ở Biển Đông, yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, hiện đại hóa quân đội, cách tân giáo dục, v.v. và v.v.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ trọng trách hằn trên chỉ đôi vai của bất kỳ nhà đầu tư nào, nhất là khi nhà đầu tư ấy đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu vớ vẩn đầy tì vết, cẩu thả, vô trách nhiệm về tác động môi trường.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ để bất kỳ ai vin vào đấy để nói về “cái tâm” của mình đối với quốc gia, dân tộc, vì rằng cái tâm đoan chính luôn song hành cùng “cái tầm” mới hướng thượng được, mà cái cao nhất của sự hướng thượng là dành cho hậu thế, cho tiền đồ của tổ quốc, chứ không di hại và di họa cho con cháu mai sau.

Xây dựng nhà máy thủy điện không thể y như trồng bobo cứu đói trong một vụ mùa.”

Cái tâm chính trực của Ông Hoàng Hữu Phước được thể hiện rõ nét nhất qua lời viết mạnh mẽ không sợ làm phật ý nhiều người thuộc giới khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp nước nhà, khi cho rằng:

“… Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite…”

cũng như trong đoạn viết cay đắng:

“… Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý… “

Và trên thực tế, khi sự cố nước phun xối xả từ các khe nứt của Thủy điện Sông Tranh 2 bị phát hiện, vị chức sắc chịu trách nhiệm về kỹ thuật đã trả lời báo chí rằng đó chỉ là việc bình thường trong mức độ cho phép. Vâng, “cho phép” nghĩa là cái công trình bê tông vĩ đại và hiện đại đó đã được công nhân dùng tay nhét giẻ vào các khe nước phun và bơm phụt keo và hóa chất cứ như để đóng nút chai vậy; và vì “cho phép” nên đến tận ngày hôm nay người ta đã phải cho ra các kịch bản mà sự thảm hại tồi tệ nhất về đầu tư có thể là bỏ thủy điện này, không cho tích nước, và sự khủng khiếp tồi tệ nhất có thể là kế hoạch sơ tán khẩn cấp dân cư trong khu vực hạ lưu. Sự “cho phép” theo lập luận của một người có trách nhiệm về kỹ thuật như thế cho thấy cái “đức” và cái “tài” của vị ấy ra sao khi tự cứu mình bằng lời trấn an không trung thực và xem nhẹ sinh mạng hàng triệu người dân. Việc gì sẽ xảy ra nếu những lời vàng ngọc của người có trách nhiệm ấy được Chính phủ cậy tin và người dân tin cậy đến độ không cần kiểm tra lại cái công trình mang tên Thủy điện Sông Tranh 2?

Như biết bao công dân Thành Phố Hồ Chí Minh tôi cảm thấy bất an đối với dự án Thủy Điện Đồng Nai đang có nhiều tranh luận và mong sao nước ta sẽ ngày càng có thêm nhiều hơn nữa những nhà ái quốc có tầm nhìn và sự chính trực như Ông Phước.

Lại Thu Trúc

Bài đăng ngày 23-9-2012 trên

Donald Trump Phơi Bày Gót Chân Achilles Của Giới Lãnh Đạo Chính Trị Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB



Đây là bài thứ 4 trong loạt 5 bài với chủ đề Donald Trump Làm Thế Giới Lõa Lồ.

I- ĐịnhNghĩa 

A- Donald Trump:

Trong phạm vi bài này, Donald Trump có nghĩa bao gồm (a) Tổng Thống Mỹ Donald Trump, và (b) những vấn đề có liên quan đến Donald Trump, từ chủ trương chính sách của Donald Trump cho đến những hành vi hành động chống lại các chủ trương chính sách ấy bất kể đến từ người dân Mỹ ngu muội mà nước nào cũng có những người dân như thế, người nhập cư lậu mà bất kỳ xứ sở văn minh nào có luật pháp đầy đủ cũng phải trục xuất, chính giới Mỹ mà bất kỳ nước tư bản nào cũng có chỉ chuyên chõi lại mọi thứ không phải của họ tức bên thất trận hay thất cử, người dân vô duyên của Tây Âu vốn có thói quen nhúng mũi vào chuyện thuộc chủ quyền nước khác, hay chính giới đang bị lung lay tận gốc rễ ở Tây Âu mà nền móng toàn đá vôi trầm tích bị làn sóng dân túy kiểu Donald Trump xoáy đục hòa tan tạo ra các xê-nu-ti cenote không có miệng mồm tác hoác như mấy cái xing-hô sinkhole nhưng bộ đồ lòng thì trống phoọc.

B- Doanh Nhân:

Doanh nhân đã được lần đầu tiên được giải thích cặn kẽ trong bài Thế Nào Là Doanh Nhân Và Hiểu Đúng Về Doanh Nhân viết ngày 26-02-2010 đã đăng lại trên blog này, theo đó ai cũng là doanh nhân khi kinh doanh bán hàng hóa hữu hình, bán dịch vụ, hay bán sức lao động, v.v., chứ không chỉ gói gọn một cách sai lầm trong phạm vi có mở doanh nghiệp hay cơ sở kinh doanh có giấy phép kinh doanh. Có hiểu đúng thì mới có hành động đúng: chăm chút sản phẩm sao cho có chất lượng cao nhất đối với khách hàng vốn luôn là vua chúa của mình, từ đó nhà giáo phải đàng hoàng, hiệu trưởng phải đàng hoàng, bác sĩ phải đàng hoàng, và kể cả nhà tu hành cũng phải đàng hoàng phục vụ khách hàng mà họ gọi là học sinh hay tín đồ hay bịnh nhân do có đóng góp tiền bạc và có trả tiền dịch vụ phí cho cơ sở dạy học hay tôn giáo hay chữa bịnh của họ chứ không phải họ ban ơn mưa móc miễn phí. Tất nhiên, người xin việc cũng là doanh nhân nên bắt buộc phải o bế sao cho hàng hóa tức sức lao động của mình tuyệt hảo để phục vụ khách hàng tức công ty tuyển dụng; trong khi đó doanh nghiệp phải o bế sao cho môi trường làm việc tuyệt hảo để phục vụ khách hàng từ trong ra ngoài tức lực lượng lao động và những người đến giao dịch. Không thấu hiểu bản chất nội hàm như trên thì thật đáng thương hại khi không thể không có các lủng ca lủng củng trong xã hội.

Thế nhưng, ngay cả truyền thông chính thống ở Việt Nam cũng không có bất kỳ ai hiểu sâu sắc đến mức độ như trên. Họ chỉ bám theo doanh nhân như một vị giám đốc hay CEO hay gì gì khác mà thế giới ngôn từ thường nhảy loi choi kiếm tìm danh xưng mới để hốt bạc từ những chương trình đào tạo mới (thí dụ như từ thủa ban đầu những năm 1970 với tột đỉnh quyền lực là General Manager, người ta nặn óc chế ra General Director cho vinh diệu, rồi lại chế ra CEO, và khi thấy có những kẻ bám đuôi muốn ngang hàng như COO hay nhiều “C” khác, họ lại chế ra thứ khác để cao hơn CEO, v.v.).

Dọ hạn hẹp về tư duy ngôn ngữ, truyền thông chính thống Việt Nam đã mặc định Donald Trump và Rex Tillerson mãi mãi là “doanh nhân”, còn Barack Obama với Hillary Clinton mãi mãi là “luật sư”. Họ chứng tỏ sự ngu muội của họ với truyền thông thế giới khi hoàn toàn không biết rằng Barack Obama là một “doanh nhân” đã có chân trong hội đồng quản trị tổ chức tư nhân Woods Fund of Chicago; và rằng Hillary Clinton cũng là một “doanh nhân” do đã là “cộng sự” tức thành viên chính của Công ty Luật Rose Law Firm tức có góp vốn, có tham gia lãnh đạo, và có chia lợi nhuận; nghĩa là cả Barack Obama và Hillary Clinton đều đã là “doanh nhân” vì lợi nhuận hữu hình và theo nghĩa đen thui tuyệt đối.

Bởi vậy, người dân Việt mới đọc thấy các luận bàn chính trị của những kẻ mà ngay cả ngôn ngữ Việt vẫn chưa thông, chẳng hạn như:


Khi lãnh đạo chính trị Việt Nam dưỡng nuôi chở che truyền thông chính thống tệ hại bất tài như thế, nghĩa là đầu độc trí hóa của người dân, cũng nghĩa là lãnh đạo chính trị Việt Nam biến thành tiên thành bụt nhưng đồng thời lại không thực hiện công việc duy nhất của bụt của tiêncứu vớt lương dântrị trừng kẻ ác, khiến tiênbụt trở thành động lực ươm mầm cho tiêu cực xã hội bùng phát hơn nấm độc, dẫn đến nhu cầu và yêu cầu cấp bách phải nêu những gót chân Achilles của lãnh đạo chính trị Việt Nam.

II- Gót Chân Achilles 1: Hùng Biện

A) Thế Nào Là Hùng Biện:

Là bậc vĩ nhân của Hoa Kỳ thời đại Thế Kỷ XXI trong khi toàn Châu Âu (trừ Nga), toàn Châu Phi, toàn Châu Mỹ và toàn Châu Á (không trừ Trung Quốc và Việt Nam) hoàn toàn không có bất kỳ một vị nguyên thủ quốc gia nào cũng trong Thế Kỷ XXI này lại có tầm cỡ vĩ nhân tương tự sánh được bằng mình, Donald Trump đơn giản là sự lập lại của một chân lý giản đơn rằng: tác phong bản lĩnh tự có của chính bản thân nhà lãnh đạo thực sự vĩ đại của một quốc gia phải luôn thiên về tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội đáp ứng tuyệt đối đầy đủ tất cả các yêu cầu đồng bộ của hùng biện bao gồm 13 tài năng/ưu thế kết dính keo sơn quyện hòa chặt chẽ không bao giờ rời tách gồm:

1- ngôn ngữ nói thuộc vùng miền ưu việt của quốc gia;

2- ngôn ngữ nói hùng biện;

3- ngôn ngữ viết hùng biện;

4- ngôn ngữ cử chỉ hùng biện;

5- nội dung khẩu ngữ mạnh mẽ, quyết liệt, tỏa lan hưng phấn;

6- âm lượng khẩu ngữ rõ, to, cao, dũng mãnh, quyết liệt;

7- nội dung khẩu ngữ thuyết phục nghĩa là không ai có thể đấu khẩu chống lại trực diện trực tiếp trước đám đông – dù đó là đám đông dự khán hay đám đông theo dõi trực tiếp truyền hình – mà thành công;,

8- nội dung khẩu ngữ thuyết phục thành công ấy phải là đối với đa số và định lượng được;

9- ưu thế về quá trình hoạt động ưu việt về chính trị và trị chính;

10- ưu thế về ngoại hình phong cách phong thái;

11- ưu thế về trí tuệ và tri thức;

12- ưu thế về hùng biện ứng khẩu, và

13– ưu thế về hùng biện bằng ngoại ngữ (nếu ngôn ngữ gốc/tiếng mẹ đẻ không thuộc các ngoại ngữ chính thức sử dụng tại Liên Hợp Quốc).

Qua đúc kết từ gương báu tự ngàn xưa đến tận ngày nay và cho đến ngày tận thế,  tất cả các lãnh đạo quốc gia phải luôn có tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội. Thực tế lịch sử cận đại cho thấy Adolf Hitler đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội để tạo nên một nước Đức vĩ đại nhất thế giới, Joseph Stalin đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội hơn để tạo nên một nước Nga vĩ đại hơn để tiêu diệt nước Đức vĩ đại nhất thế giới ấy, các tổng thống Mỹ đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội  để tạo nên một nước Mỹ vĩ đại, và Fidel Castro đã sử dụng tài hùng biện mạnh mẽ dữ dội hơn để tạo nên một nước Cuba triệt tiêu mọi kế hoạch nuốt chững Cuba của Hoa Kỳ.

B) Thiếu Vắng Hùng Biện:

Những gì từ bản thân của – hoặc liên quan đến – Donald Trump cho thấy toát ra những lưu ý sau mang tính so sánh lột tả “gót chân Achilles” của giới lãnh đạo quốc gia Việt Nam:

1- Các lãnh đạo của Việt Nam hiện đại hoàn toàn không ai có tài hùng biện khẩu ngữ (tức nội dung hùng biện gắn kết tuyệt hảo ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói khi đọc bài diễn văn) và hùng biện ứng khẩu (tức hùng biện không sử dụng bài soạn sắn, hoặc chỉ sử dụng các thẻ ghi từng chủ đề một cần phát triển bằng ứng khẩu) mà sỏ hữu  đầy đủ 13 ưu thế nêu trên. Hầu như có một mặc định rằng tất cả các lãnh đạo phải đóng vai Bụt để tất cả đều không ai trỗi vượt về hùng biện trong tập thể cả. Cũng vì vậy mà ngôn phong của tất cả các lãnh đạo đất nước đều có giọng nói ấm trầm như nhau, đều đều như nhau, dịu dàng như nhau, chậm rãi như nhau, khoan thai như nhau, phi-hùng-biện như nhau.

2-Tất nhiên, có thể gần 100% các bàì phát biểu của gần 100% các lãnh đạo ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới đều không do chính các lãnh đạo ấy chấp bút (tự viết tự soạn), và cũng chính vì vậy mà gần 100% các lãnh đạo ấy đều biến các bài phát biểu ấy là của riêng mình bằng 3 thủ thuật mang tính kỹ năng gồm

a) thể hiện cả hai ưu thế 5 và 6 (thiên nhiều về ngữ điệu) của 13 ưu thế tổng thể đã nêu,

b) tuyệt đối tránh chăm chú “đọc” bài phát biểu, và

c) vận dụng ngôn ngữ cử chỉ một cách đồng bộ với nội dung hùng biện.

Cả 3 cách trên đều không thấy được áp dụng trong giới lãnh đạo chính trị và trị chính ở Việt Nam, và sự thật này cực kỳ tai hại do có thể dẫn đến các hệ quả như (i) người dân hoài nghi năng lực ứng biến tùng quyền chính trị của lãnh đạo do biết ngay đó là bài của trợ lý viết hộ, (ii) người dân không được thuyết phục cũng như không cảm nhận được sự phấn khích tinh thần tỏa lan chế ngự từ bài phát biểu của lãnh đạo, khiến (iii) người dân không quan tâm lắng nghe hoặc không lưu lại gì trong trí nhớ rồi từ đó mơ hồ về chủ trương chính sách v.v. làm thất bại về dân vận cũng như quán triệt.

3- Các lãnh đạo chính trị của Việt Nam hiện đại phải tập hùng biện khẩu ngữ và hùng biện ứng khẩu, để sẵn sàng có những cuộc điện đàm hoặc họp mặt với Donald Trump và các Donald-Trump-Của-Châu-Âu (European Donald Trumps) sắp ồ ạt xuất hiện, vì rằng những kiểu ngoại giao kiểu cách hữu hảo – mà nói thẳng là láo xạo vốn là đặc tính của ngành “ngoại giao” – như luôn sử dụng giống nhau khi tiếp bất kỳ nguyên thủ nào trên thế giới đến Việt Nam nay đã bị Donald Trump làm cho vô nghĩa, vô dụng, obsolete lỗi thời.


4- Điểm quan trọng ở đây nhất thiết phải ghi nhớ về Donald Trump – và những tân lãnh đạo cường quốc Tây Âu sẽ noi theo Donald Trump – là

a) Các tổng thống Mỹ trước đây gần 100% là con số zero về quyền lực trước khi làm tổng thống, được phe cánh trao cho chiếc quyền trượng trị quốc, và phải khom mình dưới sự khống chế của giới “tài phiệt Wall Street”; trong khi đó thì

b) Donald Trump đã tự thân hình thành đế chế kinh thương lớn nhất thế giới – tính theo cơ sở sự hùng mạnh đầy bản lĩnh và tư cách của cá nhân Donald Trump cùng lực lượng nhân sự hùng hậu tài giỏi gồm các hậu duệ của Donald Trump và các bậc kỳ tài theo phò tá, mà chưa hề có bất kỳ gia đình kinh tài nào khác tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay bất kỳ nước nào trên toàn thế giới có tương tự – và do đó phong cách quyền lực phi-ngoại-giao của một đấng đã thực sự có quyền lực đại chủ tự thân như Donald Trump sẽ có thể khiến lãnh đạo Việt Nam lâm vào hoàn cảnh như giới truyền thông đã từng loan tin rằng Thủ Tướng Úc bị Donald Trump đập điện thoại lúc đang điện đàm.

c) Như vậy, “hội nhập toàn cầu hóa” trong bối cảnh tất cả các lãnh đạo Phương Tây toàn là những “hình nộm làm chính trị” theo bài bản ngoại giao (tức ngoại giao giả lả) sẽ dần được được thay thế bằng những người có thực quyền và thực uy theo “hình mẫu làm chính trị kiểu Donald Trump” tức phong cách phi ngoại giao (tức ngoại giao thực tế), lãnh đạo Việt Nam nhất thiết phải có tài ứng khẩu hùng biện, tư duy nhanh nhạy vững vàng bản lĩnh, và khả năng tiên liệu các tình huống cùng các phương án tranh luận, đấu khẩu, hóa giải, hoặc khéo léo không tạo tình thế cho tình huống kiểu “đập phone” xảy đến.

Đối thoại ngoại giao là đối thoại dối trá, đối thoại màu mè, đối thoại vô bổ, “đối thoại bàn tiệc”, là thứ đối thoại không bao giờ người dân quan tâm, và là thứ đối thoại chỉ làm triệt tiêu uy lực cá nhân của lãnh đạo quốc gia trước mắt người dân.  Đối thoại ngoại giao là đối thoại để có những chữ vàng để treo ở đâu đó trên báo chí.

Đối thoại hùng biện thực chất vì nước vì dân là phong cách mà điển hình là Fidel Castro và Donald Trump, người trước thắng lòng dân để lãnh đạo Cuba tồn tại qua phong ba bão táp, còn người sau thắng lòng dân để làm Hoa Kỳ có cơ hội vĩ đại trở lại.

III- Gót Chân Achilles 2: Bụt

Như đã nói ở trên, Bụt là phong thái mang tính chất đồng phục đồng nhất đồng dạng của giới lãnh đạo chính trị Việt Nam. Phong thái ấy hoàn toàn kém và hoàn toàn sai.

Cổ thư thậm chí còn có giai thoại về hai học trò của Khổng Tử, cả hai đều lấy lòng khoan dung với dân mà trấn nhậm, nhưng một người thành công làm thiên hạ thái bình còn người kia thất bại làm địa phương phát bùng loạn lạc. Nơi trấn nhậm nếu là địa phương có toàn bộ dân chúng đạo hạnh sống đời đạo đức, có giáo dục, tuyệt đối tuân thủ luật pháp quốc gia và quy định của địa phương, thì cái “khoan” sẽ phát huy tác dụng.

Một đất nước hình thành từ cơ sở “bạo lực cách mạng” như Việt Nam không thể được lãnh đạo bởi những “ông bụt”, “bà tiên”, vì chắc chắn xã hội sẽ ngày càng suy đồi, tiền phạt sẽ gia tăng thí dụ từ con số không đáng kể cứ như đùa lên đến con số bằng tiền lương tháng của một nhân viên văn phòng cho một hành vi gì đó như phóng uế nơi công cộng chẳng hạn, và sự lờn mặt nhờn luật pháp lây lan từ giới lãnh đạo các cơ quan nhà nước xuống đến thứ dân, phá tan trật tự xã hội và đạo đức nhân quần.

Việt Nam do đó phải Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ làm lãnh đạo hoàn toàn không được xem trọng vì xuất hiện không chút giáp bào chắc chắn mạnh mẽ trong môi trường chính trị toàn cầu kiểu “cá lớn nuốt cá bé” ngày càng hung hãn, lưu manh, bất trị.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa trí thức” Việt dùng che đậy bản chất khinh dân đầy mặc cảm tự tôn, thường hay bộc lộ rõ nét tại Việt Nam do khinh thường Nông-Công-Thương như xưa kia muốn cứu nước thì sĩ phu phải sang Nhật Bản học tập theo Phong Trào Đông Du chứ không chấp nhận vai trò của Nông-Công- Thương và do đó chống Cộng Sản, còn nay thì chỉ ve vản đưa Thương lên cao, đẩy Nông-Công xuống đáy, để rồi xã hội thì nếu là luật sư tốt nghiệp từ tiền của Fulbright hoặc có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ gì đó là đã manh nha nhen nhúm học đòi dân chủ, lương tâm, lật đổ nhà nước cộng sản Việt Nam. Còn Thương thì chớ biết ai là tiêu biểu trong số những Thương bị Âu Mỹ bêu rếu chẳng hạn mĩa mai là vì nhờ cho gái ghiếc mặc đồ lót (có người Mỹ nói giải thích rằng đồ lót underwear là để mặc bên trong cùng, nên khi “nữ tiếp viên hàng không” mà mặc bikini thì tất nhiên không có mặc đồ lót bên dưới bikini nên bikini chính là đồ lót nếu không đang tắm biển, mà đồ lớt thì chỉ phục vụ hai mục đích gồm mặc bên trong và vũ khỏa thân khiêu dâm, và rằng ngay cả mặc py-ja-ma quần dài tay dài ra đường cũng là không thể chấp nhận được trong văn hóa Mỹ nữa là) quảng cáo hãng hàng không mà Việt Nam có một nữ tỷ phú đô-la,


hay là Thương mà sếp của nó hoặc đã bị gông cổ giải về từ Singapore hoặc đang bị truy nã toàn cầu, v.v.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa chính trị” Việt dùng che đậy năng lực kém, hùng biện yếu, chí khí thấp, bản lĩnh vắng, và tác phong xu nịnh mà thôi.

Dẹp Bụt vì “bụt” chỉ là thứ mặt nạ mà giới “tinh hoa truyền thông” Việt che đậy năng lực kém, hùng biện yếu, chí khí thấp, bản lĩnh vắng, và tác phong xu nịnh giới lãnh đạo chính trị mà thôi.

Việt Nam sẽ tiêu vong nếu không Dẹp Bụt ra khỏi phong cách cung cách giới lãnh đạo đất nước.

IV- Gót Chân Achilles 3: “Biểu Tình”

Sự xuất hiện của Donald Trump đã bộc lộ những sự thật sau về “biểu tình” mà giới lập pháp Việt Nam (tức Quốc Hội với nhiều trăm nghị sĩ) vẫn còn mơ hồ:

1) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với hành động cực đoan cá nhân chủ nghĩa chà đạp dân chủ kiểu “tôi bỏ phiếu cho Bà Hillary nhưng Ông Trump đắc cử, vậy Ông Trump không phải là tổng thống của tôi!”


Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam có sẽ xảy ra vấn nạn khi phe thiểu số được giới lãnh đạo chính trị cho phép tự do ngôn luận tràn lan để tuyên bố một cách phản dân chủ và thiếu-trí-tuệ-luật-pháp rằng Chủ Tịch Nước và Thủ Tướng không phải là Chủ Tịch Nước của tôi hay Thủ Tướng của tôi vì tôi đã không bỏ phiếu bầu Chủ Tịch Nước ấy và tôi cũng đấu có quyền bỏ phiếu trực tiếp bầu ông Thủ Tướng nên tôi sẽ có quyền tự do“biểu tình” chống đối và đập phá?

2) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với bạo loạn


Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam đã có sẵn các luật pháp mang tính răn đe trừng trị thích đáng đối với các hành vi bạo loạn tương tự?

3) “Biểu tình” ở Mỹ đã trở thành và từ nay đồng nghĩa với vi hiến vi phạm pháp luật:


Câu hỏi đặt ra là liệu ở Việt Nam đã có sẵn các luật pháp tương tự Luật Hình Sự 2385 của Mỹ về hành vi và hành động kêu gọi và/hoặc in ấn tài liệu và/hoặc thực hiện lật đổ chính phủ Mỹ, chính quyền tiểu bang, hay chính quyền quận, v.v., (advocating overthrow of government) mang tính răn đe trừng trị thật nghiêm khắc đối với các hành vi kiểu “kêu gọi” tương tự?

4) “Biểu tình” ở Mỹ chứng minh chỉ có cường quốc tài chính mới đủ sức “đài thọ” cho “biểu tình”


Câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam đã có sẵn tiềm lực kinh tài để chi cho các hậu quả của “biểu tình”?

5) “Biểu tình” ở Mỹ đã dẫn đến các đối phó nghiêm khắc từ chính quyền: ngoài những trang bị trấn áp đã nêu thật chi tiết trong bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” trên chính trang blog này, Chính phủ Mỹ còn lập kế hoạch tăng cường các chiếc xe chiến thuật Quái Thú Khống Chế Bạo Loạn tức Monster Riot Control Vehicle mua của Slovakia


với tấm chắn thép nặng 3 tấn, cao 3m6, rộng 7m5, trang bị một đại bác thủy water cannon bắn nước cực mạnh và bốn đại bác khí cay tear gas cannon giữa tấm chắn có thể kích lên cao 4m để dội tỏa xuống chu vi rộng khắp, buồng lái còn được bọc thép chống đạn, kính chống đạn, chống lửa, chạy với tốc độ 40km/giờ, có các lỗ châu mai để cảnh sát núp phía sau sử dụng hỏa lực cá nhân, có khả năng (a) ngăn chặn và đẩy lùi càn quét đám đông không có bạo loạn hay có bạo loạn chính trị hay xã hội tức violent political/social demonstrations hàng trăm người trên đường phố, (b) phong tỏa đường phố bảo vệ hiệu quả các khu vực dinh thự cần phải bảo vệ, (c) che chắn bảo vệ lực lượng chấp pháp tiến đến khu vực bị chiếm đóng bởi bọn khủng bố, và (d) càn quét tống dẹp các chướng ngại vật do phía “biểu tình” bạo loạn bày ra, bất kể đó là khối bê tông hay ô tô xe tải, v.v.

Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là đã có đầy đủ trang bị như đã nêu trong bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” và đã có kế hoạch đặt mua các chiếc Quái Thú của Công ty Bozena ở Slovakia để trang bị cho lực lượng cảnh sát tất cả các tỉnh thành hay chưa?

6) Và “biểu tình” chống Donald Trump ở Mỹ cũng lột tả sự suy đồi cá nhân của giới “tinh hoa trí thức” mà điển hình là vụ Giáo sư Đại Học Drexel Hoa Kỳ George Ciccariello. Khi thấy một hành khách nhường ghế hạng nhất cho một quân nhân Mỹ trên chuyến bay, với tư tưởng chống Donald Trump là người được các cựu chiến binh ủng hộ tối đa và cũng là người vừa tôn vinh một sĩ quan tử trận, “giáo sư tiến sĩ” Ciccariello vội gởi một dòng trên Twitter rằng “Một thằng vừa nhường ghế hạng nhất của nó cho một thằng lính mặc quân phục. Ai cũng cảm ơn nó. Tao thì cố để khỏi ói mửa nôn ọe hoặc khỏi gào lên về vụ Mosul”.


và tất nhiên “giáo sư” ấy bị giới quân nhân đáp trả mạnh mẽ, chẳng hạn như binh sĩ Kurt Schlichter đốp chát lại rằng: “Mầy đã cố để khỏi ói hoặc gào lên hử? Không đâu, mày chỉ ngồi đó lặng câm như một con chó cái bị bỏ rơi, thừa thải, ước phải chi mày được là con người.


Vấn đề đặt ra cho giới lãnh đạo chính trị Việt Nam là (a) họ có đã thực sự hiểu Thế Nào Là Nhà Trí Thức không, (b) vì sao “trí thức” do họ bỏ tiền ra đào tạo thì một bộ phận không nhỏ vừa bất tài vô dụng vừa suy đồi tâm thức đến độ phỉ báng anh hùng liệt sĩ Việt Nam, phỉ báng lãnh tụ duy nhất tài ba của Việt Nam, thậm chí tham gia biểu lộ tình cảm tức “biểu tình” hô hào vi phạm pháp luật và Hiến Pháp Việt Nam khi có những hành vi viết lách chống phá và/hoặc hành động đòi lật đổ chính phủ Việt Nam?

Ba gót chân Achilles ấy tuy khác nhau, nhưng gắn kết mật thiết với nhau mà chỉ nhờ có sự xuất hiện chói ngời của Donald Trump mới soi rọi được các gót chân ấy.

Gót chân Achilles nhất thiết phải được bao bọc trong đôi ủng làm bằng thép như của chiếc Dã Thú The Beast, vì rằng nếu đi dép sandal giống như Achilles và các chiến binh La Mã thì chỉ cần một cung thủ thiện xạ cũng đủ hạ knock-out Achilles chứ chưa cần đến hỏa tiển Tomahawk.

Giới lãnh đạo chính trị Việt Nam, do đó, phải trị quốc băng vũ khí bách chiến bách thắng của bạo lực cách mạng, theo đúng bài bản của Khổng Trọng Ni.

Phải xiết chặt truyền thông chính thống vì khi cho phép truyền thông chính thống tự do tập trung bá đạo chống Donald Trump, nhạo báng Donald Trump, đăng tin về các kêu gọi ám sát Donald Trump và lật đổ Donald Trump,  giới lãnh đạo chính trị đã mặc nhiên dung túng truyền thông chính thống dồn dập nhồi nhét vào ý thức của người dân Việt, kích động người dân Việt học tập theo gương những người dân Mỹ chống Donald Trump để manh nha hoạt động chống lại lãnh đạo chính trị của Việt Nam, nhạo báng lãnh đạo chính trị Việt Nam, tiến tới bình thường hóa các hành vi hay hành động chống phá nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

1) Hùng Biện: Thí dụ duy nhất về ứng khẩu hùng biện trong toàn bộ lịch sử Quốc Hội Việt Nam thời hiện đại: xin truy tìm các video clips các phóng viên “báo chí” truyền hình đã thu khi Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước phát biểu tại nghị trường chống lại đề nghị dự thảo cái gọi là “Luật Biểu Tình” năm 2011, được toàn nghị trường vỗ tay tán thưởng trở thành một sự kiện chưa từng có tiền lệ trong toàn bộ sinh hoạt chính trị chính thống kể từ ngày lập quốc Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, nhưng đã chưa bao giờ được phát hình phát sóng và rất có thể vẫn còn lưu trữ tại Đài VTV ở Hà Nội.

2) “Biểu Tình”:

Luật Biểu Tình   26-5-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.   02-4-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.   14-4-2015

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

3) Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam:

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

4) Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump 12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Thế Giới Chính Trị Âu Mỹ Lõa Lồ  26-3-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ  04-4-2017

Donald Trump Làm Truyền Thông Chính Thống Việt Nam Lõa Lồ  10-4-2017

5) “Doanh Nhân” Lãnh Đạo Chính Trị Quốc Gia Thành Công:

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối

Tự Do Ngôn Luận

Hoàng Hữu Phước, MIB



A) Nhập Đề

1- Định Luật: Có một định luật cho “tự do ngôn luận” và “tự do báo chí”. Vấn nạn là cái sự thật quan trọng bậc nhất như hơi thở của định luật lại luôn bị những người còn thở vô tư không hiểu, cố tình không hiểu, sơ ý lãng quên, hoặc chưa hề bận tâm kiếm tìm chân lý bất kỳ dù chân lý hiển hiện ngay trước mắt với một cái click chuột giản đơn chứ không cần phải vầy đoàn bốn-con-người-một-con-thú qua Tây Trúc.

Định&Luật dùng theo nghĩa từ vựng của tác giả bài này là Quy Định và Pháp Luật của tất cả các siêu cường tư bản văn hóa văn minh đối với báo chí tức truyền thông. Không bất kỳ ai trong nhân loại văn minh tiến bộ lại không được dạy cho hiểu biết  các nội dung mang tính định&luật được nêu trong này viết này.

2- Giáo Khoa và Khoa Giáo: Nhân thấy thiên hạ có dăm ba người tuy hiểu biết khối chuyện kinh thiên động địa kiểu trên tõ thiên văn dưới tường địa lý, biết run sợ trước thế lực chủ soái quyết định của khoa giáo trung ương, nhưng xem thường giáo khoa trung cấp nhất là của các bộ môn chữ nghĩa, mà không biết rằng giáo khoa trung cấp dạy làm bánh để thế gian có các đại đế chế bánh để Việt Nam bỏ tỷ đô ra mua thương quyền về…mở tiệm, dạy làm tình nhằm giúp công dân hưởng lạc thú dục tình …né bịnh nhiễm truyền, dạy làm ăn để Donald Trump có con ruột con dâu con rể đều là đại gia đại trí đại tài phát triển nghiệp cơ, còn dạy làm chính trị để có đội ngũ chuyên nghiệp phò tá Donald Trump lên làm Tổng Thống;

3- Trẻ Trẻ Trẻ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích tầm thường hóa tiếng Việt, cứ nghe Tuổi Trẻ là tự tiện giải thành Trẻ Tuổi, cứ nghe Trẻ Tuổi thì tự nhiên chú thành mười tám đôi mươi, đến độ ngay cả cán bộ cấp cao trong Ban Chỉ Đạo nọ dưới một người trên cả vạn người cũng vì hiểu lầm chủ trương Trẻ Hóa của Đảng nên thay vì chọn người già trẻ trung hoặc người trẻ già dặn – như đã phân tích trong bài Luận Về Định Tính & Định Lượng Tuổi Trẻ – đã chọn một người Trẻ Tuổi Bảy Không tức Thất Vô tức (a) vô bằng cấp “chuyên môn”, (b) vô tuổi nghề nghiệp vụ, (c) vô kinh nghiệm trãi từng, (d) vô thang bậc từng trãi, (e) vô phép tắc trước sau, (f) vô liêm sĩ trước hàng hàng lớp lớp đại anh hùng hào kiệt Lạc Hồng dù già trẻ trung hoặc trẻ già dặn, và (g) vô chính đạo để ào vô luôn làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế;

4- Dân Chủ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích đơn giản hóa tiếng Việt, cứ nghe Dân Chủ là tự tiện nghĩ ngay đến việc ta đây là dân nên là chủ, thậm chí có đấng nghị sĩ luật sư ở đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát huy quyền làm chủ đòi Quốc Hội phải ra Luật Biểu Tình trả nợ cho dân (tức chủ) và đòi Thủ Tướng phải báo cáo đầy đủ với chủ (tức dân) chi tiết kế sách chống Tàu mới đúng là dân chủ;

5- Tự Do: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích trầm trọng hóa tiếng Việt, cứ nghe Tự Do là tự do nghĩ ngay đến chuyện tự do muốn làm gì thì làm, tự do muốn làm bánh hình phân chó sản xuất đại trà xuất khẩu thì cứ làm, tự do muốn làm tình với bất kỳ ai già trẻ lớn bé nam phụ lão ấu bất chấp luật pháp luật đời thì cứ làm, tự do muốn làm ăn buôn lậu buôn gái buôn dâm gì thì cứ làm, và tự do muốn làm chính trị thì cứ làm, thậm chí còn bảo phải có tự do báo chí tuyệt đối, tiến sang tự do tuyệt đối trong làm bánh/làm tình/làm ăn/làm chính trị;

6- Tự Do Ngôn Luận: Lại thấy thiên hạ chưa phận biệt được các thứ (versions) các thứ (subclasses) và các thứ (types) của “tự do ngôn luận”; không biết rằng

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền được theo Luật Lao Động với cơ man nào là lương tiền/bỗng lộc/phúc lợi/chia lời/ngày phép/hộ sản/đình công/team-building workshop/du lịch công đoàn nội địa hay hải ngoại, chứ người chiến sĩ lực lượng  vũ trang không bao giờ được phép có cái quyền đó, vì quân đội luôn là công cụ của chế độ; và

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền tự do ngôn luận, chứ báo chí không bao giờ được phép có cái quyền đó, nhất là báo chí chính thống luôn là công cụ của chế độ;

7- Vô Đề: Tác giả bài viết này là kẻ tiện dân bỉ nhân họ Lăng tên Tần sợ nói tiếng Anh thì không được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho rằng giỏi bằng vị chuẩn tiến sĩ (sắp-có-bằng-tiến-sĩ) Vụ Phó Vụ Kinh Tế, mà sợ nói tiếng Việt cũng không xong do tiếng Việt vẫn còn nhiều điểm chưa rõ bởi đa số, chưa thông bởi số đông, nên khiếp sợ khép nép tấu trình các “kiến thức” sau đây lên không gian mạng như thùng nước trà đá ven đường:

B) Thân Bài

1- Nguyên Tắc Chế Định 1: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều phải tuyệt đối phục vụ duy chỉ chế độ chính trị của nước mình, không bao gờ được phép xúc xiểm Hiến Pháp nước mình, chế độ nước mình, và chính sách nội trị của chính phủ nước mình.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức công kích Hiến Pháp của nước họ, công kích thể chế chính trị của nước họ, công kích chính sách nội trị của chính phủ nước họ.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất quốc gia, quan trọng nhất quốc gia, mà in bất kỳ bài viết nào mỵ dân bằng cách phê bình hay phê phán quyết sách bất kỳ của chính phủ nước mình, đưa ra cái được trang điểm với dòng chữ “góp ý nhằm làm hoàn thiện thể chế nước mình”, thì dứt khoát đó là thứ báo lá cải, bá láp, mạo danh chính thống, là “chính thống nô dịch” chứ không bao giờ thuộc đẳng cấp “chính thống chủ nhân” của các nước Âu Mỹ.

Đơn giản vì: nếu là “đóng góp” thì cái gọi là “báo chí thượng đẳng” phải có lực lượng trí tuệ để hình thành hồ sơ nghiên cứu gởi trực tiếp cho đầu não Trung Ương Đảng, chứ không theo cách của “báo chí hạ đẳng” mè nheo rỉ rên chuyện quốc gia với dòng kết vô duyên hèn hạ của “trách nhiệm này thuộc về ai” chỉ để độc giả đọc để rồi vừa không đi đâu đến đâu vừa gây rối loạn dân tâm vừa tự lột trần báo chí thành thế lực bất tài vô dụng.

2- Nguyên Tắc Chế Định 2: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ chính sách đối ngoại của chính phủ nước họ bằng cách tự do tuyệt đối tấn công Hiến Pháp nước khác, tự do tuyệt đối tấn công thể chế chính trị nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chế độ nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chính sách nội trị của chính phủ nước khác, và tự do tuyệt đối tấn công chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức ngợi ca Hiến Pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình. Mà ngay cả cái nước khác ấy có cùng phe “liên minh” với chính phủ nước mình thì mình cũng phải tấn công để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là quả thật đã có “tự do ngôn luận” tại nước mình mà đối với Âu Mỹ có nghĩa là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất, quan trọng nhất, mà chẳng có bài viết nào tấn công hiến pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình thì dứt khoát đó là báo chí chính thống giả mạo giả danh giả trá. Tấn công cũng phải nhằm luôn vào các nước khác nào cùng phe với chính phủ nước mình để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là đã thực sự có “tự do ngôn luận” tại nước mình, phù hợp tuyệt đối với báo chí chính thống Âu Mỹ vì tự do báo chí chỉ có nghĩa duy nhất là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

3- Nguyên Tắc Chế Định 3: Tất cả các cái gọi là truyền thông tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ khách hàng dâm dật, phục vụ khách hàng ưa ăn lá cải thích ngắm lá đa.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai đưa ra được cái tên của bất kỳ quốc gia nào trong khối “các nền dân chủ tự do” theo khuôn mẫu khuôn đúc khuôn phép Âu Mỹ không có loại “tự do tuyệt đối” này, kể cả mấy nước Á Đông và Đông Á như Nhật, Thái, Hàn, Ấn đều có bày bán công khai dẫy đầy trên các sạp báo vệ đường.

b) Việt Nam: Do Việt Nam chỉ có “truyền thông chính thống” chứ không có “truyền thông” nên trên các sạp báo không có các ấn phẩm sách in chính quy có dán tem bản quyền hay băng dĩa chính thức có dán tem chống giả mà nội dung là tin/ảnh/phim kích dục mà chiêu bài luôn là tôn vinh “cái đẹp” của thân thể con người mà Chúa đã tạo nên phù hợp với rất nhiều người thích lột truồng các tác phẩm của Chúa để cảm thụ “cái đẹp”, giáo dục giới tính, giáo dục hưởng thụ tình dục vì hạnh phúc con người, giải trí dành cho người yêu mỹ thuật nào không dưới 18 tuổi, phát triển văn hóa “hội nhập toàn cầu”, khuyến khích nhân dân xem hàng ở truồng nội địa độc không hề thua hàng ở truồng ngoại để không chảy máu ngoại tệ, và tự do ngôn luận, tự do báo chí.

C) Các Kết Luận:

1- Tự Do Ngôn Luận Đểu:

Như đã được minh chứng từ các nước tư bản Âu Mỹ có nghĩa là mỗi cá nhân công dân một nước được tự do nói/viết/vẽ hý họa:

a) chống bất kỳ ai, bao gồm cá nhân lãnh đạo/cá nhân người nổi tiếng nước mình hay nước người;

b) chống thể chế/chính sách/luật pháp chỉ của nước người;

c) phục vụ chính sách đối ngoại của nước mình đối với nước người không thuộc liên minh với nước mình – bằng mọi giá và mọi cách, kể cả cách ngụy tạo thông tin; và

d) phủ nhận tự do ngôn luận của người khác nếu khác với ý mình.

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà toàn bộ báo chí chính thống Mỹ đồng loạt đưa tin “chính xác” kèm hình ảnh chứng minh “chính xác” Cộng Sản Bắc Việt đã tấn công khu trục hạm USS Maddox ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, ngày 02-8-1964, buộc Mỹ phải vì ấm ức tự vệ mà đưa đại quân ồ ạt đỗ bộ vào Đà Nẳng ngày 08-3-1965.


Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà vài tên đại sứ cùng tùy viên đại sứ quán của chúng lớn tiếng đòi Chính phủ Việt Nam phải thả những ai và phải bỏ điều luật 258 của Việt Nam, còn bọn ngố ngồ ngộ ngỗ NGO thì liên tục sủa tru tréo về nhân quyền ở Việt Nam.

Tóm lại, Tự Do Ngôn Luận của Âu Mỹ là Tự Do Ngôn Luận Đểu.

2) Việt Nam Là Nước Nhược Tiểu:

Nước nhược tiểu là quốc gia vừa không hiểu gì về Tự Do Ngôn Luận, vừa nghèo khổ lạc hậu, vừa học đòi dân túy bằng cách dùng những khái niệm không một quốc gia tư bản hùng mạnh nào áp dụng để ve vuốt truyền thông, trao quyền lực mà ngay cả truyền thông Mỹ cũng không bao giờ có: ban đẳng cấp ngang-hàng-công-an cho truyền thông để bắt công an quỳ mọp thờ lạy cung phụng truyền thông, biến truyền thông thành Loạn Kiêu Báo, mở đường cho truyền thông chính thống chõi lại Hiến Pháp Việt Nam, chõi lại luật pháp Việt Nam, chõi lại thể chế chính trị Việt Nam, chõi lại chính sách nội trị của chính phủ Việt Nam, trở thành biểu tượng của cái thứ Tự Do Ngôn Luận hạ đẳng không hề được các cường quốc Âu Mỹ áp dụng, đồng thời ngậm tăm không dám công kích quốc gia nào khác theo phong cách thượng đẳng mà truyền thông Âu Mỹ muôn đời áp dụng.

3) Ham Học Và Hiếu Học:

Việt Nam hay tự khoe về tinh thần ham học và hiếu học của người dân, mà không nhận biết rằng sự ham học của người dân chấm dứt ngay sau khi có được một tấm bằng thạc sĩ/tiến sĩ đủ để kiếm chức kiếm ăn.

Kẻ đi xin việc thì khoe mình có tinh thần ham học hỏi, mà không biết rằng điều đó tương tự như lời thú nhận mình bất tài vô dụng không có gì trỗi vượt để nơi tuyển dụng có thể học hỏi gì từ mình để phát triển.

Người thuộc giới ca nhạc thì nói nhà nước nếu muốn họ có tác phẩm hay thì phải đài thọ cho họ đi học ở các nhạc viện Hoa Kỳ mà không biết mình thuộc giới xướng ca đại loại không bao giờ tối cần thiết. Quân đội tối cần thiết vì không thể có việc quân đội nước khác đến bảo vệ nước mình (như quân đội Mỹ đến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa), nhưng ca sĩ toàn cầu có thể giúp người Việt giải trí chất lượng cao hơn mà không cần sang Việt Nam.

Kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha thì nói sẵn sàng làm cho Vụ Kinh Tế của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Trung Tâm Xúc Tiên Thương Mại Đầu Tư Cần Thơ thất bại để bản thân mình có thể học hỏi từ những thất bại mà hậu quả của nó do nhân dân gánh chịu và ngân sách quốc gia hứng chịu.

Kẻ trẻ tuổi không thuộc giới ô dù con ông cháu cha không thể đi tắt Vụ Kinh Tế thì đi tắt vụ dân chủ nhân quyền lương tâm thay vì cắm đầu học tập cực chăm làm việc chất lượng cực cao trí tuệ cực cao hiệu quả cực cao để đích thân dìm đầu kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha.

Kẻ có quyền thế trong Ban Chỉ Đạo thì chỉ đánh giá cao người ham học và hiếu học chứ không coi trọng người-đã-học-rồi, người-đã-làm-rồi, người-ham-dạy, người hiếu-dạy, và người-dạy-người-hiếu-học, nên mới bổ nhiệm một gã không bằng cấp (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) và không kinh nghiệm (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) chỉ vì y chứng minh hùng hồn rằng y ham học đến độ học một lèo kiểu Việt chứ không học-hành-học thêm-hành thêm-học nửa-hành nửa kiểu Mỹ. Thậm chí đánh giá cao người nào vừa ham học và hiếu học vừa là con cháu của các đại quan, cứ như thể con cháu đại quan thì mặc định là ngu dốt nên phải ưu tiên ưu ái một gương sáng quý hiếm để động viên số đông lúc nhúc con cháu đại quan khác.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong xác định (a) phải bảo đảm tự do ngôn luận của mỗi cá nhân công dân; (b) cấm cá nhân công dân đem tự do ngôn luận cá nhân tác động vào các cá nhân khác để hình thành “ngôn luận tập thể” chống lại xã hội, chống lại chính phủ, chống lại thể chế; và (c) cấm báo chí chính thống tức danh phận tập thể lại dành danh phận cá nhân công dân để có tự do ngôn luận.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong mãi mãi

Tuyệt đối quản trị báo chí chính thống bằng bàn tay sắt bọc thép gai.

The mainstream mass media must be gently handled with an iron fist in a stainless-steel glove of peacefully green bamboo pikes.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông November 16, 2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB



A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam


Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

How the Due Process of Proud Choice Turns into a Turmoil of Devastating Shame

Vì Sao Một Quy Trình Vinh Diệu Biến Thành Sự Hỗn Loạn Nhục Ô

Hoàng Hữu Phước, MIB

Chính Trị Gia (Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII)



Một hai tuần qua dấy lên sự việc của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ (gọi là “Cần Thơ” do cơ quan Đảng tọa lạc tại Cần Thơ, hoặc đối với dân Nam Bộ rặt thì “Hậu Giang” luôn là “Cần Thơ” vì Cần Thơ đã từng thuộc Hậu Giang, cũng như khi khen người Quảng Nam chân chất cũng có nghĩa gồm luôn người Đà Nẵng vậy) có liên quan đến cái tên Vũ Minh Hoàng.

Phải ghi rõ là “lãnh đạo Đảng” Cần Thơ vì (a) bản thân người dân Cần thơ không có lỗi gi cả; (b) nếu như cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh là quan tâm duy chỉ đến tự chủ đặc thù thì cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ lại là sự quan tâm đến duy chỉ tận dụng quy trình để hủy phá hệ thống; (c) lãnh đạo Đảng ở các tỉnh khác của Miền Tây dưới quyền Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thì không như vậy; và (d) có sự trùng hợp ở mức độ tầy huầy tại Cần Thơ – như vụ Trịnh Xuân Thanh và nay là Vũ Minh Hoàng – nên dù theo công tâm mà nói kỳ này của Vũ Minh Hoàng thì do Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ gây ra nhưng có dính trực tiếp đến địa phương Cần Thơ nên có manh nha cơ sở cho một ngờ vực rằng hoặc đã có sự càn quét bất trị của virus “xin đích danh” của Cần Thơ tác động đến Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoặc do chính Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã “chỉ đạo” Cần Thơ phát huy truyền thống “xin đích danh” để Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tiếp nhận một hậu duệ thế gia vọng tộc của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

Đồng thời, do có vài động thái trong giới báo chí chính thống dường như đang từ bi ra tay “cứu bồ” hoặc “viết theo chỉ đạo” hoặc “viết theo thuê mướn” nên đã có những thủ thuật phỏng vấn bằng cách dâng tặng mớm sẵn “bày cách  trả lời” – một biến cách biến thể biến dạng biến hình của thủ thuật “nét chữ vào mồm” như trường hợp nhét “dân trí thấp” vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến “Luật Biểu Tình” 2011 khiến nghị sĩ ấy đột nhiên thành tên miệt thị nhân dân – nay biến Vũ Minh Hoàng đột nhiên thành đấng thánh nhân tài ba tột đỉnh của dân tộc “biết nhiều thứ tiếng, đẳng cấp tiến sĩ, không chịu làm việc ở nước ngoài”, tác giả bài viết này buộc phải có ý kiến để giúp Đảng, giúp nước, giúp dân, và giúp giữ gìn chân lý trước nguy biến Đảng Loạn đã hiện rõ vì Loạn Đảng đã lộ chân tướng.

Đảng Loạn vì có đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoàn toàn mất kiểm soát, bị lừa bởi đảng viên cấp cao khác cũng của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mạo danh, mạo nhu cầu, mạo quy trình, mạo thủ tục, mạo hồ sơ, mạo hào quang, để đưa người lạ vào tổ chức cao cấp của Đảng, biến Đảng thành một thành trì khổng lồ vững chắc kiên cố hoàn toàn không có hào nước, không có hào chông, không có cổng, không có cửa, không có lỗ châu mai, không có đạn trong súng, và không có cả lính canh.

Loạn Đảng vì đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ chà đạp nguyên tắc tổ chức của Đảng, tự biến thành loạn thần tặc tử, tức thành phần cần và đủ cho một Loạn Đảng để chống lại Đảng. Những ai cho rằng một đảng viên Cộng Sản cấp cao làm Đảng Cộng Sản ô danh do “nôn nóng” không phải là trọng tội nên không nhất thiết phải khai trừ khỏi Đảng thì bảo đảm họ đích thị là những đồng bọn của hoặc đồng tình với Loạn Đảng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Việt Nam.

A- Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ Là Cái Gì?

1- Các Ban Chỉ Đạo: Vai Trò Lịch Sử Hiện Đại

Rất ít người trong xã hội loài người hiện đại chưa từng biết rõ rằng chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế.

Được thúc đẩy bởi sự thành công vượt bậc trong xây dựng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nghiệt ngã của tự lực cánh sinh lọt thỏm trong thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu của các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhà đất, khủng hoảng ngoại hối, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tín dụng v.v. trên toàn thế giới tư bản trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, cùng với sự đón bắt những thời cơ mới của hội nhập và hợp tác quốc tế, hòa chung nhịp phát triển kinh tế tăng cường ổn định chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khoanh ba vùng chiến lược rốn quốc gia, hình thành các Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên (năm 2002), Ban Chỉ Đạo Tây Bắc (2004), và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ (2004), để chỉ đạo, quản lý, giám sát các tỉnh của ba khu vực này, trong tham mưu cho Bộ Chính Trị của Đảng về phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và xây dựng chiến lược quốc phòng của ba vùng.

Những đảng viên cao cấp lãnh đạo quốc gia tuyệt đại đa số nhất thiết phải xuất thân từ chiếc nôi quyền lực lãnh đạo các Ban Chỉ Đạo quan trọng đa năng thuộc Bộ Chính Trị này để từ đó tiến vào Bộ Chính Trị mà những cái tên quen thuộc như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Văn Bình ở Ban Chỉ Đạo Tây Bắc; Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang, Tô Lâm ở Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên; và Nguyễn Sinh Hùng, Vương Đình Huệ ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ. Không có tầm quản lý vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia thì không thể lãnh đạo quốc gia. Đã ở vị trí lãnh đạo thành công vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia tất có tầm vóc quản lý cả quốc gia. Đã có tầm vóc quản lý cả quốc gia tất có một tỷ lệ nhất định cơ hội lãnh đạo cả quốc gia. Đây là sự đơn giản trường kỳ tuần tự tiệm tiến vững chãi của những lãnh đạo là danh nhân nước Việt của thời đại Thế Kỷ XXI như Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, và Nguyễn Xuân Phúc.

Từ đó suy ra bài học dành cho tất cả những kẻ hậu sinh khả ố thời hiện đại là: đại kế để trèo lên cao nhất, nhanh nhất, chắc chắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo quốc gia là phải bằng mọi giá nhảy vọt chen ngang ngay lập tức vào hàng ngũ lãnh đạo tại một cơ quan “dưới một người, trên cả vạn người” như Ban Chỉ Đạo, quyết không để mất ghế làm một lãnh đạo trong một Ban Chỉ Đạo vào tay kẻ khác mà số lượng đang rất đông cũng đang áp dụng chiêu trò ào ạt kiếm bằng cấp nước ngoài và chạy chọt chen ngang như mình. Đơn giản hơn theo hướng phản luận đề của trứng-cho-ra-gà và gà-cho-ra-trứng: chỉ cần ở ghế cao trong một Ban Chỉ Đạo là tự nhiên có tầm vóc quản lý cả quốc gia để quản lý cả quốc gia. Đây là sự đơn giản đi tắt đón đầu của những búp bê nhựa tái chế Vũ Minh Hoàng trong thời đại Thế kỷ XXI.

2- Các Ban Chỉ Đạo: Các Chính Phủ Trong Đảng

Tuy nhiên, mô hình các Ban Chỉ Đạo của Bộ Chính Trị có đầy đủ các ban bệ như Vụ Kinh Tế, Vụ Văn Hoá – Xã Hội, Vụ An Ninh – Quốc Phòng, Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo, và Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị, dưới quyền các Vụ Trưởng và Vụ Phó, lại cho thấy có những vấn đề mang tính vấn nạn hiệu quả của cơ cấu tổ chức của Đảng.

Trong thực tế, tổ chức của Trung Ương Đảng Cộng Sản đã sẵn có riêng các Vụ Kinh Tế Tổng Hợp, Vụ Xã Hội, Vụ Công Nghiệp, Vụ Nông Nghiệp – Nông Thôn, và Vụ Địa Phương. Tất nhiên, các Vụ này cũng phải có sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó.

Như vậy, với việc

(a) Chính Phủ có rất nhiều Bộ, mỗi Bộ có rất nhiều Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa;

(b) Trung Ương Đảng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó cùng một vai cơ quan ngang-Vụ dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; và

(c) Bộ Chính Trị có 3 Ban – mỗi Ban cũng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa tuy không hoàn toàn giống nhau ở 100% lĩnh vực hay tên gọi, cùng một vài cơ quan ngang-Ban cũng dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; thì

hoàn toàn không rõ “vụ trưởng” nào cao hơn “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào chỉ đạo “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào quyết định chiếc ghế “vụ trưởng” tương tự cho “vụ” tương tự ở cơ quan quyền lực khác, và quyền lợi/phúc lợi/chế độ của “vụ trưởng” nào hơn “vụ trưởng” tương tự ở cơ quan quyền lực khác.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Như Nhau thì quả thực cơ chế tổ chức của Đảng đã biến thiên thành Tam Đầu Chế tức cơ quan quyền lực nào cũng có “chính phủ” riêng: Cơ Quan Chính Phủ Trong Trung Ương Đảng, Cơ Quan Chính Phủ Trong Bộ Chính Trị, cùng tồn tại với Cơ Quan Chính Phủ trong Chính Phủ, hình thành môi trường đầy dẫy xung đột quyền năng, đầy tràn xung đột quyền lực, đầy ngập xung đột quyền lợi, đầy đủ xung đột hiệu năng, đầy ắp xung đột cơ chế, và đầy nghẹt xung đột quy trình.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Khác Nhau thì quả thực đã có sự bất lực của tổ chức guồng máy theo kiểu tài tử vô tư vô tâm vô bài bản, hoặc không chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” dậy sóng quan liêu như của Mỹ tương tự như hàng tỷ chi tiết “khác nhau” để vận hành một con tàu vũ trụ trên đường vượt Thái Dương Hệ đến Hỏa Tinh. Còn cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” không chút lăn tăn quan liêu như của Việt Nam hiện nay tương tự như một chiếc xe ô-tô con 3 chỗ dài 3 mét sơn 3 màu mang 3 nhãn hiệu khác nhau có 3 bánh xe kích cỡ khác nhau, 3 bánh lái vô-lăng khác nhau, 3 côn ly-hợp khác nhau, 3 phanh chân khác nhau, 3 phanh tay khác nhau, 3 bàn đạp ga khác nhau, xài 3 thứ nhiên liệu hiện đại khác nhau của pin-mặt-trời/xăng-hóa-thạch/điện-sạc, do 3 chủ nhân điều khiển khác nhau cùng vận hành cổ xe ấy chạy trên đường vượt Đê La Thành đến Hỏa Lò.

Tất cả, dù Như Nhau hay Khác Nhau, đều dẫn đến một cơ may và một thảm họa.

Cơ may là khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, giúp Đảng nhận ra ngay các bất phù hợp để điều chỉnh hợp lý hóa và thải loại các bất khả phù hợp để Đảng hầu hình thành những best practices tức phương cách thực hành tốt nhất của đẳng cấp ưu thế vốn được tôn tạo từ sự thường xuyên hoàn thiện và/hay không ngừng cải thiện.

Thảm họa là ngay cả khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, mà Đảng vẫn thản nhiên duy trì trong hệ thống tổ chức của Đảng những điểm bất phù hợp cùng những điểm bất khả phù hợp khiến liên tục tạo ra những sự việc như Trịnh Xuân Thanh ở Cần Thơ và mới đây nhất là Vũ Minh Hoàng cũng ở Cần Thơ.

B- Tham Gia Chính Trị

1- Các Vấn Đề Chính Trị Cơ Bản

Việt Nam có hai vấn nạn trầm kha về con người đối với (a) giáo dục/đào tạo và (b) chính trị.

Nền giáo dục/đào tạo dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, tức hướng đến (a) non-stop tức không bao giờ có điểm dừng của học hành mở mang trí hóa và truyền thụ tri thức, và (b) thành phẩm “con người” human beings chứ không phải mục đích là tạo ra “người ngợm” ape-like beings.

Một con người được thụ hưởng – và thụ hưởng thành công – một nền giáo dục/đào tạo hiệu quả hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, đặc biệt nếu thực sự đã học hành đàng hoàng và thành công khi đi du học ở một trường đại học thực sự danh tiếng Âu Mỹ sẽ có năng lực đồng bộ đồng nhất về bốn nội dung sau của “chính trị”:

(a) Hiểu Biết Toàn Bộ Ý Nghĩa Của Chính Trị:

i- Chính trị tức politics không chỉ là nắm quyền trị quốc như tuyệt đại đa số người Việt lầm tưởng khiến chỉ nghĩ đến “làm chính trị” như nắm quyền lực quốc gia. Politics hiển hiện mọi lúc mọi nơi mọi lĩnh vực mọi khía cạnh của đời sống kể cả chỉ trong nội bộ một doanh nghiệp bất kể nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Như vậy, chưa hề làm politics tức làm việc thật sự về quản trị chuyên môn thì không thể làm chính trị. Sự đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ của Donald Trump chỉ là một ngạc nhiên đối với những ai tuân theo sự mặc định lệch lạc bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở công ty luật tư nhân rồi tiến vào nghị viện) chứ không là sự ngạc nhiên đối với những bậc đại trí tuân theo quy luật đúng đắn bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở doanh nghiệp tư nhân nói chung). Vũ Minh Hoàng có đã làm politics dài lâu tại những đâu mà lại được đưa vào hệ thống làm chính trị quốc gia?

ii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải trước hết tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp mà Hiến Pháp không bao giờ chấp nhận sự ngự trị của bất tài vô hạnh tham quyền tiêu cực chạy vạy chạy tắt. Vũ Minh Hoàng có đã chạy vạy chạy tắt vi phạm Hiến Pháp hay không?

iii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải biết rằng theo thực hành thường xuyên tốt nhất của các nền dân chủ toàn cầu trong thời điểm hòa bình thì việc “làm chính trị” tất yếu phải qua con đường nghị viện: phải trở thành nghị sĩ – nghĩa là phải có danh tiếng về chuyên môn, có công trình về chuyên môn, có công trạng về chuyên môn, có sự nổi bật chung để được công chúng biết đến rồi từ đó nhận được phiếu bầu của công chúng ấy khi ra ứng cử hoặc được đề cử ứng cử. Vũ Minh Hoàng được bao nhiêu chục người dân biết đến tại Tây Nam Bộ mà được cho chen vào tắt trên bước đường “làm chính trị”?

iv- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải có kiến thức – và thể hiện được bằng hùng biện và thắng tranh biện – về những đề tài “chính trị”, chẳng hạn về từng trong số gần 20 hệ thống chính trị, về việc trong gần 50 loại hình dân chủ thì Việt Nam loại dân chủ nào và vì sao trong các cuộc chiến tranh khủng khiếp giữa các nền dân chủ thì người ta không liệt kê Việt Nam vào danh mục các cuộc chiến tranh giữa Mỹ với các nước khác suốt chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ, và về khả năng hùng biện tất cả các nội dung của Hiến Pháp Việt Nam trong đó có vị trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đường hướng chính trị của đất nước mà người “làm chính trị” bắt buộc không những phải có mà phải ở đẳng cấp cao nhất trong tranh biện ý thức hệ và luật pháp trực tiếp với nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài. Vũ Minh Hoàng có dám tranh biện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt với tác giả bài viết này về tất cả các vấn đề chính trị để khẳng định năng lực và năng lượng “làm chính trị”?

Như vậy, các lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có đã hiểu hết ý nghĩa của politics, có biết người “làm chính trị” phải nắm hết các nội dung trên, và có biết nhân vật Vũ Minh Hoàng “muốn làm chính trị từ nhỏ” ấy đã hiểu biết ra sao về “làm chính trị” hay chưa mà lại khinh miệt dân tộc bằng cách giao “chính trị” cho đứa hài nhi ấy “làm”?

(b) Có Thái Độ 1 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong thực sự hiểu rõ nhân vật hay các nhân vật mình sẽ chọn bỏ phiếu bầu cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương, thực sự có hiểu biết trách nhiệm bản thân trong việc bỏ phiếu bầu cử, thực sự có hiểu biết rằng nhân vật hay những nhân vật mình đã bỏ phiếu bầu cử sẽ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với mình, với “nhóm” mình, với địa phương mình.

(c) Có Thái Độ 2 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong tự ứng cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương với sự hiểu biết thực sự về trách nhiệm bản thân trong tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và nếu là nghị sĩ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với “nhóm” mình và với địa phương mình.

(d) Có Thái Độ 3 Đối Với Chính Trị: hiểu biết rằng mỗi khi có ai phát ngôn “không quan tâm đến chính trị” thì đó dứt khoát là người hoặc chống Cộng, hoặc không còn năng lực tâm thần, hoặc trọn đời sống bám, hoặc chưa từng được giáo hóa về ba điểm a và b và c nêu trên – vì rằng ngay cả người làm việc cơ mật như tình báo hay gián điệp cũng không bao giờ ngu dại tuyên bố kiểu tạo vỏ bọc đầy lộ liễu trước các tình báo viên lão luyện rằng “tôi không quan tâm đến chính trị”.

Hãy lấy công tâm mà nhận định cũng như hãy lấy thực tế từ bản thân đảng viên cốt cán, từ lực lượng hậu bị của Đảng, từ giới trí thức do Đảng “bảo bọc”, từ giới trí thức “tự túc”, từ giới tinh hoa bậc nhất của khoa giáo và truyền thông chính thống để chứng minh và khẳng định đã có hay chưa ai hay những ai trong tất cả các lực lượng này đã từng biết đến bốn điều a và b và c và d về chính trị kể trên. Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ sau khi nhuần nhuyễn về Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lenin, và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, nắm vận mệnh quốc gia dân tộc, leo lên đỉnh cao quyền lực trong  Trung Ương Đảng và vào Ban Chỉ Đạo, lại tự tung tự tác tự ý sản sinh ra những hài nhi chính trị như Vũ Minh Hoàng, tự tung tự tác tự ý đặt những hài nhi ấy vào ngôi cao lãnh đạo để tái tạo các phiên bản tép riu nội địa Trịnh Xuân Thanh phá hoại thanh danh Đảng Cộng Sản Việt Nam hoặc cho ra phiên bản loại tôm càng nhập khẩu Mikhail Gorbachev đặt dấu chấm hết cho quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Sẽ không ngoa nếu có kẻ chống Việt muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản lập luận rằng – mà không bất kỳ ai trong toàn Đảng kể cả tác giả bài viết này luôn ra sức bảo vệ Đảng có thể hùng biện chống lại – Trung Ương Đảng đang phó mặc buông xuôi cho các Ban Chỉ Đạo sử dụng quyền lực tối cao để tự quyết đội ngũ vây cánh, tự chủ tài chính, và tự lập lãnh địa hùng cứ một phương chờ ngày ly khai tam tứ ngũ lục phân thiên hạ.

2- Cải Cách Giáo Dục: Học Là Cái Gì? Du Học Là Cái gì? Bằng Cấp Là Cái Gì?

Không những lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mà cả Vũ Minh Hoàng đều không hiểu biết về giáo dục & đào tạo, về ý nghĩa của việc học, về lý do của du học, và về giá trị của các đẳng cấp của bằng cấp.

Do nội dung này đã được viết về rất đầy đủ như trong đường link được cung cấp ở phần tham khảo bên dưới, các điểm chính ngắn gọn sau được nêu lên để báo nguy về sự sụp đổ của tư duy giáo dục & đào tạo của Đảng:

a) Con người nhất thiết phải có lòng tự trọng

b) Vì lòng tự trọng, người ta học chữ hoặc học nghề để có thể tạo lập cuộc mưu sinh

c) Khi điều kiện tự túc có thể đáp ứng được, người tự trọng đi du học vì muốn tiếp cận ngành học không sẵn có ở Việt Nam, tiếp cận cách học hiệu quả để tự phát triển và nhằm áp dụng phương pháp mới lạ ấy vào sự đầu tư cho sự nghiệp chuyên môn của mình, tiếp cận nguồn tài liệu và nguồn giảng viên cao cấp hơn ở Việt Nam, và tiếp cận các cơ hội khác dù là tạo cơ sở tiếp cận các học bổng khác hay đơn giản chỉ để tiếp cận cơ hội việc làm cho một kế sinh nhai. Không ai có trí tuệ mà lại cho rằng đi du học là để có bằng cấp có giá trị hơn bằng cấp của Việt Nam vì đó là lập luận của kẻ bất tài vô hạnh chỉ có thể đi tìm việc tại Việt Nam ở các doanh nghiệp không quan trọng hoặc ở các cơ quan quyền lực mà điển hình là Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

d) Vì mục đích mở mang kiến thức giúp cho cuộc mưu sinh ít đi những khó khăn, người ta học nhiều hơn, chăm chỉ hơn, tập trung đúng năng lực trí tuệ và tài chính hơn, và theo đúng sở thích hơn cũng trên cơ sở năng lực trí tuệ và tài chính

e) Vì phục vụ sự học cao hơn đáp ứng một nhu cầu cụ thể và yêu cầu cụ thể của công việc chuyên môn, người tự trọng sẽ tự lo liệu thu xếp để đạt được đẳng cấp “thạc sĩ” để làm quen với việc nghiên cứu rộng hơn, làm quen với việc hợp tác nhóm qua đó lãnh đạo dự án nhỏ của nhóm và lãnh đạo nhóm, làm quen với việc đưa những kinh nghiệm thực tế làm politics ra trao đổi với các bạn trong nhóm, mà tất cả những động tác nghiên cứu, làm việc nhóm, làm dự án, quản lý công việc từ chương trình thạc sĩ sẽ giúp người đạt đẳng cấp ấy sẽ làm politics tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cao hơn của nơi thuộc kế sinh nhai ấy.

f) Chỉ với năng lực vượt trội về chuyên môn, thói quen nghiên cứu hàn lâm, kèm với khát khao theo con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học, người ta sẽ cố đạt trình độ một tiến sĩ.

Vũ Minh Hoàng học lung tung, học không cần hành (học một lèo không cần thời gian tối thiểu bao nhiêu năm làm việc sau tốt nghiệp đại học để đủ tiêu chuẩn học thạc sĩ, vốn là kiểu học truyền nhiễm từ Đông Nam Á hủy phá chất lượng đào tạo toàn bộ các đại học lừng danh Âu Mỹ) và học tiến sĩ vì “làm chính trị” có bằng tiến sĩ sẽ được coi trọng hơn.

Giáo dục, do đó, phải cải cách. Điều quái gở là đã có những đại cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam nhưng tất cả đều chưa bao giờ là cải cách, khiến “con người mới xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa hề được sinh ra kể từ 30-4-1975, khiến lạm phát số lượng “trí thức trẻ”, gia tăng số lượng thạc sĩ/tiến sĩ trên báo cáo số liệu của Việt Nam chứ không trên bản đồ tri thức của thế giới, khiến Vũ Minh Hoàng cắm đầu đi học một lèo lấy tiến sĩ chỉ vì thích làm chính trị từ nhỏ, và khiến lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nghĩ rằng:

– Đầu tư có nghĩa là chỉ cần đưa mấy anh Nhật đem tiền về Cần Thơ, bất kể sự thật là nhà đầu tư Nhật phải sinh lời trên điều kiện tiên quyết Cần Thơ phải hy sinh môi trường Cần Thơ, “đất vàng” Cần Thơ, phúc lợi Cần Thơ và cuộc sống Cần Thơ, bất kể sự thật là Cần Thơ chẳng còn gì về “nông nghiệp” để Vũ Minh Hoàng đưa luận án tiến sĩ phát triển nông nghiệp vào cuộc sống Cần Thơ, đưa mấy công ty nông nghiệp Nhật rót tiền vào Cần Thơ không biết để làm gì, bất kể sự thật là những nhà đầu tư nước khác nếu quan tâm đến Cần Thơ buộc phải tránh Cần Thơ do biết Vũ Minh Hoàng được ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho cắm dùi ở Nhật sẽ thiên vị Nhật Bản, bất kể sự thật là Vũ Minh Hoàng theo con đường “làm chính trị” đúng quy trình nên sẽ sớm chia tay Cần Thơ để  trấn nhậm làm lãnh đạo Tỉnh Ủy ở tỉnh khác rồi từ đó tiến vào Chính Phủ kể cả Bộ Chính Trị, khiến hậu duệ của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại sẽ phải noi gương tiền bối tiếp tục “nôn nóng” chèn ngang đứa hài nhi biết tiếng nước ngoài sắp có bằng cấp tiến sĩ vào làm Vụ Trưởng.

– Vũ Minh Hoàng nhất thiết phải có danh phận để trấn nhậm ở Nhật cuốn hút đầu tư Nhật; song, trước thực tế là luôn luôn có các “bằng cấp hữu nghị” tức không dựa trên thực tài thực lực học hành mà chỉ để tạo điều kiện hình thành tầng lớp lãnh đạo thân mình như Liên Xô cấp cho giới tinh hoa Miền Bắc (nên không có công trình nghiên cứu khoa học nào hữu dụng), Mỹ cấp cho giới tinh hoa Miền Nam (nên tất cả các lãnh đạo giáo dục Sài Gòn đều kém tiếng Anh so với tác giả bài viết này), và Fulbright cấp cho giới tinh hoa dự kiến của Việt Nam (nên đa số phơi bày chống Cộng chứ không trình bày trí tuệ chuyên môn), nên việc phong hàm vụ trưởng/vụ phó cho Vũ Minh Hoàng sẽ đồng nghĩa với việc Nhật sẽ cấp bằng cấp hữu nghị cho Vũ Minh Hoàng, biến Vũ Minh Hoàng thành chức sắc Việt Nam đem lại lợi nhuận và quyền lợi cho Nhật Bản.

3- Cải Cách Tiêu Chuẩn: Tiêu Chuẩn Là Cái Gì?

Vũ Minh Hoàng tuyên bố trình độ văn bằng của y là đáp ứng tiêu chuẩn.

Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải trả lời bằng văn bản cho Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước câu hỏi: quy định nào của Đảng ghi rằng Học không cần Hành, rằng bằng tiến sĩ không để nghiên cứu chuyên môn phục vụ phát triển kinh tế quốc dân mà để làm chính trị như cách để buộc các chính khách chính đảng nước ngoài phải cung kính “Thưa Tiến Sĩ” khi nói chuyện với đảng viên cao cấp Việt Nam?

4- Cải Cách Tham Gia Chính Trị: Tham Gia Chính Trị Là Cái Gì?

Thời đại mới của Việt Nam đòi hỏi những tư duy mới.

Tư duy mới không phải là về thể chế chính trị vì trên toàn thế giới bất kỳ sự đi ngược lại Hiến Pháp quốc gia đều là trọng tội, phản động, và phản quốc.

Tư duy mới phải theo thông lệ áp dụng toàn cầu: làm chính trị bắt đầu từ vai trò nghị sĩ Quốc Hội, vì rằng để trở thành nghị sĩ thì bản thân một người phải có trình độ học vấn, quá trình công tác chuyên môn, danh tiếng và uy tín với cộng đồng, và đặc biệt là được cử tri đặt vào tay người ấy trọng trách “làm chính trị”.

Theo tư duy mới ấy, sự tích cực sẽ được nâng cao tột đỉnh vì người dân có tài sẽ không phải chịu khuất thân dưới quyền quản lý của người khác chỉ vì người khác ấy có khả năng “học một lèo không cần làm lụng kiếm tiền lương nuôi thân với tư cách người tự trọng, có ô dù chở che tạo điều kiện chen ngang của thế gia vọng tộc tinh hoa của Đảng.

Từ tư duy mới nói trên, tầm vóc uy tín tuyệt đối của Đảng sẽ được nâng cao tột đỉnh vì

– Người công dân là chủ thể đích thực của nền dân chủ Việt Nam nên dù ngoài Đảng cũng không thể bị tập thể khác trong Đảng độc quyền làm lãnh đạo đại cuộc phát triển quốc gia;

– Người công dân là đối tượng đích thực của sự phục vụ của Đảng nên dù ngoài Đảng cũng không thể chỉ ở vị trí phục vụ những đảng viên được ưu ái chọn sẵn;

– Người công dân là đối trọng đích thực với Đảng tức trên cở sở và nền tảng của sự ngang hàng về vị thế, ngang bằng về sự kính trọng, và công bằng về quyền lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng việc chiến đấu hy sinh trên chiến trường khi nổ ra chiến tranh là của người công dân được tổng động viên chứ không phải của Đảng viên trong quân đội hay con em của các Đảng viên, vì rằng việc lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân là của người công dân yêu nước có năng lực cao chứ không phải họ tiếp tục luôn lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân để những đảng viên được ưu ái chọn sẵn làm lãnh đạo họ để hưởng thụ ngôi cao quyền trọng từ thành quả lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân của người dân ngoài Đảng; và

– Từ những lý do trên, việc “làm chính trị” là quyền của các công dân gương mẫu, nhiều thành tích, tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp, bảo vệ thể chế chính trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và được đắc cử minh bạch danh chính ngôn thuận vào Quốc Hội, từ đó tham chính, nghĩa là theo quy trinh tuyệt đối đúng của thời bình theo đó “Nghị sĩ (làm chính trị) ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức Chính Phủ (tham chính)“, chứ không phải theo quy trình thời loạn bấy lâu nay của “Đảng viên ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức trung ương (tham chính) ==> Quan chức Chính phủ (làm chính trị) ==> Nghị Sĩ“.

C- Vũ Minh Hoàng Muốn Là Được

Vũ Minh Hoàng tuyên bố từ nhỏ đã muốn tham gia chính trị.

Bất kỳ đứa bé thần kinh khỏe mạnh nào cũng nghĩ đến việc mình sẽ làm tổng thống.

Cái ý nghĩ ấy bắt đầu biến mất ở đa số đứa bé nào phát triển khỏe mạnh lên “tuổi teen”.

Phát triển khỏe mạnh ở “tuổi teen” nghĩa là hoặc bận rộn với tình cảm yêu đương, hoặc ý thức về những khó khăn trong cuộc sống gia đình với cha mẹ cùng các em mà mình là một thành viên nhỏ bé có ý thức trách nhiệm.

Tình cảm yêu đương khiến đứa bé không còn bé ấy miệt mài lặn ngụp với mộng mơ, xóa sạch cái việc “làm tổng thống” đã không còn là quan trọng cho cuộc đời.

Ý thức về trách nhiệm trước cuộc sống khó khăn của gia đình khiến người tuổi teen trưởng thành trước tuổi, nhận ra cuộc đời rất khó để có màu hống, và cái chính trong đời sống trở thành sự dằn vặt giữa sự tiếp tục lao vào miệt mài học tập để có được một kế sinh nhai có lý hơn và sự quyết định phải hy sinh việc học tìm một kế sinh nhai cụ thể hơn.

Những quá trình mang tính hành trạng tư duy ấy khiến người trẻ tuổi nhận ra giá trị của thực tế, và cái ước mơ “làm tổng thống” (tức “làm chính trị”) trở nên không bao giờ còn tồn tại hay được xem có giá trị theo đuổi hơn thu nhập cao và cao hơn. Chưa kể, trẻ em Mỹ dần nhận ra rằng không trở thành nghị sĩ giàu có và nổi bật nhất của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ; còn trẻ em Việt Nam dần nhận ra rằng không là đoàn viên cao cấp sẽ không thành đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà không là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành lãnh đạo Việt Nam.

Từ đó suy ra, việc Vũ Minh Hoàng vẫn còn duy trì ước mong từ nhỏ “tham gia chính trị” sẽ đồng nghĩa với việc:

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nâng niu ưu ái vẫn còn là đứa bé

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trao cho trọng trách chiến lược phát triển đầu tư kinh tế khu vực vẫn là unfinished person tức (a) người chưa trưởng thành do chưa từng yêu đương ai mơ mộng đến ai; (b) người không hấp dẫn về tính cách hào hiệp bản lĩnh do chưa từng được ai yêu đương; (c) người vô trách nhiệm do chưa từng bận tâm cho một công việc có thu nhập để phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhu cầu sống của gia đình, hay nhu cầu làm việc thiện của bản thân và gia đình; và (d) không có định hướng trí tuệ mà chỉ có mưu đồ “tham gia chính trị tắt” tức kiểu bị khinh miệt của political shortcutism như minh chứng của nỗ lực lấy Cử Nhân Chính Trị Quan Hệ Quốc Tế không để xin làm nhân viên Bộ Ngoại Giao, lấy Thạc Sĩ  Phát Triển Quốc Tế không để xin làm nhân viên phục vụ cơ quan Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, lấy Thạc Sĩ Hành Chính Công không để làm giảng viên đại học bộ môn này hay để xin làm công chức phục vụ cho Đảng trong đại cuộc cải cách hành chính quốc gia vốn đang dẫm chân tại chỗ, và đang chờ lấy Tiến Sĩ Kinh Tế không vì theo sự nghiệp nhà nghiên cứu hàn lâm mà muốn dựa hơi Khoa chủ quản của ngành kinh tế ấy là Khoa Nông Nghiệp để phù hợp với chiếc ghế sẵn có (lãnh đạo một Vụ) ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trên đó có chiêu bài “phát triển Miền Tây Nông Nghiệp” tức có cùng chữ “nông nghiệp” vậy.

Tuổi tác luôn có giá trị của nó:

– Lãnh đạo trẻ tuổi hay chuyên gia trẻ tuổi hoàn toàn thích hợp cho các công việc sáng tạo thích táy máy tay chân như trong ngành liên quan đến công nghệ thông tin hay cơ khí dân dụng;

– Lãnh đạo trẻ tuổi dù quy mô cá thể hay tập đoàn khổng lồ hoàn toàn thích hợp cho các đầu tư kinh doanh tự thân tự túc tự vay tự chịu trách nhiệm của bản thân và/hay gia đình ;

– Lãnh đạo trẻ tuổi không bao giờ thích hợp cho các cơ quan nhà nước mà hoạt động của chúng không liên quan đến kinh doanh/sáng tạo/chế tạo công nghệ thông tin hay cơ khí kỹ thuật dân dụng;

– Một giáo sư toán, một nhà đoạt giải toán quốc tế, một nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình, một chuyên gia trưởng phòng NASA xuất sắc có thể trẻ tuổi;

– Một giáo sư giải phẫu, một bác sĩ ghép tạng lừng danh, một nhà đoạt giải Nobel khoa học tự nhiên như Vật Lý/Hóa Học/Y Sinh, một nhà đoạt giải Nobel Văn Học hay Nobel Kinh Tế không bao giờ trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một cuộc cách mạng ở một nước nhược tiểu có thể trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một nền chính trị đã vững mạnh không thể trẻ tuổi;

– Các nhà tư vấn chính sách và tư vấn phát triển không bao giờ trẻ tuổi,

– Các nhà quản lý các đế chế kinh tài tư bản thế giới không bao giờ trẻ tuổi.

Lãnh đạo một hoạt động có mang tính chiến lược như “phát triển nông nghiệp Tây Nam Bộ” không thể trẻ tuổi.

Quản lý đại cuộc “kêu gọi đầu tư” không thể giao cho một người trẻ tuổi chưa hề thực sự quản lý công việc, chưa hề thực sự quản lý nhân sự, chưa hề thực sự quản lý phát triển thành quả học tập chuyên môn, chưa hề nhận được sự đánh giá khen-chê của bất kỳ “đồng nghiệp” cùng ngành đào tạo nào, cũng như chưa hề được những cư dân địa phương phó thác vận mệnh biết đến và/hay thán phục.

Vũ Minh Hoàng muốn là được, vì Đảng đã có những thành phần Loạn Đảng muốn làm Đảng Loạn nên sẵn sàng triệt hạ tất cả các nhân-tài-dân-dã để đóng sẵn ghế lãnh đạo cho các tinh-hoa-Đảng ngay cả khi nhân vật “Đảng” ấy chưa – và sẽ mãi mãi không – bao giờ là “tinh hoa”.

Tiếc cho người dân Việt Nam vì con em của họ cũng có những ước mơ –thậm chí ước mơ “tham gia chính trị” như Vũ Minh Hoàng – và cũng có những năng lực – thậm chí còn hơn Vũ Minh Hoàng cả vạn bậc ở chỗ có kinh nghiệm làm việc dồi dào và có nhận thức đúng đắn của cống hiến vì Đảng vì Nước vì Dân chứ không vì Ghế như Vũ Minh Hoàng – lại sẽ mãi ở kiếp nhân viên phục vụ nếu không thuộc gia đình Đảng viên cao cấp.

D- Chính Quyền Cần Thơ Muốn Là Được

1) Cần Thơ Tạo Nên Lịch Sử

Trịnh Xuân Thanh là dấu ấn thành công của Cần Thơ: Cần Thơ mà “xin đích danh ai” là sẽ được. Đây là ưu điểm mà tất cả các tỉnh không thuộc Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thèm muốn mà không được.

2) Cần Thơ Lập Lại Lịch Sử

Vũ Minh Hoàng lại nổi lên như một nhân vật vì Cần Thơ, chứng tỏ Đảng ưu tiên cho Cần Thơ bằng cách lôi từ trong bóng tối ra giao cho Cần Thơ một nhân tài không-cần-làm-cũng-có-sẵn-kinh nghiệm để “đem đầu tư Nhật về Cần Thơ”. Và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Tây Đô vì đã bỏ mặc tất cả các tỉnh còn lại của Tây Nam Bộ do không có tỉnh nào có tên mang chữ Tây (du học Tây) và Đô (USD tiền đầu tư) như Cần Thơ.

3) Cần Thơ Rút Kinh Nghiệm Lịch Sử

Rất có thể vì sự thất bại ê chề đầy tai tiếng của việc trực tiếp xin Trịnh Xuân Thanh, phải chăng Cần Thơ đã nhờ Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ xin giúp? Tất cả sẽ tồn tại như một thuyết âm mưu vậy.

E- Phải Hủy Bỏ Triệt Để Và Toàn Diện

Việc dựng xây luôn được tiến hành với nhiều hơn một yếu cầu như (a) xây mới từ nơi lựa chọn mới, (b) đào đắp gia cố lại nền móng, (c) khơi thêm tầng, (d) tháo dỡ bớt tầng, (e) mở rộng diện tích mặt bằng, (f) thu hẹp diện tích mặt bằng, (g) tạo khoảng sân vườn và/hoặc sân trời hay giếng trời, (h) lắp thêm mái hiên, (i) dựng cổng dựng rào, và (j) thay màu ngói hay tường.

Chỉ có kẻ dốt nát tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có người thành công vượt bậc mới đủ sức hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng mới mà dù theo cách nào bản thân vẫn là chủ nhân ông quyền lực duy nhất của gia tài.

Chỉ có bọn thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có một Đảng chính trị thành công vượt bậc mới đủ sức người sức của sức quản trị để hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng thêm kiến trúc mới mà dù theo cách nào bản thân Đảng vẫn là lãnh đạo duy nhất của quốc gia.

Chỉ có bọn truyền thông ngu đần thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình kiếm tìm chiếc mũ “phản động” để chụp lên đầu tác giả bài viết này, người đã như một tiền lệ kiểu Donald Trump đạp đầu dìm cổ truyền thông chính-thống-bất-chính-đạo xuống bùn nhơ.

Vì vậy, nội dung loại bỏ toàn diện sau đối với các Ban Chỉ Đạo là để sử dụng quyền lực ưu việt có thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam biến tổ chức Đảng thành siêu việt.

1) Loại Bỏ Tất Cả Các Ban Chỉ Đạo

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm các lĩnh vực xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và tất cả các Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc Mặt Trận Tổ Quốc hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm luôn cả lĩnh vực bảo đảm an ninh/quốc phòng, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của các Bộ đặc thù, và do đó không bao giờ nên – hoặc không bao giờ có thể – đặt ngoài sự giám quản của Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng,  Bộ Công An, và tất cả các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu. An ninh/Quốc phòng phải không được – và không bao giờ được phép – xem như thứ mà quá nhiều cơ quan được nhúng tay vào chỉ vì lý do duy nhất của “cùng là cấp cao ngang hàng của Đảng” nên không chịu mất phần quản lý lực lượng vũ trang để tạo vây cánh riêng.

Từ các phân tích xuyên suốt nêu trên,

trước thực tế

(a) Đảng có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(b) Chính Phủ có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(c) Mặt Trận Tổ Quốc có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(d) Các Ban Chỉ Đạo không có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(e) Tổ chức Đảng được minh định trong Điều Lệ Đảng

có thể khẳng định Chính Phủ trực tiếp điều hành đất nước và tổ chức Đảng không hề được hiến định là một Chính Phủ Cấp Trên của Chính Phủ.

Sự cải tổ cơ cấu tổ chức của Đảng do đó cần hợp lý hóa theo sát trào lưu hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm, đồng bộ, nghiêm ngặt, khoa học, nhất thiết nên xét đến hướng sau:

a- Trung Ương Đảng sẵn có bộ máy phục vụ Bộ Chính Trị đối với những nội dung như phân định cho các Ban Chỉ Đạo chứ không phải để Bộ Chính Trị thành lập riêng các Ban Chỉ Đạo ấy; do đó, giải thể các Ban Chỉ Đạo Tây Bắc, Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ;

b- Trung Ương Đảng có cơ quan quyền lực mang tên Ban Kinh Tế Trung Ương, và cơ quan này, nếu muốn, có thể thành lập các tiểu ban dưới quyền bao gồm các Ban Tây Bắc, Ban Tây Nguyên, Ban Tây Nam Bộ, Ban Đông Nam Bộ, hay Ban Bắc Trung Bộ, v.v., tùy hoạch định chính sách khi thực sự tối cần thiết;

c- Ban Kinh Tế Trung Ương, do đó, là cơ quan trí tuệ của Trung Ương Đảng và của Bộ Chính Trị mà không phải có sự phân chia ban bệ hình thành những “triều đình” tức những “chính phủ” khác nhau cho những cơ chế dường như chỉ cho cảm nhận tất cả không chịu tự đặt dưới quyền nhau; và như vậy

d- 3 Ban Chỉ Đạo bị loại bỏ do không còn bất cứ lý do chức năng tưởng tượng hay thực tế nào tồn tại vì

– Chuyền chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của 3 Vụ Kinh Tế của 3 Ban Chỉ Đạo về Ban Kinh Tế Trung Ương (trọn gói hoặc phân nhánh thành các tiểu ban hoặc tiểu phòng về Vụ Kinh Tế Tổng Hợp hay Vụ Công Nghiệp và Vụ Nông Nghiệp-Nông Thôn), hoặc giải thể hẳn nếu các nơi này không cho rằng việc thành lập các “tiểu ban chỉ đạo vùng” là cần thiết.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Văn Hoá – Xã Hội của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Xã Hội.

– Giải thể hẳn 3 Vụ An Ninh – Quốc Phòng của 3 Ban Chỉ Đạo vì lý do tối quan trọng của an ninh-quốc phòng do các cơ quan tối quan trọng đặc thù an ninh-quốc phòng đảm trách như Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, và các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Địa Phương, chưa kể Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam đang thất bại thảm hại từ việc xao nhãng công tác “dân tộc – tôn giáo” của họ, mà các vụ việc giáo dân “biểu tình” làm loạn không rõ thuộc trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc, của Trung Ương Đảng, hay của các Ban Chỉ Đạo.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị của 3 Ban Chỉ Đạo vì toàn quốc đã có hệ thống dày đặc các Đảng Ủy, Tỉnh Ủy, Thành Ủy vốn mặc định phải chịu luôn trách nhiệm xây dựng hệ thống chính trị của Đảng.

2) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Dụng Nhân Thất Học Kiểu Cần Thơ

Cần Thơ – gộp chung Lãnh Đạo Cần Thơ và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đóng ở Cần Thơ có những động thái nhét người vào Cần Thơ – đang chứng tỏ đã có sự dụng nhân thất học mang signature thương hiệu đặc thù của Cần Thơ. Các phân tích sau, do đó, cũng để gián tiếp khẳng định Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã chưa hề nhận ra và có bất kỳ động thái nào để tận dụng thời cơ cho Cần Thơ ngoại trừ phí bỏ thời cơ phát triển kinh tế mà chỉ lạm dụng thời cơ phát triển nhân sự kiểu nhét người mà lý do là “nôn nóng” chứ hoàn toàn bất tài vô dụng trong phát triển chiến lược toàn vùng Tây Nam Bộ.

a- Thực Lực Sức Mạnh Kinh Tế Quá Khứ Của Cần Thơ

Vào thời điểm cách nay 28 năm lúc tác giả bài viết này trở thành người “có công” giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam – do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Báo Tuổi Trẻ tôn vinh – thì những chuyến đi như con thoi đến các vựa gạo ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, và Hậu Giang, trong đó có Cần Thơ đã được ông ta thực hiện. Sau khi lựa chọn kỹ các công ty cung cấp gạo để ký kết các hợp đồng kinh tế bằng USD đầu tiên của Việt Nam về gạo như Imex Đồng Tháp của Tỉnh Đồng Tháp, Generalimex của Bộ Ngoại Thương, và Imexco của Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm điều tàu vào Cảng Khánh Hội để nhận gạo trở thành thời điểm ông theo sát các đoàn xe tải và các đoàn xà lan chở gạo từ Tây Nam Bộ, cho đến khi ba bộ chứng từ giao hàng Bill of Lading được ký xuất, mà hiệu quả của việc thanh toán cả 3 Letter of Credit cùng sự thành công về chất lượng hàng giao đến Ấn Độ đã làm ông được liên tục tiếp cận bởi các nhà nhập khẩu gạo ở nước ngoài – thậm chí từ Mỹ – ngay cả khi ông quản lý văn phòng đại diện CIMMCO International nên không  có quyền tự do tư vấn hay thực hiện môi giới kinh doanh gạo với bất kỳ ai khác ở hải ngoại.

Thế nhưng, sự tích cực tham dự các Hội Nghị Quốc Tế về gạo sau đó dù ở Cần Thơ hay ở Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự chủ trì cũng của Cần Thơ) chỉ khiến tác giả bài viết này nhận ra một điều: các Đảng Ủy chỉ tập trung hình thành đế chế quyền lực của cái gọi là Hiệp Hội Xuất Nhập Khẩu Lương Thực toàn là những vị (a) chưa hề trực tiếp làm việc với nước ngoài về xuất khẩu gạo, (b) chưa hề có uy tín đối thoại đàm phán đối với các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài, (c) chưa hề có các nghiên cứu nào có liên quan và có giá trị hữu dụng đến chiến lược nông nghiệp, cũng như (d) chưa hề nắm bắt gì về thị trường lúa gạo thế giới, dẫn đến hai thập kỷ liên tiếp sau đó trở thành đầu têu cho báo chí khi có những quyết định –  vô tình do dốt nát hay cố ý tạo lợi thế cho bàn tay vô hình của tư  bản nước ngoài – khiến Việt Nam mất nhiều cơ hội xuất gạo với giá cao hơn, mất một thị trường nhập khẩu đặc thù nào đó, mất sạch các cơ may để nông nghiệp Tây Nam Bộ trong đó có Cần Thơ cất cánh, và mất sạch các sự bảo đảm cho bất kỳ sự thành công nào của đại cuộc Phát Triển Tam Nông.

b- Sức Mạnh Quá Khứ Kinh Tế Chủ Soái Khu Vực Tây Nam Bộ Của Cần Thơ

Với thực lực trên, cùng với ưu thế của một địa phương được mặc định phát triển sớm nhất cả vùng về cơ sở hạ tầng đô thị hóa, cơ sở thủy lộ truyền thống, cơ sở sản xuất kinh tế nông-công-thương, cơ sở dịch vụ đô thị, và cơ sở sức mạnh tài chính, Cần Thơ lẽ ra đã giữ vị thế chủ soái của Tây Nam Bộ nếu như cơ sở Đảng của Cần Thơ chủ động tích cực tư duy ngoài-chiếc-hộp out-of-the-box đối với phát triển của địa phương trong tương quan vùng miền vì Trung Ương đặt để các vị vào vi trí nào là để các vị cung cấp cho Trung Ương các phân tích mang tính kế sách chứ không phải ngự trị chờ rót ngân sách, chở Trung Ương chỉ dạy phải làm gì, chờ Trung Ương ban cho kế sách gì, và chờ quỳ xin hay vận động Trung Ương rót thêm kinh phí, đưa dự án trọng điểm về địa phương, hoặc phân bổ phần bánh lớn hơn từ nguồn vốn ODA mà cả dân tộc Việt Nam phải cùng chung gánh nợ từ nay đến đầu Thế kỷ XXII.

c- Vấn Đề Ngày Nay Của Cần Thơ Về Kinh Tế Và Nhân Lực

Do nội dung kinh tế nông nghiệp chưa hề được phát triển phát huy;

Do những công ước quốc tế dường như chỉ được xem như mang thuộc tính vĩ mô hoàn toàn không là trách nhiệm nghiên cứu nhằm đưa vào kế sách cụ thể của các lãnh đạo Đảng ở địa phương nên các chi tiết của Công Ước Vienna 1985, Nghị Định Thư Montreal 1990, Công Ước Khung Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu 1992 đã chưa hề được tính đến, mà tình hình tự nhiên tác động hủy phá sự phát triển bền vững nông nghiệp vùng Châu Thổ Sông Cửu Long dù mang tính cảnh báo hiển nhiên từ lâu;

Sự sử dụng nhân sự và đầu tư cho nguồn nhân lực của Cần Thơ đã phát ra những tín hiệu khẩn báo cho sự sụp đổ ngay từ đầu của Cần Thơ.

Miền Tây Nam Bộ đã hài lòng với nhân vật kiệt xuất Giáo sư Tiến Sĩ Võ Tòng Xuân trong tạo ra các giống lúa, dù tác giả bài viết này hai chục năm trước đã viết rằng vị giáo sư ấy rồi sẽ chẳng giúp gì cho nông nghiệp Việt Nam do (a) các vấn nạn có thể hé lộ từ các vấn đề nêu lên trong các Công Ước và Nghị Định Thư nói trên chưa hề mang tính chiến lược rõ nét trong các hoạt động chuyên môn của giáo sư; (b) nông nghiệp không chỉ là cây lúa mà còn là cây ăn trái, thảm thực vật, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, (c) do đó giáo sư đã không ở vị trí tầm cỡ để có bất kỳ đóng góp hiệu quả nào trước thực tế thoái hóa giống tất cả các loại cây trái Tây Nam Bộ cũng như suy thoái môi trường từ hoạt động sản xuất công-nông và biến đổi khí hậu. Do vậy, miền Tây Nam Bộ ngoài có thêm vài giống lúa đã không thể làm nông nghiệp phát triển xanh và phát triển bền vững.

Trong khi một nữ nghị sĩ doanh nhân lớn ở Bình Phước (Quốc Hội Khóa XIII) đã nhận ra tác giả bài viết này tại Nghị trường, nhắc lại kỹ niệm về ông 25 năm trước, lúc ông lăn xả đàm phán và cung cấp tài liệu mật để giải quyết sự cố xuất khẩu hạt điều giữa Việt Nam và Ấn Độ tại 3 cuộc họp căng thẳng giữa đại diện Chính Phủ Việt Nam – cán bộ cao cấp Xích Hồng – và Đại Sứ Ấn Độ, mà kết quả là (a) tác giả đã đấu khẩu hùng biện buộc được tất cả 3 công ty Ấn Độ trong đó có CIMMCO International và Mount-a-Mount phải nhận toàn bộ lượng hạt điều đã ký mua của Việt Nam, (b) nông dân và các doanh nghiệp Sông Bé – nay là Bình Phước – thoát nạn trong đó có công ty của vị nữ chủ nhân sau này là nghị sĩ nói trên, còn hậu quả là (c) tác giả bài viết này mất ghế lãnh đạo văn phòng đại diện CIMMCO International do bảo vệ quyền lợi nông dân Việt Nam chống lại quyền lợi của các nhà nhập khẩu nông sản Ấn Độ; thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ như gà mắc tóc trong công tác nhân sự, không biết ai là ai và ai mới thực là người làm nên đại sự cho đại cuộc phát triển Tây Nam Bộ.

Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã hoàn toàn không ai có tầm cỡ chiến lược phát triển khu vực. Chính vì sự không biết, không hiểu, không học, không nhận ra các đòi hỏi cao cấp, nghiêm khắc, nguy nàn của thời gian, thời thế, thời cuộc, mà lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã hấp tấp phong vương cho Vũ Minh Hoàng bất kể

i- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự cần gì để phát triển;

ii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để phát triển;

iii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự có thể tạo mới cái gì để phát triển;

iv- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng nào để phát triển;

v- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;

vi- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để đầu tư ngoài nước;

vii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – vì điểm iv và v  ở trên mà đòi hỏi nhân sự được phong vương phải là tay kiệt xuất, dồi dào kinh nghiệm, đầy ắp công trạng, và phong phú tri thức cùng uy tín cực cao mới đối phó được chu toàn, mà tất cả những yêu cầu phải có này thì vĩnh viễn không bao giờ có nơi đứa trẻ chưa hề làm việc chưa hề được toàn Đảng biết đến, chưa hề thi thố tức đem ra hành hiệu quả cái đã học quả hiệu, và chưa hề được cả giới hàn lâm và bình dân nghe tên.

3) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Đào Tạo Ngợm Lực

a- Nhân Lực Resources & Nhân Lực Capital:

Từ ngàn xưa tất cả các triều đại – dù chính danh hay ngụy danh – đều dựa vào nguồn nhân lực để hình thành, tồn tại, và phát triển.

Nguồn nhân lực ấy luôn phải đặt trên sự nổ lực tự học, chăm hành, trau giồi đức dục của bản thân (tu thân); trong tạo nên và/hay bổ sung nội lực gia đình (tề gia); trong thể hiện cụ thể lòng hy sinh quyền lợi bản thân cùng hạnh phúc cá nhân để ra tham chính giúp vua với lòng trung quân ái quốc (trị quốc), và trong trở thành phân tử gắn kết đầy hữu ích cho xã hội (bình thiên hạ).

Nguồn nhân lực ấy phải lớn mạnh từ trên nền tảng của luật lệ hà khắc để uốn nắn đúng, giám chế đúng (giám sát và chế ngự), phát triển đúng, tưởng thưởng đúng, và trừng trị đúng. Rèn thép và tôi thép hay luyện cán thép không thể bằng phong thái tay trần nhào bột. Và rường cột chống đỡ cho mái nhà quốc gia không thể nào là cây bột hay thanh bánh bột rán.

Một người xuất thân từ human resources là người bình thường, vì bất kỳ ai cũng có thể là human resources đáp ứng cho một yêu cầu công việc nào đó. Và đó là lý do Phòng Nhân Sự HR tuyển dụng từ giám đốc cho đến tạp vụ.

Một người xuất thân từ human capital tức là viên ngọc quý hội đủ các bảo bối mang tên kiến thức, tài năng, kỹ năng, khả năng, sự thông minh nhạy bén, tài truyền thụ, tài đánh giá, và trí tuệ uyên bác, tất cả biến người đó thành một thứ tài sản quý báu của bất kỳ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, quốc gia nào.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những đảng viên nguồn nhân lực human capital nên đã chiến thắng.

b- Ngợm Lực:

Tuy nhên, những sự việc diễn ra ngày càng nhiều hơn, thường xuyên hơn về con người của Đảng đã cho thấy nguồn nhân lực của Đảng đã không còn trên cơ sở human capital mà chỉ là human resources tức không thể cao ngang bằng ngay cả với một doanh nghiệp sở hữu human capital.

Đặc biệt khi nguồn lực đã không trên cơ sở tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ mà lại còn trên bãi ươm mầm mang tên nhân đạo và giáo dục làm sinh sôi nẩy nở sự trây lờn tiến đến hòa trộn vào tội ác, thì chỉ có thể là nguồn ngợm lực (sources of ape-like beings) chứ không bao giờ là nguồn nhân lực (resources of human capital).

Khi sự việc Vũ Minh Hoàng bị công khai, các lãnh đạo của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã chống chế bằng 4 luận điểm ngu xuẩn đần độn sau:

(i) “Việc bổ nhiệm ấy không có hại gì cho Đảng, địa phương và nhân dân, mà chỉ vì sự phát triển chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Điều duy nhất đúng phải luôn là: Cái Gì Có Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Hãy Làm!

Nghĩa là: Cái Gì Có Bất Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Cấm Làm!

Cũng có nghĩa là: Cái Gì Không Có Hại Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân, Nghĩa Là Cũng Không Có Lợi Thì Làm Để Làm Cái Quái Gì?

Điều duy nhất chính xác luôn là: lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ không có gì chứng minh bản thân có tài chiến lược phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì đã “sốt ruột nóng lòng” vốn không bao giờ được phép có nơi người giữ vị trí chiến lược của Đảng, của quốc gia.

(ii) “Cơ quan phát hiện Vũ Minh Hoàng giỏi ngoại ngữ, khi sang Nhật có thể kêu gọi đầu tư được, có thể làm tốt vấn đề kinh tế đối ngoại”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cần phiên dịch nên ban cho phiên dịch viên chiếc ghế lãnh đạo ư?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tài cán đến đâu về ngoại ngữ mà khẳng định Vũ Minh Hoàng “giỏi” ngoại ngữ?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ phải chăng sẽ bổ nhiệm thêm 50 Phó Vụ Trưởng để cử đến 50 quốc gia khác để kêu gọi đầu tư? Vậy đó không phải là việc của các Tham Tán Thương Mại các Đại Sứ Quán Việt Nam? Hay các Tham Tán ấy chỉ giỏi tham làm tán gia bại sản quốc gia? Hay quả thực đã có Chính Phủ trong Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ?

– Nếu tác giả bài viết này xung phong không nhận bất kỳ “hàm” nào của Đảng hay Nhà Nước, làm xuất sắc công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại đầu tư phát triển Tây Nam Bộ, thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có vì Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân mà sử dụng nguồn human capital này không? Hay chỉ công nhận hậu duệ của các đảng viên cao cấp mới có cái thứ human capital mà thế giới tư bản siêu cường có đày ắp còn ở Việt Nam chỉ có Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mới có “nguồn” ấy?

(iii) Quy định bổ nhiệm cán bộ cấp vụ có nêu tiêu chuẩn thế này thế kia, nhưng sau văn bản đó cũng nêu “tùy do lãnh đạo ban quyết định và chịu trách nhiệm”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Đã làm sai còn vận dụng văn bản quy định mà không biết rằng

– Đó là hành động phơi bày điểm yếu chết người của cái gọi là “Quy Định Bổ Nhiệm” của Đảng

– Chỉ có kẻ thất học mới không hiểu rằng nội dung đó chỉ có nghĩa: ngay cả khi các tiêu chuẩn được đáp ứng đủ đầy thì lãnh đạo ban vẫn phải chịu trách nhiệm khi ký quyết định bổ nhiệm. Làm gì có chuyện trí tuệ của Đảng sau khi đề ra bao thành quách lũy hào lại kết rằng: dù vậy vẫn có thể bất kể các thành quách lũy hào trên và muốn chọn ai thì chọn miễn chịu trách nhiệm cho sự chọn ấy!

(iv) Tiêu chuẩn về chính trị có bằng cao cấp, nhưng còn tùy do lãnh đạo ban xem xét và chịu trách nhiệm chứ không phải cứng nhắc hoàn toàn.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại có kẻ đề ra rồi bắt toàn Ban chịu trách nhiệm ư?

– Tổ chức của Đảng mà xem nhẹ tiêu chuẩn chính trị ư?

– Tiêu chuẩn chính trị mà còn dám xem nhẹ thì ai bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của người được bổ nhiệm?

– Sự linh động luôn cần thiết cho một thực thể sống. Tuy nhiên, trong một cơ thể sống vẫn có những bất di bất dịch mà sự di hay dịch nếu xảy ra sẽ biến thành ung thư. Trong bài viết về Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình, tôi đã có tiến cử hiền tài cho Đảng và Nhà Nước, và Bộ Trưởng đã trả lời rất đúng nguyên tắc công bằng chuyên nghiệp. Nguyên tắc, sự công bằng, và tính chuyên nghiệp là những thứ xa xỉ hoàn toàn không bao giờ có tại Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

F- Kết Luận

Vũ Minh Hoàng không chỉ là một cái tên.

Vũ Minh Hoàng là thí dụ điển hình của sự thất bại của cả hệ thống về giáo dục, đào tạo, tư tưởng, trí hóa, nguồn nhân lực, quy trình dụng nhân, và lạm quyền.

Vũ Minh Hoàng mang tính khái niệm về Đảng Loạn.

Đảng Loạn vì Loạn Đảng.

Loạn Đảng là mầm mống khởi đầu của Diệt Đảng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Chủ Đề Quy Trình Dụng Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

14-9-2016 Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Chủ Đề Chính Trị Việt Nam:

18-5-2013 Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

02-7-2013 Tuyệt Thực

26-11-2013  Về thực quyền, thực uy

24-3-2014 Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

01-9-2014 Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

06-4-2015 Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

11-4-2015 Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

11-9-2015 Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

10-10-2015 Diệt Tham Nhũng

02-12-2015 Bôi Nhọ

16-12-2015 Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

25-12-2015 Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

14-01-2016 Chính Trị

02-02-2016 Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

27-4-2016 Bầu Cử

29-4-2016 Ngày 30 Tháng 4

19-7-2016 Tứ Trụ Bắc Việt

08-08-2016 Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

11-9-2016 Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Chủ Đề Chính Trị Hoa Kỳ:

15-02-2014 Nước Mỹ Bất Hạnh

29-3-2014 Nước Mỹ Vỡ Vụn

01-01-2016 Tôi Ủng Hộ Donald Trump

15-4-2016 Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam

17-5-2016 Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

19-6-2016 Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

27-9-2016 Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

25-10-2016 Hillary Clinton

14-11-2016 Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Chủ Đề Chính Trị Thế Giới:

11-3-2016 Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền

12-7-2016 Tôi và Saddam Hussein

25-7-2016 Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

23-7-2016 Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

29-10-2016 Rodrigo Duterte Dạy Cả Thế Giới Âu Mỹ

05-11-2016 Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Chặn Ngăn Thảm Họa

Hoàng Hữu Phước, MIB


James Borton là một nhà báo Mỹ. Ông cùng vài nhà báo nước ngoài khác thường liên lạc với tôi để nêu lên những vấn-nạn-cần-các-giải-thích-ngược-chiều mà tôi có thể giải đáp – chưa bao giờ tôi không viết phúc đáp các câu hỏi ấy – theo cung cách nghiêm-túc-không-đụng-hàng mang dấu ấn của thương hiệu Hoàng Hữu Phước như đã từng được minh chứng qua buổi trả lời ứng khẩu dài 4 giờ đồng hồ cuộc phỏng vấn của PhốBolsaTV Hoa Kỳ.

Gọi là “ngược chiều” vì các ý kiến của tôi luôn

(a) vừa chống lại các nội dung mang tính vấn nạn do phe chống Việt nêu lên hoặc bày ra,

(b) vừa khác với nội dung các vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống thường nhận thức đồng bộ về các vấn đề liên quan đến Việt Nam,

(c) vừa chống lại các với nội dung mang tính vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống chống Việt thường nêu về Việt Nam, và

(d) vừa bảo vệ Việt Nam theo cách rất riêng hoàn toàn không giống các trả lời bài bản, đồng bộ và “đồng phục” của tất cả các đảng viên Cộng Sản của truyền thông, chính quyền, ban ngành, đoàn thể ở Việt Nam, đối với công việc nội trị của Việt Nam, đối ngoại của Việt Nam, và tầm nhìn về Việt Nam trong thế giới.

Gọi là “ngược chiều” chứ không phải “đa chiều” vì bốn đặc điểm của báo chí truyền thông chính thống tư bản đại gia Âu Mỹ là

(a) luôn thù ghét sự “đa chiều” trên các phương tiện truyền thông chính thống của đế chế của riêng mình;

(b) luôn khinh bỉ sự “đa chiều” vì đó là dấu hiệu rõ nét nhất của sự tạp nham, yếu đuối, hèn kém do không thể tạo nên sự khác biệt differentiation cũng như dấu ấn đặc thù signature vốn luôn là sự thể hiện quyền lực quyền uy quyền thế không bao giờ vắng bóng trên một phương tiện truyền thông thực sự chính thống;

(c) chỉ dùng sự “đa chiều” để mê hoặc, dẫn dụ lũ nhà báo ngu đần trong giới truyền thông chính thống của các quốc gia nhược tiểu; và

(d) dúi vũ khí “đa chiều” vào tay lũ ngu đần trong các “Kiều” như Cu Kiều, Tàu Kiều, Nga Kiều tại Mỹ để góp sức viết lách bôi nhọ Fidel Castro, Xì Dính Bùn và Vladimir Putin;

nghĩa là cái mà các nhà báo tầm cỡ của giới truyền thông chính thống Âu Mỹ cần luôn là ý kiến “ngược chiều” để có cái “tái thẩm” hầu nhanh chóng hoặc tung ngay bài viết của mình để hốt bạc do đã yên tâm về “phản biện nghiêm túc”, hoặc dấu diếm ngay bài báo đó để khỏi bị ô danh nếu như bị đấng chuyên gia “ngược chiều” viết phản bác lật đỗ.

Trong lần cùng bao nhà báo đổ bộ vào Việt Nam nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam vừa qua của Tổng thống Barack Obama, James Borton có nêu trước với tôi vài câu hỏi, sau đó gởi tặng tôi những bài đã đăng báo có dựa theo ý kiến của tôi và có bài ghi cả tên tôi mà tôi đã xin ông cho phép tôi dịch ra tiếng Việt để đăng trên blog này. Ông cũng yêu cầu được gặp tôi tại Thành phố Hồ Chí Minh khi ông lên đường chu du từ Hà Nội vào các tỉnh phía Nam. Và mới đây ông gởi tặng tôi bài viết sau nhân chuyến trở lại Việt Nam tháng 11 này.

Với bài viết Chặn Ngăn Thảm Họa, nhà báo James Borton một lần nữa xoáy sâu vào hành động hủy phá tài nguyên hải dương của Trung Quốc ở Biển Đông, gióng lên hồi chuông khẩn báo về hậu quả kinh tế nhãn tiền toàn khu vực, đồng thời đề xuất những phương cách phi chính trị, thuần thực tế sinh tồn của thiên nhiên trong xử lý tình trạng sống khẩn cấp của Biển Đông. Các đề xuất ấy hoàn toàn không đáp ứng sự quan tâm của Việt Nam, nhưng mang tính cụ thể do tình hình sinh thái ở Biển Đông đã trở thành thảm họa mà thời gian giải quyết các tranh chấp chủ quyền có khi vẫn tiếp diễn nhiều thập kỷ ngay cả sau khi Biển Đông đã trở thành Biển Chết.

Kính trình các bạn đọc tham khảo.

Chặn Ngăn Thảm Họa

Tác giả: James Borton

Bài Đăng Trên Tạp Chí Strategic Vision (Tầm Nhìn Chiến Lược), Số 29 (xuất bản tháng 10 năm 2016)

Bản dịch tiếng Việt: Hoàng Hữu Phước

Hợp tác khoa học là cần thiết để ngăn chặn thảm họa sinh thái ở Biển Đông

James Borton

James Borton là thành viên Viện Mỹ-Á ở Washington DC,  giảng sư Viện Walker tại Đại học South Carolina.


Một con rùa biển bơi lướt qua một rạn san hô. Những sinh vật như chú rùa này đang phải đối mặt với một tương lai bất ổn ở Biển Đông do môi trường sống bị hủy hoại và nạn săn bắt. Ảnh: Brocken Inaglory

Biển Đông hiện là nơi ngụ cư của một số của những chủng loài rạn san hô đa dạng sinh học ngoạn mục nhất thế giới. Tuy nhiên, thế giới tiếp tục qua những hình ảnh chụp qua vệ tinh các vấn nạn của vùng biển biến loạn này nhìn thấy sự hủy hoại nhanh chóng của những rạn san hô kỳ vĩ ấy. Nguyên nhân của sự hủy diệt đang diễn ra này vượt quá một cảnh tượng tội ác môi trường rộng khắp là những hành động liều lĩnh chiếm đất được tiến hành bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc) khi nó cố gắng biến đá thành đảo và củng cố tuyên bố mở rộng lãnh thổ của nó.

Trong vùng biển đầy dẫy cơ hội, bất định, và đe dọa, sự xuống cấp của môi trường là trung tâm điểm của các đối thoại khoa học khi mà có sự gia tăng về số lượng các nhà hải dương học gióng lên hồi chuông báo  động tìm cách giải quyết các vấn đề của sự axit hóa, sự biến mất các đa dạng sinh học, sự biến đổi khí hậu, việc phá hủy các rạn san hô, và sự suy tàn của ngành thủy sản.

Với việc vấn đề an ninh môi trường hình thành nên một tranh luận về các thách thức sinh thái ở Biển Đông, quan điểm này thể hiện một nỗ lực quan trọng sống còn để liên kết các tác động của sự thay đổi môi trường đối với cả an ninh quốc gia và quốc tế.

Paul Berkman, nhà hải dương học và cựu giám đốc Chương Trình Địa Chính Trị Bắc Băng Dương ở Viện Nghiên Cứu Địa Cực Scott, đã cho ra cách diễn giải riêng về an ninh môi trường. Ông nói: “Đó là cách tiếp cận mang tính tích hợp nhằm đánh giá và ứng phó với những rủi ro cũng như các cơ hội được tạo ra bởi một môi trường thay đổi về trạng thái.”

Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông là tâm điểm của tranh chấp lãnh thổ cho thấy mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh khu vực ở Đông Nam Á. Sáu chính phủ – gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Đài Loan – tất cả đều tuyên bố chủ quyền toàn phần hoặc một phần trong số hơn 230 hòn đảo nhỏ, đá ngầm, rạn san hô, và bãi cát ngầm và trong khu vực quần đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, phán quyết mùa hè vừa qua của tòa án gồm năm vị thẩm phán của Tòa Án The Hague cho thấy việc cải tạo trên quy mô lớn và việc xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến san hô và vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc đối với bảo tồn môi trường biển cả mong manh. Hơn thế nữa, phán quyết ấy phủ nhận bất cứ cơ sở pháp lý nào của Trung Quốc trong đòi chủ quyền lịch sử đối với phần lớn Biển Đông. Đó là một chiến thắng ấn tượng của Philippines là phía tiến hành thưa kiện. Trong số rất nhiều những phát hiện kịch tính, tòa án còn tuyên bố phủ nhận giá trị cái gọi là đường chín đoạn của Trung Quốc.

Phán quyết tuyên rằng: “Tòa khẳng định rằng các hành động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc tại bảy rạn san hô ở Quần đảo Trường Sa đã gây ra tổn hại tàn phá lâu dài đối với môi trường biển.”

Ngoài ra, Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) có quy định tại hai trong số 17 Phần của UNCLOS một áp  dụng trực tiếp đối với công trạng nghiên cứu khoa học biển qua sự nhấn mạnh vào việc khuyến khích các thỏa thuận song phương và đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu khoa học biển.

Các Thực Hành Hủy Hoại

Giáo sư John McManus, một nhà sinh học biển tại Đại học Miami và là một chuyên gia nổi tiếng về rạn san hô, người đã thường xuyên đến thăm khu vực và cung cấp các phân tích cho tòa án, đã tuyên bố rằng dựa trên hình ảnh vệ tinh thì những thiệt hại về môi trường được thực hiện bởi tàu hút bùn Trung Quốc và việc lùng bắt ngao là cực kỳ nghiêm trọng.

McManus đã nghiên cứu khu vực này trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Ông  biết rằng nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong vùng biển được đánh bắt lớn về hải sản là ấu trùng của cá và động vật không xương; dẫn đến việc ông đã luôn lên tiếng đòi phát triển một công viên biển hòa bình quốc tế trong khu vực tranh chấp này.

“Tranh chấp lãnh thổ đã dẫn đến việc hình thành sự hủy phá về môi trường, và sự hình thành các tiền đồn quân sự đầy tốn kém về kinh tế trên nhiều hòn đảo. Với sự gia tăng nhanh chóng của các công viên hòa bình quốc tế trên toàn thế giới, đã đến lúc phải có các bước tích cực hình thành một Công Viên Biển Hòa Bình tại Quần Đảo Trường Sa,” McManus tuyên bố.

Các nhà hoạch định chính sách có thể làm tốt việc đúc rút một hai bài học từ thiên nhiên khi xem xét cách giải quyết tốt nhất trước vô số các đòi hỏi chủ quyền phức tạp. Sự kết nối của chính sách và khoa học là điều cần thiết để điều hướng đúng cho những vùng biển địa chính trị nguy hiểm. Khái niệm của khoa học ngoại giao không phải là một mô hình mới, nhưng nó bao trùm sự hợp tác và khéo léo giải quyết vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nơi chúng phát sinh.

Ngay cả Nhóm Công Tác Về Môi Trường Biển Và Duyên Hải của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng thừa nhận rằng khu vực này phải đối mặt với những thách thức khổng lồ đối với sự  phát triển bền vững ở vùng duyên hải và vùng biển chồng lấn. Nếu không có sự thông qua một cách tiếp cận khoa học đối với hệ sinh thái thì các cuộc xung đột xuyên biên giới ở các khu vực biển có thể và sẽ trở nên tồi tệ hơn.

Kể từ khi ASEAN được thành lập, tổ chức này đã phải nhức đầu với nhiệm vụ xác định các giải pháp chung cho các vấn đề an ninh chung. Ở một mức độ lớn hơn, ta có thể nói rằng các vấn đề an ninh đã là  động lực chính cho sự hội nhập khu vực của Đông Nam Á được tiếp diễn.

Trong tương lai, những vấn đề về an ninh môi trường có thể sẽ giữ cùng vai trò như thế.


Hiện diện khắp vùng Biển Đông, san hô mềm trắng ngà tạo nên sự phô diễn vẽ đẹp sống động của thiên nhiên cùng sự  phong phú của hệ sinh thái trong khu vực. Ảnh: Dwayne Meadows

Theo Karin Dokken, nhà khoa học chính trị tại Đại Học Oslo, các quốc gia xung quanh Biển Đông phụ thuộc lẫn nhau trên mức độ rộng lớn khi có vấn đề về môi trường của con người. Theo Dokken: “Họ phụ thuộc lẫn nhau đến mức nếu thất bại tìm ra giải pháp chung cho vấn đề môi trường họ có thể đi đến chống nhau bằng xung đột bạo lực.” Ông còn nói thêm rằng “Nhìn chung, việc phụ thuộc nhau về môi trường vừa là nguồn gốc của xung đột vừa là tiềm tàng cho cuộc hội nhập quốc tế”.

Không có thỏa thuận cho những vấn đề môi trường, tương lai của biển sẽ ảm đạm. Gần 80% các rạn san hô Biển Đông đã bị thoái hóa và đang bị đe dọa nghiêm trọng từ trầm tích, đánh bắt quá mức, hoạt động đánh bắt hủy diệt, ô nhiễm, và thay đổi khí hậu.

Những thách thức xung quanh an ninh lương thực và nguồn cá tái tạo đang nhanh chóng trở thành một hiện thực đầy lúng túng khó khăn không chỉ cho ngư dân. Với đà suy giảm thủy sản trong khu vực ven biển trong vùng, trợ cấp nhà nước đối với đánh bắt, sự chồng lấn các Vùng Đặc Quyền Kinh Tế, và các tàu cá siêu trọng  cạnh tranh nhau trong một ngành công nghiệp trị giá nhiều tỷ đô la, cá hiện nay là lý do chủ lực ở vùng biển đầy biến động này.

Một thảm họa sinh thái đang diễn ra tại vùng có thời là nơi đánh cá phong phú của Biển Đông khi các cải tạo hủy phá các rạn san hô, chất thải nông nghiệp và công nghiệp làm nhiễm độc vùng nước ven biển, và việc đánh bắt quá mức làm cạn kiệt trữ lượng cá.

Trong năm 2014, Trung Tâm Đa Dạng Sinh Học đã cảnh báo rằng rất có thể sẽ có một tương lai thực sự đáng sợ với mức từ 30 đến 50% tất cả các chủng loài có thể tiến đến họa diệt chủng vào giữa thế kỷ này. Sản lượng đánh bắt cá vẫn ở mức không bền vững từ 10 đến 12 triệu tấn mỗi năm trong nhiều thập kỷ qua, một số lượng có thể tăng gấp đôi khi kể cả các hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

Rốt cuộc, Chương Trình Môi Trường Của Liên Hợp Quốc (UNEP) khẳng định rằng Biển Đông chiếm 1/10 lượng cá đánh bắt toàn cầu và rằng vào khoảng năm 2030 Trung Quốc sẽ chiếm 38% lượng tiêu thụ cá toàn cầu. Việc đánh bắt cá quá mức và tàn phá trên diện rộng các rạn san hô giờ đây tạo nên sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính sách khoa học nhằm bảo vệ sự quản lý khu vực quan trọng này.

Trung Quốc đã đi đầu trong việc khai thác khổng lồ ngành cá. Với hơn 2.000 tàu lưới cá viễn dương và hơn 100.000 tàu cá, bao gồm cả một tàu chế biến công suất 3.000 tấn cá, bằng chứng này đủ thuyết phục rằng Bắc Kinh không chỉ chịu trách nhiệm cho việc tàn phá các rạn san hô mà còn góp phần vào sự sụp đổ của ngành thủy sản.

Tạp chí Chính Sách Hải Ngoại khẳng định rằng những sự việc đánh bắt cá và các hành vi bạo lực trực tiếp rất có ý nghĩa “bởi vì nó nêu bật sự đánh bắt tập trung đã tác động ra sao đối với sự bùng phát những tranh chấp lãnh thổ vốn đang biến Biển Đông đến đỉnh điểm nổ bùng của toàn cầu – cũng như các quốc gia sẵn sàng tiến xa tới đâu để bảo vệ phần đất của họ, hoặc chí ít là những gì họ cho là của họ.”

Hậu quả là việc đánh bắt cá vẫn là một vấn nạn an ninh quốc gia nhạy cảm về chính trị và căng thẳng về cảm xúc đối với tất cả các nước có yêu sách chủ quyền. Việc chiếm đoạt đại dương này đem đến cho khu vực một cuộc khủng hoảng lương thực tiềm tàng. Bất kỳ nỗ lực nào để cân bằng các lợi ích kinh tế với nội hàm an ninh trong vùng Biển Đông đều sẽ đòi hỏi có sự đáp ứng mang tính phối hợp nhiều cấp độ từ các nhà khoa học có quá trình tham gia dài lâu trong hợp tác nghiên cứu và đã đề ra được cách giải quyết vấn đề năng suất bền vững và an ninh môi trường trong khu vực.

Nâng Cao Nhận Thức

Sự đa dạng sinh học rộng khắp đã tồn tại ở Biển Đông không thể bị bỏ qua. Các tác động từ sự phát triển liên tục miền duyên hải, vấn đề khai hoang gia tăng và hoạt động hàng hải lớn mạnh giờ đây thường xuyên được đặt ra trước một số lượng ngày càng tăng của các nhà khoa học hàng hải và các chiến lược gia về chính sách.

Các nhà sinh học biển, những người có chung một ngôn ngữ vượt qua các dị biệt về chính trị, kinh tế và xã hội, đã nhận ra rằng cấu trúc của một rạn san hô bị vỡ vụn từ những vụn vỡ của xung đột triền miên và tiêu biểu cho một trong những chiến địa tàn nhẫn nhất của thiên nhiên.

Trong khi các chiến thuật ngoại giao và quân sự truyền thống không hoàn toàn cạn kiệt trong đợt khai pháo ngoại giao mới nhất giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì có lẽ đó là thời khắc tuyệt vời cho sự xuất hiện của khoa học như một công cụ tối ưu gom tụ lại nhau các bên đòi hỏi chủ quyền bao gồm Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Việt Nam, và Đài Loan trong khu vực tranh chấp biển đảo mang tính dân tộc cao độ này.

Thời gian cho một tuyên bố khoa học chung đối với hành động cấp bách cho một lịnh cấm về môi trường đối với việc nạo vét là điều rất cần thiết. Khảo sát sinh học gần đây trong khu vực và thậm chí tại ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc đã tiết lộ rằng sự mất đi của các rạn san hô sống bộc lộ một bức tranh ảm đạm của suy tàn, suy thoái, và hủy phá.

Cụ thể hơn, các loài cá sống trong rạn san hô trong khu vực tranh chấp đã giảm đi với mức độ chóng mặt, từ 460 loài xuống còn  khoảng 261.

Rốt cuộc thì sự thay đổi môi trường này là một vấn nạn toàn cầu không liên quan gì đến chủ quyền. Sự hủy diệt và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển ở Quần Đảo Trường Sa làm hại tất cả các nước có yêu sách. Có lẽ người dân từ các khu vực đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những tấn công vào môi trường trên biển của họ và tại các rạn san hô mong manh của họ có thể tạo ra một cái gì đó giống như Mạng Hành Động Vì Rạn San Hô, tương tự như các Mạng Hành Động Vì Rừng Mưa Nhiệt Đới vậy.

Những khu bảo tồn biển được bảo vệ là một công cụ mới được đề ra cho việc bảo tồn và quản lý biển. Đôi khi được gọi là các “khu dự trữ sinh thái” hay “khu vực không-được-chiếm-hữu”, những khu bảo tồn biển này được thiết kế để tăng cường bảo tồn các nguồn tài nguyên biển.

Việt Nam, một quốc gia có yêu sách chủ quyền, đang lãng phí một chút thời gian để ứng phó với những thách thức về môi trường của khu vực và đang nhanh chóng theo dõi chương trình riêng về mô hình bảo vệ vùng biển.

Cù Lao Chàm tọa lạc ở vị trí  20 km ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam. Các đảo Cù Lao Chàm là một khu bảo tồn biển  (MPA) do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam thành lập tháng 12-2005. Giáo sư Chu Mạnh Trinh, vị giáo sư sinh vật học 53 tuổi tại Đại Học Đà Nẵng, chịu trách nhiệm phần lớn trong thiết lập lộ trình các mục tiêu đã được thỏa thuận đối với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa và lịch sử của Quần đảo Chàm. Trong năm 2009, khu vực này đã được UNESCO công nhận là Khu Dự Trữ Sinh Quyển Thế Giới.

Việt Nam đã công nhận các khu bảo tồn biển để giải quyết các vấn đề an ninh lương thực hiện nay và tương lai. Những  khu bảo tồn biển này giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế biển; chúng cải thiện sinh kế của các cộng đồng ngư dân đánh bắt cá ven bờ, và cũng phục vụ việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền của quốc gia.

Khu vực này cần gom tụ các khoa học gia trình độ cao nhất, những người có kinh nghiệm nghiên cứu đa dạng sinh học biển và tính bền vững môi trường tại vùng Biển Đông biến động để tham gia vào diễn đàn chính sách khoa học.

Công việc hợp lực của họ có thể dẫn đến sự phát triển thành công một Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế Về Biển Đông. Kết quả là: những nỗ lực khoa học của họ rồi có thể truyền cảm hứng cho ASEAN hợp tác đáp ứng việc quản lý tài nguyên trong khu vực bằng ra tuyên bố kêu gọi một lệnh cấm đối với bất kỳ công việc cải tạo gây hủy hoại nào.

Tất nhiên, Trung Quốc có nhiều nhà khoa học rạn san hô tuyệt vời riêng của mình, những người nhận ra rằng đó là cách tốt nhất vì lợi ích của Bắc Kinh khi bảo vệ các rạn san hô, duy trì ngành thủy sản bền vững, và cuối cùng là tận hưởng nền du lịch thân thiện với sinh thái một khi căng thẳng nguôi ngoai.

Nền tảng chung cho các quốc gia có đòi hỏi chủ quyền là số lượng gia tăng của đánh bắt cá ở Biển Đông đang đẩy nhanh tiến độ sụp đổ của ngành và điều này làm thấp thoáng sự hiển hiện của một vấn đề an ninh môi trường, và hậu quả là tất yếu  sẽ trở thành xung đột. Các cộng đồng bảo tồn khoa học toàn cầu và pháp lý phải liên kết ngăn chặn sự phá hủy các rạn san hô, việc đánh mất sự đa dạng sinh học, và sự cạn kiệt thủy sản.

Phán quyết quốc tế đầu tiên của tòa án về Biển Đông đã tạo ra một cơ hội cho các bước tiến định lượng được hướng tới hòa bình và an ninh. Tất nhiên, ASEAN đã chứng tỏ một năng lực yếu kém về thể chế trong giải quyết các vấn đề chính trị và môi trường phức tạp, nhưng thế giới, bao gồm cả Liên Hiệp Quốc và Washington, đang theo dõi một cách cẩn trọng xem luật pháp quốc tế và sự áp dụng luật quốc tế vào giải quyết các yêu cầu khác nhau có thể dẫn đến một đường hướng tiến lên trong hòa bình và hợp pháp hay không.

Hành Động Cần Thiết

Các nhà khoa học và định hình chính sách biển của các quốc gia có yêu sách chủ quyền có thể tham khảo một trong những hướng xây dựng lòng tin sau:

– Xây dựng sự tự do hoàn toàn trong điều nghiên khoa học ở các đảo san hô có tranh chấp và các đảo bị cải tạo.

– Mở rộng hợp tác khoa học giữa tất cả các  nhà khoa học hải dương của ASEAN  thông qua các hội thảo có tính học thuật hàn lâm hơn.

– Đặt sang một bên tất cả các yêu sách lãnh thổ.

– Tạo ra một Hội Đồng Khoa Học Biển khu vực để xử lý các vấn đề suy thoái môi trường.

– Tăng cường đối thoại cho đề xuất một công viên biển hòa bình.

– Bổ nhiệm một ủy ban ASEAN về khoa học để nghiên cứu Hiệp Ước Nam Cực và sáng kiến Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc theo Kế Hoạch Hành Động Các Vùng Biển Đông Á.

– Đề xuất việc đổi tên vùng biển đang tranh chấp thành Biển Tự Do hay Biển Đông Nam Á.

Nếu có được bất kỳ loài cá nào còn sót lại trong vùng biển tranh chấp, một thỏa thuận sinh thái ASEAN – do Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam chủ trì – có thể hướng các quốc gia khác đoàn kết xung quanh một công viên hòa bình quốc tế được đề xuất hoặc chí ít là một vùng hợp tác biển được bảo vệ tọa lạc chủ lực trên Quần đảo Trường Sa.

Đó là bước đầu tiên hỗ trợ sự tín thác và sự tự tin giữa các nước láng giềng và  trong việc thực hiện một chính sách bảo tồn chung. Xét cho cùng thì các rạn san hô chính là các giáo đường của Biển Đông. Đã đến lúc cần có nhiều hơn những công dân và các nhà định hình chính sách tập hợp quanh các nhà khoa học hải dương để có thể liên kết hợp tác khu vực và quản lý biển nhằm làm tất cả được hưởng lợi trước khi quá muộn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.”

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.”

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.”

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.”

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.”

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!”

B) Bài của James Borton do Hoàng Hữu Phước dịch Anh-Việt:

24-5-2016: Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

23-5-2016: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021

Hoàng Hữu Phước, MIB



A) Mào Đầu 1

Lúc sinh hoạt blog trên năm 2009 tôi có viết rằng trong chương trình  American Idol mà tôi cực kỳ ưa thích thì Kris Allen sẽ thắng Adam Lambert để đoạt giải quán quân; rằng Adam Lambert sẽ có sự nghiệp vang danh bốn bể vì anh quá đẹp trai, quá mạnh mẽ bùng nổ dữ dội, quá cuốn hút cuốn phăng trên sân khấu; nhưng Kris Allen sẽ thắng, đơn giản vì Kris trong tất cả các lần hát dự thi đều luôn tự sử dụng nhạc cụ như đàn guitar, viola, piano, hay keyboard, trong khi Adam chỉ biết cầm mỗi chiếc micro; rằng Kris sẽ thắng phiếu của những người lớn tuổi và sùng đạo vì Adam tô son trát phấn sơn móng tay như một người đồng tính nam nên sẽ chỉ nhận được sự ủng hộ của giới trẻ đồng tính hoặc giới trẻ đang phải bương chải khó khăn trong cuộc mưu sinh mà đa số chẳng có thời gian đâu mà bấm điện thoại bỏ phiếu cho anh. Kết quả: Kris Allen thấp bé là quán quân năm ấy, còn Adam Lambert tuyệt mỹ nam nhân từ đó đến nay xuất hiện trên các sân khấu hoành tráng khắp thế giới.


B) Mào Đầu 2

Lúc sinh hoạt blog trên năm 2008 tôi có viết rằng Hillary Clinton đầy ưu thế sẽ thất bại trước Barack Obama mới tinh. Kết quả: Barack Obama đánh bại Hillary Clinton để được chọn làm ứng cử viên tổng thống cho Đảng Dân Chủ, và sau đó đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Dự đoán ấy cũng dựa trên sự đơn giản tuyệt đối rằng người Mỹ bảo thủ mà đặc điểm của cực đoan là chẳng ưa người da đen và khinh thường phụ nữ, nhưng nếu Đảng chẳng còn ai khác ra hồn thì họ sẽ buộc ném Hillary vào sọt rác vì phụ nữ Mỹ không bao giờ được xem trọng – như đã phân tích kỹ trong bài Du Học Hiếp Dâm & Hiếp Dâm Du Học.


Sau này cũng trên năm 2012 khi viết về lần ra tranh cử thứ hai chức Tổng Thống Hoa Kỳ của Barack Obama, tôi đã nhắc một sự thật là dân Mỹ có thú vui bịnh hoạn là khoái chứng kiến sự thất bại của một tổng thống nên họ sẳn sàng bỏ phiếu cho Barack Obama để ông này phá tanh banh sự nghiệp chính trị trong nhiệm kỳ thứ nhì, chứ không bầu cho Mitt Romney. Kết quả: Obama thắng Mitt; còn năm 2016 này chứng kiến sự tan nát của Đảng Dân Chủ, sự thảm bại của Hillary Clinton, và sự rung lắc của các lâu đài mà Obama đã xây dựng nên, trong đó có cả tòa lâu đài mang tên TPP.


C) Mào Đầu 3

Lúc sinh hoạt trên blog năm 2016 này tôi có viết về 9 sức mạnh ưu việt của Donald Trump mà kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 đã cho thấy sự phát huy tác dụng của 9 sức mạnh ấy; thậm chí truyền thông nước ngoài và nước trong cũng bắt đầu viết về một vài điểm tôi đã nêu như về đàn con trai tài gái sắc giỏi giang của Trump, v.v.


D) Vô Đề: Thay Đổi Để Hoàn Thiện

Từ những việc nhỏ xíu xìu xiu trên, cộng với việc đã từng bị bạn bè lớp 11 năm 1973 gọi là “mất nết” do dám tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa sẽ “mất nước”, tôi thấy mình có thể có cơ sở để tự cho rằng mình nhỉnh hơn một tí so với các chuyên viên phân tích tin và nhận định tình hình mà Trung Ương Cục Tình Báo Hoa Kỳ cài cắm lúc nhúc khắp chốn Sài Gòn điều nghiên về nhất cử nhất động của “Cộng Quân”;

Tôi khẳng định: năm 2021 sẽ chứng kiến sự thay đổi về chất lượng giới tinh hoa chính trị ở Việt Nam, trên cơ sở của 6 sự đơn giản tuyệt đối có liên quan dây chuyền hữu cơ với nhau như sau mà không cần đến thuật bấm độn chiêm tinh bói toán:

1- Nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) được đánh dấu bằng sự khó khăn về ngân sách dẫn đến việc gia tăng phần đóng góp của các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – vào ngân sách Nhà Nước và gia giảm phần mà các địa phương đó được giữ lại.

2- Sự việc 1 ở trên đã khiến lãnh đạo các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – thi nhau bóc tách tối đa để nêu lên cho bằng được những khó khăn cùng cực nhằm phục vụ bốn mục đích của (a) diễn đạt thói quen truyền thống “thích mếu máo” dù là tỷ phú đô la trước vành móng ngựa hoặc ăn mày ăn xin, (b) tự cứu mình nếu có sự thất bại không xoay chuyển được tình hình phát triển của địa phương mình sẽ đỗ thừa đỗ lỗi đỗ tội cho Nhà Nước, (c) kích động tinh thần địa phương chủ nghĩa cực đoan nơi dân chúng nhằm gây áp lực gỡ gạc cho cái đòi hỏi tự trị mà Trung Ương không mấy mặn mà ban phát sớm, và (d) sự kỳ vọng rằng ngân sách khóa sau sẽ được trung ương nương nhẹ tay hơn khi nghe thấy những lời thống thiết khổ sở ấy của họ.

3- Sự việc 2 ở trên đã khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – đột nhiên nhận thức ra rằng (a) thành phố quả có khó khăn quá to lớn về ngân sách, (b) các tầy huầy như ngập triều cường và mùi hôi nồng nặc nếu trầm trọng hơn chính là do tại bị vì bỡi cắt giảm ngân sách, và (c) thành phố luôn là đầu tàu kinh tế nhưng cái kinh tế ấy không do bất kỳ lãnh đạo nào của thành phố thực sự trực tiếp làm ra tiền cho thành phố vì chỉ những lãnh đạo trên tư thế nhuần nhuyễn biệt tài chi tiêu bạo mới lúng túng thở than như thế.

4- Sự việc 3 ở trên ắt có thể đã khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – đột nhiên có tư  tưởng sứ quân cát cứ (giống dân Mỹ “biểu tình” chống Trump vì họ không muốn dân Mỹ ở các tiểu bang khác thắng họ) lởn vởn ý nghĩ rằng tại sao thành phố phải “nai lưng” ra làm thân trâu ngựa để “phục vụ” địa phương khác.

5- Sự việc 4 ở trên ắt có thể sẽ khiến khiến dân chúng tại các địa phương “đầu tàu kinh tế” – thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh – từ nay đột nhiên có sự quan tâm đến việc chi tiêu của các địa phương yếu thế để có thể có sự tập hợp tài liệu cho các nghị sĩ của Thành phố Hồ Chí Minh lên đấu khẩu tại Quốc Hội rằng các địa phương khác đã “sống bám” ra sao, đầu tư phí phạm thế nào, tiêu cực đến đâu, v.v. và v.v., để từ đó yêu cầu trung ương chấm dứt việc giống các cao-bồi Miễn Viễn Tây Hoa Kỳ vác các súc gỗ bắt ngang đường ray của các “đầu tàu kinh tế.

6- Sự việc 5 ở trên ắt có thể sẽ khiến khiến dân chúng tại các địa phương chưa phải là “đầu tàu kinh tế” từ nay đột nhiên có sự quan tâm đến việc phòng thủ, dè chừng sự tấn công từ các “đầu tàu kinh tế”, chuẩn bị các kịch bản đối phó cũng bằng cách huy động lực lượng tìm kiếm các điểm yếu mang tính dối trá của các “đầu tàu kinh tế” nào đã sáng tạo các “khó khăn” để né tránh việc “cưu mang”, đồng thời địa phương phải kiếm tìm các lý do đầu tư thật nhiều, thật “thực”, và thật lớn để các nghị sĩ của họ chuyển tải đến Quốc Hội những nhu cầu về ngân sách mà Quốc Hội khó thể chối từ.

Từ những việc 1, 2, 3, 4, 5, 6 nêu trên, những “đầu tàu kinh tế” thí dụ như Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải thay đổi tốt đẹp tuyệt vời vì rằng:

1) Người dân công chính nghiệm ra rằng: lãnh đạo “đầu tàu kinh tế” không được phép là những vị bu ngồi toa hạng nhất trên các chuyến tàu ấy (vì lẽ nào lãnh đạo tập trung hưỡng thụ), cũng như không được phép là những vị bu đứng ở buồng điều khiển (vì lãnh đạo thành phố không là chủ nhân của các cơ ngơi “đầu tàu” trực tiếp sản xuất ra tiền mà người ta hay gọi là giám đốc điều hành tức CEO), mà lãnh đạo thành phố phải và chỉ được là các đường ray, các thanh tà vẹt, các bù lon ốc vít, để các toa xe chạy lên đó – mà đường ray thì không có còi để phát ra những âm thanh than vản.

2) Từ sự nghiệm 1 trên, người dân công chính nghiệm tiếp rằng: các nghị sĩ và các đại biểu hội đồng nhân dân của họ nhất thiết phải chấm dứt cái vai trò “chuyển tải ý dân” vì người dân có thể tự gởi cái ý đó cho bất kỳ cơ quan quyền lực nào – thậm chí bằng một cái click chuột – chứ không phải cậy nhờ các tinh hoa chính trị chuyển giúp; từ đó người dân quan tâm đến những ứng cử viên nào có chương trình hành động không chứa những điều vớ vẩn như “tiếp xúc lắng nghe nguyện vọng cử tri và chuyển tải các tâm tư tình cảm của cử tri đến nghị trường Quốc Hội”, mà thay vào đó là những khẳng định sẽ làm thanh tà vẹt cỡ nào và đinh ốc kiểu gì để địa phương phát triển cụ thể về kinh tế ra sao, như thế nào, bao lâu thì hết ngập, khi nào thì hết quy hoạch treo, bao giờ giải quyết hết các khiếu kiện kéo dài, và cần mấy thập niên hay mấy thế kỷ nữa để Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn hóa văn minh hiện đại trong đại cuộc phục vụ nhân dân.

3) Từ sự nghiệm 2 trên của người dân, kể từ 2021 sẽ chẳng còn một ứng cử viên nào là chức sắc được các cơ quan ban ngành đoàn thể cùng Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu ra ứng cử mà lại dám mặt dày mày dạn nhận lời đề cử đó, vì rằng sự đề cử sẽ không còn trở thành việc dành đặc quyền cho những chức sắc mà công việc duy nhất của họ là ngự trong những toa tàu hạng nhất của con tàu kinh tế với xấp giấy báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp mỗi năm hai lần của cử tri mà họ có bổn phận phải chuyển tải ra nghị trường Quốc Hội, vì chỉ còn sự tồn tại của việc tự ra ứng cử của những công dân tài giỏi yêu nước yêu chế độ tự nguyện làm đường ray cho con tàu kinh tế chạy dẫm cọ sát sướt trầy tóe lửa lên trên.

4) Và từ kết quả của sự nghiệm 3 trên, kể từ mùa bâu cử 2021, Việt Nam bắt đầu thực sự có những nghị sĩ Quốc Hội và những đại biểu Hội Đồng Nhân Dân hoàn toàn không biết than vản tạo tư tưởng yếm thế nơi người dân, không biết gieo rắc tư tưởng sứ quân cát cứ địa phương chủ nghĩa vốn dễ tạo ra những lãnh địa và những khu tự trị hoặc những vùng đặc biệt không bao giờ mang tính kết nối, kết đoàn, và kết tụ của hào khí dân ta.

E) Thay Đổi Từ Công Thức Duy Nhất Thuần Chính Trị

Việt Nam sẽ gia giảm đến mức thấp nhất những thành phần sau trong giới tinh hoa chính trị thuộc các chủng loài (categories) vốn đã luôn được áp dụng từ trước đến nay cho tất cả các lĩnh vực thuộc khu vực Nhà Nước – dù lĩnh vực đó là chính trị hay phi chính trị – của một đất nước mà khu vực Nhà Nước chiếm tuyệt đại đa số:

1) Hồng: Cha truyền con nối thuần chính trị và theo con đường quy trình


2) Chuyên: chỉ cẩn có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ toàn từ tiền nhà nước, không nhất thiết trực tiếp liên quan đến lĩnh vực được phân công làm quản lý

3) Kinh Nghiệm Thực Tế: không cần kinh qua kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ mà chỉ cần theo đúng quy trình được bổ nhiệm làm lãnh đạo ngay tại các Tổng Công Ty Nhà Nước/Hội Đồng Quản Trị/Hội Đồng Thành Viên/Phòng Ban cấp Bộ, v.v.

F) Thay Đổi Sang Phân Ngành

Trước thực tế tiêu chuẩn và quy trình nêu trên thường dẫn đến các tiêu cực như (a) những lãnh đạo đúng quy trình bổ nhiệm như hạng tép riu vô danh tiểu tốt Trịnh Xuân Thanh vậy mà xuất hiện ở đâu là thiệt hại tỷ đô tới đó, (b) những lãnh đạo đúng quy trình bổ nhiệm như của Thành phố Hồ Chí Minh làm “đầu tàu kinh tế” của cả nước đứng sựng bởi triều cường, và (c) những lãnh đạo như của Thành phố Hồ Chí Minh hễ bị cắt giảm ngân sách là than thở bối rối lúng túng như gà mắc dây thun,

các tiêu chuẩn và quy trình sẽ phải thay đổi như sau:

A) Thuần Chính Trị: áp dụng y như phần E ở trên với tất cả các quy trình về Hồng-Chuyên-Kinh Nghiệm, nhưng quy về một lĩnh vực duy nhất là thuần chính trị, thuần tuyên giáo, thuần đối ngoại quốc gia, thuần lực lượng vũ trang, thuần đối đầu chính trị với thế giới, và thuần hoạch định chính sách chung, nghĩa là chỉ áp dụng trong nội bộ tổ chức Đảng, chứ không áp dụng các quy trình và tiêu chuẩn của phân ngành này để rồi bổ nhiệm các lãnh đạo là chức sắc cấp cao của Đảng vào các chức vụ trực tiếp thực hiện đại cuộc kiến quốc như kinh tế, kinh doanh, thương mại, giáo dục và đào tạo, y tế, dịch vụ công, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, giao thông công chánh – kể cả hàng không và hàng hải, v.v., vốn thích hợp riêng cho tầng lớp nhân sự có năng lực thực sự về chuyên môn, có thực tài thực hiện hiệu quả, tổ chức thực hiện hiệu quả, giám sát thực hiện hiệu quả, quản trị thực hiện hiệu quả, mà tầng lớp này phải nắm thực quyền quản trị kiến quốc để chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm cá nhân – chứ không phải trách nhiệm tập thể mà ý nghĩa thực chất là chẳng ai phải chịu trách nhiệm cả – đối với đại cuộc kiến quốc ấy.

Các chức vụ trực tiếp thực hiện đại cuộc kiến quốc sẽ thuộc phạm trù phạm vi Thuần Quản Trị Kiến Quốc chỉ dành cho những đại chuyên gia mà thời gian “làm ra tiền cho đất nước” của họ eo hẹp đến độ không ai trong số họ có thể họp sinh hoạt Đảng cùng hai mươi bốn cuộc họp sinh hoạt khác trong hai mươi sáu ngày làm việc của một tháng.

B) Thuần Quản Trị Kiến Quốc:

1- Hồng:


2- Chuyên: có trình độ thạc sĩ/tiến sĩ từ đầu tư tự túc dựa trên khát vọng bản thân, năng lực cá nhân, ý chí tự thân vận động vượt khó, và thành tích tự thân.

3- Kinh Nghiệm: làm việc nhiều năm về chuyên môn tại những cơ sở/doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc có yếu tố nước ngoài, và có thành tích thâm niên được thăng tiến lên vị trí quản lý tại doanh nghiệp ấy.

Một hiệu trưởng một trường đại học có chữ “quốc gia” mà phải là đảng viên, thành ủy viên, ủy viên trung ương Đảng, nghị sĩ Quốc Hội, chỉ có bằng tiến sĩ chứ chưa hề dày công giảng dạy thành công, chưa hề dày dạn nghiên cứu khoa học được đăng trên các journals lừng danh thế giới, chưa hề đào tạo nên lớp người kế thừa xuất sắc, và cũng chưa hề giúp phát triển ngay trong xã hội nước mình cái ngành mà mình có bằng cấp thì bảo đảm ngày mà đại học đó được các đại học lừng danh của Âu Mỹ công nhận ngang hàng với họ về chất lượng cũng hiệu quả đào tạo học-hành thì đó cũng là đêm trước của Ngày Tận Thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị-sĩ Quốc-hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam



Như đã nêu trong một bài viết trước đây, tôi có nêu rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có những thứ vũ khí cực kỳ quan trọng, trong đó nổi bật nhất là Quân Đội và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, các vũ khí chiến lược trên còn được tăng cường bổ sung thêm sau  Chiến Thắng 30-4-1975 với các thế lực chính trị của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông.

Khi nói vị trí của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông “sau 30-4-1975” mới định hình, đó là vì sự thật lịch sử: Đoàn Thanh Niên  trước 30-4-1975 chỉ tập trung cho nhiệm vụ chính trị duy nhất là làm đội hậu bị của Đảng trên chiến trường trong đại cuộc Giải Phóng Miền Nam.

Công Đoàn trước 30-4-1975 chỉ để khẳng định có một tổ chức chính trị cho giai cấp công nhân cho đúng với triết thuyết của Tư Bản Luận Das Kapital, chứ hoàn toàn không vì nền công nghiệp đã phát triển rộng khắp như tiền đề cho một lực lượng lao động bài bản và hùng hậu.

Truyền Thông của Cách Mạng trước 1975 nếu là báo in thì chỉ xuất hiện hạn chế ở một số nơi Miền Bắc hoàn toàn không thể tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng dân cư ở Miền Nam, truyền thanh chỉ của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà số dân Miền Nam lắng nghe đương nhiên không thể là đa số, và truyền đơn chỉ là ở vài nơi trong Sài Gòn mà tác giả bài này có bằng chứng hình chụp trong bài “Tôi Và Lê Hiếu Đằng”.

Bài này sẽ phân tích về các thứ vũ khí siêu việt của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thực tế ngày nay, với phần nói về Truyền Thông ở cuối cùng.


Quân Đội là một trong những lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Quân Đội vẫn là lực lượng hùng mạnh dưới quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, và luôn được Nhà Nước đầu tư dồi dào về trang bị quân lực. Tuy nhiên, Quân Đội đang phải đối mặt với các vấn nạn sau:

1- Số lượng các tướng lĩnh đã bùng phát dẫn đến quan ngại rằng Quân Đội đang hướng theo “từ chương” trong dụng nhân chứ không hướng theo thực chất thực tài.

2- Trong các chuyến thăm các tiền đồn của Quân Đội, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước của Quốc Hội Khóa XIII nhận thấy rằng nơi nào cũng sử dụng rượu nặng (hoặc mua hoặc tự chưng cất mà không bất kỳ thứ gì trong hai thứ này là đúng đắn cả) để chiêu đãi đoàn nghị sĩ của Ủy Ban Đối Ngoại. Đây là điều cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là đối với công tác phòng thủ biên cương.

3- Nỗ lực của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội Khóa XIII trong yêu cầu phải ghi nội dung sau vào Hiến Pháp 2013 để bảo vệ Quân Đội và gia tăng quyền lực bất khả xâm phạm của Quân Đội đã không được lắng nghe:


Nếu lưc lượng vũ trang khác là Công An đã bị làm cho cùn nhụt bởi những quy định ẻo lã, mềm nhũn, nhão nhoét, tước bỏ quyền lực “tiêu diệt tội phạm và trấn áp ngăn chặn phạm tội” để thay vào đó bằng một thứ nhiệm vụ vô nghĩa vô bổ vô dụng vô lý của “bảo vệ nhân dân”, thì Quân Đội đã không được phân quyền, không được bảo vệ, bị tước mất quyền lực “tiêu diệt quân xâm lược và tiếp quản bất kỳ cương thổ nào của quân thù” để phải đeo trên ngực tấm bảng yếu ớt vô nghĩa vô bổ vô dụng của “bảo vệ đất nước” thì rõ ràng là lực lượng vũ trang luôn trung thành với Đảng đã không được Đảng bảo vệ tuyệt đối, từ đó sẽ  đối mặt với kiểu hành xử “không dám mạnh tay” tiến tới “không dám chiến đấu”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn phủ lên Hiến Pháp sự nhã nhặn nhún nhường để phục vụ đại cuộc chinh phạt thế giới cho nên đã tránh các nội dung sắt máu, thì Đảng cũng nên quy định trong rèn luyện Quân Đội rằng tất cả quân xâm lược – và lực lượng hậu cần của chúng bất kể là thuần quân sự hay bán quân sự hoặc thuần dân sự – đều phải bị tiêu diệt chứ không phải bị bắt giữ, và quân nhân sẽ được bảo vệ tuyệt đối.


Nếu như các chức năng của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã ghi rõ trong bài viết “Nguyễn Thiện Nhân”, thì hiện nay đã có thể bổ sung thêm những yếu ớt ẻo lả vô dụng của cái cơ quan ngốn cực nhiều ngân sách quốc gia từ tiền thuế của dân mang tên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam này.

Loại bỏ – tức không thèm nhắc đến chứ không phải tha thứ – cái tầy huầy làm không nên thân chẳng ra chi của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong kỳ Bầu Cử Quốc Hội 2016 mà nơi nào cũng mang mặt nạ dối lừa có giòng chữ “Thành Công Tốt Đẹp” thì Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã hoàn toàn thất bại rất cụ thể trong:

1) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, và “bầu cử” Nguyễn Thị Nguyệt Hường vào làm chức sắc cao cấp trong Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong hai khóa Quốc Hội;

2) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, “bầu cử”, và ủng hộ Trịnh Xuân Thanh làm lãnh đạo Cần Thơ;

3) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ “biểu tình” làm loạn đông người của giáo dân;

4) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ  làm loạn đông người của các trung tâm cai nghiện; và

5) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ cháy các cơ sở Karaoke; v.v. và v.v.

Trước thực tế quá rõ mười mươi không bao giờ có bất kỳ ai trên toàn lãnh thổ Việt Nam dù trong Đảng hay ngoài Đảng có thể phủ nhận hay phản bác lại được là Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam từ trung ương đến địa phương hoàn toàn không bao giờ có cá nhân hay tập thể nào có thể đưa ra bất kỳ danh mục thành tích thực sự cụ thể nào trong “vận động” nhân dân làm cho quốc thái thật và dân an thật, thì

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trở lại thành thứ vũ khí quan trọng của Đảng thì trước hết phải (a) cách chức Chủ Tịch Nguyễn Thiện Nhân và (b) cách chức toàn bộ ban lãnh đạo các Mặt Trận Tổ Quốc ở các tỉnh thành nào có xảy ra bê bối về bầu cử, có “đại biểu đắc cử” bị phát hiện là tội phạm, có “đại biểu đắc cử” hay chức sắc đào thoát đi nước ngoài, có các cuộc “biểu tình”, có các cuộc tụ tập khiếu kiện đông người, có xảy ra các vụ trọng án dù bất kỳ lĩnh vực nào. Duy trì một bộ máy bất tài vô dụng đầy dẫy trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và nuôi dưỡng nó thật dồi dào hào phóng bằng tiền thuế của người dân sẽ không giúp gì cho Đảng trong đại cuộc quần chúng chiến cả.


Điểm yếu của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam trong giai đoạn mới của “hội nhập” theo các Hiệp Định đa phương đã được nêu trong bài viết trước đây trong đường liên kết ở phần Tham Khảo của bài viết này.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  tồn tại vững mạnh được trong hoàn cảnh mới, Tổng Liên Đoàn cần hợp đồng tư vấn với tác giả bài viết này vì rằng không bao giờ nội bộ Tổng Công Đoàn có thể đề ra bất kỳ kế sách nào cho đại cuộc tồn tại – qua tấm gương diển hình của Chủ tịch Tổng Liên Đoàn của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII đã không đóng góp gì hữu ích cho Luật Công Đoàn để rồi ngay sau khi được thông qua nó bị phát hiện có tỳ vết thì chính vị Chủ Tịch ấy lập tức đăng đàn phê phán, còn sau khi nghĩ hưu thì đột nhiên tích cực đòi Quốc Hội phải truy phong “anh hùng”cho các quân lính Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận dưới họng súng của Trung Quốc tại Hoàng Sa.


Điểm yếu của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có thể được khắc phục qua tham khảo bài viết “Hướng Đạo” và nhiều bài viết khác trong cùng địa chỉ blog này. Tuy nhiên, ngày nào lãnh đạo Việt Nam vẫn còn dụng nhân theo kiểu từ chương – tức không là đoàn viên thì không thể làm đảng viên, hoặc không là đoàn viên thì không thể được cất nhắc trong các cơ quan hành chính công quyền địa phương, tức công tác đoàn chỉ là để cho các mùa hè màu vô dụng hoặc để dự các liên hoan bù khú vô dụng với thanh niên Tàu – và ngày nào công tác Đoàn quan trọng nhất thí dụ như ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là “quản lý Báo Tuổi Trẻ” , thì ngày đó Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh chỉ có nhiều thu nhập rót qua từ “Tuổi Trẻ” chứ vẫn không bao giờ trở thành vũ khí uy lực của Đảng như Đảng hằng mong muốn nhưng sẽ lại mãi mong chờ.


Truyền Thông trở thành thứ vũ khí mới nhất và lợi hại nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian từ ngay sau ngày 30-4-1975 đối với (a) phổ biến phổ quát các chủ trương chính sách của Đảng, (b) dựng xây hòa hợp dân tộc qua phân tích tình hình trong và ngoài nước tập trung vào thế thắng của chính nghĩa quốc gia, (c) chống chọi chống cự chống đối chống lại các hình thái chiến tranh tâm lý của kẻ thù, (d) nêu gương người tốt việc tốt trong xã hội, (e) phổ biến phổ quát hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa, và (f) giáo dục tư tưởng quần chúng.

Tuy nhiên, Truyền Thông Việt Nam ngày càng suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn như đã được tác giả bài viết này nêu lên trong rất nhiều bài viết chuyên đề trước đây.

Một trong những phương pháp để học giỏi tiếng Anh mà tác giả bài viết này truyền thụ cho sinh viên của mình trong những năm 1980 là hãy tìm đọc các bài bình luận bằng tiếng Việt trên báo Sài Gòn Giải Phóng vì (a) không thể giỏi tiếng Anh nếu không xuất sắc tiếng Việt, (b) đọc bài xã luận tiếng Việt của Sài Gòn Giải Phóng để học hỏi về lập luận hùng biện cao cấp mang tính tư duy cao cấp về thời cuộc, và từ đó có thể (c) rèn luyện năng lực hùng biện tiếng Anh đối với tất cả các vấn đề mang tính thời cuộc và tư duy cao cấp.

Còn lời khuyên hiện nay của tác giả bài viết này – nếu trở lại giảng đường đại học tiếp tục giảng dạy các bộ môn tiếng Anh – sẽ là: muốn học giỏi tiếng Anh đạt trình độ tư duy hùng biện cao cấp thì hãy tránh xa tất cả các báo chí của Việt Nam vì báo chí Việt Nam đã suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn, vì sự thật không bất kỳ ai có thể phản bác lại là: trên tất cả các tờ báo đã không còn tồn tại bất kỳ phần xã luận nào ra hồn.

Suy, vì trong khi trên báo chí nước ngoài các bài viết bình luận đều có tên đầy đủ của người viết kèm theo hình ảnh nhỏ xíu của người viết ở bên cạnh tên người đó thì tất cả các bài báo Việt đều (a) không “nhà báo” nào dám dùng tên thật và đầy đủ như trên Chứng Minh Nhân Dân, (b) không “nhà báo” nào dám bình luận gì mà chỉ dám “phỏng vấn” rồi đưa tin để “an toàn” cho mình và để mình tha hồ cắt xén làm hại kẻ bị mình “phỏng vấn” nếu mình không ưa hắn hoặc có nhận chỉ thị phải “nhét chữ vào mồm” hắn, (c) nếu không ai cho “phỏng vấn” hoặc bí đề tài thì tha hồ sáng tạo láo, và (d) sẵn sàng cóp nhặt tin giật gân nước ngoài hoặc nước trong miễn lấp đầy trang bao hay trang mạng.

Suy, vì tất cả các báo đều là của Đảng nhưng phản Đảng, làm Đảng suy yếu, lợi dụng Đảng để kiếm chác bằng cách de dọa doanh nghiệp, làm hại sản xuất nội địa, cũng như đơm đặt bao chuyện để làm Đảng phải mang nhục, v.v.

Bằng chứng rõ nét nhất của sự suy yếu là qua vụ Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phát biểu chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” khi:

1- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt công kích Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước;

2- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có kiến thức và trí tuệ về “biểu tình”;

3- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có tầm nhìn thấu thị về “biểu tình”;

4- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt hùa nhau trừng trị “người vì Đảng vì Nước vì Dân”, thay vì lẽ ra cái đạo ý thuần Việt phải luôn là đồng loạt bảo vệ người ấy như hành động rõ nét nhất để bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ. Cụ thể nhất – theo báo cáo của các học trò của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước – thì ngay cả Tạp Chí Xây Dựng Đảng cũng có một bài viết của một tên  nhà báo ngu xuẩn chống lại Nghị sĩ ấy, nghĩa là Tạp Chí Xây Dựng Đảng trở thành tạp chí vất sọt rác vì đã đăng một bài của một tên phản Đảng, vô trí, vô mưu, ngu xuẩn y như tất cả những tên nhà báo đầu bò ngu xuẩn đần độn mất dạy nào đã từng bu lại phỏng vấn để rồi viết bài chống lại Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước trong vụ “Luật Biểu Tình”.

5- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại và chịu nhục nhã do không thể khiến Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phải từ nhiệm hay bị miễn nhiệm hoặc bị bãi nhiệm khỏi vị trí Nghị Sĩ, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại, và Thành Viên Hội Nghị Sĩ Hữu Nghị Việt Nam – Philippines của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

6- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại thảm hại vì chỉ một mình Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã ngăn chặn thành công tuyệt đối cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong toàn bộ nhiệm kỳ Khóa XIII của Quốc Hội thậm chí qua 1/2 thời gian của nhiệm kỳ Khóa XIV khiến cái mà toàn bộ báo chí chính thống của Việt Nam xúm lại ngợi ca đã bị xếp xó, khiến nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trở thành người có tầm nhìn thấu thị, có hiểu biết thấu đáo về “biểu tình” cũng như về thực tế đất nước, và tất nhiên là có sức mạnh hùng biện chiến thắng tất cả các “nhà báo”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  Truyền Thông trở lại là vũ khí lợi hại của Đảng, Đảng nhất thiết phải loại bỏ toàn bộ  Truyền Thông vô dụng hiện nay để hình thành một đế chế Truyền Thông mới, trung thành tuyệt đối với Đảng, dựa theo kinh nghiệm trị quốc của tất cả các siêu cường tư bản tự do dân chủ là: Báo Chí Phải Và Chỉ Phục Vụ Cho Chế Độ.

Tất cả các vũ khí lợi hại của Đảng đều đã bị suy yếu. Đó là nỗi lo của người viết bài này đối với tiền đồ tổ quốc, tương lai dân tộc Việt Nam vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Tham khảo:

A) Chính Sách Nhân Lực:

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2016. Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

Hoàng Hữu Phước. 29-8-2013. Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Hoàng Hữu Phước. 10-6-2016 Nguyễn Thiện Nhân

B) Báo Chí:

Hoàng Hữu Phước. 05-8-2016. Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này

Hoàng Hữu Phước. 11-11-2016.  Báo Tuổi Trẻ Lại Giỡ Trò Fauxtography

Hoàng Hữu Phước. 27-12-2015. Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2015. Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước. 21-01-2015. Thư Gởi Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam

Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường QuốcHoàng Hữu Phước. 13-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu

Hoàng Hữu Phước. 16-10-2014. Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ

Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng

Hoàng Hữu Phước. 28-9-2014. Báo Người Lao Động

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn

Báo Động Về Năng Lực Của Lãnh Đạo Thành Phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB


Nội dung khủng khiếp sau được chụp từ trang web của Báo Tuổi Trẻ:


Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã hoặc bất cẩn trong phát ngôn, hoặc thực sự thiếu năng lực trong lãnh đạo một thành phố quá lớn khiến cư dân Thành phố Hồ Chí Minh ắt sẽ phải đối mặt với hiểm nguy cực kỳ nghiêm trọng!



Mới đây, Tổng Thống Vĩ Đại của Nga Vĩ Đại Vladimir Putin ra lệnh mỗi thành phố ở Nga tham gia tập dượt phòng thủ dân sự khẩn cấp. 40 triệu người dân – tức 1/3 dân số Nga – sẽ thao dượt nhằm đối phó với nguy cơ tiềm tàng các trận ném bom nguyên tử từ kẻ thù. Thủ đô Moscow đã sẵn có các hầm trú ẩn hữu hiệu đối với các cuộc tấn công hạt nhân cho 12 triệu người tức cho toàn bộ cư dân của Moscow. Lương thực và các nhu yếu phẩm cùng những phương tiện y tế đủ cho ngần ấy cư dân dưới lòng đất được sinh tồn trong thời gian kịp cho tác hại của phóng xạ chết người qua đi. Và không hề có tin chính phủ Nga sẽ chu cấp thêm bao nhiêu ngân sách cho mỗi thành phố để thực hiện chỉ thị ấy của tổng thống.

Phải chăng ngân sách các địa phương Nga nhờ được “tự chủ” nên đã quá dồi dào, đã tự lo được mọi thứ nên bất kể nước Nga có đã và đang bị cấm vận nghiệt ngã và cuộc tham chiến ở Syria nhằm tiêu diệt IS đang làm Nga thêm cạn kiệt tài chính, Moscow vẫn bình tỉnh đối phó với nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh?


Nga làm được vì lãnh đạo từng địa phương đã thực sự là lãnh đạo chuyên nghiệp: luôn “tự chủ” trong tư duy, trong “liệu cơm gắp mắm”, và trong “biết lo trước cái lo của người dân” – mà trong các cái lo ấy có cả cái lo về ngân sách thâm hụt, lo về tham nhũng, lo về đầu tư không hiệu quả trong sử dụng ngân sách và giám sát việc sử dụng ấy, lo về thiếu vắng “người tài”, và lo về tất cả những gì liên quan đến sự an nguy sinh tồn của từng địa phương.

Thử hỏi, với ngân sách chưa bị cắt giảm thì trong hai mươi năm qua tình hình ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh có đã khả quan hơn chưa, hay ngày càng trầm trọng hơn? Khoan nói tới chuyện tham nhũng, móc ngoặc, lại quả, đơn giản vì dễ bị phản pháo mạnh mẽ bằng câu nói hoàn toàn đúng luật pháp: “Bằng chứng đâu? Bôi nhọ à?” Hãy nói đến việc tồi tệ về năng lực thiết kế, tồi tệ về năng lực thực hiện công trình, tồi tệ về năng lực giám sát công trình, tồi tệ về năng lực nghiệm thu công trình, đơn giản vì các nội dung này sẽ không bao giờ bị phản pháo bằng câu nói: “Hãy chứng minh đi!” với thực tế quá hiển nhiên: NGẬP.


Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of change” hoặc “change management” tức CM tức “quản lý các đổi thay” bất kể sự đổi thay ấy là tốt hay xấu, nghĩa là đột nhiên trung ương ban cho thêm 1.000 tỷ USD thì phải không được luống ca luống cuống chả biết xài vào việc gì, và ngược lại khi trung ương đột nhiên cắt giảm 1.000 tỷ USD thì không được luống ca luống cuống chả biết phải duy trì hoạt động ra sao.

Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of crisis” hoặc “crisis management” tức “quản lý khủng hoảng”, và phải có sẵn BCP tức “Business Continuity Plan” tức cẩm nang phòng bị được áp dụng bảo đảm hoạt động “gần mức bình thường nhất có thể được” của công việc khi có phát sinh sự cố hay sự việc. Thành phố Hồ Chí Minh đã có BCP cho trường hợp bị cắt giảm ngân sách chưa?

Nếu bị cắt giảm ngân sách mà lãnh đạo đã hoang mang trước tiên, than thở “trở tay không kịp”, thì đừng nói đến chiến tranh nguyên tử đắt tiền đánh vào từ Biển Đông,


chỉ cần kẻ thù chống Việt từ biên giới trên bộ cách Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 100 km tấn công bằng cơn mưa hỏa tiển (tên lửa) rẻ tiền ào ạt nhắm Thành phố Hồ Chí Minh chúc đầu xuống thì lãnh đạo thành phố sẽ hoảng sợ trước tiên hay sao?


Người dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ra sao? Tiền thì yêu cầu Chính Phủ rót thêm ngân sách trong khi chưa hề chứng tỏ đã sử dụng ngân sách ấy hiệu quả ra sao, trong khi đó lại giám sát chẳng ra chi khiến có những tầy huầy trọng án kinh tế.

Nếu được cho đủ tiền hoặc dư tiền mới làm được việc thì (a) bài học thường ca hát “với sức người, sỏi đá cũng thành cơm” đã vất đi đâu, (b) cần quái gì có đầy đủ các quan chức, và (c) phải chăng Thành phố Hồ Chí Minh không có nhiều chuyên gia kinh tế luôn được báo chí chính thống của thành phố đón săn để hứng các lời nhả ngọc phun châu nhằm lấp đầy trang báo trống đó hay sao?

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị là ý chí, là định hướng cho tập trung mọi nổ lực.

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị không là ấn định phải thực hiện bằng mọi giá bất kể hoàn cảnh mới phát sinh.

Tạo điều kiện cho phát triển” không chỉ có mỗi một ý nghĩa rằng phải gia tăng ngân sách. Bố trí “người tài” của trung ương về địa phương cũng là “tạo điều kiện cho phát triển”. Chưa kể, “tự tạo điều kiện cho phát triển” mới là năng lực tuyệt diệu của nhà lãnh đạo.

Cắt giảm ngân sách không bao giờ là đại họa hay thảm họa – nếu so với bùng phát chiến tranh.

Chỉ có thể đưa ra chuyện nhỏ nhặt “không mua sắm ô tô mới cho lãnh đạo mới” để chứng minh xài tiền của dân cẩn trọng để xin đừng cắt gảm ngân sách nhiều quá, thì quả là chuyện đau đớn quá cho năng lực lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh!

Chỉ nêu sự cấp bách của chống ngập để xin đừng cắt giảm nhiều ngân sách, thì quả là chuyện đớn đau vì nhiều năm qua Thành phố Hồ Chí Minh không bị cắt ngân sách vẫn có chống được ngập đâu?

Cắt giảm ngân sách là cơ hội mà Trung Ương ban cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ thực tài quản trị vì nước vì dân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vì Sao Thành phố Hồ Chí Minh Ngập

Hoàng Hữu Phước, MIB


Lẽ ra tôi đã không viết bài này (a) vì đã viết một bài cùng chủ đề cách nay gần một thập niên trên, và (b) nếu như đừng đọc mấy tin tức nhảm nhí gồm các viện dẫn chính thức nhưng đầy né tránh của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nêu 5 lý do nào gây ra ngập và các ý kiến bầy đàn của các “chuyên gia”.

Né tránh vì đã không nêu các vấn nạn thực sự.

Bầy đàn vì hàng chục năm trước các “chuyên gia” đó hoặc (a) cứ như chưa được sinh ra nên chẳng góp ý bất kỳ để hóa giải các vấn nạn có thể lường trước được bởi bất kỳ ai thực sự có học thức, hoặc (b) chẳng dám nói gì vì chính quyền chẳng nói gì nên chẳng dại gì “chọc giận” chính quyền, thế mà nay thì hùa nhau hùng hổ góp ý linh tinh.

Không nhìn nhận 5 sự thật sau thì Thành phố Hồ Chí Minh mãi mãi ngập và sẽ đến lúc Thành phố Hồ Chí Minh bị xóa sổ, nói gì đến hai đại cuộc xây dựng nó thành một “megacity” và thành một “khu tự trị”:

1- Chủ trương hoàn toàn sai quấy và vô trí của Thành Ủy và Hội Đồng Nhân Dân cùng Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh trong đề án xây dựng Khu Đô Thị Nam Sài Gòn khiến vùng đầm lầy rộng lớn bị san lấp nâng nền phục vụ cho sự hình thành một khu đô thị đa chức năng kiểu mẫu làm trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, khoa học, văn hóa, giáo dục, cư trú, và giải trí, mà điển hình là qua việc cho một tập đoàn Đài Loan hình thành Khu Phú Mỹ Hưng, dẫn đến hậu quả vĩnh viễn bịt kín và triệt hẳn cửa ngõ thoát nước của Thành phố Hồ Chí Minh, gây ra cái quái gở ngập nước vào mùa nóng mà người ta tự chế ra từ ngữ “triều cường” rồi đỗ lỗi cho nó, và sự ngập trầm trọng vào mùa mưa mà người ta trước thì ngậm tăm làm ngơ còn sau này khi đã vô phương cứu chữa thì bày ra 5 cái nguyên nhân vớ vẩn để ngụy biện.

2- Sự áp dụng khoa học công nghệ tào lao ngu xuẩn của Thành phố Hồ Chí Minh như đã được nêu rõ như một tư liệu lịch sử trong bài viết đã nói đến ở trên (đăng trên cách nay gần một thập niên và được đăng lại bên dưới bài viết này): thường xuyên rãi đá dăm mặt đường toàn bộ các tuyến đường trong Thành phố Hồ Chí Minh để “tăng độ bám đường” khiến bụi bay mù mịt toàn thành phố. Việc đầu tư vô lý này không thể không là minh chứng mang tính liên tưởng đến sự thất bại không thể xử lý “triều cường” và “chống ngập” tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng các biện pháp gọi là khoa học kỹ thuật vài thập niên trở lại đây.

3- Sự vô trách nhiệm trong giám sát thi công cộng với sự lưu manh bất lương vô liêm sĩ của các công ty xây dựng cầu đường bất tài vô dụng. Việc đường Nguyễn Hữu Cảnh ở Quận Bình Thạnh do Công ty Thanh Niên Xung Phong của “phe quốc doanh” xây dựng đã trở thành công trình đầy tì vết và tủi hổ với việc sụp lún đường, nứt cầu, và “ngập” bởi cái gọi là “triều cường” ngay lúc được đưa vào sử dụng năm 2002, khiến Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đến nay phải bỏ ra những khoản tiền cực kỳ khổng lồ – dù chưa được “tự trị” về ngân sách – đễ cứu nguy công ty nhà nước và các vị lãnh đạo nào đó đã nhúng chàm mà cho đến tận ngày nay chất lượng của các kỳ cứu chữa cũng vẫn chẳng ra chi, như minh chứng là trong cơn mưa lớn mơi tuần trước các tuyến đường những khu chung cư cao tầng xa hoa sang trọng gần Saigon Pearl đều ngập nước. Còn trong bài viết đã nói ở trên và được đăng lại dưới đây thì có thêm việc các công ty xây dựng cầu đường mà cụ thể là xây dựng tuyến đường ở khu vực Xa Cảng Miền Tây đã cho đùa tất cả xà bần và các bao cát xuống các cống khi đã hoàn thành công trình để khỏi tốn chi phí thuê hàng ngàn lượt xe tải chở đi đổ chỗ khác. Từ việc người nhái và thiết bị “hiện đại” phát hiện xà bần và hàng trăm bao cát đá trong lòng ống cống “hiện đại”, mọi người theo thuyết âm mưu có thể suy ra những vấn nạn khác khiến xảy ra sự ngập nước của Thành phố Hồ Chí Minh như:

a) công ty xây dựng các khu dân cư/các khu tòa nhà cao tầng – bất kể là khu cao cấp sang trọng hay khu tái định cư/tòa nhà dành cho đối tượng thu nhập thấp, các đường sá, đã không xây dựng – toàn phần hoặc một phần – hệ thống cống thoát nước; và

b) công ty xây dựng các khu dân cư/các khu tòa nhà cao tầng – bất kể là khu cao cấp sang trọng hay khu tái định cư/tòa nhà dành cho đối tượng thu nhập thấp, các đường sá, đã xây dựng hệ thống cống thoát nước với toàn bộ ống cống chất lượng thấp không bao giờ được kiểm định và các ống cống này đã – tương tự tuyến đường ống nước Sông Đà cực kỳ quan trọng của Thủ đô – vỡ nát dưới lòng đất Thành phố Hồ Chí Minh khiến nước thải gia dụng/dân dụng không thể thoát đi phải trồi tràn lên mặt đường biến thành “triều cường” còn nước mưa thì bất kể mưa thường hay mưa to hoặc mưa rất to luôn làm đường phố ngập nước (mà hình ảnh do tác giả bài viết này đã chụp cách nay gần một thập kỷ và đăng trong bài viết đăng lại dưới đây chứng minh ngay trên đường Trần Hưng Đạo sang trọng tại nơi mà lúc đó là ngôi nhà mồ cổ còn nay là cửa hàng Thế Giới Di Động to lớn lại cho thấy chỉ một cơn mưa bình thường vào buổi trưa cũng đã có thể làm ngập gần nửa bánh xe máy Honda và tràn vào cả căn nhà “mặt tiền” mà tác giả đang ngồi uống cà phê, huống gì mưa to của thời hiện đại ngày nay).

4- Sự vô trí và lợi ích nhóm trong phát triển xây dựng thổ cư áp sát ngay cả các vị trí trọng điểm quốc gia như trong bài viết trước đây về Phi Trường Tấn Sơn Nhất đã nêu lên, khiến việc ngập đầy xấu hổ lại thường xuyên xảy ra ngay trên đường băng của sân bay chiến lược Tân Sơn Nhất, và khiến cái thành phố cứ mãi được gióng trống khua chuông về tầm quan trọng quốc tế của nó kiểu mèo khen mèo dài đuôi lại bị bỡn cợt sắp thành một Venice Việt Nam.

5- Sự vô trách nhiệm của tất cả các ủy ban nhân dân phường và các cơ quan công an địa phương trong 40 năm qua với việc (a) hoàn toàn bỏ mặc cho sự lây lan hơn nấm việc người dân lấn chiếm kênh mương kinh rạch bờ sông thậm chí san lấp chúng để xây dựng nhà ở, cũng như (b) hoàn toàn bỏ mặc cho sự xả rác vừa làm nghẹt thêm kênh mương vừa làm gia tăng mức độ ô nhiểm kinh tởm của cái thành phố mà chính quyền gần đây của nó luôn mơ đến chuyện trên trời đầy hoang đường của “megacity” với nào là Thành Phố Bắc, Thành Phố Nam, Thành Phố Đông, Thành Phố Tây đầy hợm hĩnh láo xạo tào lao.

Tóm lại, xin đừng dại dột lắng nghe các lý giải của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh và của các chuyên gia vì (a) tất cả các việc “cứu ngập” sẽ không bao giờ thành công; (b) tất cả các dự án “cứu ngập” đều sẽ y như tiếp tục đốt bỏ một ngân sách cực kỳ khổng lồ và tốn kém; (c) đơn giản vì Thành phố Hồ Chí Minh không có nguồn nhân lực đáng tin cậy về chuyên môn, đạo đức, trách nhiệm đối với các dự án tốn nhiều tiền; (d) đơn giản vì tất cả các lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh chưa bao giờ để lại cho hậu thế bất kỳ bằng chứng minh bạch cụ thể nào về tính hiệu quả của giám sát thi công, giám sát công trình, giám sát vốn đầu tư, cũng như luôn hào phóng dùng tiền ngân sách của trung ương rót cho – nghĩa là ngay cả khi  chưa được trung ương cho “tự trị về ngân sách – để mạnh tay giúp 100% dự án có cơ hội đội vốn khủng khiếp đồng nghĩa với việc hoàn toàn sai trong lựa chọn đơn vị thi công; và (e) các chuyên gia ngày nay tuyên bố này nọ đã chưa từng nói gì hay viết gì về cốt lõi của sự “ngập”, có thể vì họ là “chuyên gia” xài bằng cấp loại “hữu nghị”, có thể vì họ không có dũng khí nói lên/viết lên các ý kiến của họ, có thể các ý kiến của họ bị báo chí nông cạn cùng các cơ quan chung phòng với và chống đỡ cùng tham nhũng vất sọt rác, và có thể vì họ không thuộc tầng lớp trí thức thực sự vốn luôn có tầm nhìn xa-sâu-rộng.

Kính mời các bạn tham khảo bài viết dưới đây, đã được đăng trên ngày 24-01-2009:

  Triều Cường – Thực Chất Của Vấn Đề


Hoàng Hữu Phước, MIB

24-01-2009 Xuân Kỹ Sửu

Năm hết, Tết đến. Đây là thời điểm thích hợp để Ôn Cố Tri Tân.

Theo từ điển Wiktionary, Ôn Cố Tri Tân có nghĩa đen là “xem lại cái cũ, biết cái mới”, nghĩa bóng là “nhắc lại cái cũ để hiểu biết hơn cái mới”, và dịch tiếng Anh cũng của Wikionary là “one should be able to derive new understanding while revising what he has learned”. Theo thiển ý của tôi, nghĩa bóng tiếng Việt thì nghe hợp lý hơn, còn câu tiếng Anh nên viết lại thành: Reviewing the past event or the pending issue for a suitable lesson or a thorough understanding and/or a possible solution để đạt chất lượng tu từ tuyệt hảo trong phạm vi chỉ một nhóm từ tức phrase (chữ OR thứ nhất liên kết eventissue, và chữ OR thứ ba liên kết understanding với solution để cả hai hợp làm một nhóm cùng làm đối trọng với lesson qua chữ OR thứ nhì, thành hai nhóm chính làm object của chữ FOR), thay vì là một câu tức sentence theo kiểu của Wiktionary có một mệnh đề chính với finite verb “should” và một mệnh đề làm noun object cho gerundrevising”, trong khi ý nghĩa “be able to” hoàn toàn yếu, còn “learned” như một nghịch lý. Nói chung, câu tiếng Anh của từ điển Wiktionary hoàn toàn kém.

Ba Má tôi đã lập nghiệp ở Quận 3 Sài Gòn từ năm 1950 và chị em chúng tôi 7 người được sinh ra, và sống ngay tại trung tâm – chứ không phải vùng ven đô – của Sài Gòn và có luôn vinh dự chứng kiến Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, song không phải vì vậy chúng tôi vỗ ngực tự xưng biết tất tần tật hết mọi thứ trên đời về Sài Gòn và về Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, tôi xin chỉ nêu lên những sự thật ít ỏi biết được. Chưa kể, chuyện “ôn cố” ắt giúp giải thích cho tôi hiểu thấu đáo được đôi điều nhỏ nhặt về một vấn đề lớn, đó là “triều cường” của cái sự “tri tân”.

Suốt thời gian tôi học trung học, hoặc Ba tôi, người giữ chức Tham Sự Tài Chính của Air Vietnam, đèo tôi đến trường trên chiếc Mobilette màu cà phê sữa bỉ bền vạn đại hoặc chiếc Honda Dame xanh lá sậm chất lượng tuyệt hảo mới “còm-măng” trực tiếp từ Nhật Bản; hoặc tôi và Chị Hai của tôi chạy song song đến trường Nguyễn Bá Tòng với tôi trên chiếc xe đạp nữ màu đỏ tươi còn chị trên chiếc màu xanh lá sậm, qua bao đường sá quen thuộc của nhiều quận khác nhau. Chưa bao giờ chúng tôi thấy thế nào là ngập lụt, và chưa bao giờ nghe đến hai từ Hán-Việt “triều cường”.

Khi giải phóng đến, thật mát dạ vì chiến tranh đã chấm dứt, nước nhà thống nhất, non sông liền một cõi, thái bình thịnh trị từ nay. Song, tại một đất nước mà Hội Hồng Thập Tự được đổi tên thành Hội Chữ Thập Đỏ cho phù hợp với phong cách “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” đã xuất hiện một hiện tượng kỳ quái được đặt tên bằng tiếng Hán-Việt nghiêm túc, trang trọng hẳn hoi, là “Triều Cường”. Vậy triều cường từ đâu đến và tại sao có triều cường tại Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố đã cao hơn mực nước biển rất nhiều vì đường sá đã được nâng cao liên tục đến nỗi có những chiếc cầu như chiếc trên đường Bạch Đằng, Quận Bình Thạnh, không còn thấy bóng dáng bệ đường cho người đi bộ hai bên thành cầu vốn xưa kia phải cao hơn mặt đường xe chạy ít nhất cũng là 30cm.

Liên tục trong 10 năm kể từ 1975, Sở Giao Thông Công Chánh Thành phố Hồ Chí Minh (hay Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã phát huy sáng kiến của những kỷ sư cầu đường tài ba bằng cách mỗi năm đem hàng ngàn tấn đá dăm rãi đầy mặt đường toàn thành phố mà mục đích như công bố trên báo chí là nhằm “gia tăng độ ma-xát bám đường của bánh xe các phương tiện giao thông do lớp bề mặt của nhựa đường đã lão hóa”. Bụi mù mịt. Số bịnh nhân tai-mũi-họng gia tăng (không có số liệu thống kê để biết bao nhiêu người đã không còn sống được vì bụi của đá chất chứa trong phổi trong ngần ấy năm). Rồi khi mùa mưa đến, đá dăm biến mất để tạo điều kiện cho những đợt rãi đá liên tiếp nhiều năm sau đó. Đá đã đi đâu? Lời giải thích của tôi là: chúng đã bị nước cuốn trôi hết xuống cống, làm đầy nghẹt cả hệ thống cống, trở thành kho dự trữ đá dăm cho hậu thế của ngàn năm sau, khi mà không còn núi non nào để khai thác đá phục vụ việc xây dựng. Trời mưa bất cứ buổi nào, dù sáng hay trưa hay chiều hay tối, nước không sao chảy xuống được trong lòng hệ thống cống rảnh đầy nghẹt đá dăm, gây ra ngập úng hay ngập lụt, và người ta gọi đó là “triều cường”. Chiều tan tầm, hàng triệu người về nhà tắm gội, vệ sinh, giặt giũ, nước ào ạt chảy xuống cống nhà ra cống đường rồi do không thể chảy tiếp được phải trào lên lênh láng ngập lụt mặt đường, người ta gọi đó là do “triều cường”. Thủy triều có lên hay có xuống; nghĩa là mặt sóng nước vỗ đập vào bờ cao hay thấp; mà bờ có nghĩa là ven sông ven biển, và sông hay biển thì thấp hơn thành phố, và “triều cường” phải tràn lên hai bên bờ sông chứ sao lại ngoi lên từ miệng cống hai bên đường tráng nhựa! Từ đây suy ra: ắt Thành phố Hồ Chí Minh có địa thế giống như đất nước Hà Lan thấp hơn mặt nước biển chăng?


Nhờ Ôn Cố tôi đã Tri được Tân, và mọi chuyện lại đâu vào đấy, theo đúng định luật hấp dẫn vạn vật của tự nhiên, nghĩa là không phải tại dòng nước đen sịt đặc quánh hôi thối bẩn thỉu dưới Cầu Kiệu đã “triều cường” dâng lên trên đường Phan Đình Phùng, Quận Phú Nhuận, cao cách mặt sình những gần chục mét, mà chính là vì nước xả ra từ hàng chục vạn căn hộ đã không sao chui xuống được dòng sông sình lầy lơ đãng dưới Cầu Kiệu. Điều này tương tự như ở bao khu vực khác.

Song, nói thế cũng còn hơi điêu ngoa, không đúng sự thực hòan tòan, vì còn có những khu vực khác mới xây dựng vẫn bị triều cường xâm lấn. Sau này, theo báo chí cho biết đã có sự điều tra bằng cách đào lên, cho người nhái và rôbô lặn tìm hiểu, mới biết thủ phạm là…CSR (trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng) khi đơn vị thi công đã tối đa hóa lợi nhuận, tạo thêm việc làm mai sau cho tập thể nhân viên và công nhân, bằng cách tống hết các bao đất cát, đá, xi măng, rác, xà bần, đồ uế tạp lỉnh ca lỉnh kỉnh xuống miệng cống chính rồi lấp lại, tráng nhựa che kín, ngõ hầu nước sẽ bị nghẹt, đường sá hư hỏng, dân tình lại kêu la, và sẽ có thêm hợp đồng cải tạo hệ thống thoát nước sau đó. Doanh nghiệp xây dựng cầu đường có thêm bi-zi-nét, kỷ sư viết viết vẽ vẽ, công nhân lại có thêm tiền công nhật ít ỏi sống qua ngày đoạn tháng, đường sá có thêm nhiều lô-cốt, kẹt xe nhiều hơn, hạnh phúc những gia đình sống quanh đó sẽ ít hơn, sức khỏe giảm hơn, chi phí y tế và bảo hiểm cao hơn, và dường như tiền thuế doanh thu của doanh nghiệp thắng thầu tiếp ấy đóng cho Nhà Nước sẽ trở thành cái đạo đức của doanh gia dù không bao giờ bù đắp được sự khổ ải của người dân.

Năm hết, Tết đến. Một thời khắc để ôn cố, tri tân, để tìm ra câu hỏi cho một vấn nạn, để tự nhủ mình đã làm gì cho quê hương, đất nước, của phận “nam nhi trái”, để khỏi phải thốt lên lời của Cụ Nguyễn Công Trứ “chẳng nhẽ tiêu ma ba vạn sáu”.

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế


Tóm lại, không có được những con người liêm-trí-dũng-chuyên để thay thế cho những sản phẩm hồng-chuyên – nhất là khi hồng thì nhợt nhạt phai mờ còn chuyên thì kiểu rãi đá dăm lên đường sá và kiểu rút ruột công trình – thì sẽ không bao giờ cứu được ngập, và sẽ mãi mãi để người ta nhìn thấy những con số không bao giờ dưới ngàn tỷ cho mỗi công trình trong hằng hà sa số những công trình chống ngập của Thành phố Hồ Chí Minh từ cách nay 20 năm cho đến ngày tận thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Phi Trường Tân Sơn Nhất

Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Điểm Ngời Sáng, Điểm Tăm Tối, và Điểm Chói Chang

Hoàng Hữu Phước, MIB



Điểm Ngời Sáng Cá Nhân

Ông Nguyễn Thái Bình là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016).

Do một sự ngẫu nhiên, tôi trong thời gian vài năm liền được bố trí một phòng ở cạnh phòng của Ông tại Nhà Khách Trung Ương Đảng số 8 Chu Văn An, Hà Nội, những khi tôi ra Hà Nội dự các kỳ họp quốc hội. Tôi được biết đó là căn phòng Nhà Nước cấp cho Ông vì Ông đã từ chối ở tại một “dinh” riêng mà các quan chức đồng cấp “bộ trưởng” như Ông đều được hưởng. Hàng ngày Ông xuống ăn tại canteen của Nhà Khách. Tất nhiên, Ông có ô tô riêng và tài xế đến đón Ông đến Bộ Nội Vụ làm việc; tuy nhiên, mỗi khi đến Kỳ họp Quốc Hội có nhiều đoàn nghị sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh và một hai tỉnh trú ngụ cùng tại 8 Chu Văn An thì Ông chuyên xin đi nhờ chung xe lớn với các đoàn. Cần nói rõ là Nhà Khách Trưng Ương Đảng chỉ có giá trị lịch sử chứ không có giá trị tiện nghi vì không sang trọng hiện đại như các khách sạn khác vốn được bố trí cho tất cả các đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh còn lại, và chỉ trong năm 2016 mới có một thang máy ngoài trời và là thang máy đầu tiên cho tòa nhà bốn tầng này. Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh luôn ngụ tại đấy từ kỳ họp Quốc Hội khóa đầu tiên sau ngày giải phóng.

Mỗi sáng Chủ Nhật, Ông thường sang gỏ cửa phòng tôi để cùng tôi đàm đạo chuyện quốc gia đại sự và chuyện đời, nhờ đó tôi biết thêm nhiều nét về Ông.

Ông ra Hà Nội nhậm chức nhưng vợ của Ông không tháp tùng cùng phu quân vì là một chức sắc Đảng phải công tác ở tỉnh nhà. Cũng vì vậy mà Ông từ chối nhận ở tại một “tư dinh” đòi hỏi quá nhiều người phục vụ và đội cảnh vệ theo tiêu chuẩn cao cấp của một bộ trưởng. Là người sống giản dị, thân thiện, Ông lại rất sâu sắc khi nói với tôi về những khó khăn của công tác Nội Vụ. Tôi hiểu Ông muốn ám chỉ những sự “đối phó” mà Ông rất có thể phải dùng bản lĩnh một vị tư lệnh một Bộ mà ai cũng biết rõ là quyền lực cao vời để hóa giải, vì Nội Vụ giống như cơ chế “điều binh khiển tướng” trong bố trí nhân sự lãnh đạo tại tất cả các địa phương trên toàn quốc, và do đó (a) không thể không có việc nhiều vị đương nhiệm hoặc tiền nhiệm ắt sẽ tìm đến gặp Ông để xin Ông “ban phát ân huệ” để có một chức vụ cho con cho cháu hay cho người quen, cũng như (b) Ông phải xử trí ra sao khi nguồn nhân lực để “bố trí” lại thiếu hụt về số lượng và/hoặc chất lượng cho một chức danh hay một chiếc ghế ở trung ương hay ở địa phương. Ông đã giữ được đức thanh liêm trong thời gian tại vị, không bị điều tiếng gì phương hại đến thanh danh gương mẫu của mình.

Là một chức sắc mẫn cán, ôn hòa, điềm đạm, Ông gần như thuộc nằm lòng tất cả các quy định luật pháp, các nội dung nghị định, các điều khoản thông tư, để khi trả lời chất vấn tại Quốc Hội có thể ứng khẩu để minh chứng đầy đủ cho một nội dung bất kỳ, đến độ nhiều lúc Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng phải cắt ngang, yêu cầu Ông phải nói ngay luôn vào ý chính, khiến hội trường phải cười ầm lên. Nhưng khi bị chất vấn như kẻ tội đồ đối với việc để mặc cho các Bộ có quá nhiều Thứ Trưởng, quá nhiều Vụ Trưởng, quá nhiều “hàm” Vụ Trưởng, Ông Nguyễn Thái Bình đã ứng khẩu thố lộ rằng Ông đã cải tổ Bộ Nội Vụ, gia giảm rất nhiều số lượng “các quan chức” để làm gương nhưng tấm gương đó đã không được “lan tỏa” ra các Bộ khác vì họ quyết không noi theo. Sự tiết lộ sự thật này của Ông làm cả hội trường nín lặng, hiểu Ông hơn, và những tràng vỗ tay tuy chầm chậm nhưng đầy cảm xúc ấy đã kích hoạt một phản ứng cảm thông: từ đó về sau cho đến khi chấm dứt nhiệm kỳ không một nghị sĩ nào muốn chất vấn Ông thêm nữa vì họ đã hiểu cá nhân vị bộ trưởng ấy đã có sự ngời sáng về trách nhiệm trong lẳng lặng làm gương, trong nắm thật chắc công việc quản lý nhà nước đa đoan, trong gìn giữ đức thanh liêm không để vướng các điều tiếng, và trong nếp sống cực kỳ giản dị và tiết kiệm khó thể thấy nơi một “đại quan”.

Điểm Tối Tăm Cơ Chế

Tuy nhiên, Ông Nguyễn Thái Bình là một excellent doer tức một nhà thực thi thực hành kiệt xuất trong giải quyết các yêu cầu cụ thể của công việc chứ không là một excellent thinker tức một nhà hoạch định chính sách tuyệt hảo; có thể vì ngoài sự tận tụy với công việc, sự tận trung với Đảng, sự tận hiếu với dân tộc, Ông không có thực quyền ở tầm vĩ mô, nghĩa là cơ chế chính sách đã được Đảng và Nhà Nước  đề ra như thế nào thì Ông cứ cúc cung tận tụy theo đúng các quy định ấy.

Có lần tôi giới thiệu với Ông một người trẻ tuổi có trình độ ngoại ngữ cao với hai bằng đại học đang làm việc cho một công ty tài chính nước ngoài, không phải đảng viên, nhưng có thể là một người tài giỏi lại có mong muốn được trở thành một công chức để phục vụ địa phương – mà cụ thể là ngành Ngoại Vụ – hoặc trung ương ngay cả khởi sự với chức danh một nhân viên văn phòng do có ý thích “phục vụ” nước nhà. Thế nhưng, Ông bảo tôi hãy nói với người ấy rằng ở địa phương nào và quan tâm làm công chức cho Sở nào thì cứ theo dõi các thông tin thi tuyển công chức tại đó để nộp đơn xin thi đúng theo quy định.

Ông hoàn toàn đúng khi nói như vậy vì (a) đó là quy định giấy trắng mực đen, và (b) Ông phải giữ đức thanh liêm trước mọi sự “nhờ vả” bất kể sự “nhờ vả” hay “giới thiệu” ấy có hay không có các quà cáp hối lộ hay đền ơn.

Tuy nhiên, chính các quy định giấy trắng mực đen mà Ông luôn tuân thủ lại có những khoảng tối mà cơ chế do vô tình hay hữu ý đã đặt ra khiến có lợi nhiều hơn cho các tâng lớp cao cấp của nội bộ Đảng. Chẳng hạn cơ chế ấy trong khi (a) không hề ấn định cách hành xử mỗi khi có sự “tiến cử hiền tài” từ người dân thì (b) lại ấn định sự cho phép mỗi đảng viên có quyền “tự tiến cử bản thân là hiền tài” cho một chức danh cao cấp cụ thể nào đó. Vụ việc của Trịnh Xuân Thanh vừa qua là một minh chứng cho sự tồn tại của một “quy trình” quái gở cho phép sự “tự tiến cử bản thân làm lãnh đạo” như thế. Tương tự, vụ của Vũ Quang Hải và Vũ Đình Duy chẳng khác nào sự tùy tiện “sử dụng nhân tài” của Bộ Công Thương lại càng khẳng định cho sự bôi tro trát trấu vào cái gọi là quy trình ấy.

Ông Nguyễn Thái Bình đã không là excellent thinker để có thể nghiệm ra những quái gở nào đang tồn tại trong “quy trình” của Bộ Nội Vụ, cũng như cơ chế đã không cho Ông cái empowerment thực quyền để đề xuất với Đảng và Nhà Nước  bãi bỏ những chi tiết quái gở cụ thể nào của hệ thống quy trình dụng nhân hiện hành.

Nghe đâu ngày xưa bên Tàu có vua này vua nọ phải tắm gội trai tịnh nhiều ngày để nhiều phen đến thảo lư của một người nào đó mà thiên hạ “đồn đại” rằng có thực tài để thỉnh mời về giúp triều đình “khởi nghiệp.” Chỉ mới nghe lời “đồn đại” thôi mà đã trọng thị như thế.

Vậy thì cơ chế hành xử của Đảng và Nhà Nước Việt Nam ít ra cũng nên là mỗi khi được “đại quan” hay “thường dân” tiến cử “hiền tài” thì

(a) gởi thư mời người được tiến cử ấy đến để tiếp xúc tìm hiểu theo kiểu mà Tây Phương gọi là interview tức phỏng vấn; sau đó

(b) thực hiện việc mà Phương Tây gọi là Work History Verification hoặc ngắn gọn là Background Check tức thẩm tra lý lịch tức việc mà Việt Nam thực hiện rất dễ dàng do không áp dụng các cấm đoán thẩm tra về “đời tư” như ở các nước tư bản tiến tiến, rất bài bản theo “quy trình” đối với đảng viên, và cực kỳ nghiêm nhặt đối với thường dân; và rồi

(c) áp dụng cơ chế mà Âu Mỹ gọi là probation mà ta gọi là thử việc để qua đó xác định đó là người tài thực sự hay chỉ là “đồn đại”.

Đã “đặc cách” cho phép đảng viên cấp cao được tiến cử con mình làm “hiền tài” thậm chí tự tiến cử chính mình làm hiền tài cho các chức danh lãnh đạo cao ngất, thì sao lại không thể “đặc cách” cho một người dân ngoài Đảng được ai đó tiến cử sẽ được mời đến gặp chức sắc cơ quan công quyền theo 3 bước nêu trên mà không cần phải chờ nộp đơn thi công chức cấp thấp khi nào có thông báo?

Điểm Chói Chang Chính Sách & Chủ Trương

Trọng dụng nhân tài là điểm chói chang của tất cả các chính sách cùng chủ trương của Việt Nam từ thời phong kiến xa xưa đến thời dân chủ hiện nay, được thường xuyên lập đi lập lại trong tất cả các phát biểu chính thức của tất cả các lãnh đạo.

Việc tự kiếm tìm nhân tài và tìm thấy nhân tài để rồi ra sức chiêu dụ nhân tài mới là việc đúng đắn và đầy lý tưởng. Việc một ông giám đốc một công ty nước ngoài đã thôi việc, không phải Đảng viên, vừa qua đã tự ứng cử và trúng cử vào Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh rồi được phong làm giám đốc một Sở ở Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “trọng dụng nhân tài” vì (a) đã không có sự ra sức chiêu dụ nào cho việc người ấy rời bỏ một công việc tốt đẹp đang có để về phục vụ nhân dân, và vì (b) người ấy đã là đại biểu Hội Đồng Nhân Dân. Vì thế, Thành phố Hồ Chí Minh chẳng có gì để tự hào về nội dung “trọng dụng nhân tài” cả.

Để “trọng dụng nhân tài” thì chỉ cần theo cơ chế hành xử ba bước như đã đề xuất ở mục trước, mà khi thực hiện các bước ấy, Đảng và Nhà Nước không những không phải “hạ mình” trai tịnh mà còn không phải đến tận nơi đón rước kiểu phong kiến ngàn xưa, nên vấn đề “thể diện” của Đảng và Nhà Nước không hề suy suyển.

Không có cơ chế “trọng dụng nhân tài” như vậy, Việt Nam sẽ chỉ có thể có được một Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Thái Bình có thể đi vào sử sách nước nhà như một đại quan thanh liêm mẫu mực được nhân dân kính trọng thương yêu; nhưng sẽ có rất nhiều Trịnh Xuân Thanh, Vũ Quang Hải, và Vũ Đình Duy cùng những tên tương cận gây họa cho cả dân tộc.

Kính biết ơn Ông Nguyễn Thái Bình vì đã là vị Bộ Trưởng đức độ của nước non này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết cùng thể loại “đánh giá cá nhân”:

Chính Khách:

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc

Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Nguyễn Thiện Nhân

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Thường Dân:

Giáo Sư Nguyễn Quang Tô

Giáo Sư Trương Tuyết Anh

Giáo Sư Lê Văn Diệm

Cô Lại Thu Trúc

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB


A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB


Bài trước tôi cung cấp bản dịch một bài viết trên Perspective của nhà báo Mỹ James Borton khi ông có mặt ở Hà Nội để viết về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. Từ trước đến nay tôi trả lời các câu hỏi của James Borton toàn bằng email, song thay vì email Việt-Mỹ vượt không gian Thái Bình Dương như trước thì nay là lần đầu tiên email Mỹ-Việt vượt không gian từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bài viết trên tờ Washington Times vài ngày trước khi Air Force One đáp xuống Nội Bài, James Borton có trích đăng ý kiến của tôi về sự “xoay trục” riêng của Việt Nam, và bản dịch tiếng Việt của tôi như dưới đây có thể cung cấp cho bạn đọc sự so sánh giữa những quan ngại hoặc lối mòn tư duy và những kết quả thực sự đã hình thành sau khi Tổng Thống Obama đặt chân đến Việt Nam. Kính mời bạn đọc tham khảo.


Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

James Borton – viết riêng cho Thời Báo Hoa Thịnh Đốn, ngày Thứ Tư 18 Tháng 5, Năm 2016.

HÀ NỘI – Từ các quầy hàng trên phố nhộn nhịp  quanh hồ Hoàn Kiếm cho đến khách sạn Motropole kiểu Pháp thực dân, thủ đô Việt Nam đang phô bày sự sầm uất hối hả mang tính thương hiệu của mình trong thời gian cận kề chuyến thăm ba ngày mang tính bước ngoặt của Tổng thống Obama bắt đầu từ Thứ Hai.

Trong khi Việt Nam, một đất nước dạn dày qua chiến tranh, lúc không thể lựa chọn các lân bang của mình thì chắc chắn có thể chọn những bạn bè của mình. Là những kẻ thù một thời không đội chung trời bị hằn nặng bởi một lịch sử đẫm máu và bi thảm, Washington và Hà Nội ngày càng sẻ chia những lợi ích chiến lược chồng chéo nhau có thể chuyển hướng quỹ đạo hợp tác an ninh trong vùng Biển Đông đang tranh chấp.

Các nhà phân tích cho rằng trong sáu tháng tại vị cuối cùng của mình, Ông Obama dự định sẽ nêu rõ Việt Nam là một trung tâm của sự “xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương của chính quyền Mỹ, bao gồm chuyến thăm Việt Nam như một phần của chuyến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G-7 ở Nhật Bản – lần tham dự thứ tám và cũng là lần tham dự cuối cùng của Ông dưới cương vị Tổng Thống – khai mạc ngày 26 tháng 5.

Ông không quan tâm đến việc giới lãnh đạo Việt Nam có thể cảm thấy không thể tiếp tục hoàn tất công việc do đã bị thay thế vào năm tại vị cuối cùng của Ông. Về cơ bản, Tòa Bạch Ốc thừa nhận rằng chuyến đi này là cơ hội cuối cùng của Ông Obama để thắp lên ánh sáng đối với một ưu tiên đã được thảo luận nhiều nhưng cũng đã bị trì hoãn quá lâu – sự thay đổi trọng tâm của Mỹ từ vùng Trung Đông hỗn loạn sang phía đang vừa là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới vừa là nơi đang trong tiến trình trở thành đấu trường nổi bật tiếp theo cho sự cạnh tranh của các siêu cường.

Hai thập kỷ sau khi bình thường hóa thương mại, Mỹ và Việt Nam đang gắn kết nhau hơn do sự trổi lên về kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc, đặc biệt là các đòi hỏi chủ quyền ngày càng quyết đoán hơn của Bắc Kinh ở Biển Đông. Một thước đo của sự gần gũi gia tăng: các tin phát ra của báo chí Việt Nam cho biết phái đoàn Hoa Kỳ, bao gồm các cố vấn của tổng thống, các đội an ninh và các đại diện của các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân, lên đến hơn ngàn người.

Đối với chuyến đầu tiên đến Sân bay quốc tế Nội Bài, một vị khách sẽ thấy dấu hiệu những ảnh hưởng của Mỹ ở khắp nơi. Ngay bên ngoài thủ đô, nơi các máy bay B-52 của Mỹ từng tiến hành những đợt oanh tạc lớn nhất, lại là một nhà máy  mới của hãng xe Ford. Gần đó là những bảng quảng cáo cao ngất giới thiệu Nike – một trong những công ty sử dụng đông lao động nhất Việt Nam. Các chủ nhân đất nước đón tiếp Ông Obama cũng sẽ tổ chức quốc yến để thiết đãi Ông trong thời gian Ông ở Việt Nam.

Trong khi vấn đề an ninh và nhân quyền có thể chi phối chương trình nghị sự chính thức, vẫn có đồn đoán tại Đồi Capitol và giữa các quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ rằng Ông Obama có thể đảo ngược hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã qua nhiều thập niên của Mỹ, một trong những tàn tích cuối cùng của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Thượng Nghị Sĩ Bang Maryland Ông Benjamin L. Cardin, đảng viên cao cấp của Đảng Dân Chủ thuộc Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện, cho biết trong một email rằng ông đã “bày tỏ với chính phủ rằng chúng ta phải quan tâm đảm bảo bất kỳ việc bán vũ khí tiềm năng nào cũng phù hợp với mối quan hệ song phương của chúng ta và hỗ trợ ổn định khu vực. ”

Một đề xuất có thể xảy ra đối với việc giảm bớt hoặc bãi bỏ lệnh cấm vận có thể được thể hiện bằng sự đáp ứng của Hà Nội trước yêu cầu của Hải Quân Mỹ cho được tiếp cận nhiều hơn với Vịnh Cam Ranh, một tiền đồn chủ chốt của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mà hiện nay có thể cho phép tiếp cận cực kỳ quan trọng trong trường hợp có xảy ra khủng hoảng ở Biển Đông.

Mặc dù bạo lực vẫn tiếp diễn ở Trung Đông và sự không chắc chắn từ sự đấu đá tranh chức Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Obama và các quan chức của Ông được cho là rất quan tâm đến việc trấn an các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương – trong đó Việt Nam là đầu tàu – rằng Mỹ sẽ duy trì các cam kết đối với khu vực. Điều đó bao gồm việc triển khai đến 60% lực lượng hải quân Hoa Kỳ.

Cũng như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang tìm kiếm sự bảo đảm từ Washington rằng Mỹ sẽ cân bằng việc quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Đại Hội lần thứ 12 tổ chức vào tháng Giêng đã chọn vị Tổng Bí Thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng thay vì nhà cải cách Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm lãnh đạo đảng. Ngoài ra, cựu lãnh đạo công an Trần Đại Quang được đưa lên làm Chủ Tịch Nước. Điều này có thể gây quan ngại cho nhiều người ở Phương Tây vốn cho rằng sự việc có thể là dấu hiệu cho sự hướng về quyền lực và gia giảm các quyền tự do.

Song, Ông Hoàng Hữu Phước, một nghị sĩ Quốc Hội, lại khẳng định rằng “Không bao giờ có việc Việt Nam sẽ giảm đà cải cách kinh tế và chính trị, cũng như không bao giờ có việc ngưng sự chuyển hướng của riêng mình về phía Mỹ để quay sang Trung Quốc.”

Trung Quốc so với Hoa Kỳ

Ảnh hưởng mạnh về kinh tế cùng quyền lực mềm ngày càng gia tăng của Trung Quốc mang tính một hấp lực, nhưng các cuộc đàm phán với các quan chức ở Việt Nam lại nêu bật lên rằng lãnh đạo Đảng của Việt Nam thích duy trì sự độc lập của mình và không muốn đi vào quỹ đạo của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Hà Nội đã nhiệt tình tìm các đầu tư của Mỹ và đã ký vào thỏa thuận thương mại Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương của Ông Obama – thỏa thuận rõ ràng không bao gồm Trung Quốc – mặc dù TPP đòi hỏi phải có cải cách nhiều hơn, đặc biệt là tại các doanh nghiệp nhà nước, tính minh bạch, và quyền con người.

Lãnh đạo Ngũ Giác Đài Tướng Ashton Carter và các cố vấn của ông đang tìm kiếm sự hợp tác lớn hơn từ Việt Nam như họ đã đẩy nhanh số lượng các tập trận không chiến đấu vào thời điểm leo thang căng thẳng trong khu vực. Việc Trung Quốc xây dựng các hòn đảo trên các rạn san hô, bố trí các hệ thống radar tiên tiến ở quần đảo Trường Sa, và tên lửa đất đối không cùng chiến đấu cơ ở quần đảo Hoàng Sa đã làm tiến xa hơn và sâu sắc hơn sự hợp tác quân sự Mỹ-Việt.

Sau vụ Trung Quốc vào tháng 5 năm 2014 đưa một dàn khoan dầu của Tổng Công Ty Khai Thác Dầu Trung Quốc CNOOC tại nơi Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình, chính quyền Obama, trong một cử chỉ mang tính biểu tượng, đã nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí, cho phép Hà Nội mua các tàu tuần duyên của Mỹ, một động thái được Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Đảng Cộng Hòa John McCain ủng hộ.

Hà Nội đã sử dụng các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để thúc đẩy quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ

Vào tháng rồi, Đại sứ Phạm Quang Vinh trong diễn văn tại Texas đã phát biểu rằng “Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam và tin rằng yếu tố rào cản này của quá khứ cần được loại bỏ để phản ánh việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ của chúng ta bắt đầu từ hai thập kỷ trước đây và mức độ hiện tại của quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta.”

Và tại một buổi điều trần mới đây của Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ, khi trình ra các bản đồ cho thấy khả năng tấn công của các chiến đấu cơ Trung Quốc đánh vào toàn vùng Biển Đông, phía bắc Philippines và Việt Nam, ông Carter cho biết ông ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đẩy mạnh việc bán các khí tài quốc phòng. Các lực lượng Hoa Kỳ đã hỗ trợ xây dựng năng lực các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Việt Nam như Cảnh Sát Biển và Lực Lượng Giám Sát Đánh Bắt Cá của Việt Nam.

“Các gắn bó về quốc phòng và an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển như kết quả của sự hội tụ các quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông” như lời Carlyle A.Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, phát biểu tại Học Viện Quốc Phòng Úc.

Nhưng chính phủ chuyên chế của Việt Nam cùng các ghi nhận có vấn đề về nhân quyền có thể là những hòn đá cản ngăn những mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Murray Hiebert, lãnh đạo cấp cao và phó giám đốc Chương Trình Đông Nam Á của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế, cho rằng:  “Một trong những yêu cầu hàng đầu của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là cải thiện môi trường nhân quyền. Tình hình đã được cải thiện rất nhiều trong thập niên qua, nhưng Washington ước tính vẫn còn khoảng 100 blogger cùng các nhà hoạt động dân chủ đang bị giam giữ.”


Những quan ngại và dè dặt như của Murray Hiebert đối với cái gọi là rào cản khả dĩ làm lu mờ một sự bình thường hóa quan hệ hoàn toàn và triệt để của Mỹ đối với Việt Nam, cuối cùng đã được minh chứng là không còn cơ sở qua tuyên bỗ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí Mỹ đã áp đặt chống Việt Nam trong 50 năm qua.

Đó là sức mạnh của địa-chính trị.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Source of Origin: James Borton. 18-5-2016. Obama Woos Vietnam amid China’s Economic Rise, South China Sea Aggression.

Tham khảo: Loạt bài viết nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước trong bài viết tựa đề: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc, đăng ngày 23-5-2016 tại

Hoàng Hữu Phước, 11-5-2016. Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, 15-5-2016. Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, 20-5-2016. Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Hoàng Hữu Phước, 22-5-2016. Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague.

Lại Thu Trúc, 14-5-2016. Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama.

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Công Dân Lại Thu Trúc Của Việt Nam Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Tháng 5 Năm 2016

(có bản dịch tiếng Việt bên dưới phần nguyên tác)

Ho Chi Minh City, May 14, 2016


The President of The United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500


Dear Mr. President:

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this May, wish to present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my proposals as follows.

The USA should consider to timely and completely lift the arms embargo imposed against Vietnam from 1975 extended from a previous one against North Vietnam in 1964.

The bilateral relations between the USA and Vietnam have been well-developed with obvious significant progress on many issues during the past two decades resulting in the diplomatic, economic, and educational activities, and particularly the Comprehensive Partnership Agreement between the two countries. However, the impact on Vietnam from the said arms embargo has not enabled Vietnam to improve its security capabilities, as the country is in dire need of lethal weapons for its defense purposes particularly at the non-stop aggressive actions of China in its territorial claiming in the South China Sea causing constant conflict and tension threatening not only the sovereignty and safety of many countries of ASEAN but also the commercial gateway of the world’s merchant shipping navigation.

In fact, the USA has partly lifted the said embargo for transferring to Vietnam the maritime security-related defense articles, thanks to which the maritime security capabilities of Vietnam could be but partly improved.  But Vietnam needs more than that for its coastal defense and its ground forces as tension and conflict would not arise only at sea.

Issues of say human rights may still be haunting your decision for a total lifting of the embargo; however, the cultural aspects of the differentiation in that matter, the fast progress of reforms of Vietnam, the security of the whole ASEAN, and the positive regional role of the country should be considered to justify the lifting strategically.

I hope that with your kind consideration, influence and power, the total lifting of the arms embargo against Vietnam will soon be materialized to pave the way to the uniformed strengthening of the defense capabilities of the ASEAN countries for the benefits of the region and the world.

Most respectfully,

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207


Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Bản dịch tiếng Việt ngày 17-5-2016 của Hoàng Hữu Phước:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ


Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhân sắp có chuyến thăm của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Năm này, kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài khuyến nghị sau:

Hoa Kỳ nên xem xét gỡ bỏ kịp thời và hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đã áp đặt chống Việt Nam từ 1975 sau khi gia hạn lịnh cấm đã có trước đó chống Bắc Việt năm 1964.

Quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ rõ nét có ý nghĩa về nhiều mặt trong hai thập kỷ qua, dẫn đến kết quả là có những hoạt động trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và giáo dục, đặc biệt là việc ký kết Thỏa Thuận Đối Tác Toàn Diện giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, tác động của lịnh cấm vận đã không giúp Việt Nam tăng cường năng lực phòng vệ vì Việt Nam rất cần có các vũ khí sát thương phục vụ quốc phòng, đặc biệt trong hoàn cảnh Trung Quốc có các hành động không ngừng gây hấn tuyên bố chủ quyền biển đảo ở Biển Đông gây ra những xung đột căng thẳng thường xuyên đe dọa không những chủ quyền và sự an nguy của nhiều quốc gia trong khối ASEAN mà còn đối với cửa ngõ giao thương của tuyến hàng hải này của thế giới.

Trên thực tế, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lịnh cấm vận để chuyển cho Việt Nam những khí tài liên quan đến an ninh biển, nhờ vậy mà năng lực an ninh biển của Việt Nam được nâng cao dù chỉ một phần. Song, Việt Nam cần nhiều hơn thế để phòng thủ suốt vùng duyên hải cũng như lực lượng mặt đất do các căng thẳng xung đột không chỉ có thể xảy ra ngoài biển khơi.

Những vấn đề như nhân quyền chẳng hạn vẫn làm Hoa Kỳ đắn đo việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí; tuy nhiên, các khía cạnh văn hóa đối với những dị biệt trong vấn đề ấy, tiến bộ vượt bậc trong cải cách của Việt Nam, an ninh của cả khối ASEAN, cùng với vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực nên được xem xét đến như điều kiện đủ để tiến đến việc gỡ bỏ mang tính chiến lược lịnh cấm vận.

Tôi kính mong sự xem xét của Tổng Thống cùng ảnh hưởng và quyền lực của Ngài sẽ giúp sự gỡ bỏ lịnh cấm vận vũ khí Việt Nam sẽ sớm biến thành hiện thực, mở đường cho sự tăng cường đồng bộ về năng lực phòng thủ của các nước ASEAN vì lợi ích của khu vực và thế giới.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207


Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hoàng Sa

Tàu Mỹ Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB


Hoàng Sa gần đây đã trở thành phao cứu sinh cho bất kỳ ai đột ngột muốn hùng biện về lòng yêu nước vì sẽ là luôn là điều đội đá vá trời hay vượt tầm vói hoặc quá tầm với nếu lồng ghép lòng yêu nước với  việc tu thân, tề gia, luyện trí, phát triển kinh tế dựng xây quốc gia cường thịnh. Song, muốn hùng biện cho hay về Hoàng Sa, nhất thiết phải hiểu đúng về Hoàng Sa trong tương quan hiểu rõ về thế giới sử mà từ đó rất có thể sẽ có những cái nhìn tường tận về Tàu, về Mỹ, về ta.


Từ cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ của Tàu nhằm “dạy cho Ấn một bài học” do Ấn đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng tỵ nạn chính trị khi Tàu chiếm Tây Tạng 1959, khi ngày 20-10-1962 Tàu ồ ạt tấn công theo thế gọng kìm suốt chiều dài 3.225 km dọc biên giới tự nhiên của dãy Hy Mã Lạp Sơn đánh vào hai trận tuyến Ladakh và McMahon chiếm lấy Rezang La ở phía Tây và Tawang ở phía Đông, thế giới sử đã cho thấy có những sự thật sau:

1- Sự giao tranh đã nổ ra trên quy mô rộng lớn trên nóc nhà của thế giới với điều kiện núi non trùng điệp và hiểm trở cao hơn 4.000 mét đầy băng giá, với một bên là quân Tàu ồ ạt biển người và một bên là quân Ấn với số quân tuần tra ít ỏi trang bị thô sơ. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp tấn công bất ngờ và vào nơi khó ngờ.

2- Cả hai bên chỉ sử dụng bộ binh; và trong khi sự vắng bóng của hải quân hai bên là sự đương nhiên, thì điều kỳ lạ là Ấn Độ hoàn toàn sai lầm khi đã không sử dụng không quân. Vào thời điểm đó, không quân Ấn mạnh hơn, và Tàu đã không thể sử dụng không quân do (a) Tàu chưa phát triển không quân hùng mạnh, (b) địa hình núi non hiểm trở, (c) quân đội Ấn tại dãy Himalaya chỉ có số ít, và (d) vững tin vào chiến thuật biển người tràn ngập dồn Ấn vào thế lưỡng đầu thọ địch theo binh pháp cổ Tàu. Cũng vào thời điểm đó, Ấn chỉ sử dụng không quân để tiếp tế lương thực và đạn dược cho đoàn quân đã bị Tàu đánh cho tan tác, vì (a) lãnh đạo Ấn là Thủ Tướng Nehru bối rối và lúng túng với dàn tướng lĩnh không biết phải đối phó ra sao cũng như chưa bao giờ cho rằng biên cương Himalaya thiên nhiên khắc nghiệt sẽ không làm chùn bước bất cứ mưu đồ xâm chiếm nào, (b) run sợ việc ném bom và không kích sẽ gây nên tội ác lớn vì giết quân Tàu đang ồ ạt xông lên đông hơn kiến trên mặt đất chết như rạ, (c) bàng hoàng vẫn không tin là nước cộng sản mà Ấn đã nhanh chóng công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ lại bất ngờ tấn công mình, và (d) đợi chờ sự ra tay cứu viện của Mỹ và Liên Xô. Điều này cho thấy Tàu đã biết rõ về cung cách của đối phương “dám làm gì” và “không dám làm gì” để xuất chiêu chiếm thế thượng phong.

3- Cuộc tấn công của Tàu nổ ra cùng ngày với biến cố mà thế giới Sử gọi là “Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba” khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau với sự chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp cổ Tàu trong chớp lấy thời cơ bành trướng ngay khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô (nay là Nga) có vấn đề căng thẳng về quân sự.

4- Ngày 20-11-1962 tức sau 32 ngày xâm lược Ấn Độ, Tàu đơn phương tuyên bố rút quân ngay khi hay tin đáp lời kêu gọi của Ấn, Mỹ bắt đầu đưa hàng không mẫu hạm và các chiến đấu cơ đến Ấn. Việc “rút quân” này khiến đặt Mỹ vào tình trạng không thể triển khai chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho Tàu, thậm chí làm Tàu tránh nguy cơ bị đại bại phải mất các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Ấn. Điều này cho thấy Tàu chỉ tuyên bố “rút quân vì đã dạy xong cho kẻ thù một bài học” khi đã đại bại hoặc khi đánh hơi thấy sắp có nguy cơ đại bại.

5- Vào ngày 03-10-1962 tức chỉ chục ngày trước khi xua quân xâm lược Ấn, Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai thăm New Delhi và đã hứa với Thủ Tướng Ấn Jawaharlal Nehru rằng hai nước hữu hảo tốt đẹp sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau. Điều này cho thấy Tàu mỗi khi mở miệng hứa điều gì là chỉ để che đậy một mưu đồ ngược lại.

6- Liên tục trong các năm 1951 và 1952, Tàu tái khẳng định Tàu không có vướng mắc gì về lãnh thổ với Ấn. Tháng 11-1956 Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai tái tuyên bố  rằng Tàu không có tranh chấp gì về lãnh thổ với Ấn nhưng bản đồ chính thức sử dụng toàn quốc của Tàu luôn vẽ nước Tàu gồm luôn 120.000 km2 bên trong lãnh thổ của Ấn. Để rồi sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu lặng lẽ xây dựng hệ thống đường sá cùng các tiền đồn tại vùng Aksai Chin của Ấn từ năm 1956 mà đến 12 năm sau, lúc tất cả đã hoàn tất thì Ấn mới hốt hoảng phát hiện. Thậm chí gần đây vào ngày 15-4-2013 Tàu chiếm 640km lãnh thổ Ấn dọc theo biên giới Depsang, Chumar và Pangong Tso của Ấn; và năm 2014 Tàu lấn sâu vào vùng Burtse ở Ladakh đến 30km và khi binh sĩ Ấn tiến đến, lính Tàu cầm bảng ghi câu tiếng Anh “This is Chinese Territory. Go Back!” (Đây là lãnh thổ Tàu. Hãy lùi lại!). Điều này cho thấy Tàu không bao giờ có tranh chấp lãnh thổ với bất kỳ quốc gia nào cả, mà Tàu chỉ xây dựng cơ sở tại những nơi Tàu bảo đó là của Tàu.

7- Năm 1954 Tàu đề ra khẩu hiệu Hindi-Chini bhai bhai (Ấn-Hoa huynh đệ) cùng Năm Nguyên Tắc Chung Sống Hòa Bình với Ấn Độ, theo đó hai nước sẽ hữu hảo giải quyết các bất đồng . Thủ Tướng Nehru bỏ ngoài tai lời khuyên của Thủ Tướng Ba Swe của Miến Điện (tức Burma, nay là Myanmar) rằng đừng tin những hứa hẹn của Chu Ân Lai. Nehru bị huyễn hoặc bỡi những lời hoa mỹ của Tàu, và thậm chí nhân nhượng Tàu về vấn đề Tây Tạng để hy vọng nhận được từ Tàu sự hình thành một liên minh khối trục Á Châu giữa Ấn và Tàu trên cơ sở đối tác chiến lược hùng mạnh. Hậu quả là sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu tuyên bố vùng Arunachal Pradesh 90.000km2 của Ấn có tên gọi Nam Tây Tạng nên thuộc về Tây Tạng tức thuộc về Tàu do Ấn đã công nhận Tây Tạng thuộc Tàu. Khi đã quá muộn lúc biết được bộ mặt thật của Tàu, Nehru vào năm 1959 chấp nhận cho Đức Dalai Lama tỵ nạn chính trị sau khi Dalai Lama đào thoát khỏi Lhasa vì cuộc khởi nghĩa chống Tàu thất bại. Điều này cho thấy Tàu không bao giờ muốn làm bạn với bất kỳ ai, và chuyên đề ra các khẩu hiệu để sử dụng các khẩu hiệu này như thứ bùa mê thuốc lú để săn mồi.

8- Tàu đã dồn Ấn vào thế bị lấn chiếm, đến độ Ấn sẵn lòng không tiếp tục đòi chủ quyền với phần diện tích 38.000km2 Jammu và Kashmir trong vùng Aksai Chin nếu Tàu không tiếp tục bảo phần diện tích 90.000km2 trong vùng Arunachal Pradesh kể cả Tawang là của Tàu. Điều này cho thấy Tàu luôn giở thủ đoạn chây lỳ tức kéo dài thời gian cho mọi sự trở thành việc đã rồi trong bành trướng xâm lược để những khi không thể ra tay sáp nhập bằng vũ lực thì cứ tự động vẽ bản đồ gồm thâu luôn lãnh thổ hay lãnh hải nước khác mà không cần tài liệu chứng minh chủ quyền, và tự động đổ quân đến đồn trú xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự và dân dụng.


Việc Mỹ đã không có tầm nhìn chiến lược quân-địa-chính-kinh-tài đã quá hiển nhiên không thể nào chối cãi. Vì không có tầm nhìn xa tối thiểu 50 năm, Mỹ đã xem Việt Nam như kẻ thù phải diệt tiêu bằng mọi giá, kể cả ủng hộ Tàu (mà Việt Nam dũng cảm gọi thẳng là Trung Quốc) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và ủng hộ chư hầu của Tàu là Campuchia (mà Việt Nam hay ỏn ẻn gọi là Khmer Đỏ chứ không dám gọi tên nước) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Khi 70.000 dân quân Việt Nam đánh tan 700.000 chiến binh tinh nhuệ Tàu bỏ chạy về bên kia biên giới, Mỹ không có cớ cấm vận Việt Nam vì Việt Nam không bước qua đường biên giới Việt-Tàu trên dường truy sát giặc Tàu. Mỹ vội có nhiều bài báo nói Tàu đã rút quân sau khi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi dân quân Việt Nam đánh bật Campuchia ra khỏi lãnh thổ, đồng thời nhận thấy nhân dân Campuchia bị nạn diệt chủng do chính phủ Campuchia điên loạn mà thế giới làm ngơ, Việt Nam đành tiến quân qua bên kia đường biên giới truy sát tiêu diệt chính phủ quái vật của Campuchia “once and for all” (kiểu Mỹ: một lần cho tuyệt mối họa về sau), thì Mỹ lập tức xem như có cơ hội bằng vàng để tuyên bố cấm vận kinh tế Việt Nam vì tội xâm lược Campuchia. Mỹ sau đó tăng cường viện trợ cho Campuchia, giúp Campuchia đoạt các đơn hàng khổng lồ về may mặc do Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO tận tình tận tụy tận tâm chỉ dẫn chỉ bảo chỉ dạy Campuchia đáp ứng các yêu cầu về tổ chức công đoàn kiểu Mỹ và tổ chức sản xuất để cấp cho Campuchia giấy thông hành ưu tiên bán hàng vào Âu Mỹ. Cấm vận Việt Nam để bần cùng hóa Việt Nam, giúp đỡ Campuchia để tước luôn khả năng kiếm sống bằng nghề may mặc của Việt Nam, Mỹ đã như kẻ thất học không nhìn xa trông rộng. Việt Nam yếu đi, dẫn đến sự lấn lướt của Tàu, đe dọa cả ASEAN. Campuchia mạnh hơn, và Campuchia trở về cạnh Tàu để phản phúc Mỹ, trở thành con ngựa thành Troy làm Mỹ muối mặt ở hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Nhận ra việc Việt Nam là chỗ dựa về an ninh cho cả khu vực ASEAN từ đó bảo vệ được Châu Đại Dương với vùng Nam Cực có nhiều căn cứ nghiên cứu tối mật của Mỹ, Mỹ đã có những bước đi đúng nhưng muộn màng. Đúng, chẳng hạn như mời Việt Nam làm một thành viên của Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Đúng, chẳng hạn như đã nhận ra tầm quan trọng cực kỳ của Biển Đông. Muộn màng vì Việt Nam bây giờ mới được Mỹ xem trọng để yên thân leo lên được ngưỡng đầu tiên của  sự phát triển, thay vì đã hùng mạnh hùng cường từ nhiều chục năm trước – với sự giúp đỡ của Mỹ. Muộn màng, vì Tàu đã quá mạnh đối với Mỹ và thế giới khi đầu tư Tàu tràn ngập thế giới từ Châu Phi ngập tràn khoáng sản đến khu vực Nam Mỹ trực tiếp đe dọa Mỹ từ phía Nam, từ thực tế đồng tiền Tàu đã thành tự do chuyển đổi, và từ thực tế Tàu thành lập hệ thống các ngân hàng cạnh tranh với cả các định chế tài chính như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, hay Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ADB, v.v.

Việc Mỹ đưa các chiến hạm đến Biển Đông với chiêu bài xoay trục về hướng Đông đã không tôn được vị thế và vai trò của Mỹ ở khu vực này của thế giới. Khi Mỹ hùng dũng tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý đối với các đảo trên Biển Đông mà Trung Quốc chiếm hữu tiến hành xây dựng sân bay bến cảng, Mỹ đã chỉ làm Tàu cười to nhạo báng, vì rằng “khi anh tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý, nghĩa là anh tuần tra cách các đảo chìm đảo nổi của tôi 12 hải lý, cũng có nghĩa là anh mặc nhiên thừa nhận rằng các đảo ấy là của tôi, thuộc chủ quyền của tôi! Ngay cả một tuyên bố thôi mà Mỹ cũng hoặc bất cẩn hoặc do biết chính mình bó tay không thể làm gì khác hơn được.


Sau khi đã biết Tàu đốn mạt như thế và Mỹ thiếu tầm nhìn như thế, ta sẽ nói gì – hay làm gì – về Hoàng Sa?

Nói Hoàng Sa đã là lịch sử, thì thế nào cũng có kẻ hê lên rằng: “Thế mầy dâng cho Tàu luôn à, thằng tay sai Tàu?

Nói Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, thì thế nào cũng có kẻ hét lên rằng: “Thế sao không kiện Tàu? Không đánh Tàu để đòi lại?”

Nói bây giờ Tàu tiến xuống chiếm mấy đảo của Trường Sa, thế nào cũng có kẻ gầm lên rằng: “Chính phủ vô dụng. Đảng vô dụng. Hèn nhát. Không dám làm gì.”

Chẳng ai đặt câu hỏi khi tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc, bị đánh cho đại bại phải rút về Tàu, quân Tàu do bản chất mất dạy có cố vớt vát vừa ở lỳ trên vài kí lô mét vuông đất nào của Việt Nam vừa hét lên rằng đó là đất của nó mà nó đã thua chạy về phần đất của nó rồi, vậy sao còn xâm lược nó? Có hay không việc Tàu đã giở thói lưu manh đó như nó đã từng làm với Ấn Độ để chiếm giữ một ít đất của ta?

Việc Tàu đưa ra lập luận “đường chín đoạn” mà ta gọi là “đường lưỡi bò” là để chiếm hữu toàn bộ Biển Đông, biến Việt Nam chỉ còn có thể cho tàu thuyền đi sát bờ biển, và tất cả các máy bay dân sự Việt Nam sẽ bị tên lửa đất đối không của Tàu bắn hạ nếu bay trên Biển Đông mà Tàu bảo là thuộc lãnh hải của Tàu. Tất nhiên toàn bộ các mỏ dầu hỏa của Việt Nam bây giờ tự động nằm bên trong cái đường lưỡi bò ấy. Việc Tàu sau khi đã chiếm hữu Hoàng Sa, nay tiến xuống Trường Sa chỉ là một bước tiếp theo chứ không phải là sự lấn chiếm lần lượt hết đảo này đến đảo khác để cho dân Tàu có “ngư trường” đánh bắt hải sản. Mưu đồ thâm độc và táo tợn, ghê gớm hơn nhiều, chứ không chỉ là chiếm đảo: chiếm toàn bộ Biển Đông, từ đó làm suy yếu toàn bộ ASEAN để chiếm cả ASEAN từ đó tiến xuống Châu Đại Dương và đẩy Mỹ khỏi Nam Cực.

Thay vì hùng dũng đặt câu hỏi chất vấn vì sao sách giáo khoa Sử vẫn chưa có viết về Hoàng Sa, hãy quan tâm đến những điều thiết thực sau:

1) Một sự việc được ghi vào sử sách luôn sau một thời gian hàn lâm hạn định tối thiểu 50 năm hoặc hơn, tùy theo từng loại sử liệu mà chính phủ mỗi nước quy định.

2) Trước khi Hoàng Sa được ghi vào sử sách, việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa phải luôn được tiến hành, đặc biệt khai thác các tài liệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng như của thế giới, tính cả đến việc chờ đợi đến khi Chính Phủ Mỹ cho phép tiếp cận các hồ sơ mật về chiến tranh Việt Nam để giải mã các sự kiện, sau 50 năm hay 90 năm. Việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa như nói trên được thực hiện bởi các tổ chức Sử và cá nhân các nhà nghiên cứu Sử, chứ không bao giờ là của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo vì tại tất cả các nước Bộ Giáo Dục chỉ sử dụng các pho lịch sử để lên chương trình học chứ không đứng ra tổ chức nghiên cứu Sử. Câu hỏi do đó hãy đặt ra cho các viện Sử học, các tổ chức nghiên cứu Sử, các nhà nghiên cứu Sử, viết khảo luận Sử, v.v., và tất cả các công trình đều phải cơ sở dữ liệu tham khảo chi tiết từ nguồn của Việt Nam và nguồn của nước ngoài, có liệt kê cuối mỗi công trình để tăng mức độ đáng tin cậy, và sau thời gian dài tranh luận, tranh cãi, thẩm tra, bút chiến, lúc các tài liệu khảo cứu biến thành sử liệu, các pho sử tân biên với các phần bổ sung sẽ được hình thành để các trường học sử dụng dạy Sử. Chính các sử gia, các nhà nghiên cứu sử, mới là những người duy nhất có trách nhiệm phải làm tất cả, từ kiếm tìm tài liệu, dịch thuật tài liệu, kiểm chứng tài liệu, hình thành tác phẩm về Hoàng Sa. Đây là việc của họ, vì đó là chuyên môn nghiệp vụ của họ, vì đó là quy trình tất yêu của sử liệu và pho sử, và vì đó cũng là kế sinh nhai của họ, đem lại cho họ nguồn thu nhập đương nhiên.

3) Không những chỉ có Hoàng Sa, mà Trường Sa cùng tất cả các đảo khác dù nhỏ dù lớn như Phú Quốc hay Côn Đảo cũng nhất thiết cần được sưu tầm tài liệu, cập nhật dữ liệu, vì chưa nói đến chuyện kiện tụng ra tòa án quốc tế đòi công lý chủ quyền, việc tập trung tài liệu đủ đầy sớm ngay từ trước luôn là cách tốt nhất phục vụ cho những đòi hỏi chủ quyền cho quốc gia khi hiểm họa tranh chấp chủ quyền không chỉ là một nguy cơ tiềm tàng, và khi khu vực có tồn tại một kẻ lưu manh mất dạy như Tàu.

4) Không để mất thêm những Hoàng Sa, nhất thiết phải có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh. Để có tiềm lực ấy phải có rất nhiều tiền. Để có rất nhiều tiền phải phát triển kinh tế vượt bậc. Để phát triển kinh tế vượt bậc phải có những con người xuất sắc. Để có những con người xuất sắc, giáo dục đạo đức của gia đình là tối quan trọng, tự rèn luyện của bản thân là tiên quyết, đào tạo của nhà trường là định hướng, và cơ chế chính sách là lực đẩy.

Tàu đã cướp Hoàng Sa bằng quân sự.

Tàu đang cướp Trường Sa bằng sự trơ tráo.

Tàu đang cướp Biển Đông bằng sự lưu manh.

Tàu đang cướp lúa gạo vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng cách gây hạn hán từ chuỗi đập thủy điện liên hoàn ở thượng nguồn Mekong.

Tàu đang cướp sự sống của dân Việt bằng các sản phẩm độc hại gây bịnh.

Vì tất cả các lý do trên, ta không trông mong gì Tàu sẽ trả lại cho ta Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông.

Vì tất cả các lý do trên, ta không thể kỳ vọng lớn vào Mỹ vì Mỹ đã mặc nhiên tuyên bố tuần tra 12 hải lý nghĩa là không dám tiến sát các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Vì tất cả các lý do trên, ta không chỉ có đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và các đảo ở Trường Sa, mà ta còn phải tranh đấu để dành lại sự sống còn của đất nước và dân tộc.

Đó mới là hiểu đúng nhất về Hoàng Sa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp

Hoàng Hữu Phước, Hoàng Hữu Phước, MIB

Việt Nam đang phải đương đầu với bốn vấn nạn triền miên gồm (a) nhiều người dân vẫn cho rằng Việt Nam có là cường quốc hay không thì đó là trách nhiệm và bổn phận của chỉ riêng chính phủ – mà ở Việt Nam quy tất cả đổ tất cả về cho “chế độ” và/hay Đảng Cộng Sản, nếu đạt được gì đấy thì dù Ngân Hàng Thế Giới có đánh giá cao vẫn trề môi chê “chả thấm vào đâu”,


còn nếu chưa đạt gì đấy thì nói tại “độc tài Đảng trị”; (b) giới trẻ tức công dân hiện tại và là nguồn lực tương lai của đất nước vẫn luôn tự cho minh cái quyền đứng trên cương vị, tư thế, tư cách, và phong cách người ngoài cuộc khi đánh giá cao và thần phục các phát triển vượt bậc về kinh tế của nước ngoài; (c) các sự thật lịch sử thế giới hiển nhiên ngồn ngộn đầy ắp thông tin vẫn không được màng đến – hoặc vô tâm hoặc cố ý – bởi các đối tượng nêu trong mục a và b ở trên; và (d) gần như giới trẻ luôn cho rằng “khởi nghiệp” chính là “mở doanh nghiệp và làm chủ doanh nghiệp”.

Với kinh nghiệm của người đã luôn làm sáng tỏ bản chất sự việc của nào là “đa đảng”, “dân chủ”, “tự do”, “tuyệt thực”, “tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”, hay “nhân quyền”, hoặc “biểu tình”, v.v., khiến không gian mạng trong và ngoài nước đã giảm hẳn các giật tít câu view vớ vẩn chỉ nhằm công kích nền dân chủ và thể chế chính trị của Việt Nam, tác giả bài viết này hôm nay làm sáng tỏ các nội hàm liên quan đến khởi nghiệp và cường quốc như một “cẩm nang kiến quốc” dành cho công dân, theo các mục lục sau:


mà bài viết sau là bài số 1 :

Cẩm Nang Khởi Nghiệp

1- Khởi Nghiệp Lành Mạnh Nguyên Thủy

Từ ngàn xưa trên thế giới cho đến trước khi từ ngữ ‘‘start up” du nhập vào Việt Nam ở dạng distorted tức méo mó thì khởi nghiệp đã luôn là hơi thở lành mạnh của con người dù là người Việt hay người của phần còn lại của thế giới. “Hơi Thở” vì khởi nghiệp là việc hết sức bình thường, hết sức tự nhiên; còn “lành mạnh” vì chỉ có người chẳng may vì khuyết tật nặng, hoặc do hoàn cảnh chiến tranh, hoặc vì bị tù đày, mới khó thể “khởi nghiệp”, trong khi kẻ chây lười sống bám ký sinh trùng mới không thèm “khởi nghiệp”.

Khởi nghiệp dựa vào ước mơ, năng khiếu, năng lực, thời cơ. Khởi nghiệp là bắt đầu môt sự nghiệp. Chính vì vậy mà có người theo đuổi sự nghiệp một nhà giáo, một nhà văn, một nhà thơ, một người theo binh nghiệp để làm một quân nhân, một nhà chăn nuôi, một nhà trồng trọt, v.v., thậm chí một nhà tu hành cũng theo một khởi nghiệp cho một duyên nghiệp cứu độ chúng sinh. Từ ý thức khởi nghiệp này, xã hội trở nên lành mạnh vì không gì tuyệt diệu bằng đa số con người được sống và làm việc theo đam mê riêng, ước mơ riêng, năng khiếu riêng, năng lực riêng, và hòan cảnh thời cơ riêng của mình, khiến xã hội phát triển đa ngành nghề để dù là người chiến sĩ, nhà giáo, hay nhà văn – hoặc thậm chí như người kiểm tra bảo trì đường ray xe lửa mà phóng sự truyền hình VTV mới đây cho biết đã chọn nghề vì ước mơ từ nhỏ lúc chăn trâu đã thán phục nhìn những con tàu dũng mãnh vững chắc băng ngang đồng ruộng quá uy nghi – thì ai cũng an vui với chức nghiệp của mình. Một nữ danh ca lừng danh của Mỹ đã làm vợ một anh da đen khi thấy anh chàng này đu bám sau xe rác vừa nhảy xuống lấy rác quẳng lên sau xe vừa ca hát nhảy múa yêu đời. Cả hai đều thấy “sự nghiệp” của bản thân họ là cao quý. Lòng tự trọng là thứ vật phẩm cao quý nhất cộng với nếp sống tích cực, yêu đời, yêu quý công việc mình cho là đáng làm để phục vụ công ích, nên dù là cha của siêu sao bóng đá bầu dục nhà nghề Mỹ NFL Richard Sherman của đội Seattle Seahawks, ông Kevin Sherman vẫn hàng ngày thức dậy lúc 3 giờ 45 sáng lái xe đi lấy rác trên đường phố Los Angeles và thậm chí làm cả ngày cuối tuần để kiếm thêm ít tiền ngoài giờ dù con trai ông xin ông hãy cho con ông báo hiếu đón ông về an hưởng cuộc sống xa xỉ xa hoa. Hay như những nhà tu hành theo phân công của giáo hội đã ra hành đạo tại các đảo xa của tổ quốc Việt Nam luôn phải đối mặt với thiếu thốn vật chất cùng hiểm nguy của thiên nhiên và hiểm họa của chiến tranh. Tất cả mọi sự tốt đẹp này đều đến từ lòng tốt hướng thiện ngay từ ngày đầu nghĩ đến khởi nghiệp.

2- Khởi Nghiệp Tâm Bệnh Phong Trào

Với tâm bệnh “sĩ” của nhiều người Việt, khi chương trình MBA tức Master of Business Administration thâm nhập vào các trường đại học Việt Nam, người ta chọn đặt một cái tên cho thật kêu thành “chương trình Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh” và các trường thi nhau mở các khoa “cử nhân quản trị kinh doanh” chứ dứt khoát không chấp nhận danh xưng đúng hơn là “quản trị công việc”, khiến hầu như sinh viên nào cũng mơ mơ màng màng đến việc học xong sẽ làm quản lý doanh nghiệp, làm “sếp” doanh nghiệp, cứ như thể thiên hạ có tiền thì hãy mở công ty để ta đây đến làm giám đốc vậy, mà không biết rằng đó chỉ là ngành học về quản lý công việc trong thời đại mới cho một cuộc mưu sinh ngập đầy tính cạnh tranh khốc liệt, nghĩa là những gì liên quan đến cuộc sống của lương-tiền-cơm-áo nhất thiết phải được biết đến. Một nhân viên hay một giáo viên hoặc một người quản lý một “cây xăng” đều cần phải qua “business administration” để biết qua về hoạt động ngân hàng, về tiếp thị, về nhân sự, về chứng khoán, về kế toán, về thuế má, luật pháp kinh doanh, v.v., đơn giản vì ở xã hội Âu Mỹ ai mà không mua chứng khoán, không sợ nhất là các sai sót về thuế thu nhập cá nhân, không tự lo cho quyền lợi phúc lợi của mình như một người lao động, và không quan tâm đến luật pháp kinh doanh để hiểu biết rõ nhất về nơi mình làm việc để còn tự bảo vệ mình, v.v. và v.v. Tất nhiên, với sự hiểu biết như vậy, người bán xăng ở một “cây xăng” được thuê để một mình vừa bán xăng vừa phụ trách cửa hàng tiện ích bán hàng hóa cho khách mua xăng, nghĩa là phải biết về công việc tồn kho, thu ngân, kết toán, v.v. và v.v. mà chương trình “quản trị công việc” cung cấp đủ đầy các kiến thức chung ấy. Cũng tất nhiên, với sự hiểu biết ấy, người ta nếu muốn vẫn có thể tự mình lo toan cho một cơ sở kinh doanh riêng mà “trẻ em” Việt Nam sính dùng từ “doanh nghiệp” cho thêm phần hiển hách vì lẽ nào học 4 năm cử nhân đại học để ra đứng bán xăng!

Tương tự, đến khi thuật ngữ “start up” du nhập Việt Nam thì ai cũng gọi đó là “khởi nghiệp” vì cùng chứng bịnh “sĩ”, nhưng với ý nghĩa mới hoàn toàn chật chội: khởi đầu một doanh nghiệp! Thế là từ sự “khởi đầu một sự nghiệp” đa dạng và phong phú, thực tế, nhân văn, “start up” đã bị Việt Hóa co cụm lại thành “khởi đầu một doanh nghiệp”, khiến thay vì khởi nghiệp lẽ ra là điều dẫn dắt đúng đắn luôn có nơi chốn học đường dành cho lớp người tương lai của đất nước lại méo mó thành việc khẳng định mặc định rằng ai đi học xong mà không mở công ty thì chẳng thể gọi là có khởi nghiệp. Như tôi đã bao lần kêu gọi trong vô vọng là bạn trẻ hỡi hãy học tiếng Anh cho thực sự ra hồn đi, người ta lẽ ra nên dùng từ chính xác là “business startup” (hoặc business start up, hay entrepreneur startup) nếu muốn nói về việc bắt đầu một doanh nghiệp tức “start your own business” chứ đừng nói tắt là “khởi nghiệp” vì sai bét.

Startup company, startup business, startup hay start-up hoặc startup entrepreneurship đều có nghĩa là một cơ sở kinh doanh mới thành lập dưới dạng một công ty, một mô hình đối tác tạm thời. Nhưng khởi nghiệp trong tiếng Việt hoàn toàn không phải startup company, startup business, startup hay start-up của tiếng Anh, vì khởi nghiệp là từ dùng chung cho tất các trường hợp nghề nghiệp khác nhau chứ không cứ chỉ có mở doanh nghiệp!

Những kẻ không biết gì về ngôn ngữ Việt và tiếng Anh đã góp phần không những hủy phá ý nghĩa cao vời của khởi nghiệp mà còn làm lệch lạc định hướng nghề nghiệp lành mạnh của giới trẻ Việt Nam.

3- Quốc Gia Khởi Nghiệp

Một bằng chứng khác cho thấy sự sử dụng sai từ “start up” ở Việt Nam: tác phẩm Start-up Nation: The Story of Israel’s Economic Miracle của Dan Senorr và Saul Singer viết năm 2009 về sự phát triển kinh tế thần kỳ của Israel sau 60 năm lập quốc. Tác phẩm được tạp chí New York Times và Wall Street Journal xếp hạng thứ 5 những quyển bán chạy nhất thế giới năm 2010 này nói về “quốc gia khởi nghiệp” (start-up nation), từ đó có thể liên tưởng đến mẫu câu “doanh nghiệp khởi nghiệp” (start-up business) trong tiếng Việt chứ không chỉ ngắn gọn là “khởi nghiệp”.

4- Việt Nam Khởi Nghiệp

Từ các nội dung trên, tiến trình Việt Nam Khởi Nghiệp tức Start-up Vietnam theo ý nghĩa và công thức tạo từ của Start-up Nation để hy vọng có sự phát triển kinh tế thần kỳ như Israel, nhất thiết đòi hỏi

a) Các trường đại học Việt Nam cùng sinh viên phải hiểu rõ và đúng về cá nhân khởi nghiệp, về doanh nghiệp khởi nghiệp, và về Quốc gia khởi nghiệp, theo đó cá nhân khởi nghiệp là việc bắt đầu một sự nghiệp mà hoài bảo, ước mơ, năng lực, năng khiếu, v.v., đã trở thành kim chỉ nam hay một thứ xung lực và động lực mà trên hết là từ nền tảng của lòng cao thượng tổng hợp của vị tha, vì nước, vì dân, vì nét đẹp của nghề nghiệp, mà mọi người trên thế gian này từ ngàn xưa đã đều biết đến; doanh nghiệp khởi nghiệp là những gì cần và đủ nên có để một cơ sở kinh doanh nên được thành lập để người chủ có thể tồn tại, phát triển, đối phó xử lý khi phải phá sản; còn quốc gia khởi nghiệp là khi một quốc gia bắt đầu tiến trình kiến quốc sau thời gian lập quốc, sau thời gian thống nhất đất nước, hay sau thời gian khó khăn dẫm chân tại chỗ đã đề ra được phương hướng và kế hoạch dài hơi để phát triển đất nước.

b) Chính phủ phải có cơ chế quy định không cho phép sự tự do sử dụng từ ngữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước khi các từ ngữ được thẩm định bởi cơ quan chức năng. Việc Việt Nam hoàn toàn không có khái niệm và phân định cụ thể giữa “formal” và “informal” (tức giữa “trang trọng” và “bình dân”) như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới là cái sai của các nhà ngôn ngữ hoc Việt Nam mà tôi đã luôn lập đi lập lại trên các blog, cũng như không lưu ý đến các rạch ròi mang tính luật pháp như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới đẫn đến các nguy cơ nhãn tiền như:

– học sinh và sinh viên khó thể bảo đảm viết lách tiếng Việt đúng đắn về ngôn phong

– học sinh và sinh viên bị tác động lệch tâm của sự sử dụng từ “khởi nghiệp” tự tung tự tác trong xã hội khiến các nỗ lực hướng nghiệp bị thất bại khi “sự nghiệp” không còn quan trọng mà chỉ có “mở doanh nghiệp” mới là điều duy nhất

– cơ quan như công an chẳng hạn mới đây đã bị cho là vi phạm pháp luật do dùng từ “trưng dụng” trong trưng dụng phương tiện đi lại hoặc truyền tin để phục vụ công tác, đơn giản chỉ vì đã không liên hệ đến tiếng Anh[*] để nhận ra một điều rằng nhất thiết phải tạo từ mới vì yêu cầu phức tạp của luật pháp.

c) Việt Nam cần hiểu ró rằng không thể có Việt Nam khởi nghiệp nếu nguồn nhân lực khởi nghiệp Việt Nam không hiểu biết gì đến các nội dung trên, khiến môi trường nghề nghiệp hỗn loạn, thiếu hụt, bát nháo, đẩy xa hơn ngoài tầm với tiến trình khởi nghiệp Việt Nam để khó kỳ vọng có được một Việt Nam khởi nghiệp sau 50 năm nữa.

Kỳ sau: Bài 2 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: [1] Trong khi tiếng Anh có nhiều từ ngữ khác nhau để sử dụng như các động từ to confiscate, to requisition, to appropriate, to commandeer, to expropriate, to sequester, to sequestrate, v.v. tùy vào các đặc điểm của các hành động khác nhau trong hoàn cảnh khác nhau như sung công, sung dụng, tịch thu, trưng dụng, trưng thu, v.v. (chẳng hạn động từ commandeer được dùng trong trường hợp cảnh sát Mỹ chặn lấy xe của công dân để rượt bắt đối tượng phạm pháp), thì ở Việt Nam chỉ dùng mỗi một chữ “trưng dụng” nên nếu nội hàm “trưng dụng” đã lỡ được dùng trong một đạo luật cụ thể trước đó thì đương nhiên việc sử dụng từ “trưng dụng” trong thông tư của Bộ Công An khiến Bộ này “vi phạm pháp luật”. Điểm này sẽ được bàn kỹ hơn trong một bài viết khác sau.

Tham khảo:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”.

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ.

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực.

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968.

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá.

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”.

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân.

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh.

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Hoàng Hữu Phước, MIB


 Nguyen Phu Trong

Điều đáng thương hại cho nhiều người viết báo nước ngoài, từ nhà phê bình chuyên trang kỳ cựu columnists trên thế giới đến thực tập sinh Thạc Sĩ Báo Chí ở Hoa Kỳ có tên Việt, là luôn có khuynh hướng viết giống nhau như đúc do được đúc từ một khuôn ở một lò mang tên “báo chí tư bổn”, chẳng khác nào “lưỡng đảng” tư bản chủ nghĩa cầm quyền của Hoa Kỳ vậy, ở chỗ mỗi khi sắp có Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam để chuẩn bị cho một đội ngũ “tứ trụ triều đình” mới thì (a) luôn mặc định có sự đối đầu giữa các “phe” trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, (b) luôn mặc định rằng đầu não lãnh đạo Đảng gắn liền với nhãn mác “bảo thủ” và “thân Trung Quốc”, (c) luôn mặc định rằng các Thủ Tướng Việt Nam Cộng Sản là người của cải tổ và “thân Mỹ”, (d) luôn ra sức võ đoán về nhân sự nào sẽ lên ngôi, (e) luôn kết luận rằng đầu não “bảo thủ” của Đảng Cộng Sản Việt Nam rồi cũng phải thay đổi để ra mặt chống Trung Quốc nhiều hơn, thân Mỹ hơn, cởi mở dân chủ hơn, bó buộc phải cải tổ theo đòi hỏi của nhân dân, và (f) luôn vân vân và vân vân.

Sự thật là giữa thế giới Âu Mỹ mà Hoa Kỳ là đầu tàu và Việt Nam có sự khác nhau cực kỳ cơ bản về “đảng chính trị cầm quyền” song chẳng ai hiểu được thấu đáo để viết bình luận cho ra hồn.

Tại Mỹ, chỉ có hai đảng chính trị duy nhất được tham chính cầm quyền và mọi sự giật dây, tư vấn, chỉ đạo của đảng thắng cử đều được thực hiện từ sau bức màn nhung nặng chịch, còn Tổng Thống là người chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn và tuyệt đối trước mắt nhân dân, nghĩa là sự thất bại nếu có của một tổng thống trong thực thi sách lược trị quốc bình thiên hạ mà đảng đã “mớm” từ đầu sẽ không thể đưa đến một liên tưởng hay liên hệ của người dân tới sự thất bại của cái đảng của ông ta. Đây là điều quan trọng vì nếu vị tổng thống có bị mất điểm với nhân dân thì đảng của ông ta lại càng phải bỏ mặc ông ta chịu trách nhiệm cá nhân để đảng còn lo tập trung kiếm nhiều ghế cho đảng viên của mình vào các vị trí thống đốc các bang cũng như các ghế hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ để có thể kỳ vọng nào đó khả dĩ giúp cho cuộc tranh cử tổng thống tiếp theo cho ứng cử viên tổng thống khác của họ.

Tại Việt Nam, do thực tế lịch sử chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, dùng bạo lực cách mạng dành lấy chính quyền, thống nhất đất nước, nên Đảng Cộng Sản là đảng duy nhất và quân đội Việt Nam là quân đội “chính trị” thuộc quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, không bao giờ có chuyện “phi chính trị hóa” vô lý vô duyên vô đạo mà bọn chống Việt kêu gào đòi hỏi. Đây là điểm khiến Đảng Cộng Sản danh chính ngôn thuận có toàn quyền ngạo nghễ đứng ra trực tiếp nhận lấy toàn bộ trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, đem lại thịnh trị thái bình cho nhân dân, chứ không như thế giới Âu Mỹ đảng phải luôn núp sau tấm màn nhung sau lưng tổng thống. Cả tập thể Bộ Chính Trị chịu trách nhiệm tập thể trước Đảng và dân tộc, và không bất kỳ một cá nhân lãnh đạo nào trong chính phủ được phép làm trái các nghị quyết, chủ trương, mệnh lệnh của Đảng. Đảng đã trở thành đầu não hoạch định đường hướng như một chiếc la bàn chuẩn xác chuẩn mực, còn Thủ Tướng tức nhân vật chịu trách nhiệm cao nhất ở Việt Nam đối với việc thực hiện công cuộc lèo lái chèo chống con thuyền quốc gia theo la bàn định hướng của Đảng được Đảng tuyển chọn từ lực lượng nhân sự kiệt xuất nhất của Đảng để giới thiệu cho Quốc Hội xem xét bầu vào vị trí thuyền trưởng này. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng như tất cả các thủ tướng tiền nhiệm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng đã giao phó cho ông gánh vác. Và khi siêu hiệp định TPP Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương được ký kết giữa Mỹ và các nước lớn trong vành đai Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam là quốc gia đồng sáng lập, cũng như việc Việt Nam ký kết gia nhập tất cả các mô hình hiệp định / tổ chức khác từ WTO đến ASEAN và các FTA song phương và đa phương mà gần đây nhất là EU-VN FTA dều xuất phát từ sự chỉ đạo tham mưu thống nhất chuẩn y của Bộ Chính Trị. Ngay cả các hành xử đối với vấn đề lấn chiếm gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông cũng được Bộ Chính Trị chỉ đạo phân công cụ thể để thực hiện thắng lợi một cách bài bản nhuần nhuyễn để trên tất cả các mặt trận từ ngoại giao đến quân sự cùng luật pháp và kinh tế với tất cả các vũ khí hùng biện khác nhau, từ mềm mỏng đến cứng rắn, từ nhún nhường đến răn đe, để hợp đồng tác chiến phục vụ một mục đích duy nhất mang đậm tính chiến thuật chiến tranh chính trị, tâm lý chiến, quần chúng chiến: tập hợp được sự ủng hộ của thế giới, tập hợp được sức mạnh đồng thuận của toàn dân, bảo vệ được môi trường hòa bình ổn định để phát triển kinh tế cho nhân dân được sống bình an tránh được hiểm họa chiến tranh, đồng thời nâng cao nguồn thu đủ để mua sắm khí tài quân sự tối tân đảm bảo sức mạnh quốc phòng. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một “doer” xuất chúng trong lèo lái con thuyền quốc gia qua các nhiệm kỳ thì Bộ Chính Trị chính là “thinker” xuất chúng trong hoạch định đường hướng, chiến lược, chỉ đạo kịp thời, hợp thời, cũng như huy động các sức mạnh tổng lực khác để hỗ trợ Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đi đến thành công vượt bậc. Và đầu não của Bộ Chính Trị vĩ đại kiên cường xuất chúng ấy chính là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng.

Là vị Tổng Bí Thư của một nước Việt Nam trong hoàn cảnh hoàn toàn mới: khi những kẻ thù đã từng làm cho đất nước bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh và sau đó làm cho đất nước điêu linh thêm với các lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc và phong tỏa ngoại giao tàn độc nay trở thành những nhà đầu tư quan trọng chiến lược; còn những người bạn ý thức hệ thì kẻ tự tan rã từ lâu vì chọn nhầm nhân sự một gã có tên Ba Chớp Ba Nháng, thằng thì trở thành kẻ thù xâm lược đã từng xua hơn nửa triệu (hơn 500.000) quân tinh nhuệ ngập tràn toàn tuyến biên giới phía Bắc tàn sát dân Việt dù sau đó bị bảy mươi ngàn (70.000) quân thiện chiến của Việt Nam đánh cho đại bại phải tháo chạy lạch bạch thua vịt về bên kia biên giới nay thì xoay ra gây rối ở Biển Đông với kỳ vọng tránh được các trận Điện Biên phủ trên không và Điện Biên Phủ trên bộ, đứa thì sau khi vừa điên loạn giết sạch dân nó vừa tràn qua toàn tuyến biên giới Tây Nam tàn sát người Việt để giúp Trung Quốc diệt tiêu Việt Nam, bị Việt Nam tiêu diệt gọn trả lại sự thanh bình và chủ quyền quốc gia cho nó, thì nay nó lại tỉnh bơ nói nó không dính dáng gì đến Biển Đông nên không cùng hiệp lực với ASEAN đấu khẩu chống Tàu, Ông Nguyễn Phú Trọng đã trở thành vị tổng bí thư phù hợp nhất: không bao giờ vừa phát biểu mạnh mẽ vừa vung nắm đấm như Fidel Castro, giọng nói Ông luôn điềm đạm, gương mặt Ông luôn điềm tỉnh, nụ cười Ông luôn hiền hòa, chỉ có ánh mắt Ông là toát lên sự cương quyết, mạnh mẽ, cứng rắn, uy nghi, mưu lược. Thần uy ấy của Ông chỉ có những nhà chính trị Âu Mỹ lão luyện mới nhận ra và kính nễ, và Ông đã trở thành thượng khách của các vị tổng thống Âu Mỹ mà lễ nghi đón tiếp Ông là theo nghi thức chỉ dành cho các nguyên thủ quốc gia. Trong một bài viết blog, tôi có tỏ sự thán phục trước lời dõng dạc của Ông rằng “Việt Nam không cần đa đảng.” Đó là lúc hiếm hoi cả thế giới được biết đến thần uy khẩu ngữ khẩu khí mãnh liệt của Ông.

Việt Nam đang bước sang giai đoạn mới. Dưới sự lãnh đạo về đường lối, đường hướng của Đảng mà chính Ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư, chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm tổng chỉ huy đã thành công như ý: vị thế cùng uy tín của Việt Nam lên cao hơn bao giờ hết trên trường quốc tế, và các cơ hội cho sự bứt phá về kinh tế thu về dồi dào rộng khắp hơn bao giờ hết. Chính vì giai đoạn mới này đặt ra nhiều yêu cầu lớn hơn, nghiêm ngặt hơn, bản lĩnh hơn trong việc sau khi tiến từ đói nghèo sang ổn định, sau lúc tiến từ xây dựng kinh tế đến phát triển kinh tế, nay là giai đoạn xây dựng đất nước cường thịnh hướng đến trả cho được món nợ với dân tộc từ nhiều ngàn năm nay: biến Việt Nam thành cường quốc, Ông Nguyễn Phú Trọng được Đảng tái cử làm Tổng Bí Thư nhiệm kỳ 2016-2021 để tiếp tục cùng đội ngũ kế thừa trong Bộ Chính Trị hoạch định chiến lược nhân sự và kế sách quốc gia thực hiện đại cuộc mới từ nhũng kỳ tích mà chính phủ đương nhiệm đã đạt được cũng từ sự lãnh đạo về đường hướng của chính Ông.

Đó mới là Ông, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng mà tầm vĩ đại nơi con người Việt Nam tầm thước bình dị như Ông thì giới báo chí quốc tế sẽ không thể nào hiểu được

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Ghi chú: Bài viết trên sẽ được tác giả chuyển dịch sang tiếng Anh để đăng trên mạng doanh nhân thế giới LinkedIn

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc:

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân:

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng:

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng:

C) Tài liệu tham khảo của Hoàng Hữu Phước về phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”:

13-02-2011: Luận Về “Đa Đảng”:

20-4-2011: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng.

D) Tài liệu đọc thêm của Hoàng Hữu Phước về “Đa Đảng”:

18-5-2013: Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không?

Gạo Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB



Là người thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam (tức nước nhập khẩu có mở tín dụng thư có bảo lãnh quốc tế, có điều tàu vào nhận hàng, giám định chất lượng xuất khẩu VINACONTROL, có hoàn tất tất cả các yêu cầu về hầm hàng, kiểm kiện, phun trùng, v.v.), tôi tích cực tham dự các hội nghị quốc tế về gạo với khát vọng góp phần biến gạo thành thương hiệu quốc gia như trong bài viết Đề xuất thêm một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam: Việt Nam, Vựa Lúa Của Thế Giới đăng trên Emotino. Tuy nhiên, khi nhận thấy các lãnh đạo ngành gạo chỉ lo tập trung mỗi hai việc là (a) khẳng định Việt Nam sau 1975 đã xuất khẩu gạo trước khi Ông Hoàng Hữu Phước xuất khẩu gạo năm 1989, và (b) ý kiến của Ông Hoàng Hữu Phước về Việt Nam nên khẩn trương đầu tư hệ thống silo là viễn vông vì Việt Nam có thiếu gì gạo mà phải lo, tôi cảm thấy tức giận và giận dữ nên nhiều năm nay không đoái hoài đến việc có mặt tại các hội nghị ấy. Tức giận vì họ là chức sắc được chính phủ ban cho ghế lãnh đạo ngành gạo mà không phân biệt được chuyện chở gạo ra khỏi Việt Nam sang cứu trợ Cuba hay Triều Tiên hoàn toàn không phải xuất khẩu có giá trị thương mại tức theo sự ràng buộc hợp đồng giữa bên bán và bên mua có kèm các điều khoản phạt và bồi thường, lại phí thời gian chỉ để tước lấy từ tôi cái danh “người đầu tiên xuất khẩu gạo” luôn thuộc về tôi. Giận dữ vì không ai trong các chức sắc chính phủ ấy có tầm nhìn đủ xa để thấy được silo sẽ làm tăng giá trị hạt gạo chứ không phải các chiến lược do các vị ấy đề ra nhảm nhí như về cái gọi là gạo phải xây dựng thương hiệu, chất lượng gạo phải cao, cũng như không thấy được rằng sẽ có lúc Việt Nam sẽ thiếu gạo và các silo mới là hệ thống chiến lược đảm bảo nuôi sống quốc dân. Cách nay vài tháng, một vị chức sắc ngành gạo lại được tivi phỏng vấn và cũng vẫn các lãi nhãi vô dụng được lập lại trước sự tồn tại miên viễn của vấn đề cái nghèo của nông dân Việt Nam và cái giá rẻ của hạt gạo Việt Nam. Chưa kể, ngày nay Việt Nam không những phải gánh chịu hậu quả của sự ấm lên toàn cầu làm nước biển dâng cao khiến sẽ mất đi phần lớn vùng lúa gạo đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, mà còn của các đập thủy điện liên hoàn trên toàn hệ thống sông Mekong triệt tiêu hoàn toàn sự bồi đắp phù sa khiến kiệt quệ độ màu mỡ của đất đai. Điều này làm tôi nhớ lại buổi phỏng vấn tôi của Đài FBNC đầu năm 2011 nghĩa là sau vài năm bỏ hẵn các hội nghị về gạo, tôi vẫn được phóng viên tìm gặp để hỏi han về các nhận định của tôi đối với gạo Việt Nam trước các thử thách mới, mà các nội dung trả lời của tôi năm xưa ắt vẫn còn nóng hổi; song biết làm thế nào được khi người phụ trách chiến lược về gạo chẳng phải là người có kinh nghiệm về xuất khẩu gạo và tầm nhìn chiến lược, mà người lẽ ra đã có thể làm nên đại sự vì đại cuộc gạo của Việt Nam chỉ còn biết đăng lại nội dung sau để cùng chiêm nghiệm:


Xuân Tân Mão 2011 Trả Lời Phỏng Vấn Đài FBNC

FBNC:  Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu gần 6,8 triệu tấn gạo, liên tiếp lập kỷ lục 2 năm liền. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gạo lại không bằng năm 2009. Theo ông, nguyên nhân vì sao?

ThS Hoàng Hữu Phước: Nói về tổng sản lượng gạo năm 2010 thì trên thế giới thu hoạch được 452,4 triệu tấn gạo, trong đó Việt Nam đứng hàng thứ 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và trên Thái Lan – với Trung Quốc 140 triệu tấn, Việt Nam 25 triệu tấn, Thái Lan 20,5 triệu tấn, và M‎ỹ 7,5 triệu tấn hạng 11. Điều cần ghi nhận là hầu như năm sau sản lượng gạo thu hoạch ở các nước luôn cao hơn năm trước.

Nếu lấy giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan làm chuẩn – do Thái Lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới và gạo có chất lượng cao – thì chúng ta sẽ thấy giá xuất khẩu gạo FOB/tấn của họ cũng lên xuống thất thường, thí dụ như tháng 3/1981 là USD505, tháng 4/2001 chỉ có USD162.1 và tháng 5/2006 là USD301.26.

Còn theo dõi số liệu hàng tháng của 3 năm 2008, 2009, và 2010 của gạo Thái 5% tấm, chúng ta sẽ thấy biến động giá cao nhất vào hai tháng 4 và 5 của năm 2008 khi giá trên USD1000 tác động đến giá cao của các tháng còn lại của năm 2008 như USD722, USD737, USD799, và USD834, thì trong toàn bộ 12 tháng của năm 2009 giá cao nhất chỉ là USD634 trong tháng 2. Tương tự, giá bán mỗi tháng của năm 2010 thấp hơn của năm 2009, với mức cao nhất là USD598 của tháng 1.

Như vậy, có thể nói giá gạo Thái dần trở lại mức độ cao bình thường và hợp l‎ý sau thời gian khủng hoảng giá lương thực toàn cầu 2008, chứ không thể nói gạo họ mất giá trong năm 2010. Nếu trong tháng 5/2008 giá gạo 5% tấm của Việt Nam là USD1,000 so với USD1,015.21 của Thái Lan, thì đó không là mốc để nói hiện gạo Việt Nam mất giá. Khi giá gạo Thái trong tình hình trở lại bình thường như vậy, ảnh hưởng đến giá gạo Việt Nam sẽ là điều đương nhiên. Cuối qu‎ý III năm 2010 thiên tai tại các nước như Pakistan, Trung Quốc, Philippines, Úc, Nga, và một số nước khác, gây thất mùa khiến tăng nguy cơ thiếu lương thực dẫn đến sự tăng nhu cầu về dự trữ gạo và tăng giá gạo, nhưng cũng không thể tăng đến mức kỳ khủng hoảng 2008.

Nói theo chiều hướng tích cực thì khi nói về giá gạo, chúng ta không theo hướng biến thiên lên mà theo quy luật thị trường, do đó, hai điều mang tính thực tiễn là nhu cầu về gạo đã và sẽ tăng và giá gạo xuất khẩu của ta đã tốt tính trong thời điểm đã và sẽ xuất. Vấn đề duy nhất quan ngại là vì sao giá xuất của chúng ta không thể tốt hơn nữa so với giá của gạo Thái, thí dụ cùng vào thời điểm tháng 1 năm 2010, giá gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức USD440 – USD445 trong khi gạo Thái là USD598 tức chênh nhau mỗi tấn thường là đến USD160.


FBNC:   Giá gạo Việt Nam nhiều năm liền vẫn thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan, đôi khi không đủ bù chi phí, nông dân vẫn nghèo. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này là gì?

ThS Hoàng Hữu Phước: Thật ra có những thời điểm trong năm 2010 giá gạo Việt Nam bằng với gạo đồng cấp của Thái Lan, nhưng vấn nạn ở đây là trường hợp ấy là không thường xuyên. Gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp hơn hẳn khiến nông dân Việt Nam rất khó thoát nghèo, do năm lý do sau:

Tính chất cá thể trong sản xuất: chất lượng gạo Việt Nam không đồng đều do nông dân Việt Nam làm ăn cá thể mạnh ai nấy làm, cho nên những cánh đồng liền kề nhau lại trồng nhiều giống lúa khác nhau và hay được tư thương gộp chung vào nhau. Có người nói chất lượng gạo 5% tấm của Việt Nam ngang ngửa với gạo đồng cấp của Thái Lan. Tôi không cho đó là nhận xét nghiêm túc vì mang đầy tính định kiến dân tộc chủ nghĩa.

Vấn đề giá trị hạt gạo: Gạo thơm của Việt Nam không thể có giá cao do không có đặc tính gì nổi trội so với 9 loại gạo thơm hàng đầu thế giới như gạo thơm Arbino của Ý; bốn loại gạo thơm California, Della, Texamati, và Louisiana Pecan của Mỹ; gạo thơm Basmati của Ấn Độ; gạo thơm Jasmine của Thái Lan; và hai loại gạo thơm của Nhật là Mochi Sushi. Đã vậy, gạo thơm Việt Nam rất dễ mất hương thơm. Nghĩa là ngoài sự phó mặc cho sự phát triển các giống lúa gọi là “đặc sản” của mỗi địa phương, đã không có chiến lược phát triển cấp vĩ mô nào cho thương hiệu gạo Việt Nam, khiến gạo Việt Nam và ngay cả “gạo thơm” của Việt Nam vẫn dường như bị đồng nghĩa với gạo bình dân cho người không có thu nhập cao, hoặc phục vụ cứu trợ hay cứu đói.

Vấn nạn bảo quản sau thu hoạch: Từ vấn đề tăng giá trị hạt gạo, chúng ta thấy dẫn đến yêu cầu cao của bảo quản sau thu hoạch. Đã rất nhiều năm qua nhiều quan chức Việt Nam vẫn không cho việc xây dựng các chuỗi silo liên hoàn là việc cần làm, với lý do Việt Nam không thể thiếu gạo, vô hình trung đã tầm thường hóa vai trò tứ diện cực kỳ quan trọng của silo như (a) bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, (b) bảo quản hiệu quả lương thực sau thu hoạch, gia tăng chất lượng hàng hóa, gia tăng giá trị hạt gạo, và gia tăng uy tín thương hiệu gạo Việt Nam, (c) phát triển Tam Nông khi chủ động thu mua gạo của nông dân, không để nông dân vì không có phương tiện kho trữ mà bán tháo bán đổ cho thương lái, và (d) khống chế, kiểm soát lượng xuất để có giá bán cao nhất có thể được ra thị trường nước ngoài.

Một vấn nạn liên quan đến silo là những cơ quan có trách nhiệm ở Việt Nam vẫn đơn giản nghĩ rằng silo là nhà kho, trong khi silo gồm một hệ thống hiện đại có thể giúp giảm thất thu sau thu hoạch đến trên 3% nghĩa là chỉ riêng phần tránh thất thoát đã là hàng trăm triệu USD mỗi niên vụ gạo, chưa kể còn duy trì chất lượng gạo để giá bán tốt hơn. Còn “nhà kho” chỉ có thể giảm thất thoát số lượng từ 1 đến 2% chứ hoàn toàn không bảo đảm được chất lượng gạo trữ.

Tác động của chiến lược quốc gia: Thái Lan luôn có lượng tồn kho gạo khổng lồ vì chính phủ Thái Lan muốn kềm giữ giá gạo ở mức cao nhất có thể được. Nông dân Việt Nam bán ngay cho thương lái do họ gần như là những người mua sẵn sàng mua, so với các doanh nghiệp nhà nước phải có mệnh lệnh từ chính phủ và phải có được ngân hàng cho vay vốn ưu đãi mới tổ chức mua trữ của nông dân.

Tư lợi cục bộ: điển hình là việc thành lập liên doanh xuất khẩu gạo với Cambodia để xuất khẩu gạo giá rẻ của Cambodia vào Việt Nam.


FBNC:  Theo lộ trình WTO, năm nay Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia xuất khẩu trực tiếp. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế và khó khăn gì trong trường hợp này?

ThS Hoàng Hữu Phước: Tôi nghĩ Nghị Định 109 của Chính Phủ về tổ chức kinh doanh xuất khẩu gạo có hiệu lực từ năm 2011 là điều tuyệt vời lẽ ra đã nên được ban hành từ nhiều năm trước như quy định doanh nghiệp phải có kho chứa tối thiểu 5000 tấn gạo, có thiết bị xay xát công suất tối thiểu 10 tấn/giờ, và có trữ lượng gạo tương đương 10% tổng số lượng gạo đã xuất trong 6 tháng trước đó để đáp ứng hoạt động xuất gạo tiếp theo, v.v., để không vướng phải tất cả những vấn đề và vấn nạn tôi đã vừa nêu, và nếu vậy thì vào thời điểm thực thi các cam kết WTO về mở cửa thị trường xuất khẩu gạo như hiện nay thì chúng ta lẽ ra đã có các doanh nghiệp tầm cỡ để kinh doanh xuất nhập khẩu gạo ngang sức với các doanh nghiệp nước ngoài. Do trễ nên tất nhiên các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo sẽ có các bất lợi về vốn tiền có thể không đủ mạnh để đầu tư vào hệ thống silo / kho chứa và trang thiết bị, còn vốn thời gian thì không khác các doanh nghiệp nước ngoài vì tất cả đều ở vạch xuất phát đối với yêu cầu silo/kho chứa và trang thiết bị.

Nhưng các quan chức cũng đã nêu nhiều về những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo khi Việt Nam mở cửa thị trường xuất khẩu gạo. Theo tôi, bất kỳ ai, dù là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài, xuất khẩu được nhiều gạo Việt Nam với giá tốt nhất cũng là làm lợi cho Việt Nam, làm giàu cho Việt Nam, có đóng thuế cho Việt Nam, nên tôi xin công bằng mà lái câu hỏi của Cô sang một đối tượng khác, đó là nông dân, những người đã luôn chịu thiệt thòi ngay từ khi Việt Nam xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại cách nay 22 năm, để xem với việc mở cửa thị trường xuất khẩu gạo này họ sẽ có thuận lợi gì và khó khăn gì.

Tôi nghĩ người nông dân chỉ có lợi mà không có khó khăn nào phải đương đầu cả, vì rằng do các doanh nghiệp phải có lượng trữ theo quy định, người nông dân có thể bán gạo tốt hơn với giá tốt hơn theo sự lựa chọn tốt hơn của họ, thậm chí họ còn có thể nhận các khoản tạm ứng từ các doanh nghiệp muốn tạo thế cạnh tranh về nguồn cung ứng gạo; và thậm chí yêu cầu gắt gao của doanh nghiệp xuất khẩu – nhất là của nước ngoài – đối với quy trình canh tác, bón phân, thu hoạch, v.v. cũng là điều hoàn toàn có lợi cho người nông dân chân chính vì giúp họ vừa nhận thức được giá trị hạt gạo thương mại vừa có được kỹ năng quản lý canh tác nông nghiệp chuyên nghiệp có thể giúp họ nhanh chóng trở thành các nông chủ, tiền đề cho tầng lớp phú nông quyết định sự thành công của sự nghiệp phát triển Tam Nông.

*******HHP Rice Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

Hoàng Hữu Phước, MIB

Như đã nói ở bài trước về “Tứ Trụ Triều Đình”, nội dung nhân sự lãnh đạo Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm bình thường, khác thường, và dị thường của thế giới, tùy vào chủ thể của sự quan tâm ấy là ai hay là cái gì. Bình thường đối với hàng tỷ người đọc báo xem tin trên toàn thế giới mà tờ báo lớn hay trang tin lớn đều tải đăng vô số chuyện, chuyện nào cũng quan trọng như nhau. Khác thường đối với một số người như tỉnh ngủ, tiến từ giai đoạn ngủ đông trẻ thơ chẳng biết Việt Nam ở đâu trên bản đồ thế giới, sang giai đoạn trưởng thành có dư thừa kiến thức, có dư thừa bản lĩnh tài năng, và có dư thừa tiền bạc, quan tâm đến Việt Nam như miền đất hứa mình phải đến để đầu tư, để làm giàu, để lấy vợ Việt, để sống đế vương trong môi trường tuyệt diệu của ổn định chính trị và đầy đủ vắc-xin miễn nhiễm trước các suy thoái lụn bại kinh tế toàn cầu. Dị thường đối với dăm ba kẻ mông muội khi mừng rở thấy có dịp để tập viết tiếng Việt cũng như có tham vọng muốn có danh “nhà phê bình thời cuộc.” Bài viết này nói về cái phi thường rất đỗi bình thường ở Việt Nam, đối với người Việt Nam: nhân sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Gần đây tin tức chính thống Việt Nam cho biết vấn đề chuẩn bị nhân sự lãnh đạo nhân Đại Hội Đảng Cộng Sản XII năm 2016 đã được thực hiện như bao lần thành công trước đó. Tuy nhiên, đối với nội dung rằng có nhiều vị đã ở tuổi nghĩ hưu đã nộp đơn xin tiếp tục phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, tôi có các ý kiến sau về kinh nghiệm và yêu cầu.

Kinh nghiệm:

Thiên hạ tại các nước siêu cường, văn minh, hiện đại, thực tế thực dụng thực chất, đã từ rất lâu không còn bất kỳ ai rêu rao về tự do, ngợi ca cấp tiến, phất cờ đòi trẻ hóa. Tại tất cả các quốc gia siêu cường tư bản đó không có bất kỳ đảng phái chính trị nào dám đặt tên là Đảng Tự Do hay Đảng Cấp Tiến, vì rằng quốc gia càng cường thịnh, vị trí của Đảng Bảo Thủ càng vững chắc, vì rằng như đã nói trong bài Tranh Giành Ngôn Từ, “tự do” hoàn toàn kém về ý nghĩa chính trị so với “dân chủ”. Còn tại siêu cường Hoa Kỳ với nhiều trăm năm tuổi vẫn chỉ có sự lãnh đạo của một đảng chính trị duy nhất là anh em song sinh Dân Chủ với Cộng Hòa mà cả hai thì tất nhiên là cùng bảo thủ, tức trên nền tảng vững vàng đạt được từ xưa đến nay dứt khoát không cho phép bất kỳ một tên “tự do”, “cấp tiến” hay “trẻ nít hay trẻ quá hoặc trẻ hóa” nào lãnh đạo Hoa Kỳ. Tất cả mang ý nghĩa rằng việc trị quốc bắt buộc phải sau giai đoạn tu thântề gia vốn ngốn bao thời gian để một lãnh đạo quốc gia có thể bắt đầu trị quốc để bình thiên hạ.

Trị quốc rất khác với trị quốc để bình thiên hạ. Việt Nam đã trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo các địa phương, các ban ngành, đoàn thể chính trị, và nhiều nghị sĩ rất trẻ đã có mặt tại quốc hội. Đây là những người trẻ tham chính, tức tham gia trị quốc. Sau thời gian dài trị quốc, những chính khách thành công có thể trở thành nhân vật trị quốc để bình thiên hạ, nghĩa là lãnh đạo quốc gia (“tứ trụ triều đình”). Điều này nói lên một sự thật phải có – mà nói theo tiếng Anh là “it’s a must” – rằng kinh nghiệm là điều kiện tiên quyết của thời trị quốc bình thiên hạ, rất khác với thời chiến tranh vốn chỉ dành sự chiến thắng vẻ vang vinh dự cho bậc thiên tài ngàn năm có một. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo quân đội thời chiến tranh như một thiên tài. Thời trị quốc bình thiên hạ đòi hỏi một vị tướng phải kinh qua nhiều cấp bậc, nhiều thời gian, nhiều thành tích, nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức quân chính (quân sự và chính trị), nhiều xét chọn, nhiều thủ tục được lên một bậc tướng, khiến nhiều vị tá đại tài phải về hưu khi chưa kịp lên cấp thiếu tướng. Chính vì vậy, tôi hoàn toàn ủng hộ việc các vị đương nhiệm trong Bộ Chính Trị khi tự thấy vẫn còn sức khỏe để tiếp tục phục vụ Đảng, phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, nộp đơn xin ứng cử tiếp cho nhiệm kỳ XII. Đây là chuyện bình thường trên thế giới từ thời thượng cổ đến nay. Đây là chuyện quốc gia đại sự chứ không phải chuyện lãnh đạo một tỉnh ủy. Thiên hạ hay nói sai rằng người “già” nên nhường chỗ cho người “trẻ” như một khẩu hiệu chung, mà không phân biệt được chỗ ấy là chỗ nào, chỗ ghế lãnh đạo một công ty, ghế lãnh đạo một Bộ, ghế lãnh đạo chính phủ, ghế lãnh đạo Nhà Nước, hay ghế lãnh đạo tại Bộ Chính Trị. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một tổng thống trẻ măng của một nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Tổng Bí Thư trẻ măng của Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu như không đang nghĩ rằng có thể biến người đó thành một Gorbachev Việt Nam. Không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Chủ Tịch Quốc Hội trẻ măng của nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Và không bất kỳ vị tổng thống một siêu cường nào muốn bắt tay chào một Thủ Tướng trẻ măng của nước khác nếu như đó không là nước đàn em trung thành. Vì vậy, “trẻ hóa” chưa bao giờ là một “kế sách” được phát trên loa của các siêu cường. Đó là sự mặc định quá ư là rõ nét rõ ràng rõ rệt trên cả hiển nhiên.

Việt Nam là một đất nước có hai vấn đề miên viễn (thậm chí cho đến sau cả ngày tận thế) sau:

1) luôn là mục tiêu phá hoại sự ổn định chính trị của các thế lực thù địch, và

2) luôn có đa số người dân dễ “lờn mặt” với lãnh đạo “trẻ”, dù ở góc độ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, hay cơ quan hành chánh công quyền.

Vì hai vấn đề miên viễn trên, với thực tế là nhiệm kỳ 2011-2016 trải qua những biến động cực kỳ to lớn trước ngưỡng cửa chiến tranh với hay từ Trung Quốc, những biến chuyển khác thường về an ninh địa chính trị trên thế giới, và những nắm bắt được các vận hội cực kỳ quan trọng cho nhiệm kỳ tiếp theo, các lãnh đạo Bộ Chính Trị đã có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, cùng uy tín với thế giới cũng như sự nể trọng của thế giới, và do đó, nếu tình trạng sức khỏe cho phép và nếu không phạm các quy định nghiêm ngặt của Đảng về nhân sự, sự có mặt của các vị vẫn là một bảo đảm tốt hơn cho Việt Nam ở thời gian 2011-2021 tiếp theo, vừa tiếp tục đại cuộc mà các vị đã hình thành, nắm bắt, vừa hòa vào đội ngũ các vị kế thừa cùng được bầu vào Bộ Chính Trị để thực hiện phát triển đại cuộc ấy. Đây luôn là sự lành mạnh của trọng tâm trị quốc để bình thiên hạ: lực lượng lão luyện tài ba đang hay đã qua ngưỡng tuổi hưu phối hợp với lực lượng lão luyện tài ba còn nhiều năm mới đến tuổi hưu.

Yêu cầu:

Việt Nam vẫn còn tồn tại một thực tế về sự vô tâm vô tình vô cảm vô lý vô trách nhiệm của các lãnh đạo Đảng ở các địa phương, dù cố ý hay vô tình. Các thành viên Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh như Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Nguyễn Thị Quyết Tâm hay Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Lê Hoàng Quân vẫn bị một người dân cho rằng các yêu cầu đối thoại với các vị này để giải quyết các khiếu tố đã kéo dài quá nhiều năm của người ấy đã chưa từng được đáp ứng trong suốt nhiệm kỳ 2011-2016 của các vị, dù bởi trực tiếp vị lãnh đạo ấy hay gián tiếp với trợ lý của chính vị lãnh đạo ấy, thậm chí không có bất kỳ thư phúc đáp cụ thể nào của vị lãnh đạo ấy trong ngần ấy năm. Thành phố Hồ Chí Minh ắt không là ngoại lệ, nếu tính theo số lần có các vụ khiếu tố đông người từ các tỉnh đổ về Thành phố Hồ Chí Minh.

Các lãnh đạo tái cử và mới trúng cử của Bộ Chính Trị nhiệm kỳ mới do đó phải bảo đảm chấn chỉnh các cơ sở Đảng, giám quản các lãnh đạo Đảng ở địa phương bằng kỷ luật sắt, để giải quyết xong và dứt điểm tất cả các vụ khiếu tố đã kéo dài nhiều năm qua của người dân, nội trong nửa đầu nhiệm kỳ mới, và dứt khoát không để có sự dây dưa bất kỳ đối với vụ việc khiếu tố mới nào được kéo dài qua nhiệm kỳ sau đó (2021-2026). Đó mới là trị quốc để bình thiên hạ để thay thế cho trị quốc bây giờ còn bình thiên hạ là chuyện của nhiệm kỳ sau.

Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam gánh trên vai trọng trách (a) xây dựng Việt Nam dứt khoát thành cường quốc, (b) dứt khoát không để một nắm đất hay một hạt cát nào của Việt Nam bị chiếm đoạt bởi bất kỳ nước nào dù là man di quốc hay siêu cường quốc, (c) dứt khoát dùng trí tuệ và sự sáng suốt cùng sức mạnh để tái lập chủ quyền thực tế đối với các vùng lãnh thổ đã bị ngoại bang lấn chiếm trong lịch sử cận đại, và (d) dứt khoát dùng sức mạnh của Đảng để bảo đảm Đảng có đội ngũ kế thừa thực chất thay vì kế thừa danh xưng kiểu “Đoàn là đội ngũ kế thừa của Đảng” để chủ động đưa người giỏi trẻ tuổi ngoài Đảng vào Đảng mà không qua chuyến xe trung chuyển của Đoàn.

Bộ Chính Trị Việt Nam là một thực thể quyền uy mà Tông Thống Mỹ cũng như lãnh đạo các cường quốc phải công nhận và kính trọng như đã thể hiện trong những lời mời Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam sang thăm chính thức nước họ trong nhiệm kỳ qua.

“Tứ trụ triều đình” là một thực thể uy quyền, trong đó Tổng Bí Thư Đảng là một cột trụ cùng với ba cột trụ Chủ Tịch Quốc Hội (Lập Pháp), Chủ Tịch Nước, và Thủ Tướng (Hành Pháp và Tư Pháp) đều là thành viên của Bộ Chính Trị, thực hiện các kế sách chủ trương đối ngoại và đối nội của Bộ Chính Trị, tinh hoa của Ban Bí Thư Trung Ương Đảng và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhân sự lãnh đạo Bộ Chính Trị, do đó, không dựa theo tuổi để nói là đến tuổi hưu, quá tuổi hưu, hay còn trẻ tuổi; không dựa theo giới tính để cho ra tỷ lệ bao nhiêu phần trăm nam, bao nhiêu phần trăm nữ; không dựa theo sắc-tộc-chủ-nghĩa để cho ra tỷ lệ dân tộc bất kỳ. Tất cả chỉ dựa vào kinh nghiệm, uy tín, năng lực, trí tuệ, sự kiên định chính trị hiến định, và lòng ái quốc cao nhất. Sẽ là đại phúc của quốc gia nếu có những nhà lãnh đạo còn rất nhiều năm mới đến tuổi hưu nhưng đã hội đủ tất cả những tiêu chí quan trọng mang tính “đầu óc” này.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải là cường quốc kinh tế để hiện thực hóa hiện đại hóa quân đội để trở thành thủ lĩnh của ASEAN.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

a) Ghi chú:

Với tư cách nhà quản trị nhân sự học, tôi từng tư vấn cho các tập đoàn nước ngoài về đặc điểm số 2 ở trên để các tập đoàn này đừng bao giờ vướng phải do không hiểu biết về sự thật mang đặc tính dân tộc ấy, để rồi gặp khó khăn trong điều hành chi nhánh tại Việt Nam; nghĩa là dù dùng người ngoại quốc, Việt Kiều, hay người Việt cũng phải trên cơ sở ưu tiên chọn người đã đứng tuổi mới tránh được thất bại. Là người luôn giữ chức vụ lãnh đạo khi vẫn còn “trẻ” và dù luôn tạo điều kiện cho các nhân viên thuộc quyền còn trẻ lên nắm quyền trong các kế sách kế thừa succession plan, tôi vẫn khẳng định rằng sự già dặn là cực kỳ quan trọng, mà sự già dặn đến từ kinh nghiệm tích lũy phong phú dồi dào bất kể tuổi tác của người đó, nghĩa là người lớn tuổi hơn có nhiều cơ may có nhiều kinh nghiệm hơn còn người trẻ tuổi hơn buộc phải nỗ lực tối đa để có nhiều kinh nghiệm sớm hơn như đã nêu trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

b) Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 26-10-2013. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Hữu Phước. 12-9-2014. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

Hoàng Hữu Phước. 03-12-2015. Tranh Giành Ngôn Từ.

Hoàng Hữu Phước. 16-12-2015. Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII.


Lời Răn Ngắn Gọn Dành Cho Lãnh Đạo Doanh Nghiệp Nhà Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

1) Lãnh đạo cấp dưới của cấp cao

Nếu anh “đì” nhân viên thuộc quyền thì

– Chính anh tự khẳng định anh có trình độ chuyên môn thấp hơn nhân viên ấy;

– Chính anh tự khẳng định anh xuất thân hèn kém vì có bậc sinh thành đã truyền cho anh cái thủ thuật mà bậc sinh thành ấy đã áp dụng nhuần nhuyễn đến độ nó trở thành bí kíp truyền lưu cho hậu thế của gia tộc;

– Chính anh tự khẳng định anh có khả năng cướp công của nhân viên thuộc quyền; và

– Chính anh sẽ không sớm thì muộn lâm vào vòng lao lý vì thành tích cướp công và đì của anh sẽ đưa anh lên vị trí cao hơn, mà càng cao thì năng lực thấp kém của anh càng trở nên hiển nhiên, rõ nét, cũng như càng lên cao thì cái tiêu cực cha truyền con nối của anh sẽ làm anh trở thành tên tham nhũng lớn hơn, táo bạo hơn, và ngu ngốc hơn.

2) Lãnh đạo cấp cao nhất

Nếu anh thực sự có tài lãnh đạo và xứng đáng với chiếc ghế lãnh đạo cấp cao nhất thì

– Điều tiên quyết là anh phải ra quy định trong toàn cơ quan và các chi nhánh của anh là tất cả các nhân viên đều có quyền gởi các kiến nghị trực tiếp đến anh mà không cần thông qua lãnh đạo tại chỗ, vì đây là điều giúp anh ngăn chặn được hành vi “đì” của lãnh đạo dưới anh khiến nhân viên phải hoặc ra đi hoặc biến thành thụ động hoặc tiếp tay hình thành phe nhóm tiêu cực với lãnh đạo cấp dưới ấy, mà cả 3 tình huống này đều gây hại cho sự nghiệp của chính anh;

– Việc trên còn giúp anh ngăn chặn được sự tỏa sáng bất minh bất chính bất ngờ của vị lãnh đạo dưới anh ấy khiến không sớm thì muộn hắn cũng bò trườn lên gần anh và tất nhiên soán lấy ngôi vị trị vì của anh; ngoài ra,

– Việc trên còn giúp anh xóa tan các xúc xiểm có thể có đến bậc sinh thành của anh, vì hai điều kể trên đủ cho thấy anh đã lớn lên từ một môi trường trong sạch, lành mạnh, tức tiền đề cho anh có được thực tài để ngồi vào chiếc ghế ấy; và

– Cuối cùng, song không bao giờ có tầm quan trọng kém hơn những điều trên, là việc phải theo thứ tự của quy trình của bảng sơ đồ tổ chức chỉ thuần túy có giá trị liên quan đến các tờ trình chính thức, các bản báo cáo chính thức mang tính nghiệp vụ cơ sở, chứ không bao giờ được áp đặt cho việc đóng góp ý kiến (hoặc gởi thông tin mật có giá trị quan trọng ảnh hưởng đến toàn cơ quan hay toàn công ty) của nhân viên ở cơ sở, phòng ban, chi nhánh nào đó, để các ý kiến đóng góp hoặc các thông tin mật này của bất kỳ nhân viên nào cũng được chuyển ngay và trực tiếp đến anh thay vì phải theo hệ thống mà chính hệ thống ấy hoặc sẽ thay thế tên của tác giả ban đầu trước khi chuyển đến anh, hoặc sẽ làm các bản góp ý hay thông tin mật ấy không bao giờ đến được tay anh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard

Hoàng Hữu Phước, MIB

Cách nay một tuần tôi tình cờ đọc thấy một mục quảng cáo về buổi hội thảo về chủ đề Balanced Scorecard do các thuyết trình viên da trắng thuộc “công ty” Balanced ScoreCard đi rao bán Balanced Scorecard thực hiện, với giá tham dự vài triệu đồng/người, và như để phân bua vì sao có giá “đại hạ giá” chỉ có vài triệu đồng như thế, quảng cáo còn cho biết những buổi thuyết trình như thế ở Singapore và các nước khác thì giá tiền tham dự phải lên đến cả ngàn đô-la Mỹ/người. Tôi chợt nhớ đến bài viết tôi đã đăng trên Emotino ngày 31-8-2010 vạch ra 20 yếu điểm tai hại của cái gọi là Balance Scorecard ấy, nay xin lập lại dưới đây để các độc giả có thêm thông tin về điều tuy cũ và ế đang được gia cố hào quang chào hàng trở lại tại Việt Nam.

20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vào năm 2002 khi tham dự một hội nghị về Nhân Sự Human Resources khu vực Châu Á tại Hong Kong, tôi nghe một đồng nghiệp Mỹ báo cáo về Balanced Scorecard (gọi tắt là BSC hay nghĩa tiếng Việt hiện đang được tạm dùng là Bảng Điểm Cân Bằng), và qua năm 2003 khi tham dự một hội nghị quốc tế về Luật tại Rex Hotel, Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lại thấy một diễn giả Singapore nói về Balanced Scorecard, tạo sự quan tâm vừa phải nơi một số người Việt có mặt. Với kinh nghiệm thuần Việt kiểu Võ Nguyên Giáp – Giapist experience hay Giap-styled experienece – mà tôi luôn không những trải nghiệm cho chính bản thân trong bước đường sự nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau mà còn hay thuật lại với lòng kiêu hãnh cao hơn Non Thái (núi Thái Sơn của…Tàu) với bè bạn nước ngoài về việc giáo viên Sử Ký tiểu học Võ Nguyên Giáp của Việt Nam đã đánh bại tất cả các danh tướng quý tộc Pháp cũng như vĩnh viễn chôn vùi tên tuổi các tướng lĩnh lừng danh xuất chúng xuất thân xuất phát xuất hiện từ các học viện quân sự danh giá nhất thế giới như West Point của Hoa Kỳ, tôi không bao giờ xem trọng những đồn thổi về học thuật nước ngoài, nên khi học lớp Đệ Lục (lớp 7) đã bài xích phương pháp Direct Speech dạy tiếng Anh của Mỹ (phương pháp này sau đó phá sản); lớp Đệ Ngũ (lớp 8) tuyên bố với Thầy Cô dạy tiếng Anh rằng nhà xuất bản McGraw Hill của Mỹ đã sai lầm khi cải biên English for Today điều chỉnh gia tăng quá nhiều trọng tâm cho “nói” (và thực tế là 4 năm sau đó sự điều chỉnh đó đã chôn vùi vĩnh viễn bộ sách dạy tiếng Anh duy nhất tuyệt diệu trên thế giới này); lớp Đệ Nhất (lớp 12) khẳng định với bạn học rằng kiểu thi trắc nghiệm không bao giờ phù hợp với sự phát triển trí hóa người Việt ở Việt Nam (đúng cho đến tận ngày nay với bằng chứng về sự thất bại nơi các học sinh “tốt nghiệp”); và lớp Thạc Sĩ xem MBO (Management by Objective) chỉ là một thứ ý tưởng thú vị chỉ có giá trị tham khảo đơn thuần (nay gần như chẳng mấy ai còn quan tâm đến MBO, thậm chí còn xem nó là thủ phạm gây ra các hành vi vi phạm đạo đức trong kinh doanh), phê phán BOP (Bottom of Pyramid) là kiểu vơ vét lấn sân đáng thương hại của đại gia tư bản, và khẳng định Chindia (Trung Quốc + Ấn Độ) là một gán ghép bạo hành không tưởng vì đã không màng đến bản chất thực tế ngàn năm (và thực tế đã chứng minh cái gọi là Chindia đã tự biến mất khỏi tháp ngà kinh tế một cách lặng lẽ đầy tủi nhục). Tương tự, Balanced Scorecard đối với tôi cũng chẳng khác gì một nghiên cứu, một đề xuất, một khởi xướng kiểu MBO mà ai muốn tham khảo thì tham khảo, muốn áp dụng thì cứ bỏ tiền tỷ ra mà áp dụng, chứ hoàn toàn không có giá trị như một chân lý áp đặt kiểu toán học “hai cộng hai là bốn” tức “áp dụng Balanced Scorecard là thành công”.

Hai mươi vấn nạn thường gặp nhất khi đưa vào áp dụng Balanced Scorecard là:

1- Các công cụ định lượng để đánh giá định tính rất nghèo nàn;

2- Thiếu các động thái thu thập và báo cáo dữ liệu hiệu quả;

3- Thiếu cơ chế nhận xét chính quy chuẩn mực;

4- Quá tập trung hướng nội sao cho đạt chuẩn mà bỏ mặc các hướng ngoại đối với nguy cơ đe dọa từ đối thủ cạnh tranh hay các cơ hội phát triển kinh doanh tức hai mặt quan trọng của phân tích SWOT;

5- Khi đưa Balanced Scorecard áp dụng vào doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sẽ phát sinh các bất tiện như

  1. a) Tốn rất nhiều thời gian và công sức (thường thì mất từ 2 đến 3 tháng để xong các khâu đầu tiên của quy trình Balanced Scorecard, và mất khoảng hơn 2 năm quy trình ấy mới vận hành đầy đủ, trong khi việc đào tạo công nhân vẫn phải được tiếp tục mãi, việc cập nhật vẫn phải được tiến hành mãi, việc đáp ứng các thử thách mới vẫn phải được tiếp diễn mãi, và lãnh đạo cao cấp buộc phải theo dõi mãi nhằm bảo đảm quy trình được tuân thủ chính xác);
  2. b) Buộc phải có hỗ trợ từ cấp cao nhất khiến quản l‎ý cấp cao khó tập trung vào công việc chuyên môn chức năng;
  3. c) Cần có nhiều nhân lực, tài lực, và ý chí để đương đầu với các thách thức, chẳng hạn toàn bộ công nhân phải được đào tạo tương thích, rất nhiều nhân viên phải tập trung tạo các lượng chuẩn phục vụ định lượng, phải sắm phần mềm quản trị tương ứng (kể cả chi phí cao của bản quyền phần mềm, lắp đặt, thử nghiệm, mà riêng phần bảo trì thường ở mức 20% chi phí ban đầu);

6- Tỷ lệ thất bại lên đến 70% trong số các doanh nghiệp Âu Mỹ có áp dụng Balanced Scorecard (ngay cả cha đẻ của “cuộc cách mạng tái cấu trúc” là Mike Hammer cũng cho ra nhận xét rằng có rất ít cấp quản l‎ý và nhân viên cho rằng các công cụ dùng định lượng tác vụ và đo lường mục tiêu đang được sử dụng theo quy trình Balanced Scorecard tại công ty họ thực sự giúp công ty đạt được các mục tiêu kinh doanh);

7- Cấp cao nhất buộc phải giao quyền lực cho rất nhiều nhân viên;

8- Hàng năm phải chi nhiều tiền để tái gia hạn hiệu lực các chuẩn định lượng đánh giá định tính;

9- Tất cả những thành phần trong “các bên có liên quan” – như khách hàng chẳng hạn – đều phải được tham vấn trực tiếp để biết và đưa các mong muốn của họ vào các chuẩn định lượng đánh giá định tính của công ty;

10- Hoàn toàn không có công cụ trung gian để đánh giá một dự án Balanced Scorecard;

11- Balanced Scorecard không là sản phẩm của Thế Kỷ XXI nên không thể võ đoán cho rằng nó có thể giải quyết được các vấn nạn quản trị chưa xuất hiện trong Thế Kỷ này;

12- Mỗi phòng ban trong một doanh nghiệp đều có những công cụ tác nghiệp riêng, có khi để đáp ứng các yêu cầu luật định hay pháp định của các cơ quan chức năng Nhà Nước, trong khi Balanced Scorecard lại đề ra thêm các công cụ khác, dễ gây rối chức năng hoạt động các phòng ban này;

13- Những phạm vi như “sự hài lòng của khách hàng” khó thể dựa vào kết quả của một “công cụ định lượng” để cho ra một đánh giá đúng;

14- Sự đồng thuận của tất cả ban lãnh đạo, tập thể nhân viên và công nhân đối với dự án Balanced Scorecard của doanh nghiệp là rất lý tưởng – và do đó, không có thật;

15- Balance Scorecard bị vô hiệu hóa khi có các biến động lớn trên thị trường hay trong ngành nghề kinh doanh;

16- Balance Scorecard chỉ có thể thành công khi bản thân nó được tạo lập ở mức đơn giản nhất có thể được – mà như thế sẽ phát sinh nghi vấn liệu có nên đầu tư quá nhiều cho một dự án không thể thành công nếu môi trường kinh doanh đa dạng và phức tạp;

17- Dự án Balanced Scorecard nhất thiết phải được hiểu thấu cặn kẽ bởi tất cả mọi người – không trừ một ai – và bởi tất cả các phòng ban/bộ phận – không trừ một đơn vị nào, nên khó đạt yêu cầu;

18- Balanced Scorecard không phát huy tác dụng với các kế hoạch ngắn hạn, nên đòi hỏi trình độ và tầm nhìn của doanh nghiệp phải hướng đến dài hạn;

19- Không có các liên kết giữa các chuẩn đánh giá và kết quả, khiến thế mạnh của Balanced Scorecard trong hình thành hành vi đúng mực lại biến thành tử huyệt Gót Chân Achilles khi thường xuyên phát sinh nguy cơ tạo nên các hành động và hành vi không mong đợi, phá hỏng nền nếp doanh nghiệp; và trong khi tiêu tốn khối lượng khổng lồ công lao động và ngân sách của doanh nghiệp thì

20- Balanced Scorecard vẫn không có giá trị đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thông tin của cấp lãnh đạo.

Mike Hammer qua tác phẩm của ông mang tựa đề The Seven Deadly Sins of Performance Measurement (Bảy Tội Lỗi Chết Người Trong Đánh Giá Tác Nghiệp) đã cho ra năm nhận định đối với những thất bại của các dự án đánh giá định lượng các định tính của hiệu quả công việc hay tác nghiệp như (a) nguy cơ có những chuẩn đánh giá chỉ có lợi cho những ai “sáng tạo” ra các chuẩn ấy, (b) thiếu sự tham vấn của tất cả “các bên có liên quan” với doanh nghiệp, (c) không ai biết hành vi nào sẽ nảy sinh nơi một người được đánh giá nếu một chuẩn đánh giá được đưa ra áp dụng, (d) không có bất kỳ một “chuẩn” nào để “đánh giá” một vấn nạn nổi cộm trong doanh nghiệp, và (e) chẳng có toàn ban lãnh đạo nào dành 100% sức lực và thời gian để hỗ trợ và tham gia vào dự án Balanced Scorecard ngay tại chính doanh nghiệp của minh cả.

Đó là lý do vì sao mỗi khi nêu các “case study” nhằm khoe thành tích và minh chứng cho sự “thành công” của Balanced Scorecard, các công ty cung ứng giải pháp Balanced Scorecard (kể cả rất nhiều công ty mong muốn làm giàu với việc bán các phần mềm quản trị Balanced Scorecard) chỉ có thể nêu vài trường hợp của những công ty mà nếu không do phe Balanced Scorecard kể ra thì chẳng ai biết hóa ra có mấy cái thương hiệu lạ hoắc ấy trên thương trường quốc tế. Với tham vọng đánh bóng cho sản phẩm của mình, cha đẻ của Balanced Scorecard thậm chí còn khuyên chính phủ – cụ thể là chính phủ Việt Nam – nên áp dụng Balanced Scorecard vào quản lý Nhà Nước với một minh chứng rất hùng hồn về sự thành công của một quốc gia khác – cụ thể là một nước Châu Phi chưa thoát nghèo – cũng đủ cho thấy Balanced Scorecard BSC ngoài việc giống y như MBO ở chỗ phát sinh ra thêm khối lượng giấy tờ khổng lồ cho doanh nghiệp – và…chính phủ – áp dụng, sẽ còn giống y như MBO ở chỗ sẽ nhanh chóng bị loại thải như một lẽ đương nhiên.

Nói tóm lại, Balanced Scorecard chẳng khác gì chiếc Tivi 3D với nhiều phiền toái mà người ta mua có thể vì hiếu kỳ, vì hiếu thắng, vì hiếu thảo, vì hiếu khách, vì hiếu chiến, hay đơn giản chỉ vì hiếu sự cần một vật dụng trang trí cho phòng khách, dù biết rõ mười mươi là chẳng mấy chốc giá sẽ rớt và công nghệ mới hơn sẽ nhanh chóng xuất hiện. Ông Đoàn Đình Hoàng đã sử dụng tài tình câu thơ số 489 của Truyện Kiều vào bài viết của Ông trên Emotino về công nghệ 3G của điện thoại di động, nay tôi bắt chước đem câu ấy để kết cho bài viết này – cũng như các bài viết tương tự khác của tôi đối với các sản phẩm liên quan đến quản trị của thế giới Phương Tây – vậy:

Rằng: Hay thì thật là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế