Category Archives: Sài Gòn

Hoàng Hữu Phước Sống Trong Lòng Người Dân

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2019

Người Việt sính ăn nói phóng đại.

Lịch sử Việt hình như do có quá ít người vĩ đại về văn hóa học thuật nên các nhà viết sử (giỏi hơn “nhà sử học” chỉ “học” những gì “nhà viết sử” viết nên) thường hoặc sáng chế tưởng tượng hoặc phóng đại, rồi lây lan cái tật ấy cho đến ngày nay. Chớ biết dựa vào bằng chứng nào mà vẫn mạnh miệng nói Chu Văn An có dâng cái gọi là “Thất Trảm Sớ” đòi xử trảm bảy đại thần. Chớ biết dựa vào bằng chứng nào mà vẫn mạnh miệng nói Trương Vĩnh Ký là “nhà bác học biết hàng chục thứ tiếng nước ngoài”. Chớ biết dựa vào bằng chứng nào mà vẫn mạnh miệng nói về ý nghĩa cao vời của Phan Bội Châu và cái “Phong Trào Đông Du” của ông. Và chớ biết dựa vào bằng chứng nào mà vẫn mạnh miệng nói lãnh đạo này lãnh đạo nọ của Đảng Cộng Sản Việt Nam “sống trong lòng nhân dân”.

Tôi là người duy nhất có quyền nói chính xác về sự vô tích sự, sự sai lệch chệch hướng, lý do duy nhất đúng về sự thất bại thảm hại của “Phong Trào Đông Du” đối với lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt Nam, tổ quốc Việt Nam. Đơn giản vì tôi là con cháu của một “nhà chí sĩ” của cái “phong trào” ấy. Ông lão tóc bạc bên góc trái bức hình trên chụp trong lễ cưới của tôi và cô giáo Vũ Thị Liên chính là Lê Phục Thiện (tức Lê Quốc Túy, nhân vật tôi nói đến trong bài Chính Kiến Hoàng Hữu Phước), là “chú” của cô dâu. Cần nói thêm là cha mẹ vợ tôi sinh hạ nhiều con mà người con gái cả lớn bằng tuổi mẹ của tôi, còn vợ tôi cùng cô em út thì nhỏ tuổi hơn tôi. Do cha mẹ vợ tôi bằng tuổi với ông bà ngoại của tôi, nên theo lẽ bình thường thì “chú” Lê Trọng Thiện lớn tuổi như bố của bố tôi vẫn là vai “chú” của tôi. Con cháu của “chú” vẫn đang ở tại Dương Bá Trạc, Quận 8, bên kia Cầu Chữ Y, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Quay trở lại “sống trong lòng nhân dân”, tôi cần nhắc lại một luận điểm tam trùng về ngôn ngữ Việt rằng tiếng Việt có rất nhiều chữ cho một chữ tiếng nước ngoài thuộc nhóm danh xưng nên diễn tả được cụ thể hơn, chính xác hơn, biểu cảm hơn; đồng thời tiếng Việt có quá ít chữ thuộc nhóm biểu đạt trừu tượng và miêu tả nên một chữ tiếng Việt hoàn toàn thất bại trong các nỗ lực biểu đạt trừu tượng và miêu tả để thích hợp với nhiều chữ của nước ngoài; trong khi đó tiếng Việt lại có trường hợp dùng một từ cho nghĩa bóng nhưng với nhiều hơn một nghĩa.

Thí dụ cho vấn đề tam trùng nêu trên có thể xét đến trường hợp

(a) Chữ “I” tiếng Anh thua tiếng Việt (tôi, tao, tớ, bố, mẹ, ông, anh, chị, cô,cậu, thím, dì, bác, chú, thầy, cô, bản chức, trẩm, nhi thần, anh, em, cháu, con, v.v.) nên không biểu đạt được vai vế và tình cảm trong danh xưng hay bằng tiếng Việt.

(b) Chữ “Biểu Tìnhtiếng Việt thua tiếng Anh (protest, rally, demonstration, march, vigil, picket, civil disobedience, ceremony, dramaturgical demonstration, motorcade, tabling, petition gathering, lobbying, letter-writing campaign, teach-ins, symbolic display, menorah, creche scene, graffiti, cross burnings, signs, standing displays, riot, melee, mob violence, strike, boycott, press conference, v.v. và v.v.) nên rối loạn ý nghĩa tơ vò khiến Bộ Công An Việt Nam bất lực không biết có được xử lý mạnh tay hay không hay phải nhũn xèo đối với một “biểu tình” cụ thể nào đó, còn Quốc Hội Việt Nam thì lúng túng trong soạn thảo “Luật Biểu Tình” đến độ phải chấp nhận nghe theo lời khuyên của Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cho gởi dự án ấy vào bãi Rác Đa Phước chờ đến khi nào nghị sĩ Hoàng Hữu Phước “quởn” sẽ thủng thỉnh trở lại Quốc Hội đích thân biên soạn sau.

(c) Chữ “lòng” tiếng Việt lại dùng trong cả nghĩa đen và nghĩa bóng, đặc biệt nghĩa bóng lại có ít nhất 3 nghĩa khác nhau nên báo chí chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam thường lạm dụng nghĩa bóng của “lòng”. “Bác Hồ sống mãi trong lòng dân”: lòng đồng nghĩa với “tâm khảm”. “Ý Đảng, Lòng Dân”: lòng đồng nghĩa với “mong muốn”. Còn kịch tuồng cải lương thì “Lòng lang dạ sói” và “lòng dạ đàn bà” hoặc “hiểu cho lòng em”: lòng đồng nghĩa với “ý đồ”, “con tim”.

Khác với Nguyễn Thị Quyết Tâm thoát ly (bỏ gia đình) vào chiến khu để sống trong lòng dân với chữ dân đồng nghĩa với một số ít “đồng chí”) và Trương Tấn Sang sống trong lòng dân với chữ dân đồng nghĩa với một số ít dân nghèo kênh rạch Quận 4 Sài Gòn “che dấu cán bộ”) để thực hiện dấu súng lục phục vụ ám sát, Hoàng Hữu Phước sống trong lòng dân với chữ dân có nghĩa là “thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa với toàn bộ các sinh hoạt chính trị/văn hóa/xã hội/tôn giáo/giáo dục/báo chí/ngoại giao”. Nguyễn Thị Quyết Tâm và Trương Tấn Sang đã không sống trong lòng dân với ý nghĩa bao trùm trọn vẹn Sài Gòn trong chiến tranh, và sau chiến tranh luôn sống trong tháp ngà quyền lực chứ không “sống trong lòng người dân” tức chỉ gần dân “đại cử tri” mỗi khi “tiếp xúc cử tri” để nhận sự lập đi lập lại các đơn khiếu tố triền miên của “nhân dân” Thành Phố Hồ Chí Minh. Và tất nhiên đương nhiên trong ba người – kể cả trong toàn bộ Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh rồi  toàn bộ lãnh đạo Thành Ủy và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 30-4-1975 đến nay – chỉ có Hoàng Hữu Phước biết đầy đủ nhất thực tế nhất về sinh hoạt chính trị/văn hóa/xã hội/tôn giáo/giáo dục/báo chí/ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa do là người duy nhất thực sự sống trong lòng sinh hoạt chính trị/văn hóa/xã hội/tôn giáo/giáo dục/báo chí/ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa để có dư thừa cơ sở để tự ban cho mình danh vị Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học duy nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Người Việt sính phóng đại.

Nhưng Hoàng Hữu Phước không bao giờ phóng đại mà chỉ luôn nêu lên sự thật do bản thân tất nhiên phù hợp với vai trò lãnh đạo truyền thông chính thống của quốc gia. Việc Hoàng Hữu Phước sống trong lòng dân là sự thật giản đơn, thuần khiết.

Sự thật giản đơn thuần khiết ấy chỉ để chứng minh tất cả những gì Hoàng Hữu Phước nói về Phan Bội Châu , Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Chế độ “Zero Đảng” của Việt Nam Cộng Hòa, tuyệt thực, v.v., cũng như những ủng hộ tuyệt đối mà Hoàng Hữu Phước chỉ dành cho chủ nghĩa cộng sản và cho chế độ “độc đảng” ở Việt Nam, v.v, là tuyệt đối đúng, tuyệt đối đúng đắn, tuyệt đối chính xác, tuyệt đối thấu thị.

Nói có sách, mách có chứng. Đó là lý do Hoàng Hữu Phước bất khả chiến bại về hùng biện chính đạo và chính trị. Đó cũng là lý do Hoàng Hữu Phước trở thành cái gai của truyền thông chính thống giả trá, gian dối, hèn hạ, tay sai lợi ích nhóm, chuyên quyền, kiểu Fake News Phản Đảng mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lỡ dung dưỡng hoang đường trao vào tay nó chiếc Thượng Phương Bảo Thẻ đầy quyền lực lũng đoạn chính trị mà nó sẽ không bao giờ chịu trả lại theo lịnh của bất kỳ ai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Việt-Nam Cộng-Hòa Học, Nhà Biểu-tình Học, Nhà Sử Nghiên

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Bãi Rác Đa Phước: Rác Rến 28-02-2017

Biểu Tình: Luật Biểu Tình.  26-5-2014

Chế độ độc đảng ở Việt Nam: Luận Về “Đa Đảng” 27-6-2019

Chế độ Zero Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Chu Văn An: Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo”   25-4-2019

Đơn khiếu tố triền miên của nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh: Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân 28-12-2015

Hoàng Hữu Phước bất khả chiến bại về hùng biện: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước  20-5-2019

Lê Phục Thiện & Lê Quốc Túy: Chính Kiến Hoàng Hữu Phước  21-4-2018

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Nhà Sử Học: Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Nguyễn Thị Quyết Tâm: Nguyễn Thị Quyết Tâm January 22, 2016

Phan Bội Châu: Chính Kiến Hoàng Hữu Phước  21-4-2018

Phản Đảng: Khi Cựu Quan Chức Cầu Cứu (Loạn Kiêu Đảng) 06-10-2016

Phong Trào Đông Du: Chính Kiến Hoàng Hữu Phước  21-4-2018

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: Nguyễn Văn Thiệu Trong Tương Quan Với Những Nhân Vật Lừng Danh Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới  01-5-2019

Tuyệt thực: Tuyệt Thực  02-7-2013

Thấu thị: Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Truyền thông chính thống giả trá, gian dối, hèn hạ, tay sai lợi ích nhóm kiểu Fake News: Hoàng Hữu Phước Đã Từng Nói Về Hai Vấn Đề Quan Trọng Của Chính Trị Việt Nam: Báo Của Đảng Và Trí Thức Của Đảng 10-5-2019  Loạn Kiêu Báo: Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  (Loạn Kiêu Báo) 05-8-2016

Truyền Thông Phản Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông  16-11-2016

Vũ Thị Liên: Đám Cưới 09-12-2015

Ủng hộ tuyệt đối của Hoàng Hữu Phước: Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng 09-6-2008

Quà Vặt Đường Phố Sài Gòn

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-9-2019

Lần nào ngừng xe ở đèn đỏ đường Nguyễn Đình Chiểu gần ngã tư Cách Mạng Tháng Tám tôi cũng mãi mê nhìn qua khung cửa đến chiếc xe bán quà vặt trong ảnh trên.

Chiếc xe ấy trên lề đường công viên tượng đài Thích Quảng Đức. Cũng chính nơi ngã tư này, lịch sử bi tráng của Việt Nam đã chứng kiến thời khắc lịch sử chấn động địa cầu khi nhà sư Thích Quảng Đức tọa thiền ngay giữa ngã tư đường, điềm tĩnh châm lửa biến nhục thể thành ngọn đuốc sống ngời sáng chân lý mà Hoàng Hữu Phước diễn giải qua nội dung ca ngợi như một cuộc “đấu tranh thực thụ vì chân lý thực thụ với lòng dũng cảm thực thụ từ một lòng nhân thực thụ vì chúng sinh/đạo pháp/chính nghĩa/dân tộc/tổ quốc để đạt đến một chiến thắng thực thụ và viên mãn cho tổ quốc Việt Nam”, sự hy sinh dũng cảm mà ngoài Thích Quảng Đức cùng hai vị sư như Người, không từng có bất kỳ ai từ bọn chính khách thất học đến bầy tu sĩ mất dạy nào dám thể hiện tương tự ngoài việc bọn trước đã lạm dụng “làm chính trị đối lập chống Thiệu” để tuyệt thực diễu hề còn bọn sau hiện lạm dụng “tôn giáo” để xách động “biểu tình đối lập chống…Tàu” mà thực chất là làm tay sai ngoại bang phản động chống phá Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, với đặc điểm cả hai bọn lạm dụng này thì bọn trước đã là losers tức bọn thất bại tồng ngồng chạy khỏi Việt Nam, còn bọn sau thì không bao giờ thoát kiếp doomedlosers tức đương nhiên thất bại.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước (ghi chú: đây là mẫu câu do Hoàng Hữu Phước sáng tác và đưa vào sử dụng ngày 01-01-2000 bằng tiếng Việt và tiếng Anh mà hiện nay toàn thế giới – đặc biệt là truyền thông chính thống Việt Nam – bắt chước sử dụng), tôi hay đi bộ ra chỗ xe lề đường ấy để mua những món tuyệt diệu như cóc ngâm, ổi ngâm, chùm ruột ngâm, mứt chùm ruột cắm que môi que năm trái mập ú, me vàng ngâm nguyên trái, me nâu ngào đường cát, me nghiền ép miếng đỏ tròn lớn như đồng bạc cắc Ngô Tổng Thống, và xí muội, kẹo dẻo, v.v. và v.v.

Như đã nói rõ trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa, vệ sinh an toàn thực phẩmtay nghề cha truyền con nối là hai thứ tuyệt diệu duy nhất tồn tại nơi những người buôn gánh bán bưng thực phẩm nơi đầu đường xó chợ đất Sài Thành thời Việt Nam Cộng Hòa mà tôi gọi là những người làm những nghề không-thể-giàu. Hai thứ tuyệt diệu duy nhất ấy hình thành từ gia giáo thiên Khổng luôn trên 4 nguyên tắc của (a) nhân đạo, (b) danh dự, (c) trách nhiệm, và (d) phong cách nghèo-cho-sạch/rách-cho-thơm, chứ không từ ý thức thượng tôn luật pháp rẻ riêng.  4 nguyên tắc mang hình thức ngôn từ vĩ đại ấy thật ra lại cực kỳ bình dị giản đơn nơi người nghèo Sài Gòn buôn gánh bán bưng thực phẩm trước 1975 gồm:

(a) Nhân đạo: phải giữ vệ sinh tuyệt đối vì gây bịnh cho người ăn sẽ là tội ác với Trời Phật và đơn giản vì chính gia đình mình sẽ ăn những thứ ngon và lành ấy nếu bị ế sau cả ngày dài bán không hết, từ đó xuất hiện thành ngữ “lấy công làm lời” của người nghèo nghĩa là chỉ chọn mua nguyên liệu thượng hạng, phải chuẩn bị mọi thứ sạch sẽ tuyệt đối trước khi chế biến, phải bảo quản che chắn cẩn thận trước khi bắt đầu gánh hoặc đẩy xe thức ăn đi bán dạo, và giá bán chỉ gồm giá thực của nguyên liệu cộng với một chút gọi là “công” chế biến món ăn – nghĩa là chỉ có bọn gian thương mới hoặc nâng giá nguyên liệu hoặc mua nguyên liệu thứ phẩm để kiếm lời theo giá chính phẩm;

(b) Danh dự: món ăn bán phải ngon phải lành phải rẻ vì đó là tay nghề do cha mẹ truyền lại, dứt khoát không để ô danh mẹ cha;

(c) Trách nhiệm: món ăn bán phải làm khách hàng thỏa mãn ba yêu cầu của ngon, bổ, rẻ; và

(d) Phong cách nghèo-cho-sạch/rách-cho-thơm: bán món ăn không hết thì về quây quần cả nhà ăn trừ cơm, dứt khoát không chèo kéo khách hàng, không năn nỉ van xin khách hàng mua giúp.

Ngần ấy thứ đơn giản mộc mạc tự thân ấy đã giúp (a) người nghèo được tôn trọng tại  Việt Nam Cộng Hòa và tất cả những tuồng kịch nào có tình huống khinh rẻ người nghèo là do tác giả kịch bản lộn sai qua nội dung “môn đăng hộ đối” chỉ có dưới thời Pháp Thuộc trước đó, (b) người dân yên tâm tuyệt đối khi cho con cháu tiền mua món ăn đường phố, (c) ẩm thực đường phố Việt Nam Cộng Hòa cực ngon, và (d) đạo đức xã hội được tôn tạo duy trì.

Vào mỗi ngày Chủ Nhật, như đã kể bao lần trên blog này, Ba tôi áo quần tươm tất (sơ mi trắng dài tay bỏ trong quần tây dài hai ống, có thắt cra-vát, có thắt lưng, mang giày tây có vớ), Má tôi mặc áo dài đơn sắc, gọi taxi đưa các con ra Sài Gòn xem phim Ấn Độ ở Rạp Long Phụng (nay là đường Lý Tự Trọng), rồi sau đó tản bộ ra ngã tư của nơi mà nay là Lê Lợi-Pasteur ghé vào nơi một ông người Hoa dựng xe đạp trên lề đường, yên sau xe là chiếc mâm thiếc to đùng bày ra các món gọi là “khìa” và “phá lấu” làm từ lòng heo, xắt miếng nhỏ, khô ráo tinh tươm chứ không sũng chảy nhễu nước sốt, mỗi miếng có cắm một cây tăm. Thế là chúng tôi hân hoan hồ hởi phấn khởi ăn quá chừng chừng, và ông người Hoa tính tiền dựa theo số lượng chiếc tăm khách hàng bỏ lại trên chiếc chén đựng tăm. Rồi sau khi cả nhà đi dạo nơi gọi là “Thương Xá Tax”, Ba Má tôi dẫn các con đi ăn tại một tiệm cơm Tàu/mì Tàu mà tôi quên mất các đặc điểm. Chỉ có một điều duy nhất chính xác: chưa bao giờ bất kỳ ai trong gia đình tôi từng trải qua cái mà sau này thiên hạ gọi là “rối loạn tiêu hóa” hay “ngộ độc thực phẩm” cả.

Hơn 50 năm đã trôi qua, tôi vẫn nhìn thấy chiếc xe ấy tại chỗ ấy như trong bức hình ở trên. Có lẽ cô bán hàng là con cháu của bà cụ ngày xưa. Tôi không ghé vào mua gì, không phải vì tôi không còn thèm muốn ăn các món ấy. Tôi không ghé vào mua gì, không phải vì tôi không còn tin tưởng vào vấn đề vệ sinh tuyệt đối như thời Việt Nam Cộng Hòa của các món ấy. Tôi không ghé vào mua gì, chỉ vì ngày nay xe cộ đông đúc quá, tất bật quá, hối hả quá, thiên hạ hung hăng hung hãn hung bạo quá, nên tôi không thể nào hạ cửa kính xe xuống nói vọng vào rồi chờ vói tay nhận hàng và thanh toán tiền trước tiếng còi xe thúc hối cùng tiếng làu bàu chửi bới được. Đã vậy, GrabFood lại không có mục giao thức ăn cho những xe lề đường như vậy. Đành chịu thôi.

Mỗi khi tình cờ chuyển nhầm kênh thấy đoạn phim hay đoạn kịch hay đoạn tuồng Việt Nam về “môn đăng hộ đối” là tôi cười sặc sụa, bảo “tụi này đang diễn cảnh trên Hỏa Tinh”. Tôi từng kể trên blog này rằng căn nhà kế bên nhà Ba Má tôi trong ngõ 16/72 Nguyễn Thiện Thuật Quận 3 ngày xưa có một đám cưới khổng lồ. Cô dâu là Nguyễn Thị Hòa, em gái của Ông Hai Bà Hai gia đình Bắc Di Cư. Ba Má tôi xem Nguyễn Thị Phượng, con gái út của Ông Hai Bà Hai như em gái. Cô Phượng hay sang bế tôi khi tôi lên một tuổi. Nghĩa là tôi phải gọi cô dâu tên Hòa ấy là “Bà”. “Bà” Nguyễn Thị Hòa là cô gái “Bắc Kỳ nho nhỏ” rất thấp bé, rất gầy ốm, rất trắng trẻo xanh xao, miệng rất “hô”, nhút nhát. Gia đình Ông Hai Bà Hai rất nghèo, nhà cửa rất lụp xụp, không lầu. “Bà” Nguyễn Thị Hòa là nhân viên văn phòng. Chú rể là Phạm George, gia đình Bắc Di Cư quốc tịch Pháp rất giàu có, dáng người rất cao to lực lưỡng, rất đẹp trai, tuấn tú, chủ nhân các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Sài Gòn. Khi bên “đàng trai” đến rước dâu, đám đông phải đứng ngoài đường trước nhà tôi vì không thể cùng chen chúc vào trong nhà chật hẹp của cô dâu. Tôi thấy bao ông Tây bà Đầm, bao công chúa Việt sang trọng, bao hoàng tử Việt trọng sang đứng xếp ve ắt trong lòng thấy bất tiện khi phải tháp tùng vào hẽm nhỏ xóm nghèo đứng lố nhố ngoài sân để thỉnh đón một nàng dâu Việt mà theo ngôn ngữ hạ đẳng của 2019 là “mặt mũi đã vậy mà không có cái vòng nào nóng bỏng ra hồn cả”, thậm chí kẻ độc mồm độc miệng còn có thể phang luôn rằng “hình hài như thế thì đẻ đái gì được!”  “Bà” Nguyễn Thị Hòa được thỉnh đón vì “Bà” thuộc gia đình gia giáo thiên Khổng, “Bà” có đủ 4 phẩm hạnh cao vời của nhân đạo, danh dự, trách nhiệm, và phong cách nghèo-cho-sạch/rách-cho-thơm như đã kể trên khi “Bà” thể hiện tại nơi làm việc để được gia đình đại tư bản thế gia vọng tộc phải kính trọng thương yêu. Sau 1975, “Bà” cùng chồng bế hai con trai bụ bẩm đến chào Ba Má tôi trước khi rời Việt Nam sang định cư tại Pháp.

Mỗi khi tình cờ chuyển nhầm kênh thấy đoạn tin tức về ngộ độc thực phẩm, tôi ngạc nhiên lẽ nào “công ty suất ăn công nghiệp”/canteen của xí nghiệp khổng lồ thời bốn-chấm-không lại không có 4 cái phẩm hạnh đơn giản ấy của người nghèo xưa buôn gánh bán bưng xó chợ lề đường?

Và mỗi khi tình cờ lướt web nhầm trang quảng cáo rất hoành tráng về tiệm “xôi gói lá chuối” to đùng, tôi cười sặc sụa, bảo “ái chà chà, thảo nào không còn những người nghèo xưa, vì bị bọn nhóc đại gia nhào ra bán món bình dân giành ăn hết trọi rồi!”  Xôi gói lá chuối ư? Cơm tấm ư? Họ chả biết là ở ngày xa xưa ấy, người bán cơm tấm/bán xôi buộc phải nghèo vì họ chỉ mua gạo tấm/gạo nếp thượng hảo hạng, chỉ theo công thức truyền thống cha truyền con nối chứ không dám “sáng tạo” xài hóa chất công nghiệp, và luôn dành gần nửa ngày chỉ để bảo đảm nguyên liệu gạo/rau/lá chuối được rửa sạch vệ sinh tuyệt đối trước khi đem ra chế biến. Xôi (người Miền Nam chỉ ăn xôi ngọt) ngon là do nếp thượng hạng được nấu theo công thức gia truyền, chứ không ngon vì “gói lá chuối”. Cơm tấm (người Miền Nam sành điệu chỉ ăn cơm tấm bì khô rời nhỏ, hoặc cơm tấm chả trứng, hoặc cơm tấm thịt heo nướng xắt miếng mỏng mềm) ngon là do gạo tấm thượng hạng được nấu theo công thức nấu và công thức pha nước mắm gia truyền, chứ không ngon vì tên của tiệm ăn/nhà hàng do người nội địa hay Việt Kiều làm chủ. Không biết các điều cơ bản này, các tiệm chỉ có thể bán cho giới trẻ tức những người sinh sau đẻ muộn chưa hề nếm qua các món ăn bình dân sang trọng Sài Gòn trước 1975 dành cho dân sành điệu, nên chỉ biết các món hoặc rẻ tiền hoặc mắc tiền của Thành Phố Hồ Chí Minh ngày nay dành cho người có tiền nhiều hay ít mà thôi.

Đó là lý do ngày nay tôi người-Sài-Gòn-xưa phải chuộng món ăn Tây.

Chúc cô bán món ăn vặt trên chiếc xe đẩy treo lủ khủ đồ ở công viên tượng đài Thích Quảng Đức ở ngã tư Nguyễn Đình Chiểu-Cách Mạng Tháng Tám Quận 3 Thành Phố Hồ Chí Minh mạnh khỏe nhé. Mong sao có ngày nào đó thiên hạ lo đi xem Bóng Đá để tôi có thể kêu tài xế ghé vào để mua vài chục ngàn đồng các món học trò của cô mà không phải nghe tiếng còi xe phẫn nộ và tiếng chưỡi tục của những con đười ươi trên những chiếc xe máy hai bánh giá cả trăm triệu đồng phía sau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

“Biểu tình đối lập chống…Tàu” mà thực chất là phản động chống phá Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017 (Nguyên tác: Letter to His Holiness Pope Francis August 1, 2017)

Bóng đá: Lại Bóng Đá  16-9-2019

Đối lập: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập  06-4-2015

Gia giáo thiên Khổng:Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa: Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa  17-11-2015

Mẫu câu do Hoàng Hữu Phước sáng tác năm 2000: Hoàng Hữu Phước, Người Việt Nam Đầu Tiên  19-12-2018

Tuyệt thực diễu hề: Tuyệt Thực  02-7-2013

Việt Nam Cộng Hòa

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, Nghị Sĩ Khóa XIII, Nhà Thế Giới Sử Nghiên, Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Tư Tưởng Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng

13-9-2019

Mở Mồm Bài

Mở Mồm Bài tức là Nhập Đề. Là thầy phù thủy ngôn từ, tôi hay nhảy múa với ngôn ngữ dù đó là tiếng Anh hay tiếng Việt. Mà nhảy múa phải “phăng-tê-zi” mới là bậc thầy. Nên trong tất cả các bài viết của tôi dù là văn vần hay văn xuôi, dù là Tiếng Việt hay Tiếng Anh hay Tiếng Hán Việt, hiện tượng tôi chế tạo từ mới tức coinage là độc nhất vô nhị trên thế gian hàn lâm này ít ra là ở Việt Nam (tức so với thế gian tiếng lóng hạ tiện của truyền thông thấp đẳng ít ra cũng là ở Việt Nam). 

Ở Việt Nam tivi đang có cái chương trình gọi là Ký Ức Vui Vẻ. Tôi chớ biết chương trình đó là gì vì tôi không phải là tay chơi mạt hạng playboy để suốt ngày giải trí giải khuây giải sầu giải buồn giải rượu để đi giải suốt từ gameshow này đến gameshow nọ trong khi tôi luôn dành thời gian cho những gameshow thượng đẳng (trước đây là Apprentice của Donald Trump, nay là Got Talent của Mỹ/Anh/Á) mà thôi. Cách giải trí duy nhất của tôi khi đã vắt hết sức lực làm việc mệt nhoài mỗi ngày là khi đêm xuống sẽ…sáng tác viết lách hoặc…ngủ vùi để đắm mình vào những cuộc du hành kỳ thú đục thủng mọi Great Wall tức Đại Thành (tức cái mà đám quỳ mọp run sợ trước bọn Tàu gọi là Vạn Lý Trường Thành) của thời gian và không gian. Tất cả những gì tôi quan tâm đến đều phục vụ cho việc mở rộng tầm mắt hàn lâm, đào sâu sự hiểu biết hàn lâm, thưởng ngoạn hàn lâm, và chất đầy thêm vào kho tàng tri thức hàn lâm trong đo có kho tàng Sử liệu. Nếu Ký Ức Vui Vẻ của thiên hạ để thiện hạ giải trí thì mặc xác thiên hạ. Tôi có những ký ức riêng phục vụ cho sự hiểu biết của loài người đối với những thông tin mà họ chưa từng biết đến, chẳng hạn như về Việt Nam Cộng Hòa, thứ mà tuy gần cận nhất mà họ vẫn chả biết gì nên nói tầm bậy tầm bạ về cái tức cười gọi là Hải Chiến Hoàng Sa. “Hải chiến” ư? Có đấu với nhau trên biển mới là “hải chiến” chứ! Tàu Tàu có đại bác tầm bắn xa vượt trội hơn, và khi tấn công đâu phải thời trung cổ đâu mà dàn binh bố trận hoặc cưỡi ngựa ra khiêu chiến hoặc cho treo “Miễn Chiến Bài” trên cửa thành, mà là bí mật tấn công cấp tập chớp nhoáng “tiên hạ thủ vi cường”, nghĩa là tàu Tàu rình rập bất ngờ từ cự ly an toàn tuyệt đối bắn cấp tập đánh úp tiêu diệt đối phương theo đúng bài bản muôn đời của binh pháp, trong khi đối phương vừa bị bất ngờ vừa có thói quen vô tư nhậu nhẹt trên bờ (trên đất của hải đảo) với lòng tin tuyệt đối vào ô dù bảo vệ bao trùm uy lực của Đệ Thất Hạm Đội hùng mạnh của đại siêu cường quốc Hoa Kỳ án ngữ Biển Đông nên không “đấu” gì được do đại bác nếu có bắn đáp trả nhờ tàu Tàu đã bắn trượt thì cũng không bay được đến tàu Tàu. Bị đánh một chiều như vậy mà gọi là “hải chiến” ư? Bọn “nhà Sử học” phản Đảng và truyền thông phản Đảng ngu hết biết! Phải viết Sử đúng như vầy: “các chiến hạm Tàu bất ngờ khai hỏa bắn hỏng các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa đang neo đậu ở Hoàng Sa rồi pháo kích đan lưới lên đảo gây thương vong lớn cho quân Việt Nam Cộng Hòa trú đóng trên đảo rồi ào ạt đổ bộ tràn lên đảo gây ra cuộc tàn sát chỉ để lại vài binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm tù binh nhằm phô trương thanh thế” mới hợp lý. Viết “hải chiến Hoàng Sa” là ăn cắp ý tứ xạo xạo tự khoe của bọn bại trận. Viết “binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh bảo vệ đảo” cũng là ăn cắp ý tứ xạo xạo tự khoe của bọn bại trận. Viết “cần tôn vinh những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc” là đúng theo ý tứ của bọn truyền thông đần độn của Đảng Cộng Sản khi chúng lúng túng tìm cách đậy che 3 sự thật là (a) chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã không hề cực lực phản đối Tàu khi xảy ra cái “hải chiến” ấy, (b) chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã không hề cực lực phản đối Tàu trước khi Tàu công khai vẽ lại bản đồ chủ quyền Tàu trên toàn bộ Biển Đông chỉ chừa cho Việt Nam vùng nước ven sát bờ làm chỗ neo đậu tàu đánh cá, và (c) truyền thông Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muốn thanh minh rằng “ngư dân chúng tôi cũng đã dũng cảm đổ máu hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam y như các anh vậy.”

Thật đớn nhục ê chề! Muốn “chống Tàu” mà cũng phải kiếm cách nói vòng vo ẩn núp như thế ư!

Tất cả các bài viết của tôi đều có phần mở mồm phức tạp, đơn giản chỉ vì tôi xem người đọc như những bậc thầy đang chấm luận án học cao của tôi, mà đã là luận án của giới học thiệt chứ không học giả thì luôn có phần mở đầu hoành tráng thậm chí phải nêu luôn phần tiểu sử của tác giả cùng phương pháp luận của quy trình nghiên cứu được áp dụng trong hình thành luận án. Tất nhiên, luận án luôn được kết thúc bằng phần đăng chi tiết các nguồn tham khảo bất kể chính-phụ.

Tự giới thiệu tác giả: Hoàng Hữu Phước là người Việt Nam duy nhất đứng đầu về Anh Ngữ mà bằng chứng là từ thời Lạc Long Quân cho đến tận ngày hôm nay là 12-9-2019 vẫn không có bất kỳ người Việt hay người gốc Việt nào có bất kỳ bài viết nào dù chỉ trên mạng xã hội bằng tiếng Anh thuộc loại formal hùng biện về chính trị/văn hóa/xã hội cũng như từng viết thư cho các lãnh đạo nước khác để tranh biện bảo vệ chính nghĩa nước nhà mà sánh được về chất lượng tiếng Anh Formal cùng tính hùng biện thượng đẳng như bức Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis cả.

Còn về lĩnh vực Sử Ký, Hoàng Hữu Phước là người đầu tiên của toàn nhân loại

– Phát hiện sự bất khả tin cậy của Việt Sử qua sự sùng bái vô lý vô đạo vô pháp vô duyên vô bằng vô chứng của người Việt dành cho Chu Văn An.

– Phát hiện sự bất khả tin cậy của Việt Sử đối với chi tiết “Giả Vương” khi chính Chính Sử “công khai” nêu việc người hành lễ “Bảo Tất” quỳ ôm chân của Càn Long nhận Càn Long làm cha và xưng con không phải là Hoàng Đế Quang Trung mà chỉ là người đóng thế vai thậm chí nêu luôn tên họ đầy đủ của kẻ đó thế mà cho đến tận ngày nay là 13-9-2019 cũng không rõ chi tiết nhân thân người đó cũng như thân nhân và hậu duệ người ấy là ai hay những ai đang làm việc hay làm ruộng ở địa phương nào ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hay đã vượt biên sang đâu kỳ 30-4-1975.

– Tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa là thể chế chính trị  Zero Đảng thời Ngô Đình Diệm vì toàn bộ các “chính khách” không hề từ “chính đảng” tức đảng chính trị sẵn có nào cả, còn Đảng Cần Lao Nhân Vị (mà thực chất là Đảng Công Giáo) của Ngô Đình Diệm chỉ mới được tượng hình trên giấy nháp. Đây là cơ sở để Hoàng Hữu Phước hùng biện rằng không bất kỳ ai ở Việt Nam Cộng Hòa có quyền nói về “Đa Đảng” cả, và rằng Việt Nam Cộng Sản hiện nay “ Độc Đảng” tốt hơn Việt Nam Cộng Hòa “Zero Đâng” và chỉ thua có mỗi Mỹ “Lưỡng Đảng Sinh Đôi hoặc Sinh Sản Vô Tính” mà thôi.

– Tuyên bố Việt Nam Cộng Hòa thời Nguyễn Văn Thiệu có Đảng Dân Chủ Của Nguyễn Văn Thiệu với đảng kỳ cờ vàng sao đỏ được thành lập với chỉ một mình Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng/Phó Đảng Trưởng/Tổng Thư Ký/Phó Tổng Thư Ký/Đảng Viên Duy Nhất (qua “lễ thành lập” tại nơi đối diện với Điện Lực Gia Định, gần Bịnh Viện Nguyễn Văn Học, xéo với Lăng Ông Bà Chiểu, gần trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định nơi Hoàng Hữu Phước lúc ấy đang học lớp 10), chỉ tồn tại vài ngày, thậm chí dấu nhẹm cả báo chí (do báo chí có nhiều “cán binh cộng sản” thâm nhập nếu biết sẽ viết bài miệt thị mỉa mai xiên xỏ) nên không bất kỳ báo nào của Việt Nam Cộng Hòa và của thế giới biết để đến chụp hình đưa tin, và tất nhiên không một quan chức nào của chính phủ Mỹ và của đồng minh cũng như chả có đại sứ nước nào đến dự cả nên chưa hề có thông tin nào về “Đảng Dân Chủ” được nhắc đến trong bất kỳ quyển hồi ký nào của bất kỳ người nước ngoài nào hoặc ngay cả người Mỹ nào dù của CIA, Bộ Ngoại Giao, Tòa Bạch Ốc, Ngũ Giác Đài, v.v., hay của “tướng tá của Thiệu” cả. Chi tiết này thật không may cho Việt Nam Cộng Hòa vì tình cờ chính hôm ấy Hoàng Hữu Phước không đi học bằng xe đạp mà bằng đi bộ ngang qua do thời trai trẻ thích vận động thể lực đi bộ từ nhà ở hẽm 16/72 Nguyễn Thiện Thuật Quận 3 đến trường gần ngã ba đường Hoàng Hoa Thám và Chi Lăng Gia Định – nay là ngã ba Hoàng Hoa Thám và Phan Đăng Lưu Quận Bình Thạnh (và vì có dụng ý muốn cố tình “tình cờ” gặp Tiên Khải là nữ sinh hoa khôi trường nữ trung học Lê Văn Duyệt – nay là trường Võ Thị Sáu – gần Lăng Ông Bà Chiểu, hôm nào cũng đi bộ với tà áo dài trắng thướt tha về nhà nàng ở một hẽm nhỏ trên đường Nguyễn Văn Học – nay là Nơ Trang Long) có đứng lại nhìn với sự kinh ngạc tột độ trước sự ngu xuẩn cực kỳ của lá cờ vàng sao đỏ nên có tư thế trưởng thượng để mắng Việt Nam Cộng Hòa là Zero Đảng vì ai đời đã là “chính khách” mà toàn bộ chính quyền không bất kỳ ai thuộc một “chính đảng” tức đảng chính trị sẵn có nào cả mà phải đẻ ra cái đảng “Dân Chủ” ấy khi đã thua thảm hại trên chiến trường sắp đẩy Việt Nam Cộng Hòa đến thời điểm cáo chung. Đây là cơ sở để Hoàng Hữu Phước hùng biện rằng không bất kỳ ai ở Việt Nam Cộng Hòa có quyền nói và rao giảng về “Đa Đảng” cả, và rằng Việt Nam Cộng Sản hiện nay “Độc Đảng” khá hơn Việt Nam Cộng Hòa “Zero Đâng” và chỉ thua có mỗi Mỹ “Lưỡng Đảng Sinh Đôi Hoặc Sinh Sản Vô Tính” mà thôi.

Như vậy, với lợi thế Tam Hoa của (a) một bậc thầy bậc nhất về Anh Ngữ có 50 năm nghiên cứu tài liệu nước ngoài đặc biệt về thể loại non-fiction dù bản thân sáng tác nhiều nhất là fiction, (b) một nhân vật từ thủa nhỏ đã quan tâm đến kinh tế/chính trị/xã hội/văn hóa/học thuật/lịch sự/lịch sử để làm Thầy thiên hạ và làm chính trị nghị viện, và (c) một công dân gương mẫu yêu công lý và chân lý được một người dân đen gia giáo Thiên Khổng thông tuệ tung hô ban cho danh-nhân-hiệu “Nhà Ái Quốc”, Hoàng Hữu Phước có đầy đủ tư cách để nói vê Sử ở Việt Nam hơn rất nhiều kẻ được toàn bộ truyền thông chính thống đỏ đần độn tung hê ban cho nghệ-nhân-hiệu “Nhà Sử Học.  

Tự giới thiệu phương pháp luận: Do Việt Sử không là nguồn đáng tin cậy tuyệt đối, do Sử Việt ngày nay bị sai lạc trong định nghĩa/định hình/định kiến/sử dụng nhân sự/đào tạo nhân sự/mặc định chủ quan/phi phương pháp luận/bất hàn lâm, Hoàng Hữu Phước đã (a) dựa vào sự thật thật sự khách quan do chính tác giả chủ quan chứng kiến/hiểu biết/nhận biết, (b) dựa vào trí nhớ của bản thân và người thân trong gia đình đã cùng trải qua sự thật khách quan ấy, và (c) dựa vào quy trình thẩm định/đối chiếu/sàng lọc/gạn khơi/bóp vắt/phơi phóng/phun sương/nhúng nước thông tin của bản thân mỗi khi bước vào kho tàng Động Kỳ Quan The Cave of Wonders khổng lồ mà Hoàng Hữu Phước cùng chàng thanh niên tên Kim-Cương-Thô Diamond-in-the-Rough mỗi người thỏa thuận nắm giữ một phần hai chiếc Bọ Hung Vàng Golden Scarab Beetle. Do trên đời chỉ có Hoàng Hữu Phước và Kim-Cương-Thô bước vào được trong Động Kỳ Quan, những ai không tin vào các sự thật kỳ quan sau, xin cứ tự nhiên kiểm tra chéo trực tiếp với Mr. Kim-Cương-Thô (tại địa chỉ WDS Complex, Burbank, Los Angeles, California, USA tức Khu Phức Hợp WDS, Thành Phố Burbank, Quận Los Angeles, Tiểu Bang California, Hoa Kỳ)chứ không còn cách nào khác cả.

Ruột Tượng Bài

1) Ngụy Quân/Ngụy Quyền:

Tôi đã viết rất nhiều bài về Ngụy Quân & Ngụy Quyền với tư cách nhà ngôn-ngữ-chính-trị học đầu tiên và duy nhất của Việt Nam, để giải thích ngữ nguyên, giải thích tự loại, giải thích phạm vi sử dụng, và giải tỏa tuyệt đối các tranh cãi.

Tuy nhiên, gần đây có một sự thật thật sự chứng minh tôi có đầy đủ lý do thật sự để thật sự miệt thị đại đa số bọn Thạc Sĩ/Tiến Sĩ mà Nhà Nước lấy tiền thuế của dân để tự tiện đào tạo về chễm chệ nắm quyền ở tất cả các viện đại học ở Việt Nam khi có thằng hiệu trưởng tuyên bố vung vít với sinh viên của nó về việc không nên sử dụng từ Ngụy Quân/Ngụy Quyền, tôi buộc lại phải nêu tiếp các giải biện sau đây cho sinh viên toàn quốc tham khảo thêm.

a- Vấn Đề Ý Nghĩa của Ngụy Quân/Ngụy Quyềncùng các vấn đề liên quan đến phạm trù ngữ nguyên, tự loại, ngữ nghĩa, biện pháp tu từ, phạm vi sử dụng, và sự tranh cãi: xin mời đọc tại các liên kết liệt kê ở phần tham khảo.

b- Vấn Đề Hình Thành của Ngụy Quân/Ngụy Quyền: Ngụy Quân/Ngụy Quyền được cấu tạo trên cùng cơ sở ngôn ngữ với Việt Cộng/Cộng Quân tức theo cùng công thức tạo từ (coinage tức word formation), theo đó cùng mang ý nghĩa bình dân, miệt thị, địa phương, và vắn tắt, chưa kể còn cùng trên nền Hán Việt. Đó là sự giống nhau về cấu tạo từ. Sự khác biệt gồm 4 mặt gồm:

(i) Do người Bắc sâu sắc về ngôn ngữ hơn người Nam về ngôn ngữ, từ ngữ Ngụy Quân/Ngụy Quyền mang tính miệt thị rõ nét rõ ràng hiễn hiện cụ thể hơn và do đó gây ra nỗi đau lớn hơn cho đối tượng bị gọi là Ngụy Quân/Ngụy Quyền. Trong khi đó, từ ngữ Việt Cộng/Cộng Quân được Việt Nam Cộng Hòa chế ra như một từ lóng với niềm tin chủ quan rằng từ lóng tự động mang ý miệt thị vì chủ quan cho rằng sử dụng cụm từ Hán Việt đầy đủ của “quân đội cộng sản Việt Nam” là sự tôn trọng nên nhất thiết chế ra từ ngữ mới ngắn ngủn Việt Cộng/Cộng Quân nhằm tầm thường hóa cái quân đội ấy.

(ii) Với sự hỗ trợ vô hạn về quy mô của truyền thông chính thống Việt Nam Cộng Hòa khi dùng chữ Việt Cộng/Cộng Quân trên tất cả các phương tiện truyền thông không hạn chế, cùng với sự đánh giá cao mang tính sở thích nghề nghiệp của truyền thông chính thống các nước Âu Mỹ ủng hộ các từ viết tắt Việt Cộng/Cộng Quân VC, với ngữ nghĩa dễ hiểu cùng phát âm dễ dàng của Việt Cộng VC, và với sự chấp nhận dễ dàng không dị ứng của người dân Miền Nam, những từ lóng Việt Cộng VC được nâng hóa tu từ tức quy trình lexicological upgradation trở thành từ ngữ chính thức được sử dụng rộng khắp trên toàn thế giới như một sự đương nhiên thành VCVietcong. Tuy nhiên, cộng sản Việt Nam do biết ngữ nguyên của Việt Cộng/Cộng Quân/VC là tiếng lóng miệt thị nên đã không bao giờ sử dụng hoặc chấp nhận sự tồn tại của từ ngữ Việt Cộng/Cộng Quân/VC để tự dùng gọi chính mình.

(iii) Với sự hỗ trợ rất hạn chế của truyền thông chính thống Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không trên quy mô vượt ngoài biên giới Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Ngụy Quân/Ngụy Quyền được sử dụng chỉ trên báo giấy và phát thanh ở Miền Bắc, không được người ở Miền Nam nghe nói đến trừ số ít – trong đó có Hoàng Hữu Phước – chịu khó lén bắt nghe đài Giải Phóng vào ban đêm, không phù hợp với cách nghe của người Miền Nam (dù cả hai từ Việt CộngNgụy Quân đều được cấu tạo bằng từ Hán Việt) vì người bình dân Miền Nam cho rằng “Ngụy” là từ ngoại lai đặc sệt Tàu mà ý thức hệ truyền thống dân tộc của dân Miền Nam luôn là chống Tàu, không được truyền thông chính thống các nước Âu Mỹ ủng hộ do không hiểu ý nghĩa đãvậy không thể viết tắt mà có viết tắt thành NQ thì cũng phát âm lọng cọng như “Anh Cu” hoặc “En K-zu”. Tất cả khiến những từ lóng Ngụy Quân/Ngụy Quyền bị hạ hóa tu từ tức quy trình lexicological degradation trở thành từ ngữ ít được biết đến obsolete không được sử dụng rộng khắp trên toàn thế giới.

(iv) Chế tạo từ – nhất là từ lóng – là một quyền tự do trừ phi có quy định khác và cụ thể của luật pháp. Báo chí chính thống Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tránh được thảm họa bị vùi dập dưới bùn nhơ bởi Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nhờ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đã vì Đảng mà không nỡ khởi kiện họ khi họ tấn công ông vụ Tứ Đại Ngu, thậm chí một thằng nghị sĩ giáo sư tiến sĩ luôn độc quyền hưởng lợi từ tất cả các “đại (dự) án cải cách giáo dục” khiến giáo dục nước nhà lụn bại thất bại đã vi phạm pháp luật Việt Nam khi trả lời phỏng vấn của báo chí sủa rằng hắn ta run sợ trước cách dùng từ “Đĩ” của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong bài Tứ Đại Ngu trong khi Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là một nhà ngôn ngữ quý phái nhất Việt Nam luôn chỉ sử dụng từ ngữ văn học, mà chữ “đĩ” đã được dùng làm tên của một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam (“Làm Đĩ”) cũng như được sử dụng chính thức và nhiều lần trong các phiên bản tiếng Việt ở Chương Khải Huyền của Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo và chữ “đĩ” cũng chưa từng được nêu đích danh cấm đoán trong bất kỳ bản liệt kê nào của bất kỳ bộ luật nào của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – kể cả luật bất thành văn của đạo đức truyền thống thuần Việt. Lính Mỹ tự do gọi chiến binh cộng sản Việt Nam là “Charlie”. Lính Thiệu tự do gọi chiến binh cộng sản Việt Nam là “Việt Cộng”. Chiến binh cộng sản Việt Nam tự do gọi Lính Thiệu là Ngụy Quân (rồi nhân tiện tự do gọi chủ nhân của Ngụy QuânNgụy Quyền). Chiến binh cộng sản Việt Nam tự do không gọi Lính Mỹ là Lính Mẽo dù từ này do chính các “nhà báo cộng sản” hoạt động nội tuyến tự do chế ra để tự do sử dụng trên báo chí Việt Nam Cộng Hòa. Cay đắng đớn đau vì thua Miền Bắc trên mặt trận ngôn ngữ (Miền Bắc dùng tính từ “ngụy” để phủ định tính chính thống chính thức của “chính quyền”), phe Thiệu cay cú sử dụng các tính từ kèm cặp để bôi nhọ “chính quyền” Miền Bắc thành Việt Cộng Khát Máu. Đối với các nhà báo Âu Mỹ vốn là những thầy phù thủy ngôn từ, khi biết ý nghĩa của chữ “khát máu” là gì, họ cho rằng kiểu đặt thêm như thế là dỡ ẹc vì không viết tắt được – chưa kể chẳng có tính hùng biện và thậm chí buộc phải chứng minh cụ thể cái sự khát ấy – nên chẳng nhà báo nào sử dụng, khiến chữ Việt Cộng Khát Máu không thể vượt ra ngoài biên giới cửa mồm của dăm ba tên thất trận chạy tồng ngồng khỏi Việt Nam Cộng Hòa.

c- Vấn Đề Sử Dụng của Ngụy Quân/Ngụy Quyền:

Với điểm b.iv nêu trên, việc sử dụng Ngụy Quân/Ngụy Quyền hay Việt Cộng ngày nay tùy vào việc người sinh viên (của cái thằng giáo sư tiến sĩ hiệu trưởng cái trường đại học ấy)

(i) có đã nghiên cứu các bài viết về các khía cạnh ngôn ngữ của ngữ nguyên/ngữ nghĩa/ngữ âm/ngữ tạo của Hoàng Hữu Phước hay chưa; nếu đã đọc và hiểu những gì mình đọc thì hãy tự hỏi bản thân xem

(ii) có đang phát biểu hay đang trình bày với tư cách gì, có phải với tư cách bí thư Đoàn Thanh Niên, có phải đang tham gia trò trả lời câu hỏi “hái hoa dân chủ” nhân ngày lễ lớn, có phải đang thực tập giảng dạy Sử tại tiểu học/trung học hay không; nếu tất cả các câu trả lời là “Không”, thì hãy 

(iii) đừng bao giờ tùy tiện sử dụng Ngụy Quân/Ngụy Quyền hay Việt Cộng, đơn giản vì chúng là những từ lóng, chứ không vì kiểu lập luận hàm hồ đầy ngu đần ngu xuẩn của bọn đần độn chống Cộng rằng Việt Nam Cộng Hòa là một “chính quyền” có thật thì tại sao gọi nó là “ngụy”.

Diễn giải thêm cho phần c.iii ở trên, sinh viên cần đọc thêm các bài viết của Hoàng Hữu Phước về Biển Đông để tự rút ra kết luận rằng những gì mang tính địa phương thì chỉ có giá trị sử dụng tại địa phương. Những người Cộng Sản Việt Nam năm 2019 và thậm chí năm 3019 vẫn có thể cứ dùng cụm từ “Ngụy Quyền Sài Gòn” trong nội bộ Việt Nam, nhưng khi dịch ra tiếng Anh thì Cộng Sản Việt Nam năm 2019 và thậm chí năm 3019 vẫn phải viết là “the Government of the Republic of Vietnam” tức “Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa”.

Giả dụ một nước nọ có vay của Việt Nam Cộng Hòa một tỷ USD, thì chủ nhân mới là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có trách nhiệm phải gánh nợ cho Việt Nam Cộng Hòa đối với các khoản mà Việt Nam Cộng Hòa đã vay của thế giới, đồng thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trở thành tân chủ nhân của tất cả các tài sản của Việt Nam Cộng Hòa trên thế giới. Sẽ là điều kỳ quái nếu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dùng chữ Việt của “Ngụy Quyền Sài Gòn” để dịch ra tiếng Anh thành “Fake Government of Saigon” rồi vác công hàm ấy đi đòi nợ vì chỉ tạo điều kiện cho đất nước con nợ ấy từ chối thanh toán vì họ không từng có quan hệ gì với Fake Government nào của bất kỳ quốc gia nào tên là Saigon cả.

Tương tự, Việt Nam muốn gọi cái biển ấy là Biển Đông thì cứ gọi, nhưng khi tranh chấp chủ quyền có dùng tiếng Anh thì phải gọi nó  là South China Sea. Chỉ có bọn ngu trong các cơ quan Nhà Nước và truyền thông mới dịch Biển Đông ra tiếng Anh thành East Sea rồi vác cái từ ấy ra thế giới để Trung Quốc cười vô mặt rằng “Nị cứ giữ cái East Sea đó đi vì ngộ chỉ làm chủ South China Sea thôi, sao lại kiện ngộ ra Tòa Án Quốc Tế vậy chớ hả?

Tương tự, Việt Nam muốn gọi hai cái quần đảo ấy là Hoàng Sa Trường Sa thì cứ gọi, nhưng khi tranh chấp chủ quyền có dùng tiếng Anh thì phải gọi chúng lần lượt là ParacelSpratly. Chỉ có bọn ngu trong các cơ quan Nhà Nước và truyền thông mới dịch Hoàng Sa Trường Sa ra tiếng Anh lần lượt thành Yellow SandLong Sand rồi vác hai cái từ ấy ra thế giới để Tòa Án Quốc Tế ngơ ngác hỏi “quý vị có ấm đầu không mà kiện đòi hải đảo trên Hành Tinh Lùn Haumea vậy chớ hả?

2) Cọng Hòa/Cộng Hòa/Cộng Sản:

“Cộng sản” là từ ngữ do người Việt thủa xưa chế tạo ra khi cố dịch chữ communism ra tiếng Việt để phục vụ 4 mục đích không đàng hoàng gồm (a) phải dịch vì ngay cả tên người nước ngoài cũng phải bẽn lẽn cười lấy lòng mấy anh Tàu mới biến Montesquieu thành Mạnh-Đức-Tư-Cưu nữa mà, (b) do có nội hàm “cộng đồng” trong ngữ nguyên tạo nên từ communism nên cách hay nhất là chụp ngay chữ “cộng”, (c) do chủ nghĩa mới này có nói đến “quyền sở hữu tư liệu sản xuất” nên cách hay nhất là chộp ngay chữ “sản”, và (d) dễ dàng hù dọa thiên hạ khờ khạo ít học bằng cách nói xa nói gần nói xiên nói thẳng rằng “cộng sản” nghĩa là gom hết tài sản của nhân dân lại – kể cả gom hết phụ nữ đẹp và con gái còn trinh lại – để dâng hết cho Đảng nên mọi người phải lựa chọn một trong hai cách gồm “chống Cộng để bảo vệ tài sản và bảo vệ vợ cùng con gái hoặc tự sát cả nhà.

Chính vì có âm mưu quái gỡ buồn cười hoàn toàn kém về ngôn ngữ kiểu người Miền Nam như vậy, giới tinh hoa chính trị Việt Nam Cộng Hòa sau đó lúng ta lúng túng cố gắng tránh né chữ “Cộng” vì nếu “Cộng Sản” là tịch thu tài sản thì “Cộng Hòa” là tịch thu cái hòa gì đây. Thế là Ngô Đình Diệm đặt tên nước là Việt Nam Cọng Hòa, bất luận người dân chẳng hiểu “Cọng” là cái cọng cỏ khỉ khô gì cả. Sau đó, Nguyễn Văn Thiệu cho sử dụng Việt Nam Cộng Hòa nhưng lờ đi sự giải thích vì sao Cọng thành Cộng , liệu Cộng của Cộng Hòa có đồng nghĩa với Cộng của Cộng Sản hay không và “chống Cộng” là chống cái “Cộng” nào đây.

Vì vậy, những người ở Miền Nam khi nhận ra chân giá trị của ý nghĩa và sự thấp kém giảo hoạt láu cá của ngôn từ thấp kém nớt non của giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa sẽ không còn dị ứng với “cộng sản”, sẽ ưa chuộng “cộng sản” không phải vì “yêu công bằng” (vì nội hàm của “công bằng” lại có liên quan một cách thơ ngây đến “sở hữu tài sản”) mà vì “lòng ái quốc”, và sẽ hoặc ngầm ủng hộ hoặc tích cực tham gia đoàn quân giải phóng – đó là thêm một lý do cho sự tuyệt diệt của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài sử liệu nêu trên về ngôn ngữ của Cộng Hòa/Cọng Hòa/Cộng Sản, có thể nói các tranh biện (tranh luận hùng biện) của Hoàng Hữu Phước hơn hai mươi năm qua còn giúp đem đến 8 khẳng định rằng (a) chủ nghĩa cộng sản là một triết thuyết kinh tế vĩ đại của nhân loại, (b) chỉ có thể chống Cộng bằng một học thuyết kinh tế khác mà theo lẽ thường phải mất 1.000 năm mới có thể hình thành, (c) chủ nghĩa cộng sản không bao giờ là một “thể chế chính trị” mà chỉ là đường lối chủ đạo của một đảng chính trị muốn tiến hành cuộc cách mạng, (d) vì vậy một nước cộng sản chủ nghĩa đúng nghĩa phải là như Việt Nam nơi tư bản được hình thành theo một archetype mới cho một motive mới chứ không phải chống lại tư bản và đây là lý do chỉ có Việt Nam đạt một trong hai tiền đề cho sự phát triển vững mạnh cho chủ nghĩa cộng sản – đó là xây dựng tư bản dân tộc và duy trì truyền thống thiên Khổng thuần Việt –  trong số những quốc gia mon men sờ chạm vào chủ nghĩa cộng sản tức tên ban đầu của chủ nghĩa xã hội, (e) phong trào “chống cộng” chưa bao giờ là một thực tế nên đã bị Hoàng Hữu Phước lột mặt nạ sau khi Liên Xô sụp đổ rằng thế giới tư bản chỉ đồng lòng “Chống Nga” nên “chống cộng” hoàn toàn biến mất trong toàn bộ thế giới các quốc gia tư bản, (f) thực chất của số người-gốc-Việt khi “chống cộng sản Việt Nam” cũng đã bị Hoàng Hữu Phước hùng biện là “Chống Việt” khiến cụm từ “người-gốc-Việt chống Việt” có thể giúp người nước ngoài bật cười trước sự vô đạo bất lương phi lý của bầy đoàn người-gốc-Việt “chống Việt”, (g) chủ nghĩa xã hội như một tư tưởng lý tưởng mà không là thể chế chính trị nên dần dần xuất hiện các thứ chủ nghĩa xã hội khác nhau trên thế giới kể cả tại nước Mỹ như kế sách của Đảng Dân Chủ sử dụng như một chiêu bài vì nước vì dân và như một vũ khí chiến lược nhằm cạnh tranh với nhân vật thiên tài Donald Trump khiến Donald Trump cứ phải đăng đàn Twitter chửi bới chủ nghĩa xã hội Mỹ hoài, và (h) “người-gốc-Việt chống Việt” đương nhiên chuyển sang bạo động phá hoại và không còn múa may tranh luận do đã thất bại hoàn toàn trên mặt trận sử dụng vũ khí ngôn từ ngôn ngữ ngôn luận – trừ ngôn tình.

3) Thể Chế Chính Trị Quái Đản Của Việt Nam Cộng Hòa:

Trong bài viết Nỗi Buồn Chiến Tranh – Hoàng Hữu Phước Với Chuyện Tình Tự Kể  đăng lúc 14g53 ngày 29-12-2010 trên Emotino tại http://www.emotino.com/bai-viet/18930/noi-buon-chien-tranh-hoang-huu-phuoc-voi-chuyen-tinh-tu-ke (Emotino đã bị bọn chuột cống aitee bẩn nhơ mất dạy chống Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước phá sập năm 2012 nên link này hiện không còn truy cập được, nhưng Hoàng Hữu Phước còn giữ bản nháp có thể sẽ đăng lại vào thời điểm thích hợp) mà một đoạn trong đó có nội dung sau:

Sự việc trên cho thấy một sự thật rằng “chính phủ” Việt Nam Cộng Hòa có tổ chức bầu cử tổng thống và quốc hội (thượng viện và hạ viện), nhưng đó không bao giờ đúng và đủ cho một thể chế chính trị gọi là “cộng hòa”, do 3 sự thật sau đây:

(a) Có thực hiện “phổ thông đầu phiếu” nhưng chỉ có một ứng cử viên tổng thống duy nhất là Nguyễn Văn Thiệu;

(b) Luật pháp quy định có lợi cho giới cầm quyền rằng binh sĩ được ưu tiên bỏ phiếu tại bất kỳ điểm bỏ phiếu nào mà không cần qua các thủ tục rườm rà về chứng nhận nhân thân ở địa phương hay ghi nhận chi tiết quân nhân đến bỏ phiếu; nhờ vậy các đoàn xe “cam-nhông” Mỹ GMC CCKW thiết kế dùng di chuyển 20 quân sĩ Mỹ to đùng ngồi cùng quân trang quân dụng lỉnh ca lỉnh kỉnh thì nay được trưng dụng mỗi xe chở trung bình 50 binh sĩ Việt Nam đứng cùng thân nhân của họ – nếu có ở “trại gia binh” – lần lượt suốt ngày đến tất cả các điểm bỏ phiếu mà mới chỉ ở Sài Gòn thôi để bỏ phiếu bầu ứng cử viên Nguyễn Văn Thiệu thì thí dụ 50 xe chở 2.500 “cử tri quân sự” đến lần lượt đủ hết 100 điểm bỏ phiếu khác nhau cũng bảo đảm dồn được cho Nguyễn Văn Thiệu hơn 12 triệu phiếu bầu rồi; huống hồ trên toàn quốc chỉ cần 20.000 “cử tri quân sự” bỏ phiếu tại 1.000 điểm bỏ phiếu, Thiệu xem như có ngay 20 triệu phiếu bầu lậu để luôn được “toàn quân toàn dân tín nhiệm” tiếp tục làm tổng thống;

(c) Tất cả các Tỉnh Trưởng đều là sĩ quan quân đội cấp Tá do Nguyễn Văn Thiệu chỉ định, không có chuyện người dân bầu lên các lãnh đạo địa phương;

Vì vậy, chữ “Cộng Hòa” trong quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa trong thiết lập bang giao với Mỹ và các nước đồng minh với Mỹ hoàn toàn không dính dáng gì đến “thể chế chính trị Cộng Hòa” cả. Với cơ cấu tổ chức lãnh đạo Nhà Nước cấp cao nhất và lãnh đạo địa phương cấp cao nhất đều là sĩ quan cấp Tá và cấp Tướng, Việt Nam Cộng Hòa là một “nước” theo thể chế chính trị độc tài quân phiệt.

Có thể nói: thể chế chính trị của Việt Nam Cộng Hòa là một thể chế quái đản vì không giống bất kỳ thể chế chính trị nào trong phần còn lại của thế giới cả.

Đó là một thể chế mà nhà chính trị Hoàng Hữu Phước buộc phải gọi là chế độ “độc quân dân” của độc tài + quân phiệt + dân chủ, trong đó người dân có quyền đi bỏ phiếu cho một sĩ quan quân đội duy nhất để người này liên tục làm lãnh đạo tối cao với mọi quyền bính nằm trong tay các sĩ quan cao cấp của quân đội.

Chế độ “độc quân dân” của Việt Nam Cộng Hòa thời Nguyễn Văn Thiệu thoát thai từ chế độ “độc gia Công dân” của Việt Nam Cộng Hòa thời Ngô Đình Diệm, theo đó mớ hổ lốn độc tài + gia đình trị + Công giáo + dân chủ có nghĩa là cái máng cám heo trộn nội dung người dân có quyền đi bỏ phiếu cho một người duy nhất để người này liên tục làm lãnh đạo tối cao với mọi quyền bính nằm trong tay thân nhân của lãnh đạo tối cao, triệt hạ các tôn giáo để Công Giáo độc tôn thành Quốc Giáo, và chặt đầu tất cả những ai dám “tự do” nghĩ đến hai chữ “cộng sản” trong đầu.

4) Nghi Thức Ngoại Giao Quái Đản Của Việt Nam Cộng Hòa:

Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vợ của “Ông Cố Vấn” Ngô Đình Nhu là Trần Lệ Xuân. Và Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam Cộng Hòa chính là Trần Lệ Xuân theo sự cương quyết đòi hỏi của bà với sự đồng thuận của hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Sự quái gở này càng trở nên quái hiếm qua việc tất cả các lãnh đạo Mỹ và các nước đồng minh đều đồng tình cung kính gọi Trần Lệ Xuân là Đệ Nhất Phu Nhân, xem như các nghi thức ngôn ngữ trong ngoại giao đều cứ như trong thời Mạt Chính tức chính trị thế giới suy vi chỉ vì “chống Cộng” mà chấp nhận đạp chà mọi nguyên tắc ngoại giao chính thức chính quy chính đạo.

5) Đĩ Việt Nam Cộng Hòa:

Đã là người dân Sài Gòn trước 1975, ắt ít ai quên được 6 sự thật rằng:

(a) Đĩ phát triển mạnh ở Sài Gòn để phục vụ quân Mỹ, quân đồng minh, và quân Việt Nam Cộng Hòa;

(b) Đĩ không lan như nấm tại các tỉnh vì gia giáo thiên Khổng của người Miền Nam nghiêm khắc miệt thị khinh bĩ “nghề đĩ” khiến “đĩ” không dám hành nghề;

(c) Ở Sài Gòn thì khu vực “Chú Ía” là khét tiếng nhất về hoạt động của đĩ;

(d) Các kỳ xã trại ở Sài Gòn là những thời điểm tương tự “xá tội vong nhân” để hàng hàng lớp lớp xích lô máy chở các binh sĩ Mỹ to đùng và các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa rám nắng tất cả đều nhễ nhại mồ hôi trực chỉ đến khu “Chú Ía”;

(e) Hàng rào ngôn ngữ đã được vượt qua một cách dễ dàng bằng ngôn ngữ cử chỉ, theo đó chỉ cần nắm bàn tay trái lại để có hình tượng một chiếc ống rỗng, còn bàn tay phải xòe ra vỗ chụp lên miệng chiếc ống rỗng hình tượng bên tay trái ấy, thi các quân nhân Đại Hàn dễ dàng ra dấu rũ rê quân nhân Mỹ còn phu xích lô Việt dễ dàng hiểu ngay rồi cắm đầu đạp xe hay rồ máy xe nhắm khu “Chú Ía” mà thẳng tiến, vì cử chỉ đó mang ý nghĩa “đi lắp đầy lổ hổng”; và

(f) Không bất kỳ “đĩ” nào dám vác mặt kênh kiệu dù ở địa phương nơi cư trú hay địa phương nơi hành nghề, và dù có kiếm được rất nhiều tiền hay không, và đây là liêm sĩ cần có và đã có của “đĩ” thời Việt Nam Cộng Hòa. 

Khóa Miệng Bài

Trên đây là những sử liệu về Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy sức mạnh của ngôn ngữ trong đấu tranh chính trị của các bên đối đầu trong các thời kỳ cũng như trong giáo dục.

Một chuyện nhỏ: tính miệt thị của từ “đĩ” đã giúp các “đĩ” của Việt Nam Cộng Hòa không làm băng hoại xã hội Việt Nam Cộng Hòa vì “đĩ” không trở thành “gương sáng kiếm tiền” cho các bé gái trong xã hội. Xã hội chỉ hư hỏng suy đồi khi đối mặt với tình trạng phụ nữ kiêu hãnh kênh kiệu với sự giàu có bản thân kiếm được từ tiền bán dâm được truyền thông chính thống không những ca tụng mà còn chế biến từ ngữ “gái bán hoa” nhằm thi vị mỹ miều hóa “đĩ” với sự hô hào ủng hộ khoái trá của một hai thằng nghị sĩ ngu đần dường như muốn vinh diệu hóa nghề của một nữ tiền nhân trong dòng họ của chúng. Sự tùy tiện sử dụng những từ ngữ khác để ám chỉ “đĩ” dứt khoát chỉ làm băng hoại xã hội. Đó là lời phán của Hoàng Hữu Phước. Mà Hoàng Hữu Phước đã nói gì đã viết gì đã làm gì thì thỉnh thoảng có sai dấu hỏi dấu ngã hoặc sai do đánh máy tức lỗi typographical errors mà thôi.

Rốt cuộc thì “Việt Nam Cộng Hòa” và “đĩ thời Việt Nam Cộng Hòa” thuộc lịch sử Việt Nam mà Hoàng Hữu Phước là chứng nhân nghiêm khắc và nhà sử nghiên nghiêm túc vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, Nghị Sĩ Khóa XIII, Nhà Nghiên Cứu Thế Giới Sử, Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Tư Tưởng Cộng Sản Dân Tộc Thiên Khổng

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Biển Đông: “Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa” 22-3-2015

Bức Thư Gởi Giáo Hoàng Francis: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017 (Nguyên tác Tiếng Anh: Letter to His Holiness Pope Francis August 1, 2017)

Chống Cộng: Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng 09-6-2008

Chống Tàu: Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!  01-12-2015

Chuyện Tình Tự Kể: Nỗi Buồn Chiến Tranh – Hoàng Hữu Phước Với Chuyện Tình Tự Kể. Đăng ngày 29-12-2010 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18930/noi-buon-chien-tranh-hoang-huu-phuoc-voi-chuyen-tinh-tu-ke nhưng Emotino đã đóng cửa 2012 nên nay không thể truy cập được.

Dân Chủ: Phải Có Luật Biểu Tình. 18-8-2016

Đa Đảng: Luận Về “Đa Đảng” 27-6-2019

Đảng Chính TrịViệt Nam Cộng Hòa – Đảng Chính Trị 18-9-2017

Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Đĩ Trong Kinh Thánh: Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?  27-9-2016

Độc Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Fiction và Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Hoàng Hữu Phước Đã Nói Gì Và Đã Viết Gì Thì Không Bao Giờ Sai: Cách Vượt Qua Nhà Hùng Biện Bất Khả Chiến Bại Hoàng Hữu Phước 20-5-2019

Hoàng Hữu Phước Là Người Đầu Tiên: Hoàng Hữu Phước, Người Việt Nam Đầu Tiên 19-12-2018

Làm Chính Trị: Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017,   Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Lễ Bảo Tất: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Luật Hóa Đĩ: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Lưỡng Đảng Sinh Đôi Hoặc Sinh Sản Vô Tính: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Một Người Dân Gia Giáo Thiên Khổng: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng 28-6-2019

Ngụy Quân/Ngụy Quyền: Ngụy Quân & Ngụy Quyền  01-11-2018

Nguyễn Văn Thiệu: Nguyễn Văn Thiệu Trong Tương Quan Với Những Nhân Vật Lừng Danh Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới  01-5-2019

Nhà Ái Quốc: Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc   05-5-2017

Nhà Sử Học: Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Sự Sùng Bái Vô Lý Vô Đạo Vô Pháp Vô Duyên Vô Bằng Vô Chứng Người Việt Dành Cho Chu Văn An: Hoàng Hữu Phước vs Chu Văn An: Sự Thật Về Nội Dung Đối Đáp Hùng Biện Trực Diện Của Hoàng Hữu Phước Với Các “Nhà Báo”     25-4-2019

Tiên Hạ Thủ Vi Cường: 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975 30-5-2011

Tiếng Anh Formal: Thông Giáng Sinh và Formal English  02-01-2015

Toàn Bộ Truyền Thông Chính Thống Cộng Sản: Hoàng Hữu Phước Đã Từng Nói Về Hai Vấn Đề Quan Trọng Của Chính Trị Việt Nam: Báo Của Đảng Và Trí Thức Của Đảng 10-5-2019

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  01-01-2013

Thạc Sĩ/Tiến Sĩ: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Truyền Thông Phản Đảng: Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông  16-11-2016

Zero Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Nguyễn Minh Luân

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-10-2018

Có lần khi chờ đến giờ vào hội trường tiếp xúc cử tri Quận 3, nghị sĩ Khóa XIII Trương Tấn Sang vui miệng thuật cho các ông Trần Du Lịch và Hoàng Hữu Phước cùng là bạn đồng liêu (tức là nghị sĩ đồng khóa) biết giai thoại thủa ông là cậu bé trần trụi ngâm mình dưới bùn đen tanh tưởi tanh hôi ở Quận 4 Sài Gòn để làm nhiệm vụ cảnh giới cho các lãnh đạo Đảng đang họp về các nhiệm vụ biệt động thành như phá hoại và ám sát. Trước 1975, Khu Tôn Đản Khánh Hội Quận 4 Sài Gòn là khu mà tiếng bình dân gọi là khu dao búa hay khu anh chị, khét tiếng đến độ lương dân thì khiếp sợ còn lực lượng an ninh cảnh sát mật vụ Sài Gòn thì khiếp đảm bạt vía kinh hồn. Sự thật rằng nghị sĩ Trương Tấn Sang trước 1975 có quá trình hoạt động cách mạng tại Quận 4 Sài Gòn là nội dung mà nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sau 1975 khi phục vụ nhân dân Quận 4 Thành Phố Hồ Chí Minh muốn nhân cơ hội nói lên sự thật tốt đẹp về đời sống dữ dội Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa mà tiếc thay nay đã hóa thành dữ ác.

Và cũng nhiều lần trong thế kỷ XXI này trực tiếp chứng kiến hoặc gián tiếp nắm tin qua báo chí, tác giả bài viết này biết các hành vi chạy xe chầm chậm sớt lấy một nãi chuối từ một xe ba gác bán chuối dạo rồi chầm chậm bóc ăn và ném võ chuối xuống đường Hoàng Hoa Thám (Bình Thạnh) hoặc chạy xe ào vụt giật xấp vé số của một người mù ngồi trên ghế có cắm cây dù hỏng méo bạc màu ở sát đường Nguyễn Thông (Quận 3), mà trong những trường hợp như vậy thì bản thân người viết và những người đi đường không hiểu sao đều buột miệng thốt lên cùng một chữ: “Đồ lưu manh!

Nhưng khoan đã! Hey, please wait a minute! Có phải sự tốt đẹp đầy lý tưởng của một chế độ mới đã làm cho mọi thứ của chế độ trước đó bị miệt thị và nhơ bẩn hóa hay chăng, khiến ngay cả “lưu manh” cũng bị hạ đẳng hóa thành hành vi mất dạy cướp nãi chuối nhỏ của cậu bé 15 tuổi đẩy xe ba gác trưng bày có mỗi năm nãi chuối cao tí tẹo, mất dạy giật vé số của người mù 50 tuổi đang đếm đi đếm lại xấp vé số Tây Ninh bán ế, và mất dạy nhét chữ vào mồm vị nghị sĩ không Đảng tịch chẳng ô dù và hò reo ầm ỹ trên mạng xã hội chùa để ném đá trấn áp ông ta chỉ vì ông ta không do cơ quan Đảng giới thiệu ứng cử và tại ông ta trong sạch tuyệt đối ư?

Nội dung tôi muốn nêu lên ở đây là về thế giới anh chị dao búa dữ dội của Quận 4 Sài Gòn vốn đậm nét hảo hán trượng nghĩa hơn là lưu manh mạt hạng. Dân dao búa dữ dội ở Quận 4 Sài Gòn hoặc nơi này nơi khác là một thế giới rất riêng, rất kín. Dân lưu manh mạt hạng ngày nay là sự hòa trộn không sao phân biệt được vì hiện diện lồ lộ công khai từ hẻm nhỏ dẫm nát lương dân đến thênh thang chốn công quyền phục vụ nhân dân mà cả hai đều rủng rỉnh bạc tiền mất hút nghĩa dũng lòng nhân. Chính vì hảo hán trượng nghĩa mà các tay anh chị dao búa dữ dội thường ra tay vừa bảo vệ những ai có vẻ thuộc lực lượng nằm vùng/đặc công “Việt Cộng” tức lực lượng đương nhiên tốt, vừa ngăn chặn các bố ráp của an ninh cảnh sát mật vụ Sài Gòn tức lực lượng đương nhiên xấu, khiến những người gồm “sếp” của Trương Tấn Sang và lính canh gác như Trương Tấn Sang được bình an vô sự hoạt động tấn công từ sâu trong nội đô Sài Gòn làm tan nát chính quyền dẫn đến biến cố lịch sử mà Phương Tây gọi là Sài Gòn Thất Thủ (The Fall of Saigon).

Nguyễn Minh Luân là học sinh trường Tân Việt (trước 1975 trên đường Yên Đỗ gần ngã tư Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3,Sài Gòn (nay là Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên, đường Lý Chính Thắng, Quận 3,Thành Phố Hồ Chí Minh).

Vào năm 1974, lúc tôi là trưởng lớp 12C1 (chuyên khoa Ngoại Ngữ – Triết Học) thì Luân là học sinh lớp 11A2 (chuyên khoa Sinh – Hóa).

Lớp 12C1 trường Tân Việt lừng danh vì có hoa khôi Lý Quỳnh Hoa, nữ sinh đã làm các giáo sư như Tạ Ký (Việt Văn), Nguyễn Xuân Hoàng (Phân Tâm Học), Trần Hữu Lộc (Tâm Lý Học), và một giáo sư môn Anh Văn (mà tôi quên mất tên vì ông ta không giỏi bằng tôi), mê say đắm đuối công khai bày tỏ sự đắm đuối mê say ấy ngay mỗi lần bước vào lớp bắt đầu tiết dạy, và cũng là nữ sinh danh vang quốc ngoại (nghĩa là nhan sắc của Lý Quỳnh Hoa vượt ngoài biên giới của…Tư Thục Tân Việt để chinh phục con tim khối óc nam sinh các trường công lập hàng đầu của Sài Gòn). Nhưng nếu bó buộc phải nói cho đúng sự thật nhất và khiêm nhường nhất thì Lớp 12C1 còn lừng danh vì có chàng trưởng lớp danh trấn quốc nội (nghĩa là khuôn trung ngự trị vững vàng trong lòng các nữ sinh nội địa Tân Việt đã vậy còn được hoa khôi Đinh Thị Mai Trâm của Nguyễn Bá Tòng Gia Định lân bang mỗi ngày đều đến đậu xe PC xanh đứng chờ nơi cổng trường Tân Việt để trao tay cho chàng những bức thư tình nhung nhớ. Uy thế của chàng trưởng lớp ấy lại còn được vun đắp cao hơn bằng nắm đấm của nhân vật Nguyễn Minh Luân.

Nguyễn Minh Luân tuy thấp hơn tôi (Luân cao 1m5, còn tôi 1m7) nhưng dáng người lực lưỡng, và những chiếc áo sơ mi trắng học trò chật bó làm bật thân trên của một vận động viên thể hình nghiêm túc với phần cơ bụng thuộc hình thể mà trước 1975 chúng tôi gọi bằng tiêng Anh là 6-pack (tiếng bình dân ngày nay gọi là “6 múi”). Luân có đôi mắt “tam bạch đản” khiến gương mặt nam tính khôi ngô của Luân có phần bị phá cách. Chưa kể, Luân thuộc hàng “anh chị bự” ở  trường Tân Việt, và mọi học sinh nam nữ đều cho rằng tốt hơn hết là nên né Luân từ xa để có được hai chữ bình an. Nói một cách tôn trọng sự thật thì tôi rất “ớn lạnh” mỗi khi bắt gặp Luân đang hướng ánh mắt long lên sòng sọc đến một kẻ đáng thương nào đó, còn các học sinh trong lớp của tôi thì người nào anh dũng lắm mới dám cả gan hùng hồn gọi lí nhí sau lưng Luân rằng Luân là “quân lưu manh”.

Nhưng dù Luân có “lưu manh” hay không, vẫn có một thực tế mà một nhà sử học Việt Nam Cộng Hòa duy nhất ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như tôi nhân đây xin nhắc lại sự thật 100% về “dân anh chị” của Sài Gòn trước 1975:

(a) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì chỉ ra tay lưu manh/anh chị/côn đồ với dân lưu manh/anh chị bự/côn đồ ở nơi khác, chứ tuyệt đối không bao giờ động đến người dân ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc;

(b) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt mà giở thói lưu manh/anh chị/côn đồ với người ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc thì do đích thị bản thân hèn hạ, súc vật “lộn chuồng”;

(c) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì luôn kính trọng và bảo vệ bằng nắm đấm những gia đình “có học thức” + “hiền lương” + “yếu thế”, và

(d) dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì luôn khoái cái danh “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” nên không những thường ra tay cứu độ bảo vệ người ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc mà còn lên tiếng chửi tục xé nát tờ báo mỗi khi đọc thấy có tin côn đồ bức hiếp lương dân hay côn đồ hiếp dâm tập thể một nữ sinh hay phụ nữ nào đó.

Cũng vì vậy mà chẳng mấy ai lấy làm lạ khi trước 1975 nhiều dân “lưu manh” tức dân “anh chị bự” tức dân “côn đồ” Sài Gòn thứ thiệt sẵn sàng vì “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” mà ra tay (tức ra…chân) ngáng đường để hất ngã cảnh sát/an ninh/mật vụ Sài Gòn nhằm giải vây cho bất kỳ ai đang bị dí bắt mà họ tin đó là đặc công Việt Cộng hoặc sinh viên học sinh chống Mỹ.

Cái anh chàng Luân ấy dường như ngụ tại khu dân cư nghèo khổ Kênh Trương Minh Giảng, sau lưng nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, sau 1975 gọi là Kênh Nhiêu Lộc, ở Quận 3. Còn khi tôi làm trưởng lớp 11 ở Tân Việt thì lớp tôi có nữ sinh Thái Thị Liên Hoa tuyệt đẹp có chữ viết bảng đẹp tuyệt và cốt cách sang trọng – tất nhiên sang trọng không đồng nghĩa với giàu có – ngụ cư tại Quận 4 khét tiếng.

Là người theo trường phái quý phái quý tộc (noble) sẵn có cốt cách sang trọng tự thân, ghét bọn theo trường phái trưởng giả chảnh chọe học làm sang (snob) luôn có tác phong hạ đẳng, tôi ít nói (chỉ nói liên tu bất tận khi trần thuyết tức thuyết trình trước lớp về các đề tài phân tâm học/tâm lý học/siêu hình học/đạo đức học/luận lý học), ít giao tiếp (chỉ ngắm nhìn thầm thương trộm nhớ Lý Quỳnh Hoa), ít cười (chỉ cười khi nhìn thấy Đinh Thị Mai Trâm chờ ở cổng trường hoặc khi được Thầy Tổng Giám Thị Đỗ Văn Phương khen ngợi), tôi đã dùng quyền phủ quyết của trưởng lớp để bác bỏ tất cả các kế hoạch tổ chức ăn chơi kiểu Mỹ của bọn nam sinh nhà giàu trong lớp. Ăn chơi kiểu Mỹ trong giới học sinh nhà giàu Sài Gòn luôn gồm phì phèo thuốc lá, nốc bia, nhảy đầm, và không hề thiếu những hành vi đê tiện bẩn thỉu mạt hạng sử dụng thuốc kích dục đắt tiền hoặc thuốc ngủ rẻ tiền để phá trinh những nữ sinh thuộc các nhóm nhà nghèo học đòi ăn chơi, nhóm nhà giàu khờ khạo ngu đần, nhóm nhà giàu nết na bất cẩn. Để bảo vệ Lý Quỳnh Hoa và do bản thân khinh miệt tất cả các thứ ăn chơi kiểu Mỹ, tôi luôn bác bỏ các đề nghị tôi hãy đứng ra tổ chức các buổi tụ tập như vậy dù của riêng lớp 12C1 Tân Việt hay phối hợp với lớp 12C Petrus Trương Vĩnh Ký mỗi khi sắp có Lễ Giáng Sinh, Tết Tây, Tất Niên, Tân Niên, tức những dịp mà bọn con trai nhà lành thường lắc đầu than rằng “ôi lại sẽ có biết bao nữ sinh bị phá trinh”.

Cho đến khi có một tên học sinh nhà giàu lớp tôi căm giận bày tỏ thái độ với tôi, tôi mới có dịp may biết rõ hơn về Nguyễn Minh Luân.

Tên học sinh nhà giàu ấy thuộc gia đình “người Bắc di cư”, thường lảm nhảm khoe rằng ở biệt thự nhà hắn tại thư phòng riêng của hắn có tấm bảng sơn son thếp vàng ròng 24K to đùng mang dòng chữ Hữu Chí Cánh Thành bằng tiếng Hán-Việt do bố của hắn tặng ban, kỳ vọng hắn sẽ trở thành vị Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa (không phai Cộng Hòa) trẻ tuổi nhất và đẹp trai nhất thế giới. Hắn đi học với áo sơ mi lụa mỏng in hoa màu hồng, tóc chải dầu bóng đứng tóc (thời ấy gọi là bờ-ri-lăng-tin còn ngày nay gọi là gel) láng mướt, mang giày Tây bóng láng đế cao (vẫn chỉ đứng cao đến vai tôi).

Vào hôm “định mạng” đó, lúc chuông ra chơi, như thường lệ tôi ở lại trong lớp để đọc một quyển tiểu thuyết tiếng Anh dường như của Nan Maynard thì phải. Tuy lấy làm lạ không hiểu vì sao tất cả mọi người đồng loạt bỏ xuống lầu chứ không như mọi hôm luôn có ít nhất ba bốn học sinh – kể cả Lý Quỳnh Hoa – ở lại lớp tán gẫu, tôi nhún vai điềm nhiên không chút lắng lo.

Khi nghe tiếng giày lộp cộp đến gần, tôi ngẫng lên và thấy thằng học trò công tử nhà giàu hữu chí cánh thành đó đang tiến đến bàn của tôi. Hắn rít lên trong lúc tôi chưa kịp nhận ra tình cảnh: “Mày dám chọc gậy bánh xe hử?” Một quả đấm vung ngay vào mặt tôi. Chuyện có thực này hoàn toàn không là chuyện phim hành động Hollywood hay phim kiếm hiệp Tàu hoặc phim tình cảm Hàn. Nhưng nếu sử dụng camera điện ảnh chuyên dùng quay phim tốc độ cực nhanh để phát hình bình thường nhằm tạo hiệu ứng slo-mo cho ra cảnh quay cử động cực chậm, thì diễn biến slo-mo sẽ như sau: trước khi quả thôi sơn hữu chí cánh thành ấy kịp chạm vào giữa sống mũi tôi thì nó đã bị một bàn tay chém ngang hất ra với tiếng hét Kiai giọng miền Nam ngắn gọn đặc thù: “Đù Mẹ mầy!” Đó là tiếng gầm của Nguyễn Minh Luân.

Hóa ra tại phòng vệ sinh nam đông đúc, trơn trợt, nồng nặc mùi a-mô-ni-ắc xú uế, Luân tình cờ nghe mấy nam sinh vừa tưới nước vừa kháo với nhau rằng có phải đã được yêu cầu rời phòng học để ai đó sắp tiến hành trừng trị trưởng lớp Hoàng Hữu Phước hay không. Thế là Luân lao ra khỏi toilet chạy bay lên cầu thang cao vút (tất nhiên, đã kéo phẹc-ma-tuya, hoặc chí ít thì cũng vừa chạy vừa kéo phẹc-ma-tuya) phi thân vào lớp tôi để hét lên một tiếng Kiai hào sảng ra tay đập thằng hữu chí cánh thành một trận. Tôi phải cản ngăn Luân lại để ngoài lổ mũi sẽ không có nơi nào khác trên mặt thằng hữu chí cánh thành có thêm dịch tiết màu đỏ hồng như hình in trên áo nó. Cần nhấn mạnh rằng cho tới lức đó tôi mới lần đầu trong đời nói chuyện với Luân, dù chỉ có một hai câu ngắn gọn.

Kể từ hôm ấy, ngày nào vào lúc ra chơi, Luân cũng đều đến lớp tôi, đứng yên ngoài hành lang lườm lườm ném qua hai khung cửa sổ những cái nhìn giận dữ, sòng sọc, hù dọa, răn đe đến các nam sinh nhà giàu thuộc nhóm hữu chí cánh thành. Luân bảo làm thế để yên tâm sẽ không còn ai dám động đến tôi, “anh” Trưởng lớp 12C1 hào hoa và đào hoa. Hóa ra, dù không quen biết tôi, Luân vẫn để ý đến mọi sự việc xảy ra tại Tân Việt là “địa bàn” mà Luân hùng cứ và không cho phép xảy ra những việc chướng tai gai mắt nhất là khi đó là những hành động dám…“lưu manh côn đồ” ra tay hạ thủ với những người mà Luân ngưỡng mộ.

Thời điểm ngày 30-4-1975, các giáo sư biến mất, các lãnh đạo và chủ nhân trường biến mất, các học sinh biến mất, Lý Quỳnh Hoa biến mất. Khi trở lại trường Tân Việt vài ngày sau đó, tôi gặp Anh Ba Châu (Nguyễn Minh Châu) là cán bộ cách mạng tiếp quản Quận 3. Nhanh chóng đánh giá con người qua “khuôn trung” chứ không qua cái gọi là “bản lý lịch” (vì lức ấy làm gì có “chính quyền” để chứng “lý lịch”), Anh Ba Châu ngỏ lời nhờ tôi giúp quản lý trường Tân Việt để giữ chân những học sinh nào còn trở lại trường, chờ Ủy Ban Quân Quản cử cán bộ quản lý giáo dục thích hợp. Toàn bộ 30 học sinh lớp 12C1 của tôi – trừ tôi – đã rời khỏi Việt Nam. Tôi chỉ tụ tập được 4 học sinh lớp khác nhưng ngang với tôi tức đã học xong lớp 12 để hình thành đội giảng viên để dạy các lớp 10 và 11 nào đã có học sinh trở lại. Tất nhiên chỉ có tôi phụ trách dạy môn Anh Văn, còn môn thứ nhì cũng là môn cuối cùng là…ca hát nhạc cách mạng thì do bốn vị học-sinh-làm-thầy-giáo kia gồm ba nam một nữ phụ trách mà tôi chỉ còn nhớ tên của Lâm Lễ Trí (luôn xách cây đàn guitar) và Hà Thị Kim Ngân (tập ca hát) hình như là học sinh lớp 12A1 tức chuyên khoa Sinh Hóa mà tôi nghe đồn rằng họ sẽ nên nghĩa vợ chồng sau khi thi đỗ Tú Tài và bước chân vào đại học. Tất nhiên 5 người chúng tôi dạy học không lương, không hưởng bất kỳ quyền lợi vật chất nào. Thứ duy nhất chúng tôi nhận được là cơ hội trở thành … lãnh đạo trẻ tuổi nhất dù của một ngôi trường nhỏ xíu xìu xiu.

Khi thấy Luân đến trình diện, tôi trổ tài tuyên giáo, đề nghị Luân ở hẳn trong khuôn viên trường để bảo vệ tài sản chờ bàn giao cho Ủy Ban Quân Quản. Thế là Luân quy tụ về dưới trướng của Luân bốn “học sinh” khác (dù tôi không chắc họ đã là “học sinh” của trường) hình thành đội bảo vệ. Tôi đến gặp Anh Ba Châu báo cáo tình hình, và xin Anh cấp cho đội bảo vệ tiêu chuẩn lương thực. Anh bảo nếu những học sinh “trông mặt mũi dữ dằn” đó được tôi tin cậy thì anh sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của tôi và chấp nhận giao cơ sở vật chất trường cho Luân và nhóm của Luân bảo vệ đêm ngày. Nhiều hôm, tôi đến trường vào buổi tối, thấy Luân chỉ đạo “quân sĩ” lấy sách báo thu được (từ những chuyến “Bài Trừ Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy Phản Động” quanh trường kể cả khu vực Chùa Miên gần Cầu Trương Minh Giảng và quanh Chợ Trương Minh Giảng) để nhóm lửa nấu cơm. Tôi phải “làm việc” với Luân, giải thích với Luân rằng ắt do thành phần trí thức trong chính quyền quân quản thiếu trầm trọng nên ủy ban mới vì không hiểu biết mà yêu cầu thu gom tịch thu tất tần tật các sách vở có tiếng nước ngoài (kể cả từ điển và bách khoa toàn thư) hoặc tiếng Việt vì…do Việt Nam Cộng Hòa xuất bản (kể cả bản dịch tiếng Việt các tác phẩm vĩ đại như …Chiến Tranh Và Hòa Bình), nên hãy giúp tôi bảo quản các núi văn hóa phẩm quý giá tài sản nhân loại ấy, còn muốn có nhiên liệu nấu ăn thì cứ lấy báo chítạp chí ở truồng khiêu dâm như Playboy Soho mà đốt thoải mái. Luân nói Soho thì đốt được, nhưng Playboy thì khó nhóm lửa quá do bằng giấy láng khó bắt lửa và nếu bén chút lửa thì lại tạo ra khói xám bốc mùi hôi sặc sụa. Tôi bảo Luân xé vụn các quyển Playboy cho vào bao tải. Luân có tự ý cất giấu vài quyển tự điển Tiếng Anh bọc da to đùng nặng chình chịch – chắc tịch thu từ Thư Viện Anh tức The British Council Library cũng trên đường Yên Đỗ cách Tân Việt 6 căn biệt thự – và sau đó ngỏ ý muốn giao lại cho tôi vì tôi là người duy nhất gọi sách là kho tàng và là bậc …“thầy” tiếng Anh (đang dạy tiếng Anh tại Tân Việt mà!). Đến giờ tôi vẫn tiếc vì đã từ chối ý tốt của Luân, bảo Luân rằng đó là tài sản của cách mạng, hãy giữ để sau này giao cho cách mạng thành lập thư viện. Vài tháng sau, tôi vào đại học, Luân ở lại học lên lớp 12, và tôi không còn gặp lại Luân. Nhưng tôi biết cả núi sách chất đầy 57 chuyến xe ba gác đã biến mất vì các vị ban giám hiệu quản lý trường Tân Việt năm học đầu tiên của cách mạng (1976-1977) từ chối trả lời câu hỏi của tôi về số phận của kho tàng ấy, khiến tôi không thể biết chúng đã tất thành than hay thành nguồn thu cho trường từ việc bán cho vựa giấy vụn ve chai.

Học chữ bậc trung học không phải là chuyện giỡn chơi như thời 2018. Ắt Luân khó học xong lớp 12. Và bọn Tàu và bọn Kampuchea tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược ở toàn tuyến biên giới phía Bắc và toàn tuyến biên giới phía Tây Nam, khiến bao đấng hùng anh và trang hảo hán Việt Nam phải hy sinh trên chiến trường vệ quốc. Tôi không rõ hảo hán Nguyễn Minh Luân đã ra sao.

Minh Luân thân mến, tôi tự hào đã được một trang hảo hán Sài Gòn trượng nghĩa – người mà thế giới bình dân thành thị gọi là dân “anh chị bự” Sài Gòn – như Luân bảo vệ, được Luân nghe theo lời khuyên để ra sức giữ gìn tài sản cho cách mạng trong những tháng đầu giải phóng.

Tôi không rõ Minh Luân nếu sống còn qua cuộc chiến tranh tàn khốc chống bọn giặc Tàu chó đẻ và bọn giặc Kampuchea chó ghẻ, đã có cuộc sinh nhai sinh tồn ra sao tại Thành Phố Hồ Chí Minh hay ở miền quê nào đó.

Anh mong sao những khó khăn – nếu có – trong cuộc sống của em đã không khuất phục được em trong thủa hòa bình này, dù chính thời bình đầy ngán ngẩm lắm vô duyên này không ủ ấp trong nó mầm xanh tươi tỏa lan hy vọng và sự cao thượng như từng hun đúc từ tàn phá hủy diệt của chiến tranh.

Nếu em còn sống trên đời – và anh cầu mong như vậy – hãy bảo con cháu của em viết cho anh vài chữ, Luân nhé.

Nếu em đã hy sinh hoặc quy tiên, bài viết này sẽ như nén hương thô dâng tặng em  với lòng tưởng nhớ chân thiết về em và những điều trượng nghĩa em đã làm để bảo vệ anh, người yếu thế, tay hàn sĩ trói gà không chặt.

Cuộc đời anh ắt đã không phải gặp quá nhiều những điều bĩ cực, nếu như anh đã được bảo vệ bởi nhiều hơn những người dân “nghèo, dữ dội, và trượng nghĩa” Sài Gòn thứ thiệt như em, Nguyễn Minh Luân ạ.

Cảm ơn em, trang hảo hán Sài Thành.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa

Tham khảo:

Lý Quỳnh Hoa  04-01-2018

Đinh Thị Mai Trâm  21-01-2018

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2016

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

(Đã post ngày 29-01-2009 trên Emotino.com)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm mới nói về những người của thế hệ y khoa trước, về những nhân tài hiếm hoi không phải ai cũng còn nhớ đến sau những cơn giông ba bão táp của thời gian và dưới lớp bụi mờ của lãng quên. Bác sĩ Đặng Minh Chiếu, Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô, và Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa của Sài Gòn hoa lệ, và Bác Sĩ Ngươn của Thành phố Hồ Chí Minh cường thịnh. Những cái tên không thể nào quên với gia đình họ Hoàng chúng tôi.

ScreenShot1147

Bác sĩ thì ai lại không có phòng mạch riêng. Đó là cách nghĩ của người trong cuộc và người đời. Song, có hai thực tế tại Sài Gòn trước 1975 là (a) bác sĩ có phòng mạch riêng là những bác sĩ tài danh thực thụ vì chẳng có tài danh thực thụ thì chẳng bịnh nhân nào tìm đến, mà “tài danh” ấy không do quảng cáo hay do treo bảng hiệu hoành tráng; (b) xem việc mở phòng mạch không bao giờ là để kiếm thêm thu nhập mà chỉ để đem tài ra “cứu nhân độ thế” như những bậc thầy của chính mình đã luôn học, luôn sống, và luôn làm theo lời thề thiêng liêng của chức nghiệp; và không những thế (c) không nhất thiết phải có phòng khám riêng, đơn giản vì còn tận tụy dành trọn thời gian quy định tại bịnh viện nơi làm việc chính.

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô là nguyên khoa trưởng Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, có phòng mạch tại 39C đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn, nay là tòa nhà dường như hai năm trước trở thành Kinh Đô Bakery. Nha Sĩ Mô chỉ khám chữa răng buổi sáng, còn buổi chiều do nha sĩ Đoàn Ân phụ trách, còn phòng răng 39C Cao Thắng ấy là tư thất của gia đình nha sĩ Đoàn Ân. Đó là một phòng chữa răng trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ như máy lạnh và máy chụp quang tuyến X. Nha sĩ Mô không có trợ tá mà tự mình làm tất cả mọi việc kể cả việc chụp hình răng bằng máy quang tuyến ấy. Bác sĩ Mô đến phòng mạch bằng xe Mercedes đen, tự lái, đậu trong sân (vì nhà nào ở mặt tiền đường cũng luôn xây thụt vào trong khoảng 5 hay 10 mét để chừa khoảng không khoáng mát phía trước để đậu xe, chứ không như bây giờ ai cũng xây áp sát đường để nhà rộng lớn hơn, cảnh quang tầm thường hơn, đường chật chội xấu xí hơn, còn ô tô thì hoặc đậu nơi lòng đường, trên lề đường, hoặc chui tọt vào bên trong căn nhà).

Khi em trai tôi lên 6 tuổi, có một răng cửa hàm trên bị sâu; như thường lệ đối với thành viên toàn gia đình, Má tôi đưa em đến Nha Sĩ Mô để nhổ răng, tất nhiên rồi – và tất nhiên có tôi đi kèm theo. Nha sĩ Mô nhẫm hát là lá la một đoản khúc nhạc cổ điển dường như là Fantasia của Liszt Ferenc. Ông nhìn chiếc răng rồi bảo Má tôi rằng Ông nhất thiết phải đưa em tôi vào Đại Học Nha Khoa giải phẫu cho sinh viên học tập, vì đây là một ca hiếm theo y văn thế giới. Theo Ông, răng cửa trên bị hỏng không do bị sâu, chẳng do bị răng khác mọc chêm mà tiếng trong Nam gọi là “lòi xỉ”, mà Ông nhìn là biết ngay do răng khác mọc thẳng hàng vào giữa chân răng đang tồn tại, nghĩa là có răng khác ẩn ở dưới “ngạc” tức vòm miệng, và phải rạch để gắp ra, cứu răng cửa. Ông trấn an Má tôi rằng đấy là chuyện nhỏ. Với sự lo âu vì một khi đã là “ca hiếm” phải giải phẫu biểu diễn dạy các sinh viên đại học thì đúng là đại sự hiểm nguy và tốn kém, Má tôi rụt rè hỏi về chi phí, Ông bật cười, nói (giọng Bắc) rằng Ông đài thọ  toàn bộ chi phí, và khôi hài nói thêm rằng lẽ ra Ông phải trả thật nhiều tiền để Má tôi cho phép Ông đuợc giải phẫu ấy chứ, vì em tôi cho Ông có cơ hội bằng vàng dạy cho sinh viên Nha Khoa biết thực tế một ca mà chỉ có thể bắt gặp trong một trong các pho tài liệu tiếng Pháp dày cộm trong thư viện trường mà thôi! Và em trai tôi được lên lịch giải phẫu tại Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, tất nhiên cuộc giải phẩu có kết quả tốt đẹp. Tôi vẫn còn giữ hai chiếc răng mọc sâu bên trong “ngạc” của em tôi.  Thật là một nha sĩ đại tài, thay vì nhổ ngay răng sâu, chỉ cần nhìn cách mà răng bị sâu là đã biết ngay đó không là sâu răng: răng sâu không bị nhổ bỏ mà hai răng thủ phạm ẩn núp trong “ngạc” khiến chặn đường dinh dưỡng làm răng giống như bị sâu thì được gắp ra! Phòng khám tư của Ông treo khoảng sáu văn bằng y khoa của Mỹ, Anh và Pháp. Nhiều trang thiết bị hiện đại thời ấy, kẻ cả máy chụp X-quang nha khoa. Nhưng Ông đã không dùng máy X-quang khi định bệnh cho em tôi. Ông không nhổ phức chiếc răng sâu của chú bé 6 tuổi, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông cũng sẽ làm. Ông không thu một xu chi phí, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông và đặc biệt thời nay không ai làm thế, trái lại họ có thể thu tiền cao nếu bịnh nhân trực tiếp đến phòng khám của họ, hoặc nếu bịnh nhân tìm đến bịnh viện công nơi nha sĩ công tác thì nha sĩ thường sẽ thuyết phục họ hoặc đến phòng mạch tư của ông ta, hoặc ra một bịnh viện tư để nha sĩ này sẽ đến đó phẫu thuật giúp – tất nhiên nhằm thu tiền nhiều hơn sau khi trả hoa hồng cho bịnh viện tư ấy, thay vì để bịnh viện nhà nước “hưởng” còn bản thân chỉ có chút ít phụ cấp theo quy định. Đơn giản: Ông là Nguyễn Tư Mô, một Nha Sĩ tài danh, một Nha Sĩ đích thực, một bậc Thầy luôn xem việc phục vụ y học là mục đích cuộc sống và việc đào tạo ra cho đời những nha sĩ giỏi là ý nghĩa cao trọng nhất của sự nghiệp một bậc thầy.

Giá như Ông ở lại với đất nước Việt Nam thống nhất, đừng ra hải ngoại ngày 30-4-1975, Ông đã có thể giúp ngành Nha Việt Nam và “người” Nha Việt Nam tốt đẹp và phát triển mạnh đến dường nào, vì Ông là tấm gương.

Không có gương báu và gương sáng để soi, người ta sẽ chẳng biết mình sáng và tốt  ra sao để mà chỉnh đốn mình cho đẹp, răn mình có được thứ gọi là “y đức” mà trước đây tự nhiên ai cũng có tự thân và tự nhiên, còn ngày nay trở thành thứ trang sức lệ thuộc tuyệt đối vào giáo dục ý thức mà cái sự giáo dục ấy thường được chứng minh là tương đối có hiệu quả.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Nếu Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô cứu một chiếc răng cửa cầu kỳ của em trai tôi, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cứu mạng em gái Thúy Hồng của tôi ngay tại phòng mạch – cũng là tư gia của Bà – tại biệt thự xinh đẹp cây cối um tùm hoa giấy đỏ ngay đầu ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện Vuờn Tao Đàn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Do em gái tôi bị sốt dài ngày, Ba và Má tôi đưa em tôi đến nhiều phòng mạch bác sĩ tư để đem về bao thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, thuốc viêm họng, thuốc viêm phổi, mà em tôi vẫn không thuyên giảm. Má tôi chợt nhớ tới Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và tất cả lập tức đưa em tôi đến phòng mạch của Bà, tất nhiên có tôi đi kèm. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là một phụ nữ tuyệt đẹp, dáng người không cao, nhưng phong thái quyến rũ, dịu dàng. Bà mặc đầm hồng phấn khi khám bịnh. Khi nhìn thấy em tôi, Bà chợt mím môi, tức giận, nói lớn tiếng: “Sao ai lại ác vậy? Khám vậy mà khám! Chết đứa nhỏ còn gì! Đây là bịnh thương hàn!” Bà lập tức viết toa thuốc trong lúc nói chuyện hướng dẫn Ba tôi bằng tiếng Pháp, rồi dặn Má tôi bằng tiếng Việt phải nấu súp gì cho em tôi uống, tuyệt đối không được ăn gì, v.v. và v.v. Em tôi được cứu sống chỉ với cái nhìn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà không cần thử máu hay chụp hình gì cả!

Sau đó gia đình tôi nghe tin Bà vào Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau 1975, chúng tôi mừng vui thấy Bà là Bộ Trưởng Y Tế. Nhưng chúng tôi không có dịp gặp lại Bà, và Bà cũng đâu có nhớ thằng bé tên Phước đã đứng lặng trân chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bà. Sau này không còn tin tức gì về Bà, cho đến ngày Bà mất. Một bác sĩ đại tài, tự mình nghe bịnh, tự mình khám bịnh, và tự mình chỉ định chính xác bịnh án cùng phác đồ điều trị, chứ không sai bảo bất kỳ ai trong số hai y tá phục vụ tại phòng mạch riêng ấy.

Bác sĩ Đặng Minh Chiếu

Trong khi đó, bác sĩ Đặng Minh Chiếu có phòng mạch tư và biệt thự gần rạp hát Long Phụng (trên đường Gia Long, ngày nay gọi là đường Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh), lừng danh về phụ khoa tại Sài Gòn. Ông đã tư vấn cho Ba Má tôi phải bảo vệ thai nhi thế nào mỗi khi Má tôi mang thai một đứa con. Mỗi khi theo Má tới phòng khám của Bác sĩ Chiếu, tôi thấy có nhiều sản phụ nước ngoài cùng chồng ngồi chờ ngoài sảnh. Nói tiếng Pháp điêu luyện, Ông có tài làm tất cả mọi người an tâm, vui vẻ, bình yên, hạnh phúc, xem như thai sản là chuyện dễ dàng, tự nhiên, trong một giai đoạn thời đại mà những ân cần chi tiểt như vậy vẫn chưa là tiêu chuẩn cả trời Âu. Tất cả những chỉ dẫn của Ông dành cho Má tôi đã được gia đình áp dụng cho đến sau ngày giải phóng, khi các em tôi lập gia đình và trở thành sản phụ đều được Má tôi lập lại những lời dặn dò của vị bác sĩ đại tài Đặng Minh Chiếu. Đặc biệt, những căn dặn của Ông là tổng hợp của kiến thức uyên bác Tây Y trên cơ sở không phản bác kinh nghiệm dân gian nào Ông cho là lành mạnh đáng tin cậy dù không bao giờ được Tây Y nghiên cứu. Chúng tôi không còn nghe tin về Ông sau ngày 30-4-1975, ắt Ông đã theo dòng thác người cuồn cuộn di tản của thời biến động ấy.

Bác Sĩ Ngươn

Bác sĩ Ngươn, trưởng khoa ngoại thần kinh Bịnh Viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh, lại là một trường hợp khác. Sau 1975, lúc Việt Nam vẫn còn chịu đựng sự cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, tôi công tác tại Văn phòng đại diện Công ty CIMMCO International thuộc tập đoàn Công-Thương-Kỷ Birla lừng danh toàn Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh. Có lần tôi đưa Trưởng Đại Diện người Ấn Độ của CIMMCO đến Chợ Rẫy khám bịnh tim mạch. Bác Sĩ Ngươn lúc ấy phụ trách khoa khám ngoại kiều. Tài năng chẩn định bệnh và khẩu ngữ tiếng Anh của Bác sĩ Ngươn làm Ông Trưởng Đại Diện ngạc nhiên, thán phục. Ông nói với tôi là Việt Nam thực sự có bác sĩ giỏi đến thế sao! Thậm chí, khi thấy sự chậm chạp của con rùa hành chính của bịnh viện với hàng chục lần thân nhân phải liên tục chạy xuống lầu đóng tiền lấy hàng chục biên nhận đóng tiền cho những xét nghiệm khác nhau, có thể gây phản cảm nơi bịnh nhân nước ngoài, bác sĩ Ngươn đã “phá luật”, viết lịnh tay để Ông Trưởng Đại Diện được xét nghiệm ngay lập tức, nghĩa là việc thanh toán thì tôi từ từ thực hiện trọn gói sau, và cũng nghĩa là nếu tôi không thực hiện thì bác sĩ Ngươn sẽ phải bị kỷ luật thật nặng! Để có thể “đền ơn”, tôi hỏi xin địa chỉ phòng mạch thì Bác sĩ Ngươn nói Ông và vợ Ông cũng là một bác sĩ đều không có phòng mạch riêng và không bao giờ muốn có phòng mạch riêng. Tôi xin số phone nhà thì bác Sĩ Ngươn bảo nhà không có phone. Tôi xin địa chỉ nhà, thì Bác sĩ Ngươn nói hai vợ chồng thường xuyên vắng mặt. Ông Trưởng Đại Diện nhờ tôi đến Chợ Rẩy tìm bác sĩ Ngươn để trao tặng vợ bác sĩ Ngươn một món nữ trang bằng vàng theo thói quen của người Ấn, thì bác sĩ cười bảo với tôi rằng “Tôi không nhận đâu. Tôi làm vì danh tiếng Chợ Rẩy và vì danh dự một bác sĩ. Anh Phước mà đặt vấn đề đền ơn nữa là tôi không coi anh là bạn đâu. Chúng tôi không mở phòng mạch vì đã dành hết sức lực phục vụ bịnh nhân ở bịnh viện, còn đâu hơi sức mà lo phòng mạch. Với lại vợ chồng tôi nhất trí không để danh tiếng bị tổn hại vì nếu mở phòng mạch sẽ bị tai tiếng là không tận tụy với bịnh viện và dẫn dụ bịnh nhân của bịnh viện về phòng khám tư của mình. Thành ra, chỉ biết lui về nhà với gia đình sau khi ở bịnh viện về thôi Anh Phước ạ. ” Tôi trả lại Trưởng Đại Diện chiếc hộp nhung đỏ với món nữ trang bên trong, thuật lại nội dung. Hai vợ chồng ông tần ngần hồi lâu, cảm động, rồi cười to: “Tưởng chỉ có Ông từ chối vàng, bây giờ biết thêm Ông ấy là hai!” Sau này ông Trưởng Đại Diện làm Chủ tịch Hội Hữu Nghị Ấn-Việt, còn vợ ông giảng dạy tiếng Anh tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh. Còn bác sĩ Ngươn, vị bác sĩ tài ba ấy, vì áy náy trước sự ân cần kính trọng thái quá của người nước ngoài đã phải buộc lòng phá lệ khi lịch sự nhận lời chạy xe máy Honda đến dùng cơm tối tại nhà ông Trưởng Đại Diện trên đường Phùng Khắc Khoan. Tôi cũng có mặt, vì đó là sự đương nhiên ở CIMMCO, và vì bác sĩ Ngươn bảo cần có tôi để có chứng nhân rằng Ông không nhận bất kỳ vật chất nào của ông Trưởng Đại Diện cả. Con người thanh liêm đức độ ấy chỉ đến ăn cơm cà ri và trò chuyện.

Có lẽ Bác sĩ Ngươn đã nghỉ hưu. Tôi thậm chí không nhớ tên đầy đủ của Ông sau 16 năm đằng đẵng vì Ông không cho danh thiếp chắc vì không in danh thiếp. Một vị bác sĩ tài ba, tận tụy với nghề đến nỗi không sao còn dư thời gian để có phòng mạch tư dù cũng để cứu người.

 

Cung cách sống đặc biệt của những bậc y khoa tài hoa ấy, luôn xem Lời Thề Hippocrate trước Thần Chữa Bệnh Apollon, Thần Y Học Esculape, Thần Hygie và Panacée cùng các nam nữ thiên thần là lời thề của con tim và từ khối óc, để cứu nhân độ thế, và vì danh dự chức nghiệp cao trọng của một đời.

Chúng tôi – và hy vọng là chúng ta – gọi họ là những con người thanh liêm, những y sĩ có y đức; vì rằng y đức không phải là một chủ đề cho một lời kêu gọi hay một kế hoạch đầy tốn kém để giáo dục và dựng xây – nhất là nơi khởi xướng nếu lại là từ Ngành Y thì quả là sự nhức nhối khôn khuây với muôn đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ẩm Thực Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-01-2016

Thân nhân của tôi ai cũng thích ăn món Nhật và thường xuyên đăng ký đến ăn tại nhà hàng Nhật như Tokyo Deli – “đăng ký” vì nếu không sẽ gặp phải rắc rối do các nhà hàng này luôn đông nghẹt thực khách mà đa số là người Việt.

Tôi rất thích ăn món Hàn và thường xuyên dẫn nhân viên đến ăn tại các nhà hàng Hàn – và do rút kinh nghiệm tại các nhà hàng Nhật nên tôi cũng phải phone đăng ký giữ chỗ trước ở các nhà hàng Hàn.

Tôi rất thích ăn các món Việt do chính Má tôi nấu như thịt kho trứng, trứng chiên óc heo, thịt bò lá lốt, cá lóc kho, thịt kho tiêu đậm đặc, hay bánh xèo, các món chay với “mì căng”, v.v.

Tôi rất thích các gameshow như Master Chef trên đài tivi nước ngoài vì tất cả các món dù được chế tác bởi người lớn hay trẻ em đều rất hấp dẫn đối với tôi – “chế tác” vì toàn là món mới lạ do các giám khảo ai cũng là đầu bếp nổi tiếng thế giới làm chủ nhân ông của các chuỗi nhà hàng kinh doanh ẩm thực lừng danh đánh giá và thậm chí tuyên bố “xin” được chọn món nào của các đầu bếp “tài tử” người lớn hay trẻ em dự thi làm nên ấy bổ sung vào thực đơn tại chuỗi nhà hàng của mình; và “hấp dẫn” vì sự dồi dào của nguyên liệu cùng màu sắc.

Vì tất cả những điều trên, tôi dị ứng với

1- Các gameshow mô phỏng ở Việt Nam do chẳng giám khảo nào là dân đẳng cấp tương tự Master Chef chấm điểm, chẳng món ăn nào thuộc loại “chế tác hấp dẫn”.

2- Các chương trình dạy nấu ăn Việt trên tivi Việt không do “đầu bếp tài tử” đẳng cấp Master Chef mà do toàn là nghệ sĩ này nghệ sĩ nọ – tức “tay mơ nấu ăn” chứ không phải “đầu bếp tài tử” – thực hiện, mà đa số thời gian để nói láp giáp quàng xiên đa lĩnh vực, còn món ăn thì là những thứ quen thuộc người nội trợ nào cũng nấu được, trong khi màu sắc thì đa số màu xám xịt, xám nâu tẻ nhạt. Việc này chẳng khác nào mời tay mơ lên nói về y học, mời tay mơ lên nói về cách dạy tiếng Anh, mời tay mơ lên nói về ngân sách ngân hàng ngân quỹ ngân nga tiếng chuông chùa vây.

Như đã nêu trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa, những người buôn gánh bán bưng hàng xén ngày xưa toàn là dân ẩm thực chuyên nghiệp vì họ theo nghề cha truyền con nối với sự am hiểu về nguyên liệu, công thức pha chế gia truyền, đạo đức ẩm thực (tức vệ sinh an toàn thực phẩm và tất cả vì phục vụ sự sành điệu của khách hàng, vì danh dự của nghề nghiệp cũng như danh dự ẩm thực nước nhà).

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi thích uống trà mà cứ vài ngày một lần tôi chạy sang tiệm Chú Hai Tiều người Tàu mua một gói trà quấn trong giấy có in nhãn hiệu gì đó về cho Ba tôi pha. Hai hay ba năm nay tôi loại bỏ hẳn trà (tức là “chè” theo tiếng Bắc) trong thực phẩm hàng ngày của mình, dù tôi nghiện trà rất nặng – như đã từng nói trong một bài blog rằng tôi có “gu” uống cà phê rất lạ khi đến Trung Nguyên: yêu cầu pha cho tôi một ly cối từ 4 đến 6 phin cà phê nhưng pha trong bếp đừng để tôi thấy bản mặt mấy cái phin do tôi rất ghét cái tỏn tỏn từng giọt của phin mà nếu tự pha thì toàn là pha bằng vợt vải như đã nói trong bài Hành Trang Nghị Sĩ, kèm theo một bình trà thật đậm mà ngay cả các cụ ông miền Bắc cũng khó thể uống nổi, để tôi pha hai thứ vào ly đá trước khi vừa uống cái hỗn hợp không đường ấy vừa thưởng thức ít nhất 5 chiếc bánh “su kem” ngọt lịm. Lý do tôi không bao giờ uống trà nữa vì nghe tin có một tên nào đó đã nhúng trà vào bùn đất theo sự dặt mua của bọn Tàu, khiến tôi tởm lợm đối với trà. Mấy năm nay tôi uống trà-không-trà của nước ngoài, tức là uống loại trà thảo dược túi lọc với toàn kỳ hoa dị thảo mà không có chút lá trà (lá chè) nào. Còn nếu muốn uống trà (tức chè) thì tôi uống trà xanh sang trọng của Nhật Bản hay Hàn Quốc, hay trà đen sang trọng của Nga hay Ấn Độ, Anh Quốc, Bangladesh, hay của bất kỳ quốc gia nào mua trà của Việt Nam về chế thành thương hiệu của riêng họ. Tôi sẽ không bao giờ uống trà Việt Nam mua tại Việt Nam.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi hay mua bánh mì thịt ở tiệm Chú Hai Tiều kể trên do Thím Tư Tiều bán. Ổ bánh mì thủa ấy ốm nhom, dài cả cánh tay. Bánh mì thịt được cắt ra từ ổ bánh mì dài ngoằng ấy (mỗi ổ bán được cho 6 người), xẻ dọc, rồi cho vào vài miếng thịt nguội mỏng dính, một chút đồ chua tuyệt diệu từ củ cà rốt và củ cải trắng, rồi hoặc rắc một tí muối tiêu thơm lừng hoặc “xịt” một ít nước tương cực ngon dù chẳng ai quan tâm đến “thương hiệu”. Sau 1975, khi những người nghèo xưa biến mất, người ta bán bánh mì thịt theo kiểu ổ bánh mì nhỏ, xẻ dọc, trét vào đấy ba-tê chèm nhẹp khả nghi, rồi phết bơ nhẹp chèm nghi khả, gắp vào đấy vào miếng thịt nguội khả nghi, và ít đồ chua không thơm, rôi cũng rắc ít muối tiêu không mùi, hoặc “xịt” ít nước tương khả nghi. Tôi không thể nào nhai nuốt thứ bánh mì thịt hổ lốn ấy vì ba-tê và bơ phá tan nát khẩu vị bánh mì thịt đúng nghĩa, nhất là sau khi tivi đưa tin có kẻ bán bánh mì thịt mà ba-tê lúc nhúc giòi bọ. Tất nhiên, tôi thấy cũng là tin mừng khi một số người nước ngoài thích bánh mì thịt kiểu Việt; song, tôi từ nay chỉ ăn hoặc bánh mì thịt kiểu…Thổ Nhĩ Kỳ đang được bán rộng rãi tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc tự mua bánh mì không để về nhà ăn với hoặc ba-tê hộp của Hạ Long hay của nước ngoài, hoặc với thịt nguội của Vissan, hoặc với cá hộp của Hạ Long hay của Nga, hoặc đơn giản chấm nước tương Phú Sĩ ăn ngon lành với mấy trái ớt hiểm mà không cần bất kỳ thịt thà gì cả. Tôi cũng thà ăn mấy chiếc hamburger to đùng cao tầng tầng lớp lớp đầy tràn rau thịt của Mỹ mà vẫn cho đó là thức ăn thanh lịch trọng sang ngon tuyệt chứ không cho nhân viên xếp hàng dài chờ mua ổ bánh mì mập ú nhét đầy tràn rau thịt rất không thanh lịch quá bình dân chẳng thể gọi là ngon như đang bán ở một số nơi tại Quận 1 hay Quận 3.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi nghiện cơm tấm vì sự thơm của hạt gạo tấm, vì những thức “đặc thù” chỉ có ở món này như chả và nước mắm cay. Hiện nay tôi không ăn sáng với cơm tấm vì cơm tấm được nấu bằng gạo thường, không phải “tấm”, và không có hương thơm của “tấm đặc sản”; còn nước mắm cay được pha quái gở đồng bộ khắp nơi nơi với sự sền sệt cứ như được chế với nước đường thắng để xài được lâu hơn, không phải đổ bỏ mỗi ngày theo kiểu pha chế ngày xưa, khiến ăn mất hẳn vị thơm ngon của nước mắm và sự quyến rũ của cách pha chế bí truyền (thậm chí người sành ẩm thực còn cho rằng việc “ai thắng ai” là nhờ ở nước mắm) mà chỉ còn là sự pha chế tạp nham ngọt lịm. Khi thấy có quán cơm tấm của Việt Kiều từ California về “mần ăn”, tôi vội vàng ủng hộ vì ngỡ sẽ được gặp lại cơm tấm trước 1975, không ngờ cũng y chang cơm tấm xuống cấp lề đường ngày nay, chỉ khác một điều là giá bán cao hơn chất lượng ắt tại có xài máy lạnh và có kèm chén canh như thứ phụ thêm kỳ dị, khiến tôi xem như cơm tấm vĩnh viễn đã không còn tồn tại.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi như mọi người dân miền Nam nghiện các món xôi ngọt, từ xôi vò, xôi gấc, đến xôi lá cẩm màu tím có rắc dừa bào, v.v. Sau 1975 tôi không thể nào ăn xôi do kiểu miền Bắc là xôi mặn ăn với thịt gà (!) trong khi tôi chỉ ăn đồ mặn với cơm, và tôi cũng không thể ăn xôi kiểu miền Nam vì xôi không được nấu với nguyên liệu thơm ngon đặc sản như trước, thậm chí xôi ở các chùa phát cho thiện nam tín nữ mà vợ tôi đem về cũng làm tôi nổi giận vì không thể ăn được do sự nấu xôi cẩu thả của các chùa bằng nguyên liệu rẻ tiền, lúc nào cũng chỉ có món xôi đậu xanh nhạt nhẽo vô duyên, phí tiền, phí của.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích dùng tiếng Anh để viết lách để khỏi bị kẻ ác tâm “ném đá” vì họ chỉ có thể dùng đá nội chứ không biết dùng đá ngoại.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích ăn các món ăn ngoại để khỏi bị kẻ ác tâm biến thành nạn nhân của vấn nạn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng kết bạn với nhiều người ngoại dù họ là quan chức Mỹ tại Mỹ hay sinh viên Iran chống Mỹ, hoặc doanh nhân Pháp ở Việt Nam, v.v., vì những người này lắng nghe ý kiến “trái chiều” của tôi và cho đó là những ý kiến đầy thú vị, “không đụng hàng”, biến tôi thành người mà họ cho rằng không thể gặp được một nhân vật thứ hai tương tự bất kỳ tại đất nước này; thậm chí họ nhận các trả lời bằng thư của tôi đối với các vấn đề hóc búa họ nêu ra để rồi hoặc cảm ơn với lời khen là độc đáo, hoặc xin tôi cho họ sử dụng các ý kiến ấy trên báo chí ở nước họ, chứ chẳng bao giờ phán phê rằng thư của tôi phức tạp, khó hiểu.

Ẩm thực Việt Nam rốt cuộc chỉ lẩn quẩn quanh món Phở mà nguyên liệu luôn bị đe dọa bởi bò điên lở mồm long móng và gà nhiễm dịch “hát mấy en nờ mấy” cũng như xua đuổi tất cả các du khách ăn chay trường trên thế giới; hoặc các món tầm phào do các nghệ sĩ ca sĩ kịch sĩ và đóng-phim-sĩ thực hiện trên tivi mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 17-9-2014. Hành Trang Nghị Sĩ

Hoàng Hữu Phước. 17-11-2015. Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Bôi Nhọ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Các bạn có thể nhìn thấy dường như có sự chuyển động xoay sang phải của chong chóng bảy cánh này nếu nhìn chăm chú vào đáy của một cánh nào đó

 Deceptology 2

và dường như có sự chuyển động của các vân sóng trên các thanh song song này:

 Deceptology 3

còn đây là bức tranh tuyệt đẹp của hai chú chim cho đến khi bức ảnh được phóng to hơn

Deceptology 4Deceptology 5

tương tự, chiếc đầu lâu ghê sợ này lại là bức ảnh một mệnh phụ phu nhân mặc áo đầm rộng ngồi trên sàn trò chyện với một nữ nô lệ

 Deceptology 6Deceptology 7

trong khi đây không phải là bức tranh thiếu nữ diễm kiều

 Deceptology 8Deceptology 9

Tất cả những tác phẩm hội họa đánh lừa thị giác tức tạo ảo giác của người xem là thể loại deceptology trong tiếng Anh, dù đa số các tự điển tiếng Anh lớn trên thế giới chưa cho ra định nghĩa đầy đủ bất kỳ về deceptology, một từ mới được tạo nên từ động từ deceive và danh từ deception tức lừa gạt, nói điêu của tiếng Anh. Song, các tác phẩm hội họa trên dù là lừa gạt thị giác của người xem vẫn thuần túy vì nghệ thuật và mỹ thuật chứ không nhằm làm hại người xem, do đó trên nền của deceive deception những nghệ sĩ của trường phái độc đáo lạ kỳ này phải kiếm tìm sự ẩn náu nơi từ mới là deceptology mà giới tự điển Âu Mỹ vẫn chưa chấp nhận đưa vào từ điển của họ.

Trong khi đó, tiếng Anh của bôi nhọcharacter assassination có ngữ nghĩa của các thành tố từ vựng cấu tạo nên cụm từ ấy lại mang ý dữ dội, được xuất hiện từ rất lâu nên rất có thể chưa chắc còn tương hợp với môi trường ngữ nghĩa hiện thời, chẳng hạn vào thời xuất hiện của cụm từ này thì bôi nhọ toàn do các nhà báo có tên họ hẳn hoi hay các tay vận động phe nhóm cất công tạo ra với ngồn ngộn các chứng cớ dù ngụy tạo vẫn có độ tin cậy do nguồn kiểm chứng cũng đã được ngụy tạo song hành nhắm vào lãnh đạo đảng đối lập, lãnh đạo quốc gia đối nghịch, hoặc nhằm vào các nhân vật nổi tiếng trong ngành kỹ nghệ giải trí để choảng nhau hay đơn giản tạo scandal cho các báo lá cải có có thể bán chạy hơn; còn thời nay thì bôi nhọ lại do bất kỳ ai biết sử dụng vi tính, vô công rỗi nghề, hèn nhát ẩn danh, viết lách thoải mái bất cần công phu chuẩn bị và tấn công bất kỳ ai từ lãnh đạo đến thường dân, chẳng khác nào kẻ cứ lấy thau nước bẩn hất đại ra đường rồi cười sằng sặc vì thế nào cũng có ai đó bị dính dơ, cứ viết dơ đại thế nào cũng có ai đó tin dơ, chứ không thể làm dơ trực tiếp đối tượng của bài viết.

Cũng vì lý do khác biệt trên, và cũng vì deceptology chưa được chấp nhận trong ngành từ điển học, tôi có thể thêm một nghĩa mới cho deceptology trong hệ thống từ điển tiếng Anh trên toàn thế giới: đó là bôi nhọ trong thời đại mới. Bôi nhọ đã được nâng thành một thứ nghệ thuật đánh lừa thị giác cao cấp vì trong khi tranh ảo giác tạo ảnh ảo nhất thời nơi người xem mà người xem có thể định thần nhìn kỹ lại để nhận ra ảnh thật, thì bôi nhọ tạo ra ảnh ảo nơi người đọc mà người đọc khó thể hoặc không thể tự mình nhận chân sự thật.

Trước 1975 ở Sài Gòn có tờ nhật báo nọ đăng ngay trên trang nhất kéo dài nhiều chục số nhiều tháng trời tác phẩm Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh. Tương tự các bức tranh ảo giác luôn trên nền có thật của sự việc A để cho ra ảnh ảo B, bài viết bôi nhọ luôn cần đến những “sự thật” để bắt đầu ngụy tạo. Những sự thật ở đây là có nhân vật Hồ Chí Minh, nhân vật này không lập gia đình, thế giới thường cho rằng đàn ông không tu hành thì ắt cần đến phụ nữ, và Mỹ luôn có các tổng thống dan díu lung tung với phụ nữ mà điển hình là đối trọng cùng thời của Hồ Chí Minh là Kennedy. Từ những sự thật này, bọn nhà báo lếu láo bắt đầu sáng tạo ra trò Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh mà chúng đã thậm chí ghi thêm dòng chữ “dịch từ nguyên tác tiếng Pháp”, ám chỉ “cô con gái rơi” này sống ở Pháp. Chúng mong người đọc sẽ cười nhạo hay vỡ mộng về vị lãnh tụ cách mạng mà bất kỳ ai sinh trưởng nơi đoan chính và công tâm cũng đều tôn kính như một thánh nhân.

Trước 1975 ở Sài Gòn có tờ nhật báo nọ đăng ngay trên trang nhất tin rằng mấy chiếc xe Jeep đã chở gần chục gái mại dâm mặc mini jupe ngắn ngủn khoe đùi khoe mông và ngực đồ sộ căng bung nút áo chạy thẳng vào khu trại của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bên trong phi trường Tân Sơn Nhất để cung phụng sự đòi hỏi của các ông Việt Cộng, rồi viết rằng cánh nhà báo chầu chực săn tin ngoài cổng không biết mấy ông Việt Cộng đói khát tình dục lắm hay sao mà mấy em khi bước ra khỏi khu trại Việt Cộng phải đi lảo đảo xiêu vẹo, tóc tai rối bời, jupe bị xé rách bươm, hổn hển leo lên xe Jeep quân đội chạy ra khỏi phi trường hướng về Cầu Công Lý. Từ những sự thật là có Ủy Ban Quốc Tế Liên Hợp 4 Bên được lập ra để đàm phán về hòa bình cho Việt Nam, đóng ở Trại Davis bên trong phi trường Tân Sơn Nhất, có đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do tướng Võ Đông Giang lãnh đạo, toán quân cận vệ hàng chục người của tướng Võ Đông Giang đào công sự chiến đấu quanh trại để phòng thủ đề phòng quân Cộng Hòa ra tay tàn sát khi chiến cuộc xoay chiều, và ngày nào cũng có các xe jeep chở các sĩ quan Ba Lan, Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa cùng các sĩ quan phiên dịch ra vào khu trại của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để họp, bọn nhà báo lếu láo bắt đầu sáng tạo ra trò săn tin nóng hổi ngay tại Tân Sơn Nhất, mong người đọc sẽ tin rằng mấy ông Việt Cộng toàn là những kẻ đói khát từ ăn uống đến dục tình do ở rừng rú chứ chẳng có lý tưởng cách mạng oai hùng gì sất.

Với uy thế lấp biển dời non, phe cách mạng chẳng hề đính chính, phân bua, hay đòi kẻ bôi nhọ phải bồi thường “một đồng bạc danh dự” theo luật pháp Việt Nam Cộng Hòa. Thay vào đó, họ đường đường chính chính thực hiện thành công tuyệt đối mệnh lệnh của Hồ Chí Minh: đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.

Tôi lại chỉ là một anh thường dân, thường xuyên bị các cơ sở Đảng nơi tôi công tác cấm cửa không cho bén mảng đến bên thềm, và thường thì một khi không có ô dù che chắn trước sau thậm chí còn bị đám nhà báo hai mang trong chính các tờ báo khổng lồ chính thức chính quy của Đảng tấn công ngay khi tôi phát biểu trước Quốc Hội về Luật Biểu Tình cũng như ngay khi tôi viết bài Tứ Đại Ngu chế giễu một nghị sĩ luôn được báo chí hai mang quỳ lạy tôn thờ khi nghị sĩ này đòi công nhận nghề mại dâm, thì tôi không thể trông mong gì vào bất kỳ ai hay thế lực nào mà phải tự ra sức chống chọi lại đám bôi nhọ mình, tất nhiên phải bằng cách của bậc trưởng thượng, chẳng hạn như những sự thật dưới đây.

Dựa vào các sự thật rằng tôi ở Đại Học Tổng Hợp làm phó lớp “đời sống” dù nào có bất kỳ ai qua được tôi về học lực tiếng Anh (và dù từ lớp 1 đến lớp 12 tôi luôn là trưởng lớp kiêm trưởng ban báo chí, nhưng ở đại học cách mạng thì phải là hội viên thanh niên hay đoàn viên thanh niên cộng sản mới được làm lớp trưởng hay “lớp phó học tập” do liên quan đến “tư tưởng”, còn các nữ sinh viên thì không chịu làm “đời sống” cực nhọc chia thịt chia xương chia xẩu chia muối chia đường) cũng như sự thật rằng ai mà làm kế toán, thủ quỹ, đời sống thì thế nào cũng “lem nhem”, bọn chúng tung tin trên mạng rằng tôi có lem nhem tiền bạc hay bớt xén nhu yếu phẩm của tập thể. Song, việc này quá tầm thường nên tôi chỉ kể lại cho vợ tôi trước đây là bạn học chung lớp với tôi ở đại học để cùng cười ha hả.

Dựa vào các sự thật rằng tôi ở Đại Học Tổng Hợp trong thời gian xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam với Khmer Đỏ và biên giới phía Bắc với Tàu, rằng nhiều sinh viên phải lên đường nhập ngũ, trong khi tôi vẫn tiếp tục việc học như thường, bọn chúng tung tin trên mạng rằng tôi đã trốn nghĩa vụ quân sự, nhằm làm người đọc nghĩ rằng tôi hay tuyên bố ủng hộ Đảng Cộng Sản Việt Nam ra vẻ như người yêu nước chứ hóa ra tôi trốn nghĩa vụ quân sự mà. Chúng đã không biết một sự thật rằng vào thời ấy của tôi, trốn nghĩa vụ quân sự đồng nghĩa với phải trốn chui trốn nhủi ngoài vòng pháp luật chứ cách chi mà an nhiên học tiếp rồi tốt nghiệp ra trường, và các tiêu chuẩn về thể lực thể hình rất cao để được vào quân đội Việt Nam rất cao mà một sinh viên cận thị nặng trọng lượng nhẹ như tôi thì đừng hòng được phép bước chân vào. Tôi phải xuất chiêu bằng cách đăng trên Emotino bài viết “Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo”, kể lại việc Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hùng, giảng viên Anh Văn Đại Học Tổng Hợp, nguyên phiên dịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cho tướng Võ Đông Giang ở trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất, khi tôi tốt nghiệp đã “tiến cử hiền tài” cho tôi đến trình diện Đại Tá Lê Văn Toan, Trưởng Phòng Tổ Chức Cán Bộ Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ trong ngành tình báo, mà chỉ vì tôi thích thơ ca, viết lách, và dạy học nên phải phụ lòng Thầy Hùng mà chạy theo ngành giáo dục. Qua bài viết, tôi gián tiếp nói rằng dù tôi có là nạn nhân của sự trù dập tại đại học, sự ganh tài của bạn học, sự ganh tỵ cũng của bạn học trước việc chỉ có tôi được các Thầy Cô cùng các “hoa khôi” thương tài mến đức, thì việc tiến cử tôi của Thầy Nguyễn Tiến Hùng cho ngành an ninh tình báo khẳng định tôi là người đã được biết đến nổi bật về lòng ái quốc và về năng lực đứng đầu môn Anh Văn, chưa hề phạm tội hành chính hay hình sự hoặc trốn nghĩa vụ quân sự như bôi nhọ của bọn lếu láo. Tôi lại có chuyện để kể cho vợ tôi trước đây là bạn học chung lớp với tôi ở đại học nghe để cùng cười ha hả.

Dựa vào sự thật rằng tôi có viết trên Yahoo!3600 về các Thầy Cô tôi thương kính ở Đại Học Tổng Hợp có tên Cô Trương Tuyết Anh, tức tên thật của người có thật, ngay lập tức chúng sáng tạo ra giai thoại rằng tôi đã đến nhà một cô giáo Trương Tuyết Anh để khóc lóc ầm ỉ cả phường, xin Cô cho thêm điểm để đừng bị đánh rớt, và đe dọa tự tử nếu Cô không giúp. Bọn lếu láo đã không biết một sự thật rằng vào thời ấy của tôi, luật lệ cực kỳ nghiêm khắc, làm gì có chuyện gây ầm ỉ ở phường mà không bị công an phường bắt nhốt, làm gì có việc giáo viên dám sửa điểm hay cho thêm điểm để bị ở tù, cũng như làm gì có chuyện sinh viên Hoàng Hữu Phước khinh thế ngạo vật ngạo mạn khinh thường cả giáo viên nào dạy kém đến độ bỏ tất cả các tiết lên lớp của các giáo viên dạy kém này lại đi “khóc lóc” với cô giáo dạy chính phân môn văn học Anh mà anh ta độc chiếm ngôi “Vua”. Song, tôi xuất chiêu trưởng thượng bằng một bài viết về Cô Trương Tuyết Anh kèm theo ảnh chụp các bài làm của tôi có thủ bút của Cô mà tôi tin rằng tất cả những ai đang dạy Anh Văn ở các đại học nếu đọc các bài làm đó sẽ phải tự thấy rằng không thể có bất kỳ ai kể cả họ làm được như thế. Tôi lại có chuyện để kể cho vợ tôi trước đây là bạn học chung lớp với tôi ở đại học nghe để cùng cười ha hả.

 Deceptology 10Deceptology 11

Dựa trên sự thật rằng tôi có viết trên Yahoo!3600 về các Thầy Cô tôi thương kính ở Đại Học Tổng Hợp như Thầy Lê Văn Diệm, Cô Trương Tuyết Anh, Cô Vũ Thị Thu và Cô Nguyễn Thị Dần, nghĩa là tôi chỉ “thương” có bốn người, bọn lếu láo lập tức sáng tạo ra ngay một bài viết mang tên lạ hoắc tự xưng là “Thầy” khác của tôi, chê bai tôi hư đốn từ trẻ, và phản dân hại nước khi chống Luật Biểu Tình. Tôi chưa đọc bài ấy; song, nghị sĩ Đặng Thành Tâm thuật lại tôi nghe sau khi đọc thấy trên mạng, và tôi đã nói ngay với nghị sĩ Tâm rằng đó là bài viết của thằng mất dạy. Ngay lập tức, tôi viết trên Emotino một bài về Thầy Lê Văn Diệm ở Đại Học Tổng Hợp kèm bức thư tay của Thầy viết khen tôi lúc Thầy chưa qua đời, và một bài về thầy giáo trung học Nguyễn Quang Tô kèm thủ bút của Thầy khen tôi “tài đức vẹn toàn” dù tôi mới học lớp 9, để qua đó gián tiếp nhạo báng bọn bá láp rằng Thầy Cô của tôi nếu còn sống ở Mỹ thì đã trên 90 tuổi, và nếu còn tỉnh táo mà biết được tôi làm nghị sĩ, đồng thời có được email của tôi thì đã mừng rở liên lạc ngay với tôi là đứa học trò cưng của họ mà họ luôn tự hào có được trong đời dạy học đẳng cấp cao của họ, chứ làm gì có “Thầy” khỏe mạnh hăng tiết vịt với đôi mắt tinh tường và đôi tay khỏe mạnh ngồi ngay vào máy vi tính viết tràng giang đại hải mắng chửi tôi rồi vì xấu hổ sợ hãi không dám trực tiếp gởi tôi mà hèn hạ post ngay trên mạng “chùa”. Sau đó, tôi còn viết rằng các Thầy Cô ở đại học vào thời ấy của tôi đều sống khép kín, không trò chuyện với học trò, thù ghét chiến tranh đã giết bao sinh viên ưu tú của họ, căm giận Việt Nam Cộng Hòa, và không thích chế độ Cộng Sản, để rồi lặng lẽ biến mất, cùng nhau vượt biên sang Mỹ sống tiếp đời ẩn dật, xa lánh đám đông bát nháo the maddng crowd mà họ khinh bỉ do họ xuất thân quý phái. Bọn bá láp trên không gian mạng chính là cái madding crowd ấy. Tôi lại có chuyện để kể cho vợ tôi trước đây là bạn học chung lớp với tôi ở đại học nghe để cùng cười ha hả.

Nói tóm lại, nghệ thuật bôi nhọ như tấm gương lồi lõm mà các hình ảnh chân thật đặt phía trước đều cho ra ảnh ảo méo mó dị dạng dị hình. Vấn đề là phải có cái hình ảnh chân thật ấy, nghĩa là sự bôi nhọ luôn cần đến những sự thật để từ đó khiến thứ giả trá trở nên đáng tin cậy hơn. Cái đồi bại của bọn bá láp trên mạng xã hội là ở chỗ ngày xưa giới bôi nhọ chỉ nhằm vào những người vĩ đại bên kia chiến tuyến, trong khi bọn bôi nhọ ngày nay nhằm vào tất cả, từ lãnh đạo cao cấp của quốc gia, lãnh đạo tép riu ở địa phương, cho đến người như tôi chỉ là một thường dân, không ô dù, không đảng tịch, không chức trọng quyền cao trong hệ thống chính quyền bất kỳ ở cấp nào, mà chỉ cần tôi phát ngôn ủng hộ Việt Nam (tức ủng hộ Đảng và Nhà Nước – vì trên thế giới chỉ có một nước Việt Nam, và giáo huấn gia phong từ ngàn xưa là hãy luôn cố phò vua giúp nước chứ nào có lời dạy bảo phải luôn cố nổi loạn giành lấy ngôi báu của vua) là bọn chúng xúm vào bôi nhọ ngay lập tức.

Tôi sẽ không nói gì thêm về tôi, và kết thúc bài viết này bằng cách cung cấp cho các bạn một mẹo vặt để dễ nhận ra sự công kích tôi là sự bôi nhọ hay là sự thật: bọn bôi nhọ không bao giờ dám ngụy tạo bài viết mang tên một bạn học của tôi, một sinh viên của tôi, hay một nhân viên của tôi. Do tôi không kết bạn với bất kỳ ai học thua tôi nên chỉ có vài ba “bạn học” trong đó có vợ của tôi, nên nếu bài công kích mang tên thật của một bạn học có thật thì tôi sẽ nhường cho vợ tôi trừng trị kẻ ấy. Nếu bài công kích mang tên thật của một sinh viên có thật của tôi thì tôi sẽ nhường cho hàng ngàn học trò của tôi tại Việt Nam và trên thế giới trừng trị kẻ ấy. Còn nếu bài công kích mang tên thật của một nhân viên có thật của tôi thì chắc chắn 100% rằng đó không là nữ nhân viên, mà đích thị là một trong hai nam nhân viên đã bị tôi sa thải vì tội trộm cắp tái phạm nhiều lần mà tôi đã cứu anh ta bằng cách sa thải thay vì giao anh ta cho công an.

Điều duy nhất một người đọc nên làm là luôn ghi nhớ rằng người ta chỉ có thể bôi nhọ lên một tờ giấy trắng chứ không thể trên một tờ giấy đen, nên ngay khi đọc một tin “chùa” trên mạng về một ai đó thì hãy ngay lập tức nhớ rằng người được nói đến chí ít cũng thuộc hạng trong ngọc trắng ngần.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Kính mời tham khảo thêm:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

 

Note:

– All images of paintings used herein are from internet

– The images of the wedding card are from the writer’s personal archives

Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Người Sài Gòn Chính Hiệu

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trên đời không bao giờ thực sự tồn tại cái gọi là văn học hiện thực phê phán, vì văn học thuộc loại fiction tức thuần túy dựa trên trí tưởng tượng và hư cấu. Điện ảnh là một hình thái khác của văn học nên tất nhiên cũng toàn là sản phẩm hoàn toàn xạo của trí tưởng và hư cấu, mặc cho tác phẩm điện ảnh ấy có thể về một vị vua Anh nói cà lăm thời thế chiến, hoặc về Tần Thủy Hoàng hay Steve Jobs. Để biết một dân tộc thèm khát thèm thuồng thèm muốn điều gì, hãy xem phim ảnh dân tộc ấy làm. Xem phim Mỹ như Siêu Nhân, Người Dơi, Người Nhện, hay ngay cả Thần Thor, v.v., người ta thấy một sự giả trá rằng dường như tất cả các vị thần và những người kiệt xuất từ thiên hà khác đến địa cầu đều phải đáp xuống Mỹ, làm công dân Mỹ, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất đông dân tộc Mỹ thèm khát cái họ chưa bao giờ có được: sức mạnh hùng anh ngự trị toàn cầu và được nhân loại kính trọng. Xem phim Việt người ta có thể thấy một sự giả trá rằng có sự ưa chuộng cái môn đăng hộ đối, cái biệt thự, cái xe hơi, cái ăn chơi trác táng, thậm chí cái cởi áo cởi quần, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất nhỏ dân Việt thèm được vươn cao lên tận giường ngủ của những người mà họ tưởng thế mới là kiểu Âu Mỹ xịn.

Là dân Sài Gòn chính hiệu, tôi có thể khẳng định ngay rằng tại Sài Gòn đã không hề có cái gọi là “môn đăng hộ đối” trong thực tế đời sống, và rằng chính người nghèo Sài Gòn là thước đo đạo đức đạo lý đạo hạnh đạo nghĩa đầy tự hào và được sự tôn trọng của toàn xã hội dù xã hội ấy trắng hay đen.

Thủa nhỏ, có lần tôi đã đứng trong sân trước nhà để xem đám cưới ở nhà bên cạnh là căn nhà lụp xụp số 16/72/14 đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3. Gia đình chú rể Phạm George (Việt kiều Pháp) vầy đoàn đông đúc sang trọng cực kỳ đến rước cô dâu Nguyễn Thị Hòa. Cô Hòa là một phụ nữ người Bắc di cư, gầy gò, ốm yếu, thấp bé, và miệng Cô bị cái mà thiên hạ thường gọi là “hô”. Cô sống cùng anh chị mà tôi gọi là Ông Hai và Bà Hai trong căn nhà thấp lè tè , cũ kỹ, mái lợp ngói, sát bên cạnh nhà Ba Má tôi ấy. Sau giải phóng vài năm, Cô cùng chồng và hai con trai sang Pháp định cư. Cái mà tất cả các gia đình giàu có ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Chưa kể, khi Ba tôi lấy xong tú tài Pháp lên Sài Gòn làm “thầy ký” ở công ty Pháp Moitessieur, Ông Nội tôi là một nhà nho dạy học đã chọn một cô gái quê nhà nghèo chỉ học xong lớp 3 hay 4 tiểu học để xin phép cha mẹ cô gái ấy chấp nhận cho Ba tôi đến hỏi cưới cô gái ấy, và chúng tôi được sinh ra, được dưỡng nuôi, giáo dục bởi đấng sinh thành ấy, chứ không phải bởi một phụ nữ Pháp hoặc nói tiếng Tây như gió ở Sài Thành hoa lệ. Cái mà tất cả các gia đình có danh giá ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Rồi đến khi tôi bước chân vào trung học, dù bản thân bình dân, không giàu có như các bạn cùng lớp: tôi đi bộ đến trường trong khi họ đi xe loại thời thượng thủa ấy như Cady, PC, hay tệ lắm cũng là Velo Solex, hoặc do sĩ quan cận vệ đưa đi học bằng xe Jeep, tôi luôn là người duy nhất nhận được những lá thư tỏ tình của các nữ sinh giàu có thuộc hàng “hoa khôi” con cưng của những gia đình quan chức thân quen Mỹ, dù tôi đang học lớp 8 hay lớp 12, chỉ cần một điều kiện tiên quyết: phải học giỏi và có tư cách chững chạc, không nhí nhố, trẻ con.

Người nghèo ở Sài Gòn là những người có những nghề nghiệp đầy danh dự tự hào nhưng những nghề ấy không đem lại thu nhập cao. Chính vì tự hào với nghề cha truyền con nối mà một bà bán xôi đã chọn những hạt nếp thượng hạng, bà bán cơm tấm đã chọn những hạt tấm của gạo thượng hạng, bà bán cháo lòng đã chọn những phủ tạng heo tươi sống rửa sạch bằng khối lượng nước máy khổng lồ, v.v. và v.v., tất cả đã hình thành nên những món ăn bình dân đường phố cực kỳ thơm ngon, cực kỳ bổ dưỡng, cực kỳ vệ sinh, đem lại sự kính trọng của người tiêu dùng giàu hay không giàu đối với những người bán hàng rong không thể giàu đó. Nghèo cho sạch, rách cho thơm, chính là cung cách, phong thái của người nghèo Sài Gòn trong mưu sinh, trong thể hiện bản thân, và trong giáo huấn con cái. Người nghèo Sài Gòn trở thành thước đo thật chuẩn để phân biệt người giàu sang thế gia vọng tộc với bọn trọc phú, vì người giàu sang thế gia vọng tộc thật sự luôn kính trọng người đức hạnh buôn gánh bán bưng và sẵn sàng tìm dâu tìm rể nơi những gia đình nghèo nhưng đức hạnh đó, vì rằng đối với họ chính đức hạnh của dâu và rể mới đảm bảo cho sự tồn tại hưng thịnh của cái “thế gia vọng tộc” của họ.

Cái cộng nghiệp của Nhà Phật là lời giải thích tuyệt đối đúng cho sự thay đổi toàn xã hội ở Sài Gòn: sự kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, đã đi kèm với cùng lúc 3 vấn nạn: (a) nhiều người nghèo Sài Gòn được người “thế gia vọng tộc” kết thông gia ngay để cùng nhau vượt biển, (b) nhiều người nghèo Sài Gòn rời bỏ Sài Gòn về miền quê, (c) nhiều người nghèo Sài Gòn không thể tiếp tục làm những nghề cha truyền con nối đầy tự hào như trước do những quy định khó khăn và nhất là do thiếu nguồn nguyên liệu cao cấp từ sự cấm chợ ngăn sông. Lớp người nghèo mới bắt đầu xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác, gồm bốn loại: (a) những người dân “chạy giặc” đổ dồn về từ các nơi khác vào thời khắc cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa và mất hết tài sản trên đường “chạy giặc”, (b) những công chức không thể tiếp tục có việc làm dưới chế độ mới, (c) những người giàu có bị liệt vào hạng tư sản mại bản nhất thiết phải dời đi xây dựng kinh tế mới, và (d) những người giàu có không thuộc hạng tư sản mại bản nhưng sợ hãi không dám chường mặt ra nhận tiền do Ủy Ban Quân Quản hoàn trả từ kho tàng các ngân hàng Việt Nam Cộng Hòa. Để tồn tại, những người nghèo mới này phải ra tay tàn diệt những người nghèo cũ: họ làm những việc như bán xôi, bán cơm tấm, bán cháo lòng, thậm chí bán nem “Lai Vung”, v.v. nhưng bán với giá rẻ hơn vì nguyên liệu kém hơn và vì không có tay nghề cha truyền con nối. Hậu quả là người nghèo cũ không thể sống được, phải bỏ nghề, tha phương cầu thực, kiếm kế sinh nhai mới, còn người nghèo mới gây ra sự chụp giựt hỗn loạn nhất là trong “thị trường ẩm thực” khiến xảy ra bao vụ ngộ độc thực phẩm, gây ra vấn nạn an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như sự biến mất của nem “Lai Vung” và những thứ tương tự. Dần dà người nghèo mới này mang một nội hàm mới về ý nghĩa: đó là những người nghèo tay nghề, nghèo đạo đức, nghèo đạo hạnh, nhưng không nghèo tiền, mà tin tức nhan nhản trên báo chí cung cấp thông tin về những đoàn xe tải thu gom thịt gia súc chết bệnh, thiu thối, để chế biến thơm ngon tung ra thị trường.

Sống chết mặc bây không bao giờ là thái độ sống của người nghèo Sài Gòn sang cả, mà là của người bần cùng, vì chỉ có bần cùng mới sinh đạo tặc chứ nghèo chỉ có thể sinh ra cung cách nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Sống chết mặc bây không là cung cách sống của người nghèo Sài Gòn từng đu bám theo xe đò bán từng xâu nem Lai Vung danh tiếng thơm ngon bổ dưỡng vệ sinh tuyệt đối, mà là của những kẻ lưu manh bán nem Lai Vung tai tiếng đầy giòi bọ làm mất luôn sản phẩm nem Lai Vung.

Là người nghèo Sài Gòn trong một gia đình nghèo Sài Gòn, tôi chỉ còn biết than rằng: giá như còn đó những người nghèo xưa để xã hội vẫn còn thước đo đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh, và để người giàu có chiếc gương soi rõ nét nhất chân thật nhất về mức độ đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh của chính mình, từ đó sự làm giàu của bản thân được tiếp tục tiến lên mà không gây hại cho xã hội.

Giá như còn đó những người nghèo xưa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

(Bài đã đăng trên Emotino 19-10-2009)

Hoàng Hữu Phước, MIB

A1

A) Dẫn Nhập

Ai là người Việt cũng có thể nói về tiếng Việt – nói đúng có, nói sai có, nói vô tội vạ cũng có; được thốt nên bởi các bậc thức giả uyên thâm có, đấng theo Tây học có, vị nẽo cựu trào có, và thường dân ít học cũng có; nói vì hiểu biết có, bức xúc có, không hiểu biết có, và chẳng bức xúc cũng có. Song, điều nhiều người nói đến – vốn gây nhiều tranh cãi cùng khẩu chiến – là về vấn đề “sính” dùng từ Tây và vấn đề bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vốn là hai vấn đề nổi cộm hoàn toàn tách biệt, mà chỉ những người Việt ít hiểu biết mới đánh đồng cho ở chung một dòng sông.

Khi nói về sự trong sáng của tiếng Việt, ít ai chịu phân tích xem sự trong sáng phải chăng chỉ như kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” hay như đế quốc thực dân giong buồm xua quân đi giáo hóa xứ người cho thế gian biết thế nào là “đèn”, thế nào là “rạng”. Cõng cái chữ lên ngàn, vác cái chữ ra nương, ấy là cái đạo lý bình thường trong xóa mù văn hóa cho dân, như đèn nhà ai nấy sáng. Còn làm cho chữ nước nhà được nhiều châu lục biết đến, ấy lại là cái đạo đế vương cho nhân gian biết nước Nam này. Muốn cái đạo ấy nên, bản thân cái chữ phải phân minh, theo quy luật rõ ràng. Và lẽ ra tiếng Việt của thời kỹ thuật số thế kỷ XXI ắt đã có thể vươn ra thế giới chiếm ngôi vương đạo nếu một vũ khí tối thượng trong chính tả tiếng Việt ở miền Nam trước năm 1975 đã không bị triệt bỏ. Vũ khí ấy nếu tái sử dụng sẽ đáp ứng ngay yêu cầu dịch thuật điện tử, một cách để làm người nước ngoài học tiếng Việt nhanh hơn, và người Việt nắm các ngôn ngữ chính khác trên thế giới nhanh hơn.

B) Những Dẫn Chứng Từ Máy Dịch Việt-Anh Tự Động Của Google

Khi nói đến dịch thuật điện tử, người ta liên tưởng ngay đến các máy dịch thuật tự động của các đại gia truyền thông kỹ thuật số thời hiện đại như Google cùng rất nhiều những trang web cung ứng dịch vụ dịch thuật miễn phí khác. Nhưng những dẫn chứng sau đây cho thấy thật sự tiếng Việt đã khó lòng đủ “trong sáng” vì thiếu các mã khóa – tức vũ khí tối thượng của ngôn ngữ – để được nhận diện.

1- Thí dụ 1 và 2: vài câu giản dị trong bộ truyên Phong Thần:

A1aA1b

2- Thí dụ 3: đến các nội dung nghiêm túc, hàn lâm:

A1c

3- Thí dụ 4, 5 và 6:  các bài viết trên Emotino.com cũng nào tránh được vạ lây từ máy dịch thuật quá chuẩn xác của Google, thí dụ như bài Sài Gòn Thanh Lịch  và bài Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành đều của Hoàng Hữu Phước:

A1dA1eA1f

C) Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Đại Số Thế Kỷ XXI

Nhưng điều gì đã cản trở khiến cho máy dịch thuật điện tử trên toàn cầu phải “bó tay” với tiếng Việt?  Đó là do sự vất bỏ dấu gạch nối luôn được dùng tại miền Nam trước ngày Giải Phóng hoàn toàn Miền Nam năm 1975 (tất nhiên, dấu gạch nối này không phải là dấu gạch nối kiểu dùng như trong cụm từ “Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”.

1- Dấu Gạch Nối

Dấu gạch nối đặc biệt giữ cho tiếng Việt được trong sáng đó là dấu nối các chữ của cùng một từ lại với nhau. Do đặc điểm của tiếng Tây là đa âm và tiếng Việt là đơn âm, dấu gạch nối trở thành công cụ biến tiếng Việt dễ được nhận diện ngang hàng với tiếng Anh hay Pháp, v.v., chẳng hạn:

A1g

Máy dịch có thể qua công cụ dấu gạch nối có thể nhận diện ngay “anh-hùng” là một từ duy nhất của tiếng Việt cũng như nhận diện ngay “counterrevolutionary” là một từ duy nhất khác của tiếng Anh. Nhưng nếu là “anh hùng” thì đương nhiên máy dịch sẽ trước hết xem đó là một cụm gồm hai từ riêng rẻ rồi võ đoán cho ra bao điều khiến nhiễu thông tin, thí dụ như dưới đây:

A1h

Đó là chưa kể tên của người Việt đã không còn thuận lợi khi chuyển sang tiếng Anh: thí dụ đối với những yêu cầu ghi tên họ không cần ghi chữ lót, thì Hoàng-Hữu-Phước vẫn là Hoang-Huu-Phuoc trong tiếng Anh, hoặc Hoàng Hữu-Phước sẽ thành Huu-Phuoc Hoang và được gọi là Mr Huu-Phuoc; trong khi với việc loại bỏ dấu gạch nối, Hoàng Hữu Phước sẽ chỉ là Phuoc Hoang, loại bỏ hẵn chữ Hữu. Đặc biệt với tên có hơn ba chữ thì rõ ràng sẽ gặp bất lợi, chẳng hạn Trần Hoàng Việt Nam Quốc, nếu là Trần Hoàng Việt-Nam-Quốc với Trần là họ, Hoàng là từ lót, và Việt-Nam-Quốc là tên gọi, thì việc chuyển sang Tiếng Anh sẽ là Viet-Nam-Quoc Hoang Tran (hay Viet-Nam-Quoc Tran-Hoang với Trần-Hoàng là họ kép, không có tên lót), giúp lưu giữ giá trị tu từ ngữ nghĩa của tên gọi gốc mang tính tự hào gia tộc đặc thù và tâm l‎ý tình cảm thay vì biến thành giản lược tự nhiên thành Quoc Tran và loại bỏ hoàn toàn những ba từ còn lại. Ngoài ra, còn điểm tương đồng là rất nhiều tên gọi của người Âu Mỹ vẫn có sự tồn tại của dấu gạch nối làm dấu tích của thế gia vọng tộc như các họ tộc Anstruther-Gough-Calthorpe, Cave-Browne-Cave, Elliot-Murray-Kynynmound, Heathcote-Drummond-Willoughby, Vane-Tempest-Stewart, hay Hepburn-Stuart-Forbes-Tresfusis, v.v . trong đó, có đến từ ba đến bốn từ kết nối lại thành Họ, và phải thêm tên cùng chữ lót – có khi lại là cụm từ có gạch nối khác – để cho ra tên đầy đủ thật dài, thí dụ như Nancy Jane Marie Heathcote-Drummond-Willoughby, nữ Nam Tước đời thứ 28 của dòng họ Heathcote-Drummond-Willoughby, hay Edward Montagu Stuart Granville Montagu-Stuart-Wortley-Mackenzie, Bá Tước Thứ Nhất Vùng Wharncliffe Vương quốc Anh thế kỷ XIX.

Do dấu gạch nối liên kết những phần của một từ chung duy nhất đã không còn được sử dụng, tiếng Việt ngày nay chỉ còn là những từ rời rạc được gom lại thành câu mà chỉ riêng người Việt hiểu nghĩa, còn du học sinh nước ngoài phải gần như thuộc lòng các cụm từ thân quen, khó đạt trình độ sáng tác thơ văn tiếng Việt – trong khi nhiều người Việt sáng tác thơ văn tiếng Anh hay Pháp thật dễ dàng, còn tất cả các bộ óc điện tử trên thế giới không sao diễn dịch đúng văn bản tiếng Việt ra ngôn ngữ khác.

2- Vấn Nạn Một Số Phận

Tôi vẫn còn nhớ sự khó chịu và cảm giác bực dọc của Ba tôi, của Chị Hai tôi, và của tôi khi đọc số báo đầu tiên ở Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 lịch sử không thấy có các dấu gạch nối. Lúc ấy, tôi biết mình phải làm gì: tập viết không có dấu gạch nối kẻo có ngày phải ra khỏi trường đại học vì viết tiếng Việt không ai giống. Thủa ấy, làm gì có computer, làm gì có digital media. Tất cả đều chân phương như những gì các chữ cái bằng hợp kim của máy đánh chữ bập xuống trang giấy A4 ố vàng đầy cát bẩn của thời gian khổ dưới sự cấm vận tàn độc của Hoa Kỳ. Nhưng tôi đã nói với mấy đứa em rằng tiếng Việt sẽ hỗn loạn vì giềng mối gắn kết không còn. Ấy vậy mà sự thể lại y như vậy khi thời đại digital đến và tiếng Việt không thể tương hợp với các máy dịch thuật điện tử ngày nay.

Tất nhiên, khó có còn ai nhớ đến dấu gạch nối đã từng tồn tại như một thứ mật mã Da Vinci ngàn xưa đến ngày nay mới giải nguồn thánh tích, và cũng chẳng ai hay dấu gạch nối đã bị âm thầm nhưng nhanh chóng gạch bỏ khỏi đời sống ngôn ngữ Việt văn hoa. Trong sự sung sướng tột cùng của đa số trong ngày giải phóng, và trong sự hoảng loạn dày xéo nhau trong khiếp sợ của một thiểu số khác, cả hai thái cực quá mạnh mẽ đã làm tan biến đi sự lưu ý đến sự biến mất của một dấu gạch nối cỏn con như một insignificant nonentity – sự tồn tại vô nghĩa lý. Và cuộc sống vẫn tiếp diễn, chứng kiến bao đổi thay với những kỳ công và kỳ tích cả thế giới phải cúi chào trân trọng.

Song, trong tôi vẫn đau đáu một nỗi niềm vọng cổ về dấu gạch nối ngày xưa Hoàng Thị.

D) Phát Triển Tiếng Việt Toàn Cầu

Trên thế giới có nhiều người học tiếng Việt. Vào những năm 1960 ba tôi đi làm hay đem về cho tôi những quyển Thế Giới Tự Do của Mỹ in bằng tiếng Việt, và tôi đã đọc những bài viết về đông đảo sinh viên Mỹ theo học các lớp tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Miến Điện (tức Burma thủa ấy hay Myanmar ngày nay), v.v và v.v. để dễ kiếm việc trong ngành ngoại giao, an ninh tình báo, hay công tác hoặc giảng dạy ngoài nước. Họ học tại Mỹ – tất nhiên. Một sự khôn ngoan: đem tiếng họ sang chư hầu để gây ảnh hưởng văn hóa với tầng lớp trên trước ở nước sở tại, và học tiếng sở tại để nắm và kiểm soát những người còn lại thuộc tầng lớp không vói được đến tiện nghi văn hóa và ngôn ngữ mẫu quốc. Ngày nay còn nói như trên đã là lạc hậu vì toàn cầu hóa và suy thoái kinh tế mới là những vấn đề của ngày nay và mai sau. Việt Nam không thể như Trung Quốc biến chữ Tàu thành một trong những ngôn ngữ chính thức được dùng ở Liên Hợp Quốc bằng cách để dân có mặt đông đảo ở mọi ngóc ngách của hành tinh. Nhưng Việt Nam vẫn có thể biến tiếng Việt ngày càng được nhiều người học hơn, học nhanh hơn, học với sự sáng tạo và tầm sử dụng rộng hơn và chủ động hơn, để sử dụng chiến thuật “từ đồ dần dà” phát triển tiếng Việt trên toàn thế giới trong hệ thống khoa học, chuẩn hóa, tương thích với các công cụ thời kỹ thuật số.

E) Lời Kết

Dù cho dấu gạch nối có được khôi phục để đáp ứng yêu cầu của kỹ thuật số hay không, dấu gạch nối vẫn sẽ như một nét đẹp điểm tô từng cụm từ tiếng Việt, như một chân phương, thẳng ngay, đoàn kết, minh bạch, sắt son, sang cả như ngọc châu chạm trổ, và bình dị như vốn có. Mong sao sẽ được nhìn thấy dấu gạch nối thân quen đã hơn ba mươi năm trời xa cách.

Dấu gạch-nối ơi, ta trông-chờ mi đến mõi-mòn, da-diết, như trang quân-tử nơi sơn-trang đội thời-gian nhìn khách thế-nhân qua, đợi-chờ người lữ-thứ đem đến một tin vui của hân-hoan và hạnh-phúc từ thục-nữ thuyền-quyên chốn hoa-lệ kinh-thành.

Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành-phố Hồ-Chí-Minh, Việt-Nam.

Tham khảo:

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt . Tham luận của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc “Phát Triển và Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay”  tổ chức ngày 18/6/2010 tại Tp Hồ Chí Minh. Được post trên Emotino.com: http://www.emotino.com/bai-viet/18679/giao-thoa-ngon-ngu-vietanh-va-thuc-chat-van-de-giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet, và đăng lại tại blog hoanghuuphuocthamluan ngày 05-3-2013 ở http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com/2013/03/05/tham-lu%E1%BA%ACn-giao-thoa-ngon-ng%E1%BB%AF-vi%E1%BB%87t-anh-va-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BA%A5t-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-gi%E1%BB%AF-gin-s%E1%BB%B1-trong-sang-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BA%BFng-vi%E1%BB%87t/

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Song Ngữ Việt & Anh (Bilingual: Vietnamese & English)

 Nguyen Quang To 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tháng 11 năm 2011 ngay khi tôi phát biểu thành công vang dội ngăn chặn được việc hấp ta hấp tấp đề ra dự án Luật Biểu Tình, bọn nhà báo hai mang trong nước thì dựng ngay chuyện tôi mắng người Việt Nam dân trí thấp để kích động đám côn đồ hàng trăm tên gởi tin nhắn đe dọa giết tôi, đe dọa đốt nhà tôi, đe dọa nổ bom văn phòng của tôi, còn bọn hải ngoại chống Cộng dựng ngay chuyện một thằng mất dạy bá láp tự xưng là Thầy của tôi nghe tin tôi chống Luật Biểu Tình nên viết ngay bài trường thiên nói tôi đã từng là đứa học trò ngổ ngáo chuyên làm điều xằng bậy. Đại biểu Trần Du Lịch cho tôi hay tin này, còn Đại biểu Đặng Thành Tâm đưa tôi xem điện thoại di động mở web về bài của thằng “Thầy” ấy. Tôi đều dùng một câu duy nhất để trả lời hai vị ấy biết đó là “thằng mất dạy”. Như bất kỳ đấng trưởng thượng khả kính nào nắm trong tay quyền lực tối thượng của chính đạo chính tâm chính nghĩa, tôi lẳng lặng không đòi báo Tuổi Trẻ phải xin lỗi tôi công khai chuyện đã giật tít tầm bậy tầm bạ “Dân Trí Thấp” vì tôi muốn ban cho kẻ duy nhất chịu trách nhiệm về lỗi lầm không thể nào được tha thứ này là Tổng Biên Tập một ân huệ để tự đứng ra xin lỗi tôi (rất tiếc là Tổng Biên Tập đã đại ngu đánh mất cơ hội bằng vàng ấy, đã vậy sau đó còn để yên cho bọn hai mang tấn công tôi tiếp nhân vụ Tứ Đại Ngu, khiến tôi quyết định từ nay sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ sau khi hắn đã bị triệu khẩn cấp về Thành Ủy, bỏ Tuổi Trẻ như rắn không đầu), đồng thời tôi cho đăng bài viết bằng tiếng Việt về Thầy Nguyễn Quang Tô trên Emotino.com ngày 25-11-2011, xem như buộc lòng phải tung bửu bối mà tôi ngỡ sẽ dấu mãi trong hành trang một đời người. Nay tôi xin đăng lại bài viết ấy như dịp Ngày Xuân Tưởng Nhớ Đến Ơn Thầy, để bạn đọc khắp nơi biết tôi đã là học sinh như thế nào và được thọ giáo với những bậc Thầy Cô đạo cao đức trọng tuyệt diệu ra sao. Trong bài tôi có viết Thầy Cô nếu còn cũng đã ở tuổi 80 hay 90 – như một cách gián tiếp mắng thằng mất dạy dám giả danh “Thầy” tôi vì chẳng có ai 90 tuổi mà ngồi ngay vào máy vi tính tung ngay lên mạng bài viết mắng ngay người học trò ngay khi người ấy vừa mở miệng nói xong câu chống cái đề xuất vở vẩn mang tên “Biểu Tình”.

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Hoàng Hữu Phước

Năm ngoái tôi đã định năm nay sẽ viết một bài thật chân thiết về Nhà Giáo với sự khắc khoải về nền giáo dục nước nhà. Nhưng khi ngày Nhà Giáo của năm 2011 đến và nay đã sắp hết tháng 11 rồi mà tôi vẫn chưa sao hạ bút viết nên bài luận dài ấy. Do may mắn luôn được Thầy Cô yêu thương từ bậc tiểu học và suốt 7 năm trung học, và cũng luôn làm trưởng lớp liên tục 12 năm cho đến hết lớp Đệ Nhất (lớp 12), tôi được các Thầy Cô đáng kính tặng rất nhiều những lời động viên mà tôi giữ gìn như báu vật cho đến ngày nay. Tôi đã hình thành nên nhân cách chính mình từ đức độ tài năng của các bậc Thầy Cô ấy, cũng như từ những báu vật này. Chiến tranh đã khiến có nhiều sự chia ly, và tôi đã không còn bạn bè để nhờ kiếm tìm tin tức của Thầy Cô. Năm tháng càng qua đi, sự hy vọng nghe tin các Thầy Cô ấy càng ít dần đi, vì Thầy Cô nay đã ở tuổi 80 – 90. Tất nhiên, không phải là một mặc định rằng tất cả các Thầy Cô đều là người tốt hay đáng kính vì chúng tôi cũng đã gặp nhiều Thầy Cô không tốt và không đáng kính dạy ở các lớp khác, nhưng tôi – và các bạn học cùng lớp – đã may mắn được gặp một số Thầy Cô gương mẫu làm đuốc soi đường cho chúng tôi khắc khổ tự luyện nên người Việt Nam. Tôi hiện chỉ còn hai người bạn học chung trong thời gian 12 năm ấy tại Sài Gòn trước 1975: Hai người thời tiểu học (Trường Phan Đình Phùng, Quận 3) là Nguyễn Sơn Hải đang ở USA, và Hồ Hữu Trung đang công tác tại Sở Ngoại Vụ Tp Hồ Chí Minh. Hải đã cùng tôi và Tống Kim Lan đoạt giải đồng đội Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình khi học lớp 4 (tôi là đội trưởng) thắng đội trường “Tây”, còn Trung thì cứ Chủ Nhật là được Bố Mẹ lái xe đến nhà xin Ba Má tôi cho phép chở tôi, cậu học trò nghèo, đi ăn nhà hàng nổi Mỹ Cảnh và các chốn phù hoa đất Sài Thành vì Mẹ Trung muốn các con của bà gần tôi để theo lời Bà “gần đèn thì sáng”. Chúng tôi vẫn liên lạc với nhau suốt những năm trung học và lần nào gặp ai cũng tự động khoe Thầy Cô của mình mới thật tuyệt vời. Các biến động 1975 đã đẩy Sơn Hải vượt biên sang Mỹ và mất hút mọi liên lạc cho đến vài chục năm sau mới tình cờ nhận nhau tay bắt mặt mừng trên…internet. Còn Trung từ cậu học trò đẹp trai công tử nhà giàu quyền thế và học giỏi phải bỏ dỡ hành trình đại học đi kiếm sống lam lũ chốn thị thành vì Cha của Trung là Đại tá Hồ Hữu Thuận, Chủ bút Báo Tiền Tuyến của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, phải đi học tập cải tạo một thời gian, khiến Mẹ Trung bán dần đồ đạc tư  trang, và bán ngôi nhà 5 tầng trên đường Lê Lai, Quận 1. Cha Trung sau khi ra trại, có làm việc nhiều năm tại Nhà Văn Hóa Quận 1, còn Trung được nhận vào Sở Ngoại Vụ. Nhà nước Cộng sản Việt Nam thật sự có chính nghĩa khi xử sự đàng hoàng với những sĩ quan cao cấp chế độ cũ, người từng bị cho là có tội với nhân dân. Những lời nói dài dòng về người thật việc thật của những “học trò” may mắn còn nhận ra nhau ở trên là khúc dạo đầu về ý nghĩa rằng thời cuộc có đổi thay, chúng tôi vẫn nên người vì chúng tôi được học từ những bậc Thầy Cô đáng kính, mà bài viết sau về Thầy Nguyễn Quang Tô là để tỏ lòng tri ân.

Thầy Nguyễn Quang Tô có học vị cử nhân, nhưng sự xuất chúng của Thầy cứ dường như là chuyện đương nhiên của một nhà giáo, vì phải xuất chúng mới đủ tư cách dạy học trò, được học trò kính nể, được học trò tiếp nối sự nghiệp giáo dục, và được học trò noi theo trong cách sống và hình thành nhân cách. Thầy dạy tôi ở trường Nguyễn Bá Tòng, và học trò kính phục khi nghe tin Thầy đoạt Giải Thưởng Phủ Tổng Thống cho công trình dịch thuật ra tiếng Việt nguyên tác Việt Nam Vong Quốc Sử bằng chữ Nôm của Phan Bội Châu.

Ngay khi có sự xuất hiện của internet và Yahoo!360, tôi đã viết bài bằng tiếng Anh về Thầy và viết nhiều bài khác về các Thầy Cô khác trong đó có Thầy Lê Văn Diệm. Bài về Thầy Nguyễn Quang Tô có đưa đoạn dịch ra tiếng Anh của tôi từ bút phê tiếng Việt của Thầy tặng tôi như sau:

 Nguyen Quang To 2

Nguyên bản tiếng Việt trong lưu bút:

“Thầy mừng ý nghĩ của Thầy đã không sai. Thầy càng mừng hơn khi niềm tin của Thầy đã thành sự thực: sự thành công tuy “giáo bất nghiêm” nhưng không “sư chi đọa” đã có một người học sinh như Phước. Thầy chỉ nhắc Phước cần luôn nhớ lấy phương châm “kim mãn doanh” bất như “nhất kinh”, ít ra là trong đời học sinh. Thầy tin rằng Phước sẽ có một ngày mai tương xứng với tài đức. “Có đâu thiên vị người nào Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai” Nguyễn Du xưa đã nói như thế. Qua Phước, Thầy càng tin như thế Trường Nguyễn Bá Tòng Ngày học cuối cùng niên khóa 1973-1974 Tháng Qu‎ý Xuân Giáp Dần Nguyễn Quang Tô

Bản post trên Yahoo!360:

…. I am overjoyed that whatever I have envisioned of you has not failed me. I am much more overjoyed knowing that my trust in you has been materialized: that despite of my non-strict and yet-committed teaching whatever so it might be, I can still have a student like you, dear Phuoc. The only thing I wish to remind you is that you should always hold on to the guideline that a book (of knowledge) is much worthier than a trunk full of gold, at least throughout your years at school.

I strongly believe that you will have a bright future from your talents and ethical virtues.

Nguyen Du the poet laureate once said,

“God has never shown prejudice to anybody,

(And you are blessed by Him) for both ample talents and fortunate destiny”

Through you Phuoc, I much more believe you are the very one for these.

Nguyen Quang To.

Khi nhận thấy tác dụng tích cực của những lời động viên từ bậc Thầy Cô, tôi đã thực hiện y như Thầy Nguyễn Quang Tô: trong suốt thời gian dạy học hơn 10 năm, dù ở trường chính quy Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh, trường hợp tác như Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, hay các trung tâm như Hội Nghiên Cứu & Dịch Thuật và các trường ngoại ngữ khác, tôi luôn viết rất dài bằng tiếng Anh trong lưu bút của sinh viên, học trò, học viên, để vừa bày tỏ sự trân trọng học trò, vừa cho học trò biết tấm lòng của người Thầy luôn nhận ra những mặt tích cực của học trò và muốn động viên học trò hướng thượng cho một cuộc sống tích cực với tha nhân và đất nước, và cũng vừa tạo nên một tác phẩm như một áng văn thơ làm quà tặng học trò, bất kể có bao nhiêu ngàn em chất trước mặt tôi bao nhiêu núi lưu bút học trò.

Thầy Nguyễn Quang Tô năm nay ắt đã ngoài 90 tuổi. Thấy ở hải ngoại rất trân trọng tôn vinh Thầy ngang với các bậc kỳ tài như A Nam Trần Tuấn Khải, tôi hy vọng các anh các chị là con hay cháu của Thầy sẽ đọc bài viết này để thấy di bút của Thầy, và để biết ở Việt Nam vẫn còn có người học trò năm xưa tôn thờ Thầy, kính trọng Thầy, và dù nay đã gần 60 tuổi vẫn cứ như cậu học trò nhỏ của Thầy, luôn đem theo hành trang cuộc đời những giòng chữ quý báu của Thầy để tự răn mình phải  sống tốt hơn sự kỳ vọng của Thầy.

“Tháng của Nhà Giáo Việt Nam, con kính gởi đến Thầy lòng biết ơn Thầy đã cho con được học nơi Thầy cung cách bậc trưởng thượng hiền nhân. Kính lạy báo cùng Thầy là mãi đến ngày nay con vẫn xem “kim mãn doanh bất như nhất kinh”, để tôn thờ sách thánh hiền chứ không tôn thờ trân châu bảo ngọc, để nhớ lời Thầy dặn cả rương vàng nào có sánh bằng một quyển sách.

Trong quyển sách cuộc đời, con còn lưu giữ bút tích của Thầy, Thầy ơi.”

 Nguyen Quang To 3

Học trò của Thầy,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Nguyên tác tiếng Anh I and Professor Nguyen Quang To đăng trên Yahoo!3600 năm 2008. Bản tiếng Việt để đối phó với bè lũ phản động hai mang được đăng trên Emotino.com ngày 25-11-2011 (http://www.emotino.com/bai-viet/19405/toi-va-thay-nguyen-quang-to). Bản tiếng Việt đăng lại trên blog Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô ngay sau khi web Emotino.com bị bọn phản động đánh phá ngày 12-3-2013 sau khi có bài Tứ Đại Ngu. Hiện không còn bản lưu trọn vẹn của phiên bản gốc Tiếng Anh, trừ bản nháp của đoạn ngắn sau:

Professor of Literature NGUYEN QUANG TO, South Vietnam President’s Award for the Vietnamese Translation of Phan Boi Chau’s History of the Lost Vietnam (Viet Nam Vong Quoc Su), Saigon 1972, wrote as follows in the year-end note-book of his student Hoang Huu Phuoc:

Needless to thoroughly reading the memory-notebook of yours today, I can still very well understand you dear Phuoc, from my responsibility to supervise the pupils of the Class 11C7 whom I have considered my own children.

I am overjoyed that whatever I have envisioned of you has not failed me. I am much more overjoyed knowing that my trust in you has been materialized: that despite of my non-strict and non-committed teaching whatever so it might be, I can still have a student like you, dear Phuoc. The only thing I wish to remind you is that you should always hold on to the guideline that a book (of knowledge) is much worthier than a trunk full of gold, at least throughout your years at school.

I strongly believe that you will have a bright future from your talents and ethical virtues.

Nguyen Du the poet laureate once said,

“God has never shown prejudice to anybody,

(And you are blessed by Him) for both ample talents and fortunate destiny”

Through you Phuoc, I much more believe you are the chosen one for these.

Nguyen Ba Tong High School

The last gathering day of the school year 1973-1974

NGUYEN QUANG TO

****

Hoàng Dương Chương

Giai Thoại Rừng Sác

Hoàng Hữu Phước, MIB

Những năm ở Sài Gòn trong chiến tranh, tôi có thỉnh thoảng nghe tin của đài Phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và có nghe vài câu chuyện về những “gương chiến đấu anh dũng” của mấy anh “Việt Cộng” mà tôi cho là chuyện thêu dệt với lắm hào quang chói lòa.

Những năm đầu sau giải phóng, qua báo chí và tin tức trên đài phát thanh tôi có biết đến nhiều chuyện về gương chiến đấu anh dũng của những anh bộ đội mà tôi cho là sự thật vì đã có bằng chứng quá hiển nhiên của Chiến Thắng Tuyệt Đối Tuyệt Vời ngày 30-4-1975 của “cộng sản Bắc Việt” với sự xóa sổ quá hiển nhiên không thể nào tin được của đất nước Việt Nam Cộng Hòa và sự tháo chạy còn hơn cả hiển nhiên không bao giờ có thật trong toàn bộ lịch sử tồn tại của địa cầu ngoại trừ của quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Một trong những chuyện về sự thật là về anh đặc công Rừng Sác tên Hoàng Dương Chương, mà hiện nay bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể tìm ra chi tiết về anh này trên Google để biết về giai thoại anh đã bị cá sấu ngoạm ngang người năm 1966 như thế nào khi bơi lặn dưới sông biển nghiên cứu địa hình, theo dõi sự cơ động của đội hình các tàu chiến đối phương để có phương án bố trí trận địa thủy lôi phá tan tàu giặc.

Như thông tin trên một bài viết trước đây đã đăng chi tiết trên blog này, hai năm sau khi làm nghị sĩ, tôi đã tìm ra gốc tích tổ tiên mình ở Tỉnh Nam Định, và hai năm nay mỗi lần ra Hà Nội họp tôi đều được bà con Nam Định tổ chức đón về viếng Nhà thờ Tổ. Và ngay từ ngày đầu tiên về thăm Nam Định tôi đã gặp “anh đặc công Rừng Sác” Hoàng Dương Chương. Đó là Chú của tôi.

Chiến tranh thật kỳ lạ. Tôi chỉ gặp Ông Nội tôi ở Cần Thơ lên Sài Gòn chơi hai lần, và nhớ đó là người dáng cao, gầy, trắng trẻo, nói tiếng miền Nam. Mỗi lần Ông Nội đến, Ông chỉ ngồi nói chuyện với Má tôi trong năm hay mười phút rồi vuốt tóc tôi, xiết chặc vai tôi như muốn dặn dò điều gì đó, rồi thoăn thoắt ra đi. Ông mất năm 1969. Và khi mấy anh bộ đội đến nhà tôi – đến từng nhà một trong cả xóm – để ghi chú về cái rất mới lạ gọi là “nhân khẩu” chỉ mới vài ngày sau giải phóng, họ ghi một từ rất mới lạ gọi là “nguyên quán” và ghi rằng nguyên quán của rôi là Cần Thơ vì Ba tôi sinh ở Cần Thơ; nhưng đến khi phỏng vấn Ba tôi, nghe Ba nói Ông mất rồi mà rất ít gặp Ông nên không rõ Ông sinh nơi nào, nhưng nhớ có lần Ông bảo hãy nhớ tổ tiên mình ở Nam Định, thế là mấy anh bộ đội ghi nguyên quán của Ba tôi là Nam Định, và sau một lúc suy nghĩ về các chi tiết dường như là chỏi nhau, các anh tự động xóa và sửa chi tiết nguyên quán của tôi thành Nam Định cho thống nhất. Thế là tôi sau đó có Chứng Minh Nhân Dân ghi Nam Định như nguyên quán hay quê quán gì đó cho đến ngày nay.

Chiến tranh thật lạ kỳ, vì đứa cháu Hoàng Hữu Phước có nghe về “anh” đặc công Việt Cộng Hoàng Dương Chương, còn “anh ấy” hoạt động ở vùng có những chiến công long trời lở đất ngay sát nách Sài Gòn lại không biết rằng cách nơi anh đang chiến đấu không xa có thằng cháu của “anh” đang vừa lén nghe tin của đài phát thanh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về “anh” vừa nghi ngờ “anh” là cả một sự dệt thêu.

Thế đấy, chiến tranh thật kỳ lạ và lạ kỳ vì chiến sĩ đặc công Hoàng Dương Chương chỉ là người thấp nhỏ, gầy gò, mà quyết tâm cứu quốc đã biến “anh” thành dũng sĩ, lôi xềnh xệch con cá sấu ngược lại sức kéo mạnh mẽ của nó rồi ném lựu đạn kết liễu con ác thú to lớn lẽ ra đã có thể hoặc nuốt trọn thân thể gầy gò của “anh” hoặc ngoạm phập nhanh gọn lắc mạnh cắt anh làm ba phần với đầu và hai tay cùng hai chân rơi xuống nước sông nơi cửa biển, còn phần mình bụng làm đầy chiếc dạ dày khủng khiếp của nó. Để rồi khi được đồng đội tìm thấy nhanh chóng đưa “anh” về tuyến sau cứu sống, và sau đó về lại quê hương Nam Định anh trở thành nhà nghiên cứu chữ Hán, làm nhà sử học địa phương xuất bản nhiều tác phẩm khảo cứu.

Tháng 11 năm 2014 vừa qua, “anh” đặc công Hoàng Dương Chương của trung đoàn đặc công uy danh từng tung hoành sông biển Rừng Sác làm điêu đứng và gieo kinh hoàng khiếp sợ cho quân thù đã giải thích cho cháu Hoàng Hữu Phước của “anh” về nghĩa tiếng Việt của các câu đối chữ Hán mà tổ tiên của dòng họ Hoàng là Cụ Đồ Điềm hiệu Thọ Sơn đã tự viết lưu trên các cột và vách của nhà thờ Tổ.

 Chu Duong (15)

“Anh” vẫn là người gầy gò, đôn hậu, vui vẻ, sống tích cực, như thủa “anh” gác bút nghiên theo binh nghiệp của cuộc chiến trường kỳ cứu nước và thống nhất đất nước. Và nhìn “anh”, tôi thêm hiểu vì sao những con người không chắc có sức khỏe thể lực thể hình lại có sự quật cường dấn thân khủng khiếp đến thế.

Đó là khi lòng yêu nước hòa quyện vào lý tưởng cộng sản thành sự gắn kết không thể tách rời và trở nên bất khả chiến bại.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật

– Nhìn Ngón Chân Cái –

Hoàng Hữu Phước, MIB

 POST (5)

Vừa mới đây một bạn báo tôi biết báo Tuổi Trẻ tuần trước có đăng một bài vớ vẩn của một nhà báo vớ vẩn ngợi ca vớ vẩn một quyển sách teen teen vớ vẩn về teen teen vớ vẩn của một nhà văn vớ vẩn có cốt chuyện vớ vẩn về một nhân vật chính vớ vẩn có những băn khoăn vớ vẩn mong muốn vớ vẩn rằng thầy giáo nên teen teen vớ vẩn, trong khi bạn này đã đọc bài viết của tôi về teen-teen cách nay nửa thập niên và gợi ý rằng tôi nên làm gì đó để giúp báo Tuổi Trẻ chấn chỉnh lại cách tung hứng tung hê. Nhận thấy ý kiến của bạn ấy đúng ở chỗ nhất thiết cần cho Báo Tuổi Trẻ biết phải cẩn trọng và trách nhiệm đối với từng mẫu tin một, nhất là phải chứng tỏ tư duy của báo phải ở bậc cao, thấu thị, chứ Tuổi Trẻ mà tưởng hễ tuổi trẻ thì đó là teen teen thì Tuổi Trẻ sai hoàn toàn, bậy hoàn toàn, ngây thơ khờ dại hoàn toàn, hoàn toàn không ở tầng lớp thượng đẳng, và có tội lớn với cả dân tộc giống nòi; tôi xin đăng lại bài viết cũ sau về Tuổi Teen. Nếu nghi ngờ giá trị biện luận của bài này, báo Tuổi Trẻ nên bỏ ra vài chục ngàn USD thỉnh một nhà phân tâm học Mỹ bất kỳ nào đấy để đưa nội dung bài này cho vị ấy xem để nghe vị ấy khẳng định xem tôi viết có chính xác hay không về cái mà tôi gọi là vấn nạn teen.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật

– Nhìn Ngón Chân Cái –

30-12-2009

Đối với người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng, tuổi teen không bao giờ có thật.

Tôi cùng vợ ngày nọ đến một siêu thị điện máy trên đường Cách Mạng Tháng Tám, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh. Vừa tắp xe vào lề đường, tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ cũng vừa phóng ào xe lên lề nhủi ngay vô chỗ trống nhỏ nhoi trước đầu xe tôi như để tranh chỗ gởi xe với tôi hoặc do sợ tôi sẽ mua mất hàng khuyến mãi nào đó bên trong nếu vào trước họ năm giây. Người chồng trẻ măng, cao gầy, trắng trẻo, đeo kính trắng, miệng ngậm một chiếc tăm chắc vừa ăn sáng xong ở đâu đó và muốn khoe với mọi người rằng này-nhé-ta-vừa-có-cái-đút-vào-cái-mồm-to-này-đấy [1], nhảy xuống xe, chạy nhanh đến cầu thang máy cuốn (escalator) nhảy hai bậc một rồi đứng áng ngữ trên đầu thang, ngây người cứng đơ như phỗng, chỉ khác phỗng là đầu của y có khả năng quay qua quay lại được trên chiếc cần cổ đủ rộng để nuốt cái gì đấy mà y đã chứng minh vừa đút lọt vào mồm, ắt để xác định vị trí hàng khuyến mãi nào đấy đang ở cái hóc bà tó nào; bỏ mặc người vợ trẻ măng, cao gầy, trắng trẻo tương tự – nhưng không ngậm tăm và không đep kính cận – cáng đáng việc đem xe vào khu gởi. Và hai vợ chồng “nhiễm hội chứng teen” này có một thiên thần tuyệt đẹp mà người vợ đã vô tư đặt xuống đất vội vàng để vàng vội chạy xe vào bãi tranh với lão tiền bối Lăng Tần. Vì không có đôi cánh bồ câu, cậu bé thiên thần chập chững tiến đến bậc cầu thang máy và được thang cuốn lên. Tôi hét lên kêu anh chồng: “Coi chừng em bé kìa!”. Anh ta nhìn xuống đứa con đang từ từ lên cao tiến đến với Bố thân thương, rồi anh nhe răng cười điệu nghệ hết sức vì chiếc tăm xỉa răng vẫn không rơi khỏi mồm anh, rồi anh tiếp tục nhìn quanh định vị hàng hóa, và rồi… thấy tôi hay nói mà chẳng làm gì sất, vợ tôi cuống quýt‎ chạy bay lên cầu thang, tiếng guốc gỗ kêu lộp cộp – may mà nàng không đi guốc cao gót chứ không thì đã có chuyện rắc lông ngỗng theo Sử Việt hoặc rắc bánh mì theo chuyện ngụ ngôn Pháp hay Đan Mạch rồi – cuối cùng kịp bế bổng thiên thần lên trước khi thiên thần bị máy cuốn kẹt hoặc té lăn xuống từ trên bậc thang cao bốn mét chứ đừng hòng lên được với Bố phỗng. Thấy vợ tôi bế bé trai đến, y nhe răng cười với con, bẹo gò má của con, chứ không thèm đón lấy thiên thần từ tay vợ tôi, đợi vợ y lên đến nơi là mắng như tát nước bằng tiếng Việt Nam rằng thì là mà sao thị ta là mẹ kiểu gì mà bê bối không biết trông con. Người vợ hiền vừa nhận lại đứa con từ tay vợ tôi vừa thổn thức thỏ thẻ thổn thển thở rống họng đốp chát như chùm nho uất hận của John Steinbeck (The Grapes of Wrath). Không một lời cảm ơn nào được vợ tôi nghe thấy từ hai kẻ người và chuột – cũng của John Steinbeck (Of Mice and Men) – mà người là “thằng” chồng – do nó như bậc trưởng thượng nguyền rủa vợ nó – và chuột là “con” vợ – do dám gặm nhấm vào sự dạy bảo của đức lang quân mà thị đã kết tóc xe tơ, đẹp duyên Tần Tấn, hoan lạc nghĩa phu thê những trăm năm hạnh phúc.

Trên thế giới chỉ có hai lớp người có thể bị bắt gặp khi đứng – hoặc ngồi – tập trung cúi nhìn ngón chân cái của chính mình: người già yếu bị tuổi tác và bịnh tật của tuổi già hành hạ làm giảm đi sự minh mẫn, và bịnh nhân tâm thần.

Trong tuyển tập 100 bài thập-tứ-hàng-thi (tức thể loại thơ sonnet mười-bốn-dòng-thơ) của William Shakespeare, có bài The Seven Ages of Men (Bảy Giai Đoạn Của Đời Người) mà vào những năm 1980 tôi đã tự chọn lọc ra để dùng làm bài tập đánh đố các sinh viên của tôi tại những lớp nào tôi có giờ dạy đầu tiên, bảo các em hãy đề nghị những từ tiếng Anh thích hợp gọi tên cho mỗi một giai đoạn. Tôi, người giảng viên 24 tuổi, đã triết l‎ý với học trò rằng chỉ có giai đoạn thứ bảy tức lão niên mới là giai đoạn duy nhất có thật, giai đoạn mà người ta tự thấy mình đúng là đã quá già, đang trong giai đoạn cuối của chu kỳ sinh-lão để bước qua ranh giới bịnh-tử mong manh, sự lao tới trước đã bị triệt tiêu, và tầm nhìn xa càng lúc càng bị giới hạn đến khi sức khỏe không còn, khiến cái nhìn chỉ còn tới giới hạn không xa hơn vị trí nơi bàn chân đang đặt để lên trên là bao.

Mỗi sáng khi thức giấc và mở mắt, người ta thấy ngay nóc mùng, bốn bức tường, cửa phòng vệ sinh, cửa tủ, cửa ra vào – tức những khoảng cách từ 1 mét trở lên, tùy diện tích căn phòng. Khi bước chân ra khỏi nhà, người ta thấy xa hơn: từ đầu đường góc phố cách đó mười mét hay trăm mét, đến chiếc máy bay cách ngàn cây số trên đầu. Đó là người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng: luôn nhìn ra xa, thấy cảnh xa, đi hoặc chạy chậm hoặc nhanh đến đích đàng xa ấy – để khỏi trể giờ học hay muộn giờ làm việc.

Lao tới trước chính là hành động duy nhất đúng của cuộc sống đích thực. Làm gì có chuyện đứng khựng lại giữa thinh không! Thời xửa thời xưa, chúng tôi ai cũng y như nhau vì theo lẽ tự nhiên: nhìn tới trước, và bắt chước để trở nên đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm. Bước chân vào lớp đầu trung học là nhìn thấy ngay viễn cảnh của 7 năm trước mắt (từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất tức là từ lớp 6 đến lớp 12) với các anh chị học lớp 12 đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm,

 Teen (4)

và thấy luôn cả kỳ thi Tú Tài quan trọng, cam go, cao cấp, học mười hai môn là thi đủ mười hai môn, với cả hai sinh ngữ (ngoại ngữ 1 và 2, thường là Anh Văn và Pháp Văn), nhưng chúng tôi không chút căng thẳng, không biết “stress” là gì, không nghe đến “khủng hoảng thần kinh”, chớ nghe đến “học hành căng thẳng”, chớ có giờ “phụ đạo”, v.v., nhờ luôn sống khỏe mạnh lành lặn: luôn nhìn phía trước, thấy cảnh ở xa và chuẩn bị hành trang dấn bước đi đến hoặc lao đến nơi xa ấy.

 Teen (3)

Nhờ vậy, các cậu các cô bé lớp 6 ai cũng học tư cách đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, của các anh chị lớp 9; còn các anh chị lớp 9 ngắm nghía các anh chị lớp 12, những người trước đó khi bước chân vào lớp 10 đã nhìn thấy ngay viễn cảnh có các anh chị sinh viên đại học miệt mài học tập, tư cách đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, nên cũng đã làm theo. Còn các anh chị sinh viên khi bước chân vào giảng đường đã thấy ngay viễn cảnh mái ấm gia đình hạnh phúc cá nhân qua hình ảnh các giáo sư thành danh trong học vị, nghề nghiệp, sự nghiệp, gia đình nên cũng đã học hành miệt mài hơn, tư cách công dân đĩnh đạc, tự tin, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, nhắm đến học vị, nghề nghiệp, sự nghiệp, mái ấm gia đình, hạnh phúc cá nhân ngay trong tầm với.

 Teen (2)

Ai cũng sợ bị gọi là trẻ con hỉ mũi chưa sạch tức tuổi teen sống bám gia đình chưa thuộc đẳng cấp trưởng thành. Không ai dừng lại. Ai cũng muốn chứng tỏ ta ở cấp cao hơn. Một giai đoạn của đời người do đó khi đến chỉ mang ý nghĩa tương đương cái bề mặt của khoảnh đất ngay dưới chân một vận động viên đang khom người sẵn sàng tì xuống để rướn lên lao tới trước ngay khi nghe tiếng súng trọng tài, và cũng là thời gian chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, chứ bản thân giai đoạn không bao giờ – và không thể – là để sống cho một trải nghiệm xuyên suốt số lượng năm tháng cơ học mà người ta gán cho mỗi giai đoạn của đời người (thí dụ như tuổi teen là từ 13 đến 19 chẳng hạn).

 New

Vận động viên nào sau tiếng súng lịnh vẫn cúi nhìn mặt đất tự hào mình đang ngự trị ngay tại sân vận động hoành tráng cấp quốc tế, tận hưởng cái khoái lạc từ khung cảnh công trình vĩ đại đang có trực tiếp truyền hình cho tỷ tỷ người theo dõi, vận động viên ấy sẽ vĩnh viễn chôn vùi tên tuổi cùng đẳng cấp vận động viên, trở thành đối tượng của sự nhạo báng, và bị xóa tên khỏi danh sách vận động viên cho kỳ thế vận kế tiếp. Người nào cúi nhìn mặt đất tự hào mình đang ở tuổi teen xinh đẹp, tập trung vui chơi giữa cuộc đời hoa lệ, tận hưởng cái lạc thú hoa mộng của tuổi teen, người ấy sẽ vĩnh viễn chôn vùi hai chữ trưởng thành, không thể có tên trong danh sách những người thành đạt của giai đoạn kế tiếp.

Cuộc sống đích thực của người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng là vậy đấy: luôn lao tới trước, không ngưng nghĩ. Một hài nhi không bao giờ biết nhìn chính mình rồi phán bằng tiếng Việt hay tiếng Anh hay một thứ tiếng nào khác khẳng định chắc nịch rằng “Ta đang ở lứa tuổi thuộc thủa nằm nôi”. Một đứa bé chạy nhảy phá phách tưng bừng khi bị Mẹ Cha mắng rầy, có thể chống chế rằng “Con có phải con nít đâu!”, ý phủ nhận thời thơ ấu. Khi vào trung học, các cô cậu muốn có tình yêu nam nữ mộng mơ giống các anh chị trưởng thành nên bắt chước học đòi tề chỉnh, đĩnh đạc như “người lớn”, đường hoàng, nghiêm túc, chứ không ai nhận ra mình đang ở tuổi teen hãy còn trẻ người non dạ, không ai muốn nghĩ đến cái chữ tuổi teen đầy tai họa vì luôn gắn bó mật thiết với lời rầy ra “nhỏ như hạt mít mà bày đặt yêu đương” của người lớn (như mẹ/cha, thầy/cô, và kinh khủng hơn là…thầy tổng giám thị với chiếc roi mây dài thòn cắp sau đôi mông bự chà bá). Vì vậy, trước đây chúng tôi thường thấy mình và bạn bè mình toàn là những “cặp tình nhân” thật dễ thương tuy học lớp 9 nhưng lịch sự, chững chạc, với “cậu” ở nhà thường lén lấy dao cạo của Bố miệt mài cạo lớp lông măng quanh mép vì nghe đồn nếu thấy mùi dao cạo là lông măng sẽ biến thành ria đen sậm rậm của đấng “đàn ông”, còn “cô” thì không chịu mặc áo yếm lót bên trong áo dài vì trông như con nít mà đòi Mẹ phải cho mặc thêm nịt ngực độn dưới yếm lót để chứng tỏ mình đã nhú ngực hẵn hoi như các chị lớp 11, 12. Lớn trong hình thể. Lớn trong lời ăn tiếng nói lịch sự, không ồn ào chốn đông người. Lớn trong cung cách đường bệ ăn mặc chỉnh chu. Lớn trong chuẩn bị cho tương lai, kiểu “Bốn năm nửa lấy tú tài xong Phước sẽ vào Văn Khoa theo ngành Triết. Trâm vô Sư Phạm thì vô. Nhưng Trâm chờ Phước nhe? Phước sẽ lấy Trâm sau khi trở thành giáo sư Triết. Phước xin thề đó. Phước chỉ yêu một mình Trâm thôi.” Chấp nhận danh “ông cụ non” chứ dãy đành đạch nếu bị gọi là “trẻ con” hay “còn con nít” hay “teen”. Vì rằng thời trước 1975, nữ sinh trung học hay quan tâm đến người nhớn khác phái chứ mấy cậu nhóc tính nết trẻ con cung cách con trẻ thì đừng hòng.

Thế nhưng đó là chuyện của những ngày bước em thênh thang và anh lặng lẽ theo hoài (Phạm Thiên Thư: Ngày Xưa Hoàng Thị). Ngày nay, hãy đến gần một nơi có tiết thể dục của học sinh trung học thí dụ như Sân Vận Động Quân Khu 7 ở đường Phổ Quang, Thành phố Hồ Chí Minh, để nghe những âm thanh và cuồng nộ (William Faulkner: The Sound and the Fury) của Thầy/Cô nói những gì Thầy/Cô cần nói bất kể học sinh có nghe hay không, học sinh nam nữ ai cũng nói cùng lúc bất kể có ai nghe hay không, thậm chí nói lớn tiếng để lấn át tiếng nói người khác, la lối, cười to, xô đẩy, ghẹo phá, đánh mạnh vào vai hay lưng nhau, chạy tuột dép, ngã sóng soài, như trẻ con chưa ở lứa tuổi đến trường. Và cũng ngày nay, hãy thử vào một trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh như trên đường Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn, để thấy rất rất nhiều sinh viên dáng người nhỏ thó dù thời ăn bo bo suy dinh dưỡng thời cấm vận đã là chuyện của phim truyện cổ trang, gầy gò, ồn ào, thích tham gia phong trào văn nghệ, thường xuyên tập dợt ca hát hay diễn kịch diễu hề vui chơi, thi đua sắc đẹp thời trang và hội diễn (thậm chí có trường còn bày tiết mục văn nghệ ăn mặc gần như khỏa thân bị bêu rếu nhiều năm trước), ít ai thèm nghiên cứu khóa luận khoa học có liên quan đến ngành học, còn khi đi tìm nơi thực tập lúc sắp tốt nghiệp thì mở miệng những lời quái gở loại immaturity và unfinished tức nửa người nửa ngợm nửa đười ươi không sao chiếm được cảm tình người nghe: “Em học Anh Văn Thương Mại. Có chỗ nào cho em tới thực tập không? Mấy chỗ có mua bán với nước ngoài đó, để em vô dịch hợp đồng và tập phiên dịch đàm phán, để em làm báo cáo tiếng Anh về cho Thầy chấm điểm. Có thì giúp. Không thì thôi. Em không muốn nghe giải thích hay tranh luận”; hoặc “Em học Quản Trị Kinh Doanh. Có chỗ nào cho em tới thực tập làm sếp không để em làm báo cáo về cho Cô chấm điểm. Có thì giúp. Không thì thôi. Em không muốn nghe giải thích hay tranh luận.” Một sự chững lại đầy tai hại như hậu quả của truyền thông quảng cáo bán hàng tập trung về “tuổi teen”, nói quá nhiều về tuổi teen. Khi người ta bị níu lại, bị hét to vào mặt “Này, em đang ở tuổi teen, có nhiều đồ chơi cho em lắm nè, tuổi em đẹp hết sức, đáng yêu hết sức, teen là số một đó em”, người ta xem như đã mất cảnh giác hoặc tự nguyện rời xa tình trạng khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng, để cái teen ấy đeo dính suốt đời, dù có đậu vào đại học, có cưới vợ lấy chồng, có sinh con đẻ cái, có công ăn việc làm, và thậm chí có tuổi có tác rồi mà vẫn teen teen tửng tửng như trẻ nít chứ không phải trẻ trung, mà cặp vợ chồng có con có cái trong truyện kể ở đầu bài viết này là một minh họa bi hài có thật.

Theo lẽ thường, chỉ lúc ở giai đoạn thứ 7 tức lão niên, người ta do sức mõi hơi tàn, mắt phải trở nên mờ, chân phải trở nên yếu, trí nhớ có khi trở nên bớt minh mẫn, huyết áp nhiều khi trở nên trầm trọng, nên có khi sẽ hay ngồi yên một chỗ, đầu cúi gầm do sức nặng thời gian, và lúc nhận ra mình chỉ còn nhìn thấy khoảnh đất nhỏ dưới chân mà nổi bật trên đó là bàn chân, thì đến khoảnh khắc ấy người ta mới ngậm ngùi nhận ra mình đang ở tuổi già, bị buộc phải dừng lại hẳn, không còn nhìn xa để đi hay lao tới trước. Ấy vậy mà nhiều người nay bước vào giai đoạn teen đã lập tức nhận ra mình đang ở tuổi teen. Đó là điều còn tệ hơn cả một sự khủng khiếp, vì khi đã cúi gằm mặt xuống nhìn khoảnh đất nhỏ dưới chân có dán nhãn “tuổi teen”, nhận ra mình đang ở tuổi teen, người ta sẽ bị buộc dừng lại hẳn, không còn có thể ngước lên để nhìn xa và thấy ở đàng xa cái đích người ta lẽ ra đã đi chậm hay bước nhanh hoặc chạy đua đến đó từ lâu. Đó là lý do ngày càng có nhiều hơn những người xử sự như teen dù đã qua khỏi tuổi teen [3].

Người ta chỉ hồi tưởng lại thời thơ ấu khi chẳng còn ở thời thơ ấu. Người ta chi nhớ lại thời trưởng thành sau khi đã bỏ lại sau lưng thời trưởng thành. Người ta kể lại hay viết hồi k‎ý về những năm tháng ở tuổi trung niên sau khi đã qua khỏi giai đoạn này vì lúc ở tuổi trung niên người ta tập trung làm việc với làm giàu. Tích cực như thế và theo lẽ tự nhiên như thế nên làm gì có việc 6 giai đoạn đầu của đời người là có thật ngay thời điểm của từng giai đoạn ấy! Sá gì cái gọi là tuổi teen! “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”  (“Cogito, ergo sum” của René Descartes) chính là câu nói lừng danh thuộc phạm trù triết học, mà chính câu này chứng minh các giai đoạn không thể có thật do người khỏe mạnh thể chất và/hay tinh thần chưa bao giờ tư duy về giai đoạn khi đang ở trong giai đoạn đó. Thậm chí có người còn nói khi đến tuổi bảy mươi xưa nay hiếm vẫn phủ nhận sự tồn tại của hai chữ “nghĩ hưu” trong quyển tự điển đời mình, biến toàn bộ bảy giai đoạn của đời người mà bài sonnet của Shakespeare có thể liệt kê trở nên chưa bao giờ có thật. Đó là những người có cuộc sống luôn tích cực. Họ không cảm nhận mình đang ở giai đoạn nào, vì lúc còn bé luôn chối bỏ sự thật mình còn bé, lúc trưởng thành lại vùi đầu vào sự nghiệp và những tính toan. Những giai đoạn chỉ tồn tại khi đã qua đi. Chỉ có tuổi già là có thể tồn tại trong thời hiện tại. Quảng cáo hàng hóa đã chứng tỏ sức mạnh dữ dội của nó trong uốn gảy tự nhiên, xóa sạch quá khứ, khóa cổng tương lai, tạo nên lớp thứ ba mang “hội chứng teen” mà biểu hiện đặc thù là tửng tửng, vui vẻ, vô tâm, vô tư, biết mình là teen, trung tâm của vũ trụ vui thú. Khi có đủ thứ vui chơi từ màu son môi cho teen cho đến cả Hoa Hậu Tuổi Teen, người ta cần chi phải nghĩ đến tuổi trưởng thành và trách nhiệm công dân. Cứ thế, lâu lâu vài tin tức tình hình này nọ đang gia tăng đáng báo động ở Phụ Sản đủ cho thấy hội chứng teen đã biến teen thành giai đoạn cuối cùng của cả đời người của không ít người teen (teenagers).

Lẽ ra tuổi teen nên tiếp tục như đã chưa bao giờ có thật trong tâm tưởng và nhận thức của những con người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng.

 HHP_7yearsold

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Ghi chú:

[1] Đây là loại mẫu câu (sử dụng dấu gạch nối để biến một dãy hàng chục từ thành một cụm từ duy nhất mà đa số là cụm tù danh từ tức noun phrase) do Hoàng Hữu Phước mô phỏng theo Tiếng Anh, và áp dụng đầu tiên tại Việt Nam trong tất cả các bài viết tiếng Anh từ năm 1976, cũng như trong tất cả các bài viết tiếng Việt từ năm 1988, đặc biệt trên các blog từ năm 2007 đến nay. Hiện kiểu viết này được giới truyền thông sử dụng rộng khắp trên phạm vi toàn quốc.

[2]  Từ năm 1981 tôi đã giải thích với tất cả các sinh viên Khoa Anh rằng Đại Học Sư Phạm đã dùng tiếng Anh sai hoàn toàn khi tự gọi họ (hoặc do Nhà Nước áp đặt tên) là University of Pedagogy, rằng Cao Đẳng Sư Phạm đã sai hoàn toàn khi tự gọi họ(hoặc do Nhà Nước áp đặt tên) là Teacher Training College, vì cả hai đều là “đại học” trong tiếng Việt ở Sài Gòn trước 1975 và đều là “faculty”(tương đương “college”) trong tiếng Anh ở Sài Gòn trước 1975. University là “viện đại học” mang tính quản lý, bao gồm nhiều đại học chuyên ngành tức “college”. Đồng thời tôi là “giáo sư” vì hai lý do như (a) trước 1975 ở Sài Gòn người dạy trung học đương nhiên được gọi là giáo sư, người dạy đại học đương nhiên được gọi là giảng sư, và (b) tất cả các sinh viên trong nước và người nước ngoài đều gọi tôi là Professor, do đó tôi buộc phải chọn từ “giáo sư” trong tiếng Việt để tránh từ “giảng sư”, và cũng không chờ Nhà Nước phong “giáo sư” vì không muốn bị hiểu lầm trình độ tôi tương đương các vị mà đa số thuộc nhóm hư danh ấy.

[3] Hoàng Hữu Phước. 12-9-2014. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 02-10-2014. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

Hoàng Hữu Phước. 03-8-2011. Lời Ngỏ Cùng Học Sinh. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/l%e1%bb%9di-ng%e1%bb%8f-cung-h%e1%bb%8dc-sinh/

Hoàng Hữu Phước. 30-10-2011. Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/th%e1%ba%a7y-nh%c6%b0-th%e1%ba%bf-nao-tro-nh%c6%b0-th%e1%ba%bf-%e1%ba%a4y/

Hoàng Hữu Phước. 30-11-2011. Phong Cách Người Thầy. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/phong-cach-ng%c6%b0%e1%bb%9di-th%e1%ba%a7y/

Hoàng Hữu Phước. 07-9-2012. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/c%e1%bb%b1u-nha-giao-hoang-h%e1%bb%afu-ph%c6%b0%e1%bb%9bc-vi%e1%ba%bft-b%e1%bb%a9c-tam-th%c6%b0-g%e1%bb%adi-nha-giao-hi%e1%bb%87n-t%e1%ba%a1i-va-t%c6%b0%c6%a1ng-lai/

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

 – Thông Qua Phụ Huynh –

Hoàng Hữu Phước, MIB

 POST (1)POST (2)POST (3)

Phàm khi muốn tỏ ra ta đây như nhà hiền triết, thiên hạ hay nhịp nhịp chân rung rung đùi liêm liếm môi mà phán rằng “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”; song, chưa hẳn sự thật trong đời luôn đã là như vậy. Có kẻ thành công trở thành chủ nhân của hai chữ “đại gia”, song y chỉ luôn mồm nói về thủa hàn vi cơ cực của y (chẳng hạn trường hợp một đại gia ngành “sấy khô” có lần thật thà cho biết được Bố cho vài tỷ Việt Nam Đồng nhưng kinh doanh mất sạch, bị Bố giận dữ ném vô mặt một bao bố đầy vàng thỏi và nhờ y hữu chí cánh thành khiến y tay trắng làm nên nghiệp lớn – mà tay trắng thiệt à nghe, vì có đồng xu cắc bạc nào trong số vốn ít ỏi đó là tiền mồ hôi công sức của y kiếm được khi còn “hàn vi” kiểu ấy đâu) rồi phán vài câu khuyên bảo mang tính ranh ngôn chứ chẳng đời nào nói về những thủ thuật mà y đã xuất chiêu ra sao, với ai, trong hoàn cảnh nào để đánh bại thiên hạ, luồn lách chiếm lĩnh thị trường, trở thành “đại gia” cả. Thế nên, đừng nên mơ tưởng đến chuyện học hỏi kinh nghiệm làm giàu hay làm đại gia của người khác một cách hoặc ngây ngô hoặc trẻ con hoặc láu cá

 POST (4)

và có gần ngọn đèn Led đó thì cũng chẳng sáng được gì đâu vì nó chỉ chiếu ngay tại một điểm nào đó trên quyển bí kíp của y mà thôi. Còn vụ gần mực thì đen cũng không là chân lý, vì rằng nếu bạn sáng thì chẳng phải bạn lọt thỏm trong vùng đen sao? Mặt Trời bắt buộc luôn phải ở trong không gian vũ trụ cúp điện tối thui dù ánh sáng của nó có thể tạo ra điện cho con người. Chẳng hạn như tôi đây thủa nhỏ kề cận toàn những bạn học rất nghèo, học rất kém, thuộc xóm rất “nhà lá”, trong gia đình rất “anh chị bự” nằm sâu trong những hẻm rất “dao búa”, chẳng qua vì cha mẹ của các bạn này khuyên con cái họ gần đèn thì sáng nghĩa là hãy sáp lại tôi, tức là con trai Thầy Hai Cô Hai, cho sáng trong khi tôi có bị họ làm cho đen chút nào đâu. Đó là lý do nhiều ông nam và bà nữ trong xóm nhà Má tôi đến nay vẫn chào tôi kính trọng vui vẻ mỗi khi gặp tôi [1] về thăm Má, và thì thoảng nhắc chuyện ngày xưa đã từng học chung lớp tiểu học với tôi ở trường Phan Đình Phùng (nay ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Tôi không nhớ đã làm các bạn ấy sáng như thế nào, chỉ biết mỗi lần đi học là tôi xòe tay xin Má tôi năm cắc hay một đồng bạc có in nổi hình Ngô Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa để lúc ra chơi thì thò tay qua hàng rào kẻm gai vói mua cà lem (tức cà rem, tức kem) của một ông lão rồi phân chia cho các bạn ấy mút vì thương các bạn ấy nghèo. Có phải cái hiền hậu thương người sẻ chia của tôi làm các bạn ấy hiền hậu theo chăng, nên bây giờ họ là những công dân hiền hậu thương người sẻ chia cực kỳ tốt bụng với Má tôi và các con của Má tôi, chứ cái sự học thì mạnh ai nấy học, không lẽ lại cho copy bài để bị cô giáo quất roi vào đầu các ngón tay chụm lại à? Thôi thì bây giờ với đức khiêm nhường khiêm tốn khiêm cung [2] đã học được từ Đức Phật, tôi tình nguyện đem cái đèn dầu hỏa Huê Kỳ đầy muội khói của tôi

 POST (5)

(không chói chang như đèn pha xe Mercedes-Benz, cũng chẳng tinh tế như đèn led của bút điện tử) ra để kể cho các “bạn” học sinh tiểu học và trung học (vì đại học thì đã muộn rồi, bó tay rồi) – thông qua sự đọc và quyết định có thuật lại cho con em mình hay không của các vị phụ huynh – về tôi, với ước ao có thể soi “sáng” được một hai công dân tương lai của đất nước này vậy. Tùy nam hay nữ mà có sự tham khảo thích hợp cho từng hay tất cả các điểm dưới đây.

Trước hết, tác phong tư thế là thứ phải có từ thủa ấu thơ. Phải đi giày vải hoặc giày da với vớ: đây đã là điều bắt buộc ở tất cả các trường tiểu học công lập ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa để học sinh rèn luyện sự nhanh nhẹn trong đi đứng. Thật kỳ lạ khi đến Thế Kỷ XXI rồi mà bậc trung học ở Việt Nam vẫn thấy nhan nhản học sinh đi dép lê hay giày sandal, còn những viên chức công chức nhân viên đi giày không vớ hoặc vào đến nơi làm việc hay phòng họp là cởi giày tuột vớ vì đau chân nóng ngón, né tránh thắt cravat vì ngộp thở nhột cổ, trong khi tâm trí lúc nào cũng mơ mơ màng màng đến chuyện làm việc lương phải cao, ăn mặc phải toàn hàng hiệu, nhà cửa phải sang trọng, bản thân phải có chức trọng quyền cao, đi ô tô phải loại mấy chấm, và nếu xuất ngoại phải đi các nước Âu này Mỹ nọ, v.v. Không ai trong số họ có thể làm người hùng tham gia bắt cướp cứu người hoặc rượt kẻ vừa giật đồ của chính mình hay người yêu của mình, vì chạy bộ đứt quai dép lê hay tuột mất sandal, và không ai thi hành nghĩa vụ công dân tòng quân cứu nước được do không quen với giầy bốt nặng nề nóng bức ẩm thấp của quân đội.

 POST (6)

Nên luôn nhớ: tuổi trẻ chỉ là vị trí ngưỡng tức những bậc thang đầu tiên tiến hoài hoài đến trưởng thành và vượt qua tầng trưởng thành chứ không bao giờ đồng nghĩa với sự thơ dại vô tư vô tâm teen teen[3] tửng tửng đứng hoài trên một bậc thang để nhảy múa; do đó, dù trẻ tuổi vẫn phải biết giữ sự nghiêm túc nghiêm chỉnh như đang bước thận trọng lên những bậc thang, không để bản thân tự làm những hành động hay cử chỉ khiếm nhã, giễu cợt, mà tiếng bình dân gọi là “trò khỉ”, nhất là khi những “trò khỉ” nghịch ngợm lại được thể hiện qua nét mặt và cử chỉ được ghi lại trong những bức hình, cái vật thể mang tính “bằng chứng” mà một người nào đó trong số những người có mặt trong ảnh rất có thể một ngày nào đó trong tương lai thật xa đem ra sử dụng với ác ý nhọ bôi chính bạn. Sự nghiêm túc của đa số các học sinh lớp 9 như trong hình dưới đây có thể là một thí dụ

 POST (7)

Tương tự, nền tảng tư cách hình thành từ trước đó đã được thể hiện trên gương mặt trang nghiêm của tất cả các học sinh trong bức ảnh này:

 POST (8)

Cần lưu ý rằng khi bạn đoan chính, có tư cách cao trọng, thì bạn luôn được kính trọng và tôn trọng đối với những gì riêng tư của bạn, thứ mà ngày nay thiên hạ hay lạm dụng để lãi nhãi rêu rao nhóp nhép ngày đêm: nhân quyền. Chẳng hạn ngay sau ngày 30-4-1975, những mái tóc dài của nam giới và ống quần tây rộng trên 25cm của thanh niên Sài Gòn bị cho là tàn dư của lối sống sa đọa của Mỹ nên không được đón chào, thậm chí bị cấm đoán, bị công an chặn đường sởn tóc, cắt ống quần tại chỗ, và triệt tiêu trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng nam sinh viên này là người duy nhất tự cho mình có quyền để tóc dài dầy và mặc quần tây ống rộng đúng 35cm không hơn không kém, nhưng lại được thế giới quyền lực để yên

 POST (9)

đơn giản vì anh ta là sinh viên xuất sắc của Khoa Anh Văn, người duy nhất được các bậc thầy cô tài hoa duy nhất của Việt Nam về Anh ngữ tôn trọng, thương yêu [4], và là người xung phong hướng dẫn thể dục cho cả 2 lớp Anh Văn ở sân bóng chuyền của trường vào giờ ra chơi, cái việc mà mọi sinh viên khác đều tránh né vì “mắc cở” hoặc biếng lười;

 POST (10)

ngoài ra, anh ta từng hai lần bắt cướp trước cổng trường Đại học Văn Khoa và trước Đài Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh, dù anh ta cao nhòng 170 xen-ti-mét ốm nhom ốm nhách nặng có 48 ký-lô-gờ-ram đã trừ bì (sau này làm doanh nhân nặng ngược 84 ký net không mặc gì, rồi nay làm nghị sĩ còn 70 ký gross với veston trấn thủ) và cận thị hơn 7 đi-ốp (sau này làm doanh nhân viễn thị 6 đi-ốp và nghị sĩ loạn thị 5 đi-ốp), cái tiêu chuẩn công tử hippie mà quân đội chính quy hùng mạnh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lịch sự mời anh ta đi chỗ khác chơi ngay từ cái nhìn đầu tiên ở bãi giữ xe (trong khi bọn ngu dốt Chống Cộng hê lên rằng chúng biết anh đã trốn nghĩa vụ quân sự mà không biết rằng vào thời đó trốn nghĩa vụ quân sự đồng nghĩa với việc phải sống ngoài vòng pháp luật);

 POST (11)

còn ở tại địa phương nơi cư trú, sinh viên này chính là Tổ phó An ninh Tổ Dân phố với những thành tích tuần tra nhiều phen bắt trộm cướp giữ gìn an ninh trật tự cho dân chúng trong chu vi tuyến đường vuông vức Nguyễn Thiện Thuật-Nguyễn Đình Chiểu-Cao Thắng-Nguyễn Thị Minh Khai (Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh)

 POST (12)

 POST (13)

Không những thế, Ba của anh ta cũng có thành tích trong Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc với vai trò Trưởng ban Bảo vệ Khu phố:

 POST (14)

đó cũng là tích hợp quá nhiều những lý do để dù gia đình không “có công với cách mạng”, không có ai là Đảng viên Cộng sản Việt Nam, không có ai là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, sinh viên này được chính quyền làm ngơ cho anh ta tự do để tóc dài, còn gia đình anh ta được một suất  đi du học ngành ngôn ngữ học ở Liên Xô.

Mái tóc dài “tự do, dân chủ, nhân quyền”[5] [6] của sinh viên này có thể được cắt ngắn tí chút khi đến trường Bùi Thị Xuân thực tập giảng dạy vài lớp 11, nhưng anh ta vẫn luôn không cài hai nút áo trên cùng, như để thỏa một cái “tôi” của một cá tính mạnh mẽ bất khuất, của một sự khác biệt thể loại differentiation tức một thứ signature đặc trưng nổi bật “không đụng hàng” (mà ngành kinh tế cùng quản trị kinh doanh quốc tế vài chục năm sau thường hay cổ súy, truyền bá, ngợi ca), và của lòng yêu tự do, kính dân chủ, trọng nhân quyền, cũng như trách nhiệm thực sự thực chất của một công dân gương mẫu đối với tổ quốc [7]: sống trong đạo đức, đạo hạnh, đạo nghĩa, đạo lý, và trách nhiệm đối với công việc tức là luôn luôn hoàn thành trên cả xuất sắc mọi công việc, luôn luôn đạt đẳng cấp cao nhất loại second-to-no-one để có thể đem tài ra thi thố bảo vệ chính nghĩa của Đảng, của chính phủ, của đất nước, của dân tộc, trên bình diện quốc gia và thế giới

 POST (16)

Đó cũng là lý do người sinh viên dám để tóc không những dài mà lại là dài nhất nước trong một xã hội xã hội chủ nghĩa cực kỳ nghiêm khắc triệt để nghiêm cấm các hình thức thể hiện tự do cá nhân theo trường phái hippie lại nhận được bút phê của một chức sắc cộng sản là Thầy Khoa Trưởng Phan Nam ngợi khen về tư cách trong hồ sơ tốt nghiệp sau khi các thầy cô kính yêu [8] thất bại trong nổ lực kiến nghị hãy giữ anh lại làm giảng viên Anh văn của Đại học Tổng hợp

 POST (17)

Và khi tốt nghiệp đại học với tấm bằng màu xanh lè hạng trung bình vì có điểm thấp lè tè ở những môn không phải tiếng Anh (cô bạn học chung lớp sau này làm vợ của anh thì có bằng đỏ lòm do tốt nghiệp loại giỏi), anh ta là sinh viên duy nhất được Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hùng (nguyên phiên dịch viên tiếng Anh của Tướng Võ Đông Giang và Tướng “độc nhãn” lừng danh Hoàng Anh Tuấn, đại diện Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam trong Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên ở trại Davis, sân bay Tân Sơn Nhất, trong Ủy ban Quốc tế những năm 1973-1975) “tiến cử nhân tài” [9] cho Đảng để công tác tình báo [10] thuộc Công An Nhân Dân; song, khi đến trình diện Trưởng Phòng Tổ Chức Cán Bộ Sở Lê Văn Toan tại Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh, anh ta lại khẩn khoản xin được theo nghề giáo để rồi lúc Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh tích cực ba lần kiên trì xin anh về cho bằng được, anh được Tổ Chức Chính Quyền Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận phân công về làm cán bộ giảng dạy Anh Văn các bộ môn Năm Thứ Ba mà các giáo viên đương nhiệm tại đó run sợ né tránh đẩy đùn (như Lexicology, Văn Chương Anh British Literature, Văn Minh Anh British Civilization, Thông-Phiên Dịch Translation-Interpretation, và Luyện Viết Văn Composition, v.v.), thì mái tóc anh vẫn không vì thế mà ngắn cho đúng nghĩa “thấy tai thấy gáy”:

POST (18)

Như vậy, sinh viên và nhà giáo trên đã có toàn quyền thể hiện cái tôi và sự làm chủ bản thân đối với những gì thuộc riêng về anh ta, vượt qua cả những định kiến hay quy định, chỉ vì anh ta xuất sắc về chuyên môn, hồng thắm về tư tưởng cách mạng, sống tích cực vì nước vì dân, đạo đức tác phong luôn nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang, gởi nhiều thư đóng góp ý kiến mạnh mẽ dù về những vấn đề cực kỳ nhạy cảm – mà mọi người khác khiếp sợ không dám nói đến – để xây dựng Đảng và đất nước [11] [12];

 POST (19)POST (20)

còn mái tóc anh ta nếu có ngắn thì không bao giờ tại bị vì bởi bất kỳ sự bắt buộc khuyên lơn áp đặt nào của bất kỳ quyền lực nào của bất kỳ cơ quan nào, mà đơn giản chỉ vì anh ta là người yêu cái đẹp, biết rất rõ rằng mái tóc dài chỉ tạo dáng đẹp kiêu dũng với đúng người kiêu dũng như anh ta, ở đúng tuổi đẹp của người ấy, và vào đúng lúc đẹp của người ấy:

 POST (21)POST (22)

trong khi vài chục năm sau đó trong nước nảy ra cái “mốt” cứ hễ đến (hoặc sắp đến) tuổi về hưu thì mấy cụ ông nào nghề nghiệp có chữ “nhà” (như …nhà sử học, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, v.v.) hay chữ “nghệ” thì đột nhiên can đảm dám bắt đầu để tóc dài tuy không còn tí tẹo cỏn con nào tố chất của thẩm mỹ hùng anh, ắt cho rằng do nhiều chục năm trước vì nhát gan run sợ đến chết khiếp đến độ mái tóc riêng của chính mình cũng không dám để dài hay cạo trọc làm phí cả đời trai nên nay phải để dài như một thứ đền bù kom-păng-xa-xi-ông tự chứng tỏ mình ngon lành chăng.

Khi bắt đầu làm việc tại các công ty, tập đoàn nước ngoài, nhà giáo-doanh nhân này đã trải qua những giai đoạn “tự do”:

 POST (23)

nhưng vẫn không bao giờ quên ngoài đạo đức gia phong, đạo đức mặc định, đạo đức xã hội nhân quần, đạo đức truyền thống dân tộc, và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức kinh doanh, còn có cả đạo đức cách mạng mà mọi công dân yêu nước thật sự không thể không trau giồi, thứ đạo đức mà nhiều người lầm tưởng thuộc đặc quyền tu dưỡng của riêng chỉ cán bộ đảng viên Cộng sản:

 POST (24)

Tư cách và tư thế ấy luôn phải được thể hiện xuất sắc không vì cá nhân anh ta mà vì quốc thể, để dù đàm phán với một lãnh đạo doanh nghiệp Âu Châu về phát triển kinh doanh tại một hội chợ quốc tế

 IM000230.JPG

hay dự lễ ký kết với ban lãnh đạo Đài Loan của tập đoàn địa ốc Phú Mỹ Hưng

 POST (26)

tham dự hội thảo lúc nước nhà mới vừa thực thi chủ trương “mở cửa”

 POST (27)

hoặc tiếp xúc những chức sắc ngân hàng Phi Châu lúc đất nước trên đà hội nhập rộng sâu

 POST (28)

hay lúc đến Tổng Lãnh Sự Quán Ấn Độ năm 2009 nhận công thư có ấn ký của chính quyền Ấn Độ xác nhận sự ủy quyền của một doanh nghiệp quốc doanh Ấn Độ để đàm phán các giao dịch thương mại nhằm phát triển kinh tế vùng Đông Bắc Ấn

  OLYMPUS DIGITAL CAMERAPOST (30)

khi đến tỉnh Vĩnh Phúc phụ trách các module chuyên đề Chiến Lược Giao Tiếp Trong Kinh DoanhVăn Hóa Doanh Nghiệp & Truyền Thông Nội Bộ dành cho toàn ban lãnh đạo cấp cao của Công ty Xuân Hòa

 POST (31)

kể cả những lúc “hành nghề” làm MC song ngữ Anh-Việt hàn lâm duy nhất ở Việt Nam tại các tiệc cưới sang trọng có yếu tố nước ngoài

 POST (32)

lúc chụp hình xã giao với Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhân Quốc Khánh Hoa Kỳ lần thứ 238 ngày 04-7-2014

 POST (33)

hay trò chuyện thật vui thể hiện một “excellent sense of humour” cùng Tân Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng nhân Quốc Khánh Hoa Kỳ 2014

 POST (34)

hoặc với các nữ doanh chủ

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

hay các cộng sự trung tín trung thành trung hậu ở văn phòng cơ quan

 POST (36)

hoặc cùng họ thăm các danh thắng quốc gia này hay quốc gia khác

 IM000183.JPG

thì cũng nghiêm túc nghiêm trang nghiêm nghị nghiêm khắc y như thủa còn là sinh viên chụp hình chung với những lớp đàn em, không bao giờ toét toe đú đởn bá cổ quàng vai ôm người bẹo má:

 POST (38)

hoặc như khi xếp hàng chuẩn bị vào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 POST (39)

ngay cả khi trong vòng vây tình cảm thân thương của những người dân quê, những người nhiều chục năm nay vẫn luôn nhớ và gọi anh ta là “Thằng Trọng hiếu thảo, cháu ngoại Năm Vinh[13]

 POST (40)

thì sự lịch lãm lịch thiệp lịch sự, tươi trẻ tươi tắn tươi vui, nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang luôn được thể hiện ở mức độ cao nhất, nhằm một mục đích duy nhất: khiến mọi người được tiếp xúc với anh ta đều phải kính trọng nể trọng tôn trọng quý trọng con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, Chính quyền Việt Nam, phong hóa Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, qua phong thái phong cách phong độ đường bệ đường đường chính chính của anh ta: một công dân Việt Nam bình thường bình dân bình dị, chân thiết chân chất chân tình, cả đời tôn sùng tôn bái tôn vinh đức liêm khiết và liêm chính.

Hãy sống thật bình thường như thế;

Hãy học thật bình thường như thế;

Hãy có sự trưởng thành thật bình thường như thế trong tư duy;

Và hãy làm được những điều thật đơn giản bình thường như thế trong đời sống;

Để bừng tỏ bản thân rằng bạn yêu chuộng tự do đoan chính chứ không là thứ say rượu do bã mèm tự do nô dịch phản loạn phản quốc phản động;

Để chứng minh sự thể hiện cái bản ngã của bạn chỉ xuất phát từ trí tuệ trí hóa trí thông minh chứ không từ bản năng của giống loài nhai lại [14][15] [16] [17] [18] ;

Để không bất kỳ kẻ ác tâm ác ý ác độc nào trên thế gian này – nhất là bọn báo chí hai mang hèn hạ [19] [20], đám truyền thông ba mang bẩn nhơ, lũ mạng xã hội bốn mang thối tha [21] – có thể giở bất kỳ trò đê tiện nào để bôi nhọ được thanh danh của bạn, uy tín của bạn [22] ;

Vì bạn có trong tay những gì mà người sinh viên trong câu chuyện dài dòng trên đã có – chí ít là qua những bức ảnh anh ta đã cung cấp trong bài viết này, những bức ảnh (và tình tiết chi tiết) mà nếu anh ta không cho phép tác giả bài này tải đăng thì không bất kỳ ai trên đời có thể có trước trong tay để hét toáng lên rằng chúng biết rất rõ về anh.

Hãy chuẩn bị cho chính mình thậm chí ngay từ lúc còn là thiếu nhi những thứ làm giá trị cộng thêm sau này cho giá trị bản thân vững vàng của bạn (kể cả cách hành văn đặc sắc đặc trưng riêng của bạn dù bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài mà bọn mất dạy không thể bắt chước được để ngụy tạo các “tác phẩm” gán tên bạn vào) để bảo vệ chính bạn trong cõi ta bà ô trọc đầy bẫy rập gian trá gian xảo gian tà này của thời Mạt Pháp.

 POST (41)POST (42)POST (43)ScreenShot433WOW (1)

Tannhauser-Beowulf-Thor [23] Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1: Bài này – và tất cả các bài khác trên blog này của Hoàng Hữu Phước – có thể được đăng lại, toàn phần hay một phần, kể cả hình ảnh, bởi bất kỳ ai quan tâm đến, song phải trên tinh thần nhân văn đỉnh cao của Thùng Nước Đá và Blog mà người đăng lại được mặc định đã xem tại http://hhphuoc.blog.com/?p=181 và đã nhất trí đồng ý tôn trọng tuyệt đối.

Ghi chú 2:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Tôi Và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=52

[2] Hoàng Hữu Phước. 10-10-2011. Khiêm Tốn. Bài đăng trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Đăng lại tại http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/khiem-t%e1%bb%91n/

[3] Hoàng Hữu Phước. 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật. Bài đăng tháng 12-2009 trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[4] Hoàng Hữu Phước. Các Thầy Cô Kính Yêu Của Hoàng Hữu Phước. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

[5] Hoàng Hữu Phước. 17-5-2010. Thế Nào Là Tự Do, Dân Chủ. Đăng trên Emotino.com. Đăng lại tại http://hhphuoc.blog.com/?p=326 ngày 24-3-2014.

[6] Lại Thu Trúc. 04-02-2014. Nhân Quyền Việt Nam. http://hhphuoc.blog.com/?p=288

[7] Hoàng Hữu Phước. 09-4-2009. Việt Nam Đất Nước Kính Yêu. Bản tiếng Việt; http://hhphuoc.blog.com/?p=43. Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44

[8] Hoàng Hữu Phước.  – đã dẫn ở [4]

[9] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

[10] Hoàng Hữu Phước. Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Công Dân Có Năng Lực: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo. Bài đăng tháng 8-2011 trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước vào thời điểm thích hợp.

[11] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/21/bao-sai-gon-giai-phong/

[12] Hoàng Hữu Phước. 14-3-1993. Tôi Gởi Thư Cho Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam. Bài đăng lần đầu bằng tiếng Anh trên Yahoo!3600 ngày 23-8-2008. Đăng lại song ngữ Anh và Việt trên Emotino.com ngày 14-9-2008. Nguyên bản sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[13] Hoàng Hữu Phước. 05-11-2012. Hoa Tàu. http://antichina.blog.com/?p=60

[14] Hoàng Hữu Phước. 08-3-2014. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. http://hhphuoc.blog.com/?p=318

[15] Hoàng Hữu Phước. 17-01-2013. Nhân Nghe Về Huy Đức. http://hhphuoc.blog.com/?p=121

[16] Hoàng Hữu Phước. 05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định. Bài đăng trên emotino.com (đã ngưng hoạt động). Nguyên bản được đăng lại ngày 22-9-2014 ở https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/22/toi-va-le-cong-dinh/. Đăng rút ngắn trên Báo Nhân Dân, trang 8, số ra ngày 07-9-2012: (http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322) và tại http://hhphuoc.blog.com/?p=92.

[17] Hoàng Hữu Phước. 19-02-2010. Tôi Và Cu Huy Ha Vu. Bài đăng trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Nguyên bản sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[18] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/08/trinh-do-truong-trong-nghia/

[19] Hoàng Hữu Phước. 20-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/13/quyen-luc-thu-sau-3/ 

[20] Hoàng Hữu Phước. 2013. Tứ Đại Ngu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

[21] Hoàng Hữu Phước.14-8-2013. Mạng Xã Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=210  hoặc https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/14/mang-xa-hoi/

[22] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân: Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=68

[23] Hoàng Hữu Phước. 28-9-2011. Tại Sao Là Tannhauser Beowulf Thor. Bài đăng trên emotino.com (http://www.emotino.com/bai-viet/19308/vi-sao-la-beowulf-thor). Emotino.com đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý II năm 2014. Bài sẽ được đăng lại trên blog này.

Tết Mậu Thân 1968

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trong lịch sử cận đại Việt Nam có một chương mà Việt Nam Cộng Hòa gọi là “biến cố Tết Mậu Thân”. Là cư dân Sài Gòn từ lúc lọt lòng mẹ tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ năm 1957, đến khi Má tôi hạ sinh em gái thứ sáu của tôi tại Bảo Sanh Viện Hồng Đức trên đường Cao Thắng vào lúc tiếng súng vang rền khắp phố thị Sài Gòn trong sự kiện mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gọi là Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Tết Mậu Thân, tôi cùng chị, em gái, và em trai được Ba dẫn vô bảo Sanh Viện ấy trú ẩn. Khi chiến sự đã yên, chúng tôi trở về nhà với thành viên mới đang khóc oe oe. Và trên tivi những tay tâm lý chiến bắt đầu sử dụng nhạc của bài Exodus làm nền cho các phim phóng sự về cái gọi là “tội ác của cộng quân” trong việc hành hình và chôn sống hàng vạn người dân vô tội tại Huế.

Điều kỳ lạ thứ nhất là sau khi thất trận, dường như vì Mỹ hết hồn hết vía chạy tán loạn, máy bay trực thăng nhắm Biển Đông lao ra để rồi tự rơi xuống biển khi hết xăng do bay vòng vòng quanh các hàng không mẫu hạm mà không có chỗ trống nào để đáp xuống dù mẫu hạm đã xô hết máy bay xuống biển biến hàng không mẫu hạm thành mẫu hạm không hàng, còn hàng hàng lớp lớp soái hạm và chiến hạm cùng hàng không mẫu hạm phóng hết tốc độ trốn khỏi Biển Đông, nên quên phéng hai việc quan trọng là (1) Việt Cộng chỉ có ghe để vung tay chèo truy sát chiến hạm Hoa Kỳ, và (2) từ 1975 cho đến tận ngày nay không nhớ là có cái gọi là “tội ác” của cộng quân trong “biến cố Tết Mậu Thân”.

Điều kỳ lạ tiếp theo là sau khi thất trận, dường như vì quân tướng Việt Nam Cộng Hòa hết hồn hết vía cởi bỏ quân phục, vất bỏ quân trang, chạy tán loạn với chân đất và quần lót, về Sài Gòn chen chúc đu càng máy bay trực thăng nhắm Biển Đông lao ra để đứng chen chúc trên các hàng không mẫu hạm đã bị biến thành mẫu hạm không hàng, qua đến Mỹ mà sự run sợ vẫn còn đến độ quên phéng cho đến tận ngày nay không nhớ là có cái gọi là “tội ác” của cộng quân trong “biến cố Tết Mậu Thân”.

Cũng vì hai điều kỳ lạ trên mà bất kỳ ai đoan chính, có học thức, có trí tuệ, đều phải hồ nghi, lấy làm lạ vì cả Mỹ và nhóm tướng tá Việt Nam Cộng Hòa đều thi nhau chửi Việt Cộng, chẳng hạn như Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài xong là ra rả luôn mắng Việt Cộng vi phạm nhân quyền, xâm hại dân quyền, chứ không nhắc gì tới “tội ác Việt Cộng” hồi “biến cố Tết Mậu Thân 1968”, còn giới chóp bu Mỹ thì tự nhiên như gà mắc tóc không dám gọi cộng sản Việt Nam là gây tội ác diệt chủng, chống lại nhân loại, tàn sát nhân dân, để đem vụ việc ra tòa án quốc tế. Chắc chắn không phải vì Mỹ sợ lỡ làm Việt Nam nổi giận đưa quân nhảy ùm xuống nước bơi vượt biển Thái Bình qua tấn công Mỹ quốc, giải phóng Hoa Kỳ, cắm cờ đỏ sao vàng trên nóc điện Capitol. Chắc chắn không phải vì mấy ông tướng tá Việt Nam Cộng Hòa lưu vong ở Mỹ nhát gan, thấy chủ nhân không nhắc đến thì phận tôi đòi sao dám qua mặt chủ. Thế thì sự thật ở đâu, và vì sao Mỹ và đám tướng tá lưu vong ấy từ 1975 đến 2013 không dám nói gì về cái gọi là “tội ác của cộng quân” hồi “biến cố Tết Mậu Thân”?

Sự thật kinh hoàng do nhà báo Mỹ D. Gareth Porter nghiên cứu, phơi bày trong bài viết tựa đề “Vụ Thảm Sát Tại Huế Năm 1968” đăng trên tạp chí Indochina Chronicle, số 33, ngày 24-6-1974, tức một năm trước ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ hậu thuẫn sụp đổ trở thành vết nhơ tủi nhục về quân sự vô tiền khoáng hậu trong toàn bộ lịch sử nhân loại từ lúc khai thiên lập địa đến ngày tận thế. Hồ nghi về số liệu “khủng” do các tay chiến tranh chính trị của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đạo diễn và biên soạn, Porter đã bỏ công kiếm tìm các nhân chứng gồm các sĩ quan Mỹ và bác sĩ quân y, để đưa ra kết luận từ đó khiến chính quyền Mỹ và phe chống Cộng ở hải ngoại phải câm miệng không bao giờ dám nhắc đến “tội ác cộng sản”. Hóa ra số thương vong của người dân là do bị bom của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công liên tục cả tháng trời nhằm tiêu diệt quân giải phóng, rằng dân chúng rất nhiều người vì ủng hộ cộng sản đã ở lại Huế giúp quân giải phóng nên đã trở thành đối tượng để bị quân Cộng Hòa sát hại theo lịnh Nguyễn Văn Thiệu khi tái chiếm Huế; rằng các xác chết trong hố tập thể đều có vết tích của bom Mỹ, các dây trói theo kiểu do quân đội Hoa Kỳ chuyên nghiệp đào tạo, và theo pháp y việc trói xảy ra sau khi người đã chết vài ngày do đó không phải do Việt Cộng xử tử hình; còn các hố tập thể phát hiện bên ngoài Huế là do các chiến sĩ Việt Cộng đã không bao giờ bỏ lại xác của đồng đội đã hy sinh mà cố đem theo cho bằng được dù do đạo lý của quân giải phóng hay đơn giản không muốn đối phương làm nhục thi thể đồng đội hay có số liệu về thương vong của quân giải phóng. Porter cho rằng:

“Vấn đề mà các nhà sử học phải cân nhắc về thời gian Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam chiếm giữ Huế không phải là các vụ tử hình có xảy ra hay không, mà là chúng đã là các hành động bừa bãi hay là kết quả của một sự “thanh trừng” có kế hoạch đối với toàn xã hội – như các chuyên gia chiến tranh chính trị (political warfare specialists) của các chính quyền Mỹ và Sài Gòn. Cũng quan trọng tương đương là câu hỏi cái gì đã gây ra cái chết cho hàng ngàn thường dân Huế trong các trận đánh trong thành phố, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam hay bom và pháo của Mỹ

Các bằng chứng hiện có – không phải từ các nguồn của MTGPDTMN mà là từ các tài liệu chính thức của Mỹ và Sài gòn và từ các quan sát viên độc lập – cho thấy rằng câu chuyện chính thức về một vụ tàn sát bừa bãi những người được coi là không đi theo phía MTGPDTMN là một sự ngụy tạo hoàn toàn. Không chỉ số lượng tử thi được phát hiện ở trong và quanh thành phố Huế đang để ngỏ cho các câu hỏi, mà quan trọng hơn, nguyên nhân của cái chết có vẻ như đã bị dịch chuyển từ chính trận đánh sang chuyện tử hình của MTGPDTMN. Và các tường trình “có thẩm quyền” và chi tiết nhất về các vụ được cho là tử hình được kết nối với nhau bởi chính phủ không đứng vững trước thẩm tra.

Ngày nay, hiểu biết về các kỹ thuật bóp méo và diễn đạt sai mà các nhà tuyên truyền của Sài Gòn và Mỹ thực hành trong khi tạo dựng một chiến dịch chiến tranh chính trị từ thảm kịch của Huế cũng có tầm quan trọng trong kém khi quân Mĩ vẫn còn tham chiến tại Việt Nam. Nó đi vào tận gốc rễ của vấn đề đối mặt với sự thật về cách mạng Việt Nam và các nỗ lực của Mỹ nhằm trấn áp nó bằng vũ lực. Tầm màn sai trái được dựng lên quanh cuộc Tổng tấn công Mậu Thân tại Huế đã và sẽ là một cơ chế phòng vệ khác của chính phủ Mỹ cũng như phần lớn công luận Mỹ để tránh phải đối mặt một cách thành thực với tính chất thực của cuộc đấu tranh ở đó.”

Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema, một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.

Đối với người có học vấn cao về ngôn ngữ Anh ở Việt Nam Cộng Hòa, không ai không biết đến Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ trường phái “phái sinh” người Mỹ. Đối với sinh viên Hà Nội ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không ai dễ dàng quên Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ trường phái “phái sinh” người Mỹ đã đến Hà Nội trong thời gian chiến tranh. Và chính Noam Chomsky đã vì ấn tượng về những con người cộng sản Việt Nam mà lập ra nhóm điều nghiên về cái gọi là “tội ác Việt Cộng” trong cái gọi là “biến cố Tết Mậu Thân”. Trong những công trình của Ông, có đoạn viết sau:

“Thứ Trưởng Không Quân Mỹ Townsend Hoopes viết trong cuốn The Limits of Intervention, trang 141, về quân đội Mỹ và VNCH đã làm gì ở Huế, tàn sát bao nhiêu dân, phá hủy bao nhiêu nhà cửa v…v.. ‘80 phần trăm nhà cửa bị phá hủy thành đống gạch vụn, và dưới những đống gạch vụn đó là 2000 thường dân bị chết (vì bom đạn của Mỹ và VNCH). Ba phần tư dân chúng trở thành vô gia cư và cướp bóc lan tràn, những quân sĩ thuộc quân lực VNCH là những kẻ tệ nhất” (Eighty percent of the buildings had been reduced to rubble, and in the smashed ruins lay 2.000 dead civilians. Three-quarters of the city’s people were rendered homeless and looting was widespread, members of the ARVN being the worst offenders).

Bọn chống cộng hiện nay đang kêu gào về “Tết Mậu Thân” vì bốn lý do:

1- Chúng là bọn sinh sau đẻ muộn không biết gì về Tết Mậu Thân

2- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt dốt tiếng Anh nên không thể đọc-hiểu các công trình nghiên cứu của Noam Chomsky và Porter dù các kết quả nghiên cứu đã ấn hành từ măm 1973

3- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt lầm tưởng rằng giới trẻ ở Việt Nam dốt tiếng Anh như chúng nên chúng định đem vụ “Tết Mậu Thân” ra mà bịp mọi người, đồng thời che đậy tội ác kinh tởm của các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa

4- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt lầm tưởng rằng có thể gây khó khăn cho chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ với cái trò vớ vẩn bù lu bù loa về “Tết Mậu Thân” mà không có đủ ánh đèn pin trí tuệ để hiểu rằng đừng nên động vào nỗi nhục đớn hèn của Mỹ đã muối mặt cố im mồm trong mấy chục năm qua không dám nhắc đén hai chữ “Mậu Thân”, vì đã trót dại hậu thuẫn cho bọn Nguyễn Văn Thiệu vừa tàn ác, vừa làm mất mặt “chủ nhân”.

Để luôn thực hiện phương châm “nói có sách, mách có chứng” vốn là chuẫn mực luôn hiển hiện nơi cung cách nhà trí thức “thứ thiệt”, nhà …nhân sĩ “thứ thiệt”, và người có học vấn cao “thứ thiệt”, người viết bài này xin giới thiệu các nguồn tư liệu sau của các tác giả Mỹ có uy tín và được thế giới kính trọng:

Tiếng Việt:

Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 1968 của Noam Chomsky và Edward S. Herman. Bản dịch của Lê Hồng Phong. Nguồn: http://sachhiem.net/SACHNGOAI/snL/LeHongPhong.php

Vụ “Thảm Sát Tại Huế” Năm 1968 của D. Gareth Porter. Tạp chí Indochina Chronicle, số 33, ngày 24-6-1974. Nguồn: http://web.archive.org/web/20060517183715re_/geocities.com/atoiz/porter.html

Tiếng Anh:

– Counter-Revolutionary Violence: Bloodbaths in Fact and Propaganda của Noam Chomsky và Edward S. Herman. Nhà Xuất Bản Warner Modular Publications, 1973. Nguồn: http://www.chomsky.info/books/counter-revolutionary-violence.htm

The 1968 “Hue Massacre” của D. Gareth Porter. Indochina Chronicle, #33, June 24, 1974. Nguồn: http://www.chss.montclair.edu/english/furr/porterhue1.html

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế