Category Archives: Sự thật lịch sử

Việt Nam Cộng Hòa – Đảng Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-9-2017

Nhiều “nhà sử học” Việt Nam hiện nay thiếu trầm trọng các kiến thức về Sử Việt Nam Cận Đại nói chung do:

a) Các sử liệu về Việt Nam Cộng Hòa tại Việt Nam chưa hề được công bố công khai bằng phương tiện “imaging” (ảnh chụp vi phim, ảnh scan các tờ báo của Việt Nam Cộng Hòa, các công văn của Việt Nam Cộng Hòa, các công hàm của/với Việt Nam Cộng Hòa, các bài báo nước ngoài thời Việt Nam Cộng Hòa viết về Việt Nam Cộng Hòa, v.v., mà Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam có thể đang sở hữu bí mật ở tàng thư quốc gia, chưa đến hoặc không bao giờ đến niên hạn công bố), cũng như chưa hề có một nghiên cứu Sử nào về Việt Nam Cộng Hòa từng được xuất bản tại Việt Nam sau khi đã qua đủ trọn hết các bước luôn phải có của biên soạn – in xuất bản – bút chiến luận – khẩu chiến luận – đúc kết – bổ sung cập nhật những đồng thuận từ đúc kết vào bản thảo – tái bản lần thứ nhất; và

b) Các “nhà sử học” Việt Nam thuộc phe “xét lại” hoàn toàn không có trình độ ngoại ngữ – đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Pháp – để có thể tạm thời nghiên cứu trong 50 năm từ tiền túi cá nhân những kho tài liệu báo chí khổng lồ về Việt Nam ở Âu Mỹ dưới dạng “imaging” hoặc từ nguồn chính thống hàn lâm có thể có trên internet, từ đó khảo cứu thêm, hình thành các ấn phẩm tham khảo, chờ các “nhà sử học” tương lai (#2070) đến thời điểm Hoa Kỳ và Pháp đến niên hạn công bố công khai giải mã các công văn mật/công hàm/tài liệu của các đời chính phủ của họ đối với Việt Nam Cộng Hòa trong đối phó với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sẽ có cơ hội so sánh, thẩm tra, phản biện, bổ sung, hình thành các ấn phẩm nghiên cứu từ tiền túi của cá nhân, giúp các “nhà sử học” hậu tương lai (#2150 Thế Kỷ XXII) hình thành công trình Việt Sử Tân Biên chính thức của quốc gia được in ấn từ tiền thuế của dân.

Đối với nội dung “đa đảng” và “đảng phái chính trị” ở Việt Nam Cộng Hòa, tức là hai chi tiết hoàn toàn không thể tách rời mỗi khi bọn cáo hải ngoại và bọn ngu quốc nội hò hét đòi “đa đảng đa nguyên” ở Việt Nam, tôi đã từng khẳng định trên nhiều blog khác và blog này rằng

VNCH1VNCH2

cũng như qua hai bằng chứng hùng hồn rằng:

1) Trước khi tôi nêu sử liệu trên thì chưa từng có bất kỳ ai ở hải ngoại hay quốc nội mở miệng nói hay ra tay viết bất kỳ điều gì về “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu, xem nó thành lập năm nào, cương lĩnh dài mấy trang gồm những gì, văn phòng nó ở đâu, huy hiệu hay đảng kỳ ra sao; và nếu Việt Nam Cộng Hòa “đa đảng” thì mấy cái đảng kia tên gì, danh sách lãnh đạo của chúng qua các thời kỳ, cương lĩnh của chúng khác với cái của “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu là gì, đã làm được những gì, có quan hệ thế nào về đối ngoại với các nghị viện hay nghị sĩ các nước “đồng minh”, và các văn phòng ở đâu tại Thủ Đô Sài Gòn, huy hiệu/biểu tượng/đảng kỳ ra sao. Chưa kể là có các hình ảnh làm tư liệu không, vì lẽ nào hoạt động chính trị, họp hành giơ nắm đấm hùng hùng hổ hổ chống Cộng/chống Thiệu/chống Mỹ/chống-tuốt-luốt, biểu tình khí thế tuyệt thực no say mập ú thế mà báo chí Sài Gòn và báo chí “đồng minh” Mỹ/Hàn/Thái/Úc/Phi/Tân-Tây-Lan không đưa tin gì, không đăng ảnh gì, thậm chí không “đảng viên” nào đem theo bất kỳ tấm hình nào trên đường tháo chạy khỏi Việt Nam?

2) Sau khi tôi nêu sử liệu trên thì phe “đa đảng đa nguyên” hải ngoại/quốc nội – trừ bọn sinh sau đẻ muộn – đột nhiên tiến hành hai việc gồm (a) lập tức bớt nói sôi nổi về “đa đảng đa nguyên” và (b) ra tay nhằm “cả vú lấp miệng em” bằng thông tin thảy lên trang tham khảo miến phí Wikipedia để vừa tự đẻ ra cái thế “có thật” của mình vừa lừa bịp người chẳng hiểu biết gì về “đa nguyên đa đảng” và lịch sử “đảng chính trị” Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, cái vú ấy không rõ là vú gì, vì thông tin trên Wikipedia ngày 16-7-2017 võn vẹn có mấy câu đơn giản như sau (thậm chí có chi tiết trang này được sửa đổi lần cuối ngày 11-4-2017):

VHCH3

Nếu các thông tin trên vẫn được bọn chống Cộng nằng nặc bảo là thứ thiệt thì chúng phải trả lời sao đây khi cái “đảng” ấy (a) tồn tại có hai năm rồi biến mất vì “mặt trận” không bao giờ là “đảng chính trị”, (b) ra đời để phục vụ bầu cử “độc diễn” chứ không vì cương lĩnh “chính trị” gì cả, và (c) cũng “độc diễn” một mình một chợ trên hý trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa chứ làm gì có các “đảng” nào khác; cũng như trả lời sao đây khi (d) người đầu tiên và duy nhất biết về Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu tức tác giả bài viết này sẽ nhân đó mà tái khẳng định rằng Việt Nam Cộng Hòa không có bất kỳ đảng chính trị nào, không bao giờ đa đảng đa nguyên, mà chỉ là một thể chế chính trị độc tài quân phiệt, nên đừng hòng có bất kỳ ai ở Việt Nam Cộng Hòa biết bất kỳ cái gì về đa đảng đa nguyên để mà hăng say nói về nó và khuyên bảo Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam?

Chưa kể, sự tồi tàn của thông tin về một “chính đảng” còn bộc lộ ở danh sách các “chóp bu” của “Đảng” gồm

VNCH4

mà chỉ cần nhấp vào các liên kết từ những cái tên lạ hoắc như Nguyễn Văn Hướng, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Văn Kiểu thì sẽ thấy hiện ra rằng chả có thông tin gì về các liên kết bày-ra-cho-có đó cả – nghĩa là toàn tên xạo:

VNCH5

riêng tên Nguyễn Văn Hiếu thì cho liên kết về một viên tướng vô danh tiểu tốt nào đó, trong khi cái tên Nguyễn Cao Kỳ thì thông tin cực kỳ ấu trỉ đến độ đáng thương hại vì Nguyễn Cao Kỳ không bao giờ gia nhập “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu cả, do Kỳ chống lại Thiệu trong khi Thiệu lập “đảng” – nếu theo ý của tác giả thông tin trên Wikipedia – là để phục vụ “độc diễn” ra ứng cử tổng thống đè bẹp Kỳ.

Chưa kể, hóa ra trong lúc lúng túng soạn-cho-bằng-được-thông-tin-cho-có thì kẻ  soạn đã quên phéng ghi luôn trong mục “tham khảo” có đường link đến bài “6 Lý Do Việt Nam Không Cần Đa Nguyên Đa Đảng” của…Hoàng Hữu Phước để chứng minh đã lấy ba chi tiết trong bài ấy gồm tên của “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu mà từ trước đến lúc có bài ấy chả ai trên thế gian này biết, hình dạng đảng kỳ của cái “đảng” ấy, và…tên của “Đảng Trưởng”:

VNCH6

Nhân có tình tiết trên, tôi xin đăng lại dưới đây bài viết có nội dung “6 lý do Việt Nam không cần đa nguyên đa đảng” ấy để bạn đọc tham khảo, nhằm khẳng định không bất kỳ một người Việt nào trên thế gian này có quyền đòi hay gợi ý Viêt Nam nên đa nguyên đa đảng vì Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ đa đảng đa nguyên, thậm chí còn tệ hại hơn cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có hơn hai đảng chính trị trong khi Việt Nam Cộng Hòa không có bất kỳ “đảng chính trị” nào mà chỉ là các đảng cướp, đảng buôn lậu Tam Giác Vàng, đảng Nguyễn Văn Thiệu, đảng Nguyễn Cao Kỳ, đảng Dương Văn Minh, và hằng hà sa số “đảng” mà trí tưởng tượng có thể rặn đẻ ra được.

Luận Về “Đa Đảng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-02-2011

(đăng lần đầu ngày 13/02/2011 trên Emotino.com tại http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang)

VNCH7

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”  của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm “chính trị” bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng  mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”,  trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8  giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc  mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

 

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Những lập luận kỳ quái của người tự xưng là TS Trần Minh Hoàng  2008

[2]  Lời tựa của Lương Khải Siêu trong tác phẩm Việt Nam Vong Quốc Sử của Phan Bội Châu (ấn bản 1906): Gần đây, ta gặp một người Việt Nam vong mệnh (ý nói đến Phan Bội Châu), thường khi nói chuyện với ta, ông hay giàn giụa nước mắt!…Ta đọc sách này (Việt Nam vong quốc sử) chẳng những đã thương mà lại còn sợ nữa!

[3]  Tôi Và Lê Công Định

[4]  Tôi Và Cu Huy Ha Vu. http://www.emotino.com/m.php?p=18920

Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Tứ Đại Ngu  2012

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

Tuyệt Thực  02-7-2013

Advertisements

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn

Bài Viết Riêng Cho Các Cháu Sinh Viên & Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-9-2017

Wordpress Triều Tiên

A- Sự Thật Khốn Nạn

Triều Tiên là tên gọi Hán Việt cho đất nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Châu Sơn mà Âu Mỹ gọi tắt trong tiếng Anh là North Korea còn tiếng Việt nương theo đó gọi là Bắc Triều Tiên hoặc Bắc Hàn tùy theo sự lựa chọn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Hòa. Bắc Triều Tiên còn được gọi tắt là Triều Tiên.

1- Sự Thật Khá Khốn Nạn:

Tác giả bài viết này đã nhận ra sức mạnh thực chất kinh khủng của Triều Tiên nên trong Thư Gởi Tổng Thống Saddam Hussein đã vấn kế hình thành Khối Tân Trục Iran-Iraq-Triều Tiên để tạo thế chân vạc khống chế hiệu quả sự manh động của Hoa Kỳ nhờ đó giúp (a) duy trì hòa bình thế giới và (b) giúp nước Mỹ tránh họa suy vong vốn cực kỳ bất lợi cho nhân loại và Việt Nam với sự trỗi dậy của bọn Trung Quốc. Tuy nhiên, báo chí Âu Mỹ và tỷ tỷ con người trên thế giới vẫn hoặc mông muội hoặc giả vờ phủ nhận để tiếp tục vận dụng năng khiếu sáng tạo đẻ ra toàn những thông tin láo xạo về Triều Tiên, khiến một bộ phận không bao giờ nhỏ con cháu Tiên Rồng bị rối trí bởi sự tiếp tay tình nguyện của báo chí chính thống nội địa thiếu ánh sáng trí tuệ luôn mang tâm lý nô dịch tôn thờ thông tin Âu Mỹ giúp truyền lan nhanh hơn rộng hơn các láo xạo ấy về Triều Tiên.

2- Sự Thật Quá Khốn Nạn:

Fake News tức Tin Láo Xạo là thuật ngữ do Tổng Thống Mỹ Donald Trump chế ra để làm hệ thống truyền thông chính thống Mỹ từ nay ô danh vạn đại do đã rời xa các hào quang trung thực trung lập để tập trung công kích Donald Trump từ ngay trong thời gian tranh cử tổng thống cũng như tập trung phủ nhận bất kỳ thành tựu nào hoặc kế sách nào của Donald Trump sau khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về thông tin giật tít “Bắc Việt” tấn công chiến hạm Maddox của Mỹ tại Vịnh Bắc Bộ “buộc” Mỹ phải ào ạt đổ bộ vào … Đà Nẵng để xây dựng cái gọi là Nam Việt tức Việt Nam Cộng Hòa – thay vì lẽ ra phải là Hải Phòng nếu để trừng trị “Bắc Việt” cho vụ Maddox.

Cũng vậy, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về sự kiên trì đẻ ra bao thông tin giật tít về sự quái qở quái đản quái dị quái vật của Triều Tiên.

Tờ Telegraph lừng danh thế giới của Anh Quốc mới tháng trước còn đưa tin rằng binh sĩ đói khát Bắc Hàn đã được lịnh hãy đi ăn trộm bắp ngô của dân vì chiến tranh đã rất gần kề:

Wordpress Triều Tiên (2)

cộng với sự hòa âm điền dã của các bản tin tiếng Việt bất kể của báo chí chính thống xuẩn ngu khạo khờ con nít không được Đảng Cộng Sản dạy dỗ nên người, hoặc của tờ rơi xó chợ đầu đường láu cá cáo già muốn bôi nhọ bôi xấu “cộng sản” tức “phe” của Cộng Sản Việt Nam, dù Triều Tiên chẳng theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, chủ nghĩa Mác-xít Mao-Ít hay chủ nghĩa…Mác-xít Kim-Nhật-Thành-nhít gì cả:

Wordpress Triều Tiên (3)

Chưa kể còn có thông tin tràn ngập về sự tàn bạo của chế độ Triều Tiên, sự điên dại của lãnh đạo Triều Tiên, sự đói khát của dân chúng Triều Tiên,

Wordpress Triều Tiên (4)

Vẫn chưa đủ, báo chí Âu Mỹ còn nhạo báng rằng quân đội Triều Tiên mỗi khi tổ chức diễu binh hoành tráng chỉ xài toàn mô hình vũ khí bằng đồ chơi, bằng nhựa, bằng bong bóng bơm hơi hay bằng mấy tấm tôn nhẹ hều uốn tròn làm giống như “hỏa tiển” để hù thế giới:

Wordpress Triều Tiên (5)

đến độ nhiều độc giả tại Việt Nam bị nhiễm độc thông tin nên mới thi nhau tự động có ngay những lời bình mà không biết bản thân đã ngây thơ ra sao và sa chân vào bẫy giặc như thế nào, chẳng hạn như:

Wordpress Triều Tiên (6)

3- Di Hại Thật Sự Từ Sự Thật Láo Xạo:

Trước khi nêu cụ thể thế nào là thông tin láo xạo trong Phần B dưới đây, nhất thiết phải giải thích vì sao gọi là ngây thơ sa chân vào bẫy giặc:

Việt Nam cộng sản giải phóng Miền Nam đánh tan quân đội Mỹ thành công và tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa thành công, Việt Nam cộng sản đánh tan Trung Quốc thành công, và Việt Nam cộng sản tiêu diệt Khờ-Me Đỏ thành công. Mỹ lập tức cấm vận kinh tế bủa vây phong tỏa Việt Nam. Hậu quả là Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế ba-con-số, sản xuất đình trệ vì bị cấm mua nguyên liệu cùng phụ tùng thay thế, lương thực thiếu thốn vì không được phép mua phân bón, thuốc men thiếu thốn do bị cấm nhập khẩu khiến bao người dân và trẻ con phải tử vong, phúc lợi xã hội gần bằng không. Kết luận của bọn truyền thông Âu Mỹ mất dạy dương dương tự đắc là (a) rõ ràng chủ nghĩa cộng sản chỉ tổ làm đất nước lầm than bần cùng hóa dân lành, (b) rõ ràng lãnh đạo cộng sản bất tài vô dụng vì không bao giờ làm kinh tế ra hồn bằng cái mớ kinh tế-chính trị Mác-Lê hỗn độn vô dụng, (c) rõ ràng lãnh đạo cộng sản lòi cái cốt kinh niên chuyên xâm lược nước khác, và (d) rõ ràng “phe” xã hội chủ nghĩa vô đạo đức chuyên đánh nhau loạn xị không bao giờ đại đoàn kết hướng thượng như phe tư bản. Và người nghe bị lùng bùng lỗ tai, mất luôn lý trí chẳng còn ai có khả năng nhận ra kẻ giết hại người dân và trẻ nít Việt Nam chính là bọn Mỹ bằng vũ khí cấm vận của chúng ngăn chặn sự sống còn của cả một dân tộc sau khi vũ khí súng-đạn-bom thất bại hoàn toàn.

4- Phản Đòn Từ Sự Thật Láo Xạo:

Gậy ông đập lưng ông. Sự đồng thuận của Mỹ với Trung Quốc và Campuchea xâm lược Việt Nam từ hai hướng Bắc và Tây Nam cũng như cấm vận kinh tế và tâm lý chiến để nhiều triệu người Việt Nam vượt biên vượt biển hầu khiến Việt Nam vừa mất nguồn nhân lực sản xuất lương thực khu vực phía Nam, vừa mất cả danh thơm vì “giải phóng” kiểu gì mà người được giải phóng phải bỏ chạy chối từ ơn huệ “giải phóng” ấy, rốt cuộc đã đẩy Mỹ vào tiến trình tự hủy vì phải cưu mang hàng triệu người nhập cư mà nhiều thập kỷ qua chứng minh không bất kỳ ai trong họ hoặc hậu duệ của họ đã trở thành nhân tài làm nước Mỹ thịnh cường mà chỉ lo tụ năm tụ ba mãi miết xuống đường hét la và chế tạo tin tức nhảm nhí với ước mong làm sập Việt Nam cộng sản mà súng-đạn-bom-quân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Chưa kể, chẳng bao giờ có chuyện hàng trăm điệp viên thượng thặng của cộng sản lại không luôn có mặt trên tất cả những con tàu vượt biên thành công tức những chuyến vượt biển mà an ninh cộng sản Việt Nam làm ngơ không bắt. Đây là lý do nhất cử nhất động của các nhóm chống cộng hải ngoại đều được mật báo chi tiết chính xác về Việt Nam và an ninh cộng sản cứ thoải mái nằm võng chốt chờ đúng ngày đúng giờ đúng phút đúng giây hốt sạch các đoàn Kinh Kha vác vũ khí và tiền giả mò về “phục quốc”.

Gậy ông đập lưng ông. Sự láo xạo về Triều Tiên nhiều chục năm qua đã khiến Âu Mỹ tuần trước đã nói ngọng đầy run sợ thực sự trước một Triều Tiên tự nhiên đột nhiên hùng mạnh thực sự.

Một Nam Hàn cực kỳ tàn bạo dưới sự lãnh đạo độc tài của Park Chung Hee (Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tổng Thống Phác-Chánh-Hy) như nêu trong bài viết Tứ Trụ Bắc Việt xấn sổ hừng hực hùng hục ùa vào Việt Nam Cộng Hòa xa xôi để tiêu diệt cộng sản, nhằm giúp Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng thực hiện đại cuộc Bắc Tiến tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem đó như cuộc tập dượt cho những kế hoạch hành động bạo tàn tương tự tiêu diệt Triều Tiên sát nách. Các cuộc thảm sát dân Việt do binh sĩ Nam Hàn thực hiện là minh chứng rõ nét nhất về sự khát máu của quân đội Nam Hàn trước đó đã từng tàn sát người dân Nam Hàn nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự Nam Hàn Phác-Chánh-Hy do Mỹ hậu thuẫn. Y hệt như kẻ ra lịnh tàn sát người dân nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự “Nam Việt” do Mỹ hậu thuẫn, sẽ không bao giờ có chuyện Nam Việt từ bỏ đại cuộc giết sạch dân chúng “Bắc Việt” thậm chí còn cầu mong Mỹ sẽ ném bom nguyên tử để xóa sạch một lần và mãi mãi “Bắc Việt”. Bắc Hàn chưa nếm mùi bom nguyên tử chẳng qua Mỹ lo sợ phóng xạ tràn lên Trung Quốc kích hoạt sự trả đủa biến Hoa Kỳ thành hỏa ngục và phóng xạ tràn xuống tiêu diệt luôn cả Nam Hàn tiền đồn tử thủ của Hoa Kỳ làm trống hoác tuyến phòng thủ phía Đông.

Thế thì cái việc đơn giản mà không những Bắc Hàn và “Bắc Việt” cũng như bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ nhà lãnh đạo nào của bất kỳ quốc gia nào bị lâm vào hoàn cảnh tương tự luôn là phải tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn. Ai phản bác điều đơn giản mang tính chân lý này chỉ có thể là kẻ ngu khờ. Nếu các bạn lãnh đạo một quốc gia phải đối mặt với bọn hiếu chiến thề nguyền tiêu diệt bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, với sự giúp sức của siêu cường cũng đang quyết tâm xóa sổ bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, phải chăng bạn sẽ nhanh chóng đầu hàng ngay, dâng ngay thủ cấp của bạn, dâng nước cho kẻ thù?

Còn nếu bạn tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn để tự vệ, để cứu quốc, để cứu sống cả dân tộc, thì xin kính mời bạn thành tâm học hỏi từ Triều Tiên và các lãnh đạo của Triều Tiên.

B- Che Đậy

Triều Tiên là đất nước bí mật vì luôn có sự che đậy từ hai phía.

1) Triều Tiên đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên:

Che đậy và tung hỏa mù là binh pháp hữu hiệu từ ngàn xưa để tự vệ của tất cả các “con” từ con thú đến con người.

Hoa Kỳ đã che đậy và tung hỏa mù và áp dụng cơ chế kỹ luật sắt nhằm bảo vệ nghiêm nhặt tất cả các căn cứ quân sự và tình báo ngay trên đất Mỹ.

Việt Nam Cộng Hòa luôn gắn bảng cấm chụp hình và “Vượt Qua Binh Sĩ Sẽ Nổ Súng” trước các vị trí đóng quân, ngay cả phía đối diện với trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (tức trường Lê Hồng Phong, đường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay).

Trong thế bị Mỹ và Nam Hàn chực chờ tiêu diệt, Triều Tiên đã luôn cấm du khách tự do đi lại, tự do chụp hình, cũng như không mặn mà khoe sức mạnh kinh-tài của đất nước, vì không muốn các thông tin chính xác về vị trí các cơ quan đầu não chính trị-kinh-tài bị tiết lộ, trở thành mục tiêu tấn công bằng hỏa tiễn của kẻ thù.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chiến thắng tuyệt toàn (tuyệt đối và toàn diện) trước Mỹ.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Triều Tiên đã tồn tại cho đến ngày nay một cách không sao tưởng tượng nổi – nếu dựa trên tỷ tỷ thông tin hết sức đáng tin cậy của truyền thông Âu Mỹ nhiều thập niên qua.

2) Âu Mỹ đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên.

Trước sự thật là đã hoàn toàn thất bại về tình báo, gián điệp, và phản gián chống Triều Tiên;

Trước sự thật là Triều Tiên đã thành công trong giữ bí mật tuyệt đối;

Để che đậy sự bất lực của mình, Âu Mỹ đã nương theo đó loan truyền về sự tàn bạo khát máu của giới cầm quyền Triều Tiên, sự khiếp sợ và đói khổ của người dân Triều Tiên, sự chà đạp nhân quyền và tự do ngôn luận ở Triều Tiên, như những lý do hùng hồn chứng minh vì sao không thể có thông tin và hình ảnh cụ thể của Triều Tiên lọt ra ngoài để Âu Mỹ có thể chạm vào Triều Tiên.

Âu Mỹ chỉ có thể tung hê những phát biểu của một kẻ bôn đào nào đó từ Triều Tiên tố cáo chế độ Triều Tiên, xem đó như những lời đáng tin cậy nhất từ nguồn tin đáng tin cậy nhất của người dũng cảm nhất trong toàn bộ dân tộc Triều Tiên. Song, ngay cả tác giả bài viết này khi đọc một tải đăng trên Tweeter về phát biểu của một kẻ bôn đào từ Triều Tiên, đã có thể “tweet” ứng khẩu ngay bằng tiếng Anh trong phạm vi võn vẹn 140 ký tự tại @HoangHuuPhuoc rằng tất cả bọn bôn đào “chính trị” hiện nay trên toàn thế giới đều thực chất là hoặc đi kiếm ăn ngoài nước vì đói, hoặc trốn vì đã là tội phạm ở quê hương, hoặc đào tẩu vì là kẻ phản quốc hèn hạ; đồng thời nêu tên các kẻ bôn đào mà Mỹ đang quyết tâm phải truy nã bắt về trị tội cho bằng được như chuyên gia Edward Snowden của CIA là công dân Mỹ Quốc và chủ nhân Julian Assange của Wikileak là công dân Áo Quốc; huống gì các bậc tài trí vĩ đại của thiên hạ còn hùng biện đến đâu để dễ dàng vạch mặt “tiêu chuẩn kép” hèn hạ của bọn truyền thông Âu Mỹ.

C- Tự Thú Bất Ngờ

1) Triều Tiên Tự Thú:

Nhận thức được những gớm ghê của công nghệ của thời đại thông tin trong thám sát thám báo không gian, Triều Tiên biết rằng toàn bộ lãnh thổ của mình đã nằm gọn trong tầm nhìn chi tiết, rõ nét, thường xuyên của kẻ thù. Cũng vì vậy, một mặt Triều Tiên phát triển công nghệ cao về thông tin để mạnh mẽ bước chân vào mặt  trận chiến tranh công nghệ thông tin toàn cầu, một mặt nới lỏng các nội dung trước đây tuyệt đối cấm đoán, nhờ đó nhân loại bắt đầu có những hình ảnh về những nữ sĩ quan văn công sắc nước hương trời vác đàn vilon và cello đi lưu diễn hải ngoại cho nước ngoài biết thế nào là lễ độ với văn hóa Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (7)

Đặc biệt, các hình ảnh công khai của truyền thông Triều Tiên cũng như qua các ảnh chụp của các du khách Âu Mỹ cho thấy một Triều Tiên với thủ đô “Bình Nhưỡng” mà National Geographic phải tán thưởng là tuyệt đẹp, mà với sự công tâm thì người Việt Nam có thể phải thừa nhận trong tủi hổ tủi thân tủi nhục rằng không bất kỳ một thành phố lớn nào của Việt Nam cường thịnh no đủ có thể sánh bằng:

Wordpress Triều Tiên (8)Wordpress Triều Tiên (9)Wordpress Triều Tiên (10)Wordpress Triều Tiên (11)Wordpress Triều Tiên (18)

Chưa kể, tòa nhà Ryugyong Hotel 105 tầng cao sừng sững như một Kim Tự Tháp do một tập đoàn Ai Câp thiết kế – dù việc xây dựng nhiều năm vẫn chưa hoàn tất do tác động của cấm vận kinh tế – cũng đủ cho thấy sức mạnh kinh tế của Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (12)Wordpress Triều Tiên (13)

Phải chăng Triều Tiên nghèo đói lạc hậu chuyên môn diễu binh bằng hỏa tiễn cao su bong bóng nên đã xây một thành phố với những tòa nhà vĩ đại bằng cách lắp ghép các tấm tôn chất lượng mỏng dính thua sản phẩm của Tôn Hoa Sen và bằng những tấm bìa các-tông sơn bằng loại phẩm màu đặc biệt đến nỗi mưa không làm phai màu và gió bão cuồng phong không thể thổi bay tứ tán xuống thủ đô Seoul của Nam Hàn rồi tan thành bột giấy lọt xuống cống trôi ra Biển Hoa Đông?

Còn việc thiếu lương thực do đất nông nghiệp ít, mùa màng thất bát, cấm vận chặn ngăn, không thiếu mới là chuyện lạ. Vấn đề là thiếu thốn nhưng bản thân chính phủ Triều Tiên đã vận dụng khoa học vào sản xuất lương thực thay thế như thế nào, thành công ra sao. Tương tự, cường quốc nguyên tử Ấn Độ vì danh dự quốc gia đã tuyên bố không bao giờ nhận cứu trợ nhân đạo bất kỳ, và chỉ có thảm họa động đất kinh hoàng Latur ngày 30-9-1993 tàn phá tiểu bang Maharashtra giết chết 10.000 dân cư và làm bị thương 30.000 người (theo số liệu của cơ quan chức năng, trong khi số liệu không chính thức thì chỉ riêng số người chết đã là 30.000) mới làm ý chí ngạo nghễ đó sụp đổ dù Nhà Nước vẫn dựng nên rào cản rằng Ấn Độ nay muốn tạo điều kiện cho nhà từ thiện Âu Mỹ được thỏa lòng mong đợi nên xem xét chấp nhận cứu trợ nhưng với điều kiện tiên quyết rằng hàng cứu trợ thiên tai phải là hoặc mới nguyên, không nhận quần áo đã qua sử dụng, hoặc bằng hiện kim, theo đúng danh mục hàng hóa cần đến do Chính Phủ Ấn Độ chính thức phát hành.

Không phải tự nhiên trong tất cả các phim bộ truyền hình Nam Hàn (tức Hàn Quốc) chiếu ở Việt Nam hiện nay luôn có cảnh các món ăn đa số là rau, còn thịt luôn dùng làm quà tặng quý, cũng như mỗi khi thấy có thịt là mọi nhân vật trong phim đều phải diễn sao cho bật sự suýt xoa. Bắc Hàn và Nam Hàn đều chịu chung số phận những quốc gia nhiều đồi núi, ít đất canh tác lương thực, lại lắm thiên tai. Chương Trình Lương Thực Liên Hợp Quốc WFP đã phải tích cực tập trung tăng cường viện trợ lương thực cho Nam Hàn (tức Hàn Quốc) trong 20 năm liên tục (từ 1964 đến 1984) và kể từ năm 2000 Nam Hàn mới tự túc được lương thực, giảm tỷ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng ở trẻ em, không những vậy còn bắt đầu đóng góp cho WFP cho đến nay được 140 triệu USD. Nếu Bắc Hàn (tức Triều Tiên) thiếu thốn lương thực nan giải hơn do cấm vận của Mỹ và Liên Hợp Quốc và chỉ dựa vào viện trợ lương thực vừa phải của một hai “nước anh em” thì đâu phải là chuyện lạ mà lại sử dụng việc “thiếu lương thực” để bôi nhọ chế độ Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên một cách u mê kém hiểu biết đến dường ấy?

Tất cả những người có danh dự, có lòng tự trọng, và có biết tôn trọng danh dự, luôn kính trọng tư cách giữ gìn quốc thể của Ấn Độ và tư thế tự lực sinh tồn của Triều Tiên trước bủa vây cấm vận của kẻ thù.

2) Thế Giới Tự Thú:

Sau khi tuyên bố chỉ có Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh Quốc và Pháp Quốc là những quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử NWS và xem phần còn lại của thế giới là các quốc gia không có vũ khí nguyên tử NNWS trong Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử NPT năm 1970, cơ quan quốc tế có liên quan đã ngu xuẩn không nhìn nhận Ấn Độ, Pakistan, và Israel cũng là NWS, đồng thời từ chối yêu cầu của Triều Tiên đòi phải ghi Triều Tiên vào danh sách NWS. Sự ngu xuẩn ấy đã khiến Triều Tiên rút tên khỏi Hiệp Ước, và cùng Ấn Độ, Pakistan, và Israel mặc sức theo đuổi các chương trình quốc gia để chạy đua vũ trang chế tạo vũ khí nguyên tử.

Khi cười cợt nhạo báng sự điêu linh của Triều Tiên từ chuỗi các lịnh cấm vận, Mỹ và Liên Hợp Quốc đã lâm vào thế kẹt do Triều Tiên chưa từng được họ công nhận là quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử, nên do vậy các lịnh cấm vận đều bị Triều Tiên có quyền nguyền rủa, liệt Mỹ và Liên Hợp Quốc vào vị thế những kẻ làm càn, vô duyên, vô lý, bá đạo, khiến Mỹ và Liên Hợp Quốc chưa bao giờ có danh chính nghĩa trong “xử lý” Triều Tiên “tội” sở hữu vũ khí nguyên tử. Chưa kể, Triều Tiên đã rút ra khỏi Hiệp Ước nên không cơ quan quốc tế nào trên nguyên tắc có quyền sử dụng quyền trừng phạt “thành viên” áp đặt lên Triều Tiên. Đó là lý do dù Triều Tiên đã tuyên bố hủy bỏ hiệp ước, Hiệp Ước vẫn đôi co tranh cãi rằng Triều Tiên đã vi phạm…quy định về thời gian nộp đơn xin rút tên, và do đó mặc nhiên Triều Tiên vẫn là “thành viên” mặc cho mấy chục năm qua chẳng đi họp bao giờ.

Khi tần suất thử bom nguyên tử của Triều Tiên dày hơn, thường xuyên hơn, và khi thấy các tầm bắn của các hỏa tiển Triều Tiên ngày càng kinh khiếp hơn, như Nodong có bán kính đe dọa toàn diện tích Nhật Bản và các đảo của Mỹ; Musudon quét trùm 2/3 diện tích Nga; KN-14 ôm gọn toàn lãnh thổ Canada, 50% diện tích nội địa Hoa Kỳ, toàn bộ Châu Âu, toàn bộ Châu Đại Dương, và toàn bộ Đông Nam Á; và KN-08 bao trùm toàn bộ Hoa Kỳ và toàn bộ Mexico cùng các châu nằm trong bán kính tương tự, Mỹ và Châu Âu mới buộc phải thú nhận rằng Triều Tiên là một cường quốc nguyên tử.

Báo Politico còn thừa nhận rằng Triều Tiên là một trong những mục tiêu tình báo bấy lâu nay Âu Mỹ hoàn toàn không thể xâm nhập được, trong khi các cơ quan an ninh tình báo Mỹ lại bó tay trước các tin tặc tài ba mà họ cáo buộc là các cuộc tấn công xuất phát từ Nga và Triều Tiên:

Wordpress Triều Tiên (14)

Còn Mỹ tự nhiên lần đầu tiên tự đặt mình ở thế chiếu dưới khi Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley vừa qua đã phải tuyên bố tại Hội Đồng Bảo An ở New York rằng “Đã đủ rồi đấy. Chiến tranh không bao giờ là thứ Hoa Kỳ muốn có. Song sự nhẫn nhục của chúng tôi không phải là không có giới hạn”. Khi mà Mỹ phải “nhẫn nhục” chịu đựng thì rõ là tư thế của Mỹ đã không còn khí thế ngang tàng như bấy lâu nay.

Khi Mỹ tuyên bố lắp đặt các hệ thống tên lửa đánh chặn THAAD ở Hàn Quốc còn Nhật hùng hổ triển khai các hệ thống PAC-3 hùng mạnh sẵn sàng bắn hạ tất cả các hỏa tiển Triều Tiên không để chúng rơi xuống Hàn, Nhật hay đảo Guam của Mỹ, Triều Tiên lập tức khai hỏa bắn hỏa tiển bay băng ngang lãnh thổ Nhật Bản và rơi xuống biển sau hành trình 1.700 dặm sau những 9 phút chứ không phải 9 giây:

Wordpress Triều Tiên (15)

mà cả THAAD và PAC-3 trở nên vô dụng hoàn toàn thất bại không thể phát hiện bắn hạ ngăn chặn dù chỉ một hỏa tiển tấn công của Triều Tiên suốt quãng đường gần 2.000 dặm, nói chi đến lúc Triều Tiên khai hỏa bắn cấp tập hàng chục hỏa tiển túa ra khắp nơi đánh cùng lúc vào các mục tiêu ở Mỹ và Châu Âu!

Để cứu gỡ thể diện, Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley tuyên bố Triều Tiên đang lạy lục xin xỏ – với động từ dành cho kẻ ăn mày “beg” – chiến tranh (“begging for war”) ra vẻ như Triều Tiên là kẻ ăn mày thèm khát chiến tranh còn Mỹ sẽ xem xét bố thí cho một cuộc chiến tranh. Truyền thông Việt Nam để ghi điểm với Mỹ đã nhanh nhảu dịch rồi giúp Mỹ loan tin với từ ngữ miệt thị bỡn cợt Triều Tiên rằng:

Wordpress Triều Tiên (16)

Tất nhiên, giống với tất cả các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới thực sự có uy lực biết giữ gìn quốc thể – trong đó hoàn toàn thiếu vắng truyền thông Việt Nam – truyền thông Triều Tiên đã dõng dạc tuyên bố: “Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley là một con đĩ chính trị chỉ biết xum xoe tốc váy…hãy biết giữ cái mồm kẽo…” (North Korea on Friday called U.S. Ambassador to the United Nations Nikki Haley a “political prostitute” and derided her as “crazy swishing her skirt” after Haley said the rogue regime was “begging for war”…).

Tất nhiên, toàn hệ thống truyền thông chính thống Việt Nam không hề phổ biến khẩu khí đốp chát tuyệt hảo trên cơ này của truyền thông Triều Tiên.

Trong khi đó, Thủ Tướng Đức Angela Merkel xun xoe tuyên bố sẵn sàng đứng ra giúp đàm phán với Triều Tiên ngay lập tức nếu được mời tham gia (‘I would say yes immediately if we were asked to join talks.’)

Báo The Guardian của Anh Quốc đột nhiên trỡ giọng lễ độ, có bài ghi rằng nền kinh tế Triều Tiên tăng trưởng 3,9% năm 2016 với tốc độ nhanh nhất trong 17 năm qua, rằng ông Kim Jong-un làm gì là để chiến thắng chứ không chấp nhận huề, rằng nếu bị dồn vào chân tường ông sẽ y như Nhật Hoàng tấn công luôn Trân Châu Cảng, rằng sở dĩ phải sở hữu vũ khí hạt nhân vì ông ấy phải đối mặt với sự xâm lược của Mỹ do ý định không đổi của Mỹ là thay đổi chế độ Triều Tiên cũng như ông không muốn chịu chung số phận của Saddam Hussein là người đã vì nghe lời Mỹ hủy các vũ khí giết người hàng loạt mà sau đó bị Mỹ sát hại, và rằng ông Kim chỉ dữ dằn hiếu chiến chứ không có điên khùng điên loạn điên rồ gì sất.

Không hề thua kém đồng nghiệp, tờ Telegraph danh tiếng cũng của Anh Quốc ngày 10-9-2017 đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Anh Quốc Ngài Michael Fallon phân trần với Đài BBC rằng “Mỹ có quyền bảo vệ lãnh thổ của Mỹ và người dân Mỹ, nhưng họ sẽ làm ta bị liên lụy, vì cần nhớ là Thủ đô Luân Đôn gần với hỏa tiễn Triều Tiên hơn là Los Angeles“, nghĩa là nếu Mỹ gây sự với Triều Tiên thì Anh Quốc bị tiêu diệt trước cả Mỹ, và rằng “bằng mọi giá phải tránh cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Triều Tiên.” Telegraph cũng ghi lại phát biểu của Tổng Thư Ký NATO Jens Stoltenberg rằng chế độ Bình Nhưỡng giờ đây nổi lên như một sự đe dọa toàn cầu.

Vậy là đã xuất hiện những lời tự thú của những kẻ đã biết thế nào là lễ độ với Triều Tiên, đã phải điều chỉnh ngôn ngữ vì lợi ích an ninh của chính quốc gia họ mà bắt đầu nêu những lời tốt đẹp về con người Triều Tiên, xã hội Triều Tiên, phúc lợi hạnh phúc Triều Tiên, phát triển kinh tế Triều Tiên, cảnh đẹp Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo vững vàng tài ba của Kim Jung-un!

D- Nhận Định

1) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về An Ninh Quốc Gia:

Chọc giận “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” (lời bài hát của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chiến tranh chống Mỹ) và chọc giận lãnh đạo đoan chính anh hùng bất khuất Kim Jong-un không bao giờ có thể là sự khôn ngoan.

Có một tên tự xưng là “nhà sử học” và một tên tướng lĩnh quèn phản phúc đã tuyên bố rằng “chính Kim Nhật Thành và Triều Tiên đã ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam” mà không hề đưa ra được các liên kết sử liệu nào chứng minh xuất xứ thông tin. Mặc cho cả hai  tên này đều ngu dốt ngang nhau ở chỗ các sử liệu chỉ có giá trị sau khi nghiên cứu từ tất cả các nguồn trên thế giới sau từ 50 đến 90 năm (nghĩa là phải chờ Mỹ, Trung Quốc, Nga, và Triều Tiên công bố sử liệu có liên quan trực tiếp đến Việt Nam theo quyết định của họ là sau 50 hay 90 năm) nên các tuyên bố vung vít của chúng là rác rưởi, thì tác giả bài này cũng nhân đây nêu rõ thêm các nguyên tắc khác sau đây:

a- Triều Tiên có quyền có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam và Ấn Độ cực kỳ hữu hảo, nhưng Ấn Độ không bao giờ lên tiếng trách Việt Nam hữu hảo cả tá “chữ vàng” với Trung Quốc là kẻ thù không đội trời chung của Ấn Độ cả.

b- Việc Kim Nhật Thành đón tiếp trọng thị phái đoàn của Campuchea và trao tặng “đồng chí” Pol Pot danh hiệu Anh Hùng Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là chuyện thù tạc thuộc chủ quyền của Triều Tiên.

c- Thậm chí trong nguồn tin chính thức gần như là duy nhất có liên quan đến sự việc trên qua công bố của nhà báo Nate Thayer thì trong bài viết dài 2.282 từ tiếng Anh của ông đã có 30 lần sử dụng chữ Việt Nam, nhưng chẳng có lời bất kỳ nào viết rằng chính Kim Nhật Thành ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam cả. Nhét chữ vào mồm người khác – mà người khác ở đây là một nhà báo nước ngoài có thế lực hẳn hoi chứ không phải nghị sĩ Hoàng Hữu Phước không phải đảng viên luôn bị Đảng “đì” ngay từ lúc còn dưới mái trường đại học, không phe nhóm chẳng ô dù nào của “Tứ Trụ Triều Đình” che bớt nắng mưa – là hành động điên rồ ngu xuẩn của kẻ thất học.

Vì vậy người dân Việt Nam nhất thiết phải cảnh giác trước những kẻ vì đần độn mà láo xạo về Ông Nội của Kim Jong-un để rồi Việt Nam có nguy cơ có ngày đón chào tên lửa nguyên tử KN-14 của Triều Tiên dội xuống Huế-Sài Gòn-Hà Nội.

2) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về Kinh Tế – Chính Trị:

Khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đang xem xét việc ngưng các hoạt động thương mại với bất kỳ quốc gia nào “mần ăn” với Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (17)

thì tất nhiên Việt Nam sẽ có lúc vì “Việt Nam Trên Hết” mà phụ nghĩa với Triều Tiên, chấm dứt quan hệ kinh tế với Triều Tiên, chấm dứt cứu trợ nhân đạo Triều Tiên, tuân theo lịnh của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc.

Tất nhiên “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” và lãnh tụ anh hùng Kim Jong-un sẽ không bao giờ trách móc Việt Nam. Chính vì vậy mà Việt Nam nhất thiết phải nghiêm cấm báo chí truyền thông (có quyền cấm báo chí truyền thông vì báo chí truyền thông là công cụ tuyên truyền của Đảng chứ không phải là bọn báo chí tư nhân mà có quyền đòi tự do ngôn luận) có bất kỳ bài báo nào vô đạo đức hùa theo Âu Mỹ mà xúc xiểm Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên, để ít ra Việt Nam còn le lói sót lại một chút ánh sáng nhân văn.

3) Mưu Kế Lăng Tần:

Vài học trò hỏi tôi rằng vào thời của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein tôi đã cho rằng Triều Tiên nắm vận mạng thế giới mà Saddam nên dựa dẫm vào để duy trì cân bằng quyền lực toàn cầu; còn vào thời thịnh trị lấn lướt tuyệt đối của Đảng Dân Chủ Mỹ tôi vẫn cho rằng ứng cử viên đầy tai tiếng về những hành vi bất nhã đối với phụ nữ không tí kinh nghiệm chính trường Donald Trump sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ, thế thì nay vào thời kỳ của “Tổng Thống” Triều Tiên Kim Jong-un tôi có nhận định thế nào cho thời gian đang đến.

Tôi đã trả lời rằng lần này tôi sẽ nói trực tiếp riêng với các em chứ không phơi bày gan ruột sự thấu thị của mình trên mạng xã hội “chùa” mà vài chục người đọc nín thinh lại phải đối chọi với quân đoàn báo chí hùng hậu có kiểu cách thấp kém chỉ biết chửi bới chê bai chứ không có khả năng bút chiến luận. Do đó, dù việc thấu thị là sự đương nhiên sẵn có về phân tích chính trị thế giới trong hiễm họa đao binh nguyên tử đang làm cả Châu Âu run sợ, tôi vẫn sẽ không để bản thân tạo điều kiện cho chúng ghét. Tôi chỉ có thể nói nương theo bài Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi để cảnh báo Liên Hợp Quốc rằng đừng dại dột tụ năm tụ ba ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác trừng phạt Triều Tiên vì rằng chỉ cần Kim Jong-un mưu lược rút ra khỏi Liên Hợp Quốc là đã đủ triệt tiêu danh dự Liên Hợp Quốc, làm tiêu tan quyền lực Liên Hợp Quốc, tiến tới xóa sổ Liên Hợp Quốc. Hãy học theo truyền thông chính thống Châu Âu khi ngày hôm trước còn nói Triều Tiên nghèo đói lầm than dưới sự lãnh đạo của một tên điên loạn khát máu thì sang ngày hôm sau đã dịu giọng rằng Triều Tiên phát triển kinh tế nhanh nhất tạo phúc lợi tốt đẹp cho người dân dưới sự lãnh đạo sắt đá của một vị tổng tư lệnh chỉ biết phải chiến thắng để bảo vệ danh dự quốc gia và bảo vệ nhân dân chứ không chấp nhận ngay cả điểm huề trước siêu cường Hoa Kỳ cùng tổ chức Liên Hợp Quốc; rằng du khách đã được phép chụp hình Thủ Đô Bình Nhưỡng từ trên máy bay nên thế giới nay biết Bình Nhưỡng đẹp mê hồn; rằng nơi đâu cũng thấy nhi đồng vui chơi dưới sự chăm sóc của một chế độ mà từ y tế đến giáo dục và nhà cửa đều được cấp miễn phí, v.v., tức những điều nghe qua cứ ngỡ phải mất thêm một thiên niên kỹ nữa may ra mới có thể có ở Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cảnh báo: Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Mưu kế Lăng Tần về Iraq-Triều Tiên: Tôi và Saddam Hussein

Sự điên loạn của Nam Hàn: Tứ Trụ Bắc Việt

Khẳng định về Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Thông tin về sự lo lắng của Châu Âu đối với uy lực Triều Tiên trên báo The Telegraph: http://www.telegraph.co.uk/news/2017/09/10/britain-threat-north-korean-nuclear-missiles-says-defence-secretary/

Báo The Guardian nói tốt về Kim Jong-un: https://www.theguardian.com/world/2017/sep/08/in-the-court-of-kim-jong-un-ruthless-bellicose-despot-not-mad

Nạn đói ở Triều Tiên: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:https://vn.sputniknews.com/asia/20151112865043/

Nạn đói ở Nam Hàn: http://www.wfp.org/news/news-release/wfp-executive-director-commends-republic-korea-taking-zero-hunger-challenge

Tứ Đại Đần

Bọn “Nhà Sử Học” Đần

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-9-2017

Nghe đâu có một dúm mấy thằng tự phong – hoặc được phong bởi phe nhóm Sử Đần, thân nhân Sử Đần, hoặc bọn đần đột nhập vào trong Đảng hay bọn đần đột nhập truyền thông – “nhà sử học” làm ô danh “nhà sử học”, không rõ bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ bọn chúng có phải được cấp bởi các “viện hàn lâm khoa học” Việt Nam (tức cái máy sinh sản vô tính rặn đẻ ra nhiều ngàn thằng tiến sĩ mỗi năm chất lượng như rác vừa bị soi bởi đài VTV) hay không mà chúng chỉ chuyên cần tỉ mỉ làm 9 điều vớ vẩn chỉ để chứng minh bản thân chúng cũng đang tồn tại đầy vinh diệu như ai, gồm

(a) có lần đòi quốc hội phải có luật đĩ – may mà nhờ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước chưởi cho một trận ngay tại Nghị Trường nên mới “yên ắng” từ 2012 đến nay;

(b) luôn vác cuốc đập tanh banh đền đài miếu mạo cao trọng của Sử để biến nó thành môn bị khinh thường không ai thèm học;

(c) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ đẻ ra các công trình biên khảo nào về Thế Giới Sử/Đông Dương Sử/Cam-Pu-Chia Sử thậm chí về Mỹ Sử bằng tiếng Việt dù đó là công việc dành cho đẳng cấp đầu một “nhà sử học” thực thụ theo chất và chuẩn Mỹ Âu tức phải nghiên cứu tất tần tật;

(d) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ viết các công trình biên khảo nào về Việt Sử bằng tiếng Anh hay ngoại ngữ khác để thế giới đừng hòng biết gì đúng về Việt Nam;

(e) luôn hiên ngang ký tên vào các kiến nghị tập thể về dân chủ nhân quyền để tự động được danh “nhân sĩ”;

(f) luôn hiên ngang tru tréo đòi sự công bằng cho các triều vua và quan lại Nhà Nguyễn thối tha do bất tài vô dụng không biết phải làm gì với Sử;

(g) luôn hiên ngang tréo tru về “Hải Chiến Hoàng Sa” thối hoắc;

(h) luôn hiên ngang sủa nhặng về Việt Nam Cộng Hòa thối nát; và

(i) luôn hiên ngang nhặng sủa đòi loại trừ chữ Ngụy thối rùm.

Bài viết này, do đó, nhằm dạy cho bọn “nhà sử học” mất dạy chưa từng học xong đại học đúng nghĩa về môn Sử biết bốn cái đại đần của chúng về lĩnh vực Sử như sau:

A- Đệ Nhất Đại Đần: Công Nhận Việt Nam Cộng Hòa

Bọn soạn sách Sử – không phải các nhà viết Sử – hân hoan hả hê hoan ca hoan lạc ồn ào đú đởn về cái gọi là “công nhận Việt Nam Cộng Hòa” như một thành tích ghê gớm tuyệt đỉnh hợp ca của chúng đối với quyển sách sử do chúng biên soạn từ tiền thuế của dân.

Bọn chúng – và những tờ báo nào hoan hỷ y như chúng – đã cực kỳ đần độn do không biết 6 sự thật lịch sử cùng sự thật thực tế mang tính công pháp toàn cầu rằng:

1) Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều không hề là thành viên Liên Hợp Quốc.

Cả hai đều không được nhận vào làm thành viên Liên Hợp Quốc, trong khi quy chế thành viên Liên Hợp Quốc lại được chấp nhận áp dụng cho Đông Đức và Tây Đức (18-9-1973) cũng như Hàn Quốc và Triều Tiên (17-9-1991). Lý do đơn giản là: bốn “nước” này được các siêu cường nhất trí phân chia, trong khi Việt Nam được “quốc tế” ấn định ngay từ đầu là phải tổ chức tổng tuyển cử thống nhất hai miền thành một quốc gia duy nhất, mà sự phá hoại tiến trình đó của bọn chống Cộng đã dẫn đến việc Liên Xô dùng quyền phủ quyết để chặn ngăn các nổ lực xằng bậy của Mỹ và đồng minh trong cố gắng trong vô vọng nhằm hợp thức hóa vị thế của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hợp Quốc để chia cắt vĩnh viễn Việt Nam thành hai “quốc gia”. Cũng vì vậy mà chỉ khi Việt Nam thống nhất thì Liên Hợp Quốc mới kết nạp Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam ngày 20-9-1977 theo Nghị Quyết số 413 ngày 20-7-1977 nhất trí 100% của Hội Đồng Bảo An, dù rằng trước đó trong cơn bấn loạn hốt hoảng mang tên Việt Nam Giải Phóng, Hội Đồng Bảo An đã run lập cập công bố Nghị Quyết ngày 08-8-1975 ghi rằng “chấp thuận bản dự thảo của 9 nước gồm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết Byelorussia, Trung Quốc, Guyana, Iraq, Mauritania, Thụy Điển, Liên Xô, Cộng Hòa Thống Nhất Cameroon và Cộng Hòa Thống Nhất Tanzania, nay kiến nghị Đại Hội Đồng xem xét cho …. Việt Nam Cộng Hòa làm thành viên Liên Hợp Quốc” quên phéng chuyện lẽ ra đã phải gạch bỏ cụm từ Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi các bộ óc siêu cường Âu Mỹ:

Wordpress Tứ Đại Đần

Như vậy tất cả các chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, tất cả các hải đảo do Việt Nam Cộng Hòa “quản lý” và “tuyên bố chủ quyền” đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, việc bọn Sử đần nêu lên rằng nhất thiết phải công nhận Việt Nam Cộng Hòa để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa chỉ chứng tỏ bọn Sử Đần thực sự đần và chỉ là một đám trẻ con chưa hề cắp sách đến trường học môn Sử.

Tất nhiên, việc không là thành viên Liên Hợp Quốc cũng chẳng là điều quan trọng, vì không những hai bên có riêng cho mình những sự “công nhận” của các quốc gia khác về ngoại giao và như một thực thể ngoại giao, mà còn vì Liên Hợp Quốc cũng chỉ là một tổ chức vô duyên – chẳng hạn dù Đài Loan là một trong những thành viên chính thức đầu tiên từ năm 1945 và là một trong số 5 ủy viên thường trực vĩnh viễn của Hội Đồng Bảo An, Liên Hợp Quốc vẫn ra Nghị Quyết số 2758 năm 1971 tống cổ Đài Loan để lấy ghế thành viên Liên Hợp Quốc cùng ghế ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An dâng tặng Trung Quốc, chứ không như trường hợp Đông Đức-Tây Đức và Triều Tiên-Hàn Quốc. Đài Loan bị Liên Hợp Quốc từ chối xem như “quốc gia” mà chỉ là một tỉnh lỵ thuộc Trung Quốc; tuy nhiên, Mỹ và 18 nước thành viên cùng Vatican và Việt Nam Cộng Hòa là 21 thực thể “chính thức công nhận” Đài Loan để có các quan hệ ngoại giao đồng minh dù không ai dám gọi Đài Loan là “quốc gia”, còn Đài Loan thì duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức với gần 100 quốc gia khác.

Tương tự, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được các nước Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba, và các nước Đông Âu cùng Trung Á “công nhận” (như Hung Gia Lợi, Ba Lan, Tiệp Khắc, Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, Nam Tư, v.v.). Ngoài ra, còn có một số các nước Tây Âu như Thụy Điển cũng đã với công tâm và lòng nể trọng Hồ Chí Minh công nhận quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ những năm 1960. Richard Sackett Thompson, quan chức Mỹ tại Hòa Đàm Paris 1972-1974, khi trả lời phỏng vấn đã nói rằng: “Trận ném bom Giáng Sinh 1972 đã có quả rơi nhầm Đại Sứ Quán Pháp ở Hà Nội khiến bạn gái của Đại Sứ tử vong, thật là một việc thất lễ (killed the ambassador’s mistress, which is very unkind indeed). Đây là lần đầu tiên B52 bị bắn hạ. Không rõ có mấy chiếc bị rơi. Nhưng bên tình báo cho biết phía địch hết trọi hỏa tiễn rồi nên chúng sẽ tuyệt vọng trước các trận ném bom của chúng ta” với ngụ ý B52 bị rơi tại vì cộng sản đem hết hỏa tiển ra bắn tua tủa như mưa nên không trúng ruồi sao được, mà có trúng thì phải trả giá đắt cực kỳ vì phải xài sạch bách cả kho vũ khí.

Còn Việt Nam Cộng Hòa dù không được “toàn thế giới công nhận” vẫn trở thành thành viên của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Cảnh Sát Quốc Tế, Hội Hồng Thập Tự Và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Quốc Tế, và vài tổ chức của Liên Hợp Quốc như UNESCO và Liên Minh Bưu Chính, v.v., vì những tham gia này chẳng dính dáng gì đến “công nhận” hay “không công nhận” cả.

Như vậy, chỉ có bọn Sử Đần mới hô hào hoan hỷ đòi Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa trong sách về Sử, mặc cho sự thật là Việt Nam Cộng Hòa khi còn tồn tại đã thường xuyên ngay từ đầu hô hào “Bắc Tiến” tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tàn sát thường dân và tu sĩ Phật Giáo “thân Cộng”, và năn nỉ Mỹ hãy sử dụng bom nguyên tử biến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành Hiroshima và Nagasaki để không những cộng sản bị tiêu diệt mà còn để thế gian năm 2017 không thể có sự xuất hiện của bọn Sử Đần do đã bị phóng xạ hủy diệt  từ lâu.

2) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một hành vi ngoại giao giữa hai “quốc gia” hoặc hữu hảo hoặc với dụng ý khác, mà Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một thực thể sinh sau đẻ muộn tồn tại chỉ có 20 năm từ 1955 đến 1975, đã bị tiêu diệt, có còn đâu mà Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thực hiện được trò tuyên bố “công nhận”. Chỉ có bọn Sử Đần mới mở miệng nói điêu không sợ các nhà hàn lâm ngoại giao và sử gia thế giới khinh bỉ khinh miệt khinh thường khinh khi khinh rẻ và khinh khỉnh.

3) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì tất cả các sử gia trên thế giới sẽ cho đó là hành vi quái đản không bao giờ tồn tại hoặc không bao giờ có tiền lệ ở thế giới văn minh.

4) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một cái bẫy để ngay khi có nhân vật lãnh đạo cấp cao nào đó của Nhà nước mất cảnh giác tuyên bố “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa thì bọn phản động hải ngoại lập tức hình thành một thực thể đấu tranh đòi Liên Hợp Quốc bắt Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “trả lại” đất đai tài sản toàn Miền Nam cho chúng trở về “lập quốc”, tiến hành hành quyết bằng máy chém của Ngô Đình Diệm các quan chức công chức chế độ cộng sản và xua đuổi nam phụ lão ấu công dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam ra đường phố để thu hồi tất cả các nhà cửa đất đai trước đó thuộc quyền sở hữu các cư dân Việt Nam Cộng Hòa đã đào thoát bỏ lại. Há miệng mắc quai là cái mà bọn “nhà sử học” đần mong Đảng Cộng Sản Việt Nam đủ ngu để phạm phải.

5) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” chẳng dính dáng gì đến việc khôi hài “đòi lại Hoàng Sa” mà bọn Sử Đần đang sủa. Trung Quốc đã “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam từ khuya, và còn khuya Trung Quốc mới giao trả Hoàng Sa, Trường Sa, cùng các vùng đất mà chúng chiếm đóng trên đường tháo chạy sau Chiến Tranh Biên Giới 1979. Đất của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà nó còn chiếm, không bao giờ trả lại cho chủ nhân, sá gì trò hề “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa để có tư cách làm chủ mà đòi lại Hoàng Sa? Trung Quốc sẽ đơn giản nói rằng “Nị công nhận Việt Nam Cộng Hòa, vậy thì hãy để nó tới đây thương thảo với ngộ, hoặc nị chừng nào có công văn ủy quyền của nó thì hãy cho ngộ biết nhe. Chào tạm biệt bạn hiền. Ngộ còn lo đánh thằng Ấn Độ kiếm thêm vài miếng đất đây!” Chưa kể, trước 1955 thì Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại vậy phải chăng Hoàng Sa nói riêng và toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc chủ quyền của Pháp nên giờ đây chỉ có Pháp mới có quyền đòi lại Hoàng Sa vì Pháp chưa hề ký giấy giao Hoàng Sa cho Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Cộng Hòa chưa ký giấy giao lại cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam?

6) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì sao lại phải “công nhận” khi chân lý tự ngàn xưa đến nay luôn là: toàn bộ tài sản – kể cả “nợ” và “có” – của kẻ thua sẽ tự động thuộc về bên thắng trận. Toàn bộ khí tài quân sự và quân trang quân dụng kể cả kho tàng ngân khố của Việt Nam Cộng Hòa, các tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại, v.v, đều tự động thuộc về chủ quyền của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà không cần bất kỳ sự “công nhận” nào cả, và thậm chí dù không “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì tất cả các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cộng Hòa cũng tự động bỏ ngân sách ra mà bảo quản, giữ gìn tất cả các tài sản của Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại cho đến ngày nào đó của tương lai khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì trao hoàn lại đầy đủ 100% cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam trong tình trạng bảo quản tốt nhất có thể được. Không bất kỳ quan chức nào của Việt Nam Cộng Hòa bị đánh đuổi chạy sang các nước đồng minh lại được các nước đồng minh ấy cho vào sống tại các đại sứ quán của Việt Nam Cộng Hòa hoặc đem bán các tòa nhà đó để bảo đảm Cộng Sản đừng hòng hưởng được gì. Chỉ có bọn Sử Đần mới không biết về khoản này.

B- Đệ Nhị Đại Đần: Ngụy Quân – Ngụy Quyền

Ngoài nội dung ngữ nghĩa mang tính lịch sử của “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” mà tác giả bài viết này đã nêu kỹ trong bài đăng tuần trước trên blog này, bọn Sử đần nhất thiết phải được dạy về các chi tiết lịch sử và thực tế sau:

1) Tất cả các guồng máy quản trị một quốc gia, một lãnh thổ, một địa phương đều được dùng chung bởi một từ duy nhất trong tiếng Anh là “government” mà tiếng Việt gọi là “chính phủ”.

2) Như đã bao lần được nêu trong blog này chẳng hạn đối với các từ ngữ như “dân chủ” chẳng hạn, thì luôn có sự bất tương thích giữa tiếng Việt và tiếng Anh, khiến “dân chủ” bị người Việt hiểu nhầm thành “dân làm chủ” dẫn đến việc vô tư lạm dụng để làm nhặng lên chống Cộng, trong khi tiếng Anh của nó là “democracy” chỉ nêu lên nội dung duy nhất là thể chế mà nơi đó người dân bỏ phiếu bầu nên chính phủ tùy theo quy định của Hiến Pháp chứ không phải cái thể chế trên trời rơi xuống một đấng quân vương làm vua trọn kiếp rồi truyền ngôi cho con cái. Ở đây, chữ “chính phủ” trong tiếng Việt lại bị vướng chữ “chính” mà người Việt hiểu nhầm rằng mang nghĩa “danh chính ngôn thuận” trong khi từ ngữ tiếng Anh của nó là “government” chỉ mang nghĩa tập thể điều hành cai trị đất nước/lãnh thổ/địa phương chứ chẳng có chính chính phụ phụ chính chính tà tà chính chính ngụy ngụy gì cả.

Do hiểu theo kiểu Việt, những con người đoan chính nghĩa khí tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận quốc tế ở Miền Bắc đã giận dữ trước sự tráo trở của “phe Miền Nam” phá hoại Tổng Tuyển Cử tự lập nên “government” ở Miền Nam, nên không cam chịu chữ “chính” cao trọng của Hán Việt lại được dùng gọi bọn tay sai phá hoại nên thay vì chọn chữ “tà” cho đối chọi với “chính”, đã tự chế ra từ “ngụy quyền” để thay cho “chính quyền,”  do chữ “tà” trong “tà quyền” có hơi hướm tôn giáo, còn quân đội của “ngụy quyền” ấy là “ngụy quân” vì quân đội luôn cao quý bảo vệ sự toàn vẹn thống nhất đất nước chứ ai lại làm tay sai cho Mỹ chia cắt đất nước bao giờ.

Cái nghĩa khí ấy khi cặp chung với cái hạn chế muôn thủa về tương quan tiếng Việt với tiếng nước ngoài  đã khiến hình thành nên các từ “ngụy quân” và “ngụy quyền”. Thế nhưng, về mặt ngôn ngữ toàn cầu thì dù là chính quyền, phụ quyền, hay ngụy quyền hoặc… giả trá quyền hay ba xạo quyền thì chung quy vẫn chỉ có một từ tiếng Anh duy nhất là government. Về mặt ngôn ngữ hàn lâm, “chính quyền” là từ ngữ chính thức chính quy tức “formal”, còn “ngụy quyền” là từ ngữ không chính thức chính quy tức “informal” hoặc “colloquial” hoặc tiếng lóng tức “slang”.

Như vậy, do tiếng lóng không bao giờ được xem như thích hợp trong ngôn ngữ hàn lâm, Việt Nam có quyền sử dụng “ngụy quyền” tùy thích ở nội bộ Việt Nam vì đó là tiếng Việt đặc thù được chế tạo ra trong thời gian chiến tranh để phân định chính với tà. Còn khi dịch “ngụy quyền” ra tiếng Anh thì vẫn phải dùng chữ “government”. Từ đó, việc sử dụng từ “chính phủ” để gọi giới cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng là lẽ thường tình do chữ “chính” trong “chính quyền” đâu có nghĩa là chính đạo chính thức chính quy chính nghĩa gì cả.

Tóm lại, việc sách dạy Sử bằng tiếng Việt nên dùng chữ “chính quyền” để nếu chẳng may quyển sách ấy bất ngờ có giá trị toàn cầu thì các học giả nước ngoài khi tự dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước họ thì họ sẽ biết chữ đó là chữ “government”, chứ nếu ghi là “ngụy quyền” thì họ hoàn toàn không sao hiểu nổi. Đối với tiếng Anh, chỉ có các cụm từ chính quyền dân cử, chính quyền dân sự, chính quyền quân sự, và chính quyền bù nhìn, chứ thế giới hàn lâm không bao giờ có khái niệm chính quyền chính và chính quyền tà (tức chính quyền ngụy, gọi tắt là ngụy quyền).

Tóm thêm lần nữa, việc dùng “chính quyền” để gọi giới cầm quyền của chế độ Sài Gòn là chuyện nhỏ, chuyện bình thường, chuyện chuyên nghiệp, chuyện đương nhiên, chuyện ngôn ngữ (do thiếu dấu gạch nối để biết chính-quyền tức “government” hoàn toàn khác với chính quyền tức “main power”) chứ làm quái gì có liên quan đến “công nhận” hay “không công nhận” mà tru tréo rỡ mừng như vừa gặp khúc xương trong tô bánh canh giò heo trên nắp cống Kênh Nhiêu Lộc.

C- Đệ Tam Đại Đần: Làm Chính Trị

Cái đần của bọn “nhà sử học đần” là không hiểu sự khác biệt của sử gia chính trị và sử gia làm chính trị.

Sử gia chính trị là những sử gia tri thức uyên bác chỉ có ở Âu Mỹ, chuyên nghiên cứu thâm sâu để có các công trình biên khảo xuất chúng về lịch sử chính trị các nước các khu vực các thời kỳ từ trung cổ đến cận đại của nước này nước nọ.

Tại sao cận đại mà không hiện đại? Đơn giản vì những gì của hiện đại chỉ có giá trị ghi vào sử sách sau một thời gian tối thiểu 50 năm hoặc 100 năm. Soạn sách mà la lối về Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai vì chưa được 50 năm hay 100 năm hạn định đó, chưa kể 50 năm hay 100 năm không phải là số năm của số học mà là 50 năm hay 100 năm nghiên cứu thu thập sử liệu và tài liệu cũng như là 50 năm hoặc 100 năm có sự ra đời của vô số công trình biên khảo, phản biện, bút chiến, khẩu chiến, để chờ thời điểm đến là đem ra tranh luận lần cuối để thống nhất ghi vào sử sách hoặc điều chỉnh sử sách. Từ Giải Phóng Miền Nam đến nay đã gần 50 năm, song đã có những pho sách nghiên cứu nào về Việt Nam Cộng Hòa đã ra đời mà bọn Sử đần lại tự tung tự tác ghi vào quyển sách mới in về môn Sử vậy?

Tại sao nước này nước nọ mà không là nước mình? Đơn giản vì “nước mình” là công việc của giáo viên dạy Việt Sử, không cần nghiên cứu quái gì cả mà phải dựa 100% vào sách giáo khoa vốn dựa theo quyển lịch sử chính thức chính thống của các tiền nhân đã ra người thiên cổ; còn công việc của sử gia thứ thiệt là hoặc nghiên cứu các vấn đề chưa rõ để góp phần thắp thêm ngọn nến soi rọi lịch sử cho hậu thế quyết định chứ dứt khoát không có quyền đòi sửa chữa sử liệu, hoặc nghiên cứu các vấn đề sử tương tự hay dị biệt của các nền văn minh khác để làm giàu thêm cho kho tàng lịch sủ vì Thế Giới Sử luôn là phần quan trọng của bộ môn lịch sử.

Tu sĩ mà “làm chính trị” là chuyện đần độn.

Nhà sử học mà làm chính trị là chuyện độn đần.

Tu sĩ vẫn có thể “làm chính trị”, song không bao giờ được phép bảo là Kinh Phật hay Kinh Thánh dạy là phải chống chế độ cộng sản, chống chính phủ, chống…Formosa. Đó là lý do các giám mục và tổng giám mục Đức Quốc Xã “làm chính trị” ủng hộ tàn sát Dân Do Thái mà không bị trừng trị vì đơn giản các giám mục/tổng giám mục ấy nào có chống chế độ Quốc Xã, chống chính phủ Quốc Xã, chống công ty Ý Mussolini mần ăn với Quốc Xã, mà trái lại đã tỏ lòng yêu nước yêu chế độ yêu lãnh tụ cực kỳ cực điểm và cực đỉnh. Việt Nam là quốc gia duy nhất của nhân loại dám để yên cho bọn tu sĩ chống đối chế độ, chống đối Hiến Pháp, chống đối chính phủ; trong khi thế giới văn minh chỉ cho phép tu sĩ chống một cá nhân bất kỳ của chính phủ. Linh mục Mỹ chỉ biểu tình chống đích danh Donald Trump đối với  đích danh một đạo luật cụ thể như quyền phá thai chẳng hạn vì có dính dáng đến giáo huấn của tôn giáo, chứ chẳng có thằng tu sĩ ngu nào dám chống Hiến Pháp Hoa Kỳ và Chính Phủ Hoa Kỳ để nhận lấy các đòn trừng trị khủng khiếp của FBI nơi chốn ngục tù.

Nhà sử học có thể “làm chính trị” nhưng không bao giờ được phép bảo là chính phủ phải …”công nhận” thể chế này quốc gia nọ cũng như bỏ chữ này dùng chữ kia để “lấy lại Hoàng Sa” với lý do Sử nó dạy thế rành rành trong sách sử. Theo chuẩn chất của Âu Mỹ, khi “làm chính trị” thì bất kỳ ai kể cả “nhà sử học” đều phải bỏ nghề, bỏ luôn tòa soạn tạp chí gì đó mà mình làm chủ, bỏ luôn các hợp đồng soạn sách sử để không mang tiếng dựa hơi chính trị kiếm thu nhập cá nhân, đồng thời để không phạm phải điều tối kỵ rằng lời phát biểu về chính trị của ta một nhà sử học đương nhiên phải là lịch sử quốc gia.

Dùng kinh kệ để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn tu sĩ đần độn dám khinh nhờn luật pháp quốc gia.

Dùng chức năng biên soạn sách sử để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn “nhà sử học” đần độn dám khinh lờn luật pháp quốc gia.

Các thiền sư đã vung đao chém bay biết bao đầu của giặc Tàu và hết lòng phò tá chế độ nước nhà giúp Việt Nam có những triều đại hoàng kim. Các linh mục đã hỗ trợ Ngô Đinh Diệm chém rơi biết bao đầu của “bọn thân Cộng” mà tuyệt đại đa số không là tín đồ Đạo Chúa, nhưng không để hết lòng phò tá chế độ mà để thực thi mệnh lệnh của vị Hồng Y tại Hoa Kỳ nên Ngô Đình Diệm bị giết cũng không sao và Việt Nam Cộng Hòa bị mất về tay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng không sao tuốt.

Thế nên, các bậc chân tu đạo hạnh và các sử gia thực thụ trong lịch sử quốc gia không bất kỳ ai “làm chính trị” nhờ vậy mà thiên hạ còn có người lương thiện và kho tàng văn hóa nước nhà còn có các tác phẩm kinh kệ hay lịch sử vĩ đại cho hậu thế.

D- Đệ Tứ Đại Đần: Rắn Đầu Biếng Học

Và cuối cùng, song lại là điều quan trọng nhất là bọn “nhà sử học đần” đã (a) không tìm đọc tất cả các lời giáo huấn của tác giả bài viết này về Sử và tư cách “nhà sử học” như có liệt kê ở phần tham khảo dưới đây, và (b) không biết rằng tất cả các vấn đề về Việt Sử và Thế Giới Sử nhất thiết phải tham khảo ý kiến của và trình các bản thảo sách về môn Sử cho tác giả bài viết này hiệu đính trước khi xuất bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  31-5-2016

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Ngụy Quyền 20-8-2017

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Hoàng Sa  30-3-2016

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến  25-10-2015

Ngụy Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-8-2017

Nguy Quyen

Theo khẩn báo của các học trò, tôi biết thông tin có một tên tiến sĩ chức sắc gì đó đã trả lời phỏng vấn ngoài hành lang của một hội nghị gì đó có liên quan đến việc phát hành bộ sách lịch sử gì đó của bậc trung học, và lời phát biểu của tên tiến sĩ này về “ngụy quân, ngụy quyền” tất nhiên đã nhanh chóng cung cấp thời cơ cho mấy tên chống Việt gì đó tận dụng để hê lên tiếng kêu lạc lõng gì đó về chuyện Việt hiện nay vì quá đói nghèo phải thay đổi cách gọi trân trọng Việt Nam Cộng Hòa nhằm ngắm nghía túi tiền gì đó của Việt Kiểu.

Nhận thấy tên tiến sĩ do Nhà Nước Cộng Sản đài thọ chi phí ăn học bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản xây sẵn viện này viện nọ ghế nọ ghế kia ô tô này ô tô nọ bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản tiếp tục giao cho cơ hội sử dụng kinh phí dồi dào từ tiền thuế của dân để tham gia vô số các đai cuộc cải cách giáo dục cải cách sách giáo khoa (?); nhưng luôn đáp đền Nhà Nước và nhân dân bằng hạ sách giống như các bậc anh tài Phạm Thanh Bình, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, v.v., tức vừa làm tiền bạc Nhà Nước hóa bùn (!) vừa tạo điều kiện cho bọn chống Việt ném bùn vào mặt Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ, và đất nước (!);

Tôi xin nói rõ như sau về “ngụy quân” và “ngụy quyền” mà không bất kỳ ai trên toàn thế giới có biết về ngôn ngữ tiếng Việt có thể tranh biện chõi lại được.

1) Miệt Thị Dân Tộc: Như đã viết trong bài Sát Tàu đăng trên blog Chống Trung Quốc antichina.blog.com của tôi và sau này được đăng lại trên blog wordpress này, ethnophaulism là dạng thức ngôn ngữ mang tính khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường một giống dân, thí dụ người Việt gọi giặc Mông Cổ là “Thát”; người Sài Gòn gọi người Trung Quốc là “Chệt”, “Chiệc”, hay “Tàu”; người Việt gọi người Mỹ là “Mẽo”; người Việt gọi người Cambodia là “Miên”; người Mỹ gọi người Tàu là “Chink” hay “Chinaman”; người New Zealand gọi người Úc là “Ozzie”; người Âu gọi người Mỹ là “Yankee”; người Cambodia gọi người Việt là “Duồn”, v.v.

2) Miệt Thị Cá Biệt: Còn không trên bình diện “dân tộc” mà chỉ trong phạm vi một tập thể, một nhóm người, một tổ chức, một cá nhân, thì hình thức khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường được gọi là linguistic impoliteness hoặc derogatory coinages.

Việt Nam Cộng Hòa Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Cộng Hòa tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt NamChiến Sĩ Giải Phóng Quân là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu.

Để tỏ sự khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Cộng Hòa chế ra từ “Việt Cộng” để gọi các Chiến Sĩ Giải Phóng Quân, và lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (North Vietnam) để gọi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là “Bắc Việt” cho ngắn ngủn nhằm bôi bỏ mấy từ ngữ lớn lối về dân chủ và cộng hòa. Như vậy, “Việt Cộng” và “Bắc Việt” không phải là những từ mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Đáp lại, để tỏ ý khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chế ra từ “Ngụy Quân” để gọi các binh sĩ  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, và đã “hoàn toàn trên cơ” khi đã không lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (South Vietnam) để gọi Việt Nam Cộng Hòa là “Nam Việt” cho ngắn ngủn mà cũng để không phải công nhận đó là một quốc gia nên chế ra từ “Ngụy Quyền” như nhà cầm quyền giả trá giả tạo. Như vậy, “Ngụy Quân” và “Ngụy Quyền” không phải là những từ mà Việt Nam Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Khi đã không là từ formal thì dứt khoát không được sử dụng trong sử sách, trong xã luận báo chí chính thống, trong công hàm ngoại giao, và trong tất cả các văn bản pháp quy, các công văn chính phủ. Nếu sử dụng thì buộc phải in nghiêng hay in giữa cặp dấu ngoặc kép.

Như tác giả bài viết này đã bao lần lên tiếng về cái sai của toàn bộ Văn Phạm Tiếng Việt kể từ mốc sau Giải Phóng 1975 đến nay, tiếng Việt đã không những bỏ mất dấu gạch nối mà còn trở thành ngôn ngữ quái lạ không phân biệt ranh giới Formal và Informal khiến ngay trong Nghị Định Chính Phủ và Thông Tư Liên Bộ sử dụng từ ngữ thậm chí kém đẳng cấp hơn cả informal là từ tiếng lóng như “găm hàng” chẳng hạn, chính những cái sai này đã dẫn đến việc vô tư biên soạn sách giáo khoa lịch sử có sử dụng các từ ngữ ác cảm phi chính quy và rất bình dân như “ngụy quân” và “ngụy quyền”.

Vì vậy, việc thay “ngụy quyền” bằng “chính quyền” và “ngụy quân” bằng “quân đội Sài Gòn” chỉ đơn giản là một động tác thuần túy sửa lỗi chính tả (nguyên tắc hàn lâm: không được phép dùng từ bình dân trong các sách giáo khoa hàn lâm), hoàn toàn không phải vì mấy cái lý do quỷ quái điên rồ xuẩn ngốc của nào là xóa bỏ hận thù, hòa hợp dân tộc, hay xét lại hoặc công nhận uy thế gì cả để mà trả lời phỏng vấn nhằm nêu cái “chính nghĩa quốc gia” láo xạo nào cả.

Một khi chỉ là sửa lỗi chính tả, thì cớ gì phóng viên lại quá ngu không biết nên phỏng vấn, và cớ gì tiến sĩ lại quá ngu không biết nên trả lời để rồi cùng vầy đoàn trở thành học trò mẫu giáo tuốt, chả biết gì sất về Tiếng Việt, để rồi tạo cớ cho bọn chống Việt tru tréo ăn nói quàng xiêng về cái quái gì đó gọi là “chực chờ kiều hối” thế kia?

Hỡi ơi, Đảng Cộng Sản Việt Nam sao cứ mãi dùng tiền thuế của dân gieo trồng toàn những cây đại thụ từ toàn hạt giống lép đầy lổ sâu mọt để chúng vươn to cao rồi tự ngã đè lên đầu Đảng thế này!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sí Quốc-hội Khóa XIII

Tham khảo:

Sát Tàu: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/07/sat-tau-5/

Formal & Informal: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Các bài đọc thêm về ngôn ngữ (xếp theo thứ tự thời gian trước-sau):

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.

Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Chủ Tịch – Già – Cu Dơ Nhét Xốp

Hà Hồ

Tranh Giành Ngôn Từ

Sadim Ơi Là Sadim

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Nhà Độc Địa

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Thế Nào Là “Từ Chương”

Trịnh Xuân Thanh – Bài 2

Bài 2: Đức Quốc Giật Mình Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp Quốc Hội Khóa XIII

10-8-2017

Bai 2 1

A) Lý Do Đồi Bại Trời Tru Đất Diệt Của Châu Âu Hùng Hổ Nhân Quyền

Người ta hay nói – vì có ích lợi mang tính tận dụng lợi dụng sử dụng đáng thương hại nơi tất cả những ai hay những tổ chức nào chống lại Việt Nam cộng sản – về nền văn minh, tính nhân văn, lòng nhân đạo, và sự ngoan đạo của tất cả các nước Âu Tây (tức là mọi thứ “Âu” gồm Tây Âu, Bắc Âu, Nam Âu, Đông Âu – và những quốc gia “Phương Tây” tức thuộc các châu lục khác như Châu Đại Dương chẳng hạn, do có  diễm phúc được chiếm đóng bởi các nước Âu Tây ấy) đối với việc họ – tức các nước Âu Tây ấy – bãi bỏ án tử hình.

Sự thật lịch sử không bao giờ có bất kỳ ai có thể chối cải – nhưng than ôi không bất kỳ ai dù thất học hay thuộc giới tinh hoa trí thức dám công khai nói đến trừ tác giả bài viết này – là do cái Âu Tây ấy muốn che đậy sự đồi bại trời tru đất diệt của họ.

Khi danh nhân vĩ đại nhất của Đức Quốc là Đức Ngài Quốc Trưởng Chí Tôn Chí Thánh Adolf Hitler

Bai 2 2

ra tay giết 6 triệu người Do Thái, 6 triệu người dân “Nga Xô-Viết”, 3 triệu tù binh “Nga Xô-Viết”, 2 triệu dân Ba-Lan, và hơn 300 ngàn dân vốn là đồng bào của tay vợt hàng đầu thế giới Novak Djokovic, toàn bộ các chính phủ Âu Tây – kể cả Vương Quốc Anh – trở thành những kẻ bán nước hợp tác chặt chẽ với Đệ Tam Đế Chế, trong khi Tòa Thánh Công Giáo La Mã Vatican tự hào đưa Adolf  Hitler lên ngôi chủ tể tuyệt đối của cái Đệ Tam Đế Chế ấy cũng như đã đưa Benito Mussolini lập nên nền Phát Xít Ý để tạo thêm vây cánh cho sự vững bền của Adolf Hitler.

Bai 2 4Bai 2 3Bai 2 5

Trong khi tất cả các quốc gia Âu Tây hoặc bị Đức chiếm đóng, hoặc tham gia liên minh với Đức, hoặc tuyên bố trung lập để làm nơi cung cấp hậu cần cho hoặc thành địa điểm hoạt động kinh tài giữ gìn tài sản hộ Đức, thì Vatican ủng hộ sự tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay Hitler và Mussolini nhằm tiêu diệt dân Do Thái và chủ nghĩa cộng sản. Do tất cả đều đã nhúng chàm, đều trở thành tội phạm chiến tranh, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Vatican tích cực giúp nhiều trăm quan chức Quốc Xã cấp cao đào thoát sang Nam Mỹ – đặc biệt là Argentina – hoặc Nam Phi, còn các chính phủ Âu Tây tổ chức Tòa Án Nuremberg đưa vài quan chức Quốc Xã quá nổi bật không thể trốn đi đâu được lên giá treo cổ, để rồi cả Vatican và họ đều cùng nhau áp dụng biện pháp tự cứu mình khỏi các án tử hình tiềm tàng trong tương lai bằng cách đồng thanh nói về bãi bỏ án tử hình với lý do nhân đạo và lý do chỉ có Chúa Trời mới có quyền quyết định mạng sống của con người.

Như vậy, cái tự do, dân chủ, nhân quyền, và nhân văn cao vời của Âu Tây chỉ là chiếc mặt nạ giả trá che đậy sự hèn hạ, tàn ác, đốn mạt, đồi bại của Vatican và chính quyền các nước tự đặt dưới quyền thống trị của Đức. Lịch sử còn ghi lại những chuyến công du cầu cạnh Đức của các vương hầu khanh tướng chính phủ các quốc gia trong đó có cả các chức sắc cao cấp của Vương Quốc Anh. Châu Âu được giải phóng khỏi ách thống trị ấy chỉ bởi 3 thế lực gồm (a) lực lượng dân quân kháng chiến tại chỗ, (b) Liên Xô, và (c) tập thể do Hoa Kỳ làm chủ soái, chứ không bởi quân đội chính quy của các chính phủ.

Có thể kết luận rằng bất kỳ ai mở miệng ngợi ca nền văn minh và tính nhân văn tôn trọng dân chủ nhân quyền của Âu Tây, hoặc hùa theo các nước Âu Tây, hoặc để yên cho Âu Tây dè bỉu, bảo ban, phê phán Việt Nam về nhân văn, dân chủ, nhân quyền, thì kẻ đó thuộc hạng người tương đồng với những con quái vật đã từng đưa nhiều triệu người Do Thái vào phòng hơi ngạt.

Bai 2 6

B) Chiêu Thức Gestapo Đức Quốc Xã Được Phát Huy Bởi Âu Mỹ

Ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến, Anh và Mỹ thi nhau bắt cóc các nhà khoa học Đức về làm việc trong các Bộ đặc thù hoặc đơn giản vào làm việc cho các nhà máy bất kể công nghiệp lớn hay nhỏ, của nhà nước hay của tư nhân, thậm chí việc bắt cóc xảy ra trong nhiều năm liền chứ không phải chỉ trong thời điểm vừa chấm dứt chiến tranh mọi sự còn trong hỗn loạn.

Tuy nhiên, việc bắt cóc như vậy trên bình diện quốc gia lại do chính cơ quan Gestapo của Hitler tạo ra và thực hiện gần như là đầu tiên trên thế giới. Theo tờ Guardian của Vương Quốc Anh thì một tổ chức liên minh tình báo quân đội Mỹ-Anh gồm BIOSC và FIA đảm nhận việc lựa ra những nhà khoa học nào cần thiết phải bắt cóc từ các khu vực chiếm đóng của Mỹ, Pháp, và thủ đô Berlin. Số liệu không chính thức cho rằng khoảng 1.500 nhà khoa học đã bị bắt cóc (đưa đi bằng vũ lực và bí mật) dù cho các tài liệu phát hiện được chỉ cho ra con số không đến 600.

Như vậy, hành động “bắt cóc” mang tính nhà nước, bí mật, và vĩnh viễn là những đặc thù phân biệt với hành vi “bắt cóc” đòi tiền chuộc của giới đạo tặc vốn theo nhóm hoặc cá thể, và không vĩnh viễn.

Tuy mỗi quốc gia đều có cơ quan tình báo hải ngoại riêng, những tên tuổi lớn và nổi tiếng hay khét tiếng trong số đó thường thực hiện đa số là những nhiệm vụ ám sát hay lật đổ. Cũng vì vậy mà danh sách những vụ “bắt cóc nhà nước” của các cơ quan này không có số lượng nhiều.

Đức gọi việc Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam đầu thú là do Việt Nam “bắt cóc” nên đã áp dụng những biện pháp cực đoan để phản đối.

Những thí dụ sau là về những vụ bắt cóc rùm beng trên thế giới, nhằm chứng minh vụ việc thực tế về Trịnh Xuân Thanh ở ngưỡng so sánh cấp độ ra sao.

C) Những Trịnh Xuân Thanh

Tuy gọi là “những Trịnh Xuân Thanh”, những nhân vật sau đây – trừ Trịnh Xuân Thanh – rất khác biệt, ít ra là có tài năng chứ không bất tài vô dụng như Trịnh Xuân Thanh, và có danh tiếng được biết đến ngay cả bên ngoài biên giới quốc gia hoặc bởi thế giới quyền lực, chứ không phải hạng vô danh tiểu tốt như Trịnh Xuân Thanh, và không ai trong số họ làm đất nước bị giới truyền thông nước ngoài hung hăng xúc phạm như Trịnh Xuân Thanh.

1- Trịnh Xuân Thanh Do Thái Và Sự Sụp Đổ Của Vatican

Vào thủa Vatican chưa tồn tại, Đức Giáo Hoàng như vị hoàng đế trực tiếp trị vì một cương thổ rộng lớn gọi là Status Ecclesiae (tiếng Anh gọi là Papal States – Liên Tiểu  Quốc Giáo Hoàng) từ Thế Kỷ VIII, với thủ đô đặt tại Rome.

Đêm 23-6-1858, theo lệnh Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu, cảnh binh đã ngang nhiên xông vào nhà thương nhân người Do Thái Momolo Mortara ở Bologna để giằng lấy đưa con trai 6 tuổi tên Edgardo từ tay người mẹ để bắt cóc đưa đến Rome chỉ với lý do đứa bé trước đó lúc bệnh đã được làm phép báp-têm nên phải vào đạo Công Giáo chứ không được phép ở trong gia đình Do Thái Giáo. Mặc cho sự kiên trì van lạy của cha mẹ Edgardo và sự can thiệp của các cộng đồng Do Thái khắp Châu Âu có sự ủng hộ của chính phủ các nước, Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu vẫn khăng khăng giữ lấy cậu bé Edgardo Mortara theo hầu hạ bên mình.

Bai 2 7

Ba hệ lụy quan trọng từ vụ bắt cóc bé Edgardo Mortara 6 tuổi bao gồm:

a) Sự Tẩy Não Edgardo Mortara:

Khi ông Momolo Mortara cùng con trai lớn Riccardo Mortara gia nhập quân đoàn Ý Đại Lợi làm sĩ quan kỵ binh đánh vào dinh lũy cuối cùng của Đức Giáo Hoàng là Rome năm 1870 để “giải thoát” cho Edgardo Mortara, thì khi thấy người thân của mình bước vào nhà nguyện, chàng trai 19 tuổi Edgardo Mortara đã che mắt lại, xua tay quát lớn: “Hãy lùi lại đi, đồ quỷ dữ!” (Get back! Satan!). Edgardo Mortara sau đó đã cải trang lẻn trốn sang Áo Quốc ngày 22-10-1870 bằng đường hỏa xa, và tu hành tại đó. Ông mất năm 1940 thọ 88 tuổi. Trong các bài viết của mình, linh mục Edgardo Mortara thậm chí còn ghi rằng lúc ấy “bọn chúng còn muốn bắt cóc tôi” khi nói về việc tướng Alfonso Ferrero La Marmora bảo với Edgardo Mortara rằng cậu hãy trở về nhà với mẹ cha.

Bai 2 8

Thái độ gọi người không theo đạo Công Giáo – kể cả đó là cha mẹ và anh ruột của mình – là Satan đã nói lên bản chất khinh miệt, thù hằn, của các đời Đức Giáo Hoàng trước đây đối với tất cả các tôn giáo phi-Công-Giáo chứ không phải chỉ là “chống vô thần” vốn ngày nay luôn được sử dụng để che đậy sự xấu xa xấu hổ xấu xí bài xích các tôn giáo khác của Công Giáo La Mã, triệt tự do tín ngưỡng, và chống cộng như tấm bình phong vừa che đậy dã tâm chống tất cả các tôn giáo khác, vừa như thứ bùa mê mê hoặc các tín đồ tôn giáo mình và tôn giáo khác rằng Công Giáo xông pha chống vô thần cộng sảnvô thần chống tất cả các “thần” – dù vô thần là danh xưng đầy ngạo nghễ mang tính hiện tượng hiện đại của rất nhiều người Âu Mỹ thuộc gia đình Công Giáo “gốc” nay đã bỏ đạo, chứ chưa bao giờ là lời tự xưng tự hào hay tự tôn vinh của bất kỳ quốc gia nào đề cao chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội – kể cả Liên Xô.

b) Sự Sụp Đổ Vĩnh Viễn Của Đế Chế Công Giáo La Mã “Liên Tiểu Quốc Giáo Hoàng” Và Sự Hình Thành Nước Ý Đại Lợi:

Sự lộng hành của Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu khi bắt cóc bé Edgardo Mortara đã như giọt nước tràn ly, tạo nên làn sóng phẫn nộ chống đối khắp Châu Âu, dẫn đến sự xung đột vũ trang giải phóng thống nhất các lãnh thổ khỏi quyền sở hữu của Đức Giáo Hoàng, xóa sổ Đế Chế Công Giáo La Mã để lập thành Vương Quốc Piedmont-Sardinia. Đến năm 1861 tức chỉ 4 năm kể từ ngày bắt cóc Edgardo Mortara, Vương Quốc Ý Đại Lợi được hình thành, và đến năm 1870 Đức Giáo Hoàng hoàn toàn không còn bất kỳ lãnh địa nào cả – tức kể cả “Vatican” – sau khi Rome và Lazio thất thủ. Chỉ sau khi Công Giáo La Mã ủng hộ Benito Mussolini lập nên chế độ Phát-xít, Mussolini mới ký ban hành Hiệp Định Lateran năm 1929 ban cho Công Giáo La Mã quyền quản trị “độc lập” Thành Phố Vatican gọi là Vatican City State tức thành phố như một “nhà nước” riêng.

Bai 2 9

c) Sự Tiêu Diệt Dân Do Thái:

Sự sụp đổ vương triều vĩ đại Papal States lớn trọn nước Ý Đại Lợi với kinh đô Rome, chỉ còn là một thành phố lọt thỏm trong thủ đô Rome, lại do sự cả gan khuấy động của một gia đình Do Thái mà Công Giáo khinh miệt, đã khiến Vatican ủng hộ Mussolini và Hitler đối với việc tàn sát người Do Thái, thậm chí trong một thời gian dài sau Đệ Nhị Thế Chiến không những cưu mang tổ chức đào thoát cho các tên tội phạm Quốc Xã mà còn lớn tiếng phủ nhận sự tồn tại của Holocaust tức cuộc đại diệt chủng người Do Thái của Hitler và Mussolini. “Hai vị giáo hoàng và một cuộc đại thảm sát” là cụm từ nêu sự thật rằng Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhất và Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhị đều làm ngơ trước cuộc đại thảm sát người Do Thái, người trước cho rằng chủ nghĩa tự do sẽ đẻ ra chủ nghĩa xã hội kiểu gọi là chủ nghĩa cộng sản Juda (“Judaeo-Bolshevism”), còn người sau thì là cha đẻ thuyết âm mưu quốc tế gán người Do Thái vào chủ nghĩa cộng sản (“Jewish-Bolshevik world conspiracy”).

Bai 2 10

Sau khi nhanh nhảu công nhận chế độ Quốc Xã của Hitler, Nhà Thờ Công Giáo La Mã trong 45 năm liền dứt khoát không công nhận Nhà Nước Israel, và chỉ nhìn nhận đã có cuộc đại thảm sát dân Do Thái khi thấy chiến thắng của phe đồng minh trở nên rõ ràng. Còn khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhị vẫn không hề rút phép “thông công” trừng phạt bất kỳ ai dù chỉ một người Đức đối với việc tàn sát người Do Thái, như mặc nhiên thừa nhận việc tàn sát ấy là một đại công.

2- Trịnh Xuân Thanh Israel Và Sự Chao Đảo Của AISI,/AISE/SISMI

Nếu như vụ bắt cóc cậu bé Do Thái Edgardo Mortara sắp được đạo diễn lừng danh Steven Spielberg của Mỹ đưa lên màn ảnh Hollywood năm 2018 thì vụ cơ quan đặc vụ Mossad lừng danh của Israel bắt cóc công dân Israel – tiền thân là nước Do Thái – tên Mordechai Vanunu từ Anh Quốc về Israel trị tội là một tin chấn động thế giới mà ở Việt Nam vào năm 1986 nhiều thiếu thốn và nghèo nguồn thông tin chỉ vài người có trong tay tờ Time mới biết tường tận.

Là một kỹ sư nguyên tử lực sinh năm 1954, Vanunu công tác tại Trung Tâm Lò Phản Ứng Nguyên Tử Dimona từ năm 1976. Khi bị cho ngưng công tác năm 1985, Vanunu bất mãn, cùng với 4 sinh viên Israel và 5 sinh viên Ả Rập lập nhóm cực đoan tên Campus, lấy giáo sư cực đoan Evron Pollakov, người đang bị cầm tù vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, làm hình mẫu đấu tranh lý tưởng cho cả nhóm. Khi vơ vét hết tiền bạc được 7.500 USD, Vanunu đi du lịch vòng quanh thế giới đến Nepal, Miến Điện, Thái Lan, và Úc Đại Lợi, nhưng rồi đột nhiên biến mất tháng 9-1986, để rồi một tháng sau đó tờ Sunday Times của Anh Quốc tải đăng bài viết của Vanunu với bản vẽ sơ đồ chi tiết căn cứ khổng lồ bốn tầng sâu dưới lòng đất trong sa mạc của Israel là một trung tâm nghiên cứu tuyệt mật sản xuất bom nguyên tử và đã sản xuất được gần 200 quả bom. Và cũng bất thình lình sau đó một tháng tức tháng 11-1986 Israel công bố đang giam giữ Vanunu, và vào tháng 3-1988 tại phiên xử không công khai đã quy án Vanunu tội phản quốc và tội làm gián điệp với mức án 18 năm biệt giam. Tất nhiên, việc cung cấp cho thế giới Âu Mỹ thông tin chấn động có lợi cho Âu Mỹ trong khống chế và triệt tiêu kế hoạch sản xuất bom nguyên tử của Israel đã được Âu Mỹ hoan nghênh, ca tụng Vanunu là một vị anh hùng, một người dũng cảm nhất, một đấng gây cảm hứng nhất thời đại, một nạn nhân, một nhà đấu tranh vì chính nghĩa, và thậm chí còn đề nghị Vanunu nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình, và lập nên nhiều tổ chức tích cực đấu tranh đòi Israel phải thả Vanunu, cũng như sắn sàng cho Vanunu tỵ nạn chính trị sau khi mãn hạn tù.

Giống như mọi kẻ phản quốc bán bí mật quốc gia, Vanunu – theo báo chí – chỉ sau dăm ba tuần ở Luân Đôn sau khi rời Úc Đại Lợi, trước khi bài viết về trung tâm chế tạo bom nguyên tử dưới lòng đất của Vanunu được phát hành thì Vanunu lại biến mất, hóa ra đã bị một nữ mật vụ Israel xinh đẹp mang mật danh “Cindy” đóng vai một nữ du khách Hoa Kỳ tiếp cận, quyến rủ bao hết chi phí đưa Vanunu bằng máy bay chuyến 504 ngày 29-9-1986 từ Luân Đôn sang Rome hưởng lạc thú, để rồi khi đến căn hộ dành cho tình nhân ở lúc 21 giờ ngày 30-9-1986, Vanunu bị hai nam mật vụ quật ngã, tiêm thuốc mê, trói lại đưa lên một tàu container rời cảng La Spezia về Israel chịu tội, lộ hẳn sự mất tư cách, vì tiền, và sa đọa. Thật ra, khi đến Úc Đại Lợi, Vanunu đã liên hệ ngay với tỷ phú truyền thông Robert Maxwell để bán thông tinmaf không ngờ rằng chính Maxwell đã mật báo cho mật vụ Úc Đại Lợi liên hệ ngay với  Tel Aviv. Thủ tướng Shimon Peres của Israel lập tức ra lịnh cơ quan Mossad phải bắt  ngay tên phản quốc Vanunu về bằng mọi giá. Shimon Peres là cha đẻ của nguyên tử lực Israel.

Tại tổng hành dinh Cơ Quan Đặc Vụ & Tình Báo Hải Ngoại Mossad, một đặc vụ ném vào mặt Vanunu tờ báo Sunday Time số ra ngày 05-10 và nói: “Mày hãy xem đã gây thiệt hại cho quốc gia như thế nào.” Để đề phòng Vanunu tự sát, phòng biệt giam Vanunu luôn bật sáng đèn cả ngày đêm.

Tất nhiên, khi một người Mỹ có hành động tương tự Vanunu nghĩa là tiết lộ bí mật các chương trình do thám của Mỹ như kỹ sư tin học Edward Snowden làm việc cho CIA đã đào thoát năm 2013 và được Nga cho tạm trú đến năm 2020, thì người đó chỉ được các tổ chức nhỏ không-phải-của-Mỹ-và-các-chính-phủ-thân-Mỹ ngợi ca bằng những từ ngữ tương tự như Vanunu nhận được, song không hề có bất cứ ai dám cho Snowden tỵ nạn chính trị, kể cả Nga.

Khét tiếng với các công trạng ám sát thành công trên toàn thế giới, Mossad vẫn giữ cho thể diện của cơ quan tình báo an ninh nội địa Vương Quốc Anh MI5 và Mật Vụ Hải Ngoại MI6 cùng cảnh sát MPS mà thế giới thường biết đến dưới tên gọi Scotland Yard, Mossad đã tránh không thực hiện việc bắt cóc Vanunu tại Luân Đôn, mà nhờ  cơ quan tình báo nội địa Ý Đại Lợi AISI, cơ quan tình báo hải ngoại Ý Đại lợi AISE, và cơ quan mật vụ Ý Đại Lợi SISMI hỗ trợ. Ý Đại Lợi là quốc gia luôn hỗ trợ Israel vô điều kiện đối với các hoạt động phi pháp của Mossad để đáp lại việc Israel kềm chế sự nỗi dậy của khối Ả Rập và Israel bảo đảm chặn ngăn không để di dân Israel đổ vào Ý Đại Lợi, và đây là lý do Mossad sử dụng mỹ nhân kế dụ Vanunu sang Rome để nhận được sự làm ngơ của AISI, AISE, và SISMI đối với vụ bắt cóc Vanunu.

Tất nhiên, thẩm phán Ý Đại Lợi Domenico Sica lập tức mở cuộc điều tra về vụ bắt cóc bị cáo buộc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ và luật pháp Ý Đại Lợi, song gần như là cũng ngay lập tức khép lại vụ án, cho rằng Mossad chủ tâm dàn dựng vụ bắt cóc để làm thế giới quên đi vụ Israel sản xuất bom nguyên tử chứ không có ai là tên phản quốc Vanunu cả.

Bài học cho Việt Nam: (a) Tuyệt đối cảnh giác với những “chuyên viên” hứng thú với việc có các hành vi chống lại chính phủ, nhà nước, chính sách quốc gia, cũng như có hành vi “ủng hộ” những “nhân sĩ” có các hành vi ấy; và (b) tuyệt đối theo dõi 24/7/365 tức theo dõi trọn ngày, trọn tuần, trọn năm, những chức sắc có quyền tiếp cận tài chính ngân khố, thông tin tuyệt mật, và cơ sở tuyệt mật của quốc gia.

3- Trịnh Xuân Thanh Ai Cập Và Sự Chao Đảo Của SISMI & GID

Vụ bắt cóc Hassan Mustafa Osama Nasr gọi tắt là Abu Omar mang một nội dung hoàn toàn khác, theo kiểu Mỹ.

Abu Omar bị bắt cóc ngày 17-02-2003 tại Milan, Ý Đại Lợi, bởi các nhân viên mật vụ Ý SISMI và nhân viên tình báo Mỹ CIA đem đến Căn Cứ Không Quân Ý Aviano và từ đó được đưa đến Ai Cập giam trong 4 năm không qua xét xử, bị tra tấn tàn bạo bởi cơ quan mật vụ Ai Cập của chế độ Mubarak trường kỳ gắn bó liên minh với Hoa Kỳ. Việc bắt cóc được tiến hành là do Mỹ không thể đưa Abu Omar về Mỹ do sợ vi phạm luật pháp Mỹ (cấm dùng nhục hình), nên Ai Cập là nơi lý tưởng để thực hiện việc tra tấn Abu Omar nhằm lấy được lời khai.

Tất nhiên, ban đầu chính phủ Ý Đại Lợi từ chối mọi liên can đến vụ bắt cóc, nhưng rồi các công tố viên Armando Spataro và Ferdinand Enrico Pomarici tố cáo có sự can dự không những của 26 đặc vụ CIA gồm cả trưởng CIA tại Rome là Jeffrey W. Castelli, trưởng CIA tại Milan là Robert Seldon Lady, mà còn của người đứng đầu cơ quan An Ninh Tình Báo Quân Đội Ý SISMI Tướng Nicolo Pollary và người phó là Marco Mancini với các trưởng chi nhánh Raffaele Ditroia, Luciano Di Gregori và Giuseppe Ciorra.

Vụ bắt cóc này đã dẫn đến việc Tòa Phúc Thẩm ở Milano ngày 12-02-2013 kết án cựu giám đốc SISMI Nicolo Pollari, phó giám đốc SISMI Marco Mancini, trưởng CIA tại Rome Castelli cùng hai đặc vụ CIA đến 10 năm tù giam, cho thấy một hình thức khác thường của việc hợp tác chặt chẽ giữa các đồng minh trong tổ chức bắt cóc đưa sang quốc gia khác để tra tấn, nhưng đồng thời cũng dấy lên một sự thật là khi vụ việc bị bại lộ thì quốc gia nơi xảy ra vụ bắt cóc sẽ luôn công khai trừng trị các quan chức nào của nước mình đã để cho đặc vụ của nước khác vào nước mình thực hiện vụ bắt cóc ấy.

Trong trường hợp vụ bắt cóc Abu Omar, Ý trừng phạt các đầu não cơ quan mật vụ Ý có can dự cũng như trừng phạt các đầu não cơ quan mật vụ đồng minh Mỹ đã hợp tác thực hiện vụ bắt cóc. Hoàn toàn không có việc Chính Phủ Ý trục xuất tùy viên an ninh Tòa Đại Sứ Mỹ tại Ý. Hoàn toàn không có việc Chính Phủ Ý đòi Mỹ phải đưa Abu Omar trở lại Ý. Phạt kẻ trong nước đã bất tài vô dụng để xảy ra vụ bắt cóc, hoặc để thiên hạ biết về vụ bắt cóc; và phạt kẻ ngoài nước nào đã để thiên hạ biết về vụ bắt cóc.

4- Trịnh Xuân Thanh Argentina Và Sự Can Dự Của CISEN

Ngày 28-10-1995, đặc vụ cơ quan tình báo Argentina SIDE đã băt cóc tên khủng bố Enrique Gorriarán Merlo, công dân Argentina, tại thị trấn Tepoztlán cách thủ đô Mexico 60 dặm, rồi đưa về Argentina bằng máy bay do chính SIDE thuê.

Merlo cáo buộc rằng an ninh Mexico đã còng tay mình rồi cho một người Argentina nhận diện. Sau đó, Merlo bị dẫn đến Sở Di Trú Mexico và bị các đặc vụ SIDE thẩm vấn ba lần. Ngay khi được hỏi có phải là Gorriarán Merlo không, Merlo lập tức xác nhận rồi lên tiếng xin tỵ nạn, do Mexico có cung cấp quy chế tỵ nạn cho bất kỳ người dân Nam Mỹ nào bị ngược đãi về chính trị. Một viên cảnh sát Mexiico trả lời rằng yêu cầu của Merlo được chào đón. Tuy nhiên, lúc sáng sớm thì các nhân viên công lực Mexico áp tải Merlo ra sân bay và tống Merlo lên chiếc máy bay của SIDE có mặt cũng các đặc vụ SIDE đã có mặt ở Tepoztlán cũng như lúc thẩm vấn Merlo.

Một vụ khác cũng do SIDE thực hiện là đối với một ả điếm người Iran tên Nasrim Mokhani, người bị tình nghi đã thực hiện vụ đánh bom Đại Sứ Quán Israel ở Argentina năm 1992, tòa nhà AMIA năm 1994. Mật vụ SIDE đã dụ được Nasrim từ Châu Âu quay về Argentina. Chiến dịch này tốn hết nửa triệu USD chi phí truy lùng ra Nasrim và mua thông tin từ các nguồn ở Cyprus, Pháp, Bỉ, và Thụy Sĩ. Chính tình báo Pháp đã cung cấp thông tin về nơi cư trú của Nasrim tại Paris.

Không biết bẫy đã giăng, Nasrim đáp máy bay Air France đến Montevideo ở Uruguay. Khi quá cảnh ở sân bay Buenos Aires của Argentina, Nasrim rời máy bay định bước qua khu vực chuyến bay chuyển tiếp đến Montevideo thì bị một đội đặc nhiệm chống khủng bố bắt giữ.

Ở một đất nước như Mexico mà Tổng Thống Mỹ Donald Trump buộc phải quyết tâm xây dựng bức tường biên giới – thật ra bức tường ấy đã và đang tồn tại nhưng kém hiệu quả dẫn đến việc thường xuyên xảy ra các vụ nhập cư trái phép và tuồn ma túy vào Mỹ từ bên kia biên giới Mexico – thì công luận không mấy quan tâm đến nội dung “bắt cóc” trên lảnh thổ Mexico đồng nghĩa với việc xâm hại chủ quyền lãnh thổ Mexico. Do đó, vụ Cơ Quan Điều Tra & An Ninh Nội Địa Mexico CISEN đã để cho đặc vụ SIDE của Argentina vào Mexoco “bắt cóc” – thật ra là “bắt giữ” với sự tiếp sức tích cực của an ninh Mexico – Merlo chỉ là sự “bắt tay” của hai cơ quan an ninh hai quốc gia có quan hệ hữu hảo với nhau. Không có sự việc Mexico trục xuất tùy viên an ninh Đại Sứ Quán Argentina và yêu cầu Argentina gởi tên khủng bố Merlo trở lại Mexico để Mexico xem xét ý nguyện xin tỵ nạn của y. Cũng không có việc CISEN của Mexico bị điêu đứng vì đã cho SIDE của Argentina vào Mexico tự do bắt người.

Còn trong vụ “bắt cóc” Nasrim thì thật ra là “bắt tại trận” một công dân Iran với sự giúp sức của cơ quan tình báo Pháp và vài nước khác, để mật báo nhất cử nhất động của Nasrim cho SIDE, giúp SIDE dụ được Nasrim rời Châu Âu. Không có việc Pháp trục xuất tùy viên an ninh Đại Sứ Quán Argentina và yêu cầu Argentina gởi trả Nasrim về Pháp để Pháp trả về Iran.

5- Trịnh Xuân Thanh Việt Nam Và Sự Chao Đảo Của Bundesnachrichtendienst

Trịnh Xuân Thanh là một tên tội phạm có lịnh truy nã toàn cầu, trong khi tất cả những “tên” ở trên từ Vanunu đến Abu Omar, Enrique Gorriarán Merlo, và ả điếm Nasrim Mokhani đều không có lịnh truy nã nào tương tự.

Việc bị cáo buộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh cho thấy những yếu điểm của cơ quan an ninh tình báo Việt Nam tức Tổng Cục 5 như sau:

a) Kịch bản tệ hại:

Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú tại một cơ quan an ninh Việt Nam tại Việt Nam là một kịch bản rất tệ hại vì không kèm theo các biện luận sắc sảo và chi tiết đủ sức trấn áp dư luận thế giới. Trịnh Xuân Thanh không bao giờ có thể tự về Việt Nam, không bao giờ có thể không bị an ninh Việt Nam bắt ngay tại cửa khẩu vì có lịnh truy nã toàn cầu, không bao giờ có thể tự do ra khỏi sân bay để đến cơ quan an ninh bên trong thành phố hay thủ đô để xin đầu thú.

b) Kịch bản chuyên nghiệp 1:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú nên đã đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại Đức xin được về Việt Nam. Đại Sứ Quán công khai loan báo tin và công khai làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh Đức bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà Đức là một thành viên của Interpol.

c) Kịch bản chuyên nghiệp 2:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú nhưng muốn giữ bí mật do sợ các nhóm chống Việt hoặc cản trở hoặc gây hại, hoặc ngại Đức sẽ cản trở do Trịnh Xuân Thanh đã lỡ nộp đơn xin tỵ nạn, nên đã tự ý sang một nước khác trong Khối Schengen và đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại nước đó để xin được về Việt Nam. Đại Sứ Quán công khai loan báo tin và công khai làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh nước ấy bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà nước ấy cũng là một thành viên của Interpol.

d) Kịch bản xuất sắc:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú và đã tìm đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại một nước thuộc khu vực Schengen. Đại Sứ Quán làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh nước ấy bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà nước ấy cũng là một thành viên của Interpol. Đại Sứ Quán không công bố tin tức đầu thú này. Đại Sứ Quán cử cán bộ tháp tùng Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam. Khi về đến sân bay Việt Nam, lúc tiến đến khu vực nhập cảnh, Trịnh Xuân Thanh nói lơn tiếng rằng “Tôi là Trịnh Xuân Thanh, xin về đầu thú về những tội đã phạm” để (a) hợp thức hóa việc đầu thú, (b) không bị an ninh bắt giữ tại sân bay do có lịnh truy nã toàn cầu, (c) được nhiều hành khách ghi nhận và quay clip để tự đưa lên mạng, và (d) cơ quan an ninh chính thức đưa Trịnh Xuân Thanh nhập cảnh vào Việt Nam bằng xe đến cơ quan điều tra theo quy định.

Đức tất nhiên phải có phản ứng vì tất nhiên phải có dư luận hoặc chê bai sự bất lực của cơ quan an ninh Đức BND tức Bundesnachrichtendienst để đặc vụ Việt Nam vào lãnh thổ Đức bắt người, hoặc cho rằng chính Bundesnachrichtendienst đã thỏa hiệp với Tổng Cục 5 để không những tắt tất cả hệ thống CCTV mà còn “vẽ đường cho hươu chạy” cũng như chỉ phản ứng sau khi nhận được tin của Việt Nam cho hay vụ bắt cóc thành công mỹ mãn đã đưa Trịnh Xuân Thanh về đến Việt Nam.

Nhưng dù cho dư luận thế giới có cho ra luận bàn nào với một trong hai khả năng trên thì cái Việt Nam cần làm là phải có một kịch bản (dựng nên không phải để đánh lừa Đức hay nước khác mà dựng lên để giúp Trịnh Xuân Thanh hoàn thành ý nguyện đầu thú một cách chu đáo nhất và yên bình nhất) thật tốt để Bundesnachrichtendienst không bị mang tiếng bất tài hoặc mang tiếng đã lén lút thỏa hiệp với ngoại bang.

D) Hành Động Của Việt Nam

1- Cải Tổ Tổng Cục 5

Tổng Cục 5 của Việt Nam cần quan tâm đến những nội dung sau:

a) Nâng cấp kỹ năng các đặc vụ trong xử lý nhanh gọn và trí tuệ cơ mưu quyền biến hoàn hảo đạt tầm cỡ Mossad.

b) Chính thức công nhận tên viết tắt TC5 được sử dụng trong đối ngoại quốc tế. Đây là cách mà Vương Quốc Anh đã sử dụng khi đặt tên cho các cơ quan MI5 và MI6 của họ.

c) Trường hợp muốn dùng các chữ viết tắt theo nội dung tiếng Anh như FBI và CIA của Mỹ, hoặc FSB, SVR, và GRU của Nga, thì Tổng Cục 5 có thể đặt tên cơ quan mình trong tiếng Anh là CIA (tức Cục Tình Báo Trung Ương An Nam – Central Intelligence of Annam). Cách đặt tên Annam tức tên gọi của Miền Trung Việt Nam, cũng tương tự như cơ quan cảnh sát Anh MPS còn được gọi là New Scotland Yard dù Scotland là tên chỉ của một phần lãnh thổ của Đại Anh trong Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan chứ không phải của cả nước.

d) Việc đặt tên chính thứ là TC5 hay CIA hoặc bất kỳ tên nào khác là để khẳng định uy danh, tầm cỡ của Tổng Cục Tình Báo Việt Nam, từ đó có các đầu tư dồi dào bài bản chính thức về nhân sự, tài chính, trang bị, v.v.

2- Cải Tổ Luật Pháp

Bài học từ sự lấn sân của Giáo Hội Công Giáo La Mã Vatican vào lĩnh vực chính trị đã tạo nên hai con quỷ dữ Adolf Hitler và Benito Mussolini, tàn diệt người Do Thái, đẩy nhân loại vào Thế Chiến, là sự cảnh báo cho Việt Nam trước những manh nha xách động giáo dân phá hoại hiện nay của các linh mục và giám mục Công Giáo La Mã ở Việt Nam.

Tự do tín ngưỡng hoàn toàn không dính dáng gì đến nội dung tu sĩ xách động gây rối an ninh trật tự công cộng và phản động. Không phân định rõ sự khác nhau này để áp dụng những biện pháp cảnh sát khác nhau (bảo vệ tự do tín ngưỡng của công dân và bảo vệ trật tự an ninh quốc gia) thì không phải là đã có cơ quan cảnh sát an ninh.

Sự cảnh báo ấy có thể không cần thiết đối với các quốc gia khác như Hoa Kỳ là nước có quy định pháp luật hà khắc (a) cho phép giáo hội không phải đóng thuế thu nhập, (b) nhưng cấm không được tham gia chính trị, và (c) tất cả các tu sĩ đều phải thực hiện yêu cầu của cảnh sát, nếu không sẽ bị trói lại giải đi giam.

Cuối cùng, tự do ngôn luận không có nghĩa là tự do phỉ báng chân lý và tự do tuyên truyền láo xược gây hại cho nhận thức của các công dân khác, chẳng hạn pháp luật phải được bổ sung để việc ca ngợi Ngô Đình Diệm hoặc ngợi ca cuộc đại thảm sát dân Do Thái Holocaust của Hitler phải được quy thành vi phạm luật pháp quốc gia.

Bai 2 12

Cải tổ luật pháp còn bao gồm việc bổ sung những đạo luật mới, chẳng hạn như Đạo Luật Báo Đáp Tương Đồng như được nêu lên ở Bài Số 3 được đăng ở kỳ sau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Pháp Việt-Nam (Quốc Hội Khóa XIII)

Tham khảo:

A) Cụm 3 Bài Về Trịnh Xuân Thanh:

Bài 1: Sự Hèn Hạ Của Truyền Thông Tư Bản : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/08/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh/

Bài 2: Đức Quốc Giật Mình Và Hành Động Của Chúng Ta: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/10/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh-bai-2/

Bài 3: Luật Báo Đáp Tương Đồng

B) Các Tư Liệu Của Hoàng Gia Việt Nam Về Giới Chính Khách Đức Quốc:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức – Em Gái Tôi Và Helmut Kohl & Tôi Và Sigurd Schmitt: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/

Tôi Và Philipp Röslerhttps://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/09/30/toi-va-philipp-rosler/

C) 57 bài viết của Nhà Lập Pháp Hoàng Hữu Phước về Lập Pháp:

Các phần A (Luật Biểu Tình: 6 bài), Q (Luât Pháp: 20 bài viết), và R (Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội: 31 bài viết) tại: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/06/19/tong-cac-bai-viet-tren-blog-nay-tinh-den-ngay-19-6-2017-theo-32-nhom-chu-de/

30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-4-2017

HHP QH 2

Việt Nam: Đất Nước Kinh Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa  09-4-2006

 

Vietnam: My Beloved Nation, The Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 09-4-2006

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-4-2017

Lõa Lồ_Bài 2 1

Mỗi khi nói về “truyền thông chính thống”, tác giả bài viết này cho thấy dường như ông có sự thôi thúc nhất thiết phải hoặc nhắc đi nhắc lại hoặc nêu rõ thêm hoặc cập nhật nội hàm mới cho ngành Việt báo sử tức lịch sử báo chí Việt Nam những sự thật lịch sử của ngữ nghĩa mà tiếc thay ngay cả các khoa báo chí ở các trường đại học cũng không hề biết đến để bị trang cho các sản phẩm mang danh “nhà báo” tốt nghiệp của mình.

Do Donald Trump đã làm cho thế giới truyền thông chính thống Mỹ lõa lồ, bài viết này sẽ nói về truyền thông chính thống của Mỹ – và tất nhiên là của Phương Tây nói chung – trong Thời Đại Trump tức The Trump Era, với các điểm được nhắc lại/bổ sung khái quát về thời kỳ Tiền Trump như sau:

A- Truyền Thông Chính Thống Mỹ Thời Tiền Trump

Báo chí truyền thông chính thống Mỹ thời Tiền Trump luôn được mặc định bất thành văn một cách nghiêm khắc mang tính xác quyết bất di dịch là công cụ chuyên dụng độc quyền của nhà nước, phục vụ riêng chỉ cho nhà nước, với năm mặc định đặc thù sau mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng được bằng thực tế từ chính báo chí truyền thông chính thống Mỹ:

1) Không bao giờ chỉ trích công kích tổng thống – dù đương nhiệm hay tiền nhiệm – vì tất cả các tổng thống đều là giới tinh hoa chính trị của hai “đảng sinh đôi” và đều phục vụ giới tài phiệt chung và duy nhất của nước nhà ;

2) Không bao giờ chỉ trích bất kỳ chính sách đối ngoại nào của chính phủ vì tất cả các chính sách đối ngoại đều đã được giới tài phiệt nước nhà thông qua;

3) Không bao giờ chỉ trích bất kỳ chính sách nội trị nào của nhà nước vì tất cả các chính sách nội trị đều phục vụ quyền lợi giới tài phiệt nước nhà;

4) Không bao giờ xúc phạm Giáo Chủ Đạo Chúa là Jesus Christ;

5) Phải chứng tỏ báo chí truyền thông nước nhà đúng là chuẫn mực của tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, và giương cao ngọn cờ quyền tiếp cận thông tin bằng 5 cách sau:

a-  tích cực công kích nước khác về mọi mặt, dù đó là nước thù địch hay nước đồng minh, vì đó là nghĩa vụ phải ủng hộ mạnh mẽ tuyệt đối tất cả các chính sách đối ngoại của chính phủ nước mình, và đó đồng thời cũng là thủ thuật chứng minh hùng hồn bản thân báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt không khiếp sợ hay né tránh bất kỳ ai…ở nước khác;

b-  tập trung đưa tin và viết bài về các nước khác, dù đó là nước thù địch hay nước đồng minh, vì đây là biện pháp hữu hiệu nhất để chứng minh rằng báo chí luôn  thực sự thực thi sứ mệnh thiêng liêng cung cấp thông tin một cách trung thực nhanh chóng chính xác cho người dân nước mình biết rõ nhiều hơn về …nước khác;

c-  tích cực công kích Hồi Giáo để chứng minh hùng hồn bản thân báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt: không hề chùn bước trước các “thế lực thần quyền”;

d-  tích cực vẽ tranh biếm họa tổng thống nước mình để chứng minh hùng hồn bản thân nền báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt, nhằm khoe khoang đạo đức Khổng Mạnh duy nhất phát triển tại Hoa Kỳ, rằng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là dân trên hết, kế đến là đất nước, và hạng bét là tổng thống;

e-  tích cực phát triển các mảng báo lá cải để chứng minh có đáp ứng quyền của công chúng trong tiếp cận thông tin về… đời tư cùng scandal của các celebrity, cũng như mảng báo ảnh khiêu dâm để chứng minh sức mạnh của báo chí: cái gì cũng có thể được lột trần bởi báo chí, từ sự thật trần truồng các tiêu cực của các chính phủ nước khác đến sự thật trần truồng các xen-ti-mét-vuông thân thể các người mẫu nữ, người mẫu nam của nước mình.

B- Truyền Thông Chính Thống Mỹ Thời Donald Trump

Từ những khái quát trên về truyền thông chính thống Mỹ, những thay đổi sau đã diễn ra ngay khi truyền thông chính thống Mỹ nhận ra một cách trễ tràng về khả năng chiến thắng áp đảo một ngàn tỷ phần trăm (1.000.000.000.000%) của ứng viên tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, cho thấy những vết sẹo trên thân thể trần truồng của báo chí Mỹ như sau:

1) Sự Thiên Vị và Sự Giả Trá:

Hàng thế kỷ qua, truyền thông chính thống Mỹ – từ đoạn này gọi tắt là “Báo Mỹ” – đã có được danh trấn thiên hạ dưới lớp phấn son mang tên “trung lập công bằng” với thực tế không bao giờ công khai theo một bên nào trong hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa trong thời gian vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, dù những bậc đại trí trên thế gian – trừ người Mỹ – đều biết quá rõ và quá đủ 5 lý do cho sự “trung lập công bằng” ấy gồm (a) cả hai đảng là một, (b) cả hai đảng đều phục vụ cho một quyền lực tài phiệt thống nhất, (c) sự tồn tại của hai đảng là để tạo vỏ bọc rằng Mỹ có tự do chính trị, (d) thể chế chính trị cùng quyền lực chính trị Hoa Kỳ được bảo toàn nhất thống trọn vẹn do “đảng thứ nhì” sẽ chiếm ngôi tổng thống nếu “đảng thứ nhất” thất bại dưới mắt người dân đối với các chương trình hoạt động trong nhiệm kỳ của họ – mà các phân khoa báo chí ở các đại học Việt Nam gọi tiếng Việt sai là “chương trình nghị sự”, và (e) chỉ có sự thay đổi nhân vật đóng vai/ngự ngôi tổng thống đến từ “đảng này” chứ hoàn toàn không có sự “tát cạn đầm lầy” đối với các “chương trình nghị sự” của nhân vật đóng vai/ngự ngôi tổng thống tiền nhiệm đến từ “đảng nọ”.

Khi chiến lược gia hạng thứ dân Donald Trump thẩm định tình hình đã khôn ngoan nhảy từ Đảng Dân Chủ sang Đảng Cộng Hòa nhằm việc ra tranh cử chức tổng thống Mỹ sẽ dễ chiến thắng tuyệt đối hơn, Báo Mỹ tự tin để yên cho phe lá cải làm phần việc đã được phân công: bươi móc hoặc sáng tạo các nhem nhuốc cá nhân của Donald Trump nhằm ngầm hỗ trợ 16 ứng cử viên tinh hoa chính trị thực thụ của Đảng Cộng Hòa (trong đó nổi bật nhất là các Thượng Nghị Sĩ hoặc Thống Đốc như Ted Cruz, Marco Rubio, Ben Carson, Chris Christie, và Scott Walker), để  những “tinh hoa chính trị” này rảnh chân nhảy núa hoan ca trên sân khấu chính trị Mỹ vầy đoàn cùng 16 ứng cử viên “tinh hoa chính trị” Đảng Dân Chủ (trong đó nổi bật nhất là các Thượng Nghị Sĩ hoặc Thống Đốc Hillary Clinton, Martin O’Malley, Bernie Sanders, John Wolfe Jr., Lincoln Chafee, và Jim Webb) đang khiêu vũ chính trị trước mắt người dân.

Và khi chiến lược gia hạng thứ dân Donald Trump lần lượt đánh bại tất cả các ứng cử viên “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa tại các vòng bầu cử sơ bộ, trở thành ứng cử viên chính thức duy nhất của Đảng Cộng Hòa, Báo Mỹ đã rúng động, chấn động, dao động. Trong cơn hoảng loạn, nhiều nhân vật “tinh hoa chính trị” Đảng Cộng Hòa lúng túng phản ứng bằng cách tấn công kẻ thứ dân Donald Trump dù cùng “đảng”, tuyên bố ủng hộ Hillary Clinton của đảng “đối thủ”, khiến tự lột mặt nạ lừa bịp thế gian, cho thấy hóa ra thiên hạ Tây Âu đã chính xác khi nhạo báng gọi Dân Chủ và Cộng Hòa của Mỹ là “đảng sinh đôi” giống nhau như đúc. Cũng trong cơn hoảng loạn ấy, Báo Mỹ đã

a- Vội vã vất bỏ chiếc áo “trung lập”, chấm dứt “công bằng”, phỉ nhổ “công tâm”, bằng cách công khai lên tiếng ủng hộ Hillary Clinton

Lõa Lồ_Bài 2 2

b- Vội vã vất bỏ “danh dự vì sự thật” để sáng tạo tin giả bôi nhọ tấn công Donald Trump.

c- Vội vã hy sinh “uy tín” để sáng tạo tin giả FAKE NEWS về các kết quả điều tra dư luận dồn dập với kết quả tỷ lệ ủng hộ Hillary Clinton cực cao trong thời gian tranh cử, cực cao trong thời gian thất cử, và cực cao cho kỳ tranh cử 2020.

d- Vội vã từ bỏ tư cách chính thống tự biến mình thành “lá cải” để hỗ trợ đoàn quân “lá cải” trong tạo ra các thông tin bôi nhọ tư cách bậc trưởng thượng tu thân tề gia xuất sắc nhất thế giới của Donald Trump.

e- Báo Mỹ đã trở thành chiến trường tàn khốc, từ một khối gắn kết đồng nhất kết đoàn thống chế thông tin toàn nhân loại để khống chế tư duy con người, Báo Mỹ đã qua việc chống Trump hình thành hai thế lực đối chọi nhau không phải giữa hai bên Chống TrumpTheo Trump mà là giữa phe ĐÃ BỊ TRUMP BAN NGHỆ DANH FAKE NEWS và phe KHÔNG MUỐN BỊ TRUMP BAN CHO NGHỆ DANH KHÔNG VẺ VANG ẤY. Hiện cả hai phe đều có thuận lợi về gia tăng doanh số bán báo, với bên thứ nhất thu lợi từ rối loạn xã hội do chính họ gây ra, còn bên thứ hai độc quyền dự tham các buổi họp của Trump để đưa tin phát hình, phỏng vấn Trump cùng các cận thần ngự trị Tòa Bạch Ốc, mà ngôi sao sáng nhất hiện là Fox News của tỷ phú truyền thông khôn ngoan Rupert Murdoch. Cũng nhờ sự đối chọi này mà thiên hạ thấy phe thứ nhất theo trường phái sáng tạo cố gắng tấn công Trump cùng đội ngũ nhân tài kiệt xuất của ông, trong khi phe thứ hai theo trường phái bóc tách lột truồng các thâm cung bí sử cố gắng chứng minh phe thứ nhất luôn sai và tập trung tấn công Hillary Clinton cùng những thế lực chống Trump, tất cả khiến thông tin trở nên đầy ắp:

chẳng hạn Fox News cho ra số liệu rằng các tổng thống ba trào liên tiếp (mỗi người đều trị vì 8 năm) là Bill Clinton đã trục xuất 869.646 dân nhập cư trái phép, George W. Bush đuổi hết 2.012.539 người, còn Barack Obama đã tống cổ đến 3.094.208 dân nhập cư ra khỏi Hoa Kỳ – trong khi Donald Trump chưa trục xuất ai và sắc lịnh của ông tuy chỉ là “tạm thời” ngưng cho nhập cảnh trong vài tháng những dân nhập cư đến từ 7 trong số hơn 50 quốc gia theo Hồi Giáo nhằm có những thủ tục hiệu quả thiết thực hơn thì bị Báo Mỹ kích lên thành chống lại Đạo Hồi và chống tự do tín ngưỡng

Lõa Lồ_Bài 2 3

f- Từ ô danh đến lưu xú vạn niên: Ngay sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử, chủ nhân Arthur Sulzberger của tờ báo The New York Times vĩ đại lừng danh đã phải muối mặt van xin sự tha thứ của độc giả vào tháng 12-2016, hứa rằng “we aim to rededicate ourselves to the fundamental mision of Times journalism. That is to report America and the world honestly, without fear or favor…” (mục đích của chúng tôi là tái tục hiến thân cho sứ mệnh cơ bản của báo Times, đó là: cung cấp thông tin cho Nước Mỹ và thế giới một cách lương thiện, không khiếp sợ, và chẳng hề thiên vị…). Chỉ có người nước khác hoặc do dốt tiếng Anh hoặc vì bị báo chí nước mình giảo quyệt bất lương đưa tin giả mới không biết rằng cái tờ Nữu Ước Thời Báo lừng danh của cái gã thế gia vọng tộc Arthur Sulzberger ấy từ cái tháng 12 năm 2016 ấy cho đến nay ngày nào cũng ra rả tấn công Donald Trump, không bao giờ đăng bất kỳ thông tin nào về các tốt đẹp mà Donald Trump sẵn có, đang có nhiều thêm, và đang được dành cho từ nhân dân Mỹ, từ ngoài thực tế mà báo chí vẫn buộc phải tải đăng:

Lõa Lồ_Bài 2 4

cho đến thơ ca trên không gian mạng truyền thông chẳng hạn bài thơ “tiên đoán”

Lõa Lồ_Bài 2 5

 

lời kêu gọi

Lõa Lồ_Bài 2 6

hoặc có sự xuất hiện của kiểu BM báo mới để tự tách bạch mình ra khỏi BM Báo Mỹ, cái đã bị Donald Trump ban cho tên húy là FAKE NEWS. Báo chí mới này tất nhiên phải chứng tỏ mình “trung lập” bằng cách tạo nên sự “công bằng” khi tập trung…ủng hộ Donald Trump, thậm chí có đơn vị còn nhái tên cái đài CNN chống phá Trump để lập thành CNM ủng hộ Trump với sự sáng tạo ra chữ NEWZ để thay cho chữ NEWS (Tin Tức) mà Donald Trump đã lỡ gán cho FAKE NEWS (Tin Tức Xạo) để nhân loại dùng gọi truyền thông chính thống Mỹ từ nay cho đến ngày tận thế.

 

Sự thiên vị của Báo Mỹ đã khiến Báo Mỹ phải trả giá, và đó là một giá quá đắt:

Trước sự tự lột lõa lồ của tuyệt đại đa số Báo Mỹ, trong đó có các cái tên quen thuộc như New York Times, CNN, và Washington Post, v.v., Donald Trump đã bắt chước các vị đế vương Việt Nam khi ban cho các Báo Mỹ ấy một cái tên hoàng tộc mới là Fake News tức Báo Xạo, mà đã là do “vua ban” thì tên ấy sẽ gắn suốt đời với đối tượng được “ban tên”

Lõa Lồ_Bài 2 7

Điều này tự động có ý nghĩa rằng: bất kỳ báo nào trên thế gian này tải đăng lại hoặc lấy tin từ các báo Mỹ mang tên húy của hoàng tộc FAKE NEWS mà không để nhạo báng chúng thì sẽ trở thành cùng một giuộc với FAKE NEWS. Điều này không hề nêu rằng báo Việt Nam là ngoại lệ.

Donald Trump đã không sai, vì những gì “tiên đoán” về sự hung hãn lưu manh của người dân ủng hộ Trump sẽ bùng nổ ra sao khi Hillary đắc cử tổng thống qua nội dung số ra ngày 28-10-2016 của The Week, tạp chí có câu khẩu hiệu dữ dội rằng mình là “truyền thông tốt nhất Hoa Kỳ và thế giới

Lõa Lồ_Bài 2 8

hóa ra lại là một thứ FAKE NEWS, vì rằng cho đến nay tuyệt đại đa số những người bỏ phiếu cho Donald Trump thuộc lớp người ôn hòa, lịch sự, ít nói, đến độ sau này Báo Mỹ buộc phải thừa nhận rằng Donald Trump chiến thắng nhờ những người thầm lặng lẳng lặng đi bỏ phiếu và không thích trả lời phỏng vấn hoặc nếu có tham gia trả lời các cuộc lấy ý kiến của Báo Mỹ thì cũng che dấu sự ủng hộ Donald Trump, trong khi thực tế bằng hình chụp sau lại chỉ chứng minh sự lưu manh hung hãn cực đoan đến cùng cực của những kẻ ủng hộ Hillary Clinton vào ngày Lễ Nhậm Chức của Donald Trump:

Lõa Lồ_Bài 2 9Lõa Lồ_Bài 2 10Lõa Lồ_Bài 2 11Lõa Lồ_Bài 2 12

Sự lỡ dại tự lõa lồ của Báo Mỹ khiến người dân Mỹ từ nay dấy lên phong trào kể tội Báo Mỹ, nói xấu Báo Mỹ, làm Báo Mỹ chẳng còn chút thể diện gì với báo chí chính thống nói chung của toàn thế giới:

Lõa Lồ_Bài 2 13

Sự thiên vị lõa lồ còn làm Báo Mỹ– và Đảng Dân Chủ – càng lún sâu hơn vào vũng lầy nhân sự tức không còn gương mặt nào sáng giá, khi buộc phải biến ả con gái này của mụ Hillary Clinton qua công cụ chỉnh sửa điểm trang để trở thành nữ thánh, và mọi phát ngôn của cô ta dù ngô nghê xuẩn ngốc đến đâu cũng được Báo Mỹ ngợi ca, khẳng định cô sẽ cùng mẹ là những ứng cử viên Tổng Thống Mỹ chói sáng của Đảng Dân Chủ năm 2020:

Lõa Lồ_Bài 2 14

2) Sự Mất Dạy:

Sự mất dạy của Báo Mỹ đã có từ lâu, rất lâu, và chỉ  xuất hiện khi báo chí thất bại cực kỳ thảm hại. Kinh nghiệm dành cho nhân loại là: khi thấy Báo Mỹ tập trung công kích ai thì chỉ có nghĩa duy nhất rằng người đó đã đạp chà Báo Mỹ xuống bùn nhơ vạn đại.

a- Do “bất ngờ” trước sự chiến thắng của người đàn ông gày gò khắc khổ tỉnh lẻ này

Lõa Lồ_Bài 2 15

Tờ New York Herald điên tiết thẳng thừng sử dụng quyền năng “báo chí” để công khai miệt thị ông là “thằng chính trị gia miệt vườn bẩn thỉu” dù ông xuất thân luật sư theo đúng bài bản bất thành văn của giới tinh hoa chính trị Mỹ. Hòa âm điền dã cùng New York Herald còn có các tờ báo lớn như Atlas & Argus, Boston Post, Philadelphia Evening, Atlantic, v.v., kẻ miệt thị ông là luật sư thất học dân dã, đứa thở than các cường quốc Châu Âu sẽ nhạo báng nước Mỹ vì Mỹ đã không có thứ chất liệu nào tốt hơn để nặn ra một thằng tổng thống (“The European powers will despise us because we have no better material out of which to make a President”), gọi ông là thứ tởm lợm, và “dự đoán” thiên hạ sẽ không để yên cho một gã như thế làm lãnh đạo quốc gia. Sự miệt thị ấy là do Báo Mỹ đã “thiên vị” nên công khai chống lại ông, người đã dám chiến thắng trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc Phân Tranh, dám thống nhất đất nước Hoa Kỳ, dám ban hành Tu Chính Án Thứ 13 vĩnh viễn giải phóng nô lệ, dám chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ, và dám đặt nền móng vững bền cho đất nước Hoa Kỳ cường thịnh trở lại Make America Great Again. Lời “tiên đoán” trở thành một thứ kích động, một bản án đã tuyên, và một mệnh lệnh, khi vị tổng thống Abraham Lincoln gầy gò khắc khổ ấy gục ngã ttrước họng súng của John Wilkes Booth, kẻ mà theo truyền thống kỳ lạ kiểu Mỹ “không bao giờ bắt sống được bất kỳ sát thủ tổng thống Hoa Kỳ nào” đã bị một binh sĩ nào đó tên Boston Corbett tiêu diệt 12 ngày sau đó.

b- Do “bất ngờ” trước sự chiến thắng của người đàn ông mập mạp sang trọng đẳng cấp thế giới này

Lõa Lồ_Bài 2 16

Báo Mỹ đã điên tiết tự lột trần tấm thân mất dạy của nó khi bỏ lối vẽ biếm họa vô thưởng vô phạt các tổng thống trước đó để quay sang vẽ biếm họa lăng nhục Donald Trump, chẳng hạn vẽ Donald Trump là con chó của Bannon chứ không phải Bannon là bậc kỳ tài của Trump,

Lõa Lồ_Bài 2 17

hoặc Donald Trump là thú cưng của Tổng Thống Nga Putin

Lõa Lồ_Bài 2 18

hay là con rối dưới sự điều khiển giật dây của Putin

Lõa Lồ_Bài 2 19

hoặc ảnh “nữ hoàng” Hillary Clinton dưới sự mách nước của cố vấn Bill Clinton đã vung gươm hớn hở chặt rơi đầu Donald Trump

Lõa Lồ_Bài 2 20

Sự điên loạn ấy còn quá quắt khi Báo Mỹ dành không gian cho bất kỳ ý kiến nào của bất kỳ ai kêu gọi quân đội Mỹ hãy vùng lên đảo chánh tiêu diệt Donald Trump, mà mụ hề Sarah Silverman là điển hình mà tờ Nữu Ước Thời Báo lập tức tôn vinh thành “hơi thở mới trong lành tuyệt hảo” (của tự do ngôn luận).

Những sự mất dạy nêu trên đã khơi mào cho sự phản công của những người dân  ủng hộ Trump, dẫn đến sự thể trần truồng là các vị tai to mặt lớn của Đảng Dân Chủ bị họ áp dụng cùng chiêu thức của phe chống Trump để lột trần luôn các vị này, vĩnh viễn chấm dứt mấy thế kỷ dài giới tinh hoa chính trị luôn là hình mẫu lý tưởng bất khả xúc xiểm trong con mắt người dân Mỹ

Lõa Lồ_Bài 2 21Lõa Lồ_Bài 2 22

c- Đó là về tranh biếm họa. Còn về ngôn từ thì thí dụ như tờ Guardian danh tiếng đã gọi Donald Trump là “ Thú Vật

 Lõa Lồ_Bài 2 23

d- Tuy nhiên, từ các xúc xiểm vô văn hóa dành cho cá nhân Donald Trump, sự cực đoan của Báo Mỹ còn tác động đến cách hành xử vô đạo đức của giới tinh hoa chính trị Đảng Dân Chủ, khiến người dân Mỹ phẫn nộ. Khi Donald Trump có bài phát biểu đầu tiên tại Quốc Hội, tài hùng biện tuyệt hảo của Ông đã tạo xúc cảm đầy ấn tượng với cử tọa, quan khách, và người dân theo dõi qua truyền hình. Khi Ông ngợi ca một quả phụ của một viên sĩ quan lực lượng SEAL Hải Quân hy sinh trên chiến trường Trung Đông, lời vinh danh của Ông đã làm người quả phụ ấy xúc động rơi nước mắt, còn cả nghị trường đứng dậy vỗ tay kéo dài kỷ lục, dài nhất lịch sử nghị trường Hoa Kỳ

Lõa Lồ_Bài 2 24

Nhưng truyền hình và những phóng viên của vài tờ báo không thuộc loại FAKE NEWS (chống Trump) đã tải đi hình ảnh các nghị sĩ lãnh đạo Đảng Dân Chủ ngồi yên dững dưng. không tham gia vỗ tay hay đứng lên tỏ lòng tôn kính anh linh cùng gia quyến người đã khuất

Lõa Lồ_Bài 2 25

khiến chiến binh Tim Kennedy giận dữ tweet rằng “Chúng mày hãy coi chừng! Nếu tao tử trận và vợ tao tham dự buổi phát biểu của tổng thống mà đứa nào không đứng dậy kính lễ vợ tao thì các chiến hữu của tao sẽ chôn từng đứa một.”

Lõa Lồ_Bài 2 26

e- Sự mất dạy lên đến cao trào khi Báo Mỹ biến thành mọi rợ tấn công Barron Trump, con trai út của Donald Trump, dù cậu là một thiếu niên, mà trong xã hội văn minh hiện đại chính thống của nhân loại thì nhi đồng, thiếu nhi, thiếu niên, và vị thành niên luôn được thực sự ưu tiên ưu ái, chăm sóc, và bảo vệ của toàn xã hội, huống hồ giới tinh hoa truyền thông chính thống lẽ ra đã luôn là nơi phát xuất cụ thể các ưu tiên ưu ái, chăm sóc, và bảo vệ ấy

Lõa Lồ_Bài 2 27

Thậm chí Báo Mỹ cũng vất bỏ luôn chiếc mặt nạ nhân quyền, nữ quyền, và quyền tự do làm những công việc nhà nước không cấm, để đăng những bức ảnh của người mẫu Melania Knauss trước khi cô trở thành Melania Trump với dụng ý công kích Bà xuất thân hèn hạ không có tư cách làm Đệ Nhất Phu Nhân bất kể sự thật rằng ngay cả đối với toàn thế giới tinh hoa trí thức Á Đông thì Bà ắt ở vị trí cao trọng hiếm có vì (a) Bà có cốt cách vượng phu ích tử, (b) Bà là mẫu mực của một nội tướng đảm bảo sự hòa thuận của một đại gia đình có những đứa con đại gia tài chính thuộc những bà mẹ khác nhau trước đó nhưng đều dành cho Bà sự nễ trọng, (c) Bà là mẫu mực của một bà mẹ tập trung chăm sóc con vốn không là việc có thể dễ dàng thấy được nơi phụ nữ Âu Mỹ trừ phi trong giai đoạn phụ sản, và (d) Bà được người đàn ông tuyệt đối xem trọng đạo đức gia phong và đạo đức cá nhân như Trump đánh giá cao và quý trọng.

Lõa Lồ_Bài 2 28

Cô Melania Knavs do có năng lực xuất sắc extraordinary ability của một người mẫu nên được Mỹ thuận cấp thẻ xanh, trở thành thường trú nhân hợp pháp ở Hoa Kỳ năm 2001 và trở thành công dân Mỹ năm 2006 sau khi trở thành Melania Trump. Cô có ở trần mặc bikini chụp hình cho tạp chí thời trang thể thao thì đó là công việc chuyên nghiệp hợp pháp của cô để cô làm đẹp cho những trang báo của các tạp chí thời trang cao cấp ấy

Lõa Lồ_Bài 2 29

Báo Mỹ mà ở truồng mới là chuyện suy đồi đạo đức, chuyện phạm pháp, chuyện không chuyên nghiệp, và không hề làm đẹp cho những trang báo ngay cả của chính họ.

3- Báo Mỹ Kết Liễu Hiến Pháp Mỹ:

Hiến Pháp Mỹ được duy trì nhiều trăm năm nay với rất ít những sửa đổi, nên từ ngữ “kết liễu” mang âm vang một điều không tưởng.

Tuy nhiên, những điều tưởng chừng như bất biến, bất khả xâm phạm, bất di bất dịch, lại bị dọa đe nghiêm trọng từ hệ quả của việc Báo Mỹ chống Donald Trump. Những đe dọa ấy đang làm lung lay nền tảng của các phạm trù hiến pháp, luật pháp, dân chủ và chính trị Hoa Kỳ mà sự lõa lồ đã bày phơi lồ lộ.

Những gì là khuôn khổ cho một thực tế thực hành tốt nhất – dù không giống ai – cho việc bầu cử tổng thống trên cơ sở đạt tối thiểu 270 phiếu đại cử tri đã bị chao đảo, bị thách đố, bị đặt nghi vấn về tính hiệu quả, bị dèm xiểm về giá trị của kết quả, bị phủ nhận bởi thiểu số – tức phe thất cử theo luật định, là nguyên cớ cho các bạo loạn bùng phát khắp nước Mỹ ngay sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử đúng theo luật định và hiến pháp, và thậm chí là nội dung để thế giới “dân chủ” Phương Tây xúc xiểm công khai.

Nền dân chủ Mỹ và nền chính trị Mỹ đã như sự xô ngã dưới hiệu ứng domino từ sự rung lắc của nền tảng hiến pháp tạo nên những hố tử thần ở nơi đầy tự hào mang tên Nền Dân Chủ Mỹ cùng quy trình chính trị của nó.

Nền dân chủ Mỹ sụp lún vì thiểu số (thất cử) không còn phục tùng đa số (thắng cử), tự cho mình có quyền công khai phát biểu với giọng điệu phản dân chủ “Ông Không Là Tổng Thống Của Tôi”, được Báo Mỹ cổ súy, ủng hộ, kích động. Một cách quái đản, tự do ngôn luận thường bị áp chế bởi chính quyền các câp các nơi các nước thì nay ở Mỹ lại trở thành thứ bị tấn công bởi phe thiểu số (thất cử)

Nền chính trị Mỹ sụp lún vì đảng thất cử tiến từ quy trình bình thường (thỉnh thoảng không bỏ phiếu thông qua một dự luật nào đó của đảng thắng cử) sang quy trình phản động (công khai tuyên bố sẽ phá hỏng toàn bộ chương trình nghị sự của tổng thống và đảng thắng cử), được Báo Mỹ cổ súy, ủng hộ, kích động.

Hiến Pháp Mỹ không thể bị kết liễu, tất nhiên rồi. Nhưng chính nền dân chủ Mỹ bị đão chiều vì sự phản động của truyền thông chính thống FAKE NEWS và nền chính trị Mỹ tự hủy với sự phá tung giềng mối của giới tinh hoa chính trị Đảng Dân Chủ phản động, đã khiến Hiến Pháp Mỹ chỉ còn là quyển sách hoàn toàn vô dụng ngay cả không được dùng để tổng thống đắc cử đặt tay lên ấy mà tuyên thệ nhậm chức.

Có thể nói, do đó, sự kết liễu này mang tính thực chất và phi hình thức.

4- Báo Mỹ Kết Liễu Quyền Lực An Ninh Mỹ:

Báo Mỹ với sự tích cực điên cuồng chống Donald Trump đã làm các cơ quan quyền lực an ninh Mỹ “độc lập” như Trung Ương Cục Tình Báo CIA, Cục An Ninh Quốc Gia NSA và Cục Điều Tra Liên Bang FBI bị thách thức thách đố quyền lực và gần như bị kết liễu do phơi bày những hoạt động vi hiến; trong khi đó lại có sự vươn lên đối trọng của Bộ An Ninh Nội Địa DHS cùng cơ quan Thuế Quan Và Bảo Vệ Biên Cương CBP luôn tích cực thực thi các lịnh của Donald Trump.

Cụ thể, Nữu Ước Thời Báo số ra ngày 20-01-2017 đăng bài chủ lực rằng các cơ quan thực thi pháp luật và tình báo đang nghiên cứu các tài liệu thu thập về các cuộc nói chuyện cùng các giao dịch tiền bạc như một phần của cuộc điều tra rộng lớn hơn về những liên kết có thể có giữa các quan chức Nga và các đồng sự của Tổng thống đắc cử Donald J. Trump (“American law enforcement and intelligence agencies are examining intercepted communications and financial transactions as part of a broad investigation into possible links between Russian officials and associates of President-elect Donald J. Trump”). Việc “thu thập” tức nghe lén này tự động lột mặt nạ vi hiến của các cơ quan tình báo, tạo thời cơ cho Donald Trump cáo buộc Barack Obama đã cho nghe lén đội ngũ cố vấn của Donald Trump trong thời gian tranh cử. Sự phẫn nộ của dân chúng Mỹ sôi động trên không gian mạng giễu cợt các cơ quan tình báo Mỹ khiến các cơ quan này tổn hại danh tiếng và phương hại đến uy tín đối với các quốc gia đồng minh Tây Âu, chưa kể còn gánh lấy tai tiếng bất lực do đã không chặn ngăn được sự nhúng mũi của Nga vào cuộc bầu cử Mỹ – nếu quả thực đã có sự việc nhúng mũi ấy.

5- Báo Mỹ Kết Liễu Sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ Mỹ:

Báo Mỹ đã đẩy sự phản ứng của phe thất cử lên đến cực đoan khi tại vài tiểu bang đã có râm ran những ý kiến phản loạn của (a) tách ra khỏi liên bang để hình thành các quốc gia khác, (b) bất tuân việc xóa bỏ các khu vực chứa chấp người nhập cư bất hợp pháp trong tiểu bang, (c) kêu gọi bỏ Mỹ kéo sang các nước khác, và (d) tuyên bố cản phá tất cả các kế sách trị quốc của Donald Trump.

Từ nay, với thói quen mới được hình thành trong cách biểu đạt mới, láo xược, cực đoan, địa phương chủ nghĩa, vị kỷ, sản sinh từ sự làm loạn của Báo Mỹ do chính Báo Mỹ tạo ra tiền lệ, người dân Mỹ sẽ trở nên dữ dội, chống đối bất kính bằng bạo lực các tổng thống Mỹ sau Donald Trump dù thuộc bất kỳ đảng nào, tạo nên tinh trạng  cát cứ sứ quân, xé toang lãnh thổ Hoa Kỳ từ bên trong.

C- Phương Tây Trần Trụi

Nhà ái quốc Donald Trump cũng làm cho truyền thông chính thống Phương Tây lõa lồ mà các nội dung trần trụi sau là nổi bật nhất từ tác động của FAKE NEWS Phương Tây:

1) Giới tinh hoa chính trị tỏ rõ sự bấn loạn trước tình thế vị thế độc tôn nay bị dọa đe bởi sự vùng lên một cách phi truyền thống của lực lượng dân túy từ gương sáng của Donald Trump nên thi nhau tuyên bố chống Donald Trump, không biết rằng chống Donald Trump đồng nghĩa với chống đa số nhân dân Mỹ vì Donald Trump đắc cử theo kết quả đa số, chống Donald Trump cũng đồng nghĩa với chống nền dân chủ Mỹ, và chống Donald Trump tất nhiên đồng nghĩa với việc răn đe sẽ chống lực lượng dân túy tại nước mình.

2) Điểm trên bộc lộ sự trá hình của thể chế dân chủ, sự trá ngụy của tự do ngôn luận.

3) Câc quốc gia đều đã sống bám vào sự bảo vệ quân sự của Hoa Kỳ kể từ kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến.

4) Điểm trên bộc lộ một tin mừng cho ISIS (không phải cho Nga dù Nga không thể không vui mừng) rằng các quốc gia trên không có tiềm lực quốc phòng, dễ bị đánh chiếm và xóa sổ.

5) Điểm trên cũng đồng thời cho thấy bản chất của cường quốc Âu Tây thật ra là sự nhục nhã không những ở chỗ lệ thuộc vào sự bảo vệ của Mỹ mà còn ở vấn nạn rằng để được Mỹ tiếp tục bảo vệ thì họ vừa phải chịu lụy trước Mỹ, vừa phải luôn tạo sự căng thẳng với Nga như thể chịu đựng mối đe dọa xâm lược từ Nga, và vừa phải gây rối ở Trung Đông, cố tình để Tây Âu ngập ngụa trong vấn nạn dân tỵ nạn Trung Đông và chấp nhận để dân mình thành nạn nhân bị khủng bố sát hại, ngõ hầu Mỹ không thể không tiếp tục đùm bọc EU.

Quả Donald Trump đã làm giới truyền thông tư bổn lõa lồ.

D-Ý Kiến Tự Toát Của Một Người Việt

Nội dung của phần III này thuộc loại self-explanatory tức “tự toát lên nội dung” tức “xem là hiểu mà không cần lập luận” tức “hòa âm lõa lồ” tức “tự do hiều sao thì hiểu” tức “nhiều lắm cũng chỉ có phần dịch thuật mà thôi”:

Lõa Lồ_Bài 2 30

Ghi chú:

29-3-2017: Nữu Ước Thời Báo quảng cáo trên Twitter: Nữu Ước Thời Báo được dựng xây trên cơ sở những kiến thức khác lạ, được viết phục vụ những ai có thắc mắc và dám luôn rộng mở trí hóa thoáng hoạt. Hãy đăng ký mua ngay hôm nay để có những nội dung chuẩn xác về chính trị toàn cầu, cải cách chăm sóc y tế và hơn thế nữa. Đại hạ giá có giới hạn. Hãy xem các lựa chọn.

30-3-2017: Hoàng Hữu Phước “tweet” trả lời Nữu Ước Thời Báo“Trí hóa rộng mở thoáng hoạt là để đón chào cái hay và điều tuyệt hảo. New York Times từ 2016 đến giờ là sự khủng hoảng của toàn thứ tệ tồi và cực kỳ tồi tệ với toàn tin LÁO XẠO. BUỒN THAY và TỆ THAY.”

31-3-2017: Quảng cáo của Nữu Ước Thời Báo biến mất trên Twitter.

E- Kết Luận

Lời tiên tri rằng Barack Obama là vị tổng thống cuối cùng của Hoa Kỳ hoàn toàn chính xác.

Lời tiên tri ấy đúng, vì Nước Mỹ là một quốc gia mà toàn bộ các giả trá giả dối giả mạo của nó từ thời Barack Obama trở về trước đã bị nén chặt dưới lớp bê tông sơn nhũ vàng dạ quang ngời sáng đầy chất ngoại-hình của nó

Donald Trump đã là chất xúc tác tạo nên phản ứng tự hủy của lớp sơn bê tông ấy, khiến Nước Mỹ lõa lồ bày phơi thân thể phi-ngoại-hình của nó.

Nước Mỹ từ nay đã là một Nước Mỹ hoàn toàn khác vì giới tinh hoa chính trị hoàn toàn mất vai trò độc quyền lãnh đạo quốc gia, trở thành những sinh vật mà bất kỳ ai cũng có thể nhạo báng miệt thị.

Nước Mỹ từ nay đã là một Nước Mỹ hoàn toàn khác vì giới truyền thông chính thống quốc gia Mỹ trở thành truyền thông láo xạo mà người dân đen mặc sức rủa nguyền, nhạo báng, lên án.

Donald Trump đã nêu bật một chân lý muôn đời rằng báo chí chỉ là thứ phục vụ nhu cầu giải trí của khách hàng, và rằng bất kỳ ai tô vẽ hào quang “cung cấp thông tin”, “cung cấp sự thật”, “tất cả vì chân lý” cho báo chí rồi sẽ không sớm thì muộn gánh lấy hậu quả từ sự tô vẽ hào quang ấy. Báo chí của con người thì cách chi có được các hào quang của Chúa!

Thế Giới Truyền Thông Chính Thống Đã Thực Sự Ngu Xuẩn Khi Chống Donald Trump, Người Chứng Của Chân Lý!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết của cùng tác giả:

1) Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump 12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Thế Giới Chính Trị Âu Mỹ Lõa Lồ  26-3-2017

2) Nước Mỹ Vỡ Vụn:

Nước Mỹ Bất Hạnh  15-02-2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn   29-3-2014

3) Báo Chí Truyền Thông Chính Thống:

Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  2013

Báo Sài Gòn Giải Phóng July 21, 2013

Hội Chứng Bầy Đàn  20-8-2013

Báo Người Lao Động  28-9-2014

Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ  16-10-2014

“Tôi Là Người Hồi Giáo…”  18-01-2015

Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc  22-01-2015

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  22-11-2015

Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”  27-12-2015

Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  05-8-2016

Truyền Thông Ba Que Xỏ Lá   04-11-2016

Báo Tuổi Trẻ Lại Giỡ Trò Fauxtography  11-11-2016

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông Chính Thống   16-11-2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối  23-12-2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam  19-12-2016

4) Truyền Thông Phi Chính Thống:

Những Lập Luận Ngu Xuẩn Của Kẻ Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng  09-6-2008

Thùng Nước Đá và Blog  14-7-2013

Mạng Xã Hội   14-8-2013

Quyền Lực Thứ Sáu  13-8-2014

Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Sự Thất Bại Của Yahoo!   28-7-2016

Lao Xao Láo Xạo  04-8-2016

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

30-12-2016

Dân Chủ” là từ ngữ của người Việt Thế Kỷ XIX có lẽ nhại theo tiếng Tàu, do người Tàu cố gắng diễn nghĩa – không phải tìm từ có nghĩa tương đương – từ chữ Democracy trong tiếng Âu Mỹ, dựa vào sự hân hoan mừng rỡ của dân Âu Mỹ khi họ là “dân đen” nhưng được đích thân đi bỏ phiếu bầu lãnh đạo thay vì lãnh đạo tự nhiên lên ngồi trên đầu mình có quyền chém đầu mình nhưng toàn hoặc (a) do y tự làm loạn, hoặc (b) do y tự rước voi về dày mã tổ để được lên ngôi chẳng khác nào bản thân để đầu mình dưới mông to con voi bự còn bản thân đặt mông lên đầu con voi nhỏ mà mình gọi là dân tộc, hoặc (c) do y được “Thiên Triều” Tàu hay Pháp hay Mỹ chọn từ đám tay sai “phong Vương”, hoặc (d) do y automatically tự động lên ngôi vì được vua cha truyền ngọc tỷ.

“Thiên triều” Tàu tự dưng làm phước bỏ công sức đánh cho Việt tan nát cả ngàn năm để dạy cho Việt biết “tau là chủ” (đọc trại đi thành “Tàu là chủ”) còn “nị là dân“.

“Thiên triều” Pháp tự dưng từ bi bỏ công sức vừa đánh vừa nhét thuốc phiện vào mồm Việt tan nát cả trăm năm để dạy cho Việt biết một sự thật huy hoàng lạ thường là Pháp Lang Sa có thể chế gọi là “cộng hòa dân chủ” vi diệu mà nhờ nó Pháp có sức mạnh xâm chiếm tàn sát tàn phá tàn diệt biết bao Nhà Nước Bảo Hoàng tức quân chủ phong kiến phi dân chủ trong đó có Việt.

“Thiên triều” Mỹ thấy Việt dám lếu láo học đòi Pháp lập thành “dân chủ cộng hòa” bèn bỏ công sức dạy cho Miền Nam tập trung duy chỉ vào “cộng hòa” và “thế giới tự do” thôi để đánh cho sập “dân chủ” Miền Bắc, nhờ vậy mà hầu hết các nhân sĩ trí thức Miền Nam ghét “dân chủ” chỉ thích “tự do”, còn lẻ tẻ vài vị nào ưa  “dân chủ” thì cứ việc vào bưng biền và hễ bị “cộng hòa” tóm được thì bị “cộng hòa” nhét đầu họ vô máy chém một cách “tự do”.

Đến khi Miền Bắc cộng sản đánh cho cộng hòa Mỹ bỏ của chạy lấy người và xóa luôn cộng hòa Việt khỏi bản đồ Atlas, phe thua trận bắt đầu gỡ gạc bằng một cuộc chiến tranh giành giật ngôn từ.

Thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo rằng cộng sản làm quái gì có dân chủ, vì dân chủ là tài sản của tự do mờ!.

Từ đó suy ra: thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo cộng sản không có tự do, chớ có dân chủ, mà chỉ có nô dịch dân tộc để làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, nên nhờ Liên Xô với Trung Quốc xía vô thành “hai đánh một chẳng chột cũng què” khiến Mỹ tạm thời rút lui chiến lược chớ làm quái gì có cái gọi là “chiến thắng” của dân chủ Bắc Việt, nghĩa là chẳng qua bố mẹ Mỹ của Nam Việt từ bi không ném bom nguyên tử tiêu diệt Bắc Việt đó thôi. Tất nhiên, họ không ngu mà tự đặt câu hỏi rằng tại sao cái tự do dân chủ mà họ tuyên bố chủ quyền nhờ đó mà xâm chiếm thuộc địa vơ vét tài nguyên về trở thành siêu cường quốc lại bị Việt nhà quê phản tự do phản dân chủ đánh cho tan nát làm sụp toàn bộ các đế quốc thực dân trên toàn thế giới, đên độ đế quốc thực dân Anh phải vội vàng lập nên Khối Liên Hiệp Anh của các quốc gia “độc lập” theo thể chế cộng hòa tự do nhờ đó hết hồn hết vía thoát khỏi nạn mất sạch sành sanh các thuộc địa. Còn nếu bảo tại có Liên Xô với Trung Quốc, thì lẽ nào phe “thế giới tự do” hùng hậu tập trung vào Nam Việt để rồi thua Liên Xô và Trung Quốc ngay cả khi hai anh khổng lồ này chẳng hề cử đại binh đến Bắc Việt.

Và khi Việt tuyên bố quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì họ lồng lộn rằng thì là mà cộng hòa có đội chung trời với xã hội chủ nghĩa bao giờ đâu mà dám bạy trò bày vẽ bày biện gán ghép linh tinh!

Còn khi Việt tuyên bố tiến hành sửa Hiến Pháp thì họ đột nhiên chứng tỏ họ yêu “dân chủ”, kêu gào đòi Việt hãy lấy quốc hiệu như cũ, bất kể cái quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũ kỹ ấy chính là quốc hiệu duy nhất của nhân loại đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào 30-4-1975.

Tất nhiên, bài này không cần phải giải thích thêm rằng

(a) dân chủ là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng, và là thuộc từ riêng của “phe xã hội chủ nghĩa” tức “phe thân cộng” nghĩa là “phe” cộng sản đa số có chữ “dân chủ” trong quốc hiệu để dễ nhận diện với nhau,

(b) chủ nghĩa xã hội socialism đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước trọng dân hiện đại” Âu Mỹ tương tự như một thứ “tân chủ nghĩa dân túy hiện thực” mà các chính khách Âu Mỹ hiện nay hay tự nhận mình là socialist trong các luận điểm dân túy trên chính trường,

(c) chưa bao giờ có “chủ nghĩa tự do” mà “tự do” cũng không là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng hay là thuộc từ riêng của “phe thế giới tự do” tức “phe chống cộng” cả – nghĩa là phe “thế giới tự do” không nước nào ngu đần đến mức xài chữ “tự do” trong quốc hiệu của họ vì họ bản chất là độc tài rất kiêng sợ dân chúng họ tự do,

(d) mà như thế thì chủ nghĩa xã hội vừa có sẵn nội hàm dân chủ vừa mang tính thời đại thời thượng tốt đẹp nên Việt chẳng dại gì từ bỏ danh xưng mà Mỹ thòm thèm song sĩ diện ngó lơ,

(e) mà như thế thì Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam vừa có tự do (trong chữ Cộng Hòa) vừa có dân chủ (trong chữ Xã Hội Chủ Nghĩa) nên có uy thế thượng phong đối với cả hai phe như thực tế chính trường thế giới đang minh chứng.

Tặc Chủ” là từ ngữ do một người Việt Thế Kỷ XXI tạo nên dựa vào nền dân chủ Hoa Kỳ.

Mọi sự liên quan đến nền dân chủ Hoa Kỳ đều trông có vẻ ổn suốt mấy trăm năm qua cho đến khi quý ông thanh lịch Donald Trump thắng cử Tổng Thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016. Khắp nơi thóa mạ Donald Trump. Khắp nơi “biểu tình” chống Donald Trump. Khắp nơi nhao nhao lên án thể chế gián tiếp thông qua “đại cử tri”. Khắp nơi ồn ào về tầm vóc quan trọng của “phiếu phổ thông của người dân”. Khắp nơi ào ạt kích động ly khai đòi tách khỏi USA để lập quốc. Khắp nơi khuấy động việc bỏ USA sang nước khác. Và khắp nơi hý hửng trước tiến trình đòi kiểm lại phiếu bầu cử. Tất cả chứng minh:

1) Mỹ chưa bao giờ có dân chủ và democracy có ý nghĩa hoàn  toàn khác với từ điển của nhân loại mà ngay cả Mỹ thường tận dụng ý nghĩa từ điển để tấn công kẻ thù.

2) Dân chủ Democracy tại Mỹ có nghĩa là: người dân có quyền làm chủ về chính trị bằng cách bỏ phiếu bầu cho một trong hai ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa hoặc Đảng Dân Chủ với mặc định rằng hai ứng cử viên đó đều là chính khách chuyên nghiệp xuất thân ngành Luật và đang “làm chính trị” tức làm nghị sĩ hoặc “tổng thống cấp tiểu bang “ tức thống đốc.

3) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy của Phương Tây, và do đó hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy tức nền dân chủ đặc thù của từng quốc gia đặc thù trong đó có Việt Nam.

4) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn phản dân chủ trên thang bậc ngữ nghĩa dân chủ đại đồng.

5) Như vậy khi Mỹ đem nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy làm “nền dân chủ chung” để chống lại các quốc gia nào không theo cái “chung” đó, thì đột nhiên kể từ 11-2016 Mỹ mặc nhiên thừa nhận nền dân chủ Mỹ hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy (vì hệ thống quốc gia “Tây Phương” không ai dân chủ một cách “ấn định” độc tài dữ dội như Mỹ) và cũng hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy (vì Mỹ chống mọi quốc gia này trong đó có Việt Nam).

6) Như vậy, nền dân chủ Hoa Kỳ luôn bình ổn, bất kỳ ai trong hai ứng cử viên trở thành tổng thống cũng được vì Cộng Hòa và Dân Chủ là đảng “song sinh” tức twin party, nghĩa là theo thỏa thuận rằng tổng thống sau không được đổi thay chính sách hay cam kết của tổng thống trước đó để không đe dọa quyền lợi của giới đại tư bản, mà sự thay đổi chỉ được phép tiến hành nếu đương kim tổng thống gây ra sự cố như trong trường hợp các tổng thống liên tục thất bại không tiêu diệt được Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì tổng thống sau phải tuyên bố rút quân Mỹ khỏi Việt Nam và vất bỏ Việt Nam Cộng Hòa vào sọt rác lịch sử.

7) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ bị đe dọa trước sự mất ngôi tổng thống vào tay kẻ ngoại đạo như Donald Trump, bọn chính trị gia thậm chí dám nghi ngờ tính hiệu quả của mô thức đại cử tri, dám phát ngôn xem trọng cái phiếu phổ thông của nhân dân trong khi chính Hiến Pháp Mỹ và chính bọn chúng chưa hề xem trọng phiếu phổ thông ấy nhiều trăm năm qua, đang ra sức làm tổn hại đến uy danh của tân tổng thống Donald Trump bằng cách lịnh cho Barack Obama nhanh chóng phá thối bằng cách cho ra những quyết định gây hấn với Israel và Nga, v.v., nhằm đặt Donald Trump vào sự đã rồi, và biết đâu sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của Donald Trump chỉ vì người dân dám dồn phiếu cho người mà Đảng Cộng Hòa sở dĩ phải chọn làm ứng cử viên vì (a) Đảng không còn ai khác, (b) đương nhiên tổng thống sẽ là Hillary Clinton đúng theo kế hoạch, và (c) Donald Trump sẽ trở thành một tên hề giúp minh chứng rằng nhân dân Mỹ chỉ tin cậy các chính trị gia tinh hoa chuyên nghiệp mà thôi.

8) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ không giống ai và không ai giống, sẽ không bất kỳ ai ở Mỹ có quyền nói về các phạm trù kỳ vĩ như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền của bất kỳ nước nào khác – ngay cả xứ sở Triều Tiên.

Do tất cả 8 lý do trên, nền dân chủ Hoa Kỳ mang tính cách và bản chất của một lề luật đảng cướp: tất cả phải là của “ta”, “ta” tức là thành phần chính khách tinh hoa của Dân Chủ hay Cộng Hòa, và nhân dân chỉ có quyền làm chủ đất nước khi theo lịnh “ta” trao lá phiếu bầu cho “ta” và chỉ cho “ta”..

Vì tính cách và bản chất đảng cướp trên, nền dân chủ Mỹ là nền dân chủ đạo tặc.

Người dân Mỹ không làm chủ nhân đất nước Hoa Kỳ. Chỉ có bọn đạo tặc đã và đang làm chủ của cái nền dân chủ ấy.

Vì vậy, Mỹ chỉ có nền tặc chủ.

Tiếng Mỹ của nền tặc chủ là Demopiracy.

Còn Democracy Mỹ như họ thường rêu rao hoặc lầm tưởng là lý tưởng kiểu mẫu cho toàn nhân loại thì họ đã tự lột mặt nạ Democracy trước Donald Trump và ném vào trong vật dụng tiện ích dưới gầm bàn này:

demopiracy

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Ghi chú/Note:

Demopiracy do tác giả bài viết này tạo nên. Không áp dụng tác quyền.

The coinage of Demopiracy is by the author of this article and for absolutely free use worldwide.

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People November 14, 2016

Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền March 11, 2016

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014

Chính Trị January 14, 2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối

Tự Do Ngôn Luận

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-12-2016

tu-do-ngon-luan-2

A) Nhập Đề

1- Định Luật: Có một định luật cho “tự do ngôn luận” và “tự do báo chí”. Vấn nạn là cái sự thật quan trọng bậc nhất như hơi thở của định luật lại luôn bị những người còn thở vô tư không hiểu, cố tình không hiểu, sơ ý lãng quên, hoặc chưa hề bận tâm kiếm tìm chân lý bất kỳ dù chân lý hiển hiện ngay trước mắt với một cái click chuột giản đơn chứ không cần phải vầy đoàn bốn-con-người-một-con-thú qua Tây Trúc.

Định&Luật dùng theo nghĩa từ vựng của tác giả bài này là Quy Định và Pháp Luật của tất cả các siêu cường tư bản văn hóa văn minh đối với báo chí tức truyền thông. Không bất kỳ ai trong nhân loại văn minh tiến bộ lại không được dạy cho hiểu biết  các nội dung mang tính định&luật được nêu trong này viết này.

2- Giáo Khoa và Khoa Giáo: Nhân thấy thiên hạ có dăm ba người tuy hiểu biết khối chuyện kinh thiên động địa kiểu trên tõ thiên văn dưới tường địa lý, biết run sợ trước thế lực chủ soái quyết định của khoa giáo trung ương, nhưng xem thường giáo khoa trung cấp nhất là của các bộ môn chữ nghĩa, mà không biết rằng giáo khoa trung cấp dạy làm bánh để thế gian có các đại đế chế bánh để Việt Nam bỏ tỷ đô ra mua thương quyền về…mở tiệm, dạy làm tình nhằm giúp công dân hưởng lạc thú dục tình …né bịnh nhiễm truyền, dạy làm ăn để Donald Trump có con ruột con dâu con rể đều là đại gia đại trí đại tài phát triển nghiệp cơ, còn dạy làm chính trị để có đội ngũ chuyên nghiệp phò tá Donald Trump lên làm Tổng Thống;

3- Trẻ Trẻ Trẻ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích tầm thường hóa tiếng Việt, cứ nghe Tuổi Trẻ là tự tiện giải thành Trẻ Tuổi, cứ nghe Trẻ Tuổi thì tự nhiên chú thành mười tám đôi mươi, đến độ ngay cả cán bộ cấp cao trong Ban Chỉ Đạo nọ dưới một người trên cả vạn người cũng vì hiểu lầm chủ trương Trẻ Hóa của Đảng nên thay vì chọn người già trẻ trung hoặc người trẻ già dặn – như đã phân tích trong bài Luận Về Định Tính & Định Lượng Tuổi Trẻ – đã chọn một người Trẻ Tuổi Bảy Không tức Thất Vô tức (a) vô bằng cấp “chuyên môn”, (b) vô tuổi nghề nghiệp vụ, (c) vô kinh nghiệm trãi từng, (d) vô thang bậc từng trãi, (e) vô phép tắc trước sau, (f) vô liêm sĩ trước hàng hàng lớp lớp đại anh hùng hào kiệt Lạc Hồng dù già trẻ trung hoặc trẻ già dặn, và (g) vô chính đạo để ào vô luôn làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế;

4- Dân Chủ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích đơn giản hóa tiếng Việt, cứ nghe Dân Chủ là tự tiện nghĩ ngay đến việc ta đây là dân nên là chủ, thậm chí có đấng nghị sĩ luật sư ở đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát huy quyền làm chủ đòi Quốc Hội phải ra Luật Biểu Tình trả nợ cho dân (tức chủ) và đòi Thủ Tướng phải báo cáo đầy đủ với chủ (tức dân) chi tiết kế sách chống Tàu mới đúng là dân chủ;

5- Tự Do: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích trầm trọng hóa tiếng Việt, cứ nghe Tự Do là tự do nghĩ ngay đến chuyện tự do muốn làm gì thì làm, tự do muốn làm bánh hình phân chó sản xuất đại trà xuất khẩu thì cứ làm, tự do muốn làm tình với bất kỳ ai già trẻ lớn bé nam phụ lão ấu bất chấp luật pháp luật đời thì cứ làm, tự do muốn làm ăn buôn lậu buôn gái buôn dâm gì thì cứ làm, và tự do muốn làm chính trị thì cứ làm, thậm chí còn bảo phải có tự do báo chí tuyệt đối, tiến sang tự do tuyệt đối trong làm bánh/làm tình/làm ăn/làm chính trị;

6- Tự Do Ngôn Luận: Lại thấy thiên hạ chưa phận biệt được các thứ (versions) các thứ (subclasses) và các thứ (types) của “tự do ngôn luận”; không biết rằng

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền được theo Luật Lao Động với cơ man nào là lương tiền/bỗng lộc/phúc lợi/chia lời/ngày phép/hộ sản/đình công/team-building workshop/du lịch công đoàn nội địa hay hải ngoại, chứ người chiến sĩ lực lượng  vũ trang không bao giờ được phép có cái quyền đó, vì quân đội luôn là công cụ của chế độ; và

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền tự do ngôn luận, chứ báo chí không bao giờ được phép có cái quyền đó, nhất là báo chí chính thống luôn là công cụ của chế độ;

7- Vô Đề: Tác giả bài viết này là kẻ tiện dân bỉ nhân họ Lăng tên Tần sợ nói tiếng Anh thì không được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho rằng giỏi bằng vị chuẩn tiến sĩ (sắp-có-bằng-tiến-sĩ) Vụ Phó Vụ Kinh Tế, mà sợ nói tiếng Việt cũng không xong do tiếng Việt vẫn còn nhiều điểm chưa rõ bởi đa số, chưa thông bởi số đông, nên khiếp sợ khép nép tấu trình các “kiến thức” sau đây lên không gian mạng như thùng nước trà đá ven đường:

B) Thân Bài

1- Nguyên Tắc Chế Định 1: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều phải tuyệt đối phục vụ duy chỉ chế độ chính trị của nước mình, không bao gờ được phép xúc xiểm Hiến Pháp nước mình, chế độ nước mình, và chính sách nội trị của chính phủ nước mình.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức công kích Hiến Pháp của nước họ, công kích thể chế chính trị của nước họ, công kích chính sách nội trị của chính phủ nước họ.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất quốc gia, quan trọng nhất quốc gia, mà in bất kỳ bài viết nào mỵ dân bằng cách phê bình hay phê phán quyết sách bất kỳ của chính phủ nước mình, đưa ra cái được trang điểm với dòng chữ “góp ý nhằm làm hoàn thiện thể chế nước mình”, thì dứt khoát đó là thứ báo lá cải, bá láp, mạo danh chính thống, là “chính thống nô dịch” chứ không bao giờ thuộc đẳng cấp “chính thống chủ nhân” của các nước Âu Mỹ.

Đơn giản vì: nếu là “đóng góp” thì cái gọi là “báo chí thượng đẳng” phải có lực lượng trí tuệ để hình thành hồ sơ nghiên cứu gởi trực tiếp cho đầu não Trung Ương Đảng, chứ không theo cách của “báo chí hạ đẳng” mè nheo rỉ rên chuyện quốc gia với dòng kết vô duyên hèn hạ của “trách nhiệm này thuộc về ai” chỉ để độc giả đọc để rồi vừa không đi đâu đến đâu vừa gây rối loạn dân tâm vừa tự lột trần báo chí thành thế lực bất tài vô dụng.

2- Nguyên Tắc Chế Định 2: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ chính sách đối ngoại của chính phủ nước họ bằng cách tự do tuyệt đối tấn công Hiến Pháp nước khác, tự do tuyệt đối tấn công thể chế chính trị nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chế độ nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chính sách nội trị của chính phủ nước khác, và tự do tuyệt đối tấn công chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức ngợi ca Hiến Pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình. Mà ngay cả cái nước khác ấy có cùng phe “liên minh” với chính phủ nước mình thì mình cũng phải tấn công để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là quả thật đã có “tự do ngôn luận” tại nước mình mà đối với Âu Mỹ có nghĩa là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất, quan trọng nhất, mà chẳng có bài viết nào tấn công hiến pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình thì dứt khoát đó là báo chí chính thống giả mạo giả danh giả trá. Tấn công cũng phải nhằm luôn vào các nước khác nào cùng phe với chính phủ nước mình để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là đã thực sự có “tự do ngôn luận” tại nước mình, phù hợp tuyệt đối với báo chí chính thống Âu Mỹ vì tự do báo chí chỉ có nghĩa duy nhất là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

3- Nguyên Tắc Chế Định 3: Tất cả các cái gọi là truyền thông tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ khách hàng dâm dật, phục vụ khách hàng ưa ăn lá cải thích ngắm lá đa.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai đưa ra được cái tên của bất kỳ quốc gia nào trong khối “các nền dân chủ tự do” theo khuôn mẫu khuôn đúc khuôn phép Âu Mỹ không có loại “tự do tuyệt đối” này, kể cả mấy nước Á Đông và Đông Á như Nhật, Thái, Hàn, Ấn đều có bày bán công khai dẫy đầy trên các sạp báo vệ đường.

b) Việt Nam: Do Việt Nam chỉ có “truyền thông chính thống” chứ không có “truyền thông” nên trên các sạp báo không có các ấn phẩm sách in chính quy có dán tem bản quyền hay băng dĩa chính thức có dán tem chống giả mà nội dung là tin/ảnh/phim kích dục mà chiêu bài luôn là tôn vinh “cái đẹp” của thân thể con người mà Chúa đã tạo nên phù hợp với rất nhiều người thích lột truồng các tác phẩm của Chúa để cảm thụ “cái đẹp”, giáo dục giới tính, giáo dục hưởng thụ tình dục vì hạnh phúc con người, giải trí dành cho người yêu mỹ thuật nào không dưới 18 tuổi, phát triển văn hóa “hội nhập toàn cầu”, khuyến khích nhân dân xem hàng ở truồng nội địa độc không hề thua hàng ở truồng ngoại để không chảy máu ngoại tệ, và tự do ngôn luận, tự do báo chí.

C) Các Kết Luận:

1- Tự Do Ngôn Luận Đểu:

Như đã được minh chứng từ các nước tư bản Âu Mỹ có nghĩa là mỗi cá nhân công dân một nước được tự do nói/viết/vẽ hý họa:

a) chống bất kỳ ai, bao gồm cá nhân lãnh đạo/cá nhân người nổi tiếng nước mình hay nước người;

b) chống thể chế/chính sách/luật pháp chỉ của nước người;

c) phục vụ chính sách đối ngoại của nước mình đối với nước người không thuộc liên minh với nước mình – bằng mọi giá và mọi cách, kể cả cách ngụy tạo thông tin; và

d) phủ nhận tự do ngôn luận của người khác nếu khác với ý mình.

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà toàn bộ báo chí chính thống Mỹ đồng loạt đưa tin “chính xác” kèm hình ảnh chứng minh “chính xác” Cộng Sản Bắc Việt đã tấn công khu trục hạm USS Maddox ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, ngày 02-8-1964, buộc Mỹ phải vì ấm ức tự vệ mà đưa đại quân ồ ạt đỗ bộ vào Đà Nẳng ngày 08-3-1965.

tu-do-ngon-luan

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà vài tên đại sứ cùng tùy viên đại sứ quán của chúng lớn tiếng đòi Chính phủ Việt Nam phải thả những ai và phải bỏ điều luật 258 của Việt Nam, còn bọn ngố ngồ ngộ ngỗ NGO thì liên tục sủa tru tréo về nhân quyền ở Việt Nam.

Tóm lại, Tự Do Ngôn Luận của Âu Mỹ là Tự Do Ngôn Luận Đểu.

2) Việt Nam Là Nước Nhược Tiểu:

Nước nhược tiểu là quốc gia vừa không hiểu gì về Tự Do Ngôn Luận, vừa nghèo khổ lạc hậu, vừa học đòi dân túy bằng cách dùng những khái niệm không một quốc gia tư bản hùng mạnh nào áp dụng để ve vuốt truyền thông, trao quyền lực mà ngay cả truyền thông Mỹ cũng không bao giờ có: ban đẳng cấp ngang-hàng-công-an cho truyền thông để bắt công an quỳ mọp thờ lạy cung phụng truyền thông, biến truyền thông thành Loạn Kiêu Báo, mở đường cho truyền thông chính thống chõi lại Hiến Pháp Việt Nam, chõi lại luật pháp Việt Nam, chõi lại thể chế chính trị Việt Nam, chõi lại chính sách nội trị của chính phủ Việt Nam, trở thành biểu tượng của cái thứ Tự Do Ngôn Luận hạ đẳng không hề được các cường quốc Âu Mỹ áp dụng, đồng thời ngậm tăm không dám công kích quốc gia nào khác theo phong cách thượng đẳng mà truyền thông Âu Mỹ muôn đời áp dụng.

3) Ham Học Và Hiếu Học:

Việt Nam hay tự khoe về tinh thần ham học và hiếu học của người dân, mà không nhận biết rằng sự ham học của người dân chấm dứt ngay sau khi có được một tấm bằng thạc sĩ/tiến sĩ đủ để kiếm chức kiếm ăn.

Kẻ đi xin việc thì khoe mình có tinh thần ham học hỏi, mà không biết rằng điều đó tương tự như lời thú nhận mình bất tài vô dụng không có gì trỗi vượt để nơi tuyển dụng có thể học hỏi gì từ mình để phát triển.

Người thuộc giới ca nhạc thì nói nhà nước nếu muốn họ có tác phẩm hay thì phải đài thọ cho họ đi học ở các nhạc viện Hoa Kỳ mà không biết mình thuộc giới xướng ca đại loại không bao giờ tối cần thiết. Quân đội tối cần thiết vì không thể có việc quân đội nước khác đến bảo vệ nước mình (như quân đội Mỹ đến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa), nhưng ca sĩ toàn cầu có thể giúp người Việt giải trí chất lượng cao hơn mà không cần sang Việt Nam.

Kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha thì nói sẵn sàng làm cho Vụ Kinh Tế của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Trung Tâm Xúc Tiên Thương Mại Đầu Tư Cần Thơ thất bại để bản thân mình có thể học hỏi từ những thất bại mà hậu quả của nó do nhân dân gánh chịu và ngân sách quốc gia hứng chịu.

Kẻ trẻ tuổi không thuộc giới ô dù con ông cháu cha không thể đi tắt Vụ Kinh Tế thì đi tắt vụ dân chủ nhân quyền lương tâm thay vì cắm đầu học tập cực chăm làm việc chất lượng cực cao trí tuệ cực cao hiệu quả cực cao để đích thân dìm đầu kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha.

Kẻ có quyền thế trong Ban Chỉ Đạo thì chỉ đánh giá cao người ham học và hiếu học chứ không coi trọng người-đã-học-rồi, người-đã-làm-rồi, người-ham-dạy, người hiếu-dạy, và người-dạy-người-hiếu-học, nên mới bổ nhiệm một gã không bằng cấp (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) và không kinh nghiệm (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) chỉ vì y chứng minh hùng hồn rằng y ham học đến độ học một lèo kiểu Việt chứ không học-hành-học thêm-hành thêm-học nửa-hành nửa kiểu Mỹ. Thậm chí đánh giá cao người nào vừa ham học và hiếu học vừa là con cháu của các đại quan, cứ như thể con cháu đại quan thì mặc định là ngu dốt nên phải ưu tiên ưu ái một gương sáng quý hiếm để động viên số đông lúc nhúc con cháu đại quan khác.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong xác định (a) phải bảo đảm tự do ngôn luận của mỗi cá nhân công dân; (b) cấm cá nhân công dân đem tự do ngôn luận cá nhân tác động vào các cá nhân khác để hình thành “ngôn luận tập thể” chống lại xã hội, chống lại chính phủ, chống lại thể chế; và (c) cấm báo chí chính thống tức danh phận tập thể lại dành danh phận cá nhân công dân để có tự do ngôn luận.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong mãi mãi

Tuyệt đối quản trị báo chí chính thống bằng bàn tay sắt bọc thép gai.

The mainstream mass media must be gently handled with an iron fist in a stainless-steel glove of peacefully green bamboo pikes.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông November 16, 2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bậc Vĩ Nhân Đã Đấm Vào Mặt Hoa Kỳ Ngay Tại Liên Hợp Quốc

Tiến Sĩ Fidel Castro: Chất Thử Của Bất Tài Và Bần Tiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-11-2016

fidel2fidel1

A- Vấn Nạn Truyền Thông

Fidel Alejandro Castro Ruz là nạn nhân của vấn nạn truyền thông.

Báo chí Âu Mỹ luôn miêu tả một chiều về ông như một “nhà độc tài”. Danh từ “nhà độc tài” là thứ ngôn từ thuộc độc quyền sở hữu của truyền thông Âu Mỹ.

1) Ý Nghĩa Thứ Nhất Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những…“nhà độc tài” mà thiên hạ trên thế giới đã tự động gọi sẵn như thế trước đó, chẳng hạn “nhà độc tài” Adolf Hitler của Đức Quốc Xã, “nhà độc tài” Benito Mussolini của Phát xít Ý, hay “nhà độc tài” Francisco Franco của Tây Ban Nha, và “nhà độc tài” Fulgencio Batista của Cuba mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: tàn bạo.

2) Ý Nghĩa Thứ Hai Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những nhà lãnh đạo nào không thuộc khối “Thế Giới Tự Do”, từ đó có các “nhà độc tài” mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này là … không theo thể chế dân chủ Âu Mỹ và chẳng tôn trọng tư tưởng Âu Mỹ dành cho nhân quyền. Thế là các lãnh đạo các quốc gia “phe” cộng sản bị gọi là “nhà độc tài”. Còn các “nhà độc tài” chính hiệu, hàng hiệu, có cầu chứng tại tòa thương mại thương hiệu thương quyền quốc tế đàng hoàng, có tàn bạo khát máu y như các đấng của Ý Nghĩa Thứ Nhất, nhưng thuộc phe Thế Giới Tự Do thì truyền thông tẩy xóa mất tiêu mất biệt mất tích cái cụm từ “nhà độc tài”, thí dụ như Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, Park Chung Hee của Đại Hàn Dân Quốc, Suharto của Indonesia, Lý Quang Diệu của Singapore, và Ferdinand Marcos của Philippines, cùng các vị khác ở Trung Đông, v.v. Oái oăm ở chỗ truyền thông gọi Fulgencio Batista của Cuba là “nhà độc tài” trong Ý Nghĩa Thứ Nhất nhưng khi Fidel Castro đánh đuổi Fulgencio Batista ra khỏi Cuba thì truyền thông lập tức gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” theo Ý Nghĩa Thứ Hai, khiến kẻ đem Cuba làm tôi mọi cho Mỹ và người giải phóng Cuba khỏi sự tôi mọi ấy đều là “nhà độc tài” cả.

Dần dà, thấy đàn em trong giới truyền thông tiểu quốc lạm dụng chữ “độc tài” để gọi lung tung, thí dụ như Cu Kiều gọi cá nhân Tiến Sĩ Fidel Castro là “nhà độc tài” (dictator), còn Việt Kiều thì gọi cả đất nước Việt Nam là “độc tài Đảng trị” khiến truyền thông Âu Mỹ khó chịu khó ăn khó nói với Việt Nam là xứ sở mà họ rất kiêng sợ kiêng dè kiêng kỵ nên họ – mà cụ thể như tờ Telegraph của Anh Quốc – gọi Fidel Castro là “tên bạo chúa” (tyrant), với hy vọng Cu Kiều sẽ gọi y như vậy, còn Việt Kiều có khi sẽ chế ra từ mới chẳng hạn như “bạo chúa Đảng” chăng.

3) Vấn Nạn: Như vậy, ở Việt Nam các sĩ phu “nhà giáo Hán-nho” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương nên chỉ thèm đi du học (Phong trào Đông Du), không thèm đi lao động lao lung lao nhọc lao khổ làm thợ thuyền “tìm đường cứu nước”, ra mặt oán giận Ông Hồ khi thấy Ông Hồ cũng là Sĩ “nhà giáo Hán-nho” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông. Đến khi mấy ông không thuộc Sĩ-Nông-Công-Thương mà là quân nhân như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu độc tài độc quyền nắm quyền trị quốc thì mấy Sĩ nhà ta ở Việt Nam Cộng Hòa mới hoặc nín thinh hoặc hình thành các nhóm “nhân sĩ dân biểu đối lập” chống Nguyễn Văn Thiệu, thậm chí chống luôn cả Mỹ vì oán giận Mỹ không xem trọng Sĩ.

Như vậy, ở Âu Mỹ các sĩ phu “luật sư” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương và các Sĩ khác, nên ra mặt oán giận Ông Castro khi thấy Ông Castro là Sĩ  “luật sư” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông.

Hậu quả là truyền thông Âu Mỹ của tự do dân chủ nhân quyền văn minh đã luôn dùng các từ ngữ miệt thị dành cho Fidel Castro.

Còn truyền thông Việt thì lúc Fidel Castro về cõi vĩnh hằng tải đăng rất nhiều bài về những gì tốt đẹp mà Fidel Castro đã dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, tầm vóc kỳ vĩ của con người vĩ đại ấy đối với toàn nhân loại trên bình diện thế giới sử, uy thế, uy tín, uy lực, và thần uy, lại chưa hề được nói đến, trở thành lý do cho bài nghiên cứu này về ông được hình thành.

B- Quả Đấm Của Tiến Sĩ Fidel Castro

fidel3

Trong phiên họp ngày 26-9-1960 tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, Fidel Castro đã lập kỷ lục với bài phát biểu ứng khẩu dài nhất lịch sử Liên Hợp Quốc: 4 giờ 29 phút không ngưng nghỉ, được đánh giá như một bản anh hùng ca.

Fidel Castro nói về cuộc cách mạng ông tiến hành cách đó 20 tháng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Cuba là một thuộc địa của Mỹ nhưng Mỹ vẫn cho mình cái quyền thúc đẩy và thúc giục sự lật đỗ chính quyền cách mạng của Cuba. Castro cũng phản đối việc ông và đoàn đại biểu Cuba bị gây khó khăn, bị phân biệt đối xử và bị miệt thị tại New York kể cả bị đuổi ra khỏi tất cả các khách sạn không được cho thuê cư trú khi đến Mỹ họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, Fidel Castro tuyên bố rằng quan hệ của Cuba với Liên Xô là đúng đắn và là quyền tự do của Cuba, rằng chính phủ “đế quốc” Mỹ có thể sẽ xâm lược Cuba, và rằng Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy là “một thằng triệu phú thất học và đại ngu” (“an illiterate and ignorant millionaire”).

Fidel Castro đã không chống Mỹ bằng những bài báo, những tiểu luận, những tác phẩm hay truyền đơn.

Fidel Castro đã sử dụng diễn đàn chính thức của Liên Hợp Quốc trên đất Mỹ để vung nắm đấm vào mặt chủ nghĩa đế quốc Mỹ, vạch trần bộ mặt thật Mỹ, xưng tụng vai trò của Liên Xô, khẳng định chủ quyền cương thổ quốc gia Cuba, và cảnh báo với thế giới về nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

fidel4

Tiến Sĩ Fidel Castro đã đường đường chính chính vào tận hang ổ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ với tư cách lãnh đạo tối cao của Cuba, quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc từ ngày 24-10-1945, và đã trong nhiều lần đến dự họp với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đều sử dụng diễn đàn này để ra sức hùng biện miệt thị Hoa Kỳ suốt nửa thế kỷ qua.

Tiến Sĩ Fidel Castro cùng với Cuba đã chứng minh hai điều rõ ràng rằng (a) Mỹ đã thất bại trước Cuba trong hơn 50 năm, và (b) trong khi Cuba là quốc gia có chủ quyền thành viên Liên Hợp Quốc từ năm 1945 thì cũng từ năm 1945 đến tận ngày nay Mỹ vẫn không hề dám công nhận ngoại giao chính thức với Đài Loan mà Mỹ xem như đồng minh của mình khiến Đài Loan vẫn không thể nào trở thành quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc. Dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” để công khai chống lại một quốc gia bé nhỏ như Cuba suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Liên Xô – Nga, nhưng lại hèn hạ lén lút bắt tay với một “lãnh thổ” bé nhỏ như Đài Loan suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Trung Quốc mà Mỹ khiếp sợ: đó là tư cách của nước lớn Hoa Kỳ mà chỉ có Tiến Sĩ Fidel Castro mới là người duy nhất trên thế gian này kiên trì giáng bao nắm đấm dồn dập vào mặt Mỹ.

C- Lời Tiên Tri Của Tiến Sĩ Fidel Castro

Có thể người Việt Nam khi nói về sự việc không bao giờ xảy ra thường dùng thành ngữ “khi nào Mặt trời mọc ở Hướng Tây thì…”

Nhưng khi Fidel Castro từng tuyên bố năm 1973 rằng

fidel5

thì tuyên bố ấy lại không là sự ví von cho điều bất khả mà mang tính tiên tri với sự ứng nghiệm: Hoa Kỳ có Barack Obama là Tổng Thống người gốc Phi vào thời điểm cuối nhiệm kỳ đã có những bước tháo gỡ một số lịnh cấm vận chống Cuba và sang thăm Cuba tháng 3 năm 2016, đòng thời cũng trong năm 2016 này Đức Giáo Hoàng Francis là người nước Nam Mỹ Argentina đã sang thăm Cuba vào tháng 9

fidel6

Trong khi đó thì đối thủ đầu tiên và trực tiếp của Fidel Castro là Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy chỉ để lại một lời tuyên bố rằng

fidel7

cho dù tuyên bố ấy bị truyền thông Mỹ vội vàng dán nhãn phủ nhận tính xác thực với kiểu gán cho đó là một “thuyết âm mưu” bằng một lý luận rất trẻ con rằng nếu đó đích thị là lời Tổng Thống nói thì tại sao không báo nào của Mỹ dám đăng tin xác nhận sau đó cả. Việc duy nhất mà J.F. Kennedy đã làm để giúp đỡ người nông dân nghèo khổ Cuba là ra lịnh cho quan chức thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc ngay lập tức nhập khẩu cho ông 1.200 điếu xì-gà Cuba và khi hàng về đến nơi thì phải báo ông hay tin để ông ngay lập tức chìa ra lệnh cấm vận Cuba đã ký sẵn tháng 02-1962 với lý do nêu sẵn: Cuba đã không chịu chuyển dịch nền dân chủ và không cải thiện tình hình nhân quyền. Việc cấm vận Cuba khiến nước Mỹ thiệt hại mỗi năm gần 5 tỷ USD và người dân Mỹ mất 6.000 việc làm, mà tính đến 2013 thì Liên Hợp Quốc đã 22 năm liên tục ra Nghị quyết chống lại lịnh cấm vận Cuba của Mỹ mà cũng ngần ấy năm chỉ có hai nước chống lại nghị quyết ấy là Mỹ và Israel.

Lời phát biểu của Fidel Castro năm 26-9-1960 tại Liên Hợp Quốc về cuộc xâm lăng Cuba có thể có từ Mỹ, đã dẫn đến một sự thật là ngày 17-4-1961 Mỹ đã dùng các chiến hạm đưa 1.200 Cu Kiều lưu vong do Mỹ huấn luyện và trang bị vũ khí tận răng ào ạt đổ bộ vào Vịnh Con Lợn của Cuba. Tuy nhiên, “đại cuộc vùng lên của nhân dân Cuba hưởng ứng đoàn quân giải phóng lật đổ chế độ của tên độc tài khát máu Fidel Castro” đã không hề xảy ra như Mỹ mong đợi, quân đội ít quân số của Cuba đã phản công thần tốc loại hơn 100 quân giặc ra khỏi vòng chiến đấu và bắt cầm tù trên 1.000 tên, còn không quân bé nhỏ với vài ba chiến đấu cơ cổ-lổ-xỉ của Cuba tấn công đánh đắm tất cả các tàu hậu cần của quân xâm lược khiến ngay cả cái trò Con Heo đó cũng làm không nên cơm nên cháo gì sất. Và để được cho phép gởi các phi cơ dân sự DC6 bay sang Cuba nhận lại hơn 1.000 tù hàng binh Cu Kiều về Mỹ kịp đón Giáng Sinh 1962, Mỹ đã phải chấp nhận chuyển giao trước cho Cuba số lương thực chất lượng cao và thuốc men đặc hiệu trị giá 53 triệu USD.

Lời tiên tri của Fidel Castro đã đúng: 55 năm Mỹ cấm vận Cuba vẫn không làm Cuba sụp đổ.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ chỉ nhận được mỗi sự đồng tình của Israel đối với lịnh cấm vận ấy.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ buộc phải xét dến các bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ đã phải tìm đến Cuba với một Cuba như vốn là chứ không phải một Cuba lẽ ra phải là.

D- Phong Cách Đại Chủ Nhân Thế Giới

Nếu chỉ tính từ thời điểm Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy ký ban hành lịnh cấm vận Cuba cho đến tháng 11-2016 thì Fidel Castro đã ngạo nghễ sinh tồn vượt qua 638 cuộc ám sát “chính thức” của CIA Mỹ, ngắm nhìn thế sự bão tố xoay vần đổ ập lên đầu 96 vị nguyên thủ các cường quốc thân Mỹ – mà trong số các vị này nhiều người tái đắc cử từ 2 đến 5 nhiệm kỳ liên tiếp hoặc không liên tiếp – gồm 10 Tổng Thống Mỹ (John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama), 11 Thủ Tướng Anh (Harold Macmillan, Sir Alec Douglas-Home, Harold Wilson, Edward Heath, James Callaghan, Margaret Thatcher, John Major, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron, và Theresa May), 8 Thủ Tướng Đức (Konrad Adenauer, Ludwig Erhard, Kurt Georg Kiesinger, Willy Brandt, Helmut Schmidt, Helmut Kohl, Gerhard Schröder, và Angela Merkel), 9 Tổng Thống Pháp (Charles de Gaulle, Alain Poher, Georges Pompidou, Alain Poher, Valéry Giscard d’Estaing, François Mitterrand, Jacques Chirac, Nicolas Sarkozy, và François Hollande), 23 Thủ Tướng Ý (Fernando Tambroni, Fanfani, Giovanni Leone, Aldo Moro, Giovanni Leone, Mariano Rumor, Emilio Colombo, Giolio Andreotti, Francesco Cossiga, Amaldo Forrlani, Giovanni Spadolini, Giovanni Goria, Ciriaco De Mita, Giuliano Amato, Carlo Azeglio Ciampi, Silvio Berlusconi, Lamberto Dini, Romano Prodi, Massimo D’Alema, Giuliano Amato, Mario Monti, Enrico Letta, và Matteo Renzí), 11 Thủ Tướng Tây Ban Nha (Francisco Franco, Luis Carrero Blanco, Torcuato Fernández-Miranda, Carlos Arias Navarro, Fernando de Santiago, Adolfo Suárez, Leopoldo Calvo-Sotelo, Felipe González, José Maria Aznar, José Luis Rodriguez Zapatero, và Mariano Rajoy), 13 Thủ Tướng Israel (David Ben-Gurion, Levi Eshkol, Yigal Allon, Golda Meir, Yitzhak Rabin, Menachem Begin, Yitzhak Shamir, Shinon Peres, Yitzhak Shamir, Benjamin Netanyahu, Ehud Barak, Ariel Sharon, và Ehud Olmert), và 11 Thủ Tướng Canada (John G. Diefenbaker, Lester B. Pearson, Pierre Elliott Trudeau, Charles Joseph Clark, John Turner, Brian Mulroney, Kim Campbell, Jean Chrétien, Paul Martin, Stephen Harper, và Justin Trudeau).

Trừ Israel là quốc gia hèn hạ do là quốc gia duy nhất luôn bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc ủng hộ Mỹ duy trì cấm vận chống Cuba, các cường quốc Âu Mỹ khác dù nắm binh quyền trong khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO dưới ngọn cờ thống soái của Hoa Kỳ vẫn luôn bày tỏ sự tôn kính và thân tình với cá nhân lãnh tụ Fidel Castro, trong đó có Hoàng Đế Tây Ban Nha Juan Carlos, Thủ Tướng Tây Ban Nha Felipe González, các Tổng Thống Pháp François Mitterrand và François Hollande, v.v. và v.v.

Trong nhiều lần phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ở Hoa Kỳ, Fidel Castro luôn là nhà hùng biện kiệt xuất mà các ứng khẩu nảy lửa hùng hồn dài nhiều giờ của ông đã trở thành một thương hiệu nỗi bật và quen thuộc của riêng ông. Tuy nhiên, tại Kỳ họp Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ ở Liên Hợp Quốc, khi đăng đàn phát biểu ngày 06-9-2000, Fidel Castro đã để lại một ấn tượng khác cũng rất bất ngờ. Để ngăn chặn việc Fidel Castro có thể tái chiếm lĩnh khống chế diễn đàn, Liên Hợp Quốc quy định mỗi nguyên thủ quốc gia sẽ chỉ có 5 phút phát biểu và dàn đèn xanh-vàng-đỏ trên mặt bục phát biểu sẽ chớp đèn báo hiệu thời gian – tất nhiên đèn vàng là báo tin sắp hết thời gian và đèn đỏ nghĩa là micro đã bị ngắt điện. Vị nguyên thủ 74 tuổi của Cuba đã điềm nhiên tung một khăn tay trắng dày to bản phủ trùm lên dàn đèn khiến toàn hội trường bật cười ầm lên thú vị. Fidel Castro bắt đầu vung nắm đấm tuyên bố kết tội các nước giàu đã mỗi ngày kiếm chác hàng tỷ USD trên xương máu của các nước nghèo, và kết luận: “Sự hỗn loạn ngự trị thế giới của chúng ta. Những thứ luật pháp mù lòa cứ như thể đó là điều thiêng liêng khả dĩ sẽ đem đến những thứ thái bình, trật tự, thịnh vượng và an ninh mà hành tinh của chúng ta xiết bao cần có vậy”. Fidel Castro kết thúc bài phát biểu ứng khẩu hùng biện của mình, thu lại chiếc khăn tay, để lộ ra dàn đèn đang nhấp nháy ánh đèn vàng, rồi nghiêm nghị đường bệ rời bục diễn giả trong tiếng cười vang ngưỡng mộ và vỗ tay tán thưởng vang dội của các nguyên thủ thế giới trước tài hùng biện, sự lém lỉnh khôi hài, cung cách chủ nhân diễn đàn, và độ chính xác độc đáo về thời gian của Fidel Castro gói gọn trong 300 giây ấy, ở nơi hội trường rộng lớn mà các nhà báo ghi nhận rằng vốn lúc nào cũng yên ắng đầy ngáy ngủ trong tất cả các phiên họp đông người.

 fidel8

E- Chất Thử Của Bất Tài & Bần Tiện

fidel9

Dựa vào phân tích đã nêu ở đầu bài, có thể nói không bao giờ có thứ truyền thông chính thống nào ra hồn trên toàn thế giới, (a) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc Âu Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, (b) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, và (c) vì rằng truyền thông chính thống các nước còn lại hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ ngu xuẩn tập trung vừa công kích chính phủ nước mình vừa giúp tái rao truyền các sứ điệp của truyền thông chính thống và phi chính thống hay bất chính thống hoặc vô chính thống của các cường quốc ý-thức-hệ-giống-Mỹ và các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ. Tất cả dẫn đến một thực tế là: người khôn ngoan trí hóa cao không bao giờ tin tưởng vào bất kỳ thông tin nào của bất kỳ cơ quan truyền thông chính thống nào của nước mình hay nước khác, ngay cả nếu các cơ quan ấy có loan báo rằng Tổng Thống Mỹ là người có quốc tịch Mỹ.

Đối với con người được 52 nước trao tặng tổng cộng 79 huân chương và huy chương  như Fidel Castro, thi chỉ cần đọc xem cơ quan truyền thông chính thống nói gì về ông là đủ để nhận ra ngay nó có đặc tính BT4 tức bất tài-bần tiện-bạo tàn-bại thất hay không, vì rằng chỉ có quân rác rưởi bất tài vô hạnh mới xúc xiểm bậc đạo cao đức trọng như Fidel Castro.

Khi Fidel Castro qua đời, bọn Cu Kiều ở Miami hân hoan nhảy múa vui mừng rộn rịp

fidel10

mà hành động của bọn chúng chỉ giúp nhân loại nhìn rõ hơn về ba sự cố sau có liên quan đến sự điên cuồng, bạo tàn, và thất bại của bọn Cu Kiều lưu vong:

1)  Cubana 455

Theo nhà báo Tim Padgett của tạp chí Time thì bọn cực đoan Cu Kiều ở Miami là thuộc phe chế độ độc tài tàn bạo Batista do Mỹ hậu thuẫn nhưng đã bị Fidel Castro đánh bại, biến thành bọn điên cuồng chống lại Fidel (anti-Castro fanaticism) tích cực hưởng ứng các âm mưu sát hại các lãnh đạo Cuba, thần thánh hóa các tàn bạo của Batista cùng đám lưu vong, thậm chí điên cuồng đăng tin reo hò mừng rỡ trên báo chí Miami khi bọn khủng bố đã cho nổ bom thành công phi cơ dân sự Cuba số 455 ngày 06-10-1976 giết chết toàn bộ 73 hành khách và phi hành đoàn 5 người, khoe rằng đó là đòn giáng nặng nề quý giá vào mặt Fidel Castro. Trong số tử nạn có 24 vận động viên thiếu niên Olympic 1975 của Cuba đang hân hoan kiêu hãnh đeo sẵn các huy chương vàng để chờ đợi phút giây về đến Cuba trong cuộc đón tiếp đầy vinh diệu tại phi trường với sự có mặt của Chủ tịch Fidel Castro đang trông ngóng đợi chờ. Bản tin chính thống Mỹ-Ca cho biết máu của họ đã loang đến tận bờ biển Canada. Hai quả bom từ chất nổ C4 được chế tạo bỡi tên Cu Kiều Luis Posada Carilles do Mỹ bảo trợ và bảo vệ tại Miami, Bang Florida. Việc chúng khui champagne ăn mừng tại Miami khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

2) Rubio-Cruz

Các tên Cu Kiều ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016 thất bại Marco Rubio (Thượng Nghị Sĩ Bang Florida) và Ted Cruz (Thượng Nghị Sĩ Bang Texas) đều lên tiếng nguyền rủa Fidel Castro khi nghe tin ông qua đời. Chúng nhanh nhảu tuyên bố sẽ bắt tay với Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump để tư vấn cho ông này các biện pháp thích hợp để trừng phạt Cuba, lật ngược thế cờ của Barack Obama. Việc chúng hớn hở vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa trả lời phỏng vấn khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

3) Elian Gonzales

 fidel10a

Sự bất tài bần tiện bạo tàn của bọn Cu Kiều lưu vong còn được nhắc đến đối với Sự Cố Elian Gonzales. Mẹ của bé 6 tuổi Elian Gonzales là Elizabeth Brotons Rodriguez đã bồng con lên tàu cùng tình nhân và 12 người khác vượt biển sang Mỹ. Xuồng máy bị đắm do bão tố ngày 21-11-1999 và các ngư dân Mỹ chỉ cứu được Elian cùng hai người khác. Elian được giao cho thân nhân của mẹ đang sống tại Miami. Cộng đồng Cu Kiều làm dậy lên phong trào ngăn cản Mỹ trao trả Elian lại theo yêu cầu của cha ruột của Elian tại Cuba là Juan Miguel Gonzalez Quintana. Các luận điệu cho rằng chính Juan đã tổ chức cuộc vượt biên cho vợ con đi trước và mình sẽ đi sau, do đó không có lý do gì để trao trả Elian về Cuba, mặc cho Juan lên tiếng cáo buộc vợ mình đã tự ý đem theo con trai khi lẻn bỏ ra đi cùng tình nhân. Một luận điệu khác là Cuba không phải là quốc gia tự do dân chủ nên bé Elian cần ở lại Hoa Kỳ thay vì về Cuba rồi trở thành thằng nhóc cộng sản tay sai Fidel Castro (grow up as a little Communist puppet of Fidel Castro). Tuy nhiên, Fidel Castro đã một mặt hỗ trợ Juan đấu tranh pháp lý trong đòi lại con mình, một mặt đập tan luận điệu trên bằng cách (a) xác nhận sẽ chấp nhận phán quyết bất kỳ của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ và (b) yêu cầu Mỹ cho phép Juan sang Mỹ ở chung với con trong suốt thời gian chờ có phán quyết của tòa án Mỹ nghĩa là Fidel không hề có hành vi giam chân Juan ở Cuba. Tháng 6 năm 2000, Tòa Án Tối Cao Mỹ ra phán quyết bác yêu cầu của thân nhân Elian cùng cộng đồng Cu Kiều tại Miami, và lực lượng phản ứng nhanh SWAT đã đột kích tấn công vào nhà của các thân nhân này để khống chế giải thoát Elian đang bị nhốt giấu trong tủ áo, giao trả Elian về với Bố Juan trở lại Cuba ngày 28-6-2000

fidel11

khiến bùng phát bạo động chống đối của Cu Kiều tại Miami

fidel12

Để giữ thể diện, bọn Cu Kiều lưu vong còn yêu cầu Chính phủ Mỹ buộc Fidel Castro không được sử dụng Elian làm công cụ tuyên truyền cho “chiến thắng” của Fidel, và đã rêu rao bôi nhọ Fidel “bội tín” khi thấy cậu bé Elian thường xuyên xuất hiện vui vẻ cạnh Fidel tại các lễ lộc trọng đại của Cuba

fidel13fidel14

Thế nhưng, cậu bé Elian sau đó còn “đỏ” hơn, khi trở thành đoàn viên thanh niên Cộng sản Cuba

fidel15

tốt nghiệp Đại Học Matanzas năm 2015, trở thành kỹ sư cơ khí và có vị hôn thê là Ilianet Escano đã yêu nhau từ thời học chung ở bậc trung học

fidel16

Nhiều phát biểu nổi tiếng của Elian về Fidel Castro thường được báo chí nước ngoài nhắc đến như:

– Tôi không thú nhận là tôi theo tôn giáo nào cả; nhưng nếu có theo đạo nào thì Thượng Đế chính là Fidel Castro. Ông như một con tàu biết rõ mình đưa đội ngũ thuyền viên đi đúng hướng.

 fidel16a

Fidel Castro đối với tôi như một người cha vậy.

– Đây là điều ít nhất mà một người như tôi có thể làm, tức người đã thọ ơn nhân dân này và thọ ơn cách mạng, đó là học hành chăm chỉ, và còn hơn thế nửa là dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ nhân dân cùng cách mạng.

Khi Fidel Castro qua đời, Elian đã thổn thức: “Ông là Bố của tôi, giống như Bố tôi, tôi đã luôn muốn trình Ông mọi điều tôi đạt được, muốn Ông tự hào về tôi. Đó là cách tôi nghĩ về Fidel. Nếu tôi học được điều gì đó và muốn khoe với Ông, mà vẫn còn có nhiều thứ tôi muốn khoe với Ông quá…. Và khoe rằng tại một sự kiện khi Ông bảo Ông xem tôi như là một người bạn của Ông, đó là vinh dự của tôi…

Đạo đức, tư cách, ý chí, của Elian Gonzales đã tôn vinh sự cao thượng, cao trọng, cao vời của đạo đức, tư cách, và ý chí vì nước vì dân của Fidel Castro.

Bọn thượng nghị sĩ Cu Kiều như Mario Rubio và Ted Cruz khi nói lếu láo về sự điêu linh của Cuba dưới sự cai trị tàn bạo của nhà độc tài Fidel Castro, chúng đã hoặc ngu đần ngu xuẩn ngu si ngu dại, hoặc đã không có chút lòng tôn trọng tôn kính nào dành cho cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter

fidel17fidel18

người đã viết như sau, khi nghe tin Fidel Castro qua đời:

“ Rosalynn và tôi sẻ chia tình cảm cùng gia đình Ông Castro và nhân dân Cuba về sự qua đời của Fidel Castro. Vợ chồng tôi vẫn nhớ với lòng trìu mến đến những lần thăm Ông tại Cuba cũng như đến lòng yêu nước của Ông. Chúng tôi chúc các công dân Cuba hòa bình và thịnh vượng trong những năm sắp đến.”

Tất nhiên, nếu DailyWire cay cú vì cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã luôn tôn kính và thân tình cùng Fidel Castro nên đã chua rằng Jimmy Carter đã “có những lời tử tế cho tên độc tài cộng sản tàn bạo Cuba Fidel Castro” (kind words to the brutal Cuban Communist dictator Fidel Castro) và thậm chí nhắc khéo là trước đây Jimmy Carter đã từng ôm “tên sát nhân chúa trùm khủng bố Yasser Arafat của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (arch-terrorist murderer PLO chief Yasser Arafat), thì bọn rơm rác như Cu Kiều Marco Rubio và Ted Cruz có sủa nhặng lên về Fidel Castro cũng là sự hòa âm điền dã cùng thế giới truyền thông chính thống bịnh hoạn trầm kha vậy.

F- Mộ Chí

Vĩnh biệt Tiến sĩ Fidel Alejandro Castro Ruz, nhà lãnh đạo duy nhất của toàn nhân loại đã luôn là sự thể hiện đồng bộ đồng loạt rõ nét nhất và cụ thể nhất của tính kiên cường, sự bất khuất, tài hùng biện bão tố ngay trong hang ổ quân thù

fidel19fidel20fidel21

tính cách hỏa diệm sơn, thái độ chủ nhân ông đầy ngạo mạn kiêu kỳ trước tất cả các kẻ thù của dân tộc, sức khỏe vô song

fidel22

cốt cách anh hùng xông pha xông xáo, mưu trí mưu lược, ý chí hùng anh, hình tượng chính xác của một “kẻ sĩ dấn thân” như Hồ Chí Minh

fidel23

chinh phục thế giới với sự tỉnh táo quyền biến khuôn mẫu signature Hồ Chí Minh trong trị quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng sự lịch lãm cuốn hút đầy nam tính

fidel24

nụ cười thân tình thân hữu thân ái

fidel25

dành cho và đón nhận tình cảm từ các nguyên thủ tư bản Âu Tây, các vị anh hùng như Yasser Arafat, Nelson Mendela, Yuri Gagarin hay Tạ Thị Kiều

fidel26fidel27

và cách hành xử hóm hỉnh đầy lém lỉnh

fidel28

Tiến sĩ Fidel Castro, người cha tôn kính của dân tộc Cuba, đã luôn đồng hành cùng dân tộc Cuba vượt qua những gian nan không bút mực nào tả xiết

fidel29fidel30

và bậc vĩ nhân ấy đã an nghĩ chốn vĩnh hằng sau khi để lại cho nhân gian muôn đời sau một thí dụ điển hình nhất của đấng hùng anh

fidel31

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Bài Học Lớn Nhất Cho Mỹ Và Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

5-11-2016

Bài này viết về Key.

Trong tiếng Anh, “key” có nghĩa là chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Trong tiếng Việt, từ “chìa khóa” cũng có nghĩa là… chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tuy nhiên, bài viết này là về một nhân vật tên Key với sự tình cờ của số phận khi chính Ông Key thực sự là key cho sự phồn thịnh của một quốc gia mà người Mỹ cần được nhắc nhở và người Việt cần phải quan tâm.

Tấm Gương New Zealand

Sinh năm 1961, John Phillip Key trở thành Thủ Tướng New Zealand từ năm 2008 đến nay. Key tốt nghiệp Đại Học Canterbury năm 1981 với bằng Cử nhân Thương Mại, tìm được công việc đầu tiên là nhân viên kiểm toán cho công ty McCulloch Menzies, sau đó quản lý dự án cho nhà máy sản xuất quần áo Lane Walker Rudkin, trước khi theo nghiệp môi giới ngoại hối cho Công ty Tài Chính Elders và chuyển sang Bankers Trust. Năm 1995, Key ra nước ngoài quản lý chi nhánh ngoại hối Châu Á của Merrill Lynch ở Singapore, rồi làm vệc tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang New York Hoa Kỳ cho đến khi trở về nước năm 2001, gia nhập Đảng Dân Tộc, trở thành Nghị sĩ Quốc hội New Zealand năm 2002, và Thủ Tướng New Zealand năm 2008, tiếp tục thắng cử trong các năm 2011 và 2014 cho các nhiệm kỳ tiếp theo cho đến nay.

key-2key

Những điểm nổi bật của Key mà người dân New Zealand hay nói về Key:

1) Chủ tịch Đảng Dân Tộc John Slater đã có đại công (a) phát hiện “nhân tài” Key, (b) ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để Key chịu gia nhập Đảng, và (c) quyết tâm biến Key thành ngôi sao sáng cho đất nước New Zealand;

2) Với chức danh kiêm nhiệm (đồng thời với chức Thủ Tướng) làm Bộ Trưởng Du Lịch, Key đã biến New Zealand thành một trong những thiên đường du lịch lừng danh hoàn vũ;

3) Với số tài sản 50 triệu đô-la New Zealand, Key là một trong những công dân  giàu có nhất New Zealand, và là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand.;

4) Là Thủ Tướng, Key đã đưa New Zealand trở thành cường quốc bất kể thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu; và

5) Key được gán cho những cái tên như “Stratospheric” (ý nghĩa: cao vời vợi về nhân cách) và “Teflon John” (ý nghĩa: ông miễn nhiễm trước tất cả các tiêu cực,  giống như lớp “teflon” dùng trong chảo chống dính).

Bài Học Cho Hoa Kỳ

Trong 56 người hình thành nên và ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì có 20 luật sư, 18 thương nhân. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã, và 13 người không theo tôn giáo nào.

Trong 55 người hình thành nên và ký tên vào Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ (1787), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì những nghề có hơn 1 “đại biểu” là: 30 luật sư, 11 thương nhân, và 4 chính trị gia. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã.

Bài học cho Mỹ từ lịch sử Hoa Kỳ:

Từ các điểm sau

1) Các “trường luật” cho đến cuối thế kỷ XIX (19) vẫn còn hiếm hoi tại Hoa Kỳ

2) 20 “luật sư” trong danh sách soạn thảo và thông qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776 không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay, vì cho đến năm 1784 Hoa Kỳ mới có trường luật đầu tiên là Litchfield Law School và đến năm 1793 mới có vị giáo sư luật đầu tiên.

3) 30 “luật sư” trong danh sách soạn thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay.

4) Các “luật sư” soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Hiến Pháp Hoa Kỳ là những người mà “nghiệp vụ” chỉ là những người biết chữ biết nghĩa về vài  luật cơ bản của Anh Quốc để làm dịch vụ áp dụng vào đời sống dân sự.

có thể khẳng định rằng: Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp không có sự đóng góp của các “luật sư chuyên nghiệp kiểu Thế Kỷ XX (20)”.

Ngoài ra, Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp có sự đóng góp của nhiều thương nhân và không có hoặc có sự góp mặt của chỉ một hai  “chính trị gia”.

Từ đó suy ra: Hoa Kỳ ở Thế Kỷ XX đã trở nên ngày càng đồi bại vì xã hội đã hình thành những trường “Luật” hiện đại mà những “ngôi sao” của nó trở thành nguyên thủ quốc gia, tạo nên một mặc định rằng luật mang thuộc tính quyền lực khống chế và áp chế, để rồi Hoa Kỳ buộc phải chấp nhận (a) nghề luật sư bị dân chúng Mỹ chính gốc gọi là “dirty job” tức “nghề bẩn”, (b) chính trường Mỹ dành riêng cho những ai tốt nghiệp “luật”, và (c) Hoa Kỳ từ đất nước vùng lên đấu tranh giành độc lập trở thành đất nước do những “luật sư” làm tổng thống tiến hành xâm lược các nước khác, gây chiến tranh khắp chốn, cứ như thể ban ơn cho các nước ây có cơ hội vùng lên đấu tranh giành độc lập như Hoa Kỳ đã được hưởng năm 1776.

Bài học cho Mỹ từ New Zealand:

Với đất nước Mỹ bị các tổng thống “luật sư” làm cho suy vi suy tàn suy sụp đến độ Mỹ bị Trung Quốc đè xuống chiếu dưới, Mỹ bị tiểu quốc Philippines xua đuổi, Mỹ bị Campuchia làm nhục tại Hội Nghị Quốc Tế ở Campuchia, Tổng thống Mỹ bị tổng thống Philippines mắng chửi lăng mạ, Đồng dollar Mỹ bị đồng Yuan Renminbi Trung Quốc lấn lướt trong giỏ tiền tệ của IMF, thì

điều người Mỹ nên làm là hãy có Key!

Muốn có Key, Mỹ phải có Trump, vì

a) Chính trị: Key không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Dân Tộc. Trump không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Cộng Hòa.

b) Học vấn: Key không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Thương Mại. Trump không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Kinh Tế.

c) Nghề chính trị: Key không là chính trị gia chuyên nghiệp. Trump không là chính trị gia chuyên nghiệp.

d) Nghề nghiệp: Key là doanh nhân. Trump là doanh nhân.

e) Tài chính: Key là doanh nhân có tên trong danh sách những người giàu nhất New Zealand. Trump là doanh nhân có tên trong danh sách những tỷ phú Hoa Kỳ.

f) Tài lực: Key là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand. Trump – nếu là Tổng Thống Mỹ – sẽ là người giàu nhất trong lịch sử các lãnh đạo Chính Phủ Hoa Kỳ.

Kết luận cho Mỹ:

Donald Trump sẽ là chiếc chìa khóa (Key) để Mỹ quay trở lại thành cường thịnh nếu Mỹ thực sự muốn thịnh cường.

Bài Học Cho Việt Nam

Từ những sự thật lịch sử nhãn tiền nêu trên của Mỹ và New Zealand,

Thay vì ăn nói vớ vẩn quàng xiên láo xạo về các tấm gương của Nhật Bản và Singapore mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong các bài viết trước đây (có ghi đường liên kết ở phần tham khảo bên dưới)

Việt Nam có thể tiến lên đường cường thịnh bằng cách:

1- Các lãnh đạo Đảng Cộng Sản tích cực chủ động đích thân phát hiện “nhân tài Key”, ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để “nhân tài chìa khóa” chịu gia nhập Đảng, và quyết tâm biến các “chìa khóa” Key mới chiêu mộ được ấy thành ngôi sao sáng để giúp đất nước Việt Nam cường thịnh hoặc lãnh đạo đất nước Việt Nam trở thành cường thịnh.

2- Để làm đươc điều trên, Đảng Cộng Sản nên giảm bớt các đầu tư hào quang luôn dành cho các “vườn ươm” của Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản vì thực tế đã chứng minh là suốt nửa thế kỷ qua chưa hề có một ngôi sao nào từ số ươm mầm ấy làm Việt Nam cường thịnh, trong khi sự “ươm mầm” lại cho ra nhiều tác giả của (a) các bạo lực học đường, (b) trọng án kinh tế trầm trọng trầm kha, (c) các biến thái “tự chuyển hóa” và “tự chuyển biến”, và (d) các “bầy sâu” tham nhũng gây hình tượng của sự lúc nhúc, v.v.

3- Chính phủ Việt Nam phải xóa sạch tàn dư của việc sử dụng nhân lực một cách “từ chương” –  xin xem bài Từ Chương ở phần Tham Khảo – nghĩa là (a) không phí phạm hàng trăm triệu USD tiền thuế của dân để gởi cán bộ “trẻ” đi du học chỉ để về làm lãnh đạo; (b) không áp dụng cái quái gỡ rằng phải là “tiến sĩ” mới được làm hiệu trưởng trường đại học, hoặc phải là dược sĩ hay bác sĩ mới được mở doanh nghiệp dược phẩm – dược liệu, phải đi du học nhiều nước đem về nhiều bằng cấp mới làm Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, v.v.

4- Đối với các lĩnh vực xây dựng kinh tế nước nhà, Chính phủ Việt Nam phải bổ nhiệm nhân sự dựa trên quá trình kinh nghiệm dạn dày thực tế dài lâu của những công dân có thật trong lĩnh vực tư nhân, vì rằng Chính phủ đã

(a) luôn có nhiều chuyên gia kinh tế “tiến sĩ” làm cố vấn nhưng các vị này chỉ làm mỗi việc là cung cấp cho báo chí các phát biểu hay các bài viết chỉ có giá trị duy nhất là lấp đầy khoảng trống trang báo;

(b) luôn có các “chủ tịch tập đoàn Nhà Nước”, các “tổng giám đốc tổng công ty nhà nước”, các “tổng giám đốc ngân hàng quốc doanh” có các đặc điểm con ông cháu cha, thạc sĩ/tiến sĩ trẻ măng chưa từng có kinh nghiệm làm việc căn cơ của chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo theo văn bằng ở khu vực tư nhân, mà chỉ có mỗi kinh nghiệm thâm thúy làm thâm hụt mỗi nơi hàng ngàn tỷ đồng vốn Nhà Nước; và

(c) luôn có các lãnh đạo ở các địa phương mang danh đầu tàu kinh tế của cả nước có kinh nghiệm dày dạn làm đầu tàu trật đường ray do đường ray ngày càng trơn trợt và sụp lún nhờ triều cường ngày càng ngập bạo hơn, thường xuyên hơn, rộng khắp hơn, mạnh mẽ hơn (cuốn phăng xe máy nặng hơn 100kg và cuốn phăng trẻ em trôi tuột xuống cống mất tăm).

“Phi chính trị hóa” dù trong nội dung quân đội hay lãnh đạo quốc gia là luận điệu kêu gào của kẻ ngu đần, điên loạn, hoang tưởng, vô chính phủ, và…chống Mỹ.

Chính vì vậy, hãy kiếm tìm người đạo đức tài danh thực sự đã qua kiểm chứng trong xã hội để mời mọc, thuyết phục, đưa vào làm đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam để hình thành đội ngũ lãnh đạo Việt Nam.

Vì rằng người ta ra sức kiếm tìm mõ kim cương, mõ hồng ngọc đã được hình thành trong thiên nhiên để khai thác, vì rằng kim cương nhân tạo chỉ để phục vụ cho mục đích khác – chẳng hạn như làm đầu mũi khoan mõ dầu khí – chứ không để làm bảo ngọc quốc gia. Việc ươm mầm Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản là để phục vụ mục đích làm đội “hậu bị” của Đảng (để Đảng có những đảng viên “cơ hữu” kế tục lãnh đạo các tổ chức Đảng) và làm đội ngũ duy trì tổ chức Đoàn khắp nơi, chứ không để làm lãnh đạo quốc gia Việt Nam tiến lên cường thịnh.

5- Cần làm cho mọi người dân hiểu rằng nghề nghiệp nào cũng chỉ để phục vụ việc mưu sinh tức sinh nhai tức kiếm tiền của cá nhân, chứ không mang ánh hào quang “cứu độ” hay “cao quý” – trừ binh nghiệp tức các lực lượng vũ trang. Luật sư là để bảo vệ thân chủ thoát được các trừng phạt nghiêm khắc nhất của luật pháp, chứ không phải phục vụ cái gọi là “công lý”. Quốc Hội là cơ quan soạn thảo các bộ luật, và các nghị sĩ nếu có nghiệp vụ luật chỉ có thể giúp tư vấn về hình thức các chương mục và về liên hệ đến các nội dung bộ luật đã có từ trước đó để tránh các xung đột. Do đó, sự có mặt của quá nhiều “luật sư” trong Quốc Hội là điều không cần thiết, đặc biệt Hiến Pháp Hoa Kỳ làm cơ sở cho một Hoa Kỳ cường thịnh do nhờ đã không hề có các “luật sư” – trên thực tế đào tạo hàn lâm đúng nghĩa – và Hoa Kỳ ngày nay lụn bại do chính trường dù trên bình diện quốc gia hay tiểu bang đã nhường hẳn “sân chơi” cho giới luật sư. Việt Nam ngày càng bất ổn do có quá nhiều nghị sĩ có bằng cấp luật nhưng đã làm các đạo luật tầy huầy yếu kém đầy sai sót không thích hợp với cuộc sống xã hội khi được thông qua, và quá nhiều luật sư đột biến muốn làm “chính trị” bằng cách chống phá chính phủ, như một thể hiện căn bịnh trầm kha của giới luật sư Âu Mỹ: khát khao quyền lực tham chính.

Năm điểm trên là cẩm nang cho Việt Nam cường thịnh, chứ không phải mô hình độc tài tàn bạo của Singapore hay biểu thức chinh phạt thế giới của Nhật Bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ

 

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-9-2016

french1

A) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bài này của mụ Marie Cordiez xuất hiện ngày 12-9-2016 trên http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam và được gởi đến tôi bởi một nhà báo Pháp do bực tức trước luận điểm càn quấy của Marie Cordiez)

french2

EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam

Il y déjà presque un an, nous vous vantions 10 bonnes raisons de s’expatrier au Vietnam. Nous manquerions à notre devoir d’objectivité si nous ne faisions pas également état des quelques désagréments qui ne manqueront pas aux expats sur le départ. Ils sont en effet nombreux, aux mois de juillet et août, à rentrer au pays ou être appelés sous d’autres latitudes.

  1. La pollution

D’après un rapport d’experts dont nous vous parlions ici, nous respirons l’un des plus mauvais airs de la planète. Ici, le masque n’est pas un luxe ou un effet de mode, c’est une nécessité. La pollution est palpable à la crasse qui s’accumule sous nos ongles et qui s’écoule dans la douche en fin de journée.

  1. L’humidité

Qui dit pays tropical, dit humidité ambiante permanente. Nos accessoires en cuir n’apprécient pas vraiment. En moins de deux, ils se couvrent d’une fine couche de moisissure verte. Le linge a du mal à sécher, surtout en saison des pluies. Et à la sortie de la douche, le répit est de courte durée avant que nos vêtements ne soient à nouveau trempés.

  1. Les conditions sanitaires

La qualité de l’eau courante est tellement déplorable que certains médecins déconseillent même de l’utiliser pour se laver les dents ou laver ses légumes. Pas étonnant qu’on retrouve des choses pas très nettes dans les glaçons! Il faut dire qu’il y a encore du boulot de sensibilisation à faire pour inciter les Vietnamiens à ne pas considérer la rue et la rivière comme des dépotoirs à ciel ouvert.

  1. Les soucis de santé

Les points précédents ont un impact direct sur la santé : nombreuses infections aggravées, problèmes de toux et d’asthme, cicatrisation difficile… Auxquels il faut ajouter des maladies endémiques dues notamment aux moustiques, comme la dengue, dont on ne peut se prémunir. Mieux vaut prévoir une bonne assurance pour pouvoir faire face aux frais médicaux que cela engendre.

  1. Le bruit

Quand il ne s’agit pas des travaux incessants (oui, ici les ouvriers travaillent jour et nuit), du trafic (la symphonie des coups de klaxons intempestifs), du karaoké d’à côté (les Vietnamiens semblent être sourds de naissance tant ils aiment pousser le volume à fond), c’est l’air conditionné ou le ventilateur qui vous empêchera de dormir.

  1. Le manque des “produits de chez nous”

Qui n’a pas rêvé d’une bonne fondue savoyarde ou d’une raclette, de chocolats dignes de ce nom, voire d’un foie gras coupable ? D’une cuite au champagne, de bonnes bières belges (on ne se refait pas…), de tomates goûtues et surtout d’une vraie baguette ? Certains de ces produits peuvent se trouver ici à prix d’or, mais rien ne vaut le plaisir de faire les courses une fois de retour au bercail !

  1. Les frais de scolarité

Pour ceux qui, comme moi, viennent d’un pays où l’éducation est gratuite, les frais de scolarités sont un vrai coup de massue. Quand on arrive, on rêve parfois d’inscrire ses enfants en anglais, mais ceux dont l’employeur ne prend pas ces frais en charge se ravisent généralement bien vite (jusqu’à 30.000 $ par an pour un enfant… mieux vaut ne pas être une famille nombreuse !) et restent en français.

  1. Les machines à laver à eau froide

Ça. Ne. Lave. Absolument. Rien. Le linge blanc sera vite jaunâtre, oubliez l’idée de faire partir les auréoles et encore moins les taches difficiles. Vous pouvez utiliser tous les trucs de grand-mères et les produits que vous voulez, votre linge sortira de plus en plus sale de cette fichue machine. Evidemment, la qualité de l’eau n’y est pas pour rien. Un conseil : faites bouillir régulièrement votre linge de maison au pressing si vous voulez éviter les odeurs.

Au final, vous le voyez, il reste quand-même plus de raisons d’y venir que de le quitter!

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12 Septembre 2016

B) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bản ý nghĩa tiếng Việt này có thể chưa được hoàn chỉnh do Pháp Văn cùng Nga Văn là các sinh ngữ phụ của người dịch. Xin vui lòng xem như chỉ có các ý chính được tập trung nêu rõ. Xin đa tạ. Hoàng Hữu Phước)

Ra Đi Biền Biệt – 8 Lý Do Để Bỏ Việt Nam Không Chút Hối Tiếc

Đã gần một năm kể từ khi chúng tôi đăng bài 10 Lý Do Để Đến Việt Nam. Chúng tôi sẽ không đạt yêu cầu khách quan nếu không nêu ra vài thứ phức phiền khiến người nước ngoài ở Việt Nam phải ra đi. Thật ra trong hai tháng 7 và 8 đã có nhiều người như vậy: bỏ về nhà hoặc đến các nước khác.

  1. Sự Ô Nhiễm

Theo một báo cáo của chuyên gia thì chúng ta hít thở không khí của một trong những nơi tồi tệ nhất thế giới. Tại xứ sở này thì khẩu trang không là thứ xa xỉ hay  kiểu thời trang dị hợm, mà là sự cần thiết. Sự ô nhiểm đến độ sờ thấy bụi bẩn mồn một bám đầy dưới các móng tay rồi từ đó trôi tuột theo dòng nước khi tắm rửa cuối ngày.

  1. Ẩm Độ

Ai bảo những xứ nhiệt đới tức nói về sự ẩm ướt triền miên. Đồ dùng bằng da của chúng ta thật không chịu nổi và bị phủ lớp mốc meo xanh rì. Vừa tắm xong là sự ngơi nghỉ biến mất vì áo quần lại ướt đẫm mồ hôi.

  1. Điều Kiện Sức Khỏe

Chất lượng nước máy thì cực kỳ tồi tệ đến độ có bác sĩ khuyên đừng dùng nó để đánh răng hay rửa rau. Chả trách có mấy vật mờ mờ trong mấy cục nước đá. Cần phải nói rằng vẫn có công tác khuyến nghị người Việt Nam đừng xem đường sá và sông ngòi là nơi tự do đổ rác.

  1. Các Quan Ngại Y Tế

Những điều trên cho thấy có tác động trực tiếp đến sức khỏe: nhiều vụ lây nhiễm tồi tệ, ho và hen suyển, chưa kể những dịch bệnh đặc biệt do muỗi gây ra như sốt xuất huyết mà ta không thể tự bảo vệ được. Phải có bảo hiểm tốt mới đương đầu được đối với chi phí y tế từ các hậu quả đó.

  1. Tiếng Ồn

Nếu không vì vấn đề làm việc ngày đêm (ở nước này là vậy đấy) thì tiếng còi xe , tiếng hát karaoke của hàng xóm (người Việt Nam dường như sinh ra đã bị điếc rồi do họ thích mở hết volume), tiếng máy lạnh và tiếng quạt máy đủ làm bạn khỏi ngủ.

  1. Thiếu Hàng Của Chúng Ta

Ai mà lại không mơ đến các món phó mát Savoie, sô-cô-la danh tiếng, và món gan ngỗng cơ chứ! Làm gì mà sánh được với thú vui mua sắm khi trở lại quê mình!

  1. Học Phí

Đối với những người như tôi chẳng hạn, đến từ xứ sở mà việc học hành được miễn phí thì học phí tại Việt Nam như một cú búa giáng xuống vậy. Khi bạn đến đây, bạn mơ đến việc cho con cái đi học tại trường tiếng Anh, song những người không được công ty đài thọ việc này thì phí tổn hàng năm lên đến 30.000 USD cho mỗi đứa trẻ. Tốt hơn là gia đình ít người thôi, và cứ xài tiếng Pháp.

  1. Máy Giặt Nước Lạnh

Màu trắng sẽ nhanh chóng biến thành ố vàng, nói chi đến các vết bẩn. Bạn có thể xài đồ của bà nội bà ngoại, vì đồ đạc giặt xong sẽ bẩn hơn với thứ máy giặt quỷ tha ma bắt này. Rõ ràng là chất lượng nước có vấn đề. Mẹo ở đây là hãy thường xuyên đun sôi quần áo của bạn nếu bạn muốn tránh mùi hôi.

Và cuối cùng thì chừng nào mới có việc có thêm lý do để bạn đến đây thay vì bỏ đi cơ chứ.

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12-9-2016

C) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

(Bài này được đăng ngay trên LinkedIn.com. Do yêu cầu của lepetitjournal.com đòi phải vào Facebook mới đăng trực tiếp vào phần commentaries của bài viết của Marie Cordiez trong khi tôi không sử dụng Facebook, tôi cũng đã gởi bài đến một nhà báo Pháp – theo yêu cầu của chính nhà báo này – để ông phổ biến khắp nơi)

french3

EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good

Hoang Huu Phuoc, MIB

In her aricle in French entitled EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam posted on 12 September 2016 at  http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez becomes a non-compos mentis when saying nonsense agaisnt Vietnam. To teach her and people like her about the fact that limitations are always the must-have parameters of the civilized world and that absolute freedom never exists even among barbarous societies and cavemen, I hereby wish to respond to her with my article entitled EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good to simply tell her a proverb of the Oriental Wisdom of “when you take a mouthful of blood to spit on to the face of other people, you are sure to first make your own mouth besmirched”, a lesson which I regretfully believe she has not been educated to know from the first day she was thrown by God on to the lap of her mother.

1- National Shame on French Language

Though France dominated Vietnam for a century, it failed to make French language dominating the tongue of the Vietnamese people – hence forcing the French colonialists’ offspring like Marie Cordiez to waste huge money to invest to studying English in order to survive the struggling for jobs in Vietnam in this millennium.

2- National Shame on Health Concerns

Though France dominated Vietnam for a century, it seemed the Vietnamese people could not learn anything from the French conquerors on best practices on health concerns, probably possibly due to the fact that the French colonialists – i.e. the ancestors of Marie Cordiez – did leave only traces and proofs of their total satisfaction of daily inhaling and enjoying the unhygienic situations and accommodations available for a hundred years!

3- National Shame on Pollution

Similarly, it seemed the one-hundred-year colonization of France did instil in the mind of the Vietnamese people to consider the sick morbid way of living in dirtiness of the French colonialists worthy of imitating, without knowing that in the new millennium the offspring of such colonialists like Marie Cordiez glue the word “pollution” to the face of the offspring of the ones who overthrew not only the French colonialism but also the French Empire.

4- National Shame on Security

Though France dominated Vietnam for a century, it is so well-proven nowadays that Vietnam is so much secured than France on the issues like human rights, dignity, and terrorism that Marie Cordiez’s French patriots can hardly enjoy peacefulness even in Paris.

5- Personal Shame on Being Ignored

It is absolutely understandably normal to take vengeance on the culprits for their heinous crimes. However, Vietnamese people never take any revenge on Marie Cordiez and the offspring of the French colonialists, making this seem that the Vietnamese people look down upon guys like Marie Cordiez as if those guys did not exist or were not worth a tinker’s damn. Such disgrace and humiliation can hardly be taken by proud people like Marie Cordiez and therefore they – including herself – are in dire need of running away from Vietnam as fast as possible.

6- Personal Shame on Personal Disqualification

During the past two three decades all the expatriates in Vietnam have been offered by their companies the schooling expenses for their children at foreign schools in Vietnam. People like Marie Cordiez if incapable of self-funding the school fees at foreign “English” institutions in Vietnam for their own children, it simply means they are not at senior or important positions due to their disqualification. For a cover up for such shame, they should run away from Vietnam as fast as possible.

7- Personal Shame on Being Unknowledgeable

When lamenting on the unbearable natural high moisture degree in Vietnam, Marie Cordiez and people like her are totally unknowledgeable. This raises a surprising question on how a person in this modern much competitive world decides to come to a far away place without even investing at least five minutes to google the FAQs of such place. It seems they come to Vietnam as a desperado!

8- Personal Shame on Being Named Flibbertigibbet or Blabbermouth

The civilized expatriates always behave educatedly by making recommendation to the local authorities as a responsibility of the global citizen in making contributions to make things better for the benefits of the humankind or at least the local people. Telling stories of a place then advising people to leave such place are the jobs of the non-compos mentis.

9- Personal Shame on Ancestors’ Stupidity

To help save the face of their ancestors for failing throughout a century to understand the terrible things of Vietnam then to be beaten black and blue by such terrible people, what Marie Cordiez and people like her can do is to talk nonsense against Vietnam to make it still the underdog to the highly valuable and proudly civilized country like France, then to shout aloud to warn people to leave Vietnam for good.

10- Personal Relief to All Above-Mentioned Shames

However, Marie Cordiez and people like her can leave Vietnam for good with a blessed relief because big investors the world over have been flocking to Vietnam in endless queues for business opportunities. Such overcrowded community will play the excellent role of shielding away the with-the-tail-between-the-hind-leg escapade of Marie Cordiez and people like her. Thank God for all this!

And finally, if any other terrible thing about Vietnam could be further defined by Marie Cordiez or people like her, they are hereby requested to kindly keep the undersigned informed so that the humankind may have another opportunity to read my highest quality counter-attack comments. Being a Vietnamese, though never a communist party member, I vow to the world over that nobody on earth can say or write anything against my Vietnam without facing the strongest retribution from my very self.

“Assez! Voici la punition!”

Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoang Huu Phuoc, Ho Chi Minh City, Vietnam.

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

D) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

france

Bỏ Đi Biệt Xứ – 10 Lý Do Marie Cordiez Nên Rởi Việt Nam Vĩnh Viễn Không Chút Hối Tiếc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trong bài viết bằng tiếng Pháp nhan đề EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam đăng ngày 12-9-2016 tại http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez đã trở thành kẻ bất khả tư nghị khi nói xằng bậy chống Việt Nam. Để dạy cô ta và những tên tương cận về sự thật rằng các giới hạn luôn là những thước đo phải có trong thế giới văn minh và rằng sự tự do tuyệt đối không bao giờ tồn tại ngay cả trong các cộng đồng man di mọi rợ kể cả người của thời kỳ sống trong hang động, tôi qua đây muốn phản pháo băng bài viết của tôi nhan đề Bỏ Đi Hẳn – 10 Lý Do Marie Cordiez Không Nên Tiếc Nuối Khi Bỏ Việt Nam Ra Đi Không Bao Giờ Quay Lại ngõ hầu đơn giản cho cô ta biết về một câu tục ngữ của trí tuệ Á Đông rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu”, một bài học mà tôi lấy làm tiếc tin rằng cô ta đã chưa từng được giáo dục để biết đến kể từ ngày đầu được Thượng Đế quẳng ném cô ta lên bắp đùi của mẹ cô ta cho đến ngày nay.

1- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Pháp Ngữ

Mặc dù đô hộ Việt Nam trong một thế kỷ, Pháp vẫn thất bại không biến Pháp Ngữ thành ngôn ngữ của người Việt – vì vậy đã khiến các hậu duệ của các tên thực dân Pháp như Marie Cordiez phải phí số tiền khổng lồ để đầu tư học tiếng Anh để có thể chen lấn kiếm được việc làm tại Việt Nam trong thiên niên kỷ này.

2- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Các Quan Tâm Về Sức Khỏe

Mặc dù Pháp đô hộ Việt Nam hàng trăm năm, có vẻ như người Việt chẳng học hỏi được gì từ các nhà chinh phục Pháp đối với các thực hành thực tế tốt về sức khỏe, ắt có thể do có sự thật là các tên thực dân Pháp – tức tổ tiên của Marie Cordiez – chỉ để lại chứng tích về việc chúng đã hoàn toàn thỏa mãn với việc hàng ngày hít thở thưởng thức những điều kiện mất vệ sinh tồn tại những hàng trăm năm (ý nói bọn thực dân Pháp quen ăn ở dơ dáy nên người dân Việt chẳng bắt chước được gì từ chúng đối với cách sống vệ sinh mà chúng tự hào là văn hóa văn minh Pháp).

3- Quốc Nhục (Của Pháp) Về Ô Nhiễm

Tương tự, dường như thời gian làm thuộc địa Pháp trong hàng trăm năm đã khắc ghi vào tâm khảm người Việt Nam để xem cách sống bịnh tật và bịnh hoạn của thực dân Pháp sống trong sự dơ dáy là thứ đáng để bắt chước mà không biết rằng qua thiên niên kỷ sau thì đám hậu duệ của bọn thực dân Pháp như Marie Cordiez lại mặt dày đem dán từ “ô nhiễm” lên trán các hậu duệ của những người lật đổ không những chế độ thực dân Pháp mà còn cả đế chế Pháp.   

4- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Vấn Đề An Ninh

Dù Pháp chiếm đóng Việt Nam trong một thế kỷ, đã có sự minh chứng hùng hồn ngày nay rằng Việt Nam an toàn hơn Pháp rất nhiều đối với các vấn đề như nhân quyền, phẩm giá, và khủng bố mà những nhà ái quốc Pháp của Marie Cordiez khó thể có được ngay tại Thủ đô Paris.

5- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Ngó Lơ

Thật bình thường một cách hoàn toàn dễ hiểu đối với việc rửa thù báo oán dành cho những kẻ đã gây ra tội ác tởm kinh. Song, người Việt lại không bao giờ trả thù  Marie Cordiez cùng hậu duệ của đám thực dân Pháp, cứ như thể người Việt khinh thường khinh khi những kẻ như Marie Cordiez cứ như thể đám này không tồn tại hoặc chẳng đáng giá một xu teeng. Những sự bị điếm nhục và hạ nhục như thế khó lòng chịu đựng được bởi những kẻ vác mặt lên trời như Marie Cordiez và do đó chúng – có cả cô ta – nhất thiết cần kíp phải chuồn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể.

6- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bất Tài Vô Dụng

Trong vài ba thập niên qua, tất cả những người nước ngoài công tác tại Việt Nam đều được công ty của họ đài thọ chi phí cho con họ được học tại các trường quốc tế ở Việt Nam. Những kẻ như Marie Cordiez nếu không thể lo được chi phí học hành cho con cái họ tại các trường dạy bằng tiếng Anh thì điều này đơn giản có nghĩa rằng họ không ở vị trí lãnh đạo hay quan trọng vì bất tài vô dụng. Để đậy che nỗi nhục này, họ nên chạy trốn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể được.

7- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Vô Trí

Khi than vản về ẩm độ cao tự nhiên không thể chịu đựng được ở Việt Nam, Marie Cordiez và những tên tương cận hoàn toàn vô trí. Việc này đặt ra một nghi vấn đầy ngạc nhiên vì sao trong thời hiện đại và lắm cạnh tranh này lại có kẻ quyết định đến một nơi xa xôi mà lại không đầu tư ít nhất là năm phút để kiếm tìm trên Google những câu hỏi thường gặp có liên quan đến nơi chốn ấy. Cứ như thể họ đã đến Việt Nam với tư thế những kẻ cùng đường mạt vận cùng đinh!

8- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Gọi Là Quân Mồm Loa Mép Dải Già Mồm Bá Láp Láo Xạo Tào Lao

Những ngoại kiều có văn minh đều luôn hành xử một cách có học thức bằng cách gởi những ý kiến đóng góp cho chính quyền nước sở tại như một trách nhiệm của người công dân toàn cầu có những cống hiến nhằm tạo nên những ích lợi tốt hơn cho nhân loại hoặc chí ít là cư dân địa phương. Đơm đặt về một nơi rồi khuyên bảo người khác bỏ nơi ấy mà đi là việc mà những chỉ những kẻ bất khả tư nghị mới làm.

9- Nỗi Nhục Bản Thân Đối Với Sự Ngu Xuẩn Của Tiền Nhân

Nhằm giữ thể diện cho tổ tiên vì đã thất bại suốt thế kỷ vẫn không nhận ra các điều kinh khủng ở Việt Nam để rồi bị những người Việt Nam kinh khủng ấy đánh cho tơi tả tơi bời, những gì mà Marie Cordiez cùng đám tương cận có thể làm là đơm đặt điều láo xạo chống Việt Nam nhằm biến Việt Nam vẫn như là nước ở chiếu dưới so với đất nước Pháp văn minh tột đỉnh giá trị tột cùng, rồi hô hào kêu gọi mọi người hãy rời bỏ Việt Nam mãi mãi.

10- Sự Thở Phào Nhẹ Nhỏm Của Bản Thân Đối Với Những Nỗi Nhục Nêu Trên

Tuy nhiên, Marie Cordiez và đám tương cận có thể bỏ Việt Nam không bao giờ quay lại với một sự thở phào nhẹ nhỏm được Thượng Đế tặng ban, vì rằng các nhà đầu tư lớn trên toàn thế giới đã và đang đổ xô về Việt Nam đứng sắp hàng dài vô tận để kiếm tìm cơ hội kinh doanh. Cái cộng đồng đông đúc khủng khiếp đó sẽ đóng vai trò tuyệt hảo trong che chắn cảnh tháo chạy lúp xúp với đuôi cụp giữa hai chân sau của Marie Cordiez và đám tương cận. Tạ ơn Thượng Đế cho ân phú này!

Cuối cùng thì nếu có điều gì khác khủng khiếp về Việt Nam có thể được nhận diện  bởi Marie Cordiez hoặc những người như cô ấy, kính xin họ hãy vui lòng báo cho người ký tên dưới đây được biết để nhân loại có thêm cơ hội đọc những ý kiến phản pháo chất lượng tuyệt hảo của người ký tên dưới đây. Là người Việt Nam, dù không bao giờ là Đảng viên Cộng Sản, tôi xin thề với toàn thế giới rằng không bất kỳ ai trên trái đất này có thể nói hay viết bất kỳ điều gì chống lại đất nước Việt Nam của tôi mà không phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của chính tôi.

“Assez! Voici la punition!”

(Thôi quá đủ! Hãy xem đây hình phạt!)

Thơ Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Các bài viết thể loại Dạy Bảo Ngoại Nhân:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Tôi Và Philipp Rösler

Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-9-2016

quy-goi-hay-quy-dau

A) Giải Thích Từ Ngữ

Tất nhiên, lời giải thích từ ngữ sẽ là điều cần thiết cho tiêu đề phi truyền thống của bài viết này vì sự thâm thúy của tiếng Việt chứ không vì một “méo mó nghề nghiệp” của tác giả mà ắt chẳng ít người rất có thể đã cho rằng cái gì lão ta cũng viện dẫn tiếng Anh cứ như để khoe khoang hoặc do “ngộ chữ” vậy.

“Quỳ gối” thì ai cũng biết, dù là dân ở bất kỳ xứ miền nào và sử dụng bất kỳ hệ ngôn ngữ nào, chẳng hạn người Trung Hoa đã luôn quỳ gối trước các hùng binh Nhật Bản

quy-goi-hay-quy-dau-1

Thậm chí tiếng Anh còn có cả từ ngữ du nhập là động từ “kowtow” để nói về kiểu “quỳ lạy khấu đầu” của người Tàu tức “quỳ lạy phủ phục dập đầu” khi mông thì chổng lên trời còn trán thì chạm mặt đất như khi ở chốn công quyền, lúc diện kiến quân vương, hay để bày tỏ sự trọng thị đối với bậc trưởng thượng

quy-goi-hay-quy-dau-2

Như vậy, dù “quỳ gối’ thì vẫn dính dáng tới hai khu vực có chữ “đầu”, đó là…“đầu gối” và “đầu”…đội nón.

Tuy nhiên – và tất nhiên – bài này không nói gì về những loại bình thường như trên mà ai ai cũng biết đến, nghĩa là không có sự dính dáng cộng hưỡng tương hợp của “quỳ gối” với “quỳ khấu đầu” trong cụm từ “quỳ đầu” do tác giả bài viết này tạo ra. Bài viết, do đó, chỉ muốn nói về hai cụm từ đối nghĩa hoàn toàn giữa một bên là “quỳ gối” thuần hình tượng ngoại vi rõ nét của sự thực hiện đáp ứng một lễ nghi hoặc của sự áp dụng một chiến thuật hay dưới áp lực từ bên ngoài thường mang tính đối phó hữu hạn, còn một bên là “quỳ đầu” thuần trừu tượng nội vi của sự quy phục quy hàng tự nô dịch tự vong thân tự nguyện tự hoan hỷ vô hạn từ bên trong.

B) Nhà Sử Học

1- Bản Chất Chuyên Nghiệp Âu Tây

Trong một số bài viết trước đây, tôi có nêu nhiều giá trị đặc thù cao vời vợi cụ thể của nghề nghiệp một sử gia tại các siêu cường Âu Mỹ để phê phán hiện trạng Sử của Việt Nam – mà tiếc thay ở Việt Nam chưa hề có bất kỳ ai nêu được bất kỳ điều gì tương tự khiến cả nghề sử và môn Sử trở thành nỗi nhục nhã khôn khuây của riêng chỉ Việt Nam – cũng như những tùy tiện hủy phá Sử hoặc lạm dụng Sử nhằm (a) bảo vệ cái gọi là thể diện quốc gia, hay (b) che dấu cái tinh thần nô dịch “quỳ đầu”, hoặc (c) phục vụ mưu đồ phản loạn.

Thử đưa ra một thí dụ cực kỳ nhỏ nhoi ở đây về “nhà sử học” đồng thời là nghị sĩ Vương Quốc Anh Chris Skidmore, thường xuyên thực hành điều bình thường của tất cả các “nhà sử học” Âu Tây là nghiên cứu các khúc mắc, những nghi án, hay những khoảng còn mờ, còn xám, còn tối, còn nhòe nhoẹt nhập nhằng để hình thành các tác phẩm khảo cứu đồ sộ, như bật một que diêm – chứ không nhất thiết phải là ngọn đèn pha hàng ngàn watt – soi rọi một phần, ngay cả khi cái phần được le lói soi rọi chập chờn ấy không nhất thiết phải mang ý nghĩa một khẳng định chân lý ngay lập tức, chúng ta sẽ thấy thế nào là tính-chuyên-nghiệp-không-ngừng-nghỉ của bất kỳ ai mang danh “sử gia” hay “nhà sử học” của thế giới học thuật Âu Tây.

quy-goi-hay-quy-dau-3

Trong tác phẩm dày 448 trang mang tựa đề Death and The Virgin: Elizabeth, Dudley and the Mysterious Death of Amy Robsart (Tử Thần và Trinh Nữ), Chris Skidmore đã khảo cứu về nghi án mà vị “nữ hoàng trinh nguyên” Elizabeth rất có thể do dan díu với Robert Dudley đã khiến vị này gây ra cái chết đầy bí ẩn của vợ ông là công nương Amy Robsart.

quy-goi-hay-quy-dau-5

Dựa theo những chứng cớ gom nhặt diễn giải từ tàng thư, những nghiên cứu thực nghiệm ngay tại lâu đài Cumnor gần Oxford cũng như tại vị trí những bậc thang nhỏ hẹp nơi xác công nương Amy Robsart được tìm thấy sáng ngày 08-9-1560 mà đoàn pháp y hoàng gia chứng thực sự tử thương là do nạn nhân sơ ý té lăn xuống những bậc thang uốn khúc, Chris Skidmore đã cho ra những hoài nghi, chẳng hạn như khu vực cầu thang đá nhỏ hẹp, không cao, nhiều uốn khúc dành cho gia nhân đó trong lâu đài không phải là nơi một vị mệnh phụ phu nhân một mình thẩn thơ đi giám sát để rồi té lăn xuống với vết tử thương cứ như đã bị sát hại rồi bị quẳng xác xuống từ một lầu  cao nào khác trước khi lôi đến bỏ tại chân cầu thang tăm tối, hoặc nữ hoàng Elizabeth dù si mê hoan lạc với tình nhân Robert Dudley cũng đã quyết định “ở vậy” chứ không kết hôn cùng ông sau cái chết của vợ ông, do cái chết đầy bí ẩn ấy râm ran hình thành những hồ nghi đơm đặt về sự nhúng tay đạo diễn của chính Robert Dudley, mà điều này có thể gây phương hại đến thanh danh Elizabeth và hoàng gia Vương Quốc Anh.

quy-goi-hay-quy-dau-4

Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu từ bình thường đến phi thường tương tự của nhiều “nhà sử học” đối với các khuất tất trong lịch sử hoặc của nước họ hoặc của nhân loại từ thời Cổ La Hy; chưa kể, không hề có mặc định là chỉ có “nhà sử học” Ai Cập mới có quyền nghiên cứu về Sử Ai Cập, hoặc phải là “nhà sử học” Việt Nam mới có quyền nghiên cứu về Việt Sử, v.v. Đây là lý do có số lượng ngồn ngộn các tác phẩm sách Sử và tác phẩm phim tài liệu về Sử, giúp trí hóa nhân loại được mở mang, giúp ngành Sử phát triển hùng mạnh, và giúp “nhà sử học” luôn bội thu cả về danh vọng lẫn tác quyền. Tất cả những điều “bình thường” này chưa hề thấy có ở Á Đông – trong đó có Việt Nam.

2- Bản Chất Trá Ngụy Á Đông

Để phục vụ mục đích chiến thắng thuần tâm lý chiến và ý thức hệ, Âu Mỹ luôn ra sức bóp méo lịch sử để biến công trạng vĩ đại riêng của Liên Xô đối với toàn nhân loại trong quyết định số phận toàn bộ Đệ Nhị Thế Chiến khi một mình Liên Xô chỉ riêng trên mặt trận trực diện Đức-Liên Xô đã tiêu diệt 507 sư đoàn tinh nhuệ chủ lực Đức Quốc Xã,100 sư đoàn Phát Xít, loại khỏi vòng chiến đấu 74% quân đội Đức, phá hủy 75% lực lượng xe tăng, 70% lực lượng không quân và 74% lực lượng pháo binh, bị phủ che mờ nhòe trong sử sách Âu Mỹ khiến cái “công trạng” tổng hợp của Mỹ và các nước đồng minh trong đánh bại 176 sư đoàn Quốc Xã và Phát Xít cùng việc thả hai quả bom nguyên tử xuống Nagasaki và Hiroshima trở thành duy nhất “hiển hách” trong đại cuộc “giải phóng Châu Âu”.

Tuy nhiên, sự bóp méo kể trên đã được thực hiện và đã thực hiện được chỉ nhờ vào có sự đồng tình đồng thuận đồng tâm đồng đẳng theo lợi ích nhóm của thế lực chính trị Âu Mỹ đối với thế giới sử nhằm (a) hòa âm điền dã với đại cuộc ngăn chặn nguy cơ khủng khiếp tràn lan ảnh hưởng của Liên Xô xô ngã thành trì của cái gọi là thế giới tự do; (b) tự cứu nguy thể diện của các quốc gia tư bản Tây Âu như Anh đã “đi đêm” với Hitler, Pháp “bán nước” cho Đức Quốc Xã, Thụy Sĩ “bán thân” cho Đức Quốc Xã, và hàng loạt các quốc gia Âu Tây quỳ gối và quỳ đầu trước lá cờ Chữ Thập Ngoặc, nên nhất thiết phải có cho bằng được tấm áo khoác mang dòng chữ lấp lánh kim tuyến dạ quang của “vùng lên giải phóng quốc gia khỏi gót giày xâm lược của Đức Quốc Xã”; và (c) các pho sử khác nhau của các nước Tây Âu khác nhau lại kể cùng một sự việc giống nhau đến lạ lùng nhưng đầy sức thuyết phục với những kẻ bàng quan về cái gọi là đại công của các nước Tây Âu này trong Đệ Nhị Thế Chiến do đó đã chứng minh rằng chính họ và Mỹ chứ không phải Liên Xô đã giải phóng Châu Âu.

Song, riêng với lĩnh vực Sử chuyên biệt của mỗi quốc gia Âu Tây thì tính chuyên nghiệp là bản chất thuần nhất hừng hực bung ra của nghiên cứu Sử Tây Âu, trong khi đó tiếc thay sự trá ngụy lại là bản chất hỗn tạp thu mình thâm căn cố đế của nghiên cứu Sử Á Đông như được thể hiện ở bảy dạng đặc thù sau.

a) Gắn Hào Quang Cho Sử

Sử Tàu là minh chứng hùng hồn nhất cho cái thói cố tình gắn hào quang cho Sử chẳng hạn như truyền thuyết về một vị sử quan bị xử trảm vì khăng khăng không chịu sửa lại những tình tiết mà chính mình đã hàng ngày ghi chép lại từ những “điều có thật” đã xảy ra tại triều đình. Chuyện tầm phào này nhằm phục vụ cho một mục đích ngụy trang dài lâu – có khi xuyên thiên niên kỷ – rằng tất cả những gì đã ghi trong sử sách Tàu đều trung thực và là chân lý. Việc này chẳng khác gì để lờ đi sự thật về thói tà dâm loạn luân kinh tởm của toàn bộ các mệnh phụ phu nhân của tất cả các vương triều Trung Hoa, bọn sử gia Tàu đã nêu ra một “gương tiết liệt” của một góa phụ thời Đông Chu Liệt Quốc đã hươi đại đao chặt đứt lìa cánh tay của mình sau khi cánh tay ấy bị một gã đàn ông sàm sở sờ mó mân mê. Sử Tàu đã được gắn hào quang kiểu ấy để qua thiên niên kỷ sau đó, Tàu hê lên rằng Tàu có chứng cớ sử liệu về sự ghé thăm của các thương thuyền Tàu đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, từ đó xác quyết chủ quyền lịch sử “không thể chối cãi” của Tàu đối với toàn bộ Biển Đông, theo kiểu: nếu sử quan A thời Đông Chu Liệt Quốc bị bêu đầu vì không chịu viết Sử sai sự thật thì tất tần tật mọi thứ từ B đến Z được ghi trong Sử Tàu – bất kể là Sử cổ hay Sử mới chế biến xào nấu – đều là thật tuốt tuồn tuột bất khả “chái cổi”.

Môn học Lịch Sử chỉ là một môn học về nhiều thứ, từ dã sử đến chính sử, từ truyền khẩu đến những bằng chứng thư tịch gọi là “sử liệu” vốn thuần túy mang tính hoạt động hành chính hàn lâm tại triều đình của bất kỳ quốc gia nào, của bất kỳ dân tộc nào.

Sử không hề có hào quang.

Sử là về những sự kiện, dù đó là về những cuộc ồ ạt di dân Exodus bi thảm hay bi tráng trong lịch sử nhân loại: từ cuộc Exodus vạn lý trường di của người Việt về phương Nam rời bỏ vùng Động Đình Hồ rộng lớn để lánh nạn giặc Tàu; cuộc Kansas Exodus của người Mỹ da đen năm 1879; cuộc Mormon Exodus xuyên lục địa vì lý do đàn áp tôn giáo vượt miền Trung Tây Hoa Kỳ tiến về Thung lũng Salt Lake; cuộc Exodus của người Do Thái; và các cuộc Exodus 1948, 1949-1956, và 1967 của người Palestin bị quốc tế xua đuổi khỏi quê hương, khỏi Dãy Gaza, khỏi Bán Đảo Sinai, khỏi Cao Nguyên Golan, và khỏi Bờ Tây; cũng như cuộc Exodus 1975 vượt biển của người Việt khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

Bản thân các Exodus không hề có hào quang, vì Sử không bao giờ có hào quang. Tất cả các Exodus đều là sự bôn đào từ bản chất, không bao giờ là sự “tìm đến miền đất hứa của tự do” chói lòa chói lọi chói chang hào quang bất kỳ.

Chăm chỉ gắn hào quang cho Sử là việc làm điểm tô nhan sắc cho Sử, mà sự tô son trát phấn đó chính là sự lạm dụng Sử, việc trá ngụy thứ nhất đặc thù của Á Đông.

b) Dùng Sử Làm Hào Quang

Sử gồm những gì (a) là sự thật, (b) được cho là giống sự thật hơn, (c) là kết quả của các khảo cứu khoa học bổ sung gần nhất tức còn đợi chờ các bổ sung của tương lai, và (d) thậm chí những gì hoàn toàn không bao giờ có thể kiểm chứng được. Tất cả dựa vào những pho Sử chủ lực của mỗi quốc gia, mà sự khách quan của các “sử gia” khi chấp bút viết nên các pho Sử ấy không bao giờ được mặc định là luôn tồn tại.

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.

c) Phủ Nhận Lịch Sử

Tàu phủ nhận lịch sử nên không bao giờ có các thiên tiểu thuyết lịch sử về các thời kỳ Tàu bị Việt Nam đánh cho đại bại, thậm chí có lần bị Lý Thường Kiệt xua đại quân tràn ngập non sông Tàu, phá tan thành bình địa bao thành quách khiến Sử Tàu mãi mãi không bao giờ còn có thể biết đến vị trí chính xác của các di tích lịch sử ấy. Toàn bộ nền văn học Tàu chỉ có các thiên “anh hùng ca” như Tiết Nhân Quý Chinh Đông đại thắng Đại Hàn, hoặc La Thông Tảo Bắc, hoặc Tiết Đinh San Chinh Tây, v.v. mà thôi.

Nhật phủ nhận lịch sử nên thường xuyên thay đổi sách sử, không công nhận các “tội ác” đã gây ra trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Những người Việt Nam của cuộc Exodus 1975 và những người chống Việt phủ nhận lịch sử khi bôi nhọ Hồ Chí Minh và phủ nhận tất cả các chiến thắng của cộng sản Việt Nam bất kể đó là chiến thắng Thực Dân Pháp hay chiến thắng Đế Quốc Mỹ hoặc chiến thắng Bá Quyền Bành Trướng Tàu. Ắt họ cũng đã soạn sẵn nội dung để tung ra nhằm phủ nhận ngay vinh quang của Trận Điện Biên Phủ Trên Biển của cộng sản Việt Nam khi biến Biển Đông thành Huyết Hải vùi chôn toàn bộ hải quân Tàu trong trận chiến vệ quốc của tương lai.

Nhiều “nhà nghiên cứu” Việt mang học hàm “tiến sĩ” khi viết về Sử đã lộ rõ nguyên hình là những tay mơ ngu ngốc một cách đáng thương hại khi lầm lẫn giữa sĩ diện đối với một hành vi vô nghĩa và sách lược sáng suốt của tất cả các đấng minh quân. Trong các bài viết trước đây, tôi có kể về “lễ bão tất” khi Vua Quang Trung sang Tàu phủ phục quỳ ôm gối Vua Càn Long để hành lễ như đối với phụ hoàng. Các vị tiến sĩ viết nghiên cứu Sử kiểu gì mà lại ghi rằng họ “không khỏi bẽ bàng”, rằng “vua nước mình chạy lại quỳ xuống ôm gối ông vua già nước Tàu thật còn gì là quốc thể”, và rằng “dù là vua Quang Trung thật hay vua giả thì nghi lễ đó cũng là một thái độ sĩ nhục đất nước mình”. Chính các “nhà nghiên cứu” này là sự sĩ nhục quốc gia Việt Nam, làm xâm hại quốc thể Việt Nam, khiến giới sử học Âu Tây phải cảm thấy bẽ bàng trước sự xuẩn ngốc bất chuyên nghiệp của những kẻ tiếm danh “nghiên cứu Sử”. Vì rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam tất cả các vị vua đều phải quỳ gối xưng “thần” với “thiên triều Tàu”, dù cho có đánh cho Tàu đại bại cũng phải ngay lập tức “xin lỗi mạo phạm”, lạy xin Hoàng Đế Tàu phong cho tước Vương để làm An Nam Quốc Vương, hối hả lùa bắt trinh nữ quốc sắc thiên hương, vơ vét tài nguyên quốc gia, để dâng Hoàng Đế Tàu, xoa dịu và cứu vãn uy danh Hoàng Đế Tàu, và khi chiếu sắc phong của Hoàng Đế Tàu về đến thì Vua Việt phải lập bàn hương án quỳ gối khấu đầu đón nhận “thiên ân” – tất cả nhằm để cứu đất nước được toàn vẹn và dân tộc được sinh tồn. Đó là “quỳ gối” để che dấu sự thật là không bao giờ “quỳ đầu”. “Quỳ Gối” như một sách lược vì đại cuộc tránh sự đối đầu kéo dài của “lấy trứng chọi đá”. Và chính sự không bao giờ “Quỳ Đầu” đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử của nước Việt mỗi khi “người quỳ gối xưng Thần” vùng lên đánh cho tan tác thiên binh thiên tử, di xú vạn niên, vạn đời ô uế, muôn kiếp ô nhục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ nghi lễ mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam tận dụng để tung hỏa mù trước đối phương.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ hành động mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam phải thực hiện, tự mình nuốt nhục thực hiện để chỉ bản thân lặng câm chịu tội trước dân tộc – nếu dân tộc không thấu hiểu – chứ quyết không để một người dân Việt nào phải quỳ gối trước ngoại bang như kiểu người dân Tàu phải quỳ gối bên vệ đường lịch sử trước quân đội Thiên Hoàng.

“Quỳ Gối”, do đó, là một thế xuống tấn của võ thuật Việt để khi cần thì xuất chiêu hất “đầu” hoặc lộn “đầu” đánh vòng hai chân ngược lên trấn đạp ngay vào đỉnh “đầu” tử huyệt đối phương.

Phủ nhận lịch sử để miêu tả nặng nề về việc “quỳ gối” là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử để lờ đi sự thật hào hùng không bao giờ “quỳ đầu” của tất cả các lãnh đạo Việt Nam từ xưa đến nay cũng là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử, do đó, chính là một trá ngụy quái gở đặc thù Á Đông.

d) Sáng Tạo Lịch Sử

Từ cái thói phủ nhận lịch sử như đã nêu trên, các “sử gia” Á Đông sáng tạo ra lịch sử. Và sự xào nấu chế biến này là một trá ngụy khác của giới gọi là “sử gia”, “nhà sử học” hay “nhà nghiên cứu Sử” Á Đông.

Vì cái sĩ diện mà “sử gia” Việt chế tạo ra giai thoại Vua Quang Trung cử người giả đóng vai mình để sang chầu vua Tàu Càn Long. Đã là bí mật cử một “giả vương” tức là một việc làm “khi quân” đối với Vua Tàu, có thể dẫn đến họa binh đao, thế mà sao tên thật của “giả vương” lại đường đường chính chính được ghi vào sử sách, chưa kể theo lề lối thực hành thực thi thực hiện của muôn đời và muôn nơi thì (a) vị “giả vương” ấy sẽ bị thủ tiêu sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về, (b) sự thật về việc “giả vương” chỉ có thể được phát hiện sau đó nhiều trăm năm từ các nguồn kể cả kém chính thống qua các nghiên cứu độc lập, và (c) chẳng có sử liệu gì ghi lại cuộc đời sau đó của “giả vương” sau khi lập “đại công” lừa gạt Vua Tàu khiến “giả vương” tự dưng tan biến trong sử sách.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra sự “hào hùng tuẫn tiết” của các bại tướng Việt Nam Cộng Hòa vốn chỉ biết tiến quân lúp xúp sau lưng các chiến binh viễn chinh Mỹ và đồng minh.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” nhằm che dấu sự thật rằng Mỹ đã (a) vừa cấm Việt Nam Cộng Hòa không được cho hàng trăm oanh tạc cơ xuất kích dù đã tập kết đầy đủ bom đạn tại Đà Nẳng sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ các chiến hạm Tàu xuống đáy Biển Đông, (b)  vừa lịnh cho Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ mặc để các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu tiêu diệt cho thêm phần bi tráng, và (c) vừa cho Đệ Thất Hạm Đội trấn giữ Biển Đông lẳng lặng rút lui và án binh bất động để Tàu thực hiện hoàn tất việc chiếm giữ Hoàng Sa ngay sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình – tất cả chỉ để bêu xấu Bắc Việt “bán nước” dù Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa quản lý đã bỏ mặc chủ quyền để dâng cho Tàu theo lịnh Mỹ.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra chuyện Bắc Việt định tuyên bố đầu hàng thì Mỹ đột nhiên chấm dứt ném bom Miền Bắc, nghĩa là chỉ cần Mỹ ném bom thêm một ngày là Hồ Chí Minh giương cờ trắng quỳ gối quy hàng.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ và Mỹ gốc Việt áp dụng ngay từ ngữ “xâm lược Campuchia” để Mỹ thực thi lịnh cấm vận Việt Nam.

Thật là sự suy vi suy đồi suy tàn của ngành Sử ở thế giới Á Đông, nơi có sự “quỳ đầu” rõ nét nhất, nhục nhã nhất của sự vong thân.

e) Tiêu Hủy Sử Liệu

Chi tiết hùng biện của tác giả bài viết này lúc đối đáp với các phóng viên báo chí đổ xô đến “tra tấn” về sự việc “Tứ Đại Ngu” năm 2011 đã chưa từng được bất kỳ tờ báo nào – dù in hay mạng – kể lại cho khách hàng tức độc giả của họ trên toàn quốc được biết đến. Tất cả chứng minh báo chí chính thống Việt Nam (a) không bao giờ để độc giả biết sự thật đặc biệt khi sự thật ấy gây bất lợi cho báo chí, (b) không bao giờ phơi bày bản thân hoàn toàn thất bại về hùng biện trước “đối tượng” mà họ phải tiêu diệt, (c) luôn có sự đồng tâm hợp lực trong ra sức tiêu diệt “kẻ thù chung” của báo giới, (d) luôn có sự lộng hành của báo chí khi mặc định rằng một cá nhân nào đó khi ngăn cản Luật Biểu Tình tức đồng nghĩa với việc chống Thủ Tướng và Chống Đảng nên nhất thiết phải bị tiêu diệt, và (e) luôn góp phần “tiêu hủy sử liệu” như đã không bao giờ nói gì đến “sử liệu” rằng lần đầu tiên đã có sự vỗ tay tán thưởng rầm rộ của cả hội trường quốc hội khi một nghị sĩ đứng phát biểu tại chỗ chứ không trên “sân khấu” khi nghị sĩ này hùng biện ngăn cản Luật Biểu Tình.

Tác giả bài viết này giữa vòng vây tấn công điên dại của báo chí đã hùng biện rằng (a) điều nào của luật nào ghi rõ không được phép dùng từ “đại ngu”, rằng (b) người viết xuất thân là nhà giáo nên học tính khẳng khái của Thầy Chu Văn An, rằng (c) tuy noi gương Thầy Chu Văn An vẫn không quá quắc cực đoan như Thầy khi nằng nặc đòi chém đầu cho bằng được bảy nịnh thần, rằng (d) có nhà báo nào biết tờ Thất Trảm Sớ hiện ở đâu không để có thể chứng minh lời lẽ của Thầy Chu Văn An khi giận dữ đòi chém đầu người khác vẫn viết với văn phong ôn hòa đôn hậu lịch lãm dịu dàng nhẹ nhàng, và rằng (e) có nhà báo nào biết tên bảy vị nịnh thần ấy cùng các tội cụ thể của từng vị hay không để yên tâm rằng các vị đó có thực tội để phải chịu tội theo chuẩn văn minh văn hóa cao vời của Ân Mỹ – trong khi tác giả bài viết chỉ ghi ra bốn điều ngu của một kẻ đại ngu chứ không kể bốn điều tội của kẻ đại tội thì sao các phóng viên lại phải quan tâm cứu nguy kẻ đại ngu đến thế.

Chi tiết có thật 100% trên nhằm chứng minh một sự thật khác cũng có thật 100% tại Việt Nam đối với sử liệu: thói hủy phá sử liệu. Ngoài một chi tiết lẻ loi bằng tiếng Việt hoàn toàn không đáng tin cậy trên Wikipedia ghi rằng trong Thất Trảm Sớ Chu Văn An đã xin vua Trần Dụ Tông chém đầu 7 vị quan mà ông cho là “nịnh thần” gồm Mai Thọ Đức, Châu Canh, Bùi Khâm, Văn Hiến, Nguyễn Thanh Lương, Tâm Đức Ngưu, và Đoàn Nhữ Cầu, thì (a) không bất kỳ một pho chính Sử nào của Việt Nam có ghi nội dung tương tự, (b) không bất kỳ ai từng thấy cái gọi là “Thất Trảm Sớ”, (c) không bất kỳ ai biết chức danh và tội danh của từng vị trong số “7 nịnh thần”, (d) không bất kỳ ai chứng thực Chu Văn An nắm rõ Luật Hình Sự nước nhà để dám quy chụp tất cả 7 vị đó đều phạm tội phải chịu bị xử trảm cũng như việc tố cáo có đã theo đúng trình tự tố tụng hay chưa hay chỉ cần muốn chém ai thì cứ tự tung tự tác viết sớ gởi thẳng cho vua, và (e) hệ thống lưu trữ tàng thư của Nhà Trần cụ thể ra sao mà để xảy ra việc lộng hành làm biến mất hoàn toàn và triệt để của tờ “Thất Trảm Sớ”.

Việc hào quang hóa một nhân vật lịch sử còn dẫn đến việc Chu Văn An được ngợi ca là “bậc trung thần dũng cảm phi thường, có uy tín cao trong triều đình, người Thầy chuẩn mực của muôn đời” dù sử liệu có cái thì ghi Thầy là Tiến Sĩ, có cái lại ghi Thầy chẳng đỗ đạt gì, thậm chí có cái còn ghi rằng “nội dung dạy học của Thầy ngày nay không còn được biết đến đầy đủ nhưng chắc chắn đã nổ lực giảng dạy học thuyết kinh điển của Nho gia tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng-Mạnh dần chiếm thế độc tôn.” Chỉ cần làm sớ xin chém đầu 7 vị quan mà hậu thế không rõ phạm tội cụ thể nào là đã được danh dũng cảm phi thường. Mặc cho Thất Trảm Sớ không đủ sức hùng biện thuyết phục vua, người viết vẫn được cho là có uy tín cao trong triều đình. Và mặc cho không ai biết rõ nội dung dạy học của Chu Văn An, Thầy vẫn được tôn vinh thành bậc Thầy của muôn đời. Tất cả những điều này chỉ được chấp nhận trong khung cảnh và hoàn cảnh Việt Nam, trong khi các chuẩn mực khoa học chuyên nghiệp Âu Tây luôn trên cơ sở “hữu bằng, hữu chứng” sẽ không cho là như vậy.

Tiêu hủy sử liệu là tội tày trời của nhà cầm quyền đối với lịch sử của dân tộc.

f) Không Bao Giờ Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Sử

Thay vì nghiên cứu khoa học, hình thành các khảo cứu lịch sử có giá trị về nội-dung-ắt-là của Thất Trảm Sớ hay của vị trí cụ thể chính xác của các đoạn sông cắm cọc từng nhuộm đỏ tanh tưởi máu giặc Tàu, cùng biết bao các điểm mờ, điểm xám, và điểm tối hay điểm nhòe nhoẹt lẫn lộn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ cuộc Exodus Vạn Lý Trường Di rời xa Động Đình Hồ, các “nhà sử học” Việt Nam hoặc (a) chỉ chuyên kể lại những tình tiết sẵn có trong các pho Việt Sử chính thống mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được trong sách hay trên mạng, hoặc (b) áp hiện tại vào quá khứ để giải thích quá khứ – như khi nói về Hội Nghị Diên Hồng như cách lấy ý kiến nhân dân của “trưng cầu dân ý” về chuyện “nên đánh hay nên hòa” trong khi Hội Nghị Diên Hồng thuần túy chỉ để nhà vua phổ biến các yêu cầu toàn dân phải đáp ứng cho đại cuộc đánh tan giặc xâm lược, hoặc (c) chẳng bao giờ xem là “sử liệu” nếu đó là nội dung nghiên cứu chẳng hạn về tên họ của những mỹ nữ thuộc những gia đình nào của những địa phương nào đã bị bắt để đưa về kinh đô dâng cho các vua Việt hưởng lạc hoặc triều cống vua Tàu, hoặc (d) tận dụng danh “nhà sử học” để tuyên bố ngay mà không qua nghiên cứu khoa học hàn lâm rằng “mại dâm” là một “nghề” đã có từ ngàn xưa nên nhất thiết phải được ngày nay luật hóa, v.v.

g) Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Ý Đồ Chính Trị

Từ việc không bao giờ nghiên cứu Sử phục vụ Sử tức phủ nhận giá trị sử liệu những thứ mà giới sử gia thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tìm tòi, các “nhà nghiên cứu Sử” người Mỹ gốc Việt tập trung cho những thứ cũng là “sử liệu” nhưng phục vụ được ý đồ chính trị, chẳng hạn như chi tiết về cái gọi là “Công thư Phạm Văn Đồng” hay “Hội Nghị Thành Đô”, v.v., mặc cho đây là những sử liệu còn nguyên vẹn, mới tinh, có nội dung hoàn toàn dễ hiểu. Tất nhiên nội hàm của Công Thư Phạm Văn Đồng và Hội Nghị Thành Đô mang tính sách lược chiến lược quốc gia nhằm (a) dùng làm chiến thuật hóa giải một tình thế chiến lược và (b) xuất chiêu “cao tay ấn” nhằm thực hiện một mưu trí “thả bóng, bắt mồi” nhằm đưa kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc vào bẫy rập ngoại giao trong thiên niên kỷ mới.

Nhưng chính bởi nội hàm không bao giờ được “bô bô cái miệng” nói về như trường hợp “giả vương” trong sử liệu về Vua Quang Trung nên chẳng mấy ai hiểu thấu đáo, mà đám chống Việt có cớ để tận dụng, để “nghiên cứu” phục vụ ý đồ chính trị nhằm bôi nhọ cho bằng được Cộng Sản Việt Nam bằng những danh xưng như “bán nước” hay “làm tôi mọi cho Tàu” mà nếu dưới thời Vua Quang Trung hay bất kỳ vị vua nào khác trong toàn bộ lịch sử Việt Nam thì những kẻ “nghiên cứu Sử” kiểu ấy trong đám chống Việt đương nhiên không bao giờ thoát được cơn thịnh nộ của nhà vua.

Thói sử dụng sử liệu phục vụ cho mưu đồ chính trị gần đây còn được thể hiện bởi những kẻ thậm chí không cần ngay cả tấm áo khoác của “nhà nghiên cứu Sử”, như bởi đám người đang bối rối cùng đường mạt vận không biết bấu víu vào đâu đã cùng tung hô Ngô Đình Diệm một cách đáng thương hại, khiến các sử gia Âu Tây chuyên nghiên cứu về Ngô Đình Diệm cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.

C) Lộng Giả Thành Chơn

Một gã nọ có background ngành Luật, thuộc đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh, có lần đã “chất vấn” trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nghị trường, yêu cầu Thủ Tướng cho biết kế sách đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

Gã ngu ngốc đó không biết rằng (a) trên toàn thế giới nghị viện không bao giờ có bất kỳ một nghị sĩ nào đặt câu hỏi tương tự, rằng (b) trên toàn thế giới không bao giờ có bất kỳ nguyên thủ nào mở miệng bô bô nói về sách lược quốc gia thực sự trong đối đầu với một siêu cường, và rằng (c) sách lược thực sự trong đối đầu với Trung Quốc không bao giờ là chi tiết được đem ra công khai công bố bên ngoài ngưỡng cửa cấm điện hoàng gia hay phòng họp tối mật của Bộ Chính Trị.

Đặt câu hỏi mà không biết câu hỏi ấy sẽ không bao giờ có câu trả lời, mà vẫn đặt câu hỏi, thì hoặc (a) y là kẻ ngốc thật sự hoặc (b) y nghĩ Thủ Tướng là kẻ đại ngu.

Ở đây chỉ nhằm nêu lên một sự thật rằng sách lược 5000 năm nay của Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, gồm

1) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bọn Tàu

2) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bất kỳ quyền lực nào, bất kể đó là quyền lực cứng của vũ khí tối tân hay quyền lực mềm của triết thuyết hay văn hóa hoặc tài chính. Quyền lực cứng đã muôn đời thất bại tại Việt Nam mà kẻ bại trận gần đây nhất là bọn Tàu trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc cùng với bọn theo đóm ăn tàn của chúng là Campuchia trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam. Quyền lực mềm cũng nếm mùi thất bại mà rõ nét nhất là tại Việt Nam Mác-Lê Nin chỉ là một hệ thống nghiên cứu mang tính cơ sở triết học hiện đại nên Việt Nam không trở thành một xứ miền của giáo điều, thậm chí còn sáng tạo thành công mô hình đầy sáng tạo “nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa” có sự điều tiết cần thiết của Nhà Nước trong giai đoạn phôi thai.

3) Sách lược quốc gia đối với Tàu luôn được chủ động đề ra bởi các lãnh đạo, chỉ được thể hiện khi có nạn ngoại xâm, không bao giờ là thứ để ghi rõ trong sử sách để tránh bị tiết lộ, không bao giờ được nói thật trong các phát ngôn chính thức của lãnh đạo, cũng như không bao giờ được đem ra hỏi ý kiến toàn dân. Hội Nghị Diên Hồng không bao giờ là để hỏi ý kiến người dân xem triều đình nên hòa hay nên chiến, vì chưa từng ai đưa ra được sử liệu về (a) thể thức lấy ý kiến bằng cách giơ tay hay bằng viết phiếu, (b) mẫu của phiếu – nếu là bỏ phiếu bằng cách viết phiếu, (c) danh sách các “bô lão”, và (d) kết quả bỏ phiếu.

Đem cái sự việc giông giống như một sự nhún nhường “quỳ gối” của giới lãnh đạo Việt Nam để bô bô về cái gọi là “bán nước”, ấy là mưu kế “lộng giả thành chơn” của bọn gian tà gian trá gian manh gian xảo gian hùng.

Tóm lại, tất cả những ai nói Cộng sản Việt Nam “quỳ gối” trước Tàu chính là những kẻ “quỳ đầu” trước bất kỳ ai chống Việt kể cả khi kẻ chống Việt chính là Tàu.

Và tóm lại, đây là phần giữa bài được lập lại làm phần kết cho bài viết này:

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự tự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.   

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thế Nào Là Sử Gia

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc!

Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!

Sát Tàu

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Trăm Trứng

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-7-2016

Nhân có cô học trò đọc mấy bài viết vừa qua của tôi thấy tôi than rằng đã không còn bản lưu nhiều bài viết nhiều năm trước do máy vi tính bị hỏng, đã gởi lại cho tôi bài sau, tôi xin lập lại nguyên văn như dưới đây (cuối bài có đăng thêm 5 hình ảnh mới, không có trong bản đăng trước trên emotino.com). Bài này được đăng khoảng đầu năm 2011 lúc Gaddafi vẫn còn tại vị (Mỹ và NATO tấn công Libya tháng 3-2011, giết Gaddafi tháng 10 cùng năm). Không bất kỳ báo chí Âu Mỹ Á Phi nào trên toàn thế giới lúc ấy dám vẽ ra “kịch bản Gaddafi bị sát hại” do Obama đã tuyên bố khẳng định “sẽ không lấy mạng Gaddafi” mà chỉ cùng Anh, Pháp “hỗ trợ phe dân chủ ôn hòa vùng lên nhằm phế truất nhà độc tài Gaddafi, tái lập nền dân chủ tự do, dựng xây đất nước Libya hùng mạnh.”

Hoàng Hữu Phước Luận Về Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên

(Thế Giới Sẽ Ra Sao Nếu Không Còn Gaddafi)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Xu thế hiện nay là…người ta sính dùng từ “xu thế” mỗi khi nói về sự yêu chuộng hòa bình khi có xung đột vũ trang, hiểm họa chiến tranh, hay bùng phát chiến sự, mà quên rằng hòa bình không tự nhiên có, không tuân theo bất kỳ công thức nào để có thể được gọi là “xu thế”, không tự nhiên tồn tại, và nhất là không thể tồn tại vĩnh hằng. Voi, trâu, bò, hươu, nai, hoẵng không xé xác ăn thịt sống của nhau ngay cả khi có sự cạnh tranh thực phẩm xảy ra làm vơi đi nguồn cây lá; song hổ, báo, mãnh sư, và linh cẩu không vì cây cỏ bị ăn tranh vẫn cứ xé thịt cộng đồng động vật ăn cỏ. Tương tự, hòa bình chỉ mang ý nghĩa hạn hẹp hoặc trong tâm tưởng mỗi cá nhân hoặc duy chỉ cho một đất nước nào đó đang không xảy ra nội chiến hoặc xung đột vũ trang với lân bang hay chiến tranh với … viễn bang, chứ không bao giờ có một thế giới hòa bình giữa những con người đang còn sống. Vì vậy, nội dung sau đây về Đại tá Gaddafi (hay Qaddafi hoặc Kadhafi) của Libya, nhân vật thời thượng đang là tâm điểm của báo giới quốc tế cùng lúc với đại họa tsunami và cháy nổ các nhà máy điện nguyên tử ở Nhật Bản, nhằm nêu những nét đặc biệt về Ông mà khó có nhiều người còn nhớ, cùng những nhận định phi-xu-thế của người viết.

Chó Điênlà tên mà Tổng thống Mỹ Reagan đã dùng để gọi con người này :

Libya (6)

Ở đây xin miễn bàn về văn hóa đẳng cấp thấp trong ngôn từ của rất nhiều tổng thống Mỹ như Reagan gọi Gaddafi là “Chó Điên” còn Bush lập đi lập lại “Tao sẽ đá đít thằng Saddam Hussein” khi manh nha cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thậm chí còn du côn khi nói “Tao là Tổng Tư Lịnh, sao lại phải trả lời câu hỏi của mấy người hử! Mọi người mới phải trả lời khi tao hỏi chớ!” khi trở thành vị cựu tổng thống buộc phải ra điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ do đã gây ra hậu quả nghiêm trọng tai hại đến uy danh, uy tín, sức mạnh quân sự và kinh tế Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh ấy), đơn giản vì chính Mỹ cũng bắt đầu không cho kiểu ăn nói dung tục vốn là thói quen của người Mỹ (do khinh thị toàn thiên hạ) còn thích hợp với “Châu Á Đại Gia” mà kinh tế nước Mỹ đang phải cầu cạnh nương nhờ (trong tất cả các game show phát tại Châu Á tất cả những lời chửi tục đều bị chêm ô mờ ngay mồm diễn viên kèm theo một tiếng bip, còn trong phim truyện thì chỉ các vai lưu manh thất học mới được thốt nên từ chửi tục), mà xin nêu vài ý kiến cá nhân thật ngắn gọn ở dạng các ghi chú và phân tích riêng của người viết liên quan đến Đại tá Muammar Gaddafi, qua các mục sau:

A) Gaddafi Ông Là Ai

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

F) Thế Giới Hậu Gaddafi.

A) Gaddafi – Ông Là Ai?

1- Người từ trước đến nay vẫn giữ nguyên cấp Đại Tá trong khi uy quyền có thể tự phong – hay sai khiến quân đội tấn phong –  Đại Tướng.

2- Người mỗi đêm ngủ tại một nơi khác nhau ngay cả vợ Ông cũng không biết nơi chốn, khiến các đội biệt kích tinh nhuệ của Mỹ trong hàng chục năm trời không tài nào ám sát được, kể cả các đội thám báo cũng chỉ có thể cung cấp các vị trí không-có-Gaddafi cho những cuộc không kích đầy tốn kém.

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi:

Đưa được tất cả các cường quốc Âu Mỹ vào bẫy qua mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay kinh hoàng trên vùng trời Lockerby (Tô Cách Lan, Anh Quốc), và  bồi thường vài tỷ USD cho gia đình các nạn nhân vụ Lockerby, để thoát nạn cấm vận, được Âu Mỹ chào đón như thượng khách:

Libya (1)

thậm chí có được cả bức ảnh đương kim tổng thống Hoa Kỳ kính cẩn dùng hai tay khi được vinh hạnh bắt tay “Chó Điên”

Libya (8)Libya (7)

để rồi sau đó làm Mỹ và Phương Tây muối mặt khi bắt đầu lên tiếng tuyên bố công kích Mỹ và Tây Phương tại các diễn đàn quốc tế quan trọng.

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi:

1- Không tấn công tổng lực ngay từ đầu để tiêu diệt bạo loạn thật dứt khoát và thật nhanh.

2- Cho phép con trai là Saif al-Islam Gaddafi tuyên bố Nicolas Sarkozy lén nhận tiền tài trợ của Libya trong chiến dịch tranh cử tổng thống Pháp năm 2007 và gọi Sarkozy là “thằng hề” nhưng không nhanh chóng trưng ngay bằng chứng tài liệu chuyển ngân.

3- Không tích cực và chủ động lôi kéo người bạn thân là Thủ tướng Ý Berlusconi vào cuộc để trói chặt tay chân Berlusconi ngay từ giây phút đầu tiên.

4- Chính mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay Lockerby, không bảo vệ công dân mình đến cùng, đã là con dao hai lưỡi đã dần xóa hình ảnh Gaddafi vị anh hùng dân tộc khỏi lòng kính trọng của một bộ phận người dân

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya:

1- Hấp tấp công nhận về mặt pháp lý chính trị phe nổi dậy ở Libya khẳng định Âu Mỹ chỉ biết một điều: ai chiếm được khu vực đang khai thác dầu hỏa của Libya đương nhiên là chính phủ mới của Libya.

2- Nga và Trung Quốc dùng mồm kịch liệt công kích Âu Mỹ khi có việc đệ trình kế hoạch lập vùng cấm bay ở Libya và tấn công quân sự nhằm lật đổ Gaddafi, nhưng Nga và Trung Quốc đã không sử dụng quyền phủ qu‎yết vì ý đồ thâm độc của Nga và Trung Quốc là muốn Âu Mỹ ngoài vũng lầy Afghanistan và Iraq phải sa lầy thêm trong cuộc chiến tranh Libya để Âu Mỹ suy sụp thêm về kinh tế, dẫn đến việc không thể theo đuổi các chương trình quân sự bủa vây Nga, còn Trung Quốc sẽ tự do xâm chiếm Đông Nam Á.

3- Anh Quốc tích cực tấn công Libya nhằm cứu vãn danh dự của đất nước Anh từ yếu hèn thỏa hiệp với Hitler bán đứng Đông Âu để Hoàng Gia Anh được Hitler bảo đảm bình an đến thuận răm rắp làm theo lời Mỹ để trả ơn đã chi viện bảo vệ Hoàng Gia Anh trước Quốc Xã Hitler.

4- Pháp Quốc tích cực tấn công Libya nhằm khoe sức mạnh quân sự của một nước Pháp đã tắt ngúm hào quang cường quốc, đồng thời muốn tỏ vị thế chính trị trên trường quốc tế và không muốn mất phần lợi về dầu hỏa như trong Chiến Tranh Iraq.

5- Mỹ chậm chạp để mong chờ Nga và Trung Quốc dùng quyền phủ quyết, hầu không phải trực tiếp tham gia chiến tranh với Libya, nhưng đã bị sập bẫy nên phải tuyên bố tham chiến bằng không quân mà không có bộ binh.

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

Người ta đã vẽ nên gần chục kịch bản cho Gaddafi và không ai lấy làm lạ khi nội dung nhiều kịch bản khác nhau này lại có cùng đoạn kết là sự sụp đổ của chế độ Gaddafi. Người viết bài này đã nói cùng vài người bạn cách nay hai tuần về bốn kịch bản khác, đó là

1- Gaddafi có thể tấn công tổng lực tiêu diệt phía bạo loạn đủ nhanh chóng an bài trước khi Mỹ và Phương Tây kịp trở tay;

2- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi sẽ bị tiêu diệt y như nhưng sớm hơn Saddam Hussein;

3- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nỗi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc chiến tiêu hao và lâu dài, biến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc và Tổng Thư K‎ý Liên Hợp Quốc bị thương tổn uy danh, khuấy động binh biến lan rộng Trung Đông và Châu Phi; và

4- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nổi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc thánh chiến, dẫn đến tình trạng Âu Mỹ phải đồng ý đàm phán đình chiến, tái lập hòa bình tại Libya, “thực thi dân chủ” tổ chức bầu cử “tự do và công bằng” trong tình thế “phe nổi dậy” do bị tiêu hao lực lượng không thể có thế mạnh lãnh đạo  tân chính phủ, khiến Libya trở thành quốc-gia-Gaddafi-có-Gaddafi-về hưu.

F) Thế Giới Hậu Gaddafi:

1- Sự thiếu khôn ngoan của Âu-Mỹ dẫn đến bị sập bẫy Nga-Trung Quốc tấn công Libya đã cung cấp cho thế giới một phương pháp mới vô cùng hữu hiệu để vô hiệu hóa Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc để áp dụng từ nay cho đến khi Liên Hợp Quốc cáo chung và bị thay thế bằng một tổ chức quốc tế khác – như lịch sử đã từng thay Hội Quốc Liên thành Liên Hợp Quốc – đó là: từ nay bất kỳ quốc gia nào có các cuộc nổi dậy, nhà cầm quyền quốc gia đó sẽ sử dụng toàn bộ binh lực thần tốc tiêu diệt ngay lập tức, không để Liên Hợp Quốc kịp có bất kỳ nghị quyết nào và không bất kỳ thế lực quân sự nước lớn nào và nước theo đóm ăn tàn nào kịp điều binh can thiệp hay bàn bạc cho việc lập “vùng cấm bay”.

2- Sự đàn áp các cuộc bạo loạn từ nay sẽ diễn ra dứt khoát hơn, tàn bạo hơn tại các nước Trung Đông và Châu Phi hầu tránh việc kéo dài dẫn can thiệp quân sự từ Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.

3- Nước Mỹ suy tàn, bắt đầu từ thái độ ngay trước chiến tranh Libya: cầu mong Nga và/hay Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết, khi chẳng được như ý thì vừa tiến hành không kích, vừa lập đi lập lại rằng sẽ nhanh chóng trong vài ngày chuyển quyền điều phối cho Anh hay Pháp, và rằng sẽ không sử dụng lục quân, sẽ không sát hại Gaddafi, sẽ tuân thủ nghị quyết Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, v.v., khiến cả thế giới – nhất là thế giới Hồi Giáo – nhận ra ngay là Hoa Kỳ đã biến đổi từ một siêu cường quân sự thao túng thế giới thành một quốc gia dễ bị tổn thương và dễ bị cho vào rọ đễ bị thao túng, từ đó kích thích sự trỗi dậy của tất cả các thế lực chống Mỹ, trong đó có cả các nhóm khủng bố quốc tế.

4- Từ sự suy tàn của Mỹ như nêu trên đến việc kiếm tìm hư danh của Anh và Pháp khi tung quân – tức tài lực ngân khố quốc gia – vào cuộc tấn công Gaddafi, sẽ là sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bành trướng lãnh thổ bằng quân sự khiến phần còn lại của thế giới sớm đối mặt với sự đe dọa từ Trung Quốc.

5- Số lượng quốc gia sẽ gia tăng đáng kể một cách cơ học, cụ thể là có sự xuất hiện của các “tân quốc gia” từ những vết thương quá khứ của những lần vùng lên đòi độc lập hay ly khai chẳng hạn của Xứ Basque, Tô Cách Lan và nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ vốn đã luôn bị dìm trong biển máu, nay sẽ nương theo “xu thế” thiểu-số-nổi-loạn-được-Liên-Hợp-Quốc-hậu-thuẫn-ngay của loạn quân Libya để thành một “tân xu thế” khi vùng lên xé nhỏ Tây Ban Nha, cắt khoanh Hoa Kỳ, hất tung Tô Cách Lan và Bắc Ái Nhĩ Lan khỏi cái tên ngạo nghễ Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan.

 

Gaddafi, vị phúc tinh đang ban cho Trung Quốc cơ hội quý hơn kim cương trở thành Chủ Tể Nhân Loại.

Gaddafi, chất xúc tác kỳ bí của Thượng Đế để thúc đẩy sự lộ diện hèn yếu suy tàn của những đầu óc thiếu thông minh của Mỹ, Anh, và Pháp, dẫn đến Đệ Tam Thế Chiến, một thế chiến kỳ quái không phải giữa hai bên rõ nét như Khối Trục đối với phần còn lại của thế giới, mà là một Thế Chiến mới giống như võ đài đô vật đánh hội đồng kiểu Mỹ với nhiều chục võ sĩ thượng đài cùng lúc đánh nhau tán loạn từng cặp, khi chiến tranh xảy ra khắp nơi một cách riêng biệt. Thế giới tối đen không vì tro núi lửa của Ngày Tận Thế hay do bùng bức xạ từ vụ va đập thiên thạch, mà vì khói từ hàng tỷ họng súng tiểu liên và những đám cháy của lốp xe.

Các hình ảnh bổ sung cho kỳ đăng lại năm 2016 này:

 Libya (5)Libya (4)LibyaLibya (3)Libya (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi và Saddam Hussein

Tứ Trụ Bắc Việt

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Đệ Tam Thập Thất Kế – Phần 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-7-2016

Phan2

I) Thế Nào Là “Quái Vật” – Giải Thích Từ Ngũ

Tương tự như “Chó Điên” là tên do chính Mỹ và Anh dùng để gọi sau lưng Gaddafi, “Quái Vật” là tên do Mỹ chắc chắn đã luôn dùng để gọi những ai do Mỹ dựng nên trong Kế 37 qua sự thể rằng chỉ có những kẻ được Mỹ dựng nên mới là những “Chó Điên” và “Quái Vật” (a) cực kỳ tàn bạo với chính dân của chúng một cách vô lý để bảo vệ quyền lợi của Mỹ, (b) trở nên bất trị đối với Mỹ, và (c) Mỹ đã phải ra tay trừ diệt.

Trong phần giải thích “a” ở trên, sự “tàn bạo” khủng khiếp của Stalin là có thể chấp nhận được vì Stalin (a) không do Mỹ dựng nên, (b) không phục vụ lợi ích của Mỹ, (c) buộc phải sắt máu để bảo vệ được đất nước và dân tộc trong Đệ Nhị Thế Chiến vốn không hề “có cửa’ cho bất kỳ một cố ý lệch tâm lệch hướng lêch đường của bất kỳ kẻ phản quốc nào dưới mặt nạ tự do dân chủ nhân quyền, (d) đã chứng minh chiến thắng tuyệt đối cuối cùng để xây dựng nên siêu cường Liên Xô tồn tại trong nhiều thập kỷ sau đó mà sức mạnh thế lực còn duy trì đến tận ngày nay, và (e) cũng đã chứng minh Âu Mỹ luôn tìm cách tiêu diệt Nga bất kể Nga theo thể chế chính trị nào. Do đó, sự độc tài tàn bạo của Stalin Liên Xô đối với kẻ thù của đất nước Liên Xô hay của chế độ Cộng sản Xô Viết hay của đất nước Nga đều phục vụ cho một sự chính danh và khôn ngoan do đó không dẫn đến việc sử dụng tên gọi “Quái Vật” cho nhân vật vĩ đại này, dù toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu luôn ra rả để làm vui lòng Âu Mỹ về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài Joseph Stalin, người đã dựng xây nên Liên Xô vĩ đại làm nền tảng cho siêu cường nguyên tử Nga của thời hiện đại.

Phan2 (15)

Trong khi đó, sự độc tài tàn bạo của Francisco Franco, tên bạo chúa ở Tây Ban Nha dưới sự hậu thuẫn của Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý, với sự chống Cộng điên cuồng của y từng sát hại gần nửa triệu dân Tây Ban Nha “thân Cộng” tại gần 200 trại tập trung chính y xây dựng tại Tây Ban Nha, lại dẫn đến việc y được “mời” gia nhập Liên Hợp Quốc để thành một trong những nhà lãnh đạo thế giới chống Cộng hàng đầu thời Chiến Tranh Lạnh, đưa Tây Ban Nha vào chiếc ô bảo vệ của khối Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (tức Khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO) để tiếp tục cai trị bạo tàn cho đến khi qua đời 7 tháng sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt, cũng được Mỹ và NATO chấp nhận đầy tự hào nên cũng sẽ không bao giờ bị gọi là tên “Quái Vật”, cũng như luôn được hòa âm điền dã bởi toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu do khiếp sợ Âu Mỹ đã luôn không bao giờ dám nói gì về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài “Quái Vật” Francisco Franco, người xây dựng nên đất nước Tây Ban Nha mà nếu không có mấy con bò tót thỉnh thoảng húc tiêu mấy ngưu-sát-sĩ matador và tay vợt tennis ỏn ẻn hà-tiện-thà-mất-ngôi-hạng-nhất-chứ-quyết-không-bỏ-một-xu-thuê-huấn-luyện-viên-ngoài-gia-đình Rafael Nadal thì chẳng ai biết xứ sở ấy ở đâu trên bản đồ địa chính trị thế giới.

Phan2 (14)

II) Đối Nghịch Song Kỳ

A- Sự Cáo Chung Của Kế Thứ 37

Trong phần số 1 của Đệ Tam Thập Thất Kế, để chống lại 4 cột trụ Bắc Việt, trong Thế kỷ XX Mỹ đã phải huy động 7 cột trụ để có thể đứng lên trên đó mà chiến đấu chống Bắc Việt và đã chiến bại.

Để đánh giá lại Kế Thứ 37 ấy, bản tóm tắt sau về công thức chung của Kế Thứ 37 bao gồm:

1) Mỹ sẽ tạo nên tại một quốc gia chư hầu một Quái Vật A theo Phương Án A để đạt chiến thắng.

Phan2 (13)

2) Trường hợp Quái Vật A kém cỏi hoặc bắt đầu dở chứng hoặc cần phải thí để bảo toàn thanh danh của Mỹ, Mỹ sẽ áp dụng Phương Án B bằng cách đưa Quái Vật B có đẳng cấp “quái” hơn Quái Vật A những 37 lần để triệt Quái Vật A, và cũng nhằm đạt được chiến thắng, như trường hợp cho phép “Quái Vật Dự Phòng” đảo chánh giết chết “Quái Vật” Ngô Đình Diệm.

Phan2 (12)

Các phương án như nêu trên đã phát huy tác dụng tại các nước đồng minh (tiếng bình dân gọi là “chư hầu”) của Mỹ tại Đông Nam Á và Đông Bắc Á, trừ ở Nam Việt thì Mỹ đại bại cả nghĩa đen và nghĩa bóng khi Mỹ phải lần đầu tiên Mỹ phải tháo chạy nhục nhã theo tối hậu thư do Bắc Việt ném vào mặt và trong thời gian khẩn cấp do Bắc Việt ấn định, còn Nam Việt thì vĩnh viễn biến mất trên bản đồ thế giới.

3) Tuy nhiên, biến cố mà báo chí Âu Mỹ gọi là “Sài Gòn Thất Thủ” đã cung cấp cho các khu vực khác trên thế giới những kinh nghiệm khiến những Quái Vật A do Mỹ tạo nên đã biến hóa thành những Siêu Quái Vật tiêu diệt tất cả các Quái Vật “nằm vùng” khác khiến tất cả các phương án dự phòng khác của Mỹ bị triệt tiêu làm Mỹ không thể áp dụng “biện pháp thay thế” bất kỳ. Và chính những Siêu Quái Vật này đã quay sang gây họa trực tiếp cho Hoa Kỳ, như trường hợp của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi.

Phan2 (11)

mà hậu quả là chính Mỹ phải cho ra một phương án “hậu 37” hoàn toàn bất lợi cho Mỹ, đó là từ vi trí bảo đảm luôn đứng hậu (sau lưng) để ủng hộ Quái Vật mà mình tạo ra, Mỹ đích thân ra tay tiêu diệt nó từ phía hậu (sau lưng) hoặc phía trước ngay trục của phía sau:

Phan2 (10)

Tuy nhiên, tình hình thế giới hiện nay cho thấy các Siêu Quái Vật lại biết rút kinh nghiệm từ số phận của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi để thay vì tiêu diệt các thế lực “dự phòng” lại dang rộng tay dung dưỡng các Quái Vật công khai hợp lực bủa vây gây họa cho Mỹ và Âu Tây, như Thổ Nhĩ Kỳ dung dưỡng các tổ chức Hồi Giáo tương đương IS

Phan2 (3)

mà thí dụ rõ ràng nhất là Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ vung quả đấm thép vào Barrack Obama của Hoa Kỳ, tạo nên Nghịch Chiến Song Kỳ của 2016

Phan2 (2)

B- Quả Đấm Của Thổ Nhĩ Kỳ Đối Với Hoa Kỳ: Nghịch Chiến Song Kỳ

Quả đấm của Thổ Nhĩ Kỳ dành cho Hoa Kỳ để trừng trị Hoa Kỳ tội đã bật đèn xanh kích hoạt cuộc chính biến vừa qua ở Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm 9 đòn của

1) yêu cầu Mỹ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ;

2) tuyên bố Hoa Kỳ không phải là bạn của Thổ Nhĩ Kỳ;

3) tiếp nhận cuộc gọi sẻ chia an ủi của Tổng Thống Nga Vladimir Putin để hẹn cuộc gặp sớm nhất có thể được giữa hai nguyên thủ;

4) thách thức NATO khi mạnh tay dụng nhục hình với và đe dọa tử hình các tướng lĩnh Thổ Nhĩ Kỳ vốn hình thành lực lượng chung sức lãnh đạo các quân đoàn NATO, đặt NATO vào tình thế sẽ có một lực lượng các tướng lĩnh mới của Thổ Nhĩ Kỳ trung thành với Erdogan và thân thiện với Nga;

5) đặt NATO vào bẫy rập do Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên NATO nhưng từ nay đơn phương giao kết với Nga là đối trọng mà NATO đang ra sức áp sát toàn tuyến biên giới phía Đông;

6- làm bỉ mặt EU với hành vi sẵn sàng chà đạp nguyên tắc cốt lõi “tự do – dân chủ – nhân quyền” của EU với tuyên bố Thổ Nhĩ Kỳ sẽ xem xét tái lập án tử hình để trừng trị tất cả những ai cầm đầu cuộc đảo chính vừa qua;

7- chứng minh cho EU biết EU đang nằm trong quyền sinh sát của Erdogan;

8- có thể làm phá sản toàn bộ các nổ lực của Mỹ và NATO trong việc lật đổ Bashar al-Assad của Syria; và

9- làm nhục Mỹ công khai khi ngưng cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân hạt nhân Incirlik, khiến vô hiệu hóa không những lực lượng không quân tham gia đảo chính mà còn chặn đứng  lực lượng không quân Mỹ tham gia tấn công IS.

Mỹ đã lúng túng trước sự thất bại của cuộc đảo chính, như thể hiện ở chố nhanh nhảu lên tiếng không dự phần, nhanh chóng thanh minh với Erdogan, từ tốn nói sẽ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen nếu Thổ Nhĩ Kỳ có đủ bằng chứng về sự xách động của giáo sĩ này đối với cuộc đảo chính, và nhẹ nhàng khuyên Thổ Nhĩ Kỳ hãy vì đại cuộc chống IS mà cho Mỹ sử dụng căn cứ Incirlik.

C- 4 Nhận Xét Của Lăng Tần

1) Dân Thổ Nhĩ Kỳ khôn ngoan, không để bị sập bẫy tự do dân chủ nhân quyền của Mỹ để chống lại Erdogan, nhờ chứng kiến sự ngu muội của người dân các nước khác đã phạm phải khi nghe sự rù quến của Mỹ vùng lên triệt hạ những Quái Vật và Siêu Quái Vật do Mỹ dựng nên để rồi quốc gia suy vong suy kiệt suy tàn.

2) Erdogan khôn ngoan, biết dựa thế Mỹ và NATO để trở thành Siêu Quái Vật, kết hợp với các Quái Vật khác để vô hiệu hóa mọi can thiệp thay ngựa giữa giòng của Mỹ, bắn hạ siêu chiến đấu cơ của Nga làm Mỹ lúng túng đồng thời sử dụng làn sóng di cư để đầy EU vào hỗn loạn để ép buộc EU không được câu giờ trong kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU tiến đến tiêu diệt EU, và khi chậm được đáp ứng lại nhanh chóng quay sang xin lỗi Nga để từ đó được Nga hỗ trợ ra tay củng cố quyền lực, ra tay tiêu diệt đảo chính.

3) Cuộc đảo chính vừa xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ 1.000% là do Mỹ đã bật đèn xanh theo bài bản  áp dụng Kế Thứ 37. Vĩnh viễn không bao giờ có việc cuộc đảo chính xảy ra tại một nước có sự hiện diện của Đại Sứ Quan Mỹ – đặc biệt là sự có mặt của các cố vấn quân sự Mỹ hoặc quân đội Mỹ hoặc căn cứ quân sự Mỹ hoặc sự tham chiến của Mỹ – lại không được sự cho phép của Mỹ hoặc nằm ngoài sự nắm tình hình của thông tin tình báo tại chỗ của Mỹ hoặc là sự cố làm Mỹ ngạc nhiên bất ngờ.

4) Nếu như Ngô Đình Diệm và những tên tương cận là Monster thì Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi là những Super Monster mà Mỹ phải đích thân ra tay mới diệt được, còn Taliban/Al-Qaeda/IS là những Super Monster “lũy thừa 37” vượt ngoài tầm hủy diệt của Mỹ, trong khi Erdogan đã trở thành một thứ Super Monster “lũy thừa 9999” có thể cùng lúc hủy diệt cả EU, NATO, và USA.

D- 8 Nội Dung Tư Vấn Của Lăng Tần Dành Cho Recep Tayyip Erdogan

1) Cứng rắn buộc Mỹ phải dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ vì theo Kế Thứ 37 chính y là thế lực dự phòng để gây bất ổn cho Thổ Nhĩ Kỳ nhằm lật đổ Erdogan trường hợp Erdogan vượt tầm kiểm soát của Hoa Kỳ.

2) Cứng rắn tái lập án tử hình, đừng để sập bẫy EU vì EU hàng chục năm nay vẫn chưa chịu kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU, nay lại lấy EU ra dẫn dụ để Erdogan không xử tử các tướng lĩnh và sĩ quan tham gia đảo chính. Mỹ và EU muốn cứu mạng những kẻ đã nghe lịnh Mỹ và NATO tổ chức lật đổ Erdogan. Erdogan nhất thiết phải áp dụng án tử hình để loại trừ hậu hoạn, đồng thời răn đe sự nhen nhóm tương tự trong tương lai, cũng như dạy Mỹ và NATO một bài học.

3) Nhanh chóng nắm bắt dựng xây liên kết với Nga vì lý do cực kỳ đơn giản: khi Quái Vật do Mỹ hậu thuẫn trở thành Siêu Quái Vật thì Mỹ dứt khoát phải tiêu diệt bằng cách sử dụng các Quái Vật dự phòng khác. Đây là bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Ngô Đình Diệm: đã nghịch với Mỹ thì dứt khoát phải có ngay lập tức một thế lực khác để nương tựa. Ngô Đình Diệm chõi lại Mỹ nhưng lại chống Cộng nên là một tên đại ngu.

4) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi là những nhà độc tài đã tiêu diệt tất cả các Quái Vật dự phòng của Mỹ để cuối cùng Mỹ đích thân ra tay diệt gọn. Để Bashar al-Assad tồn tại nghĩa là khiến Mỹ và NATO phải lưỡng đầu thọ địch. Đừng bao giờ trở thành thế lực cứng đầu duy nhất, tạo điều kiện cho Mỹ và NATO dễ dàng bẻ gảy.

5) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn: nhất thiết phải cùng nhau làm phá sản tất cả các manh nha cho các cuộc “cách mạng màu” như Mỹ và EU ủng hộ xúi dục tài trợ tại khu vực Châu Phi và Trung Đông cũng như ở Ukraine.

6) Cần nhận thức rõ ràng một điều minh bạch rằng: người dân đã ủng hộ Erdogan và chống đảo chính không những vì Erdogan vừa chính thức xin lỗi Nga, mở ra triển vọng tốt đẹp hơn về kinh doanh tiếp tục thu siêu lợi nhuận từ Nga, mà còn vì họ đã quá rõ từ các bài học của Thế Giới Sử rằng bất kỳ sự lật đổ nào đối với một nhà độc tài do Mỹ hậu thuẫn để đưa lên một nhà độc tài khác cũng do Mỹ hậu thuẫn thì người sau luôn tồi tệ hơn người trước, còn đất nước sẽ chắc chắn điêu linh. Do đó, Erdogan nhất thiết phải chụp lấy cơ hội này để thiết lập ngay cùng lúc 4 việc gồm

a- điểm c nêu trên – tức liên kết với Nga

b- áp dụng hình luật sắt, bảo đảm tiêu diệt tất cả các “lực lượng kế thừa” của Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ hoặc đang do Mỹ chứa chấp

c- phải để cho một nhà độc tài khác của nước khác tồn tại như trường hợp phần d nêu trên của Bashar al-Assad và

d- phải ủng hộ sự song hành tồn tại của Iran để tạo thế chân vạc vững bền Turkey-Iran-Syria tại khu vực.

7) Cuối cùng, việc EU dấy lên vấn đề cuộc đảo chính rất có thể do Erdogan đạo diễn, chính là cách hoặc EU cùng Mỹ vừa ăn cướp vừa la làng để né tội, hoặc đó là do những nhà bình luận lạm dụng “thuyết âm mưu” mà giá trị chẳng đáng một xu teeng (a dime a dozen) để bôi nhọ Erdogan, tạo dư luận hồ nghi trên thế giới, lại nên là động lực cho Erdogan xiết chặt và trừng trị truyền thông Âu Mỹ hiệu quả hơn.

8) Tóm lại, nếu Mỹ đã ngu dại ghi vào Hiến Pháp của họ quyền tự do sở hữu vũ khí sát thương, thì EU đã ngu xuẩn giương cao ngọn cờ tự do – dân chủ – nhân quyền – thiên chúa để hủy bỏ án tử hình; nhờ vậy dựa vào sự ra tay của Mỹ và NATO phá tan nát hạ tầng giềng mối dân sinh của khu vực, các chiến binh Hồi Giáo ngập tràn lòng căm thù báo oán đã hăng hái đổ bộ vào EU để ra tay tàn phá EU với niềm tin vững chắc là sẽ sống còn trọn đời trong tù ngục sang trọng tiện nghi nếu không bị bắn hạ lúc đấu súng với cảnh sát EU. Erdogan nên tận dụng thời cơ này để một mặt tái lập án tử hình tại Thổ Nhĩ Kỳ để dạy cho phần còn lại của thế giới nhược tiểu biết thế nào là kỷ cương, thế nào là bã tự do – dân chủ – nhân quyền – nhân đạo – thiên chúa, đồng thời thả cho rừng chiến binh Hồi Giáo mặc sức tràn ngập EU mở rộng bờ cõi Hồi Giáo lên nửa diện tích địa cầu.

III) Tứ Trụ Chống Nga

 Phan2 (1)

Khi thấy tư tưởng cộng sản chủ nghĩa hấp dẫn thế giới Hồi giáo Trung Đông và Phi Châu, Mỹ đã lập một vành đai ngăn chặn vừa bao vây Liên Xô (nay là Nga) vừa gây xung đột khu vực để làm thế giới Hồi Giáo chống phá nhau không còn quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản. Kế thứ 37 đã khiến Mỹ dung dưỡng một số nhà độc tài để khống chế khu vực, chẳng hạn như Iraq nhận được sự ủng hộ về tài chính và vũ khí của Mỹ để gây hấn với Iran. Đến khi khu vực đã trở thành một mớ hỗn độn chìm đắm trong các xung đột vũ trang đúng theo ý muốn của Mỹ và NATO, Mỹ và NATO sẵn sàng ra tay triệt tiêu các Super Monster nào không còn ích lợi hoặc có manh nha chống đối. Saddam Hussein của Iraq và Muammar Gaddafi của Libya lần lượt chịu chung số phận.

Cái sai của Mỹ và NATO là ở chỗ đã quên rằng các chỉ có các Super Monster mới khống chế dìm đầu các Monster, nghĩa là chỉ có Saddam Hussein và Muammar Gaddafi mới tiêu diệt, khống chế được khủng bố mà thôi. Chính sự yên tâm rằng chỉ còn lại các Monster rất dễ bị tiêu diệt đã khiến Mỹ cùng thế giới thân Mỹ trở nên yếu ớt hơn bao giờ hết, phơi mình trước các sự tấn công tàn khốc đầy nhục nhã. Một ví von đơn giản có thể dễ được hiểu hơn: một mình đánh nhau trên một võ đài với võ sĩ quyền anh vô địch hạng nặng thế giới Mike Tyson rất khó khăn để chiến thắng anh ta, còn một mình đánh nhau cùng lúc với nhiều chục ngàn chiến binh Hồi giáo ở khắp các hang cùng ngõ hẻm sử dụng vũ khí sát thương thì lại là một việc bất khả chiến thắng.

Cái sai của Nga là đã yên lặng để Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi bị Mỹ và NATO tiêu diệt, với suy nghĩ quá đơn giản rằng dù các Super Monster do Mỹ tạo ra này đã có thiện cảm với Nga, thì họ vẫn là thứ vũ khí hủy diệt của Mỹ, hoặc sự thân mật với Nga rất có thể chỉ để làm yêu sách thêm với Mỹ, hoặc có khi các Super Monster này chỉ đơn giản bốc đồng muốn lôi kéo Nga vào cuộc choảng nhau với Mỹ. Lẽ ra Nga đã nên dùng quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc hoặc ưu thế quân sự đối trọng với NATO để ngăn chặn các cuộc tấn công Iraq và Libya của liên quân do Mỹ đứng đầu, vì nhờ đó mà duy trì sự đối nghịch giữa Mỹ và các Super Monster do Mỹ tạo dựng nên, lợi dụng sự đối nghịch ấy, và lẽ ra đã có thể tránh cho nhân loại thảm họa khủng bố của ngày nay vốn sẽ không bao giờ còn có thể chế ngự được nữa.

IV) Nhân Tố Bí Ẩn

A- Thành Công Trong Chống Mỹ và NATO:

Ngoài việc Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ mà cuộc đảo chánh vừa qua chỉ làm Ông chính thức trở thành một đẳng cấp cao hàng ngàn lần so với một Super Monster nay ra mặt hù dọa cả EU như bức biếm họa bìa của tạp chí dưới đây cho thấy Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã trở nên e sợ thế nào trước đòn thị uy của Erdogen sau khi ông ta bị đâm sau lưng bằng chiếc tàu bay giấy (tương đương cuộc đảo chính thất bại của không quân vô dụng bị Mỹ và EU giật dây):

Phan2 (8)

thì thế giới vẫn không vì thế mà quên rằng sự tồn tại của Bashar al-Assad của Syria mới chính là minh chứng cho sự thất bại của Mỹ và NATO. Chính sự giúp đỡ tích cực của Nga – từ kinh nghiệm tiêu cực của sự bình chân như vại không tận tình giúp đỡ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi – đã duy trì chính quyền Bashar al-Assad để làm thành trì chống IS, đặt Mỹ và NATO vào tình thế không thể không tham gia chống IS.

Phan2 (9)

Không có Bashar al-Assad, khủng bố sẽ tiêu diệt Hoa Kỳ cùng EU, dù Bashar al-Assad không là Monster do Mỹ dựng nên cũng như không biến thành Super Monster, mà chỉ đơn giản vì nếu còn Bashar al-Assad thì mới có sự dấn thân cứu nguy chống IS của Nga, từ đó buộc Mỹ và NATO cũng phải tham gia diệt IS.

Nguy cơ IS tuyệt diệt nhân loại chỉ có thể được loại trừ nếu Bashar al-Assad còn tại vị và khi Recep Tayyip Erdogan đồng ý ủng hộ Bashar al-Assad cùng Iran được tồn tại theo cách của chính Erdogan mà không là cách của Mỹ cùng NATO.

Phan2 (7)

B- Tuyệt Diệt Mỹ và NATO:

Ngoài sự biến thể của Super Monster trở thành Invincible Monster không thể bị đánh bại – như trường hợp của Erdogan đang trở thành kẻ dọa nạt Mỹ và EU – còn có một nhân tố bí mật sẽ đưa Mỹ cùng EU đến bờ tuyệt diệt đó là chế độ Tân Quốc Xã mà Mỹ cùng NATO và EU hậu thuẫn ở Ukraine.

Muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga, Mỹ và EU đã đòi hỏi phải có một cuộc bầu cử dân chủ minh bạch tại Ukraine dưới sự giám sát trực tiếp của Mỹ và EU đối với bầu cử, bỏ phiếu và kiểm phiếu. Kết quả là Tổng Thống Viktor Yanukovych chính thức nắm quyền.

Phan2 (6)

Nhưng ngay khi Viktor Yanukovych không chống Nga, Mỹ và EU cùng NATO giật dây cho cuộc cách mạng màu lật đổ chế độ Viktor Yanukovych mà trước đó đã thực sự do dân bầu lên bằng một cuộc bầu cử có sự giám sát của EU cũng như được EU công nhận kết quả bầu cử hoàn toàn tự do dân chủ. Mọi cáo buộc, bôi nhọ rằng Viktor Yanukovych tham nhũng, ăn cướp công quỹ, sống đời trụy lạc xa hoa, ăn nói quàng xiên, v.v., được toàn hệ thống Mỹ và EU loan truyền, hoặc diễu cợt rằng Tổng Thống Viktor Yanukovych của Ukraine và Tổng Thống Alexander Lukashenko của Belarus là “đàn con” của Tổng Thống “độc tài phát-xít” Nga Vladimir Putin đã xuất hiện nơi nơi ngay cả trên ấn bản tiếng Nga của tạp chí The Economist để chứng minh sức mạnh của truyền thông tư bản hoàn toàn dễ dàng xô ngã bất kỳ một chính quyền hợp pháp hợp hiến hợp lòng dân nào dám đi ngược lại ý chí của Mỹ và EU

Phan2 (4)

Trong khi cuộc “biểu tình Maidan” được dàn dựng đầy khủng khoảng và khủng bố khiến Viktor Yanukovych phải tỵ nạn tại Nga, còn Mỹ và NATO chấp nhận sự lên ngôi của bọn Tân Quốc Xã Petro Poroshenko

Phan2 (5)

mặc cho sự thật quái dị là chính đám Tân Quốc Xã này ngay trước đó từng khét tiếng với các chiêu trò chống EU, chống Mỹ, và chống nhân loại. Để rồi sự điên rồ của bọn Poroshenko trong chính sách bài Nga triệt để hầu làm vừa lòng “bố mẹ” Mỹ và NATO đã làm bán đảo chiến lược Crimea cực kỳ quan trọng mà NATO thèm thuồng tự dưng rơi vào tay Nga mà không tốn một viên đạn kể cả của súng lục; còn mới đây các phóng viên truyền hình Pháp lại cho ra bộ phim tài liệu của “người trong cuộc” khẳng định rằng “biểu tình cách mạng Maidan” chỉ là sự dàn dựng, rằng tất cả chính phủ Poroshenko đều là Tân Quốc Xã, rằng dân chúng đã bị thảm sát không bởi vị tổng thống dân cử hợp pháp Yanukovych bị Mỹ và EU lật đổ mà chính bởi vị Tổng Thống Tân Quốc Xã do Mỹ hậu thuẫn Poroshenko.

C- Cải Số Trời: 8 Lời Khuyên Của Lăng Tần Dành Cho Mỹ và EU:

1- Mỹ + NATO + EU hãy chấp nhận sự đồng tồn tại với Nga. Lý do đơn giản: (a) khuyết một cột trụ chống trời chỉ dẫn đến nghiêng lệch và đổ sập của bầu trời, và (b) không bao giờ tiêu diệt được Nga.

2- EU hãy mô phỏng luật pháp hà khắc của Hoa Kỳ bằng cách tái lập ngay lập tức án tử hình cũng như gia tăng phạm vi phạm tội chịu sự điều chỉnh của án tử hình. Lý do đơn giản: (a) bỏ án tử hình chỉ là thứ màu mè đậy che cái lịch sử tàn bạo tham tàn khủng bố ghê tởm của Đức Quốc Xã, Phât-xít Ý, Chuyên chế Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha – Hà Lan, Thực dân Pháp và Đế Quốc Anh đã gây ra cho nhân loại tại Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh; và (b) bỏ án tử hình chỉ dẫn đến hậu quả là tạo ra chính xiềng xích tự trói mình trước làn sóng thâm nhập báo thù rửa oán của khủng bố.

3- Mỹ+EU hãy ngay lập tức STOP rao giảng về những cái gọi là giá trị tự do – dân chủ – nhân quyền đầy thiu thối, vô khả dụng, bất khả thi đối với sự sinh tồn của chính EU, vì nó (a) chỉ đem lại thứ bùa mê thuốc lú cho các nước nhược tiểu yếu bóng vía và cực kỳ lạc hậu tự động rời xa mãi mãi nẽo tiến vững chắc đến văn minh, và (b) bản thân nó bị vô hiệu hóa bởi chính Hoa Kỳ do Mỹ không là quốc gia đang có tự do – dân chủ – nhân quyền.

4- Mỹ + NATO + EU hãy để yên cho Bashar al-Assad và Syria vì chỉ có việc STOP can thiệp vào Syria nhằm lật đổ Bashar al-Assad mới STOP được việc di cư tỵ nạn ồ ạt của dân Syria vào EU đe dọa sự tồn tại của EU.

5- Mỹ + EU hãy STOP áp dụng Kế Thứ 37 vì đó là thứ hạ sách. Hãy nhớ công thức thuần túy tiếng Anh của Out-Langtan Langtan nghĩa là nhân vật đến sau sẽ y hệt và vượt quá nhân vật trước đó, nghĩa là nếu Mỹ + EU dựng nên những con Quái Vật thì thứ thay thế nó sẽ tàn bạo bất trị hơn thứ mà nó được dùng để thay thế. Quái Vật Ngô Đình Diệm ngu xuẩn. Quái Vật Saddam Hussein tinh ranh làm chao đảo Hoa Kỳ. Và Quái Vật Reccep Tayyip Erdogan dọa nạt đạp đầu Mỹ Quốc.

6- Mỹ và NATO hãy để yên Iran, đơn giản vì việc chống Iran chỉ thuần túy dựa trên một lý do duy nhất là bảo vệ Israel, còn lý do phát triển vũ khí hạt nhân của Iran chỉ là lý do gạt người ngu muội cùng trẻ nít.

7- Mỹ và EU hãy biết phân biệt chính – phụ để từ đó xác định (a) Trung Quốc là mối hiểm nguy của nhân loại, và (b) Nga là mối hiểm nguy của riêng Mỹ+EU. Trung Quốc mới là chính, Nga chỉ là phụ. Tấn công cả Nga và Trung Quốc nghĩa là gia tăng sức mạnh bất khả chiến bại của tổ hợp Nga+Trung Quốc.

8- Cuối cùng, Mỹ và EU hãy STOP tất cả các hỗ trợ dành cho Ukraine vì chính Ukraine (a) làm mất “chính nghĩa” của Mỹ và EU, (b) sống bám hoàn toàn vào Mỹ và EU, (c) chính sự cưu mang Hy Lạp cùng các nước yếu kém trong EU đã làm dân tình EU tan rả dấn đến các trào lưu “exit” nên sự cưu mang một chính quyền Ukraine rõ mười mươi bọn Tân Phát Xít điên cuồng sẽ lại nhanh chóng làm rả tan EU, tiến đến sự sụp đổ của NATO, và làm chao đảo vị thế của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết cùng chủ đề Thổ Nhĩ Kỳ:

Trò Hèn Của Thổ Nhĩ Kỳ

ISIS

Vladimir Putin Và Sự Ngu Xuẩn Triền Miên Của Phương Tây

Âm Mưu Thế Giới Đại Chiến III

Các tham khảo khác:

Tôi và Saddam Hussein

Ghi chú: 

– Nội dung đánh giá và tư vấn: thuần túy của Hoàng Hữu Phước

– Các hình vẽ do Hoàng Hữu Phước dựng chế từ các ảnh vẽ riêng rẻ thu từ Internet.

Tôi và Saddam Hussein

Và và Và

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-7-2016

Toi Va SH

Việt Nam tất nhiên có vô số người tài ba, song hầu như đa số sống đời triết nhân minh triết khi cặm cụi làm việc, cặm cụi nghiên cứu, cặm cụi tư duy, cặm cụi cống hiến, cặm cụi đem trí tuệ uyên bác dành cho tranh luận tự thân về các vấn nạn của hàn lâm, khoa học, hay của thực tế nhân sinh để cung cấp cho đời những công trình khảo cứu vốn dĩ có thể làm giàu hơn kho tàng tri thức và áp dụng của nhân loại – hay chí ít là của Việt Nam – nên số lượng chịu nhín thời gian chường mặt ra trong cõi hỗn mang để tranh luận với hoặc trải lòng cùng bàng dân thiên hạ chỉ đếm được trên đầu ngón tay của hai bàn tay đủ ngón.

Dù không được có tên trong danh sách những bậc tài ba đáng kính ấy, tôi cũng biết thế nào là sự cẩn trọng nên khi nếu chịu chào thua sự thôi thúc phải “trải lòng” thì cũng phải tự ẩn mình núp dưới tận cùng đáy của hố sâu tư tưởng bằng cách luôn tắt các “comments” như một chứng tỏ bản thân không hề dám tranh luận để đón nhận luận tranh. Rốt cuộc, những bài viết blog của tôi chỉ như thùng nước đá dọc đường gió bụi, không dành cho bậc đại gia chức trọng quyền cao mà dành riêng giải khuây giải khát giải trí cho những người tốt đẹp tốt lành còn chút lòng tin rằng bụi hồng trần vẫn có thể không làm nhiễm ô thùng nước mà họ yên tâm dừng chân múc uống.

1) Tôi và Tạp Chí Newsweek

Trong thời gian 1982-1988 làm giảng viên Anh ngữ trường Cao Đẳng Sử Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lần được đọc vài quyển tạp chí Newsweek do chị tôi làm quản thủ thư viện Trường Hàng Không đã xin từ một nữ tiếp viên người Pháp của Air France. Tôi đã đọc ngấu nghiến tài liệu quý báu ấy ở cái thuở những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, lúc chưa ai biết gì về cái gọi là internet, còn các Khoa Anh Văn ở tất cả các trường đại học-cao đẳng chỉ cho phép giảng viên đọc mấy tạp chí tiếng Anh như Peking Review (Điểm Báo Bắc Kinh) của Tàu và Moscow News (Tin Tức Mạc Tư Khoa) của Liên Xô mà chẳng lãnh đạo nào của Việt Nam biết rằng trong Peking Review thì Tàu ra rả chửi cả Mỹ và Xô, gọi cả hai là siêu cường di họa cho nhân loại, chứ không chỉ có chống Hoa Kỳ. Thế nên, tôi ngay từ thời gian đầu giải phóng đã biết rõ ràng rằng Tàu là một thằng nửa khỉ đỏ đít nửa đười ươi chẳng ra chi và rằng không thể nào có được Khối Xã Hội Chủ Nghĩa đoàn kết hùng cường, từ đó tôi đã theo khuynh hướng chính trị xã hội chủ nghĩa dân tộc như tôi hàng chục năm nay luôn ngạo nghễ ghi rõ trên trang mạng doanh nhân thế giới LinkedIn và các trang mạng khác của nước ngoài, cũng như gần đây tình cờ biết được qua internet rằng Saddam Hussein hóa ra cũng là người mang tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa dân tộc.

Trở lại với tiêu đề của mục này, khi đọc tạp chí Newsweek ấy tôi thấy có hai bài viết thật dài và thật mạnh mẽ chống cộng sản Việt Nam với những luận điểm đáng thương hại còn thông tin hoàn toàn từ trí tưởng tượng bịnh hoạn và vu khống nghèo nàn. Tôi lập tức dùng máy đánh chữ Underwood cũ mèm gỏ trên giấy vàng đầy hạt cát một bức thư bằng tiếng Anh hàn lâm rất dài – tôi chưa bao giờ luyện được cách viết “ngắn gọn súc tích” bình dân mách qué của những bậc kỳ tài lãnh đạo bộ môn tiếng Anh nước Việt – gởi Newsweek để (a) phân tích các điểm sai của các bài viết chống Việt, (b) nêu các luận cứ của tôi về Cộng sản Việt Nam cùng thế mạnh của Việt Nam dù Việt Nam đang oằn oại dưới lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, (c) gợi ý cộng tác viết bài cho Newsweek với thế mạnh của người không những có trình độ cao nhất về viết tiếng Anh báo chí hàn lâm mà lại còn là “insider” tức người từ trong…“bức màn sắt cộng sản” có khả năng trình bày chính xác nhất về địa chính trị của Việt Nam, và (d) khẳng định Newsweek sẽ suy vong nếu không tận dụng cơ hội cộng tác này. Và tôi đã nhận bức thư sau từ Newsweek có lời cảm ơn sự quan tâm của tôi và lời từ chối khéo rằng đã có đủ lực lượng nhà báo riêng:

Toi Va SH1

Thế thì muốn biết Newsweek đã ra sao, các bạn có thể tìm thấy thông tin trên Google về sự lụn bại của nó, để biết nó mắc nợ hơn Chúa Chổm như thế nào. Cái sai duy nhất của tôi là khi tuyên bố với học trò và nhân viên rằng Newsweek sẽ không đáng giá một xu do đã ngu xuẩn không nhanh tay chộp lấy cơ hội đăng các bài viết của mình, tôi đã sau này cay đắng khi Tiến sĩ Google báo tôi biết tin Newsweek hơn chục năm trước đã được bán với giá cao ngất ngút những 100 lần giá tôi đưa ra, nghĩa là đến 100 xu tức đổi được tới 1 USD lận, rơi vào tay hết gã này đến gã kia như một ả điếm buổi chiều tàn.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

2) Tôi và Saddam Hussein

 Toi Va SH2

Rất nhiều năm trước, tôi có viết blog một bài tựa đề “Tôi Và Saddam Hussein” trên cả Yahoo!360 và Emotino; song tiếc là dù tôi có bản lưu cũng như ảnh chụp màn hình trang Yahoo!360 cùng Emotino tải đăng bài ấy, chiếc máy vi tính desktop tôi đặt Phong Vũ lắp đặt toàn với chi tiết cấp cao đắt tiền lại bị hỏng vào cái thủa ban đầu lưu luyến ấy chưa có dịch vụ giải cứu thông tin nên mất sạch tài liệu nơi ổ dĩa cứng, đã vậy các học trò tôi thủa ấy chưa có thói quen tốt sao lưu các bài viết của tôi nên tôi không thể hỏi xin lại để tái tải đăng trên blog WordPress này. Thôi thì xin tóm tắt ý chính trong bài viết kể về các thư viết tay và các điện tín tôi gởi cho Tổng thống Saddam Hussein như sau:

– Thư bảo đảm: khuyên Ông giải hòa với Iran và bắt tay với Triều Tiên để hình thành khối Tân Trục, theo đó bất cứ khi nào một quốc gia bị phía Mỹ gây hấn thì cả hai nước còn lại đồng loạt dấy binh hoặc tấn công Hàn Quốc hoặc Israel để phía Mỹ do phân tán lực lượng không dám làm càn, nhờ đó cả ba nước được an toàn tồn tại. Tất nhiên, đã không có sự hình thành một khối nào như thế, và Iraq bị đại bại, Mỹ suy tàn, thế giới thành hỗn mang.

– Điện tín khẩn: khuyên Ông không rút quân toàn bộ khỏi Kuwait. Tất nhiên, đã có sự rút quân hoàn toàn, triệt để, và nhanh chóng khỏi Kuwait khiến hàng hàng lớp lớp các binh đoàn quân tinh nhuệ cùng chiến xa của Iraq phơi mình lồ lộ giữa sa mạc trở thành những bia di động tuyệt hảo cho hàng hàng lớp lớp oanh tạc cơ Mỹ và Anh hèn hạ theo sau tàn sát khiến Iraq tổn thất nặng nề hơn bao giờ hết.

– Điện tín thường: khuyên Ông không nên thả các con tin Âu Mỹ đang bị giam cầm tại Baghdad vì Ông không nên chứng tỏ tính anh hùng khi đối phương là bọn gian trá đê hèn. Tất nhiên, Ông đã thả tất cả các con tin Âu Mỹ khi nghe tin dư luận phương Tây dè bỉu cho rằng ắt Ông sẽ dùng các con tin làm lá chắn sống. Và ngay khi con tin cuối cùng rời Iraq, cuộc tổng tấn công của Anh và Mỹ xâm lược Iraq bắt đầu.

– Điện tín khẩn: Lời chúc cuối cho Ông, mong Ông được bình an.

– Điện tín khẩn: Gởi Đại Sứ Iraq tại Việt Nam, mong đất nước Iraq được sinh tồn.

Tất cả các nội dung trên chí ít được ba người biết đến, đó là (a) vợ tôi khi trao tôi các chỉ vàng để thanh toán cho những bức điện tín quá dài gởi Tổng thống Saddam Hussein; (b) em gái út của tôi, người đã bật khóc khi nghe tin Anh Mỹ bắt đầu xâm lược Iraq, và cũng là người đã viết thư tiếng Đức gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl để phản đối việc bọn đầu trọc Tân Quốc Xã đánh đập người Đức gốc Việt, mà tôi có kể chi tiết trong bài viết Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức trên blog này; và (c) anh rể tôi vốn là một người chống Cộng Sản Việt Nam tại Hoa Kỳ. Còn người ngoài gia đình thì có vài học trò, vài nhân viên, và vài chức sắc của CIMMCO International Ấn Độ và CIMMCO Limited Singapore là có biết đến các việc làm này của tôi.

Chục năm trước, hai nữ doanh nhân thành đạt đã mời tôi cùng sang Singapore tham dự buổi thuyết trình của Tony Blair. Tôi đã từ chối và xin lỗi hai vị trước khi nói thật rằng tôi không bao giờ đi nghe một tên tội phạm chiến tranh ghê tởm như Tony Blair.

Tôi cũng đã viết bài Thời Kỳ Hậu Chó Điên đăng trên Emotino để nói về Tổng Thống Lybia Muammar al-Gaddafi, người mà Tổng Thống Mỹ và Thủ Tướng Anh cung kính bắt tay, người mà Âu Mỹ gọi là “Chó Điên”, và cũng là người mà Anh Mỹ tiêu diệt để rồi Lybia bị tàn diệt như Iraq để rồi Mỹ suy kiệt, EU suy tàn, thế giới hỗn loạn, khủng bố hùng mạnh tràn lan.

Toi Va SH3Toi Va SH4Toi Va SH5

Và rồi cách nay vài hôm, Vương Quốc Anh rúng động với Bản Báo Cáo Điều Tra Của Ủy Ban Chilcot luận tội Tony Blair phạm tội ác chống lại hòa bình do đã ngụy tạo chứng cớ để lừa bịp Quốc Hội, lừa bịp nhân dân, xua quân cùng Mỹ xâm lược Iraq, tàn phá Iraq, hy sinh bao chiến sĩ Vương Quốc Anh.

Và rồi cách nay vài hôm, ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố thế giới lẽ ra đã 100% tốt hơn nếu tổng thống Iraq Saddam Hussein và tổng thống Lybia Muammar Gaddafi vẫn còn lãnh đạo quốc gia của họ.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

Toi Va SH6

3) Tôi Và Elizabeth Holmes

 Toi Va SH7

Cách nay nhiều năm, thấy mấy người nước ngoài trên mạng doanh nhân thế giới LinkedIn đã ngợi ca Elizabeth Holmes là nữ tỷ phú trẻ nhất thế giới, nữ doanh nhân đẹp nhất thế giới, nữ doanh nhân hành xử giống Bill Gates ở chỗ bỏ học đại học, và nữ doanh nhân sánh ngang bằng Steve Jobs, v.v., và đăng lên LinkedIn lời phát biểu mà họ rất tán dương trầm trồ thán phục cho rằng có đầy bản lĩnh tự tin: “Ngay phút giây bạn có một kế hoạch dự phòng là bạn đã nhìn nhận rằng bạn sẽ không thể thành công” thì tôi đã viết comment ngay rằng Elizabeth Holmes sẽ thất bại. Và sau đó hai ngày, tôi vào LinkedIn viết tiếp hai comment để giải thích thêm, kẽo thiên hạ Âu Mỹ không cam tâm khi bị tôi nhạo báng. Tôi viết rằng: “Tôi thì nghĩ khác. Ngay khi bạn có một hay nhiều hơn một kế hoạch dự phòng được chuẩn bị cực kỳ công phu, điều này chứng tỏ bạn quyết tâm phải thành công. Tôi còn xin nói thêm rằng ngay khi bạn có một hay nhiều hơn một kế hoạch dự phòng được chuẩn bị cực kỳ công phu, có nghĩa bạn ra lịnh cấm không cho sự thất bại ngáng đường thành công của mình”.

Toi Va SH8

Và mới tuần trước cũng chính các tờ báo nhiều năm trước tâng bốc Elizabeth Holmes lên tận mây xanh lại phát đi tin tức rằng cô tỷ phú ấy trắng tay chỉ sau một đêm. Tạp chí Forbes hóa ra là thứ vất sọt rác do ban biên tập không ai có khả năng thấu thị về một celebrity. Chi tiết bịp lừa của Elizabeth Holmes cũng được tải đăng trên báo chí Việt Nam. Tôi đã nói đúng tương lai của Elizabeth Holmes vì hiểu biết một chân lý vốn có thể áp dụng cho mọi người trên thế giới kể cả người Việt là nếu bạn thành công lúc còn trẻ thì bạn tuyệt đối hãy ngậm miệng lại, đừng cố gắng nhả ngọc phun châu lên tiếng dạy đời, vì tuổi trẻ thường bị tác động bỡi sự kém già dặn, kém chín chắn, kém cẩn trọng, nhiều ham hố, quá bốc đồng, lậm hư danh, chuộng thần tốc, mà tất cả ắt dẫn đến sự dấn thân không thể không trên cơ sở tham lam, để rồi sự hám danh bốc đồng khiến bạn huỵch toẹt cái “nền tảng” không bao giờ vững chắc hơn bùn của sự dấn thân ấy, khiến bạn tự lột trần mình ra trước những…“nhà thấu thị”. Elizabeth Holmes đã ngạo nghễ phán này nọ như trên khi được thỉnh mời đến một cuộc phỏng vấn truyền hình thu hút sự đăng ký xem có trả tiền subscribe của người xem đài khiến thiên hạ biết bao ngưỡng mộ bản lĩnh cả quyết của cô ấy, còn tôi thì tin vào bài học Á Đông từ cổ chí kim về tầm quan trọng của các kế hoạch dự phòng cho mỗi đại cuộc nên biết ngay Elizabeth Holmes sẽ phải thất bại. Đội bóng đá Bồ Đào Nha đã đổi ngay không những đội hình chiến thuật mà thay cầu thủ khi đội trưởng Cristiano Ronaldo của họ bị cáng ra ngoài. Đó là các “kế hoạch dự phòng” của tất cả các nhà chuyên môn chuyên nghiệp, chưa kể ai cũng có kế hoạch dự phòng mà cúp vô dịch Euro 2016 chỉ vào tay duy chỉ một đội bóng, huống hồ kẻ trẻ người non dạ như Elizabeth Holmes phỉ báng “kế hoạch dự phòng” lại được ngợi ca chỉ vì ả là tỷ phú đô-la.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

4) Tôi và Nhựt Bổn

 Toi Va SH9

Tuy mến mộ các nhà ngoại giao Nhật cũng như rất thân tình với các doanh nhân Nhật qua việc tôi sát cánh cùng Tổng Lãnh Sự Nhật trong hỗ trợ quan chức này tại các hội nghị về kinh tế và đầu tư ở Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc đưa các doanh nhân cùng nhà khoa học nông nghiệp của họ đến làm việc tại Tổng Công Ty Giống-Cây-Trồng Thành phố Hồ Chí Minh hay tại các nhà vườn ở Đà Lạt và chính quyền Tỉnh Lâm Đồng, hay giữ vai trò nhập khẩu lớn các hàng hóa từ Nhật như ô tô, xe máy, và hàng kim khí điện máy, tôi vẫn nói với sinh viên của mình tại Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội – nơi tôi tham gia giảng dạy buổi tối – rằng Nhật Bản rồi sẽ đối mặt với nguy cơ mất ngôi bá chủ công nghiệp vì ba lý do như (a) sự phát triển công nghiệp không thể mãi mãi là riêng của Nhật nên sẽ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh đáng gờm như Hàn Quốc, (b) sự phát triển các ngành công nghiệp mới lạ hoặc kỳ lạ khác sẽ đưa các nước khác lên chiếm thế thượng phong, và (c) sự phát triển tranh đua quá ồ ạt của Nhật sẽ phải trả giá về chất lượng của chính Nhật Bản. Và rồi hơn hai mươi năm sau, Nhật Bản thực sự phải đương đầu ngang ngửa và nghiêng ngửa rồi bật ngữa với Hàn Quốc, các công nghệ lạ hoắc xuất hiện như công nghệ thông tin và công nghệ kỹ thuật sinh học tạo nên các đại gia tỷ phú mới đầy lấn lướt đẩy các đại gia Nhật xuống hạng dưới tính về tổng tài sản tiền đô-la Mỹ, cũng như made-in-Japan không còn là thương hiệu tuyệt đỉnh của chất lượng khi hàng chục triệu ô-tô Nhật liên tục phải bị thu hồi vì lý do chất lượng trên toàn thế giới.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

5) Tôi và Đại Hàn

 Toi Va SH10

Lúc phụ trách cung ứng nhân lực cho các văn phòng đại diện và ngoại giao đoàn tại Công ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài tức FOSCO, tôi thường tư vấn cho các sinh viên mới tốt nghiệp rằng (a) hãy quẳng bỏ cái ý nghĩ ghét làm việc tại các công ty Hàn Quốc khi mặc định người Hàn hay “động thủ” tung chưởng với người Việt, rằng sự động thủ – nếu có – chẳng qua là do họ muốn duy trì tính kỹ luật cực cao đáng kính trọng kính nể kính yêu kính phục trong môi trường lao động sản xuất hàng hóa vật chất công nghiệp công nghệ đòi hỏi sự nghiêm túc và nghiêm khắc phải có nơi một quốc gia đã dựa vào đó để trở thành siêu cường công nghiệp có ngày sẽ tiếm ngôi của Nhật để danh trấn toàn cầu, và rằng (b) cá nhân tôi nếu phải lựa chọn nơi làm việc cho chính tôi thì tôi sẽ ưu tiên làm việc cho công ty Hàn Quốc. Sự thật là chỉ vì tôi luôn tận tụy trung thành với nơi đang làm việc nên đã từ chối lời mời làm đại diện cho một công ty Đại Hàn có chữ Daihan trong tên tiếng Anh của họ. Sự thật là Hàn Quốc ngày nay đã chễm chệ ngôi vị bá chủ hoàn cầu chí ít là trong lĩnh vực điện thoại di động và tivi, chưa kể lấn sân Nhựt Bổn trong kỹ nghệ ô tô và xe tải về doanh số bán. Sự thật là văn hóa Hàn Quốc đã trở thành làn sóng dũng mãnh đầy tự hào cuốn phăng và chinh phục thế giới chí ít là trong âm nhạc và điện ảnh, thời tramg. Và tất cả những sự thật ấy hoàn toàn đánh bật khiến biến mất cái gọi là sự dữ dằn hay động thủ của các đốc công Hàn Quốc đối với công nhân Việt Nam. Sự đánh giá cao của tôi về Hàn Quốc từ hơn 20 năm trước với các sinh viên và nhân viên, lúc chưa có điện thoại di động, và lúc hàng hóa made-in-Japan luôn là tột đỉnh chất lượng, duy chỉ dựa trên hai sự thật về (a) tinh thần quật khởi nghiêm túc của doanh nghiệp Hàn Quốc và (b) kinh nghiệm bản thân tôi trong tiếp xúc với các doanh nhân Hàn Quốc ngay từ thời Việt Nam mới hé cửa chứ chưa mở rộng cửa cho đại cuộc mời gọi đầu tư nước ngoài, đã trở thành sự thật.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

6) Tôi và Đủ Thứ

 Toi Va SH11

Khi chưa ai trên thế giới nói về vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của Darwin, thì tôi đã cảnh báo từ nhiều năm trước đối với mưu đồ của bọn Tàu. Để rồi nay Mỹ rúng động giật mình vì Úc vừa vô tình cho Tàu thuê Darwin trong gần một thế kỷ khiến đe dọa các căn cứ hải quân Hoa Kỳ và các trung tâm nghiên cứu chiến lược ở Châu Nam Cực.

Khi mọi người ở Âu Mỹ đều nói về tầm quan trọng của một thế lực kinh tài Tàu-Ấn mang tên Chindia, tôi đã phản bác và khẳng định Chindia không bao giờ tồn tại, để rồi 20 năm nay chỉ thấy giới kinh tế hàn lâm Âu Mỹ chẳng còn dám nhắc đến Chindia.

Khi mọi người ở Việt Nam chưa ai nói về Thực Phẩm Chức Năng còn ngay khi nó xuất hiện thì xúm lại dè bỉu chê bai, tôi đã khẳng định đó là ngành nghiên cứu mang tính đột phá dựa trên kinh nghiệm dân gian truyền thống, nhân văn, và lợi nhuận cực cao. Để rồi Mỹ và ngay cả các nước trước đây thuộc Khối Đông Âu cũng thi nhau làm giàu nhờ thực phẩm chức năng với sự đóng góp tiền bạc ngất trời của người Việt và người gốc Việt trên toàn thế giới.

Khi mấy nhà sản xuất ở Việt Nam thi nhau bắt chước Vinamit sản xuất thực phẩm sấy khô, tôi đã viết cảnh báo trên Emotino gần hai mươi năm trước rằng hãy vừa bảo vệ môi trường Việt Nam vừa bảo vệ kinh doanh thành công trên thế giới bằng cách xa rời “sấy khô” để tiến sang “khô” tương tự như các sản phẩm “nho khô” hay “đào khô” đầy dinh dưỡng lừng danh của Mỹ được chế biến từ việc phơi dưới ánh mặt trời. Gần đây các siêu thị có bày bán “xoài khô” và “cóc khô” hay “ổi khô” của Vinamit, tức là đã có áp dụng lời khuyên của tôi để dần xa “mít sấy”, dù mấy loại “khô” này màu xám ngoét cực kỳ xấu xí.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao phân tích chống Bauxite, tôi viết ngay một bài về mười hiểm họa môi sinh trên toàn thế giới mà bauxite hoàn toàn không có mặt trong danh sách ấy, và thật may mà tôi đã dập tắt được các công kích sai về khai thác bauxite ở Việt Nam.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao phân tích ủng hộ “luật Biểu Tình”, tôi lập tức phát biểu tại Quốc Hội cũng như viết ngay một loạt bài về những điều nhất thiết phải tính đến khi đặt bút biên soạn dự án luật ấy. Thật may mà tôi đã dập tắt được hoàn toàn tất cả các manh nha soạn thảo dự luật ấy trong toàn bộ thời gian của nhiệm kỳ Quốc Hội khóa XIII, chưa kể vài năm sau các phát biểu của tôi đã xảy ra sự cố Bình Dương khiến Chính phủ phải xuất chi từ ngân sách eo hẹp của mình để bồi thường các nhà máy bị đốt phá khiến câu kết của lời phát biểu hùng biện của tôi tại nghị trường rằng “Kinh tế Việt Nam chưa đủ giàu để có thể chi trả cho một sự ô danh” trở thành lời thấu thị chuẩn xác và chính xác. Cái gọi là “luật biểu tình” quả nhiên đã không bao giờ được soạn thảo hoặc soạn thảo “ra hồn” nếu theo đúng quy trình “hai kỳ họp” tại Quốc hội.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao ồn ào phân tích phản bác dự án Sân Bay Long Thành, tôi đã ngay lập tức lên tiếng ủng hộ trong các bài viết, và tất nhiên các sự thật tồi tệ về vị trí hoàn toàn phản chiến lược của Phi trường Tân Sơn Nhất trong an toan an ninh cũng như sự hoàn toàn bất khả thi trong mở rộng Phi trường Tân Sơn Nhất đã dẫn đến tình trạng y hệt như thời Bauxite: tất cả tự nhiên im lặng tuyệt đối một cách chát chúa đinh tai nhức óc và siêu dự án Sân Bay Long Thành được tích cực triển khai.

Khi chỉ có tôi kiên trì công khai mắng mỏ Mỹ đại ngu xuẩn nếu cứ lãi nhãi mãi về nhân quyền, không nhanh chóng bắt tay với Việt Nam, và rồi Mỹ dường như chịu tác động từ bức tâm thư của Cô Lại Thu Trúc nên rốt cuộc cũng phải “đơn phương” gỡ bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, đồng thời tuyên bố chấp nhận những dị biệt đối với nội dung nhân quyền, thì cũng chẳng ai bảo Mỹ cuối cùng đã nhận ra sự ngu xuẩn của mình suốt hơn 50 năm, mà xúm lại cho rằng do Mỹ đánh giá cao các nỗ lực vươn lên của Việt Nam. Không sao. Vì tóm lại, tôi đã đúng khi nói rồi Mỹ sẽ nhận ra sai lầm xằng bậy của mình, dù quá muộn màng.

Khi Việt Nam xôn xao phấn khích áp dụng các phương pháp dạy tiếng Anh “hiện đại”, tôi đã khuyên các giáo sinh của tôi đừng bao giờ áp dụng mấy cái vớ vẩn đó khi trở thành giáo viên Anh Văn, và sau đó viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Sài Gòn Tiếp Thị, để phản bác cũng như để nêu lên các lý do. Để rồi gần 3 thập kỷ trôi qua, Việt Nam vẫn cứ mãi luôn đối mặt với trình độ tiếng Anh thảm hại của học sinh và sinh viên đã tốt nghiệp do đã áp dụng phương pháp ngược với tư vấn mang tính khẳng định của tôi.

Và còn vô số những điều khác nữa, chẳng hạn như không bao giờ Việt Nam mới có thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới”, hoặc còn lâu Việt Nam mới phát triển được nguồn nhân lực công nghệ thông tin dồi dào, hoặc còn khuya  chính sách giáo dục hay phát triển nông thôn Việt Nam mới đi đúng hướng, vân vân và vân vân.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

Nhưng tôi cũng xin thưa rằng: thói thường ở Việt Nam là khi vấn đề đơn giản 2+2=4 mà ngay cả đứa con nít Việt có ăn học đàng hoàng đều biết nhưng được một celebrity Mỹ thốt ra thì vấn đề ấy sẽ được báo chí thi nhau đăng tải như châu như ngọc chẳng hạn như việc Elizabeth Holmes thành công “sau một đêm” hay như việc Donald Trump vừa tuyên bố ngợi ca Saddam Hussein và Moammar Gadhafi. Còn khi tôi mấy năm trước mắng Elizabeth Holmes, báo chí ắt sẽ có sẵn người ẩn danh tung lên mạng bảo “thằng cha Phước ganh tài”, và nếu tôi nhiều năm trước ngợi ca Saddam Hussein cùng Moammar Ghadafi thì báo chí ắt sẽ có đoàn quân ẩn danh cố moi ra để tung lên mạng bảo “lão Nghị Phước khùng điên”, bất kể về sau ngay trong năm 2016 này cả Elizabeth Holmes hiện nguyên hình gian xảo phạm tội trắng tay “sau một đêm” còn bọn George Bush cùng Tony Blair bị dân của họ lên án gian trá tội phạm chiến tranh, trong khi tôi chục năm trước viết  Saddam và Ghadafi có tài dìm đầu khủng bố thì tuần trước Donald Trump phát biểu Saddam và Ghadafi có tài giết khủng bố, v.v..

Tội cho những người giỏi hơn tôi vạn lần trong xã hội sẽ không còn dám chường mặt ra với đời, chấp nhận nhường hẳn diễn đàn ngôn luận cho rặt những phường phản phúc phản Đảng phản quốc bất tài vô hạnh và phi lý.

Cổ Học Tinh Hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân có truyện xa xưa kia Quách Ngỗi tư vấn cho Yên Chiêu Vương rằng hãy trọng dụng Quách Ngỗi vốn chỉ là kẻ hàn sĩ tài cán chẳng là bao nhưng từ đó sẽ khuyến khích những bậc hiền tài thực sự trong xã hội yên tâm ra phò tá hoàng triều. Lành thay, quân vương đã chuẩn y kính trọng Quách Ngỗi như thầy, khiến quả nhiên biết bao hiền tài thực thụ tứ xứ đổ xô đến giúp biến Yên Quốc thành cường thịnh để giang sơn thành cẩm tú.

Tân Học Tinh Hoa của Hải Thoại Hoàng Ngọc Ẩn và An Thiện Hoàng Trọng có truyện mới hôm kia Lăng Tần tư vấn cho Báo Chí Đế rằng hãy trọng dụng Lăng Tần vốn chỉ là kẻ hàn sĩ tài cán chẳng ra chi nhưng từ đó sẽ khuyến khích những bậc hiền tài thực sự trong xã hội yên tâm ra thi thố khuông phò đế nghiệp. Hỡi ôi, hoàng đế đã không chuẩn y kính trọng Lăng Tần như thầy, khiến quả nhiên biết bao hiền tài thực thụ không có bất kỳ ai đến giúp biến Báo Quốc thành cường thịnh để non sông ngày càng trông giông giống gấm vóc nhiều hơn.

HHP Poem (2)Toi Va SH12

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo một vài bài viết cùng mang tính “thấu thị”:

Tầm Nhìn Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước Nói Về Tầm Quan Trọng Của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein, Tổng Thống Lybia Moammar Gadhafi, và Tổng Thống Syria Bashar al-Assad

Hoàng Hữu Phước Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tổng Thống Mỹ Donald Trump

Hoàng Hữu Phước Nhắc Đến Vị Trí Chiến Lược Của Darwin

Hoàng Hữu Phước Nói Về Bauxite

Hoàng Hữu Phước Nói Về Thực Phẩm Chức Năng

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Viexit

Rexit và Brexit: Bọn Trẻ Con “Liên” Học Đòi Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-7-2016

1) Rexit là khi bọn trẻ con Liên Xô ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị lên tiếng bảo bánh mì chấm muối cộng sản gây ra cao huyết áp nên ba-chớp-ba-nháng ùn ùn tán dương kẹo mút tư bản mang nhãn hiệu Perestroika tức “đổi mới, tự do, dân chủ” của chủ tiệm kẹo Góc-Ba-Chớp dẫn đến sự kiện tanh banh Liên Xô, các nước tách ra khỏi Liên Xô thành các quốc gia độc lập. Hầu như ngay sau sự tan rã của Liên Xô, người dân nước Nga Mới nhận ra (a) rằng hóa ra Âu Mỹ không bao giờ “chống Cộng” mà chỉ có muôn đời “chống Nga”, (b) rằng hóa ra kẹo mút làm họ mắc bịnh sâu răng và tiểu đường, và (c) rằng cuộc sống của họ thời Liên Xô sao mà hào hùng quá, sung sướng quá, ít te tua quá. Từ đó xuất hiện (a) nào là mấy bậc anh tài gốc cộng sản trung kiên như Putin trở thành lãnh đạo tối cao của quốc gia, (b) nào là các công luận công khai công bố công nhận sự nhung nhớ Liên Xô, (c) nào là sự cứng đầu cứng cổ của nhân dân Nga chọi lại Âu Mỹ bằng cách ủng hộ Putin bất kể kinh tế có te tua vì sự cấm vận của Mỹ Âu, và (d) nào là luôn tổ chức đại lễ vinh danh công trạng hào hùng của Liên Xô trong giải phóng thế giới khỏi chùm tư bản gồm Quốc Xã Đức, Phát-Xít Ý và Quân Phiệt Nhật.

Tóm lại, chỉ những người Nga kiên định tin vào Perestroika mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân Nga nào ủng hộ Perestroika rồi ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ Nga trở lại thành Liên Xô, và không bao giờ Nga thoát khỏi các mưu đồ tiêu diệt Nga của Âu Mỹ.

2) Brexit là khi bọn trẻ con Vương Quốc Anh ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị thực hiện tự do dân chủ lên tiếng đòi rút khỏi Liên Minh Châu Âu, để rồi hầu như ngay sau kết quả trưng cầu dân ý thiên về phía thuận tách khỏi EU thì nhao nhao khóc thét dãy dụa (a) mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý, (b) hào hùng mạnh mẽ lên tiếng ì xèo đòi ở lại EU, (c) dũng cảm hiên ngang từng “xứ” chủ động liên hệ với EU để xin tiếp tục ở lại EU, và (d) trật tự văn minh chen chúc xin làm dân Ireland để tiếp tục làm dân EU. Tất cả nói lên năm điều tệ hại gồm (a) dân Vương Quốc Anh ngu xuẩn không biết tôn trọng luật chơi, (b) dân Vương Quốc Anh làm chính trị kiểu ngẫu hứng, (c) chính phủ Vương Quốc Anh ngu xuẩn do mồm loa mép dãi luôn lảm nhảm nôn ọe bùa chú lên đồng về tự do dân chủ nên chịu quả đắng khi tự do dân chủ bị lạm dụng, (d) Vương Quốc Anh với việc các “xứ” quay sang tự làm việc với EU hóa ra không là một thể thống nhất mà chính tác giả của bài viết này mấy năm trước viết về sự tan rã của Mỹ cùng Vương Quốc Anh trong bài Nước Mỹ Vỡ Vụn đã từng đề cập đến, và (e) người dân Vương Quốc Anh chống Brexit đã không biết đến sự thật đánh dấu số d trong đoạn nêu dưới đây.

Tóm lại, chỉ những người dân nào của Vương Quốc Anh kiên định tin vào Brexit mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân nào của Vương Quốc Anh đã không đi bỏ phiếu cùng với những người đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit rồi lại ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ có việc Vương Quốc Anh tồn tại trong EU (a) ngay cả khi Quốc Hội Vương Quốc Anh phủ quyết kết quả trưng cầu dân ý, (b) ngay cả khi Chính phủ Vương Quốc Anh không kích hoạt tiến trình rời khỏi EU, (c) vì việc rời khỏi EU dù kéo dài hơn 2 năm cũng phải khẩn trương theo thúc giục của EU do EU muốn nhanh chóng tống khứ Vương Quốc Anh, và (d) do EU buộc phải mạnh tay dứt khoát với Vương Quốc Anh không phải như báo chí thường nói đến như giảm thiểu tác hại về kinh tế của EU mà chính là sự răn đe đối với phần còn lại trong EU cũng như giữ thể diện EU và sự chán nãn của EU đối với Vương Quốc Anh là thành viên luôn luôn ỏn ẻn đòi yêu sách linh tinh lung tung từ nhiều thập kỷ nay.

3) Viexit thì trái ngược với Rexit và Brexit, vì đây là phong trào của tương lai khi (a) phát sinh đòi hỏi phải có cuộc trưng cầu dân ý đòi rút Việt Nam ra khỏi ASEAN, (b) nếu dẫn đến cuộc chia tay của Việt Nam khỏi ASEAN thì đó là từ quyết định sáng suốt khôn ngoan đầy bản lĩnh của người dân Việt Nam, và (c) ASEAN bị sụp đổ mà không thể ngẫng mặt cao đầu như EU để lên mặt yêu cầu Việt Nam nhanh chóng “kích hoạt” tiến trình ra khỏi ASEAN.

Lý do của Viexit là vì người dân Việt Nam không thể chấp nhận việc khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam chỉ là nơi cho thiên hạ ASEAN tự do đến buôn bán, tự do đến làm việc, trong khi ASEAN lặng thinh chấp nhận có những con ngựa bẩn thỉu mất dạy thành Troy tự do công kích Việt Nam, tự do bắt tay với Trung Quốc để chống Việt Nam trong vấn nạn Biển Đông.

Tóm lại, ASEAN là một tổ chức ngu xuẩn như minh chứng qua việc hình thành cái gọi là ASEAN-Trung Quốc.

Tóm lại, ASEAN không là một thực thể hùng mạnh như EU để người dân Việt Nam sau Viexit sẽ phải mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý như bọn trẻ con Vương Quốc Anh sau Brexit.

Tôi là một Viexiter.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Việt Nam XIII, Viexiter

Ghi chú:

1) Vương Quốc Anh có tên đầy đủ là Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan, bao gồm Xứ Wales, Xứ Scotland, Xứ England, và Xứ Bắc Ái Nhĩ Lan. Xứ England tức Xứ Anh. Đại Anh tức Great Britain bao gồm ba xứ England, Scotland, và Wales. Người Việt hay gọi sai Vương Quốc Anh là Nước Anh. Tất nhiên, sẽ đúng khi gọi English là tiếng Anh, thậm chí có gọi là tiếng Mỹ cũng không sai. Nhưng gọi “Nước Anh” là sai vì xúc phạm Scotland và Wales nếu họ biết ở Việt Nam xem họ là “xứ” tức xứ miền trong khi lại dành cho England từ ngữ “nước” tức quốc gia.

2) Nhiều báo ghi sai rằng tiến trình để ra khỏi EU là 2 năm kể từ khi kích hoạt (tức chính thức nộp đơn xin ra khỏi EU). Điều này không được quy định trong Hiệp Ước Lisbon hay Hiệp Ước Maastricht, khi một nước thành viên rời bỏ EU. 2 năm là dựa theo thời gian thực tế mà Greenland phải mất mới kết thúc được các đàm phán với EU để chính thức rời EU (trước đây là EEC) và cũng dựa theo Điều 50 Hiệp Ước Lisbon, theo đó nếu sau 2 năm mà vẫn chưa đạt được một thỏa thuận nào giữa quốc gia xin rời bỏ EU với EU thì tư cách thành viên của quốc gia đó tự động chấm dứt (trừ phi có thỏa thuận giữa quốc gia đó và Eu về việc gia hạn thời gian thêm để đàm phán tiếp). Cần nhớ rằng Greenland là một quốc gia nhỏ, gắn kết kinh tế với EU chỉ có mặt hàng cá; trong khí đó, Vương Quốc Anh là một cường quốc với các gắn kết đa dạng rộng khắp với EU nên để kết thúc dứt điểm từng gắn kết một phải mất có khi hàng thập kỷ cũng khó thể kết thúc tất cả các đàm phán chi li với 27 nước thành viên khác. Ngoài ra, khi EU lớn tiếng yêu cầu Vương Quốc Anh nhanh chóng rời EU, điều này càng nêu bật ý nghĩa rằng đã chưa từng có quy định nào trong Điều 50 ấn định thời gian 2 năm cho một “exit” cả. Đã có quy định thì EU không bao giờ có quyền thúc giục Vương Quốc Anh hãy mau mau kết thúc mọi thứ để ra khỏi EU.

Tham khảo:

Andy McSmith. 24-6-2016. EU referendum result: What is Article 50? How long will it take for Britain to leave the EU. http://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/eu-referendum-result-what-is-article-50-how-long-will-it-take-for-britain-to-leave-the-eu-a7099966.html

Hoàng Hữu Phước. 29-3-2014. Nước Mỹ Vỡ Vụn. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/29/nuoc-my-vo-vun/

Hoàng Hữu Phước. 01-5-2012. Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/06/17/su-thieu-khon-ngoan-cua-asean/

Trung Quốc Phải Thua Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 7 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 23 giờ

(Sáu bài sau đã đăng cùng ngày hôm nay:

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê  đã đăng lúc 11 giờ

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn đã đăng lúc 14 giờ

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt  đã đăng lúc 18 giờ

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta đã đăng lúc 20 giờ

Văn Tế Tướng Tàu La Viện  đã đăng lúc 21 giờ

Giặc Tàu Mọi Rợ  đã đăng lúc 22 giờ)

*********

Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân  Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.

Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”

Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:

“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”

Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.

Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.

Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên, “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.

Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.

Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).

Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.

Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.

Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.

Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!

Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:

Tau (2)Tau (1)Tau (3)

Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.

Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.

33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.

Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!

Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.

                            Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

                            Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên được đăng lần đầu ngày 02-02-2012 trên blog.com, tức vào đầu năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70.

Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12.

Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 6 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 22 giờ

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Ghi chú: Bài viết trên đã đăng lần đầu ngày 14-9-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.

Văn Tế Tướng Tàu La Viện

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 5 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 21 giờ

La Vien

Hôm nay nhân kỷ niệm 140 năm ngày Nguyễn Khuyến viết bài Văn Tế Ngạc Nhi tức tế quan nhớn của Pháp tên Marie Joseph Francois Garnier còn gọi tắt là Francis Garnier bị tử trận ở trận Cầu Giấy, Hà Nội, trước tiên tôi xin ghi lại nguyên văn bài văn tế của Tam Nguyên Yên Đỗ, và sau đó noi gương tiền nhân để viết bài văn tế tên thiếu tướng Tàu La Viện, kẻ đang sủa ăng ẳng về Biển Đông:

Văn Tế Ngạc Nhi

Tác giả: Quế Sơn Nguyễn Khuyến

Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Văn Tế La Viện

Tác giả: Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Than ôi!

Thân mang hàm quan tướng

Tưởng an nhàn office thật sướng thân

Ngày qua ngày gom giấy cho mụ vợ bán ve chai

Có ngờ đâu một phút sa cơ vội bỏ kiếp đất bờ

Thân chìm nổi dật dờ thây cá rỉa.

 

Nhớ linh xưa:

Học sủa nhặng đua đòi thằng Mã Viện

Ẳng ẳng rằng tao cũng Viện vậy, thua ai?

Nước Nam kia tao sẽ quánh tựa chẻ tre

Lôi hết gái cháu chắt chút của Hai Bà về hưởng thú!

Mồm gấu gấu như La Thông thời tảo Bắc

Tay múa cào nhái La Quán ấy thằng Trung

Sử của Tàu chưa có đoạn trị Nam

La ta quyết: Viện này nay chấp bút!

 

Nhưng hỡi ôi!

Ngu dốt đặc nào đọc ra chữ “Nhất”

Đếch có mà biết sách sử có ghi chi

Chỉ xem tuồng ba xạo đánh đông tây

Với Nhân Quý, Cáp Tô Văn, toàn bá láp!

Ối cha ui! Ối mẹ ui! Giờ lỡ đụng cháu con Bà Nhị Trắc

Rời lưng voi, cưỡi trùng trùng lớp lớp súp-ma-rin

Nhấn Liêu Ninh đít cọ đáy Biển Đông

Lôi theo xác Viện La về trùng phùng Viện Mã

Khốn nạn thân Ông

Khốn khổ thân Ông

Khốn kiếp thân Ông

Khốn đốn thân Ông

Khốn khó thân Ông

 

Lăng Tần ta nay:

Tâm khuôn phò xã tắc nước Nam

Trí diệt tiêu bây giặc Tàu ché đỏ

Nhưng tuân ý muôn dân đem bày chút cỗ

Gồm Nờ Một Hát Năm: gà toi một chú, vịt lảo đảo một nàng

Sữa mê-la-mai: Sanlu bột mịn đại bổ béo hai thùng

Dưa hấu nổ: to đùng đùng ba trái

Móng trâu bò bốn năm chiếc xí quách gặm chơi

Rượu nước Nhiêu Lộc pha cồn chín mươi chữ sáu bình

La Viện ông sống có khôn thác có thiêng

(Mà dù có đếch khôn cộng với đếch thiêng, cũng)

Hãy chịu khó lội về đây phàn xực.

Ôi La Viện ơi là La Viện!

Ta vì phải học theo Nước Nam Truyện Cổ

Buộc mắng Ông cho tiêu tan tình tội của Ông

Nén hương trầm xin đốt cắm hũ chao

Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!

Thượng hưởng!

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1:

– office: văn phòng, cơ quan

– quánh: tiếng bình dân Nam Bộ, đồng nghĩa với “đánh”

– trị Nam: ý nói mấy tên họ La như La Thông (quyển La Thông Tảo Bắc) cũng là hạng vô danh tiểu tốt chẳng được dân Tàu xem trọng nên chẳng ai viết về y, còn La Quán Trung cũng là đứa họ La với La Viện thì cũng chỉ rặn ra được mấy quyển sách sử thể loại giải trí trường thiên chứ chẳng tham gia viết cái gì liên quan đến phía Nam vì toàn bộ lịch sử 5000 năm lập quốc của Tàu thì chỉ toàn đớn nhục ê chề khi đụng đến nước Nam, nên ngay cả có thời kỳ đô hộ nước Nam cả ngàn năm mà Tàu cũng chết khiếp không dám viết hay làm phim cổ trang về thời kỳ “ngàn năm” ấy. Tàu chỉ dám làm hai việc có dính tới nước Nam, đó là cách nay 30 năm sản xuất quả địa cầu vẽ nước Tàu dài tới…Mũi Cà Mau, và cách nay 3 ngày sản xuất tấm bản đồ ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Xem ra, Tàu vẫn sợ chết khiếp khi nghĩ đến nước Nam ta.

– Nhân Quý và Cáp Tô Văn: Tiết Nhân Quý (quyển Tiết Nhân Quý Chinh Đông), còn Cáp Tô Văn là thủ lĩnh Đại Hàn xứ sở kim chi, đối tượng của sự xâm lược do Nhân Quý tiến hành

– súp-ma-rin: tức submarine (tàu ngầm)

– Liêu Ninh: hàng không mẫu hạm của Tàu

– Nờ Một Hát Năm: tức H5N1, bịnh cúm gia cầm

– mê-la-mai: sữa melemin đặc sản Tàu, do hãng Sanlu sản xuất nhằm giết trẻ em … Trung Quốc, bảo đảm độc quyền, không đụng hàng trên toàn thế giới

– Nhiêu Lộc: nguồn nước tinh khiết độ đạm cực cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt dành riêng cho giặc Tàu xâm lược

– phàn xực: tức “xực phàn”, tức là … xực, tiếng lóng của Việt Nam gọi hành động “ăn uống”

– Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!: đây là lời kết rất hiền hòa do hậu sinh “Nhất Thạc Bàn Cờ” Lăng Tần không dám sử dụng từ ngữ ngang tầm “Đù cha mẹ nó!” của bề trên là Cụ “Tam Nguyên Yên Đỗ” Nguyễn Khuyến. (ghi chú thêm số1: Nhất Thạc là…Thạc sĩ mới có một lần, và là dân cư Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn; ghi chú thêm số 2: kiểu ngôn từ “Đù cha mẹ nó!” là kiểu đặc biệt dành cho bất kỳ bọn xâm lược nào đụng đến nước Nam, vì vậy cần được trau giồi, học hỏi, phát huy, tăng cường sử dụng trong văn học để chứng minh con cháu Việt ai cũng muốn giỏi như Trạng Nguyên Ba Lần Nguyễn Khuyến)

Ghi chú 2: Bài trên đăng ngày 14-01-2013 tức vào đầu năm thứ ba của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 4 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 20 giờ

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ. Tôi còn dị ứng trước bất kỳ những gì của Trung Quốc, từ phim cổ trang về bọn gióc tóc đến phim xã hội tầm phào (tất nhiên trừ vài phim họ làm để chinh phục Holywood), từ mấy thứ thuốc cao đơn hoàn tán khả nghi đến thực phẩm không đáng tin cậy, từ đồ chơi kém chất lượng đến hàng điện tử đầy hỏng hóc, v.v., tất cả không do bất kỳ một thái độ kỳ thị nào cả, mà từ sự miệt mài say sưa đọc sử Trung Quốc để rồi nghiệm ra rằng sở dĩ nước ấy có Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử xuất hiện chẳng qua vì tổ tiên Trung Quốc cực kỳ tàn độc, vô lễ, vô chính, vô hạnh, vô đức, vô duyên, vô trí như thể hiện đầy dẫy trong các chi tiết ở các triều đại phong kiến như vua cha cướp vợ của con, thái tử lấy vợ của vua cha, cha con/anh em giết nhau vì ngôi báu, v.v., và hậu duệ của một giống nòi như vậy không thể khiến người ta tin rằng đã nhờ văn hóa văn minh hiện đại ngày nay xóa tan được những gien vô sĩ, bất nghĩa, tàn độc của tổ tiên.

Thế nhưng, rất nhiều hàng hóa tồi tệ của Trung Quốc vẫn tràn vào Việt Nam, và nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn “đặt hàng” Trung Quốc chế tạo hàng kim khí điện máy. Tất nhiên điều này cho thấy Việt Nam có cơ chế thị trường mở, tự do, phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO, không dùng bất kỳ biện pháp hành chính nào để cản trở. Vấn đề do đó nằm trong cái tâm, cái tầm, và cái tình của người đi buôn và của người tiêu dùng.

Vấn nạn của Trung Quốc ngày nay bao gồm nhiều điểm nóng bỏng, nhưng nổi cộm nhất và mang tính dân tộc cụ thể nhất là vấn đề bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc không thể bành trướng lãnh thổ trên đất liền do phía Bắc bị Nga đè bẹp với vùng đệm khó chịu của Mông Cổ và Kazakhstan; phía Tây sừng sững kẻ thù bất cộng đái thiên Ấn Độ với vũ khí nguyên tử cùng vòng cung khó chịu của Pakistan, Afghanistan và vài quốc gia cựu-Liên-Xô khác; phía Đông bị Hàn Quốc án ngữ với vành đai khó chịu của Nhật Bản; còn phía Nam bị ngăn chặn vĩnh viễn bởi bức tường thép Việt Nam. Không thể tiến lên phương Bắc vì vùng Siberia ngàn năm băng giá của Nga, không thể vượt qua tường lửa phía Tây để nuốt Châu Âu, không thể vượt sự kềm tỏa phía Đông để đụng độ Hoa Kỳ và Châu Mỹ, Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất là đánh xuống phương Nam. Sự ra quân hối hả của Trung Quốc từ cơn khát thèm di truyền từ tổ phụ xua quân tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979 đã cũng cố tính chính xác của công thức phản ứng hóa học bất di bất dịch: quân đội nào vào tiếp xúc với đất Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học thăng hoa khiến quân đội ấy bốc hơi, tan biến, mà không thu hồi được ngay cả các khí thứ phẩm (công thức khác thì cần thời gian xác minh củng cố thêm, đó là: quân đội nào vào tiếp xúc với nước Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học lắng tụ khiến quân đội ấy thân chìm đáy biển mà không thu hồi được ngay cả các thứ bùn thứ phẩm). Trung Quốc chỉ còn cách hạ mình tránh né lục quân Việt Nam, cực chẳng đã phải buộc quên mình là Con Trời, muối mặt làm con kỳ nhông với lưỡi thè dài ra liếm láp các hòn đảo Biển Đông và tự an ủi là lưỡi mình là lưỡi bò chứ không phải lưỡi thạch sùng, cắc ké, kỳ nhông. Việc đi tắt bằng đường biển xuyên Biển Đông này không phải như hầu hết nhân loại đã nghĩ (chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì tài nguyên dầu hỏa phong phú), hay phần lớn nhân loại đã nghĩ (khống chế các nước ASEAN), mà chính là xuyên qua ASEAN làm chủ Biển Đông, thẳng tiến đánh chiếm Châu Đại Dương, sở hữu Nam Cực, khống chế Mỹ La Tinh và tất nhiên biến Bắc Mỹ thành búp bê Barbie hữu danh vô thực (Mỹ đấy – tức là…Đẹp đấy, nhưng không nhúc nhích cục cựa gì được).

Cái đói khát thèm thuồng của Trung Quốc đã rất thảm hại khi tung tiền mua một hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) thời Liên Xô cũ của Ukraine đang chờ bán sắt vụn để kéo về nước “tân trang”, rồi bắn tin là một doanh nhân Trung Quốc cũng sắp tậu một hàng không mẫu hạm khác, loại phế thải của Anh Quốc về làm nhà hàng, khách sạn. Hoàng Sa và Trường Sa, do đó, chỉ là nơi phải chiếm giữ để xây dựng căn cứ hải quân hậu cần cho những cuộc hải trình chinh phục phương Nam.

Việc làm của chúng ta, do đó, nhất thiết nên là:

1) Ủng hộ Chính phủ Việt Nam trong những cách chính quy, chuyên nghiệp mà Chính Phủ luôn áp dụng thành công với đối ngoại, ngoại giao, chính trị, và quân sự.

2) Kinh nghiệm cho thấy các cuộc xuống đường rầm rộ trên toàn thế giới và ngay trên đất Mỹ đòi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam vẫn không có tác dụng gì đối với Chính phủ Hoa Kỳ, và chỉ khi bị Việt Nam đánh bại về quân sự, Mỹ mới rút quân khỏi Việt Nam. Việc làm hiệu quả nhất để đòi lại chủ quyền hải đảo đã bị Trung Quốc chiếm đóng là phải đánh bại Trung Quốc về hải quân, mà để có sức mạnh hải quân sẽ cần đến nguồn tài chính dồi dào do dân đóng góp. Sự đóng góp này phải có tên gọi cụ thể là “đóng góp hiện đại hóa quân đội và xây dựng hải quân hùng mạnh” chứ không dưới một danh xưng mềm mỏng yếu ớt như “góp đá cho Trường Sa”.

3) Trong khi Chính phủ Việt Nam sử dụng sức mạnh công luận của ASEAN và thế giới, người dân Việt Nam nên sử dụng sức mạnh của dân Trung Quốc đối với Chính phủ của họ, nghĩa là nhất thiết phải cho người dân nghèo khổ Trung Quốc cùng các nhà sản xuất nhỏ Trung Quốc hiểu ra rằng bao năm qua Việt Nam nuôi sống họ bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ, và họ nay phải phản đối việc Chính phủ của họ gây hấn ở Biển Đông; bằng không, Việt Nam tẩy chay hàng hóa của họ, đẩy lùi họ về thời kỳ cùng khổ của cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

4) Phải làm cho các nước ASEAN và các nước Châu Đại Dương hiểu rằng Trung Quốc đang nhắm đến họ chứ không phải mấy hòn đảo ở Biển Đông, do đó họ nhất thiết phải cùng Việt Nam dùng sức mạnh ngoại giao và quân sự để đè bẹp ý chí bá chủ của Trung Quốc.

5) Nhất thiết phải có nhà biện sĩ thuyết khách cỡ Trương Lương hay Tô Tần sang du thuyết với lãnh đạo Trung Quốc, cho họ những lời khuyên khôn ngoan (a) rằng lẽ ra Nhật Bản không phải là đảo quốc nhỏ bé bị thiên tai tàn phá liên tục mà là một đại siêu cường có lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới nếu sau khi chiếm Trung Quốc họ biết dừng lại ngay tại biên giới Việt Nam; (b) rằng lẽ ra Đế Quốc Pháp ngày nay vẫn còn danh dự như Đế Quốc Anh đang còn tồn tại nhiều “thần dân” như Canada, Úc, v.v., nếu Pháp biết dừng lại bên ngoài hải phận Việt Nam; (c) rằng Đại Tống lẽ ra đã không bị Tây Hạ và Liêu Đông dày xéo đến phải mất nước về tay Nhà Kim và Nhà Nguyên nếu họ đừng xâm lấn nước Việt để bị Lý Thường Kiệt đánh cho suy tàn, cũng như nhiều triều đại khác trong lịch sử Trung Hoa; (d) rằng Hoa kỳ lẽ ra đã không mất ngôi vị lãnh đạo thế giới, không biến thành kẻ lụn bại về kinh tế lẫn uy danh nếu biết dừng lại ngoài lãnh hải Việt Nam mà không ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ để đổ bộ vào Đà Nẵng; (e) rằng Trung Quốc hãy vì đại cuộc mà rút quân khỏi Biển Đông để tập trung trấn quốc do việc xâm lấn ngày nay sẽ khiến Trung Quốc đối mặt cùng lúc bốn đại nguy cơ gồm thứ nhất là sự tẩy chay của thế giới khiến tác động tai hại đến kinh tế Trung Quốc, thứ hai là việc tung quân rời xa vùng cương thổ sẽ khuyến khích các cuộc tổng nổi dậy xé tan nát sự toàn vẹn của Trung Quốc, thứ ba là khuyến khích cắt cáp và gây hấn với tàu Việt Nam là hành động tương tự sự ngu xuẩn của bậc làm cha mẹ nào xui giục con giở thói côn đồ cướp bóc khiến đàn con sẽ trở nên bại hoại, mất dạy, bất lương, bất hiếu, quay ra đánh lại mẹ cha, tàn diệt Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, và thứ tư là Trung Quốc tất nhiên phải đại bại do lịch sử chưa bao giờ có bất kỳ sự kiện gì chứng minh Trung Quốc đánh thắng bất kỳ một quốc gia nào ở khu vực ASEAN; và (f) rằng Trung Quốc hãy chấp nhận vị trí siêu cường kinh tế vì không bao giờ “có cửa” cho Trung Quốc làm siêu cường quân sự cả.

6) Cảng Cam Ranh nên là một quân cảng cho Nga hoặc Mỹ thuê, do Cam Ranh thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam có toàn quyền quyết định việc sử dụng Cam Ranh, chứ không phải Việt Nam buộc sử dụng cho mục đích phi quân sự chỉ để nhằm khoe hay chứng minh với phần còn lại của thế giới rằng Việt Nam “yêu hòa bình” hay chỉ để làm yên tâm kẻ đang gây căng thẳng nơi Biển Đông. Kiểu cách bất di bất dịch của tất cả các vương triều nước Việt suốt chiều dài lịch sử 4.500 năm lúc nào cũng nhún nhường quỳ mọp xin lỗi “thiên triều” Tàu thì nay nhất thiết phải được thay đổi triệt để và ráo riết. Nhờ sự quỳ gối quỳ mọp quỳ lụy Tàu của tất cả các bậc minh quân nước Việt trong lịch sử mà dân tộc Việt đã được trường tồn. Đã đến lúc nhờ sự vùng lên nắm đầu đè cổ dí đầu Tàu xuống bùn nhơ của chính phủ Việt Nam trong tạo nên lịch sử mới cho dân tộc Việt mà dân tộc Việt sẽ được trường tồn.

7) Và cuối cùng – song không kém phần quan trọng – là chúng ta nên bảo đảm mọi hành động đều phát xuất từ lòng yêu nước tự thân, sự hiểu biết đúng đắn tự thân, quá trình tư duy tự thân, khả năng nhận định đúng đắn và phân tích đúng đắn tự thân, và trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, trật tự xã hội, an ninh quốc gia, để không dễ bị xui giục, khích động, lôi kéo bởi những tên chống Cộng thâm hiểm. Đất nước chỉ có thể được bảo vệ bởi quân đội đã chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 09-6-2011 tức trước khi tác giả chính thức trở thành Nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Ngưu Ngữ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 3 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 18g

Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…ông nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).

Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua), v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, long não không phải là…óc vua.

Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.

Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:

Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu ), nghĩa là mặt vua Tàu

Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu

Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu

Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò

Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu

Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu

Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu

Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng

từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, được sờ Ngưu Mông và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”

Đúng là ngôn ngữ Tàu cũng có các biến thiên để trở thành sinh ngữ uy trấn toàn cầu vậy.

Tiếng Tàu nay không còn là Hoa Ngữ hay Trung Văn mà được cách tân thời thượng gọi là Ngưu Ngữ, tiếng bình dân gọi là Tiếng Bò.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 02-9-2011 tức sau kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 2 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 14 giờ

Các dị nhân Tàu đã từng chứng minh thật hùng hồn đầy sức thuyết phục với toàn nhân loại rằng tổ tiên và hậu duệ của Tàu rất giỏi về bói toán, tử vi, bốc dịch.

Lịch sử của Tàu cũng từng chứng minh rằng Tàu đã thực sự có dị nhân tài ba như thế nhưng dù đã biết số trời vẫn ra sức hô phong hoán vũ trấn bùa ếm chú chống ngăn để rồi vẫn hoàn toàn đại bại thất bại lụn bại hủ bại, như cái gã họ Gia Cát tên gọi Khổng Minh (tức Phục Long Tiên Sinh, kẻ mà thiên hạ Tàu đại ngôn pháo đại cho rằng y cùng với gã nọ họ Bàng tên Thống còn gọi là Phụng Sồ Tiên Sinh hợp thành thiên hạ đệ nhất mà chỉ cần có một trong hai ở dưới trướng theo phò thôi là đã có thể gồm thâu xã tắc, nhất thống thiên hạ, lập nghiệp đế vương, để rồi khi trự nọ tên Bị họ Lưu thu nạp cả hai lại bị tủi nhục mất cả giang sơn Thục quốc) lập đàn bắt ấn cũng không tránh được chuyện bị tên bại tướng hàng binh Ngụy Diên lấy mất cái đầu.

Lấy cổ mà suy kim, chỉ cần quan sát xem Tàu động thủ ra sao khi bày chuyện can qua chống trời là đã có thể nhận định được ngay lập tức thật rất rõ ràng rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Quốc, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là Tàu, cùng đám tiểu quốc lâu la theo đóm ăn tàn, đã đến “ngày tuyệt diệt”, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là “ngày tàn”, theo lời bàn của Lăng Tần Tiên Sinh nước Việt, đối thủ của Phục Long Tiên Sinh và Phụng Sồ Tiên Sinh nước Tàu.

Cái sự suy vong của một nước nhớn từ cổ chí kim được nhận thấy qua duy chỉ một hành động duy nhất đã trở thành một đại công thức mang tính chân lý bất dịch bất di là khi lãnh đạo nước ấy đột nhiên ngu xuẩn hấp tấp dấy động can qua (a) trên tư thế yếu của tâm thần từ hỗn hợp của các bệnh lý tâm thần complex neurophysiological phenomenon of neuroleptic malignant syndrome do di truyền từ tiên tổ và chứng thác loạn thần kinh khiếp sợ hypersensitivity mental disorder from heredity, genetics and brain chemistry cũng do di truyền từ tiên tổ; và (b) dựa dẫm vào sức khỏe bò điên có lưỡi bị tưa toét đứt làm chín đoạn. Từ những mặc cảm bịnh hoạn bịnh lý bịnh kinh niên của chứng Gelotophobia khiến luôn sợ bị cười chê nhạo báng do dân tộc mình ăn dơ ở dáy muôn đời bại trận trước Việt Nam, chứng Ordacleaphobia khiến vạn kiếp khiếp sợ thân phận không bao giờ hoàn hảo do không bao giờ làm bất kỳ phim cổ trang nào có nội dung đánh thắng Việt Nam, dẫn đến sự hình thành chứng bịnh Vietnamophobia luôn luôn khiếp sợ Việt Nam đến độ

trầm trọng thành tâm bịnh Vietnamomania trở thành chứng điên dại Desanimania cộng với chứng EcdemomonomaniaPoriomania khiến bị thôi thúc phải bỏ lục địa lang thang ngoài khơi lạc tuốt xuống Biển Đông xây tạm cái xó xỉnh gọi là  “Thành phố Tam Sa”; cho đến sự khiếp sợ đầy bịnh hoạn của chứng Atychiphobia dưới tác động của lệch lạc tàn khốc của Homocidomania tức Phonomania đã khiến ra lịnh cho tay sai là bọn chó dại Khmer Đỏ tiến hành cuộc đại tàn sát dân Kampuchea nhằm thôn tính nước này làm bàn đạp vững chắc bảo đảm chiếm được Việt Nam. Chung quy, tất cả đã cộng hưởng với cái tâm thần lệch lạc của di chứng Claustrophobia lúc nào cũng sợ hãi sự tù túng bó rọ giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của đại quốc Nga và thực thể tiềm năng Mông Cổ ở phương Bắc, liên minh Hồi Giáo dũng mãnh và Ấn Độ ngoan cường ở phương Tây, Việt Nam thần uy dũng mãnh ở phương Nam, và ngọa hổ Nhật Bản với tàng long Hàn Quốc ở phương Đông, cuối cùng đã phá sụp thần trí Tàu, làm Tàu mông muội thè lưỡi xuống liếm phân chim ở Hoàng Sa và chấm mút Trường Sa.

Đầu Tàu đã mang quá nhiều chứng tâm thần, nhưng cũng nhờ những hành động chống trời kiểu Phục Long và Phụng Sồ đã khiến những bậc trí thức tài hoa đất Việt trời Nam không cần bấm độn cũng biết ngày tàn của Tàu đã đến. Do biết trước thiên cơ từ năm 2013 trở đi hàng vạn tai ương khủng khiếp giáng xuống Tàu cộng thêm với việc Tàu bị tan nát thành sáu nước, Tàu đã vì khiếp sợ mà cho rằng tiên hạ thủ vi cường, phải ra tay đánh xuống phía Nam trước để trừ hậu hoạn vừa tránh đại họa bị Việt Nam xóa sổ vừa có vùng đất đai mới để cắm dùi rời xa đất Tàu tan vỡ do bạo loạn và thảm họa thiên tai. Để thêm phần chắc thắng, một triệu chiến binh Tàu đã được cấp tiền bạc để trở thành công dân Campuchia, đất nước năm triệu dân, mua đất đai lập đồn điền áp sát toàn tuyến biên giới phía Tây của Việt Nam, tung tiền xây dựng tại thủ đô Phnom Penh con đường hoành tráng mang tên “Đại Lộ Mao Trạch Đông”, và hớn hở trước tình hình “đa đảng” của Cambodia với nhiều “đảng” hô hào thù hận Việt Nam, ra tay phá cột mốc biên giới, cản trở việc cắm mốc còn lại, và vẽ lại bản đồ Việt Nam chỉ kéo dài xuống đến xứ Quảng, còn lại thì sáp nhập vào Vương Quốc Cambodia. Việc nhanh chóng “ra tay” trước của Tàu càng củng cố sự thật rằng Tàu buộc phải bị diệt vong. Tàu đã để lộ thiên cơ qua việc chống lại cơ trời, thay vì gắng sức tu nhân tích đức, xử sự đàng hoàng với Việt Nam hầu mong cải tạo được tình hình đại họa sắp giáng xuống toàn dân tộc Tàu mà bất kỳ người Việt nhân từ nhân hậu nhân văn nhân ái nhân đạo nào cũng không muốn chứng kiến ngày đất Tàu vỡ vụn chôn vùi hàng tỷ con người còn Biển Đông South China Sea lại phải bị đổi tên thành Huyết Hải Blood Sea do nhuộm đỏ máu quân Tàu mà thế giới thì đã có biển Hồng Hải Red Sea sẵn rồi nên Việt Nam khó thể đặt trùng.

Bọn Phục Long Khổng Minh Gia Cát Lượng và Phụng Sồ Bàng Thống cùng với nào là Quan Công tưởng đâu là thánh thần ghê gớm lắm, Trương Phi ngỡ đâu là uy dũng lắm, Thường Sơn Triệu Tử Long tưởng đâu là báu lắm, thế mà đem ngựa Xích Thố với muôn vạn hùng binh không thể giúp vua làm nên nghiệp Đế đã vậy còn rước thất bại đớn nhục ê chề. Bọn Tàu hậu duệ ngày nay đem hàng không mẫu hạm cùng tàu bè lãng vãng ở Biển Đông và một triệu quân nhập quốc tịch Cambodia đóng vai nhà nông đi trồng cao su sát biên giới Việt Nam thì cái sự thất bại càng hiển nhiên, cảng rõ nét, càng nhanh chóng, càng dưới chuẩn của nhục đớn chề ê hàng vạn dặm.

Ngày tàn của Tàu và bọn theo đóm ăn tàn đã phải đến. Thiên cơ đã lậu. Biết làm thế nào được.

Điều phước thiện duy nhất ViệtNam có thể làm là tổ chức một Đại Lễ Cầu Siêu cho giặc Tàu mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng đầu tiên trên blog.com ngày 21-12-2012 tức sau kỳ họp thứ tư của năm thứ nhì của nhiệm kỳ Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo vài bài viết cùng chủ đề của Hoàng Hữu Phước:

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

900 Năm Hùng Khí Thần Uy

Trăm Trứng

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 1 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 11 giờ

Có một định nghĩa mang tính chân lý từ muôn đời nay mà từ kẻ thất phu đến bậc thức giả hàn lâm, từ bậc hiền nhân quân tử đến kẻ tham quan ô lại, từ nhà buôn chân chính đến doanh nhân làm giàu bằng cách ác nhân thất đức tàn phá môi sinh, từ bậc đạo đức tu hành chánh đạo đến phường hổ mang lưu manh khoác áo cà sa hay áo chùng thâm, đều biết rõ mười mươi rằng Việt Nam là mồ chôn tất cả các đoàn quân xâm lược bất kể chúng đến từ đâu (ngoại trừ … aliens tức sinh vật ngoài hành tinh vốn chỉ bị tiêu diệt duy bởi các vũ khí thần thông Mỹ … made-in-Hollywood bất kể chúng đến từ thiên hà nào). Đất Việt đã luôn là mồ chôn bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thiết giáp binh, pháo binh giặc xâm lược. Trời Việt đã luôn là mồ chôn không quân giặc xâm lược. Sông Việt đã luôn là mồ chôn thủy binh giặc xâm lược (chưa kể… Rừng Việt đã luôn là mồ chôn biệt kích giặc xâm lược và Hang Việt – mà điển hình là Hang Pắc Pó –  đã luôn là mồ chôn … đê tiện quân giặc xâm lược). Và đương nhiên đến lượt Biển Việt sẽ nối gót để luôn là mồ chôn hải quân giặc xâm lược.

Đã là chân lý‎ thì đương nhiên đúng, phải đúng, đúng một-cách-biết-làm-thế-nào-được, vì ngay cả Albert Einstein cũng phải sử dụng số học 2+2=4  trong các tính toán kinh thiên động địa không dính dáng đến số học của Ông. Mà đã đương nhiên đúng thì Biển Đông sẽ là mồ chôn của hàng không mẫu hạm của Trung Quốc và tất cả các chiến hạm cùng tàu ngầm của Trung Quốc, bất kể do chúng tự động chìm vì lớp sơn mới không bít được các lổ mọt rỉ sét mà độ mặn căm thù của Biển Đông tàn phá nhanh chóng gọn gàng thứ kim loại biến thái với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc là điển hình, bất kể do tổ tiên Việt Nam sau khi thấy lời răn dạy phải luôn dĩ hòa vi qu‎ý tránh voi đâu hổ mặt nào được con cháu áp dụng nhuần nhuyễn hơn 4000 năm vẫn không phát huy tác dụng với con cháu bọn cướp cạn Lương Sơn Bạc nên nóng mặt hung hăng hùng hổ vất bỏ dáng nhu mì từ trời cao giáng sấm sét bão tố đánh chìm chiến hạm giặc Tàu khiến thây nổi đầy mặt biển vướng chân vịt làm hỏng vô số tàu buôn, bất kể do bị các cao thủ võ lâm Hồi Giáo các nước trong khu vực ASEAN đánh chìm sau khi thọ giáo các tuyệt chiêu kinh nghiệm từ hảo hán người Sudan của lực lượng al-Qaeda dưới quyền Osama Bin Laden đã từng làm chiến hạm USS Cole của Hải Quân Hoa Kỳ thủng một lổ bự chà bá khi neo đậu tại Cảng Yemeni thành phố Aden nước Yemen lúc 11 giờ 18 phút 14 giây sáng ngày 10 tháng 12 năm 2000 gây thương vong cho 56 binh sĩ Mỹ chỉ với 250kg thuốc nổ, hay bất kể do chính các chiến sĩ hải quân tinh nhuệ của Trung Quốc thao tác sai khi thiết bị có chữ Nga và chữ Anh hay chữ Pháp được dán chữ Tàu đè lên nhưng bị sút rớt do keo dỏm made-in-China làm nhấn nút lộn phá tanh banh mẫu hạm còn tàu ngầm bị mỹ nhân ngư gốc Việt dụ lũi vô kẹt cứng như Mạnh Hoạch bị dính chấu giữa hai mỏm đá đáy biển sâu do tưởng bở hai bắp đùi nõn nà người ngọc, v.v. và v.v.

Mà các sự cố trên xảy ra – cách chi mà không xảy ra cơ chứ  – thì cứ tưởng tượng tàu Trung Quốc đổ xô đến Biển Đông cứu nạn, tàu Mỹ đổ xô đến vớt khí tài quân sự cùng máy bay tàng hình Tàu để xem kỹ thuật tiến bộ đến đâu, tàu Nga đổ xô đến nghiên cứu xác hàng không mẫu hạm để rút kinh nghiệm chế vỏ tàu chống muối Biển Đông, tàu các nước ASEAN mạnh ai đổ xô đến vì những mục đích khác nhau, còn ghe thuyền thúng mủng Việt Nam đổ xô ra vì vẫn mang nặng khí tiết đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo rồi vì nghĩa tử là nghĩa tận mà bắt chước tiền nhân vớt xác quân thù lên bờ lập đền thờ cúng tế ngàn năm không dứt khói hương, thật là tán loạn tự do thì còn gì là uy quyền quốc gia! Thế nên, thay vì đợi nước đến đầu gối mới nhảy, Việt Nam nên có sẵn các quy định mang tính luật pháp, chẳng hạn rằng bất kỳ tàu nào xâm lấn vùng lãnh hải của Việt Nam mà gặp nạn chìm – bất kể do trời đánh hay người đánh – thì thuộc quyền sở hữu của Việt Nam như pháo đài bay B-52 và oanh tạc cơ F của Mỹ bị rơi ở Miền Bắc Việt Nam trở thành tài sản của Việt Nam muốn trưng bảo tàng hay xẻ thịt làm lược chải đầu hoặc bán ve chai thì cứ tự tiện, rằng các nước có liên quan hay không có liên quan muốn vào nghiên cứu chụp hình phải đóng phí cho Việt Nam và trả tiền cho Việt Nam nếu muốn trục vớt mua lại xác tàu, rằng mọi dịch vụ phải hợp đồng sử dụng lao động Việt Nam, rằng các chính quyền các địa phương ven biển không cho dân lập đền thờ như xưa kia tổ tiên Việt đã thờ mấy tướng Tàu xâm lược nước ta bị chém bay đầu vì địa ốc ngày nay không còn dư dả gì nhiều để phí phạm vô bổ như thế do đã có quá nhiều resort ven bờ biển, v.v. Đồng thời, Việt Nam nên phát triển lực lượng cứu hộ biển, lực lượng khắc phục sự cố tràn dầu mặt biển do tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng khắc phục hậu quả phóng xạ do vũ khí rò rỉ dưới đáy biển từ tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng thu giữ khí tài quân sự từ đáy biển, lực lượng cảnh sát giao thông biển để giữ trật tự biển sau khi hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm làm vô số tàu buôn và tàu container bị vướng chân vịt không cục cựa gì được như đã nêu trên, lực lượng tuyên truyền thuyết phục các nước khách hàng đừng sợ cá biển Việt Nam xuất khẩu nhiểm độc tàu Tàu, và lực lượng đoàn tàu du lịch hạng sang để làm dịch vụ đưa đón hàng vạn người Trung Quốc hàng năm đến Biển Đông khu vực Trường Sa thả vòng hoa và thức ăn cúng tế hồn tử sĩ Tàu.

Thêm vào đó, còn phải tính đến trường hợp hàng không mẫu hạm Trung Quốc không bị trời đánh hay người đánh chìm nhưng lại giương cờ trắng đầu hàng Việt Nam, xin tỵ nạn chính trị tại Việt Nam, do rất nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cầu mong Trung Quốc xua hải quân đánh Việt Nam để ngay khi hải quân Trung Quốc tiến vào Biển Đông họ sẽ đồng loạt nổi loạn khắp nơi tấn công Bắc Kinh, tiêu diệt lực lượng quân đội ít oi còn lại để xé toang nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành ít nhất năm quốc gia mới, khiến đoàn quân viễn chinh Tàu xâm lược không chốn dung thân trên chính chiếc lưỡi bò. Vì vậy, Việt Nam phải quy định ra sao đối với tình huống tỵ nạn chính trị chưa có tiền lệ này, có chấp nhận cưu mang cho nhập quốc tịch những ngàn người Mác-xít Mao-ít bất hạnh đã từng có vinh hạnh duy nhất trong đời là làm cháu chắt chít chụt chịt của Ông Cố Tổ Trọng Thủy xưa kia từng được nằm chung giường với Bà Mỵ Châu chăng, hay học cách tiền nhân ban áo quần lành lặn và lương khô (còn trong hạn sử dụng) cho đoàn xe Hyundai (50 chỗ có máy lạnh) đưa đến tận biên giới Việt-Trung trao trả họ cho những chính phủ cầm quyền mới ở bển để bên ấy long trọng đón về tùng xẻo lấy thịt nấu bánh bao như bọn mọi Thủy Hử xưa kia, v.v. và v.v.

Vô số những vấn đề mà nếu áp dụng Xác Xuất Học sẽ thấy không phải không có khả năng xảy ra, khiến Việt Nam không thể không quan tâm đến, và không thể không sớm đề ra đầy đủ.

Chỉ vì cái đại ngu và đại điên của đại gia Trung Quốc mà Việt Nam ta phải tốn tiền lo tổ chức đủ thứ, e rằng GDP nước nhà lại bị tác động khó nhích lên cho sớm xứng mặt siêu cường trong thiên hạ, do các khoản thu từ dịch vụ du lịch Biển Đông thời hậu mẫu hạm khó đủ bù chi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 12-9-2011 tức ngay trước kỳ họp thứ nhì của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-6-2016

A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Sự Thật Về Thực Phẩm Tàu

Kỳ Tích và Kỳ Quái

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-6-2016

Bài viết này của Hoàng Hữu Phước, song không được viết với phong cách Hoàng Hữu Phước, nghĩa là lần này sẽ không có mào đầu dẫn nhập thứ tự lớp lang bài bản của chân phương từ trái qua phải, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, hay của phá cách vòng vo tam quốc quen thuộc, mà lại đi ngay vào kết luận ngay nơi đặt bút viết đoạn đầu tiên, đó là: Mọi Sự Xảy Ra Liên Quan Đến Thực Phẩm Trung Quốc Là Do Một Chữ “Đói” Mà Ra.

Nhớ khi xưa, chính phủ Cộng Sản Việt Nam lúc vừa đánh đuổi quân Mỹ và quân Cộng Hòa chạy tan tác tan nát tan vỡ tan tành không còn manh giáp, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, xong là đã phải đương đầu với một vấn nạn khủng khiếp mà chưa bất kỳ một chính phủ nào trên trái đất này từng kinh qua, đó là cùng lúc bình định cương thổ, tổ chức thống nhất giang sơn, quản lý tù binh và hàng binh, quán xuyến công tác hành chính nhân khẩu, thống kê cai quản kho tàng, và bảo vệ thành quả cách mạng, v.v. và v.v. Ngay sáng 01-5-1975, hàng ngàn người ào ạt xông vào cướp tất cả các kho hàng từ Cảng Khánh Hội đến bên kia Cầu Tân Thuận, và hàng núi bao gạo Mỹ (tức gạo Thái Lan) được chất đống hai bên lề đường (nay là đường Nguyễn Tất Thành) mà người bán là những thanh niên mình trần trùng trục, quần dài xăn đến gối có mà quần đùi cũng có, mặt mày đa số giống dân anh chị ở khu Tôn Đản khét tiếng (mà Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn cũng phải chùn tay) nhưng lại rất…“nhân từ” khi bán tháo bán đổ mỗi bao gạo 50 ký với giá bọt bèo mà ngưởi mua thì tùy hỷ muốn trả bao nhiêu tiền cũng được, chẳng qua đó là thứ có từ hôi của và phải bán cho nhanh trước khi “mấy ông Việt Cộng” đến!  Dân Sài Gòn từ các quận đổ xô về đấy để mua thứ châu ngọc mà thời cuộc chưa rõ sẽ có còn dồi dào. Và với một đất nước bị tàn phá thảm hại vì chiến tranh, cộng với sự tuyên truyền của tâm lý chiến Mỹ-Cộng Hòa về sự tàn ác kinh hoàng của Cộng Sản khát máu đã thay vì làm quân đội Cộng Hòa quyết tâm tử thủ lại khiến họ run cầm cập sợ hãi quýnh quáng vất súng đầy đường khóc lóc mếu máo chạy bộ tán loạn về Miền Tây gây khủng hoảng dây chuyền khiến bao dân cày bỏ đồng ruộng lũ lượt ra khơi vượt biển. Chủ điền cùng tư thương thì hoặc nhanh chân biến mất hoặc chậm lụt phải ẩn mình ngụy trang vô sản. Chủ trương chính sách thì tất nhiên cần nhiều thời gian sàng lọc, thử nghiệm, chiêm nghiệm, phân tích, tổng hợp, mới biết tính hiệu quả và tính an dân. Còn hậu quả tất yếu nhãn tiền là canh tác lúa gạo và sản xuất hàng hóa đều đình đốn, biến việc lo toan cái ăn cho toàn dân trở thành chuyện quốc gia đại sự cho Ủy Ban Quân Quản. Cái tài của những người chiến thắng lại được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quản trị và tổ chức khâu phân phối hiệu quả nhất thế giới trên phạm vi toàn quốc (mà ngày nay khi ấm no sang cả đủ đầy, người ta chảnh chọe ngoảnh nhìn về quá khứ, đưa ngón tay út chỉ về nó mà trịch thượng kháo dè bỉu khinh khỉnh trịch thượng mắng rằng: “ấy là cái gọi là thời bao cấp đấy”), vừa quyết định gieo trồng cây lương thực ngắn ngày là bo-bo để nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước. Đó là một kỳ tích xuất phát từ bản lĩnh đối phó, trí thông minh, và lòng yêu nước thương dân của những nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Còn nhớ khi xưa, nước Tàu sau khi thống nhất trở thành đất nước rộng lớn, đông đúc dân cư đến độ thành nạn nhân mãn, phải tiến hành bao cuộc chiến tranh xâm lược để (a) nếu may ra thắng trận thì có thêm lương thảo kho tàng đem về nuôi cả tỷ cái bao tử bự chà bá, còn (b) nếu rủi thất trận thì cũng không sao vì chiến thuật “biển người” mỗi khi xung trận giáp lá cà cũng giúp ngốn bớt sổ lượng lớn dân cư khỏi mất công nuôi. Điều khiến các vua Tàu ham đánh đấm là vì nhờ cái “uy khủng khiếp” của Tàu mà ai có nhỡ dại đánh thắng Tàu thì cũng phải “biết điều” mà lúp xa lúp xúp chạy qua Tàu quỳ lạy xin lỗi vừa xưng “Thần” vừa cung kỉnh dâng tiến cống với bao trân châu bảo ngọc, ngà voi sừng tê, trinh nữ quốc sắc thiên hương, kỳ nam, thảo dược, chiêm tinh gia, thầy thuốc, thợ thuyền và nhà nho. Chỉ có một lần duy nhất (ấy là tính đến năm 2012 thôi, chứ từ 2013 về sau thì ắt sẽ có thêm một hay nhiều lần khác) là có ông họ Lý tên Kiệt chữ lót là Thường (may mà không trùng tên với thằng nhãi ranh Tàu tên Lý Liên Kiệt toàn múa võ xạo trong phim kiếm hiệp tào lao), không những “xâm lược” xua quân tràn ngập đất Tàu, tiến như chẻ tre, đến nỗi hàng trăm dặm không nghe tiếng người, chớ còn tiếng chó, san thành bình địa bao thành quách của Tàu, suýt nữa đã thu hồi giang sơn về một mối để ngày nay Việt Nam vĩ đại có bức dư đồ kéo dài từ Động Đình Hồ phương Bắc xuống tuốt Mũi Cà Mau ở cuối phương Nam. Song, đất đai Tàu quá rộng, dân Tàu lại quá đông, mà phàm hễ cứ đông dân thì dị nhân cũng lắm mà quái thú cũng nhiều, cứ như bọn Lương Sơn Bạc đa số là quái thú giết người như ngóe làm nhân bánh bao cũng đủ biết cái đói đã hoành hành nước Tàu từ lâu, lâu lắm, đến độ vua chúa cũng ăn thịt người hoặc thịt từ đùi non của quan hầu cận, ai tò mò muốn kiểm chứng thì cứ xem Đông Châu Liệt Quốc với lại Xuân Thu Oanh Liệt thì rõ mười mươi. Đến khi bị xiêu vẹo do Bát Quốc Liên Quân chiếm Bắc Kinh rồi bị Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ cương thổ biến dân Tàu xơ xác như Cái Bang, may gượng dậy được nhờ khôn khéo giương cao ngọn cờ vinh diệu của Cộng sản để núp vào đấy mà giải phóng đất nước, song thói quái thú vẫn còn nên hễ đói là Tàu lại làm càn. Lấy việc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam và việc sử dụng bọn Khờ-Me Đỏ tàn sát tận diệt dân tộc Kampuchea với mưu đồ biến Campuchia thành lãnh thổ của Tàu nhằm hoàn tất đại cuộc dở dang mà tiên tổ Tàu chưa ai làm được là chiếm đóng Việt Nam nhằm cướp gạo Cửu Long về nuôi dân Hán tộc làm bằng chứng thì rõ ràng là Tàu đã cực kỳ khủng hoảng vì nạn đói. Từ Bắc đánh xuống không xong, phía Tây chọt qua cũng bại, Tàu bèn lè lưỡi bò tuyên bố liếm hết Biển Đông, chắc sẽ đánh chiếm Việt Nam từ phía Đông, còn nếu lại đại bại y chang tiên tổ thì sẽ lè xuống chiếm Malaysia, Singapore, Thái Lan để đánh chiếm Việt Nam từ phía Nam để một công đôi ba việc: khó chiếm Việt thì sẵn đường thò tay đánh Thái vì đó cũng là vựa gạo ngon lành. Do cái đói ám ảnh triền miên suốt đời suốt kiếp, trong lúc chưa chiếm được Việt Nam, nước Tàu đã có những cơ sở sản xuất thực phẩm “siêu tốc” để đủ số lượng mà “nuôi dân”, chẳng hạn như chế tạo sữa bột (điển hình là Tập đoàn Sữa Sanlu tức Tam Lộc, tỉnh Hà Bắc) bằng cách lấy nguyên liệu melamine vốn dùng chế đồ gia dụng ắt làm trẻ em Tàu vừa hết đói vừa có bao tử cứng như chén bát sẽ ngốn ít thực phẩm hơn; chế tạo thực phẩm tăng trưởng siêu nhanh để nuôi cha mẹ của mấy em bé uống sữa Sanlu, khiến xuất hiện dưa hấu nổ tanh banh lốp bốp nhuộm đỏ cánh đồng vì lớn nhanh căng phồng quá sức như bong bóng, trà sữa trân châu có trộn cao phân tử polymer để tăng độ dai, bún tàu bằng bộp bắp trộn thuốc tẩy trắng chứa chì, rau cải chua ướp muối công nghiệp, nước tương làm từ tóc người thu được từ xác ở các bệnh viện, trứng gà giả, heo siêu nạc, v.v. Cái tài của những người lãnh đạo một đất nước khổng lồ đã được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quái gở của thời mông muội (vì muốn chứng tỏ công nghiệp luyện kim nước nhà đứng đầu thế giới mà Tàu thời Mao Trạch Đông đã bắt từng hộ dân phải nấu sắt ngoài sân để qua đó chứng minh Tàu có số lượng “nhà máy luyện kim” nhiều nhất thế giới), vừa sử dụng chiêu “siêu” (như siêu nạc, siêu dưa hấu, siêu sữa, v.v.), vừa lập lại thói quen của phường trộm cướp là…nhìn dáo dác xem ở gần đấy đâu đó có gì thì đến quơ lấy đem về (như lè lưỡi chiếm Biển Đông) để hy vọng sẽ nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước Tàu. Đó là một lối kiếm ăn kỳ quái hèn hạ xuất phát từ bản tính lưu manh xỏ lá mất dạy mỗi khi phải đối phó với nạn đói của những nhà lãnh đạo nước Tàu đội lốt Cộng sản.

Kết luận: xin vui lòng đọc ở đoạn mở đầu.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên đã được đăng trên blog.com ngày 03-12-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Bài Thơ Tản Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-6-2016

Tôi có đến ba điều may mắn mà biết chắc chắn là số người cùng có một lúc cả ba điều này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, đó là (a) được ba tôi cho đọc truyện kiếm hiệp cùng dã sử Tàu “từ nhỏ” tức lúc 6 tuổi, (b) nhận ra ngay cốt lõi vấn đề “từ nhỏ” ngay lúc đọc các truyện kiếm hiệp cùng dã sử ấy tức vào lúc 7 tuổi, và (c) quyết định quẳng các quyển kiếm hiệp và dã sử đó qua một bên lúc tuổi còn trong giai đoạn “từ nhỏ” ấy tức vào lúc 8 tuổi; nghĩa là nhờ đọc từ nhỏ nên say mê đọc ngấu nghiến khiến hết các pho, nhờ phát hiện vấn đề từ nhỏ nên khôn hơn người lớn ở chỗ quẳng tất từ nhỏ để không phí phạm thời gian cho những điều vô bổ, tai hại khôn lường cho kiến thức mai sau, đặc biệt trong sùng bái lộn bọn người Tàu, hoặc tâm trí tẩu hỏa nhập ma. Hôm nay xin sẻ chia cùng các bạn sự thật về võ thuật Tàu và y dược Tàu để các bạn chặn ngăn chuyện cho con cái luyện võ Tàu và dùng thuốc Tàu chữa bệnh vốn cực kỳ nguy hiểm lắm đó đa.

Trước hết, cần lược qua mấy cái tên gọi của những cái gọi là môn phái võ thuật của Tàu, mà từ ngàn xưa đã cho thấy tổ tiên họ đã cực kỳ…tiến bộ đối với vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhân quyền nên mới đẻ ra các môn phái dành cho giống đực như Võ Đang, giống cái như Nga My, giới ăn mày ăn xin như Cái Bang, và giới tu hành như Thiếu Lâm mà bọn nào dù nam hay nữ, ăn mày hay tu hành, cũng giết người như ngóe; ngoài ra còn thêm mấy môn phái có tên trong Tiếu Ngạo Giang Hồ như Hoa Sơn, Thái Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, và Hành Sơn, với bí kíp Tịch Tà Kiếm Phổ của Hoa Sơn dành cho giống trung tính, khiến các phái hệ võ thuật Tàu đủ loại cho mọi hạng người, thượng cám mà hạ cũng cám. Điều này chỉ nêu bật một điểm quan trọng: tổ tiên Tàu toàn thuộc loại sát cuồng, dù tu hay tục vẫn đeo gươm xách gậy nhởn nhơ, lấy đánh nhau và chém giết làm kế sinh nhai hay tranh giành ngôi võ lâm bá chủ: kẻ cùng đường mạt vận thì mang danh cướp cạn, kẻ thắng thế chiếm gom nhiều kim ngân châu báu lấy thịt người làm nhân bánh bao thì được tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc, bọn chuột nhắt thời Tống loạn thì tự phong Ngũ Thử, lũ theo đóm ăn tàn thì có danh Thất Hiệp truyền lưu, khiến rối loạn cương thường, đem điều xạo sự tung hê thành hiệp nghĩa. Do bản sắc dân tộc Tàu là man trá, cha chiếm vợ của con, hoàng tử sát hại phụ vương, anh em tranh đoạt ngôi vua, luân thường đạo lý đảo đảo điên điên, khiến xú khí nồng xông thượng giới buộc trời sinh ra một Khổng Khâu, những mong thánh nhân dẫn dắt nẽo chánh đường ngay, nào hay dân tứ xứ ngày càng thêm loạn dữ. Người biết chữ thì nhiều như sao đêm Trừ Tịch, kẻ gian ngu lại ít như cát sa mạc Tân Cương, nên thầy-trò chỉ là cái sự ghi ghi chép chép tại sách kinh, chứ thực tế nào đâu tồn tại, khiến trò thường xuyên làm phản, còn thầy kia phải lo thủ thế phòng thân, có mười chiêu chỉ dạy có bảy rưỡi tám đường, đem diếm một hai để phòng trò đảo chính. Võ thuật mà như thế thì truyền lưu theo thế kỷ, có còn chi những chưởng lực, nội công; phi thân kia là chuyện xạo thế nhân, thần công lực còn thua môn đấm bốc. Để có đủ học trò nuôi cái miệng, thầy phải chế bao thế võ quái kỳ, khiến học trò ngẩn ngẩn với ngơ ngơ, rồi thầy phán: ấy nhập ma tẩu hỏa. Thế mới biết võ Tàu là xạo sự, giỏi sao lại tan tác trước súng Tây? Bát quốc kia gồm Anh, Mỹ, Đức, Ý, Nga; cùng nước Nga, nước Pháp với Áo-Hung, đánh một trận Võ Đang cùng Thiếu Lâm còn không phi thân trốn kịp, khiến Bắc Kinh bị dày xéo bởi những người không môn phái, chẳng chưởng lực nội công gì sất.

Chuyện tương tự cũng xảy ra trong y thuật, thế nên mới có nhiều thầy toàn tự học mà nên, còn học trò chỉ để vặt sai, đứa có chí cũng phải mày mò hiểu tìm hay chôm chỉa mà thôi. Bọn ngự y thì chỉ chuyên phục dịch chuyện dục dâm dù vua là nữ hay nam, nên thần phương ắt chỉ giỏi lấy dâm dương hoắc trộn ngâm cùng bửa củi.

Nói tóm lại, từ nhỏ người viết bài này đã đặt ra nhiều câu hỏi: bọn hiệp khách hành làm nghề ngỗng chi mà cứ vào quán rượu là ném ra đỉnh vàng nén bạc, hay chỉ toàn bảo kê vũ trường tửu điếm hoặc hộ tống thương đoàn bỏ học hành lang bạc đó đây, nào phải gương học hỏi của thanh niên; võ sư chưởng môn diếm bớt bí kíp võ công, thì cách chi còn gì cho hậu thế! Còn chuyện dạy võ cho môn sinh người Việt ắt là chuyện tiếu lâm, không những vì Tàu có còn chi mà dạy, mà còn vì ác tâm tàn diệt giống nòi Việt ta, nên có dạy ắt toàn những chiêu làm nhập ma tẩu hỏa.

Nói tóm thêm lần nữa, người viết bài này sang Bắc Kinh vào thời điểm Tàu chuẩn bị tiếp nhận Hong Kong, có đến thăm một “viện Đông Y”, nơi các “thần y” trẻ măng mắt nhìn láo láo liêng liêng khách nữ, tay bắt mạch, miệng phán lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng. Qua phiên dịch mới biết các “thầy” phán cả đoàn người Việt ông nào cũng bị tim mạch, tiểu đường, mỡ máu ngập tràn, thận suy làm dương liệt; còn các chị ai cũng đều âm hư thận hỏng, khiến da kia ắt sẽ sớm xạm đen, còn xương nọ thế nào cũng loãng lỏng le. Người viết tức cười ngoe nguẩy bỏ ra ngoài, bị một “thầy” chạy ra cự nự, hỏi vì sao đến mà chỉ đứng xem không chịu khám bịnh bốc thuốc thần y, nhìn bộ tịch giống báo tình (…tình báo) từ xứ Việt, rồi gây sự lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng, khiến anh phiên dịch phải hù nói với “thần y” rằng người viết bài này là võ sư chưởng môn nhân của Việt Phước Đạo nên dáng người to cao vậm vỡ 84 ký mà thịt toàn nạc không chút mỡ mòng, không dùng chất tạo nạc, chẳng cần đến dâm dương hoắc mần chi, khiến “thần y” khiếp sợ bị 84 ký đè, e thuốc thánh của Tàu cũng bó tay đành bỏ cuộc. Tôi về nước Việt, bảo nhân viên mình rằng nước Tàu rất đẹp, rằng họ nên nhanh chân lẹ tay qua đó mà thăm, vì sau chừng từ 2 đến 4 năm, nơi ấy sẽ không còn ai đoan chính.

Nay ngẫm lại xứ mình có bao xưởng bịnh, với bảng treo “Phòng Khám Trung Y”. Bạn hãy tin vào thảo dược nước nhà, chứ Tàu họ có còn gì đâu mà tin với tưởng. Thầy của họ có sách chi mà để lại, cỏ cây nguyên liệu họ có còn lành còn tốt gì đâu, có khi lá với rễ cây cũng toàn chế từ cao su cao áp, nên đừng để tiền mất tật mang, đem của cải tặng dâng phường xạo sự.

Đôi dòng tâm huyết viết theo thể tản văn, dưới trời cao vằng vặc ánh trăng sao, để ngâm vịnh nhận chân giá trị: rằng bất cứ gì thuộc y với võ, đừng rớ vô mấy cái của Tàu, giản đơn vì chúng chỉ toàn dóc tổ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 17-6-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Ngộ Số

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-6-2016

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:

1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.

Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”

Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobiamania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên blog.com ngày 27-6-2012

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Đại Sứ Mỹ Ted Osius

Phơi Bày Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-6-2016

Tôi không muốn viết thêm về Bob Kerrey; song, một câu nói được cho là của Đại Sứ Mỹ Ted Osius phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Và Quốc Tế CSIS ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nhắc đến Bob Kerrey và việc thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam, lại thúc giục tôi viết thêm một đôi dòng ngắn sau.

Đại sứ Ted Osius được cho là đã nói rằng (a) các tranh luận sôi nổi đang diễn ra ở Việt Nam về Bob Kerrey là một tín hiệu tích cực, và rằng (b) Mỹ muốn thành lập trường đại học Fulbright Việt Nam để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu như vậy về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới.

Đối với lập luận thứ nhất của Đại sứ Ted Osius, trường hợp Bob Kerrey cứ như là đã giúp Việt Nam có cơ hội để thực thi cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt từ đó cho thấy đã có một tín hiệu tích cực tại Việt Nam đối với cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ấy. Phải chăng Việt Nam không hề có tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên phải nhờ có Bob Kerrey mới bắt đầu thực tập tranh luận sôi nổi lành mạnh ư? Bất kỳ ai không điên loạn trên thế giới này đều biết rõ mười mươi rằng tại Hoa Kỳ luôn tồn tại song hành hai chân lý là (a) người dân Mỹ có quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái; và (b) chính phủ Mỹ không bao giờ quan tâm đến các nội dung ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái của công dân Mỹ, vì cả hai chân lý này chẳng bao giờ dính dáng với nhau cả trong suốt chiều dài mấy trăm năm lập quốc của Hoa Kỳ. Điều này có nghĩa là quý vị Việt Nam cứ việc tranh luận lành mạnh sôi nổi về Bob Kerrey vì đó là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, còn Bob Kerrey cứ là lãnh đạo Đại học Fulbright Việt Nam vì cả hai việc này chẳng bao giờ có gì dính dáng với nhau cả.

Tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ở Mỹ không bao giờ dẫn đến bất kỳ một thay đổi nào về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Hoa Kỳ. Các cuộc xuống đường rầm rộ khắp nước Mỹ đã không làm các chính phủ Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam; đã vậy Chính phủ Mỹ còn gây ra cuộc thảm sát ở Đại học Kent. Chỉ có “Bắc Việt” và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà Mỹ gọi mĩa là “Charlie” còn Việt Nam Cộng Hòa gọi tắt là “Việt Cộng” mới buộc được Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và sau đó là tháo chạy khỏi Việt Nam.

Đối với nội dung thứ hai thì e là Đại sứ Ted Osius đã lỡ lời.

Trường đại học là nơi có một số những ngành đào tạo để cho ra lò những chuyên viên hay chuyên gia chuyên ngành. Tranh luận luôn là hình thức thực tập chốn học thuật hàn lâm. Các sinh viên vật lý tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề vật lý sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư vật lý, còn các nhà vật lý tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề vật lý cao cấp. Các sinh viên luật tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề luật pháp cụ thể sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư luật, còn các nhà nghiên cứu luật pháp tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề luật pháp cao cấp. Trường Đại học Fulbright Việt Nam hóa ra được thành lập không để đào tạo những chuyên ngành hàn lâm học thuật cụ thể nào cả để có những sinh viên tranh luận “sôi nổi và lành mạnh” về những chuyên ngành ấy, mà chỉ để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu Bob Kerey về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới. Cái quỷ quái gì ở đây vậy?

Phải chăng Giáo sư Peter Kuznick khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Edu Montesanto đã nói đúng khi cho rằng các trường đại học do Mỹ xây dựng trên toàn Châu Mỹ La Tinh đã “tích cực tạo nên các lãnh đạo và thủ lĩnh của các biệt đội tử thần” để lật đổ các nhà lãnh đạo dân chủ tiến bộ các quốc gia Nam Mỹ nào không đi theo quỹ đạo của Hoa Kỳ?

Việc người Việt đoan chính tranh luận về Bob Kerrey là “lành mạnh” vì chỉ để thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, chứ không để dẫn đến việc Bob Kerrey phải bị bải miễn.

Còn việc những người Việt ăn phải bã Mỹ thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Việt Nam, thì Mỹ mong muốn nhất thiết phải dẫn đến việc thay đổi thể chế chính trị, đường lối cai trị, thậm chí cả hiến pháp của Việt Nam, như Mỹ đã ra tay tại Mỹ La Tinh cũng như các nơi khác trên thế giới hay sao?

Bob Kerrey đương nhiên cứ việc làm lãnh đạo tối cao của trường Đại học Fulbright Việt Nam vì đó chỉ là một trường tư thục mà kẻ có nhiều tiền thì đương nhiên làm chủ. Song, chừng nào Chính Phủ Việt Nam chưa chính thức rút lại lời cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh thì Bob Kerrey đương nhiên không được phép bước chân vào Việt Nam.

Thật là một sai lầm nghiêm trọng nếu phụ huynh cho con em mình vào học trường Đại học Fulbright Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent

Tội Ác Của Bob Kerrey

Peter Kuznick Nói Về Trang  Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Tội Ác Của Bob Kerrey

Tôi Và Fulbright

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-6-2016

Screen Shot 06-03-16 at 06.51 PM

1) Google Tiên Lãng:

Trong một bài viết mới đây, tôi có viết rằng tôi chả thèm đọc bài của mấy cái blog vớ vẩn chống Việt (tức chống Cộng, chống Chính phủ Việt Nam, chống Đảng Cộng Sản Việt Nam, chống thể chế chính trị Việt Nam, và cổ súy cho mấy thứ bị Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã gián tiếp xem là thứ vớ vẩn vô hiệu vô dụng chẳng hạn như “nhân quyền”).

Điều này cũng có nghĩa là tôi chỉ đọc – và thậm chí chăm chỉ đọc – các bài viết của các blog hay web tích cực như Sách Hiếm, Google Tiên Lãng, Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa, v.v., và v.v. Đọc vì..hợp “gu”, đọc để biết các vị này đang “mắng” ai hay việc gì, đọc vì để “né” hầu không viết trùng lặp nội dung, và đọc vì “phục.”  Sao lại không “phục” các vị như Thầy Trần Chung Ngọc và “Cô” Lê Hương Lan cơ chứ?

Cũng nhờ đọc Google Tiên Lãng, tôi biết đến vụ về Bob Kerrey. Và bài viết này không vì “không né” mà vì “hợp gu” nên cách tiếp cận của tôi đối với vụ Bob Kerrey là để làm rõ hơn những góc cạnh khác về Fulbright và về Bob Kerrey. Và do ở Việt Nam cụm từ “nhà sử học” không dành riêng cho người có bằng cấp cao về “Sử”, nên tôi với tư cách một “nhà sử học” thấy mình có thể nói về “Sử” như từ trước đến nay qua bài viết này, đặc biệt nhằm hỗ trợ “nhà sử học” nào chưa dám học tiếng Anh nhưng dám bạo mồm xem tội ác của quân Mỹ không đáng là một phần nên được ghi vào sử sách.

2) Tôi Và Fulbright

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, trong số 27 sinh viên cũ và nhân viên cũ tìm đến tôi để xin tôi giúp một thư tiến cử nộp vào hồ sơ xin học bổng Fulbright, tôi đã nhận giúp đúng 20 người, và cả 20 người đều thành công, được sang Mỹ du học, đã trở về nước, và gần hai thập kỷ nay chưa ai trong số họ phụ lòng tôi khi tất cả đều đi lên với sự nghiệp riêng và không bất kỳ ai chống đối chế độ hay phải đứng trước vành móng ngựa vì trở thành tội phạm.

Lý do để 27 người đó đã xin tôi giúp vì hồ sơ xin học bổng Fulbright cực kỳ chi tiết, đòi hỏi phải được một giáo sư trực tiếp giảng dạy viết lời phê và thư tiến cử, nhưng tất cả các giáo sư phụ trách bộ môn của họ đều (a) không ai viết được tiếng Anh, (b) có thể có vị biết tiếng Anh nhưng không thể nào viết đánh giá sâu sắc và thư tiến cử thuyết phục bằng tiếng Anh, (c) không ai chịu viết thư đánh giá sâu sắc bằng tiếng Việt dù sinh viên lạy lục cầu xin rằng sẽ đem các thư ấy đi nhờ dịch sang tiếng Anh rồi quay lại trình Thầy/Cô ký, và (d) là những vị khét tiếng ở trường đại học ấy do chuyên vòi vĩnh gợi ý sinh viên nên “biết điều” để được đánh giá tốt trong các luận văn tốt nghiệp nên sinh viên e sợ phải tốn kém khủng nếu như hồ sơ học bổng lại là đẳng cấp cao sang cỡ Fulbright cho học vị thạc sĩ.

Tôi đã giúp 20 người vì tôi biết rõ về tư cách của họ. Và tôi viết nhận xét cùng thư tiến cử rồi cho vào phong bì niêm kín (tùy trường hợp có yêu cầu như thế của hồ sơ), trao cho mỗi sinh viên để họ kèm vào đơn xin học bổng. Phong thư dày, vì tôi chưa bao giờ viết ngắn – nhất là viết bằng tiếng Anh. Nội dung tôi viết rất trung thực ngay cả về bản thân mình. Tôi có viết rằng tôi giảng dạy đại học sinh viên ấy nhưng tôi chưa có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, rằng tôi dạy đại học cho sinh viên ấy nhưng không dạy bộ môn mà sinh viên ấy đang xin Fulbright cấp học bổng, hoặc tôi viết rằng người ấy chỉ là học viên lớp tối của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nhưng tôi biết rõ tư cách người học viên ấy cùng quá trình làm việc của người ấy tại các công ty khác, hoặc tôi viết rằng người ấy đã là nhân viên của tôi tại công ty nào, hoặc tôi viết đó là đồng nghiệp của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nào nhưng là vai vế đàn em của tôi, v.v. Tôi cũng trả lời câu hỏi theo tôi thì người ấy khi trở về Việt Nam với thành tích học tập bên Mỹ về môn ấy môn ấy sẽ đóng góp được những gì cụ thể cho Việt Nam theo sự kỳ vọng của tôi. Tất cả tùy vào sự thật mỗi người ấy là ai. Và dù là phong bì niêm kín hay đánh máy ngay trên hồ sơ thì tôi biết chắc chắc rằng Fulbright phải công nhận – từ tàng thư của họ – một điều là không bất kỳ ai trên thế giới này có thể viết các nhận xét chi tiết với chất lượng ý tứ, ngôn ngữ Anh, và độ dài tương tự như sớ Táo Quân. Đó là lý do dù không đáp ứng đúng yêu cầu “giáo sư thực thụ đảm trách bộ môn mà ứng viên xin Fulbright cấp học bổng theo học thạc sĩ hay tiến sĩ tại Mỹ”, thư đánh giá và tiến cử của “thầy giáo đại học môn Anh Văn có bằng cấp cử nhân hạng trung bình màu xanh lè của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh ” Hoàng Hữu Phước lại khiến Fulbright buộc phải xé rào chấp nhận cấp học bổng cho các anh tài nước Việt.

Tôi đã làm “công tác tư tưởng” đối với các em mà tôi đã viết thư tiến cử rằng (a) học bổng Fulbright là cơ hội quý hơn vàng vì Fulbright chỉ cấp học bổng toàn phần cực kỳ hậu hỉ cho việc theo học chỉ tại những đại học Mỹ nào lừng danh thế giới, (b) người ta cấp học bổng chỉ nhằm tạo nên những người có khả năng khi trở về Việt Nam sẽ trở thành những người có lợi cho Hoa Kỳ, (c) các em được tôi giúp vì tôi kính trọng tư cách của các em cũng như kỳ vọng vào các em đối với những gì các em có thể phục vụ đất nước tốt hơn hay tốt nhất tức những gì bản thân tôi đã không thể thực hiện được do đã không có cơ hội học lên cao như các em, (d) các em phải biết tôi là người như thế nào đối với đất nước này nên đừng bao giờ trở thành thứ ăn bã “dân chủ” hay “nhân quyền” rồi trở thành phạm pháp hay phản quốc, và (e) đừng bao giờ nuôi ý định ở lại Mỹ vì Fulbright cần tất cả trở về Việt Nam để “giúp” Việt Nam thân Mỹ hơn nên do đó trốn ở lại Mỹ sẽ bị chính Fulbright trừng trị.

Đã có những thạc sĩ Việt trở về từ Mỹ nhờ học bổng Fulbright và trở thành những “tù nhân lương tâm”, cứ như thể Fulbright có cấp văn bằng thạc sĩ có giá trị toàn cầu ắt mang tên MCP tức thạc sĩ môn học…“tù nhân lương tâm” vậy, cũng như nếu có “thạc sĩ Luật” nào đó từ học bổng Fulbright về Việt Nam ắt người ta sẽ thấy vị ấy không soạn được dự án Luật nào ngay cả khi có trở thành nghị sĩ Quốc Hội mà trở thành nhà quay phim chuyên rình bấm máy mỗi khi thấy có “xuống đường” ắt để tải lên Facebook minh họa cho lời y đòi “dân chủ” trong “bày tỏ lòng yêu nước”. Và do không thể kỳ vọng gì nơi các luật sư trở về từ học bổng Fulbright, tôi đành dịch bài viết dưới đây của Bill Vann đã đăng cách nay gần 15 năm để bạn đọc biết Bill Vann ngay từ thủa ấy đã viết gì về Bob Kerrey, cũng như từ đó biết luật sư Mỹ John DeCamp đang làm gì khi sang Việt Nam tìm đến Thạnh Phong thu thập chứng cứ để lôi Bob Kerrey ra chịu tội cho cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, một việc mà chỉ có luật sư Mỹ học tại Mỹ như John DeCamp mới làm cho nạn nhân các cuộc thảm sát của Hoa Kỳ, đơn giản vì chỉ có các luật sư Mỹ như John DeCamp mới không bị “tẩu hỏa nhập ma” do biết cái nào là cao lương mỹ vị và cái nào là “bã”.

3) Bài Viết Chống Bob Kerrey Của Bill Vann (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước)

Việt Nam Khép Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Kerrey Vào Tội Ác Chiến Tranh

Bill Vann
06-6-2002

Chính phủ Việt Nam đã cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự khép tội này để đáp lại cuốn tự truyện phát hành gần đây mang tựa đề Thủa Tôi Là Thanh Niên, trong đó Kerrey trốn tránh trách nhiệm của mình đối với một vụ thảm sát được thực hiện bởi một đơn vị Hải quân SEAL (biệt kích Thủy Quân Không-Lục Chiến) mà y đã chỉ huy cách nay 33 năm.

“Chúng tôi hiểu sâu sắc và chia sẻ những nỗi đau, nỗi mất mát vô bờ bến mà các gia đình nạn nhân vô tội phải chịu đựng trong vụ thảm sát Thạnh Phong, những người đã bị thẳng tay hạ sát bởi đơn vị Thủy quân của Bob Kerrey,” Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết. “Dù cho Thượng nghị sĩ Kerrey có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật. Chính Kerrey tự thừa nhận nỗi xấu hổ của mình về tội ác mà y đã gây ra”, bà Thanh nhấn mạnh.

Theo một bài báo trên Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao tuyên bố rằng Kerrey và “những ai đã phạm tội ác chiến tranh” nên có những bước thực hiện thiết thực để “giúp hàn gắn những vết thương họ đã gây ra.”

Bài báo lên án Kerrey, người hiện là Chủ Tịch của Đại học New School danh tiếng ở thành phố New York, đã tạo ra các mâu thuẫn trong những tuyên bố trong quyển sách y viết năm ngoái thừa nhận vai trò của y trong vụ thảm sát.

Trong một phần cực kỳ ngắn gọn nêu rằng Kerrey có nói sự việc ấy đã làm thay đổi cuộc đời  mình, Kerrey chỉ nêu một cách mơ hồ về những hành động của chính y vào cái đêm 25-2-1969 ấy khi y chỉ huy đội SEAL Hải Quân tiến vào một thôn ấp nhỏ ở Đồng Bằng sông Cửu Long tại Miền Nam. Y viết: “Người chỉ điểm của tôi dẫn đường. Anh ta tiến đến một ngôi nhà mà anh ta bảo mình tin rằng quân giặc đang ở đấy. Chúng tôi đã được huấn luyện rằng trong những tình huống như thế sẽ là quá mạo hiểm để tiếp tục hành quân vì mấy người này sẽ cảnh báo cho quân trong làng trừ phi chúng ta hoặc giết họ hoặc hủy bỏ nhiệm vụ. Tôi đã không phải ra lệnh bắt đầu giết chóc, song tôi lẽ ra đã có thể ngăn chặn và đã không ngăn chặn.”

Liệu y có ra lệnh hay không? Liệu y có tham gia vào việc giết chóc, hay chỉ là một người ngoài cuộc vô tội? Độc giả bị y bỏ rơi trong bóng tối.

Câu chuyện của Kerrey tránh né sự mô tả chi tiết của sự bắt đầu đẫm máu tấn công vào Thạnh Phong như đã đăng trên tạp chí New York Times năm ngoái. Một chiến binh Hải quân phục vụ dưới quyền Kerrey báo cáo rằng đã có năm người trong căn nhà ấy. Một bô lão chống cự và, theo lời kể lại, Kerrey đã quỳ đè lên lưng cụ để một chiến binh khác cắt cổ họng. Bốn người khác, gồm một phụ nữ và ba trẻ em, bị đưa ra ngoài và sát hại từng người một.

Tiếp tục câu chuyện trong cuốn sách mới của mình, Kerrey nói rằng y và quân của mình tiến vào ngôi làng nơi họ thấy chỉ có phụ nữ và trẻ em, thức dậy bởi sự ồn ào nên ra đứng trước cửa. Có người đã bắn một phát súng, Kerry nói, và toán SEAL đáp trả bằng “một loạt súng chát chúa.”

“Tôi thấy phụ nữ và trẻ em trước mặt chúng tôi bị đạn bắn trúng và xé toạt ra nhiều  mảnh. Tôi nghe thấy tiếng kêu thét của họ và những giọng nói khác trong màn đêm khi chúng tôi rút lui về hướng kênh đào.”

Đây là đoạn mô tả duy nhất về vai trò của Kerrey trong cái đêm mà y cùng quân lính do y chỉ huy đã tàn sát 21 phụ nữ, trẻ em và bô lão.

Một trong những quân lính tham gia cuộc tấn công là Gerhard Klann đã kể lại chi tiết hơn với tờ Times về vụ thảm sát. Ông nhấn mạnh rằng không phát súng nào bắn vào các biệt kích SEAL và chẳng có “màn đấu súng” nào cả. Thay vào đó, quân Mỹ lùa các thường dân vào giữa làng và tàn sát họ trực diện. Những người Việt Nam sống sót từ đó đến nay đã ra mặt kể lại câu chuyện giống như nội dung của Klann hơn là phiên bản của Kerrey về cuộc tấn công ấy.

Kerrey hiện đang lưu diễn trong nước nhằm quảng bá cho quyển tự truyện của y, xuất hiện tại các hiệu sách và tổ chức các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình. Y đã né tránh các thắc mắc của báo chí về tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, nhưng lại giận dữ đáp lại một câu hỏi được nêu ra tại một buổi xuất hiện ở hiệu sách tại Thủ đô Washington.

“Tôi đã nói rõ rồi, và bây giờ tôi nói rõ, rằng cả hai phía đều đã gây ra rất nhiều thiệt hại trong chiến tranh Việt Nam,” y nói. “Bạn phải vượt qua điều này. Tôi tin chắc chắn rằng đa số người dân ở Việt Nam muốn tiếp tục cuộc sống của họ.”

Tuyên bố này phù hợp với những nỗ lực phối hợp của các phương tiện truyền thông và chính trị gia cùng phe với Kerrey để dập tắt những tranh cãi về sự tham gia của y trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Tờ New York Times thậm chí còn không nói gì đến tuyên bố của Việt Nam tố cáo Kerrey là tội phạm chiến tranh.

Trong khi lúc đầu làm sống lại những cáo buộc về những hành động tàn bạo, cuốn sách của Kerrey dường như được phát hành như một bài tập kiểm soát thiệt hại, nhằm làm chìm xuồng toàn bộ vấn đề. Trong cuốn hồi ký, Kerrey nói về chính mình như là một nạn nhân chính của sự kiện Thạnh Phong, chứ không phải 21 nạn nhân vụ thảm sát và gia đình của họ.

Việc Kerrey nói rằng “cả hai bên đã gây ra rất nhiều thiệt hại” và rằng người Việt Nam nên “vượt qua điều đó” chẳng khác nào một sự tởm lợm viện dẫn tính chất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và vai trò của mình trong đó. Hơn ba triệu người Việt Nam đã bị sát hại, hầu hết trong số họ là nạn nhân của Mỹ trong các vụ rải bom thảm, bom napalm, và kiểu thảm sát như được thực hiện bởi Kerrey ở Thạnh Phong. Vụ khét tiếng nhất trong số này là do trung úy William Calley thực hiện ở Mỹ Lại, nơi 567 người già, phụ nữ và trẻ em bị sát hại, hầu hết bị bắn chết chung trong một đường mương.

Các cuộc tấn công mà Kerrey tiến hành trong thời gian ngắn y đóng quân ở vùng châu thổ sông Cửu Long là một phần của một chương trình ám sát bí mật của CIA mang tên Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm tìm và diệt những lãnh đạo chính trị của cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam ở miền Nam. Chiến Dịch Phượng Hoàng gây ra cái chết của hàng chục ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Mục tiêu trong cuộc tấn công vào Thạnh Phong là nhằm vào vị trưởng thôn, người được biết là có thiện cảm với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia chứ không phải là chế độ Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.

Còn về việc “vượt qua việc đó,” hàng triệu người Việt Nam vẫn gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Chất độc da cam, các loại thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mỹ tiêu diệt rừng cây hầu khiến các chiến binh giải phóng không còn nơi ẩn nấp, đã làm khu vực rộng lớn của đất nước bị ô nhiểm. Là hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học này, chất dioxin độc hại ngấm vào chuỗi thức ăn khiến hàng triệu người bị vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, bao gồm cả nửa triệu trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Washington đã bác bỏ tuyên bố bồi thường, khẳng định rằng không có đủ bằng chứng và, giống như Kerrey, bảo người Việt hãy “vượt qua việc ấy đi.”

Động cơ Kerrey trong đánh bóng vai trò của chính y trong chiến tranh và làm sai lệch bản chất phạm tội của sự can thiệp của Mỹ là hiển nhiên. Là một chính trị gia sáng giá của đảng Dân Chủ, y đã cố giành sự đề cử của đảng Dân Chủ trước đây, và hiện thường được nói đến như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng cho năm 2004. Y vẫn chưa ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng.

Trên một mức độ rộng lớn thì nhờ có chiến tranh Việt Nam mà Kerrey thăng tiến sự nghiệp chính trị của y, nhận được sự ủng hộ như một vị anh hùng chiến tranh được thưởng huân chương – y đã được trao Huân Chương Sao Đồng cho chiến công láo khoét về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong được tung hê rằng những kẻ bị giết toàn là “Việt Cộng” – và Huy Chương Danh Dự Của Quốc Hội cho trận đột kích sau đó khi một quả lựu đạn làm y mất phần dưới gối của một bên chân. Trong khi các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam phản đối chiến tranh đã ném vất bỏ huy chương qua hàng rào Nhà Trắng để phản đối sự xâm lăng của Mỹ, thì Kerrey sau khi giải ngũ khỏi Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Washington nhận các giải thưởng từ Richard Nixon.

Kerrey giờ đây tuyên bố đã từ lâu luôn bị ám ảnh bởi cuộc chạm trán đẫm máu ở Thạnh Phong, nhưng y cứ ngậm tăm cho tới khi năm ngoái xuất hiện các sự tiết lộ về vai trò của y. Trong các chiến dịch chính trị thành công của mình cho ghế Thống Đốc Bang Nebraska và một ghế trong Thượng Viện, cũng như sự thất bại trong cuộc chạy đua giành sự đề cử của đảng Dân Chủ năm 1992, y đã dựa hẳn vào một quá trình tham chiến đã miêu tả xằng bậy gọi một hành động tàn bạo chống lại thường dân không vũ trang là một hành động quả cảm anh hùng.

John DeCamp, một đồng nghiệp cũng là chính trị gia Bang Nebraska và cũng là một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, cựu thượng nghị sĩ bang, đã đến thăm Thạnh Phong hồi đầu năm nay, gặp gỡ các gia đình của những người thiệt mạng trong vụ thảm sát. Ông đã kêu gọi Bộ Quốc Phòng mở một cuộc điều tra đối với cuộc tấn công, và đe dọa sẽ thay mặt những người sống sót để khởi kiện đòi bồi thường. Ông nói rằng Kerrey đã từ chối các đề nghị giúp lập nên một quỹ hỗ trợ những người sống sót.

Kerrey đã bác bỏ và gọi các yêu cầu của DeCamp là “vô lý và nực cười.”

Tại sao như vậy? Thành viên của quân đội Serbia đang phải đối mặt với các phiên xử tội ác chiến tranh tại The Hague vì đã thực hiện tội ác không ghê gớm như Kerrey đã làm ở Việt Nam. Đối với vấn đề đó, binh sĩ quèn và vệ binh tuy chỉ “làm theo mệnh lệnh” của quân SS Đức Quốc Xã vẫn phải đối mặt với lệnh trục xuất khỏi nước Mỹ và bị xét xử dù đã 60 năm sau khi gây ra tội ác.

Vấn đề thực sự là vì sao dù cho có sự phơi bày sự dính líu của Kerrey trong vụ thảm sát máu lạnh cùng hành vi che dấu sau đó của y, lại có quá ít yêu cầu mở cuộc điều tra. Tại sao vẫn chưa có một phản đối kịch liệt đòi bãi nhiệm Kerrey khỏi chức vụ chủ tịch New School, một đại học nổi tiếng trong quá khứ về truyền thống giáo dục dân chủ và tiến bộ của nó?

Sau những tiết lộ đầu tiên, hội đồng quản trị của New School mới công bố “hỗ trợ vô điều kiện” họ dành cho Kerrey mà không cần có cuộc điều tra độc lập nào dù nhỏ nhất. Họ vẫn lặng thinh đối với các cáo buộc gần đây của Chính phủ Việt Nam cũng như đối với việc làm giả tài liệu lịch sử trong cuốn sách của Kerrey.

Việc nín thinh của các đồng sự quanh Kerrey bởi phe nhóm chính trị bao gồm những kẻ từng tự gọi mình là những người tự do và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á đã có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các nỗ lực miêu tả một tội phạm chiến tranh, xem y là “nạn nhân” chẳng thua gì những người mà y đã giết chết, không phải là kết quả của sự cảm thông dành cho một cá nhân.

Thay vào đó, giai cấp cầm quyền đã chộp lấy vụ việc của Kerrey làm cơ hội để giáng một đòn mạnh vào di sản của sự phản đối rộng khắp chống lại sự xâm lược bằng quân sự của Mỹ, với số thương vong khủng khiếp của nó nhằm vào thường dân vô tội, cũng như sự hy sinh tàn bạo những chiến binh Mỹ đã được biết đến dưới tên gọi “hội chứng Việt Nam”.

Hơn thế nữa, trong khi Kerrey bị cáo buộc là một cá nhân phạm tội ác chiến tranh, thì vẫn còn có cả phe nhóm chính trị và quân đội – từ Henry Kissinger cho đến Tướng William Westmoreland cùng cựu giám đốc CIA Richard Helms – những kẻ đã trực tiếp ra lịnh thực hiện những tội ác lớn chống lại nhân loại mà chưa bao giờ được đem ra xét xử.

Với sự bùng nổ của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ sau vụ 11 tháng 9, vụ Kerrey mang lại ý nghĩa chính trị thậm chí còn to lớn hơn. Lập luận bao che tội ác mà y đã gây ra – cùng vô số những hành động tàn bạo khác đã gây ra trong hơn ba thập kỷ trước – và cố gắng để hợp pháp hóa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sẽ giúp mở đường cho những cuộc tàn sát mới và khủng khiếp hơn của quân đội Mỹ.

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam buộc Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” và nỗ lực của y trong cuốn tự truyện của mình để một lần nữa bao che cho vai diễn của mình, phải dẫn đến lời kêu gọi hành động của những sinh viên và giảng viên tại New School, những người coi trọng sự thật lịch sử và phản đối chủ nghĩa quân phiệt .

Yêu cầu bãi nhiệm Kerrey khỏi vị trí Chủ tịch của New School là một biện pháp cần thiết để sạch hóa xã hội: cho phép một tên tội phạm chiến tranh làm người đứng đầu một tổ chức hàn lâm lớn chỉ làm hạ phẩm giá của trường đại học và làm ô uế bầu không khí trí tuệ nói chung.

Chiến dịch đòi sa thải Kerrey, tuy nhiên, phải được dẫn dắt không chỉ ở những hành động của một cá nhân. Nó phải được sử dụng như một phương tiện nhằm giáo dục các thế hệ mới của sinh viên, người lao động, và giới trẻ đối với những bài học thật sự về Chiến Tranh Việt Nam, chuẩn bị cho họ chống lại các tội ác chiến tranh mới tại Afghanistan, Colombia, Iraq, và những nước khác.

*********

4) Kết Luận Về Bob Kerrey

Trong bài viết tựa đề Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức đăng trên Emotino, tôi có đưa hình ảnh sau về một cuộc tàn sát khác ở Bến Tre, và hình ảnh cũng do một phóng viên Mỹ thực hiện để tố cáo tội ác của quân đội Hoa Kỳ:

……..Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Screen Shot 06-03-16 at 07.35 PM

…..

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong tỉnh Bến Tre. Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh.

Khi bị lôi ra ánh sáng, Bob Kerrey qua quyển tự truyện của y và các trả lời phỏng vấn đã phạm thêm năm trọng tội gồm

(a) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã nhục mạ ý nghĩa cao quý của các huân chương quốc gia và huy chương quốc hội vốn chỉ dành cho các hành động anh hùng dũng cảm vị quốc vong thân. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(b) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã hợp pháp hóa các hành vi gây tội ác chống loài người, khiến giới trẻ Hoa Kỳ nhập ngũ sẽ lại vướng vào các trọng tội tương tự, có thể đưa Hoa Kỳ vào tình thế nghiêm trọng trước phản ứng của phần còn lại của nhân loại. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(c) Đối với Việt Nam: y tuyên bố rằng cả hai bên – tức Mỹ và “Việt Cộng” – đều đã gây ra những thiệt hại to lớn như nhau, với ngụ ý cả hai đều gây ra những cuộc thảm sát. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(d) Đối với gia đình nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám ngụ ý rằng y mới là nạn nhân của vụ thảm sát Thạnh Phong chứ không phải 21 người Việt bị y sát hại cũng như gia đình của 21 người này. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(e) Đối với gia đình các nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám cười cợt gọi đề xuất của luật sư DeCamp đòi phải bồi thường cho các gia đình của 21 nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong là “vô lý và buồn cười”. Đây là sự ngạo mạn, vô phương cứu chữa, xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

Với tư cách người đã được Fulbright kính trọng – qua việc chấp nhận cấp học bổng cho những người Việt Nam nào có thư đánh giá và tiến cử của tôi, giáo viên Cử Nhân Anh Văn – tôi có lời khuyên ngắn gọn đến Fulbright rằng với thực tế nhiều người có học bổng Fulbright trở thành những “tù nhân lương tâm” do chống chính phủ Việt Nam sau khi “vinh quy bái tổ”, Fulbright nên khôn khéo dấu cái đuôi của mình bằng cách hãy thay thế Bob Kerrey bằng người khác. Trường hợp Đại học Fulbright cần phải có “sớ Táo Quân” tiếng Anh của tôi mới chịu thay thế Bob Kerrey thì cứ lục kiếm tàng thư của chính Fulbright sẽ biết phải gởi yêu cầu ấy đến đâu.

Cựu chiến binh nào của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng có thể trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa và làm tất cả những gì mà sự ân hận có thể được diễn đạt bằng lý trí và với khả năng nhận thức sai trái của bản thân trong quá khứ thể hiện bằng sự thực tâm tưởng niệm các nạn nhân, bằng những lời nói đậm ấm tình người, chứ không nhất thiết phải bằng những đóng góp tài chính cụ thể. Vì người Việt rộng lượng và độ lượng, giàu tình cảm và dồi dào sự tha thứ như đã luôn thể hiện từ xưa đến nay.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam do (a) đã bị Chính Phủ Việt Nam cáo buộc tội ác chiến tranh; (b) xuyên tạc, xúc xiểm, xúc phạm Việt Nam; và (c) xuyên tạc, xúc phạm, xúc xiểm các nạn nhân của vụ thảm sát ở Thạnh Phong.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam vì y chỉ là một tên man rợ không đáng được dành cho sự tiếp đón chỉ dành cho con người.

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế,  Nhà Lập Pháp – Nghị Sĩ Đương Nhiệm Của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Nguồn tham khảo & đọc thêm:

Nguồn bài viết tiếng Anh của Bill Vann trên trang web của tổ chức WSWS của Anh Quốc: https://www.wsws.org/en/articles/2002/06/kerr-j06.html

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực lên không gian mạng vậy.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh<