Category Archives: Sự thật lịch sử

30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-4-2017

HHP QH 2

Việt Nam: Đất Nước Kinh Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa  09-4-2006

 

Vietnam: My Beloved Nation, The Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 09-4-2006

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Donald Trump Làm Truyền Thông Âu Mỹ Lõa Lồ

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-4-2017

Lõa Lồ_Bài 2 1

Mỗi khi nói về “truyền thông chính thống”, tác giả bài viết này cho thấy dường như ông có sự thôi thúc nhất thiết phải hoặc nhắc đi nhắc lại hoặc nêu rõ thêm hoặc cập nhật nội hàm mới cho ngành Việt báo sử tức lịch sử báo chí Việt Nam những sự thật lịch sử của ngữ nghĩa mà tiếc thay ngay cả các khoa báo chí ở các trường đại học cũng không hề biết đến để bị trang cho các sản phẩm mang danh “nhà báo” tốt nghiệp của mình.

Do Donald Trump đã làm cho thế giới truyền thông chính thống Mỹ lõa lồ, bài viết này sẽ nói về truyền thông chính thống của Mỹ – và tất nhiên là của Phương Tây nói chung – trong Thời Đại Trump tức The Trump Era, với các điểm được nhắc lại/bổ sung khái quát về thời kỳ Tiền Trump như sau:

A- Truyền Thông Chính Thống Mỹ Thời Tiền Trump

Báo chí truyền thông chính thống Mỹ thời Tiền Trump luôn được mặc định bất thành văn một cách nghiêm khắc mang tính xác quyết bất di dịch là công cụ chuyên dụng độc quyền của nhà nước, phục vụ riêng chỉ cho nhà nước, với năm mặc định đặc thù sau mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng được bằng thực tế từ chính báo chí truyền thông chính thống Mỹ:

1) Không bao giờ chỉ trích công kích tổng thống – dù đương nhiệm hay tiền nhiệm – vì tất cả các tổng thống đều là giới tinh hoa chính trị của hai “đảng sinh đôi” và đều phục vụ giới tài phiệt chung và duy nhất của nước nhà ;

2) Không bao giờ chỉ trích bất kỳ chính sách đối ngoại nào của chính phủ vì tất cả các chính sách đối ngoại đều đã được giới tài phiệt nước nhà thông qua;

3) Không bao giờ chỉ trích bất kỳ chính sách nội trị nào của nhà nước vì tất cả các chính sách nội trị đều phục vụ quyền lợi giới tài phiệt nước nhà;

4) Không bao giờ xúc phạm Giáo Chủ Đạo Chúa là Jesus Christ;

5) Phải chứng tỏ báo chí truyền thông nước nhà đúng là chuẫn mực của tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, và giương cao ngọn cờ quyền tiếp cận thông tin bằng 5 cách sau:

a-  tích cực công kích nước khác về mọi mặt, dù đó là nước thù địch hay nước đồng minh, vì đó là nghĩa vụ phải ủng hộ mạnh mẽ tuyệt đối tất cả các chính sách đối ngoại của chính phủ nước mình, và đó đồng thời cũng là thủ thuật chứng minh hùng hồn bản thân báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt không khiếp sợ hay né tránh bất kỳ ai…ở nước khác;

b-  tập trung đưa tin và viết bài về các nước khác, dù đó là nước thù địch hay nước đồng minh, vì đây là biện pháp hữu hiệu nhất để chứng minh rằng báo chí luôn  thực sự thực thi sứ mệnh thiêng liêng cung cấp thông tin một cách trung thực nhanh chóng chính xác cho người dân nước mình biết rõ nhiều hơn về …nước khác;

c-  tích cực công kích Hồi Giáo để chứng minh hùng hồn bản thân báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt: không hề chùn bước trước các “thế lực thần quyền”;

d-  tích cực vẽ tranh biếm họa tổng thống nước mình để chứng minh hùng hồn bản thân nền báo chí nước mình thực sự có tự do ngôn luậntự do biểu đạt, nhằm khoe khoang đạo đức Khổng Mạnh duy nhất phát triển tại Hoa Kỳ, rằng “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là dân trên hết, kế đến là đất nước, và hạng bét là tổng thống;

e-  tích cực phát triển các mảng báo lá cải để chứng minh có đáp ứng quyền của công chúng trong tiếp cận thông tin về… đời tư cùng scandal của các celebrity, cũng như mảng báo ảnh khiêu dâm để chứng minh sức mạnh của báo chí: cái gì cũng có thể được lột trần bởi báo chí, từ sự thật trần truồng các tiêu cực của các chính phủ nước khác đến sự thật trần truồng các xen-ti-mét-vuông thân thể các người mẫu nữ, người mẫu nam của nước mình.

B- Truyền Thông Chính Thống Mỹ Thời Donald Trump

Từ những khái quát trên về truyền thông chính thống Mỹ, những thay đổi sau đã diễn ra ngay khi truyền thông chính thống Mỹ nhận ra một cách trễ tràng về khả năng chiến thắng áp đảo một ngàn tỷ phần trăm (1.000.000.000.000%) của ứng viên tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, cho thấy những vết sẹo trên thân thể trần truồng của báo chí Mỹ như sau:

1) Sự Thiên Vị và Sự Giả Trá:

Hàng thế kỷ qua, truyền thông chính thống Mỹ – từ đoạn này gọi tắt là “Báo Mỹ” – đã có được danh trấn thiên hạ dưới lớp phấn son mang tên “trung lập công bằng” với thực tế không bao giờ công khai theo một bên nào trong hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa trong thời gian vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, dù những bậc đại trí trên thế gian – trừ người Mỹ – đều biết quá rõ và quá đủ 5 lý do cho sự “trung lập công bằng” ấy gồm (a) cả hai đảng là một, (b) cả hai đảng đều phục vụ cho một quyền lực tài phiệt thống nhất, (c) sự tồn tại của hai đảng là để tạo vỏ bọc rằng Mỹ có tự do chính trị, (d) thể chế chính trị cùng quyền lực chính trị Hoa Kỳ được bảo toàn nhất thống trọn vẹn do “đảng thứ nhì” sẽ chiếm ngôi tổng thống nếu “đảng thứ nhất” thất bại dưới mắt người dân đối với các chương trình hoạt động trong nhiệm kỳ của họ – mà các phân khoa báo chí ở các đại học Việt Nam gọi tiếng Việt sai là “chương trình nghị sự”, và (e) chỉ có sự thay đổi nhân vật đóng vai/ngự ngôi tổng thống đến từ “đảng này” chứ hoàn toàn không có sự “tát cạn đầm lầy” đối với các “chương trình nghị sự” của nhân vật đóng vai/ngự ngôi tổng thống tiền nhiệm đến từ “đảng nọ”.

Khi chiến lược gia hạng thứ dân Donald Trump thẩm định tình hình đã khôn ngoan nhảy từ Đảng Dân Chủ sang Đảng Cộng Hòa nhằm việc ra tranh cử chức tổng thống Mỹ sẽ dễ chiến thắng tuyệt đối hơn, Báo Mỹ tự tin để yên cho phe lá cải làm phần việc đã được phân công: bươi móc hoặc sáng tạo các nhem nhuốc cá nhân của Donald Trump nhằm ngầm hỗ trợ 16 ứng cử viên tinh hoa chính trị thực thụ của Đảng Cộng Hòa (trong đó nổi bật nhất là các Thượng Nghị Sĩ hoặc Thống Đốc như Ted Cruz, Marco Rubio, Ben Carson, Chris Christie, và Scott Walker), để  những “tinh hoa chính trị” này rảnh chân nhảy núa hoan ca trên sân khấu chính trị Mỹ vầy đoàn cùng 16 ứng cử viên “tinh hoa chính trị” Đảng Dân Chủ (trong đó nổi bật nhất là các Thượng Nghị Sĩ hoặc Thống Đốc Hillary Clinton, Martin O’Malley, Bernie Sanders, John Wolfe Jr., Lincoln Chafee, và Jim Webb) đang khiêu vũ chính trị trước mắt người dân.

Và khi chiến lược gia hạng thứ dân Donald Trump lần lượt đánh bại tất cả các ứng cử viên “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa tại các vòng bầu cử sơ bộ, trở thành ứng cử viên chính thức duy nhất của Đảng Cộng Hòa, Báo Mỹ đã rúng động, chấn động, dao động. Trong cơn hoảng loạn, nhiều nhân vật “tinh hoa chính trị” Đảng Cộng Hòa lúng túng phản ứng bằng cách tấn công kẻ thứ dân Donald Trump dù cùng “đảng”, tuyên bố ủng hộ Hillary Clinton của đảng “đối thủ”, khiến tự lột mặt nạ lừa bịp thế gian, cho thấy hóa ra thiên hạ Tây Âu đã chính xác khi nhạo báng gọi Dân Chủ và Cộng Hòa của Mỹ là “đảng sinh đôi” giống nhau như đúc. Cũng trong cơn hoảng loạn ấy, Báo Mỹ đã

a- Vội vã vất bỏ chiếc áo “trung lập”, chấm dứt “công bằng”, phỉ nhổ “công tâm”, bằng cách công khai lên tiếng ủng hộ Hillary Clinton

Lõa Lồ_Bài 2 2

b- Vội vã vất bỏ “danh dự vì sự thật” để sáng tạo tin giả bôi nhọ tấn công Donald Trump.

c- Vội vã hy sinh “uy tín” để sáng tạo tin giả FAKE NEWS về các kết quả điều tra dư luận dồn dập với kết quả tỷ lệ ủng hộ Hillary Clinton cực cao trong thời gian tranh cử, cực cao trong thời gian thất cử, và cực cao cho kỳ tranh cử 2020.

d- Vội vã từ bỏ tư cách chính thống tự biến mình thành “lá cải” để hỗ trợ đoàn quân “lá cải” trong tạo ra các thông tin bôi nhọ tư cách bậc trưởng thượng tu thân tề gia xuất sắc nhất thế giới của Donald Trump.

e- Báo Mỹ đã trở thành chiến trường tàn khốc, từ một khối gắn kết đồng nhất kết đoàn thống chế thông tin toàn nhân loại để khống chế tư duy con người, Báo Mỹ đã qua việc chống Trump hình thành hai thế lực đối chọi nhau không phải giữa hai bên Chống TrumpTheo Trump mà là giữa phe ĐÃ BỊ TRUMP BAN NGHỆ DANH FAKE NEWS và phe KHÔNG MUỐN BỊ TRUMP BAN CHO NGHỆ DANH KHÔNG VẺ VANG ẤY. Hiện cả hai phe đều có thuận lợi về gia tăng doanh số bán báo, với bên thứ nhất thu lợi từ rối loạn xã hội do chính họ gây ra, còn bên thứ hai độc quyền dự tham các buổi họp của Trump để đưa tin phát hình, phỏng vấn Trump cùng các cận thần ngự trị Tòa Bạch Ốc, mà ngôi sao sáng nhất hiện là Fox News của tỷ phú truyền thông khôn ngoan Rupert Murdoch. Cũng nhờ sự đối chọi này mà thiên hạ thấy phe thứ nhất theo trường phái sáng tạo cố gắng tấn công Trump cùng đội ngũ nhân tài kiệt xuất của ông, trong khi phe thứ hai theo trường phái bóc tách lột truồng các thâm cung bí sử cố gắng chứng minh phe thứ nhất luôn sai và tập trung tấn công Hillary Clinton cùng những thế lực chống Trump, tất cả khiến thông tin trở nên đầy ắp:

chẳng hạn Fox News cho ra số liệu rằng các tổng thống ba trào liên tiếp (mỗi người đều trị vì 8 năm) là Bill Clinton đã trục xuất 869.646 dân nhập cư trái phép, George W. Bush đuổi hết 2.012.539 người, còn Barack Obama đã tống cổ đến 3.094.208 dân nhập cư ra khỏi Hoa Kỳ – trong khi Donald Trump chưa trục xuất ai và sắc lịnh của ông tuy chỉ là “tạm thời” ngưng cho nhập cảnh trong vài tháng những dân nhập cư đến từ 7 trong số hơn 50 quốc gia theo Hồi Giáo nhằm có những thủ tục hiệu quả thiết thực hơn thì bị Báo Mỹ kích lên thành chống lại Đạo Hồi và chống tự do tín ngưỡng

Lõa Lồ_Bài 2 3

f- Từ ô danh đến lưu xú vạn niên: Ngay sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử, chủ nhân Arthur Sulzberger của tờ báo The New York Times vĩ đại lừng danh đã phải muối mặt van xin sự tha thứ của độc giả vào tháng 12-2016, hứa rằng “we aim to rededicate ourselves to the fundamental mision of Times journalism. That is to report America and the world honestly, without fear or favor…” (mục đích của chúng tôi là tái tục hiến thân cho sứ mệnh cơ bản của báo Times, đó là: cung cấp thông tin cho Nước Mỹ và thế giới một cách lương thiện, không khiếp sợ, và chẳng hề thiên vị…). Chỉ có người nước khác hoặc do dốt tiếng Anh hoặc vì bị báo chí nước mình giảo quyệt bất lương đưa tin giả mới không biết rằng cái tờ Nữu Ước Thời Báo lừng danh của cái gã thế gia vọng tộc Arthur Sulzberger ấy từ cái tháng 12 năm 2016 ấy cho đến nay ngày nào cũng ra rả tấn công Donald Trump, không bao giờ đăng bất kỳ thông tin nào về các tốt đẹp mà Donald Trump sẵn có, đang có nhiều thêm, và đang được dành cho từ nhân dân Mỹ, từ ngoài thực tế mà báo chí vẫn buộc phải tải đăng:

Lõa Lồ_Bài 2 4

cho đến thơ ca trên không gian mạng truyền thông chẳng hạn bài thơ “tiên đoán”

Lõa Lồ_Bài 2 5

 

lời kêu gọi

Lõa Lồ_Bài 2 6

hoặc có sự xuất hiện của kiểu BM báo mới để tự tách bạch mình ra khỏi BM Báo Mỹ, cái đã bị Donald Trump ban cho tên húy là FAKE NEWS. Báo chí mới này tất nhiên phải chứng tỏ mình “trung lập” bằng cách tạo nên sự “công bằng” khi tập trung…ủng hộ Donald Trump, thậm chí có đơn vị còn nhái tên cái đài CNN chống phá Trump để lập thành CNM ủng hộ Trump với sự sáng tạo ra chữ NEWZ để thay cho chữ NEWS (Tin Tức) mà Donald Trump đã lỡ gán cho FAKE NEWS (Tin Tức Xạo) để nhân loại dùng gọi truyền thông chính thống Mỹ từ nay cho đến ngày tận thế.

 

Sự thiên vị của Báo Mỹ đã khiến Báo Mỹ phải trả giá, và đó là một giá quá đắt:

Trước sự tự lột lõa lồ của tuyệt đại đa số Báo Mỹ, trong đó có các cái tên quen thuộc như New York Times, CNN, và Washington Post, v.v., Donald Trump đã bắt chước các vị đế vương Việt Nam khi ban cho các Báo Mỹ ấy một cái tên hoàng tộc mới là Fake News tức Báo Xạo, mà đã là do “vua ban” thì tên ấy sẽ gắn suốt đời với đối tượng được “ban tên”

Lõa Lồ_Bài 2 7

Điều này tự động có ý nghĩa rằng: bất kỳ báo nào trên thế gian này tải đăng lại hoặc lấy tin từ các báo Mỹ mang tên húy của hoàng tộc FAKE NEWS mà không để nhạo báng chúng thì sẽ trở thành cùng một giuộc với FAKE NEWS. Điều này không hề nêu rằng báo Việt Nam là ngoại lệ.

Donald Trump đã không sai, vì những gì “tiên đoán” về sự hung hãn lưu manh của người dân ủng hộ Trump sẽ bùng nổ ra sao khi Hillary đắc cử tổng thống qua nội dung số ra ngày 28-10-2016 của The Week, tạp chí có câu khẩu hiệu dữ dội rằng mình là “truyền thông tốt nhất Hoa Kỳ và thế giới

Lõa Lồ_Bài 2 8

hóa ra lại là một thứ FAKE NEWS, vì rằng cho đến nay tuyệt đại đa số những người bỏ phiếu cho Donald Trump thuộc lớp người ôn hòa, lịch sự, ít nói, đến độ sau này Báo Mỹ buộc phải thừa nhận rằng Donald Trump chiến thắng nhờ những người thầm lặng lẳng lặng đi bỏ phiếu và không thích trả lời phỏng vấn hoặc nếu có tham gia trả lời các cuộc lấy ý kiến của Báo Mỹ thì cũng che dấu sự ủng hộ Donald Trump, trong khi thực tế bằng hình chụp sau lại chỉ chứng minh sự lưu manh hung hãn cực đoan đến cùng cực của những kẻ ủng hộ Hillary Clinton vào ngày Lễ Nhậm Chức của Donald Trump:

Lõa Lồ_Bài 2 9Lõa Lồ_Bài 2 10Lõa Lồ_Bài 2 11Lõa Lồ_Bài 2 12

Sự lỡ dại tự lõa lồ của Báo Mỹ khiến người dân Mỹ từ nay dấy lên phong trào kể tội Báo Mỹ, nói xấu Báo Mỹ, làm Báo Mỹ chẳng còn chút thể diện gì với báo chí chính thống nói chung của toàn thế giới:

Lõa Lồ_Bài 2 13

Sự thiên vị lõa lồ còn làm Báo Mỹ– và Đảng Dân Chủ – càng lún sâu hơn vào vũng lầy nhân sự tức không còn gương mặt nào sáng giá, khi buộc phải biến ả con gái này của mụ Hillary Clinton qua công cụ chỉnh sửa điểm trang để trở thành nữ thánh, và mọi phát ngôn của cô ta dù ngô nghê xuẩn ngốc đến đâu cũng được Báo Mỹ ngợi ca, khẳng định cô sẽ cùng mẹ là những ứng cử viên Tổng Thống Mỹ chói sáng của Đảng Dân Chủ năm 2020:

Lõa Lồ_Bài 2 14

2) Sự Mất Dạy:

Sự mất dạy của Báo Mỹ đã có từ lâu, rất lâu, và chỉ  xuất hiện khi báo chí thất bại cực kỳ thảm hại. Kinh nghiệm dành cho nhân loại là: khi thấy Báo Mỹ tập trung công kích ai thì chỉ có nghĩa duy nhất rằng người đó đã đạp chà Báo Mỹ xuống bùn nhơ vạn đại.

a- Do “bất ngờ” trước sự chiến thắng của người đàn ông gày gò khắc khổ tỉnh lẻ này

Lõa Lồ_Bài 2 15

Tờ New York Herald điên tiết thẳng thừng sử dụng quyền năng “báo chí” để công khai miệt thị ông là “thằng chính trị gia miệt vườn bẩn thỉu” dù ông xuất thân luật sư theo đúng bài bản bất thành văn của giới tinh hoa chính trị Mỹ. Hòa âm điền dã cùng New York Herald còn có các tờ báo lớn như Atlas & Argus, Boston Post, Philadelphia Evening, Atlantic, v.v., kẻ miệt thị ông là luật sư thất học dân dã, đứa thở than các cường quốc Châu Âu sẽ nhạo báng nước Mỹ vì Mỹ đã không có thứ chất liệu nào tốt hơn để nặn ra một thằng tổng thống (“The European powers will despise us because we have no better material out of which to make a President”), gọi ông là thứ tởm lợm, và “dự đoán” thiên hạ sẽ không để yên cho một gã như thế làm lãnh đạo quốc gia. Sự miệt thị ấy là do Báo Mỹ đã “thiên vị” nên công khai chống lại ông, người đã dám chiến thắng trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc Phân Tranh, dám thống nhất đất nước Hoa Kỳ, dám ban hành Tu Chính Án Thứ 13 vĩnh viễn giải phóng nô lệ, dám chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ, và dám đặt nền móng vững bền cho đất nước Hoa Kỳ cường thịnh trở lại Make America Great Again. Lời “tiên đoán” trở thành một thứ kích động, một bản án đã tuyên, và một mệnh lệnh, khi vị tổng thống Abraham Lincoln gầy gò khắc khổ ấy gục ngã ttrước họng súng của John Wilkes Booth, kẻ mà theo truyền thống kỳ lạ kiểu Mỹ “không bao giờ bắt sống được bất kỳ sát thủ tổng thống Hoa Kỳ nào” đã bị một binh sĩ nào đó tên Boston Corbett tiêu diệt 12 ngày sau đó.

b- Do “bất ngờ” trước sự chiến thắng của người đàn ông mập mạp sang trọng đẳng cấp thế giới này

Lõa Lồ_Bài 2 16

Báo Mỹ đã điên tiết tự lột trần tấm thân mất dạy của nó khi bỏ lối vẽ biếm họa vô thưởng vô phạt các tổng thống trước đó để quay sang vẽ biếm họa lăng nhục Donald Trump, chẳng hạn vẽ Donald Trump là con chó của Bannon chứ không phải Bannon là bậc kỳ tài của Trump,

Lõa Lồ_Bài 2 17

hoặc Donald Trump là thú cưng của Tổng Thống Nga Putin

Lõa Lồ_Bài 2 18

hay là con rối dưới sự điều khiển giật dây của Putin

Lõa Lồ_Bài 2 19

hoặc ảnh “nữ hoàng” Hillary Clinton dưới sự mách nước của cố vấn Bill Clinton đã vung gươm hớn hở chặt rơi đầu Donald Trump

Lõa Lồ_Bài 2 20

Sự điên loạn ấy còn quá quắt khi Báo Mỹ dành không gian cho bất kỳ ý kiến nào của bất kỳ ai kêu gọi quân đội Mỹ hãy vùng lên đảo chánh tiêu diệt Donald Trump, mà mụ hề Sarah Silverman là điển hình mà tờ Nữu Ước Thời Báo lập tức tôn vinh thành “hơi thở mới trong lành tuyệt hảo” (của tự do ngôn luận).

Những sự mất dạy nêu trên đã khơi mào cho sự phản công của những người dân  ủng hộ Trump, dẫn đến sự thể trần truồng là các vị tai to mặt lớn của Đảng Dân Chủ bị họ áp dụng cùng chiêu thức của phe chống Trump để lột trần luôn các vị này, vĩnh viễn chấm dứt mấy thế kỷ dài giới tinh hoa chính trị luôn là hình mẫu lý tưởng bất khả xúc xiểm trong con mắt người dân Mỹ

Lõa Lồ_Bài 2 21Lõa Lồ_Bài 2 22

c- Đó là về tranh biếm họa. Còn về ngôn từ thì thí dụ như tờ Guardian danh tiếng đã gọi Donald Trump là “ Thú Vật

 Lõa Lồ_Bài 2 23

d- Tuy nhiên, từ các xúc xiểm vô văn hóa dành cho cá nhân Donald Trump, sự cực đoan của Báo Mỹ còn tác động đến cách hành xử vô đạo đức của giới tinh hoa chính trị Đảng Dân Chủ, khiến người dân Mỹ phẫn nộ. Khi Donald Trump có bài phát biểu đầu tiên tại Quốc Hội, tài hùng biện tuyệt hảo của Ông đã tạo xúc cảm đầy ấn tượng với cử tọa, quan khách, và người dân theo dõi qua truyền hình. Khi Ông ngợi ca một quả phụ của một viên sĩ quan lực lượng SEAL Hải Quân hy sinh trên chiến trường Trung Đông, lời vinh danh của Ông đã làm người quả phụ ấy xúc động rơi nước mắt, còn cả nghị trường đứng dậy vỗ tay kéo dài kỷ lục, dài nhất lịch sử nghị trường Hoa Kỳ

Lõa Lồ_Bài 2 24

Nhưng truyền hình và những phóng viên của vài tờ báo không thuộc loại FAKE NEWS (chống Trump) đã tải đi hình ảnh các nghị sĩ lãnh đạo Đảng Dân Chủ ngồi yên dững dưng. không tham gia vỗ tay hay đứng lên tỏ lòng tôn kính anh linh cùng gia quyến người đã khuất

Lõa Lồ_Bài 2 25

khiến chiến binh Tim Kennedy giận dữ tweet rằng “Chúng mày hãy coi chừng! Nếu tao tử trận và vợ tao tham dự buổi phát biểu của tổng thống mà đứa nào không đứng dậy kính lễ vợ tao thì các chiến hữu của tao sẽ chôn từng đứa một.”

Lõa Lồ_Bài 2 26

e- Sự mất dạy lên đến cao trào khi Báo Mỹ biến thành mọi rợ tấn công Barron Trump, con trai út của Donald Trump, dù cậu là một thiếu niên, mà trong xã hội văn minh hiện đại chính thống của nhân loại thì nhi đồng, thiếu nhi, thiếu niên, và vị thành niên luôn được thực sự ưu tiên ưu ái, chăm sóc, và bảo vệ của toàn xã hội, huống hồ giới tinh hoa truyền thông chính thống lẽ ra đã luôn là nơi phát xuất cụ thể các ưu tiên ưu ái, chăm sóc, và bảo vệ ấy

Lõa Lồ_Bài 2 27

Thậm chí Báo Mỹ cũng vất bỏ luôn chiếc mặt nạ nhân quyền, nữ quyền, và quyền tự do làm những công việc nhà nước không cấm, để đăng những bức ảnh của người mẫu Melania Knauss trước khi cô trở thành Melania Trump với dụng ý công kích Bà xuất thân hèn hạ không có tư cách làm Đệ Nhất Phu Nhân bất kể sự thật rằng ngay cả đối với toàn thế giới tinh hoa trí thức Á Đông thì Bà ắt ở vị trí cao trọng hiếm có vì (a) Bà có cốt cách vượng phu ích tử, (b) Bà là mẫu mực của một nội tướng đảm bảo sự hòa thuận của một đại gia đình có những đứa con đại gia tài chính thuộc những bà mẹ khác nhau trước đó nhưng đều dành cho Bà sự nễ trọng, (c) Bà là mẫu mực của một bà mẹ tập trung chăm sóc con vốn không là việc có thể dễ dàng thấy được nơi phụ nữ Âu Mỹ trừ phi trong giai đoạn phụ sản, và (d) Bà được người đàn ông tuyệt đối xem trọng đạo đức gia phong và đạo đức cá nhân như Trump đánh giá cao và quý trọng.

Lõa Lồ_Bài 2 28

Cô Melania Knavs do có năng lực xuất sắc extraordinary ability của một người mẫu nên được Mỹ thuận cấp thẻ xanh, trở thành thường trú nhân hợp pháp ở Hoa Kỳ năm 2001 và trở thành công dân Mỹ năm 2006 sau khi trở thành Melania Trump. Cô có ở trần mặc bikini chụp hình cho tạp chí thời trang thể thao thì đó là công việc chuyên nghiệp hợp pháp của cô để cô làm đẹp cho những trang báo của các tạp chí thời trang cao cấp ấy

Lõa Lồ_Bài 2 29

Báo Mỹ mà ở truồng mới là chuyện suy đồi đạo đức, chuyện phạm pháp, chuyện không chuyên nghiệp, và không hề làm đẹp cho những trang báo ngay cả của chính họ.

3- Báo Mỹ Kết Liễu Hiến Pháp Mỹ:

Hiến Pháp Mỹ được duy trì nhiều trăm năm nay với rất ít những sửa đổi, nên từ ngữ “kết liễu” mang âm vang một điều không tưởng.

Tuy nhiên, những điều tưởng chừng như bất biến, bất khả xâm phạm, bất di bất dịch, lại bị dọa đe nghiêm trọng từ hệ quả của việc Báo Mỹ chống Donald Trump. Những đe dọa ấy đang làm lung lay nền tảng của các phạm trù hiến pháp, luật pháp, dân chủ và chính trị Hoa Kỳ mà sự lõa lồ đã bày phơi lồ lộ.

Những gì là khuôn khổ cho một thực tế thực hành tốt nhất – dù không giống ai – cho việc bầu cử tổng thống trên cơ sở đạt tối thiểu 270 phiếu đại cử tri đã bị chao đảo, bị thách đố, bị đặt nghi vấn về tính hiệu quả, bị dèm xiểm về giá trị của kết quả, bị phủ nhận bởi thiểu số – tức phe thất cử theo luật định, là nguyên cớ cho các bạo loạn bùng phát khắp nước Mỹ ngay sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử đúng theo luật định và hiến pháp, và thậm chí là nội dung để thế giới “dân chủ” Phương Tây xúc xiểm công khai.

Nền dân chủ Mỹ và nền chính trị Mỹ đã như sự xô ngã dưới hiệu ứng domino từ sự rung lắc của nền tảng hiến pháp tạo nên những hố tử thần ở nơi đầy tự hào mang tên Nền Dân Chủ Mỹ cùng quy trình chính trị của nó.

Nền dân chủ Mỹ sụp lún vì thiểu số (thất cử) không còn phục tùng đa số (thắng cử), tự cho mình có quyền công khai phát biểu với giọng điệu phản dân chủ “Ông Không Là Tổng Thống Của Tôi”, được Báo Mỹ cổ súy, ủng hộ, kích động. Một cách quái đản, tự do ngôn luận thường bị áp chế bởi chính quyền các câp các nơi các nước thì nay ở Mỹ lại trở thành thứ bị tấn công bởi phe thiểu số (thất cử)

Nền chính trị Mỹ sụp lún vì đảng thất cử tiến từ quy trình bình thường (thỉnh thoảng không bỏ phiếu thông qua một dự luật nào đó của đảng thắng cử) sang quy trình phản động (công khai tuyên bố sẽ phá hỏng toàn bộ chương trình nghị sự của tổng thống và đảng thắng cử), được Báo Mỹ cổ súy, ủng hộ, kích động.

Hiến Pháp Mỹ không thể bị kết liễu, tất nhiên rồi. Nhưng chính nền dân chủ Mỹ bị đão chiều vì sự phản động của truyền thông chính thống FAKE NEWS và nền chính trị Mỹ tự hủy với sự phá tung giềng mối của giới tinh hoa chính trị Đảng Dân Chủ phản động, đã khiến Hiến Pháp Mỹ chỉ còn là quyển sách hoàn toàn vô dụng ngay cả không được dùng để tổng thống đắc cử đặt tay lên ấy mà tuyên thệ nhậm chức.

Có thể nói, do đó, sự kết liễu này mang tính thực chất và phi hình thức.

4- Báo Mỹ Kết Liễu Quyền Lực An Ninh Mỹ:

Báo Mỹ với sự tích cực điên cuồng chống Donald Trump đã làm các cơ quan quyền lực an ninh Mỹ “độc lập” như Trung Ương Cục Tình Báo CIA, Cục An Ninh Quốc Gia NSA và Cục Điều Tra Liên Bang FBI bị thách thức thách đố quyền lực và gần như bị kết liễu do phơi bày những hoạt động vi hiến; trong khi đó lại có sự vươn lên đối trọng của Bộ An Ninh Nội Địa DHS cùng cơ quan Thuế Quan Và Bảo Vệ Biên Cương CBP luôn tích cực thực thi các lịnh của Donald Trump.

Cụ thể, Nữu Ước Thời Báo số ra ngày 20-01-2017 đăng bài chủ lực rằng các cơ quan thực thi pháp luật và tình báo đang nghiên cứu các tài liệu thu thập về các cuộc nói chuyện cùng các giao dịch tiền bạc như một phần của cuộc điều tra rộng lớn hơn về những liên kết có thể có giữa các quan chức Nga và các đồng sự của Tổng thống đắc cử Donald J. Trump (“American law enforcement and intelligence agencies are examining intercepted communications and financial transactions as part of a broad investigation into possible links between Russian officials and associates of President-elect Donald J. Trump”). Việc “thu thập” tức nghe lén này tự động lột mặt nạ vi hiến của các cơ quan tình báo, tạo thời cơ cho Donald Trump cáo buộc Barack Obama đã cho nghe lén đội ngũ cố vấn của Donald Trump trong thời gian tranh cử. Sự phẫn nộ của dân chúng Mỹ sôi động trên không gian mạng giễu cợt các cơ quan tình báo Mỹ khiến các cơ quan này tổn hại danh tiếng và phương hại đến uy tín đối với các quốc gia đồng minh Tây Âu, chưa kể còn gánh lấy tai tiếng bất lực do đã không chặn ngăn được sự nhúng mũi của Nga vào cuộc bầu cử Mỹ – nếu quả thực đã có sự việc nhúng mũi ấy.

5- Báo Mỹ Kết Liễu Sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ Mỹ:

Báo Mỹ đã đẩy sự phản ứng của phe thất cử lên đến cực đoan khi tại vài tiểu bang đã có râm ran những ý kiến phản loạn của (a) tách ra khỏi liên bang để hình thành các quốc gia khác, (b) bất tuân việc xóa bỏ các khu vực chứa chấp người nhập cư bất hợp pháp trong tiểu bang, (c) kêu gọi bỏ Mỹ kéo sang các nước khác, và (d) tuyên bố cản phá tất cả các kế sách trị quốc của Donald Trump.

Từ nay, với thói quen mới được hình thành trong cách biểu đạt mới, láo xược, cực đoan, địa phương chủ nghĩa, vị kỷ, sản sinh từ sự làm loạn của Báo Mỹ do chính Báo Mỹ tạo ra tiền lệ, người dân Mỹ sẽ trở nên dữ dội, chống đối bất kính bằng bạo lực các tổng thống Mỹ sau Donald Trump dù thuộc bất kỳ đảng nào, tạo nên tinh trạng  cát cứ sứ quân, xé toang lãnh thổ Hoa Kỳ từ bên trong.

C- Phương Tây Trần Trụi

Nhà ái quốc Donald Trump cũng làm cho truyền thông chính thống Phương Tây lõa lồ mà các nội dung trần trụi sau là nổi bật nhất từ tác động của FAKE NEWS Phương Tây:

1) Giới tinh hoa chính trị tỏ rõ sự bấn loạn trước tình thế vị thế độc tôn nay bị dọa đe bởi sự vùng lên một cách phi truyền thống của lực lượng dân túy từ gương sáng của Donald Trump nên thi nhau tuyên bố chống Donald Trump, không biết rằng chống Donald Trump đồng nghĩa với chống đa số nhân dân Mỹ vì Donald Trump đắc cử theo kết quả đa số, chống Donald Trump cũng đồng nghĩa với chống nền dân chủ Mỹ, và chống Donald Trump tất nhiên đồng nghĩa với việc răn đe sẽ chống lực lượng dân túy tại nước mình.

2) Điểm trên bộc lộ sự trá hình của thể chế dân chủ, sự trá ngụy của tự do ngôn luận.

3) Câc quốc gia đều đã sống bám vào sự bảo vệ quân sự của Hoa Kỳ kể từ kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến.

4) Điểm trên bộc lộ một tin mừng cho ISIS (không phải cho Nga dù Nga không thể không vui mừng) rằng các quốc gia trên không có tiềm lực quốc phòng, dễ bị đánh chiếm và xóa sổ.

5) Điểm trên cũng đồng thời cho thấy bản chất của cường quốc Âu Tây thật ra là sự nhục nhã không những ở chỗ lệ thuộc vào sự bảo vệ của Mỹ mà còn ở vấn nạn rằng để được Mỹ tiếp tục bảo vệ thì họ vừa phải chịu lụy trước Mỹ, vừa phải luôn tạo sự căng thẳng với Nga như thể chịu đựng mối đe dọa xâm lược từ Nga, và vừa phải gây rối ở Trung Đông, cố tình để Tây Âu ngập ngụa trong vấn nạn dân tỵ nạn Trung Đông và chấp nhận để dân mình thành nạn nhân bị khủng bố sát hại, ngõ hầu Mỹ không thể không tiếp tục đùm bọc EU.

Quả Donald Trump đã làm giới truyền thông tư bổn lõa lồ.

D-Ý Kiến Tự Toát Của Một Người Việt

Nội dung của phần III này thuộc loại self-explanatory tức “tự toát lên nội dung” tức “xem là hiểu mà không cần lập luận” tức “hòa âm lõa lồ” tức “tự do hiều sao thì hiểu” tức “nhiều lắm cũng chỉ có phần dịch thuật mà thôi”:

Lõa Lồ_Bài 2 30

Ghi chú:

29-3-2017: Nữu Ước Thời Báo quảng cáo trên Twitter: Nữu Ước Thời Báo được dựng xây trên cơ sở những kiến thức khác lạ, được viết phục vụ những ai có thắc mắc và dám luôn rộng mở trí hóa thoáng hoạt. Hãy đăng ký mua ngay hôm nay để có những nội dung chuẩn xác về chính trị toàn cầu, cải cách chăm sóc y tế và hơn thế nữa. Đại hạ giá có giới hạn. Hãy xem các lựa chọn.

30-3-2017: Hoàng Hữu Phước “tweet” trả lời Nữu Ước Thời Báo“Trí hóa rộng mở thoáng hoạt là để đón chào cái hay và điều tuyệt hảo. New York Times từ 2016 đến giờ là sự khủng hoảng của toàn thứ tệ tồi và cực kỳ tồi tệ với toàn tin LÁO XẠO. BUỒN THAY và TỆ THAY.”

31-3-2017: Quảng cáo của Nữu Ước Thời Báo biến mất trên Twitter.

E- Kết Luận

Lời tiên tri rằng Barack Obama là vị tổng thống cuối cùng của Hoa Kỳ hoàn toàn chính xác.

Lời tiên tri ấy đúng, vì Nước Mỹ là một quốc gia mà toàn bộ các giả trá giả dối giả mạo của nó từ thời Barack Obama trở về trước đã bị nén chặt dưới lớp bê tông sơn nhũ vàng dạ quang ngời sáng đầy chất ngoại-hình của nó

Donald Trump đã là chất xúc tác tạo nên phản ứng tự hủy của lớp sơn bê tông ấy, khiến Nước Mỹ lõa lồ bày phơi thân thể phi-ngoại-hình của nó.

Nước Mỹ từ nay đã là một Nước Mỹ hoàn toàn khác vì giới tinh hoa chính trị hoàn toàn mất vai trò độc quyền lãnh đạo quốc gia, trở thành những sinh vật mà bất kỳ ai cũng có thể nhạo báng miệt thị.

Nước Mỹ từ nay đã là một Nước Mỹ hoàn toàn khác vì giới truyền thông chính thống quốc gia Mỹ trở thành truyền thông láo xạo mà người dân đen mặc sức rủa nguyền, nhạo báng, lên án.

Donald Trump đã nêu bật một chân lý muôn đời rằng báo chí chỉ là thứ phục vụ nhu cầu giải trí của khách hàng, và rằng bất kỳ ai tô vẽ hào quang “cung cấp thông tin”, “cung cấp sự thật”, “tất cả vì chân lý” cho báo chí rồi sẽ không sớm thì muộn gánh lấy hậu quả từ sự tô vẽ hào quang ấy. Báo chí của con người thì cách chi có được các hào quang của Chúa!

Thế Giới Truyền Thông Chính Thống Đã Thực Sự Ngu Xuẩn Khi Chống Donald Trump, Người Chứng Của Chân Lý!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết của cùng tác giả:

1) Donald Trump:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump 01-01-2016

Hoàng Hữu Phước Phỏng Vấn Donald Trump 12-10-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…  03-01-2017

Donald Trump Làm Thế Giới Chính Trị Âu Mỹ Lõa Lồ  26-3-2017

2) Nước Mỹ Vỡ Vụn:

Nước Mỹ Bất Hạnh  15-02-2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn   29-3-2014

3) Báo Chí Truyền Thông Chính Thống:

Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  2013

Báo Sài Gòn Giải Phóng July 21, 2013

Hội Chứng Bầy Đàn  20-8-2013

Báo Người Lao Động  28-9-2014

Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ  16-10-2014

“Tôi Là Người Hồi Giáo…”  18-01-2015

Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc  22-01-2015

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  22-11-2015

Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”  27-12-2015

Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này  05-8-2016

Truyền Thông Ba Que Xỏ Lá   04-11-2016

Báo Tuổi Trẻ Lại Giỡ Trò Fauxtography  11-11-2016

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông Chính Thống   16-11-2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối  23-12-2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam  19-12-2016

4) Truyền Thông Phi Chính Thống:

Những Lập Luận Ngu Xuẩn Của Kẻ Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng  09-6-2008

Thùng Nước Đá và Blog  14-7-2013

Mạng Xã Hội   14-8-2013

Quyền Lực Thứ Sáu  13-8-2014

Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Sự Thất Bại Của Yahoo!   28-7-2016

Lao Xao Láo Xạo  04-8-2016

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

30-12-2016

Dân Chủ” là từ ngữ của người Việt Thế Kỷ XIX có lẽ nhại theo tiếng Tàu, do người Tàu cố gắng diễn nghĩa – không phải tìm từ có nghĩa tương đương – từ chữ Democracy trong tiếng Âu Mỹ, dựa vào sự hân hoan mừng rỡ của dân Âu Mỹ khi họ là “dân đen” nhưng được đích thân đi bỏ phiếu bầu lãnh đạo thay vì lãnh đạo tự nhiên lên ngồi trên đầu mình có quyền chém đầu mình nhưng toàn hoặc (a) do y tự làm loạn, hoặc (b) do y tự rước voi về dày mã tổ để được lên ngôi chẳng khác nào bản thân để đầu mình dưới mông to con voi bự còn bản thân đặt mông lên đầu con voi nhỏ mà mình gọi là dân tộc, hoặc (c) do y được “Thiên Triều” Tàu hay Pháp hay Mỹ chọn từ đám tay sai “phong Vương”, hoặc (d) do y automatically tự động lên ngôi vì được vua cha truyền ngọc tỷ.

“Thiên triều” Tàu tự dưng làm phước bỏ công sức đánh cho Việt tan nát cả ngàn năm để dạy cho Việt biết “tau là chủ” (đọc trại đi thành “Tàu là chủ”) còn “nị là dân“.

“Thiên triều” Pháp tự dưng từ bi bỏ công sức vừa đánh vừa nhét thuốc phiện vào mồm Việt tan nát cả trăm năm để dạy cho Việt biết một sự thật huy hoàng lạ thường là Pháp Lang Sa có thể chế gọi là “cộng hòa dân chủ” vi diệu mà nhờ nó Pháp có sức mạnh xâm chiếm tàn sát tàn phá tàn diệt biết bao Nhà Nước Bảo Hoàng tức quân chủ phong kiến phi dân chủ trong đó có Việt.

“Thiên triều” Mỹ thấy Việt dám lếu láo học đòi Pháp lập thành “dân chủ cộng hòa” bèn bỏ công sức dạy cho Miền Nam tập trung duy chỉ vào “cộng hòa” và “thế giới tự do” thôi để đánh cho sập “dân chủ” Miền Bắc, nhờ vậy mà hầu hết các nhân sĩ trí thức Miền Nam ghét “dân chủ” chỉ thích “tự do”, còn lẻ tẻ vài vị nào ưa  “dân chủ” thì cứ việc vào bưng biền và hễ bị “cộng hòa” tóm được thì bị “cộng hòa” nhét đầu họ vô máy chém một cách “tự do”.

Đến khi Miền Bắc cộng sản đánh cho cộng hòa Mỹ bỏ của chạy lấy người và xóa luôn cộng hòa Việt khỏi bản đồ Atlas, phe thua trận bắt đầu gỡ gạc bằng một cuộc chiến tranh giành giật ngôn từ.

Thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo rằng cộng sản làm quái gì có dân chủ, vì dân chủ là tài sản của tự do mờ!.

Từ đó suy ra: thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo cộng sản không có tự do, chớ có dân chủ, mà chỉ có nô dịch dân tộc để làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, nên nhờ Liên Xô với Trung Quốc xía vô thành “hai đánh một chẳng chột cũng què” khiến Mỹ tạm thời rút lui chiến lược chớ làm quái gì có cái gọi là “chiến thắng” của dân chủ Bắc Việt, nghĩa là chẳng qua bố mẹ Mỹ của Nam Việt từ bi không ném bom nguyên tử tiêu diệt Bắc Việt đó thôi. Tất nhiên, họ không ngu mà tự đặt câu hỏi rằng tại sao cái tự do dân chủ mà họ tuyên bố chủ quyền nhờ đó mà xâm chiếm thuộc địa vơ vét tài nguyên về trở thành siêu cường quốc lại bị Việt nhà quê phản tự do phản dân chủ đánh cho tan nát làm sụp toàn bộ các đế quốc thực dân trên toàn thế giới, đên độ đế quốc thực dân Anh phải vội vàng lập nên Khối Liên Hiệp Anh của các quốc gia “độc lập” theo thể chế cộng hòa tự do nhờ đó hết hồn hết vía thoát khỏi nạn mất sạch sành sanh các thuộc địa. Còn nếu bảo tại có Liên Xô với Trung Quốc, thì lẽ nào phe “thế giới tự do” hùng hậu tập trung vào Nam Việt để rồi thua Liên Xô và Trung Quốc ngay cả khi hai anh khổng lồ này chẳng hề cử đại binh đến Bắc Việt.

Và khi Việt tuyên bố quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì họ lồng lộn rằng thì là mà cộng hòa có đội chung trời với xã hội chủ nghĩa bao giờ đâu mà dám bạy trò bày vẽ bày biện gán ghép linh tinh!

Còn khi Việt tuyên bố tiến hành sửa Hiến Pháp thì họ đột nhiên chứng tỏ họ yêu “dân chủ”, kêu gào đòi Việt hãy lấy quốc hiệu như cũ, bất kể cái quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũ kỹ ấy chính là quốc hiệu duy nhất của nhân loại đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào 30-4-1975.

Tất nhiên, bài này không cần phải giải thích thêm rằng

(a) dân chủ là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng, và là thuộc từ riêng của “phe xã hội chủ nghĩa” tức “phe thân cộng” nghĩa là “phe” cộng sản đa số có chữ “dân chủ” trong quốc hiệu để dễ nhận diện với nhau,

(b) chủ nghĩa xã hội socialism đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước trọng dân hiện đại” Âu Mỹ tương tự như một thứ “tân chủ nghĩa dân túy hiện thực” mà các chính khách Âu Mỹ hiện nay hay tự nhận mình là socialist trong các luận điểm dân túy trên chính trường,

(c) chưa bao giờ có “chủ nghĩa tự do” mà “tự do” cũng không là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng hay là thuộc từ riêng của “phe thế giới tự do” tức “phe chống cộng” cả – nghĩa là phe “thế giới tự do” không nước nào ngu đần đến mức xài chữ “tự do” trong quốc hiệu của họ vì họ bản chất là độc tài rất kiêng sợ dân chúng họ tự do,

(d) mà như thế thì chủ nghĩa xã hội vừa có sẵn nội hàm dân chủ vừa mang tính thời đại thời thượng tốt đẹp nên Việt chẳng dại gì từ bỏ danh xưng mà Mỹ thòm thèm song sĩ diện ngó lơ,

(e) mà như thế thì Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam vừa có tự do (trong chữ Cộng Hòa) vừa có dân chủ (trong chữ Xã Hội Chủ Nghĩa) nên có uy thế thượng phong đối với cả hai phe như thực tế chính trường thế giới đang minh chứng.

Tặc Chủ” là từ ngữ do một người Việt Thế Kỷ XXI tạo nên dựa vào nền dân chủ Hoa Kỳ.

Mọi sự liên quan đến nền dân chủ Hoa Kỳ đều trông có vẻ ổn suốt mấy trăm năm qua cho đến khi quý ông thanh lịch Donald Trump thắng cử Tổng Thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016. Khắp nơi thóa mạ Donald Trump. Khắp nơi “biểu tình” chống Donald Trump. Khắp nơi nhao nhao lên án thể chế gián tiếp thông qua “đại cử tri”. Khắp nơi ồn ào về tầm vóc quan trọng của “phiếu phổ thông của người dân”. Khắp nơi ào ạt kích động ly khai đòi tách khỏi USA để lập quốc. Khắp nơi khuấy động việc bỏ USA sang nước khác. Và khắp nơi hý hửng trước tiến trình đòi kiểm lại phiếu bầu cử. Tất cả chứng minh:

1) Mỹ chưa bao giờ có dân chủ và democracy có ý nghĩa hoàn  toàn khác với từ điển của nhân loại mà ngay cả Mỹ thường tận dụng ý nghĩa từ điển để tấn công kẻ thù.

2) Dân chủ Democracy tại Mỹ có nghĩa là: người dân có quyền làm chủ về chính trị bằng cách bỏ phiếu bầu cho một trong hai ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa hoặc Đảng Dân Chủ với mặc định rằng hai ứng cử viên đó đều là chính khách chuyên nghiệp xuất thân ngành Luật và đang “làm chính trị” tức làm nghị sĩ hoặc “tổng thống cấp tiểu bang “ tức thống đốc.

3) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy của Phương Tây, và do đó hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy tức nền dân chủ đặc thù của từng quốc gia đặc thù trong đó có Việt Nam.

4) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn phản dân chủ trên thang bậc ngữ nghĩa dân chủ đại đồng.

5) Như vậy khi Mỹ đem nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy làm “nền dân chủ chung” để chống lại các quốc gia nào không theo cái “chung” đó, thì đột nhiên kể từ 11-2016 Mỹ mặc nhiên thừa nhận nền dân chủ Mỹ hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy (vì hệ thống quốc gia “Tây Phương” không ai dân chủ một cách “ấn định” độc tài dữ dội như Mỹ) và cũng hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy (vì Mỹ chống mọi quốc gia này trong đó có Việt Nam).

6) Như vậy, nền dân chủ Hoa Kỳ luôn bình ổn, bất kỳ ai trong hai ứng cử viên trở thành tổng thống cũng được vì Cộng Hòa và Dân Chủ là đảng “song sinh” tức twin party, nghĩa là theo thỏa thuận rằng tổng thống sau không được đổi thay chính sách hay cam kết của tổng thống trước đó để không đe dọa quyền lợi của giới đại tư bản, mà sự thay đổi chỉ được phép tiến hành nếu đương kim tổng thống gây ra sự cố như trong trường hợp các tổng thống liên tục thất bại không tiêu diệt được Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì tổng thống sau phải tuyên bố rút quân Mỹ khỏi Việt Nam và vất bỏ Việt Nam Cộng Hòa vào sọt rác lịch sử.

7) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ bị đe dọa trước sự mất ngôi tổng thống vào tay kẻ ngoại đạo như Donald Trump, bọn chính trị gia thậm chí dám nghi ngờ tính hiệu quả của mô thức đại cử tri, dám phát ngôn xem trọng cái phiếu phổ thông của nhân dân trong khi chính Hiến Pháp Mỹ và chính bọn chúng chưa hề xem trọng phiếu phổ thông ấy nhiều trăm năm qua, đang ra sức làm tổn hại đến uy danh của tân tổng thống Donald Trump bằng cách lịnh cho Barack Obama nhanh chóng phá thối bằng cách cho ra những quyết định gây hấn với Israel và Nga, v.v., nhằm đặt Donald Trump vào sự đã rồi, và biết đâu sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của Donald Trump chỉ vì người dân dám dồn phiếu cho người mà Đảng Cộng Hòa sở dĩ phải chọn làm ứng cử viên vì (a) Đảng không còn ai khác, (b) đương nhiên tổng thống sẽ là Hillary Clinton đúng theo kế hoạch, và (c) Donald Trump sẽ trở thành một tên hề giúp minh chứng rằng nhân dân Mỹ chỉ tin cậy các chính trị gia tinh hoa chuyên nghiệp mà thôi.

8) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ không giống ai và không ai giống, sẽ không bất kỳ ai ở Mỹ có quyền nói về các phạm trù kỳ vĩ như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền của bất kỳ nước nào khác – ngay cả xứ sở Triều Tiên.

Do tất cả 8 lý do trên, nền dân chủ Hoa Kỳ mang tính cách và bản chất của một lề luật đảng cướp: tất cả phải là của “ta”, “ta” tức là thành phần chính khách tinh hoa của Dân Chủ hay Cộng Hòa, và nhân dân chỉ có quyền làm chủ đất nước khi theo lịnh “ta” trao lá phiếu bầu cho “ta” và chỉ cho “ta”..

Vì tính cách và bản chất đảng cướp trên, nền dân chủ Mỹ là nền dân chủ đạo tặc.

Người dân Mỹ không làm chủ nhân đất nước Hoa Kỳ. Chỉ có bọn đạo tặc đã và đang làm chủ của cái nền dân chủ ấy.

Vì vậy, Mỹ chỉ có nền tặc chủ.

Tiếng Mỹ của nền tặc chủ là Demopiracy.

Còn Democracy Mỹ như họ thường rêu rao hoặc lầm tưởng là lý tưởng kiểu mẫu cho toàn nhân loại thì họ đã tự lột mặt nạ Democracy trước Donald Trump và ném vào trong vật dụng tiện ích dưới gầm bàn này:

demopiracy

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Ghi chú/Note:

Demopiracy do tác giả bài viết này tạo nên. Không áp dụng tác quyền.

The coinage of Demopiracy is by the author of this article and for absolutely free use worldwide.

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People November 14, 2016

Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền March 11, 2016

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014

Chính Trị January 14, 2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối

Tự Do Ngôn Luận

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-12-2016

tu-do-ngon-luan-2

A) Nhập Đề

1- Định Luật: Có một định luật cho “tự do ngôn luận” và “tự do báo chí”. Vấn nạn là cái sự thật quan trọng bậc nhất như hơi thở của định luật lại luôn bị những người còn thở vô tư không hiểu, cố tình không hiểu, sơ ý lãng quên, hoặc chưa hề bận tâm kiếm tìm chân lý bất kỳ dù chân lý hiển hiện ngay trước mắt với một cái click chuột giản đơn chứ không cần phải vầy đoàn bốn-con-người-một-con-thú qua Tây Trúc.

Định&Luật dùng theo nghĩa từ vựng của tác giả bài này là Quy Định và Pháp Luật của tất cả các siêu cường tư bản văn hóa văn minh đối với báo chí tức truyền thông. Không bất kỳ ai trong nhân loại văn minh tiến bộ lại không được dạy cho hiểu biết  các nội dung mang tính định&luật được nêu trong này viết này.

2- Giáo Khoa và Khoa Giáo: Nhân thấy thiên hạ có dăm ba người tuy hiểu biết khối chuyện kinh thiên động địa kiểu trên tõ thiên văn dưới tường địa lý, biết run sợ trước thế lực chủ soái quyết định của khoa giáo trung ương, nhưng xem thường giáo khoa trung cấp nhất là của các bộ môn chữ nghĩa, mà không biết rằng giáo khoa trung cấp dạy làm bánh để thế gian có các đại đế chế bánh để Việt Nam bỏ tỷ đô ra mua thương quyền về…mở tiệm, dạy làm tình nhằm giúp công dân hưởng lạc thú dục tình …né bịnh nhiễm truyền, dạy làm ăn để Donald Trump có con ruột con dâu con rể đều là đại gia đại trí đại tài phát triển nghiệp cơ, còn dạy làm chính trị để có đội ngũ chuyên nghiệp phò tá Donald Trump lên làm Tổng Thống;

3- Trẻ Trẻ Trẻ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích tầm thường hóa tiếng Việt, cứ nghe Tuổi Trẻ là tự tiện giải thành Trẻ Tuổi, cứ nghe Trẻ Tuổi thì tự nhiên chú thành mười tám đôi mươi, đến độ ngay cả cán bộ cấp cao trong Ban Chỉ Đạo nọ dưới một người trên cả vạn người cũng vì hiểu lầm chủ trương Trẻ Hóa của Đảng nên thay vì chọn người già trẻ trung hoặc người trẻ già dặn – như đã phân tích trong bài Luận Về Định Tính & Định Lượng Tuổi Trẻ – đã chọn một người Trẻ Tuổi Bảy Không tức Thất Vô tức (a) vô bằng cấp “chuyên môn”, (b) vô tuổi nghề nghiệp vụ, (c) vô kinh nghiệm trãi từng, (d) vô thang bậc từng trãi, (e) vô phép tắc trước sau, (f) vô liêm sĩ trước hàng hàng lớp lớp đại anh hùng hào kiệt Lạc Hồng dù già trẻ trung hoặc trẻ già dặn, và (g) vô chính đạo để ào vô luôn làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế;

4- Dân Chủ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích đơn giản hóa tiếng Việt, cứ nghe Dân Chủ là tự tiện nghĩ ngay đến việc ta đây là dân nên là chủ, thậm chí có đấng nghị sĩ luật sư ở đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát huy quyền làm chủ đòi Quốc Hội phải ra Luật Biểu Tình trả nợ cho dân (tức chủ) và đòi Thủ Tướng phải báo cáo đầy đủ với chủ (tức dân) chi tiết kế sách chống Tàu mới đúng là dân chủ;

5- Tự Do: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích trầm trọng hóa tiếng Việt, cứ nghe Tự Do là tự do nghĩ ngay đến chuyện tự do muốn làm gì thì làm, tự do muốn làm bánh hình phân chó sản xuất đại trà xuất khẩu thì cứ làm, tự do muốn làm tình với bất kỳ ai già trẻ lớn bé nam phụ lão ấu bất chấp luật pháp luật đời thì cứ làm, tự do muốn làm ăn buôn lậu buôn gái buôn dâm gì thì cứ làm, và tự do muốn làm chính trị thì cứ làm, thậm chí còn bảo phải có tự do báo chí tuyệt đối, tiến sang tự do tuyệt đối trong làm bánh/làm tình/làm ăn/làm chính trị;

6- Tự Do Ngôn Luận: Lại thấy thiên hạ chưa phận biệt được các thứ (versions) các thứ (subclasses) và các thứ (types) của “tự do ngôn luận”; không biết rằng

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền được theo Luật Lao Động với cơ man nào là lương tiền/bỗng lộc/phúc lợi/chia lời/ngày phép/hộ sản/đình công/team-building workshop/du lịch công đoàn nội địa hay hải ngoại, chứ người chiến sĩ lực lượng  vũ trang không bao giờ được phép có cái quyền đó, vì quân đội luôn là công cụ của chế độ; và

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền tự do ngôn luận, chứ báo chí không bao giờ được phép có cái quyền đó, nhất là báo chí chính thống luôn là công cụ của chế độ;

7- Vô Đề: Tác giả bài viết này là kẻ tiện dân bỉ nhân họ Lăng tên Tần sợ nói tiếng Anh thì không được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho rằng giỏi bằng vị chuẩn tiến sĩ (sắp-có-bằng-tiến-sĩ) Vụ Phó Vụ Kinh Tế, mà sợ nói tiếng Việt cũng không xong do tiếng Việt vẫn còn nhiều điểm chưa rõ bởi đa số, chưa thông bởi số đông, nên khiếp sợ khép nép tấu trình các “kiến thức” sau đây lên không gian mạng như thùng nước trà đá ven đường:

B) Thân Bài

1- Nguyên Tắc Chế Định 1: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều phải tuyệt đối phục vụ duy chỉ chế độ chính trị của nước mình, không bao gờ được phép xúc xiểm Hiến Pháp nước mình, chế độ nước mình, và chính sách nội trị của chính phủ nước mình.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức công kích Hiến Pháp của nước họ, công kích thể chế chính trị của nước họ, công kích chính sách nội trị của chính phủ nước họ.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất quốc gia, quan trọng nhất quốc gia, mà in bất kỳ bài viết nào mỵ dân bằng cách phê bình hay phê phán quyết sách bất kỳ của chính phủ nước mình, đưa ra cái được trang điểm với dòng chữ “góp ý nhằm làm hoàn thiện thể chế nước mình”, thì dứt khoát đó là thứ báo lá cải, bá láp, mạo danh chính thống, là “chính thống nô dịch” chứ không bao giờ thuộc đẳng cấp “chính thống chủ nhân” của các nước Âu Mỹ.

Đơn giản vì: nếu là “đóng góp” thì cái gọi là “báo chí thượng đẳng” phải có lực lượng trí tuệ để hình thành hồ sơ nghiên cứu gởi trực tiếp cho đầu não Trung Ương Đảng, chứ không theo cách của “báo chí hạ đẳng” mè nheo rỉ rên chuyện quốc gia với dòng kết vô duyên hèn hạ của “trách nhiệm này thuộc về ai” chỉ để độc giả đọc để rồi vừa không đi đâu đến đâu vừa gây rối loạn dân tâm vừa tự lột trần báo chí thành thế lực bất tài vô dụng.

2- Nguyên Tắc Chế Định 2: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ chính sách đối ngoại của chính phủ nước họ bằng cách tự do tuyệt đối tấn công Hiến Pháp nước khác, tự do tuyệt đối tấn công thể chế chính trị nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chế độ nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chính sách nội trị của chính phủ nước khác, và tự do tuyệt đối tấn công chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức ngợi ca Hiến Pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình. Mà ngay cả cái nước khác ấy có cùng phe “liên minh” với chính phủ nước mình thì mình cũng phải tấn công để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là quả thật đã có “tự do ngôn luận” tại nước mình mà đối với Âu Mỹ có nghĩa là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất, quan trọng nhất, mà chẳng có bài viết nào tấn công hiến pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình thì dứt khoát đó là báo chí chính thống giả mạo giả danh giả trá. Tấn công cũng phải nhằm luôn vào các nước khác nào cùng phe với chính phủ nước mình để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là đã thực sự có “tự do ngôn luận” tại nước mình, phù hợp tuyệt đối với báo chí chính thống Âu Mỹ vì tự do báo chí chỉ có nghĩa duy nhất là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

3- Nguyên Tắc Chế Định 3: Tất cả các cái gọi là truyền thông tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ khách hàng dâm dật, phục vụ khách hàng ưa ăn lá cải thích ngắm lá đa.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai đưa ra được cái tên của bất kỳ quốc gia nào trong khối “các nền dân chủ tự do” theo khuôn mẫu khuôn đúc khuôn phép Âu Mỹ không có loại “tự do tuyệt đối” này, kể cả mấy nước Á Đông và Đông Á như Nhật, Thái, Hàn, Ấn đều có bày bán công khai dẫy đầy trên các sạp báo vệ đường.

b) Việt Nam: Do Việt Nam chỉ có “truyền thông chính thống” chứ không có “truyền thông” nên trên các sạp báo không có các ấn phẩm sách in chính quy có dán tem bản quyền hay băng dĩa chính thức có dán tem chống giả mà nội dung là tin/ảnh/phim kích dục mà chiêu bài luôn là tôn vinh “cái đẹp” của thân thể con người mà Chúa đã tạo nên phù hợp với rất nhiều người thích lột truồng các tác phẩm của Chúa để cảm thụ “cái đẹp”, giáo dục giới tính, giáo dục hưởng thụ tình dục vì hạnh phúc con người, giải trí dành cho người yêu mỹ thuật nào không dưới 18 tuổi, phát triển văn hóa “hội nhập toàn cầu”, khuyến khích nhân dân xem hàng ở truồng nội địa độc không hề thua hàng ở truồng ngoại để không chảy máu ngoại tệ, và tự do ngôn luận, tự do báo chí.

C) Các Kết Luận:

1- Tự Do Ngôn Luận Đểu:

Như đã được minh chứng từ các nước tư bản Âu Mỹ có nghĩa là mỗi cá nhân công dân một nước được tự do nói/viết/vẽ hý họa:

a) chống bất kỳ ai, bao gồm cá nhân lãnh đạo/cá nhân người nổi tiếng nước mình hay nước người;

b) chống thể chế/chính sách/luật pháp chỉ của nước người;

c) phục vụ chính sách đối ngoại của nước mình đối với nước người không thuộc liên minh với nước mình – bằng mọi giá và mọi cách, kể cả cách ngụy tạo thông tin; và

d) phủ nhận tự do ngôn luận của người khác nếu khác với ý mình.

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà toàn bộ báo chí chính thống Mỹ đồng loạt đưa tin “chính xác” kèm hình ảnh chứng minh “chính xác” Cộng Sản Bắc Việt đã tấn công khu trục hạm USS Maddox ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, ngày 02-8-1964, buộc Mỹ phải vì ấm ức tự vệ mà đưa đại quân ồ ạt đỗ bộ vào Đà Nẳng ngày 08-3-1965.

tu-do-ngon-luan

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà vài tên đại sứ cùng tùy viên đại sứ quán của chúng lớn tiếng đòi Chính phủ Việt Nam phải thả những ai và phải bỏ điều luật 258 của Việt Nam, còn bọn ngố ngồ ngộ ngỗ NGO thì liên tục sủa tru tréo về nhân quyền ở Việt Nam.

Tóm lại, Tự Do Ngôn Luận của Âu Mỹ là Tự Do Ngôn Luận Đểu.

2) Việt Nam Là Nước Nhược Tiểu:

Nước nhược tiểu là quốc gia vừa không hiểu gì về Tự Do Ngôn Luận, vừa nghèo khổ lạc hậu, vừa học đòi dân túy bằng cách dùng những khái niệm không một quốc gia tư bản hùng mạnh nào áp dụng để ve vuốt truyền thông, trao quyền lực mà ngay cả truyền thông Mỹ cũng không bao giờ có: ban đẳng cấp ngang-hàng-công-an cho truyền thông để bắt công an quỳ mọp thờ lạy cung phụng truyền thông, biến truyền thông thành Loạn Kiêu Báo, mở đường cho truyền thông chính thống chõi lại Hiến Pháp Việt Nam, chõi lại luật pháp Việt Nam, chõi lại thể chế chính trị Việt Nam, chõi lại chính sách nội trị của chính phủ Việt Nam, trở thành biểu tượng của cái thứ Tự Do Ngôn Luận hạ đẳng không hề được các cường quốc Âu Mỹ áp dụng, đồng thời ngậm tăm không dám công kích quốc gia nào khác theo phong cách thượng đẳng mà truyền thông Âu Mỹ muôn đời áp dụng.

3) Ham Học Và Hiếu Học:

Việt Nam hay tự khoe về tinh thần ham học và hiếu học của người dân, mà không nhận biết rằng sự ham học của người dân chấm dứt ngay sau khi có được một tấm bằng thạc sĩ/tiến sĩ đủ để kiếm chức kiếm ăn.

Kẻ đi xin việc thì khoe mình có tinh thần ham học hỏi, mà không biết rằng điều đó tương tự như lời thú nhận mình bất tài vô dụng không có gì trỗi vượt để nơi tuyển dụng có thể học hỏi gì từ mình để phát triển.

Người thuộc giới ca nhạc thì nói nhà nước nếu muốn họ có tác phẩm hay thì phải đài thọ cho họ đi học ở các nhạc viện Hoa Kỳ mà không biết mình thuộc giới xướng ca đại loại không bao giờ tối cần thiết. Quân đội tối cần thiết vì không thể có việc quân đội nước khác đến bảo vệ nước mình (như quân đội Mỹ đến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa), nhưng ca sĩ toàn cầu có thể giúp người Việt giải trí chất lượng cao hơn mà không cần sang Việt Nam.

Kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha thì nói sẵn sàng làm cho Vụ Kinh Tế của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Trung Tâm Xúc Tiên Thương Mại Đầu Tư Cần Thơ thất bại để bản thân mình có thể học hỏi từ những thất bại mà hậu quả của nó do nhân dân gánh chịu và ngân sách quốc gia hứng chịu.

Kẻ trẻ tuổi không thuộc giới ô dù con ông cháu cha không thể đi tắt Vụ Kinh Tế thì đi tắt vụ dân chủ nhân quyền lương tâm thay vì cắm đầu học tập cực chăm làm việc chất lượng cực cao trí tuệ cực cao hiệu quả cực cao để đích thân dìm đầu kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha.

Kẻ có quyền thế trong Ban Chỉ Đạo thì chỉ đánh giá cao người ham học và hiếu học chứ không coi trọng người-đã-học-rồi, người-đã-làm-rồi, người-ham-dạy, người hiếu-dạy, và người-dạy-người-hiếu-học, nên mới bổ nhiệm một gã không bằng cấp (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) và không kinh nghiệm (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) chỉ vì y chứng minh hùng hồn rằng y ham học đến độ học một lèo kiểu Việt chứ không học-hành-học thêm-hành thêm-học nửa-hành nửa kiểu Mỹ. Thậm chí đánh giá cao người nào vừa ham học và hiếu học vừa là con cháu của các đại quan, cứ như thể con cháu đại quan thì mặc định là ngu dốt nên phải ưu tiên ưu ái một gương sáng quý hiếm để động viên số đông lúc nhúc con cháu đại quan khác.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong xác định (a) phải bảo đảm tự do ngôn luận của mỗi cá nhân công dân; (b) cấm cá nhân công dân đem tự do ngôn luận cá nhân tác động vào các cá nhân khác để hình thành “ngôn luận tập thể” chống lại xã hội, chống lại chính phủ, chống lại thể chế; và (c) cấm báo chí chính thống tức danh phận tập thể lại dành danh phận cá nhân công dân để có tự do ngôn luận.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong mãi mãi

Tuyệt đối quản trị báo chí chính thống bằng bàn tay sắt bọc thép gai.

The mainstream mass media must be gently handled with an iron fist in a stainless-steel glove of peacefully green bamboo pikes.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông November 16, 2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bậc Vĩ Nhân Đã Đấm Vào Mặt Hoa Kỳ Ngay Tại Liên Hợp Quốc

Tiến Sĩ Fidel Castro: Chất Thử Của Bất Tài Và Bần Tiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-11-2016

fidel2fidel1

A- Vấn Nạn Truyền Thông

Fidel Alejandro Castro Ruz là nạn nhân của vấn nạn truyền thông.

Báo chí Âu Mỹ luôn miêu tả một chiều về ông như một “nhà độc tài”. Danh từ “nhà độc tài” là thứ ngôn từ thuộc độc quyền sở hữu của truyền thông Âu Mỹ.

1) Ý Nghĩa Thứ Nhất Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những…“nhà độc tài” mà thiên hạ trên thế giới đã tự động gọi sẵn như thế trước đó, chẳng hạn “nhà độc tài” Adolf Hitler của Đức Quốc Xã, “nhà độc tài” Benito Mussolini của Phát xít Ý, hay “nhà độc tài” Francisco Franco của Tây Ban Nha, và “nhà độc tài” Fulgencio Batista của Cuba mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: tàn bạo.

2) Ý Nghĩa Thứ Hai Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những nhà lãnh đạo nào không thuộc khối “Thế Giới Tự Do”, từ đó có các “nhà độc tài” mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này là … không theo thể chế dân chủ Âu Mỹ và chẳng tôn trọng tư tưởng Âu Mỹ dành cho nhân quyền. Thế là các lãnh đạo các quốc gia “phe” cộng sản bị gọi là “nhà độc tài”. Còn các “nhà độc tài” chính hiệu, hàng hiệu, có cầu chứng tại tòa thương mại thương hiệu thương quyền quốc tế đàng hoàng, có tàn bạo khát máu y như các đấng của Ý Nghĩa Thứ Nhất, nhưng thuộc phe Thế Giới Tự Do thì truyền thông tẩy xóa mất tiêu mất biệt mất tích cái cụm từ “nhà độc tài”, thí dụ như Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, Park Chung Hee của Đại Hàn Dân Quốc, Suharto của Indonesia, Lý Quang Diệu của Singapore, và Ferdinand Marcos của Philippines, cùng các vị khác ở Trung Đông, v.v. Oái oăm ở chỗ truyền thông gọi Fulgencio Batista của Cuba là “nhà độc tài” trong Ý Nghĩa Thứ Nhất nhưng khi Fidel Castro đánh đuổi Fulgencio Batista ra khỏi Cuba thì truyền thông lập tức gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” theo Ý Nghĩa Thứ Hai, khiến kẻ đem Cuba làm tôi mọi cho Mỹ và người giải phóng Cuba khỏi sự tôi mọi ấy đều là “nhà độc tài” cả.

Dần dà, thấy đàn em trong giới truyền thông tiểu quốc lạm dụng chữ “độc tài” để gọi lung tung, thí dụ như Cu Kiều gọi cá nhân Tiến Sĩ Fidel Castro là “nhà độc tài” (dictator), còn Việt Kiều thì gọi cả đất nước Việt Nam là “độc tài Đảng trị” khiến truyền thông Âu Mỹ khó chịu khó ăn khó nói với Việt Nam là xứ sở mà họ rất kiêng sợ kiêng dè kiêng kỵ nên họ – mà cụ thể như tờ Telegraph của Anh Quốc – gọi Fidel Castro là “tên bạo chúa” (tyrant), với hy vọng Cu Kiều sẽ gọi y như vậy, còn Việt Kiều có khi sẽ chế ra từ mới chẳng hạn như “bạo chúa Đảng” chăng.

3) Vấn Nạn: Như vậy, ở Việt Nam các sĩ phu “nhà giáo Hán-nho” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương nên chỉ thèm đi du học (Phong trào Đông Du), không thèm đi lao động lao lung lao nhọc lao khổ làm thợ thuyền “tìm đường cứu nước”, ra mặt oán giận Ông Hồ khi thấy Ông Hồ cũng là Sĩ “nhà giáo Hán-nho” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông. Đến khi mấy ông không thuộc Sĩ-Nông-Công-Thương mà là quân nhân như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu độc tài độc quyền nắm quyền trị quốc thì mấy Sĩ nhà ta ở Việt Nam Cộng Hòa mới hoặc nín thinh hoặc hình thành các nhóm “nhân sĩ dân biểu đối lập” chống Nguyễn Văn Thiệu, thậm chí chống luôn cả Mỹ vì oán giận Mỹ không xem trọng Sĩ.

Như vậy, ở Âu Mỹ các sĩ phu “luật sư” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương và các Sĩ khác, nên ra mặt oán giận Ông Castro khi thấy Ông Castro là Sĩ  “luật sư” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông.

Hậu quả là truyền thông Âu Mỹ của tự do dân chủ nhân quyền văn minh đã luôn dùng các từ ngữ miệt thị dành cho Fidel Castro.

Còn truyền thông Việt thì lúc Fidel Castro về cõi vĩnh hằng tải đăng rất nhiều bài về những gì tốt đẹp mà Fidel Castro đã dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, tầm vóc kỳ vĩ của con người vĩ đại ấy đối với toàn nhân loại trên bình diện thế giới sử, uy thế, uy tín, uy lực, và thần uy, lại chưa hề được nói đến, trở thành lý do cho bài nghiên cứu này về ông được hình thành.

B- Quả Đấm Của Tiến Sĩ Fidel Castro

fidel3

Trong phiên họp ngày 26-9-1960 tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, Fidel Castro đã lập kỷ lục với bài phát biểu ứng khẩu dài nhất lịch sử Liên Hợp Quốc: 4 giờ 29 phút không ngưng nghỉ, được đánh giá như một bản anh hùng ca.

Fidel Castro nói về cuộc cách mạng ông tiến hành cách đó 20 tháng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Cuba là một thuộc địa của Mỹ nhưng Mỹ vẫn cho mình cái quyền thúc đẩy và thúc giục sự lật đỗ chính quyền cách mạng của Cuba. Castro cũng phản đối việc ông và đoàn đại biểu Cuba bị gây khó khăn, bị phân biệt đối xử và bị miệt thị tại New York kể cả bị đuổi ra khỏi tất cả các khách sạn không được cho thuê cư trú khi đến Mỹ họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, Fidel Castro tuyên bố rằng quan hệ của Cuba với Liên Xô là đúng đắn và là quyền tự do của Cuba, rằng chính phủ “đế quốc” Mỹ có thể sẽ xâm lược Cuba, và rằng Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy là “một thằng triệu phú thất học và đại ngu” (“an illiterate and ignorant millionaire”).

Fidel Castro đã không chống Mỹ bằng những bài báo, những tiểu luận, những tác phẩm hay truyền đơn.

Fidel Castro đã sử dụng diễn đàn chính thức của Liên Hợp Quốc trên đất Mỹ để vung nắm đấm vào mặt chủ nghĩa đế quốc Mỹ, vạch trần bộ mặt thật Mỹ, xưng tụng vai trò của Liên Xô, khẳng định chủ quyền cương thổ quốc gia Cuba, và cảnh báo với thế giới về nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

fidel4

Tiến Sĩ Fidel Castro đã đường đường chính chính vào tận hang ổ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ với tư cách lãnh đạo tối cao của Cuba, quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc từ ngày 24-10-1945, và đã trong nhiều lần đến dự họp với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đều sử dụng diễn đàn này để ra sức hùng biện miệt thị Hoa Kỳ suốt nửa thế kỷ qua.

Tiến Sĩ Fidel Castro cùng với Cuba đã chứng minh hai điều rõ ràng rằng (a) Mỹ đã thất bại trước Cuba trong hơn 50 năm, và (b) trong khi Cuba là quốc gia có chủ quyền thành viên Liên Hợp Quốc từ năm 1945 thì cũng từ năm 1945 đến tận ngày nay Mỹ vẫn không hề dám công nhận ngoại giao chính thức với Đài Loan mà Mỹ xem như đồng minh của mình khiến Đài Loan vẫn không thể nào trở thành quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc. Dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” để công khai chống lại một quốc gia bé nhỏ như Cuba suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Liên Xô – Nga, nhưng lại hèn hạ lén lút bắt tay với một “lãnh thổ” bé nhỏ như Đài Loan suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Trung Quốc mà Mỹ khiếp sợ: đó là tư cách của nước lớn Hoa Kỳ mà chỉ có Tiến Sĩ Fidel Castro mới là người duy nhất trên thế gian này kiên trì giáng bao nắm đấm dồn dập vào mặt Mỹ.

C- Lời Tiên Tri Của Tiến Sĩ Fidel Castro

Có thể người Việt Nam khi nói về sự việc không bao giờ xảy ra thường dùng thành ngữ “khi nào Mặt trời mọc ở Hướng Tây thì…”

Nhưng khi Fidel Castro từng tuyên bố năm 1973 rằng

fidel5

thì tuyên bố ấy lại không là sự ví von cho điều bất khả mà mang tính tiên tri với sự ứng nghiệm: Hoa Kỳ có Barack Obama là Tổng Thống người gốc Phi vào thời điểm cuối nhiệm kỳ đã có những bước tháo gỡ một số lịnh cấm vận chống Cuba và sang thăm Cuba tháng 3 năm 2016, đòng thời cũng trong năm 2016 này Đức Giáo Hoàng Francis là người nước Nam Mỹ Argentina đã sang thăm Cuba vào tháng 9

fidel6

Trong khi đó thì đối thủ đầu tiên và trực tiếp của Fidel Castro là Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy chỉ để lại một lời tuyên bố rằng

fidel7

cho dù tuyên bố ấy bị truyền thông Mỹ vội vàng dán nhãn phủ nhận tính xác thực với kiểu gán cho đó là một “thuyết âm mưu” bằng một lý luận rất trẻ con rằng nếu đó đích thị là lời Tổng Thống nói thì tại sao không báo nào của Mỹ dám đăng tin xác nhận sau đó cả. Việc duy nhất mà J.F. Kennedy đã làm để giúp đỡ người nông dân nghèo khổ Cuba là ra lịnh cho quan chức thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc ngay lập tức nhập khẩu cho ông 1.200 điếu xì-gà Cuba và khi hàng về đến nơi thì phải báo ông hay tin để ông ngay lập tức chìa ra lệnh cấm vận Cuba đã ký sẵn tháng 02-1962 với lý do nêu sẵn: Cuba đã không chịu chuyển dịch nền dân chủ và không cải thiện tình hình nhân quyền. Việc cấm vận Cuba khiến nước Mỹ thiệt hại mỗi năm gần 5 tỷ USD và người dân Mỹ mất 6.000 việc làm, mà tính đến 2013 thì Liên Hợp Quốc đã 22 năm liên tục ra Nghị quyết chống lại lịnh cấm vận Cuba của Mỹ mà cũng ngần ấy năm chỉ có hai nước chống lại nghị quyết ấy là Mỹ và Israel.

Lời phát biểu của Fidel Castro năm 26-9-1960 tại Liên Hợp Quốc về cuộc xâm lăng Cuba có thể có từ Mỹ, đã dẫn đến một sự thật là ngày 17-4-1961 Mỹ đã dùng các chiến hạm đưa 1.200 Cu Kiều lưu vong do Mỹ huấn luyện và trang bị vũ khí tận răng ào ạt đổ bộ vào Vịnh Con Lợn của Cuba. Tuy nhiên, “đại cuộc vùng lên của nhân dân Cuba hưởng ứng đoàn quân giải phóng lật đổ chế độ của tên độc tài khát máu Fidel Castro” đã không hề xảy ra như Mỹ mong đợi, quân đội ít quân số của Cuba đã phản công thần tốc loại hơn 100 quân giặc ra khỏi vòng chiến đấu và bắt cầm tù trên 1.000 tên, còn không quân bé nhỏ với vài ba chiến đấu cơ cổ-lổ-xỉ của Cuba tấn công đánh đắm tất cả các tàu hậu cần của quân xâm lược khiến ngay cả cái trò Con Heo đó cũng làm không nên cơm nên cháo gì sất. Và để được cho phép gởi các phi cơ dân sự DC6 bay sang Cuba nhận lại hơn 1.000 tù hàng binh Cu Kiều về Mỹ kịp đón Giáng Sinh 1962, Mỹ đã phải chấp nhận chuyển giao trước cho Cuba số lương thực chất lượng cao và thuốc men đặc hiệu trị giá 53 triệu USD.

Lời tiên tri của Fidel Castro đã đúng: 55 năm Mỹ cấm vận Cuba vẫn không làm Cuba sụp đổ.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ chỉ nhận được mỗi sự đồng tình của Israel đối với lịnh cấm vận ấy.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ buộc phải xét dến các bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ đã phải tìm đến Cuba với một Cuba như vốn là chứ không phải một Cuba lẽ ra phải là.

D- Phong Cách Đại Chủ Nhân Thế Giới

Nếu chỉ tính từ thời điểm Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy ký ban hành lịnh cấm vận Cuba cho đến tháng 11-2016 thì Fidel Castro đã ngạo nghễ sinh tồn vượt qua 638 cuộc ám sát “chính thức” của CIA Mỹ, ngắm nhìn thế sự bão tố xoay vần đổ ập lên đầu 96 vị nguyên thủ các cường quốc thân Mỹ – mà trong số các vị này nhiều người tái đắc cử từ 2 đến 5 nhiệm kỳ liên tiếp hoặc không liên tiếp – gồm 10 Tổng Thống Mỹ (John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama), 11 Thủ Tướng Anh (Harold Macmillan, Sir Alec Douglas-Home, Harold Wilson, Edward Heath, James Callaghan, Margaret Thatcher, John Major, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron, và Theresa May), 8 Thủ Tướng Đức (Konrad Adenauer, Ludwig Erhard, Kurt Georg Kiesinger, Willy Brandt, Helmut Schmidt, Helmut Kohl, Gerhard Schröder, và Angela Merkel), 9 Tổng Thống Pháp (Charles de Gaulle, Alain Poher, Georges Pompidou, Alain Poher, Valéry Giscard d’Estaing, François Mitterrand, Jacques Chirac, Nicolas Sarkozy, và François Hollande), 23 Thủ Tướng Ý (Fernando Tambroni, Fanfani, Giovanni Leone, Aldo Moro, Giovanni Leone, Mariano Rumor, Emilio Colombo, Giolio Andreotti, Francesco Cossiga, Amaldo Forrlani, Giovanni Spadolini, Giovanni Goria, Ciriaco De Mita, Giuliano Amato, Carlo Azeglio Ciampi, Silvio Berlusconi, Lamberto Dini, Romano Prodi, Massimo D’Alema, Giuliano Amato, Mario Monti, Enrico Letta, và Matteo Renzí), 11 Thủ Tướng Tây Ban Nha (Francisco Franco, Luis Carrero Blanco, Torcuato Fernández-Miranda, Carlos Arias Navarro, Fernando de Santiago, Adolfo Suárez, Leopoldo Calvo-Sotelo, Felipe González, José Maria Aznar, José Luis Rodriguez Zapatero, và Mariano Rajoy), 13 Thủ Tướng Israel (David Ben-Gurion, Levi Eshkol, Yigal Allon, Golda Meir, Yitzhak Rabin, Menachem Begin, Yitzhak Shamir, Shinon Peres, Yitzhak Shamir, Benjamin Netanyahu, Ehud Barak, Ariel Sharon, và Ehud Olmert), và 11 Thủ Tướng Canada (John G. Diefenbaker, Lester B. Pearson, Pierre Elliott Trudeau, Charles Joseph Clark, John Turner, Brian Mulroney, Kim Campbell, Jean Chrétien, Paul Martin, Stephen Harper, và Justin Trudeau).

Trừ Israel là quốc gia hèn hạ do là quốc gia duy nhất luôn bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc ủng hộ Mỹ duy trì cấm vận chống Cuba, các cường quốc Âu Mỹ khác dù nắm binh quyền trong khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO dưới ngọn cờ thống soái của Hoa Kỳ vẫn luôn bày tỏ sự tôn kính và thân tình với cá nhân lãnh tụ Fidel Castro, trong đó có Hoàng Đế Tây Ban Nha Juan Carlos, Thủ Tướng Tây Ban Nha Felipe González, các Tổng Thống Pháp François Mitterrand và François Hollande, v.v. và v.v.

Trong nhiều lần phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ở Hoa Kỳ, Fidel Castro luôn là nhà hùng biện kiệt xuất mà các ứng khẩu nảy lửa hùng hồn dài nhiều giờ của ông đã trở thành một thương hiệu nỗi bật và quen thuộc của riêng ông. Tuy nhiên, tại Kỳ họp Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ ở Liên Hợp Quốc, khi đăng đàn phát biểu ngày 06-9-2000, Fidel Castro đã để lại một ấn tượng khác cũng rất bất ngờ. Để ngăn chặn việc Fidel Castro có thể tái chiếm lĩnh khống chế diễn đàn, Liên Hợp Quốc quy định mỗi nguyên thủ quốc gia sẽ chỉ có 5 phút phát biểu và dàn đèn xanh-vàng-đỏ trên mặt bục phát biểu sẽ chớp đèn báo hiệu thời gian – tất nhiên đèn vàng là báo tin sắp hết thời gian và đèn đỏ nghĩa là micro đã bị ngắt điện. Vị nguyên thủ 74 tuổi của Cuba đã điềm nhiên tung một khăn tay trắng dày to bản phủ trùm lên dàn đèn khiến toàn hội trường bật cười ầm lên thú vị. Fidel Castro bắt đầu vung nắm đấm tuyên bố kết tội các nước giàu đã mỗi ngày kiếm chác hàng tỷ USD trên xương máu của các nước nghèo, và kết luận: “Sự hỗn loạn ngự trị thế giới của chúng ta. Những thứ luật pháp mù lòa cứ như thể đó là điều thiêng liêng khả dĩ sẽ đem đến những thứ thái bình, trật tự, thịnh vượng và an ninh mà hành tinh của chúng ta xiết bao cần có vậy”. Fidel Castro kết thúc bài phát biểu ứng khẩu hùng biện của mình, thu lại chiếc khăn tay, để lộ ra dàn đèn đang nhấp nháy ánh đèn vàng, rồi nghiêm nghị đường bệ rời bục diễn giả trong tiếng cười vang ngưỡng mộ và vỗ tay tán thưởng vang dội của các nguyên thủ thế giới trước tài hùng biện, sự lém lỉnh khôi hài, cung cách chủ nhân diễn đàn, và độ chính xác độc đáo về thời gian của Fidel Castro gói gọn trong 300 giây ấy, ở nơi hội trường rộng lớn mà các nhà báo ghi nhận rằng vốn lúc nào cũng yên ắng đầy ngáy ngủ trong tất cả các phiên họp đông người.

 fidel8

E- Chất Thử Của Bất Tài & Bần Tiện

fidel9

Dựa vào phân tích đã nêu ở đầu bài, có thể nói không bao giờ có thứ truyền thông chính thống nào ra hồn trên toàn thế giới, (a) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc Âu Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, (b) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, và (c) vì rằng truyền thông chính thống các nước còn lại hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ ngu xuẩn tập trung vừa công kích chính phủ nước mình vừa giúp tái rao truyền các sứ điệp của truyền thông chính thống và phi chính thống hay bất chính thống hoặc vô chính thống của các cường quốc ý-thức-hệ-giống-Mỹ và các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ. Tất cả dẫn đến một thực tế là: người khôn ngoan trí hóa cao không bao giờ tin tưởng vào bất kỳ thông tin nào của bất kỳ cơ quan truyền thông chính thống nào của nước mình hay nước khác, ngay cả nếu các cơ quan ấy có loan báo rằng Tổng Thống Mỹ là người có quốc tịch Mỹ.

Đối với con người được 52 nước trao tặng tổng cộng 79 huân chương và huy chương  như Fidel Castro, thi chỉ cần đọc xem cơ quan truyền thông chính thống nói gì về ông là đủ để nhận ra ngay nó có đặc tính BT4 tức bất tài-bần tiện-bạo tàn-bại thất hay không, vì rằng chỉ có quân rác rưởi bất tài vô hạnh mới xúc xiểm bậc đạo cao đức trọng như Fidel Castro.

Khi Fidel Castro qua đời, bọn Cu Kiều ở Miami hân hoan nhảy múa vui mừng rộn rịp

fidel10

mà hành động của bọn chúng chỉ giúp nhân loại nhìn rõ hơn về ba sự cố sau có liên quan đến sự điên cuồng, bạo tàn, và thất bại của bọn Cu Kiều lưu vong:

1)  Cubana 455

Theo nhà báo Tim Padgett của tạp chí Time thì bọn cực đoan Cu Kiều ở Miami là thuộc phe chế độ độc tài tàn bạo Batista do Mỹ hậu thuẫn nhưng đã bị Fidel Castro đánh bại, biến thành bọn điên cuồng chống lại Fidel (anti-Castro fanaticism) tích cực hưởng ứng các âm mưu sát hại các lãnh đạo Cuba, thần thánh hóa các tàn bạo của Batista cùng đám lưu vong, thậm chí điên cuồng đăng tin reo hò mừng rỡ trên báo chí Miami khi bọn khủng bố đã cho nổ bom thành công phi cơ dân sự Cuba số 455 ngày 06-10-1976 giết chết toàn bộ 73 hành khách và phi hành đoàn 5 người, khoe rằng đó là đòn giáng nặng nề quý giá vào mặt Fidel Castro. Trong số tử nạn có 24 vận động viên thiếu niên Olympic 1975 của Cuba đang hân hoan kiêu hãnh đeo sẵn các huy chương vàng để chờ đợi phút giây về đến Cuba trong cuộc đón tiếp đầy vinh diệu tại phi trường với sự có mặt của Chủ tịch Fidel Castro đang trông ngóng đợi chờ. Bản tin chính thống Mỹ-Ca cho biết máu của họ đã loang đến tận bờ biển Canada. Hai quả bom từ chất nổ C4 được chế tạo bỡi tên Cu Kiều Luis Posada Carilles do Mỹ bảo trợ và bảo vệ tại Miami, Bang Florida. Việc chúng khui champagne ăn mừng tại Miami khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

2) Rubio-Cruz

Các tên Cu Kiều ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016 thất bại Marco Rubio (Thượng Nghị Sĩ Bang Florida) và Ted Cruz (Thượng Nghị Sĩ Bang Texas) đều lên tiếng nguyền rủa Fidel Castro khi nghe tin ông qua đời. Chúng nhanh nhảu tuyên bố sẽ bắt tay với Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump để tư vấn cho ông này các biện pháp thích hợp để trừng phạt Cuba, lật ngược thế cờ của Barack Obama. Việc chúng hớn hở vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa trả lời phỏng vấn khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

3) Elian Gonzales

 fidel10a

Sự bất tài bần tiện bạo tàn của bọn Cu Kiều lưu vong còn được nhắc đến đối với Sự Cố Elian Gonzales. Mẹ của bé 6 tuổi Elian Gonzales là Elizabeth Brotons Rodriguez đã bồng con lên tàu cùng tình nhân và 12 người khác vượt biển sang Mỹ. Xuồng máy bị đắm do bão tố ngày 21-11-1999 và các ngư dân Mỹ chỉ cứu được Elian cùng hai người khác. Elian được giao cho thân nhân của mẹ đang sống tại Miami. Cộng đồng Cu Kiều làm dậy lên phong trào ngăn cản Mỹ trao trả Elian lại theo yêu cầu của cha ruột của Elian tại Cuba là Juan Miguel Gonzalez Quintana. Các luận điệu cho rằng chính Juan đã tổ chức cuộc vượt biên cho vợ con đi trước và mình sẽ đi sau, do đó không có lý do gì để trao trả Elian về Cuba, mặc cho Juan lên tiếng cáo buộc vợ mình đã tự ý đem theo con trai khi lẻn bỏ ra đi cùng tình nhân. Một luận điệu khác là Cuba không phải là quốc gia tự do dân chủ nên bé Elian cần ở lại Hoa Kỳ thay vì về Cuba rồi trở thành thằng nhóc cộng sản tay sai Fidel Castro (grow up as a little Communist puppet of Fidel Castro). Tuy nhiên, Fidel Castro đã một mặt hỗ trợ Juan đấu tranh pháp lý trong đòi lại con mình, một mặt đập tan luận điệu trên bằng cách (a) xác nhận sẽ chấp nhận phán quyết bất kỳ của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ và (b) yêu cầu Mỹ cho phép Juan sang Mỹ ở chung với con trong suốt thời gian chờ có phán quyết của tòa án Mỹ nghĩa là Fidel không hề có hành vi giam chân Juan ở Cuba. Tháng 6 năm 2000, Tòa Án Tối Cao Mỹ ra phán quyết bác yêu cầu của thân nhân Elian cùng cộng đồng Cu Kiều tại Miami, và lực lượng phản ứng nhanh SWAT đã đột kích tấn công vào nhà của các thân nhân này để khống chế giải thoát Elian đang bị nhốt giấu trong tủ áo, giao trả Elian về với Bố Juan trở lại Cuba ngày 28-6-2000

fidel11

khiến bùng phát bạo động chống đối của Cu Kiều tại Miami

fidel12

Để giữ thể diện, bọn Cu Kiều lưu vong còn yêu cầu Chính phủ Mỹ buộc Fidel Castro không được sử dụng Elian làm công cụ tuyên truyền cho “chiến thắng” của Fidel, và đã rêu rao bôi nhọ Fidel “bội tín” khi thấy cậu bé Elian thường xuyên xuất hiện vui vẻ cạnh Fidel tại các lễ lộc trọng đại của Cuba

fidel13fidel14

Thế nhưng, cậu bé Elian sau đó còn “đỏ” hơn, khi trở thành đoàn viên thanh niên Cộng sản Cuba

fidel15

tốt nghiệp Đại Học Matanzas năm 2015, trở thành kỹ sư cơ khí và có vị hôn thê là Ilianet Escano đã yêu nhau từ thời học chung ở bậc trung học

fidel16

Nhiều phát biểu nổi tiếng của Elian về Fidel Castro thường được báo chí nước ngoài nhắc đến như:

– Tôi không thú nhận là tôi theo tôn giáo nào cả; nhưng nếu có theo đạo nào thì Thượng Đế chính là Fidel Castro. Ông như một con tàu biết rõ mình đưa đội ngũ thuyền viên đi đúng hướng.

 fidel16a

Fidel Castro đối với tôi như một người cha vậy.

– Đây là điều ít nhất mà một người như tôi có thể làm, tức người đã thọ ơn nhân dân này và thọ ơn cách mạng, đó là học hành chăm chỉ, và còn hơn thế nửa là dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ nhân dân cùng cách mạng.

Khi Fidel Castro qua đời, Elian đã thổn thức: “Ông là Bố của tôi, giống như Bố tôi, tôi đã luôn muốn trình Ông mọi điều tôi đạt được, muốn Ông tự hào về tôi. Đó là cách tôi nghĩ về Fidel. Nếu tôi học được điều gì đó và muốn khoe với Ông, mà vẫn còn có nhiều thứ tôi muốn khoe với Ông quá…. Và khoe rằng tại một sự kiện khi Ông bảo Ông xem tôi như là một người bạn của Ông, đó là vinh dự của tôi…

Đạo đức, tư cách, ý chí, của Elian Gonzales đã tôn vinh sự cao thượng, cao trọng, cao vời của đạo đức, tư cách, và ý chí vì nước vì dân của Fidel Castro.

Bọn thượng nghị sĩ Cu Kiều như Mario Rubio và Ted Cruz khi nói lếu láo về sự điêu linh của Cuba dưới sự cai trị tàn bạo của nhà độc tài Fidel Castro, chúng đã hoặc ngu đần ngu xuẩn ngu si ngu dại, hoặc đã không có chút lòng tôn trọng tôn kính nào dành cho cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter

fidel17fidel18

người đã viết như sau, khi nghe tin Fidel Castro qua đời:

“ Rosalynn và tôi sẻ chia tình cảm cùng gia đình Ông Castro và nhân dân Cuba về sự qua đời của Fidel Castro. Vợ chồng tôi vẫn nhớ với lòng trìu mến đến những lần thăm Ông tại Cuba cũng như đến lòng yêu nước của Ông. Chúng tôi chúc các công dân Cuba hòa bình và thịnh vượng trong những năm sắp đến.”

Tất nhiên, nếu DailyWire cay cú vì cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã luôn tôn kính và thân tình cùng Fidel Castro nên đã chua rằng Jimmy Carter đã “có những lời tử tế cho tên độc tài cộng sản tàn bạo Cuba Fidel Castro” (kind words to the brutal Cuban Communist dictator Fidel Castro) và thậm chí nhắc khéo là trước đây Jimmy Carter đã từng ôm “tên sát nhân chúa trùm khủng bố Yasser Arafat của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (arch-terrorist murderer PLO chief Yasser Arafat), thì bọn rơm rác như Cu Kiều Marco Rubio và Ted Cruz có sủa nhặng lên về Fidel Castro cũng là sự hòa âm điền dã cùng thế giới truyền thông chính thống bịnh hoạn trầm kha vậy.

F- Mộ Chí

Vĩnh biệt Tiến sĩ Fidel Alejandro Castro Ruz, nhà lãnh đạo duy nhất của toàn nhân loại đã luôn là sự thể hiện đồng bộ đồng loạt rõ nét nhất và cụ thể nhất của tính kiên cường, sự bất khuất, tài hùng biện bão tố ngay trong hang ổ quân thù

fidel19fidel20fidel21

tính cách hỏa diệm sơn, thái độ chủ nhân ông đầy ngạo mạn kiêu kỳ trước tất cả các kẻ thù của dân tộc, sức khỏe vô song

fidel22

cốt cách anh hùng xông pha xông xáo, mưu trí mưu lược, ý chí hùng anh, hình tượng chính xác của một “kẻ sĩ dấn thân” như Hồ Chí Minh

fidel23

chinh phục thế giới với sự tỉnh táo quyền biến khuôn mẫu signature Hồ Chí Minh trong trị quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng sự lịch lãm cuốn hút đầy nam tính

fidel24

nụ cười thân tình thân hữu thân ái

fidel25

dành cho và đón nhận tình cảm từ các nguyên thủ tư bản Âu Tây, các vị anh hùng như Yasser Arafat, Nelson Mendela, Yuri Gagarin hay Tạ Thị Kiều

fidel26fidel27

và cách hành xử hóm hỉnh đầy lém lỉnh

fidel28

Tiến sĩ Fidel Castro, người cha tôn kính của dân tộc Cuba, đã luôn đồng hành cùng dân tộc Cuba vượt qua những gian nan không bút mực nào tả xiết

fidel29fidel30

và bậc vĩ nhân ấy đã an nghĩ chốn vĩnh hằng sau khi để lại cho nhân gian muôn đời sau một thí dụ điển hình nhất của đấng hùng anh

fidel31

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Bài Học Lớn Nhất Cho Mỹ Và Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

5-11-2016

Bài này viết về Key.

Trong tiếng Anh, “key” có nghĩa là chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Trong tiếng Việt, từ “chìa khóa” cũng có nghĩa là… chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tuy nhiên, bài viết này là về một nhân vật tên Key với sự tình cờ của số phận khi chính Ông Key thực sự là key cho sự phồn thịnh của một quốc gia mà người Mỹ cần được nhắc nhở và người Việt cần phải quan tâm.

Tấm Gương New Zealand

Sinh năm 1961, John Phillip Key trở thành Thủ Tướng New Zealand từ năm 2008 đến nay. Key tốt nghiệp Đại Học Canterbury năm 1981 với bằng Cử nhân Thương Mại, tìm được công việc đầu tiên là nhân viên kiểm toán cho công ty McCulloch Menzies, sau đó quản lý dự án cho nhà máy sản xuất quần áo Lane Walker Rudkin, trước khi theo nghiệp môi giới ngoại hối cho Công ty Tài Chính Elders và chuyển sang Bankers Trust. Năm 1995, Key ra nước ngoài quản lý chi nhánh ngoại hối Châu Á của Merrill Lynch ở Singapore, rồi làm vệc tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang New York Hoa Kỳ cho đến khi trở về nước năm 2001, gia nhập Đảng Dân Tộc, trở thành Nghị sĩ Quốc hội New Zealand năm 2002, và Thủ Tướng New Zealand năm 2008, tiếp tục thắng cử trong các năm 2011 và 2014 cho các nhiệm kỳ tiếp theo cho đến nay.

key-2key

Những điểm nổi bật của Key mà người dân New Zealand hay nói về Key:

1) Chủ tịch Đảng Dân Tộc John Slater đã có đại công (a) phát hiện “nhân tài” Key, (b) ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để Key chịu gia nhập Đảng, và (c) quyết tâm biến Key thành ngôi sao sáng cho đất nước New Zealand;

2) Với chức danh kiêm nhiệm (đồng thời với chức Thủ Tướng) làm Bộ Trưởng Du Lịch, Key đã biến New Zealand thành một trong những thiên đường du lịch lừng danh hoàn vũ;

3) Với số tài sản 50 triệu đô-la New Zealand, Key là một trong những công dân  giàu có nhất New Zealand, và là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand.;

4) Là Thủ Tướng, Key đã đưa New Zealand trở thành cường quốc bất kể thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu; và

5) Key được gán cho những cái tên như “Stratospheric” (ý nghĩa: cao vời vợi về nhân cách) và “Teflon John” (ý nghĩa: ông miễn nhiễm trước tất cả các tiêu cực,  giống như lớp “teflon” dùng trong chảo chống dính).

Bài Học Cho Hoa Kỳ

Trong 56 người hình thành nên và ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì có 20 luật sư, 18 thương nhân. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã, và 13 người không theo tôn giáo nào.

Trong 55 người hình thành nên và ký tên vào Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ (1787), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì những nghề có hơn 1 “đại biểu” là: 30 luật sư, 11 thương nhân, và 4 chính trị gia. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã.

Bài học cho Mỹ từ lịch sử Hoa Kỳ:

Từ các điểm sau

1) Các “trường luật” cho đến cuối thế kỷ XIX (19) vẫn còn hiếm hoi tại Hoa Kỳ

2) 20 “luật sư” trong danh sách soạn thảo và thông qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776 không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay, vì cho đến năm 1784 Hoa Kỳ mới có trường luật đầu tiên là Litchfield Law School và đến năm 1793 mới có vị giáo sư luật đầu tiên.

3) 30 “luật sư” trong danh sách soạn thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay.

4) Các “luật sư” soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Hiến Pháp Hoa Kỳ là những người mà “nghiệp vụ” chỉ là những người biết chữ biết nghĩa về vài  luật cơ bản của Anh Quốc để làm dịch vụ áp dụng vào đời sống dân sự.

có thể khẳng định rằng: Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp không có sự đóng góp của các “luật sư chuyên nghiệp kiểu Thế Kỷ XX (20)”.

Ngoài ra, Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp có sự đóng góp của nhiều thương nhân và không có hoặc có sự góp mặt của chỉ một hai  “chính trị gia”.

Từ đó suy ra: Hoa Kỳ ở Thế Kỷ XX đã trở nên ngày càng đồi bại vì xã hội đã hình thành những trường “Luật” hiện đại mà những “ngôi sao” của nó trở thành nguyên thủ quốc gia, tạo nên một mặc định rằng luật mang thuộc tính quyền lực khống chế và áp chế, để rồi Hoa Kỳ buộc phải chấp nhận (a) nghề luật sư bị dân chúng Mỹ chính gốc gọi là “dirty job” tức “nghề bẩn”, (b) chính trường Mỹ dành riêng cho những ai tốt nghiệp “luật”, và (c) Hoa Kỳ từ đất nước vùng lên đấu tranh giành độc lập trở thành đất nước do những “luật sư” làm tổng thống tiến hành xâm lược các nước khác, gây chiến tranh khắp chốn, cứ như thể ban ơn cho các nước ây có cơ hội vùng lên đấu tranh giành độc lập như Hoa Kỳ đã được hưởng năm 1776.

Bài học cho Mỹ từ New Zealand:

Với đất nước Mỹ bị các tổng thống “luật sư” làm cho suy vi suy tàn suy sụp đến độ Mỹ bị Trung Quốc đè xuống chiếu dưới, Mỹ bị tiểu quốc Philippines xua đuổi, Mỹ bị Campuchia làm nhục tại Hội Nghị Quốc Tế ở Campuchia, Tổng thống Mỹ bị tổng thống Philippines mắng chửi lăng mạ, Đồng dollar Mỹ bị đồng Yuan Renminbi Trung Quốc lấn lướt trong giỏ tiền tệ của IMF, thì

điều người Mỹ nên làm là hãy có Key!

Muốn có Key, Mỹ phải có Trump, vì

a) Chính trị: Key không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Dân Tộc. Trump không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Cộng Hòa.

b) Học vấn: Key không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Thương Mại. Trump không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Kinh Tế.

c) Nghề chính trị: Key không là chính trị gia chuyên nghiệp. Trump không là chính trị gia chuyên nghiệp.

d) Nghề nghiệp: Key là doanh nhân. Trump là doanh nhân.

e) Tài chính: Key là doanh nhân có tên trong danh sách những người giàu nhất New Zealand. Trump là doanh nhân có tên trong danh sách những tỷ phú Hoa Kỳ.

f) Tài lực: Key là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand. Trump – nếu là Tổng Thống Mỹ – sẽ là người giàu nhất trong lịch sử các lãnh đạo Chính Phủ Hoa Kỳ.

Kết luận cho Mỹ:

Donald Trump sẽ là chiếc chìa khóa (Key) để Mỹ quay trở lại thành cường thịnh nếu Mỹ thực sự muốn thịnh cường.

Bài Học Cho Việt Nam

Từ những sự thật lịch sử nhãn tiền nêu trên của Mỹ và New Zealand,

Thay vì ăn nói vớ vẩn quàng xiên láo xạo về các tấm gương của Nhật Bản và Singapore mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong các bài viết trước đây (có ghi đường liên kết ở phần tham khảo bên dưới)

Việt Nam có thể tiến lên đường cường thịnh bằng cách:

1- Các lãnh đạo Đảng Cộng Sản tích cực chủ động đích thân phát hiện “nhân tài Key”, ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để “nhân tài chìa khóa” chịu gia nhập Đảng, và quyết tâm biến các “chìa khóa” Key mới chiêu mộ được ấy thành ngôi sao sáng để giúp đất nước Việt Nam cường thịnh hoặc lãnh đạo đất nước Việt Nam trở thành cường thịnh.

2- Để làm đươc điều trên, Đảng Cộng Sản nên giảm bớt các đầu tư hào quang luôn dành cho các “vườn ươm” của Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản vì thực tế đã chứng minh là suốt nửa thế kỷ qua chưa hề có một ngôi sao nào từ số ươm mầm ấy làm Việt Nam cường thịnh, trong khi sự “ươm mầm” lại cho ra nhiều tác giả của (a) các bạo lực học đường, (b) trọng án kinh tế trầm trọng trầm kha, (c) các biến thái “tự chuyển hóa” và “tự chuyển biến”, và (d) các “bầy sâu” tham nhũng gây hình tượng của sự lúc nhúc, v.v.

3- Chính phủ Việt Nam phải xóa sạch tàn dư của việc sử dụng nhân lực một cách “từ chương” –  xin xem bài Từ Chương ở phần Tham Khảo – nghĩa là (a) không phí phạm hàng trăm triệu USD tiền thuế của dân để gởi cán bộ “trẻ” đi du học chỉ để về làm lãnh đạo; (b) không áp dụng cái quái gỡ rằng phải là “tiến sĩ” mới được làm hiệu trưởng trường đại học, hoặc phải là dược sĩ hay bác sĩ mới được mở doanh nghiệp dược phẩm – dược liệu, phải đi du học nhiều nước đem về nhiều bằng cấp mới làm Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, v.v.

4- Đối với các lĩnh vực xây dựng kinh tế nước nhà, Chính phủ Việt Nam phải bổ nhiệm nhân sự dựa trên quá trình kinh nghiệm dạn dày thực tế dài lâu của những công dân có thật trong lĩnh vực tư nhân, vì rằng Chính phủ đã

(a) luôn có nhiều chuyên gia kinh tế “tiến sĩ” làm cố vấn nhưng các vị này chỉ làm mỗi việc là cung cấp cho báo chí các phát biểu hay các bài viết chỉ có giá trị duy nhất là lấp đầy khoảng trống trang báo;

(b) luôn có các “chủ tịch tập đoàn Nhà Nước”, các “tổng giám đốc tổng công ty nhà nước”, các “tổng giám đốc ngân hàng quốc doanh” có các đặc điểm con ông cháu cha, thạc sĩ/tiến sĩ trẻ măng chưa từng có kinh nghiệm làm việc căn cơ của chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo theo văn bằng ở khu vực tư nhân, mà chỉ có mỗi kinh nghiệm thâm thúy làm thâm hụt mỗi nơi hàng ngàn tỷ đồng vốn Nhà Nước; và

(c) luôn có các lãnh đạo ở các địa phương mang danh đầu tàu kinh tế của cả nước có kinh nghiệm dày dạn làm đầu tàu trật đường ray do đường ray ngày càng trơn trợt và sụp lún nhờ triều cường ngày càng ngập bạo hơn, thường xuyên hơn, rộng khắp hơn, mạnh mẽ hơn (cuốn phăng xe máy nặng hơn 100kg và cuốn phăng trẻ em trôi tuột xuống cống mất tăm).

“Phi chính trị hóa” dù trong nội dung quân đội hay lãnh đạo quốc gia là luận điệu kêu gào của kẻ ngu đần, điên loạn, hoang tưởng, vô chính phủ, và…chống Mỹ.

Chính vì vậy, hãy kiếm tìm người đạo đức tài danh thực sự đã qua kiểm chứng trong xã hội để mời mọc, thuyết phục, đưa vào làm đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam để hình thành đội ngũ lãnh đạo Việt Nam.

Vì rằng người ta ra sức kiếm tìm mõ kim cương, mõ hồng ngọc đã được hình thành trong thiên nhiên để khai thác, vì rằng kim cương nhân tạo chỉ để phục vụ cho mục đích khác – chẳng hạn như làm đầu mũi khoan mõ dầu khí – chứ không để làm bảo ngọc quốc gia. Việc ươm mầm Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản là để phục vụ mục đích làm đội “hậu bị” của Đảng (để Đảng có những đảng viên “cơ hữu” kế tục lãnh đạo các tổ chức Đảng) và làm đội ngũ duy trì tổ chức Đoàn khắp nơi, chứ không để làm lãnh đạo quốc gia Việt Nam tiến lên cường thịnh.

5- Cần làm cho mọi người dân hiểu rằng nghề nghiệp nào cũng chỉ để phục vụ việc mưu sinh tức sinh nhai tức kiếm tiền của cá nhân, chứ không mang ánh hào quang “cứu độ” hay “cao quý” – trừ binh nghiệp tức các lực lượng vũ trang. Luật sư là để bảo vệ thân chủ thoát được các trừng phạt nghiêm khắc nhất của luật pháp, chứ không phải phục vụ cái gọi là “công lý”. Quốc Hội là cơ quan soạn thảo các bộ luật, và các nghị sĩ nếu có nghiệp vụ luật chỉ có thể giúp tư vấn về hình thức các chương mục và về liên hệ đến các nội dung bộ luật đã có từ trước đó để tránh các xung đột. Do đó, sự có mặt của quá nhiều “luật sư” trong Quốc Hội là điều không cần thiết, đặc biệt Hiến Pháp Hoa Kỳ làm cơ sở cho một Hoa Kỳ cường thịnh do nhờ đã không hề có các “luật sư” – trên thực tế đào tạo hàn lâm đúng nghĩa – và Hoa Kỳ ngày nay lụn bại do chính trường dù trên bình diện quốc gia hay tiểu bang đã nhường hẳn “sân chơi” cho giới luật sư. Việt Nam ngày càng bất ổn do có quá nhiều nghị sĩ có bằng cấp luật nhưng đã làm các đạo luật tầy huầy yếu kém đầy sai sót không thích hợp với cuộc sống xã hội khi được thông qua, và quá nhiều luật sư đột biến muốn làm “chính trị” bằng cách chống phá chính phủ, như một thể hiện căn bịnh trầm kha của giới luật sư Âu Mỹ: khát khao quyền lực tham chính.

Năm điểm trên là cẩm nang cho Việt Nam cường thịnh, chứ không phải mô hình độc tài tàn bạo của Singapore hay biểu thức chinh phạt thế giới của Nhật Bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ

 

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-9-2016

french1

A) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bài này của mụ Marie Cordiez xuất hiện ngày 12-9-2016 trên http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam và được gởi đến tôi bởi một nhà báo Pháp do bực tức trước luận điểm càn quấy của Marie Cordiez)

french2

EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam

Il y déjà presque un an, nous vous vantions 10 bonnes raisons de s’expatrier au Vietnam. Nous manquerions à notre devoir d’objectivité si nous ne faisions pas également état des quelques désagréments qui ne manqueront pas aux expats sur le départ. Ils sont en effet nombreux, aux mois de juillet et août, à rentrer au pays ou être appelés sous d’autres latitudes.

  1. La pollution

D’après un rapport d’experts dont nous vous parlions ici, nous respirons l’un des plus mauvais airs de la planète. Ici, le masque n’est pas un luxe ou un effet de mode, c’est une nécessité. La pollution est palpable à la crasse qui s’accumule sous nos ongles et qui s’écoule dans la douche en fin de journée.

  1. L’humidité

Qui dit pays tropical, dit humidité ambiante permanente. Nos accessoires en cuir n’apprécient pas vraiment. En moins de deux, ils se couvrent d’une fine couche de moisissure verte. Le linge a du mal à sécher, surtout en saison des pluies. Et à la sortie de la douche, le répit est de courte durée avant que nos vêtements ne soient à nouveau trempés.

  1. Les conditions sanitaires

La qualité de l’eau courante est tellement déplorable que certains médecins déconseillent même de l’utiliser pour se laver les dents ou laver ses légumes. Pas étonnant qu’on retrouve des choses pas très nettes dans les glaçons! Il faut dire qu’il y a encore du boulot de sensibilisation à faire pour inciter les Vietnamiens à ne pas considérer la rue et la rivière comme des dépotoirs à ciel ouvert.

  1. Les soucis de santé

Les points précédents ont un impact direct sur la santé : nombreuses infections aggravées, problèmes de toux et d’asthme, cicatrisation difficile… Auxquels il faut ajouter des maladies endémiques dues notamment aux moustiques, comme la dengue, dont on ne peut se prémunir. Mieux vaut prévoir une bonne assurance pour pouvoir faire face aux frais médicaux que cela engendre.

  1. Le bruit

Quand il ne s’agit pas des travaux incessants (oui, ici les ouvriers travaillent jour et nuit), du trafic (la symphonie des coups de klaxons intempestifs), du karaoké d’à côté (les Vietnamiens semblent être sourds de naissance tant ils aiment pousser le volume à fond), c’est l’air conditionné ou le ventilateur qui vous empêchera de dormir.

  1. Le manque des “produits de chez nous”

Qui n’a pas rêvé d’une bonne fondue savoyarde ou d’une raclette, de chocolats dignes de ce nom, voire d’un foie gras coupable ? D’une cuite au champagne, de bonnes bières belges (on ne se refait pas…), de tomates goûtues et surtout d’une vraie baguette ? Certains de ces produits peuvent se trouver ici à prix d’or, mais rien ne vaut le plaisir de faire les courses une fois de retour au bercail !

  1. Les frais de scolarité

Pour ceux qui, comme moi, viennent d’un pays où l’éducation est gratuite, les frais de scolarités sont un vrai coup de massue. Quand on arrive, on rêve parfois d’inscrire ses enfants en anglais, mais ceux dont l’employeur ne prend pas ces frais en charge se ravisent généralement bien vite (jusqu’à 30.000 $ par an pour un enfant… mieux vaut ne pas être une famille nombreuse !) et restent en français.

  1. Les machines à laver à eau froide

Ça. Ne. Lave. Absolument. Rien. Le linge blanc sera vite jaunâtre, oubliez l’idée de faire partir les auréoles et encore moins les taches difficiles. Vous pouvez utiliser tous les trucs de grand-mères et les produits que vous voulez, votre linge sortira de plus en plus sale de cette fichue machine. Evidemment, la qualité de l’eau n’y est pas pour rien. Un conseil : faites bouillir régulièrement votre linge de maison au pressing si vous voulez éviter les odeurs.

Au final, vous le voyez, il reste quand-même plus de raisons d’y venir que de le quitter!

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12 Septembre 2016

B) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bản ý nghĩa tiếng Việt này có thể chưa được hoàn chỉnh do Pháp Văn cùng Nga Văn là các sinh ngữ phụ của người dịch. Xin vui lòng xem như chỉ có các ý chính được tập trung nêu rõ. Xin đa tạ. Hoàng Hữu Phước)

Ra Đi Biền Biệt – 8 Lý Do Để Bỏ Việt Nam Không Chút Hối Tiếc

Đã gần một năm kể từ khi chúng tôi đăng bài 10 Lý Do Để Đến Việt Nam. Chúng tôi sẽ không đạt yêu cầu khách quan nếu không nêu ra vài thứ phức phiền khiến người nước ngoài ở Việt Nam phải ra đi. Thật ra trong hai tháng 7 và 8 đã có nhiều người như vậy: bỏ về nhà hoặc đến các nước khác.

  1. Sự Ô Nhiễm

Theo một báo cáo của chuyên gia thì chúng ta hít thở không khí của một trong những nơi tồi tệ nhất thế giới. Tại xứ sở này thì khẩu trang không là thứ xa xỉ hay  kiểu thời trang dị hợm, mà là sự cần thiết. Sự ô nhiểm đến độ sờ thấy bụi bẩn mồn một bám đầy dưới các móng tay rồi từ đó trôi tuột theo dòng nước khi tắm rửa cuối ngày.

  1. Ẩm Độ

Ai bảo những xứ nhiệt đới tức nói về sự ẩm ướt triền miên. Đồ dùng bằng da của chúng ta thật không chịu nổi và bị phủ lớp mốc meo xanh rì. Vừa tắm xong là sự ngơi nghỉ biến mất vì áo quần lại ướt đẫm mồ hôi.

  1. Điều Kiện Sức Khỏe

Chất lượng nước máy thì cực kỳ tồi tệ đến độ có bác sĩ khuyên đừng dùng nó để đánh răng hay rửa rau. Chả trách có mấy vật mờ mờ trong mấy cục nước đá. Cần phải nói rằng vẫn có công tác khuyến nghị người Việt Nam đừng xem đường sá và sông ngòi là nơi tự do đổ rác.

  1. Các Quan Ngại Y Tế

Những điều trên cho thấy có tác động trực tiếp đến sức khỏe: nhiều vụ lây nhiễm tồi tệ, ho và hen suyển, chưa kể những dịch bệnh đặc biệt do muỗi gây ra như sốt xuất huyết mà ta không thể tự bảo vệ được. Phải có bảo hiểm tốt mới đương đầu được đối với chi phí y tế từ các hậu quả đó.

  1. Tiếng Ồn

Nếu không vì vấn đề làm việc ngày đêm (ở nước này là vậy đấy) thì tiếng còi xe , tiếng hát karaoke của hàng xóm (người Việt Nam dường như sinh ra đã bị điếc rồi do họ thích mở hết volume), tiếng máy lạnh và tiếng quạt máy đủ làm bạn khỏi ngủ.

  1. Thiếu Hàng Của Chúng Ta

Ai mà lại không mơ đến các món phó mát Savoie, sô-cô-la danh tiếng, và món gan ngỗng cơ chứ! Làm gì mà sánh được với thú vui mua sắm khi trở lại quê mình!

  1. Học Phí

Đối với những người như tôi chẳng hạn, đến từ xứ sở mà việc học hành được miễn phí thì học phí tại Việt Nam như một cú búa giáng xuống vậy. Khi bạn đến đây, bạn mơ đến việc cho con cái đi học tại trường tiếng Anh, song những người không được công ty đài thọ việc này thì phí tổn hàng năm lên đến 30.000 USD cho mỗi đứa trẻ. Tốt hơn là gia đình ít người thôi, và cứ xài tiếng Pháp.

  1. Máy Giặt Nước Lạnh

Màu trắng sẽ nhanh chóng biến thành ố vàng, nói chi đến các vết bẩn. Bạn có thể xài đồ của bà nội bà ngoại, vì đồ đạc giặt xong sẽ bẩn hơn với thứ máy giặt quỷ tha ma bắt này. Rõ ràng là chất lượng nước có vấn đề. Mẹo ở đây là hãy thường xuyên đun sôi quần áo của bạn nếu bạn muốn tránh mùi hôi.

Và cuối cùng thì chừng nào mới có việc có thêm lý do để bạn đến đây thay vì bỏ đi cơ chứ.

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12-9-2016

C) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

(Bài này được đăng ngay trên LinkedIn.com. Do yêu cầu của lepetitjournal.com đòi phải vào Facebook mới đăng trực tiếp vào phần commentaries của bài viết của Marie Cordiez trong khi tôi không sử dụng Facebook, tôi cũng đã gởi bài đến một nhà báo Pháp – theo yêu cầu của chính nhà báo này – để ông phổ biến khắp nơi)

french3

EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good

Hoang Huu Phuoc, MIB

In her aricle in French entitled EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam posted on 12 September 2016 at  http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez becomes a non-compos mentis when saying nonsense agaisnt Vietnam. To teach her and people like her about the fact that limitations are always the must-have parameters of the civilized world and that absolute freedom never exists even among barbarous societies and cavemen, I hereby wish to respond to her with my article entitled EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good to simply tell her a proverb of the Oriental Wisdom of “when you take a mouthful of blood to spit on to the face of other people, you are sure to first make your own mouth besmirched”, a lesson which I regretfully believe she has not been educated to know from the first day she was thrown by God on to the lap of her mother.

1- National Shame on French Language

Though France dominated Vietnam for a century, it failed to make French language dominating the tongue of the Vietnamese people – hence forcing the French colonialists’ offspring like Marie Cordiez to waste huge money to invest to studying English in order to survive the struggling for jobs in Vietnam in this millennium.

2- National Shame on Health Concerns

Though France dominated Vietnam for a century, it seemed the Vietnamese people could not learn anything from the French conquerors on best practices on health concerns, probably possibly due to the fact that the French colonialists – i.e. the ancestors of Marie Cordiez – did leave only traces and proofs of their total satisfaction of daily inhaling and enjoying the unhygienic situations and accommodations available for a hundred years!

3- National Shame on Pollution

Similarly, it seemed the one-hundred-year colonization of France did instil in the mind of the Vietnamese people to consider the sick morbid way of living in dirtiness of the French colonialists worthy of imitating, without knowing that in the new millennium the offspring of such colonialists like Marie Cordiez glue the word “pollution” to the face of the offspring of the ones who overthrew not only the French colonialism but also the French Empire.

4- National Shame on Security

Though France dominated Vietnam for a century, it is so well-proven nowadays that Vietnam is so much secured than France on the issues like human rights, dignity, and terrorism that Marie Cordiez’s French patriots can hardly enjoy peacefulness even in Paris.

5- Personal Shame on Being Ignored

It is absolutely understandably normal to take vengeance on the culprits for their heinous crimes. However, Vietnamese people never take any revenge on Marie Cordiez and the offspring of the French colonialists, making this seem that the Vietnamese people look down upon guys like Marie Cordiez as if those guys did not exist or were not worth a tinker’s damn. Such disgrace and humiliation can hardly be taken by proud people like Marie Cordiez and therefore they – including herself – are in dire need of running away from Vietnam as fast as possible.

6- Personal Shame on Personal Disqualification

During the past two three decades all the expatriates in Vietnam have been offered by their companies the schooling expenses for their children at foreign schools in Vietnam. People like Marie Cordiez if incapable of self-funding the school fees at foreign “English” institutions in Vietnam for their own children, it simply means they are not at senior or important positions due to their disqualification. For a cover up for such shame, they should run away from Vietnam as fast as possible.

7- Personal Shame on Being Unknowledgeable

When lamenting on the unbearable natural high moisture degree in Vietnam, Marie Cordiez and people like her are totally unknowledgeable. This raises a surprising question on how a person in this modern much competitive world decides to come to a far away place without even investing at least five minutes to google the FAQs of such place. It seems they come to Vietnam as a desperado!

8- Personal Shame on Being Named Flibbertigibbet or Blabbermouth

The civilized expatriates always behave educatedly by making recommendation to the local authorities as a responsibility of the global citizen in making contributions to make things better for the benefits of the humankind or at least the local people. Telling stories of a place then advising people to leave such place are the jobs of the non-compos mentis.

9- Personal Shame on Ancestors’ Stupidity

To help save the face of their ancestors for failing throughout a century to understand the terrible things of Vietnam then to be beaten black and blue by such terrible people, what Marie Cordiez and people like her can do is to talk nonsense against Vietnam to make it still the underdog to the highly valuable and proudly civilized country like France, then to shout aloud to warn people to leave Vietnam for good.

10- Personal Relief to All Above-Mentioned Shames

However, Marie Cordiez and people like her can leave Vietnam for good with a blessed relief because big investors the world over have been flocking to Vietnam in endless queues for business opportunities. Such overcrowded community will play the excellent role of shielding away the with-the-tail-between-the-hind-leg escapade of Marie Cordiez and people like her. Thank God for all this!

And finally, if any other terrible thing about Vietnam could be further defined by Marie Cordiez or people like her, they are hereby requested to kindly keep the undersigned informed so that the humankind may have another opportunity to read my highest quality counter-attack comments. Being a Vietnamese, though never a communist party member, I vow to the world over that nobody on earth can say or write anything against my Vietnam without facing the strongest retribution from my very self.

“Assez! Voici la punition!”

Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoang Huu Phuoc, Ho Chi Minh City, Vietnam.

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

D) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

france

Bỏ Đi Biệt Xứ – 10 Lý Do Marie Cordiez Nên Rởi Việt Nam Vĩnh Viễn Không Chút Hối Tiếc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trong bài viết bằng tiếng Pháp nhan đề EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam đăng ngày 12-9-2016 tại http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez đã trở thành kẻ bất khả tư nghị khi nói xằng bậy chống Việt Nam. Để dạy cô ta và những tên tương cận về sự thật rằng các giới hạn luôn là những thước đo phải có trong thế giới văn minh và rằng sự tự do tuyệt đối không bao giờ tồn tại ngay cả trong các cộng đồng man di mọi rợ kể cả người của thời kỳ sống trong hang động, tôi qua đây muốn phản pháo băng bài viết của tôi nhan đề Bỏ Đi Hẳn – 10 Lý Do Marie Cordiez Không Nên Tiếc Nuối Khi Bỏ Việt Nam Ra Đi Không Bao Giờ Quay Lại ngõ hầu đơn giản cho cô ta biết về một câu tục ngữ của trí tuệ Á Đông rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu”, một bài học mà tôi lấy làm tiếc tin rằng cô ta đã chưa từng được giáo dục để biết đến kể từ ngày đầu được Thượng Đế quẳng ném cô ta lên bắp đùi của mẹ cô ta cho đến ngày nay.

1- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Pháp Ngữ

Mặc dù đô hộ Việt Nam trong một thế kỷ, Pháp vẫn thất bại không biến Pháp Ngữ thành ngôn ngữ của người Việt – vì vậy đã khiến các hậu duệ của các tên thực dân Pháp như Marie Cordiez phải phí số tiền khổng lồ để đầu tư học tiếng Anh để có thể chen lấn kiếm được việc làm tại Việt Nam trong thiên niên kỷ này.

2- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Các Quan Tâm Về Sức Khỏe

Mặc dù Pháp đô hộ Việt Nam hàng trăm năm, có vẻ như người Việt chẳng học hỏi được gì từ các nhà chinh phục Pháp đối với các thực hành thực tế tốt về sức khỏe, ắt có thể do có sự thật là các tên thực dân Pháp – tức tổ tiên của Marie Cordiez – chỉ để lại chứng tích về việc chúng đã hoàn toàn thỏa mãn với việc hàng ngày hít thở thưởng thức những điều kiện mất vệ sinh tồn tại những hàng trăm năm (ý nói bọn thực dân Pháp quen ăn ở dơ dáy nên người dân Việt chẳng bắt chước được gì từ chúng đối với cách sống vệ sinh mà chúng tự hào là văn hóa văn minh Pháp).

3- Quốc Nhục (Của Pháp) Về Ô Nhiễm

Tương tự, dường như thời gian làm thuộc địa Pháp trong hàng trăm năm đã khắc ghi vào tâm khảm người Việt Nam để xem cách sống bịnh tật và bịnh hoạn của thực dân Pháp sống trong sự dơ dáy là thứ đáng để bắt chước mà không biết rằng qua thiên niên kỷ sau thì đám hậu duệ của bọn thực dân Pháp như Marie Cordiez lại mặt dày đem dán từ “ô nhiễm” lên trán các hậu duệ của những người lật đổ không những chế độ thực dân Pháp mà còn cả đế chế Pháp.   

4- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Vấn Đề An Ninh

Dù Pháp chiếm đóng Việt Nam trong một thế kỷ, đã có sự minh chứng hùng hồn ngày nay rằng Việt Nam an toàn hơn Pháp rất nhiều đối với các vấn đề như nhân quyền, phẩm giá, và khủng bố mà những nhà ái quốc Pháp của Marie Cordiez khó thể có được ngay tại Thủ đô Paris.

5- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Ngó Lơ

Thật bình thường một cách hoàn toàn dễ hiểu đối với việc rửa thù báo oán dành cho những kẻ đã gây ra tội ác tởm kinh. Song, người Việt lại không bao giờ trả thù  Marie Cordiez cùng hậu duệ của đám thực dân Pháp, cứ như thể người Việt khinh thường khinh khi những kẻ như Marie Cordiez cứ như thể đám này không tồn tại hoặc chẳng đáng giá một xu teeng. Những sự bị điếm nhục và hạ nhục như thế khó lòng chịu đựng được bởi những kẻ vác mặt lên trời như Marie Cordiez và do đó chúng – có cả cô ta – nhất thiết cần kíp phải chuồn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể.

6- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bất Tài Vô Dụng

Trong vài ba thập niên qua, tất cả những người nước ngoài công tác tại Việt Nam đều được công ty của họ đài thọ chi phí cho con họ được học tại các trường quốc tế ở Việt Nam. Những kẻ như Marie Cordiez nếu không thể lo được chi phí học hành cho con cái họ tại các trường dạy bằng tiếng Anh thì điều này đơn giản có nghĩa rằng họ không ở vị trí lãnh đạo hay quan trọng vì bất tài vô dụng. Để đậy che nỗi nhục này, họ nên chạy trốn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể được.

7- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Vô Trí

Khi than vản về ẩm độ cao tự nhiên không thể chịu đựng được ở Việt Nam, Marie Cordiez và những tên tương cận hoàn toàn vô trí. Việc này đặt ra một nghi vấn đầy ngạc nhiên vì sao trong thời hiện đại và lắm cạnh tranh này lại có kẻ quyết định đến một nơi xa xôi mà lại không đầu tư ít nhất là năm phút để kiếm tìm trên Google những câu hỏi thường gặp có liên quan đến nơi chốn ấy. Cứ như thể họ đã đến Việt Nam với tư thế những kẻ cùng đường mạt vận cùng đinh!

8- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Gọi Là Quân Mồm Loa Mép Dải Già Mồm Bá Láp Láo Xạo Tào Lao

Những ngoại kiều có văn minh đều luôn hành xử một cách có học thức bằng cách gởi những ý kiến đóng góp cho chính quyền nước sở tại như một trách nhiệm của người công dân toàn cầu có những cống hiến nhằm tạo nên những ích lợi tốt hơn cho nhân loại hoặc chí ít là cư dân địa phương. Đơm đặt về một nơi rồi khuyên bảo người khác bỏ nơi ấy mà đi là việc mà những chỉ những kẻ bất khả tư nghị mới làm.

9- Nỗi Nhục Bản Thân Đối Với Sự Ngu Xuẩn Của Tiền Nhân

Nhằm giữ thể diện cho tổ tiên vì đã thất bại suốt thế kỷ vẫn không nhận ra các điều kinh khủng ở Việt Nam để rồi bị những người Việt Nam kinh khủng ấy đánh cho tơi tả tơi bời, những gì mà Marie Cordiez cùng đám tương cận có thể làm là đơm đặt điều láo xạo chống Việt Nam nhằm biến Việt Nam vẫn như là nước ở chiếu dưới so với đất nước Pháp văn minh tột đỉnh giá trị tột cùng, rồi hô hào kêu gọi mọi người hãy rời bỏ Việt Nam mãi mãi.

10- Sự Thở Phào Nhẹ Nhỏm Của Bản Thân Đối Với Những Nỗi Nhục Nêu Trên

Tuy nhiên, Marie Cordiez và đám tương cận có thể bỏ Việt Nam không bao giờ quay lại với một sự thở phào nhẹ nhỏm được Thượng Đế tặng ban, vì rằng các nhà đầu tư lớn trên toàn thế giới đã và đang đổ xô về Việt Nam đứng sắp hàng dài vô tận để kiếm tìm cơ hội kinh doanh. Cái cộng đồng đông đúc khủng khiếp đó sẽ đóng vai trò tuyệt hảo trong che chắn cảnh tháo chạy lúp xúp với đuôi cụp giữa hai chân sau của Marie Cordiez và đám tương cận. Tạ ơn Thượng Đế cho ân phú này!

Cuối cùng thì nếu có điều gì khác khủng khiếp về Việt Nam có thể được nhận diện  bởi Marie Cordiez hoặc những người như cô ấy, kính xin họ hãy vui lòng báo cho người ký tên dưới đây được biết để nhân loại có thêm cơ hội đọc những ý kiến phản pháo chất lượng tuyệt hảo của người ký tên dưới đây. Là người Việt Nam, dù không bao giờ là Đảng viên Cộng Sản, tôi xin thề với toàn thế giới rằng không bất kỳ ai trên trái đất này có thể nói hay viết bất kỳ điều gì chống lại đất nước Việt Nam của tôi mà không phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của chính tôi.

“Assez! Voici la punition!”

(Thôi quá đủ! Hãy xem đây hình phạt!)

Thơ Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Các bài viết thể loại Dạy Bảo Ngoại Nhân:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Tôi Và Philipp Rösler

Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-9-2016

quy-goi-hay-quy-dau

A) Giải Thích Từ Ngữ

Tất nhiên, lời giải thích từ ngữ sẽ là điều cần thiết cho tiêu đề phi truyền thống của bài viết này vì sự thâm thúy của tiếng Việt chứ không vì một “méo mó nghề nghiệp” của tác giả mà ắt chẳng ít người rất có thể đã cho rằng cái gì lão ta cũng viện dẫn tiếng Anh cứ như để khoe khoang hoặc do “ngộ chữ” vậy.

“Quỳ gối” thì ai cũng biết, dù là dân ở bất kỳ xứ miền nào và sử dụng bất kỳ hệ ngôn ngữ nào, chẳng hạn người Trung Hoa đã luôn quỳ gối trước các hùng binh Nhật Bản

quy-goi-hay-quy-dau-1

Thậm chí tiếng Anh còn có cả từ ngữ du nhập là động từ “kowtow” để nói về kiểu “quỳ lạy khấu đầu” của người Tàu tức “quỳ lạy phủ phục dập đầu” khi mông thì chổng lên trời còn trán thì chạm mặt đất như khi ở chốn công quyền, lúc diện kiến quân vương, hay để bày tỏ sự trọng thị đối với bậc trưởng thượng

quy-goi-hay-quy-dau-2

Như vậy, dù “quỳ gối’ thì vẫn dính dáng tới hai khu vực có chữ “đầu”, đó là…“đầu gối” và “đầu”…đội nón.

Tuy nhiên – và tất nhiên – bài này không nói gì về những loại bình thường như trên mà ai ai cũng biết đến, nghĩa là không có sự dính dáng cộng hưỡng tương hợp của “quỳ gối” với “quỳ khấu đầu” trong cụm từ “quỳ đầu” do tác giả bài viết này tạo ra. Bài viết, do đó, chỉ muốn nói về hai cụm từ đối nghĩa hoàn toàn giữa một bên là “quỳ gối” thuần hình tượng ngoại vi rõ nét của sự thực hiện đáp ứng một lễ nghi hoặc của sự áp dụng một chiến thuật hay dưới áp lực từ bên ngoài thường mang tính đối phó hữu hạn, còn một bên là “quỳ đầu” thuần trừu tượng nội vi của sự quy phục quy hàng tự nô dịch tự vong thân tự nguyện tự hoan hỷ vô hạn từ bên trong.

B) Nhà Sử Học

1- Bản Chất Chuyên Nghiệp Âu Tây

Trong một số bài viết trước đây, tôi có nêu nhiều giá trị đặc thù cao vời vợi cụ thể của nghề nghiệp một sử gia tại các siêu cường Âu Mỹ để phê phán hiện trạng Sử của Việt Nam – mà tiếc thay ở Việt Nam chưa hề có bất kỳ ai nêu được bất kỳ điều gì tương tự khiến cả nghề sử và môn Sử trở thành nỗi nhục nhã khôn khuây của riêng chỉ Việt Nam – cũng như những tùy tiện hủy phá Sử hoặc lạm dụng Sử nhằm (a) bảo vệ cái gọi là thể diện quốc gia, hay (b) che dấu cái tinh thần nô dịch “quỳ đầu”, hoặc (c) phục vụ mưu đồ phản loạn.

Thử đưa ra một thí dụ cực kỳ nhỏ nhoi ở đây về “nhà sử học” đồng thời là nghị sĩ Vương Quốc Anh Chris Skidmore, thường xuyên thực hành điều bình thường của tất cả các “nhà sử học” Âu Tây là nghiên cứu các khúc mắc, những nghi án, hay những khoảng còn mờ, còn xám, còn tối, còn nhòe nhoẹt nhập nhằng để hình thành các tác phẩm khảo cứu đồ sộ, như bật một que diêm – chứ không nhất thiết phải là ngọn đèn pha hàng ngàn watt – soi rọi một phần, ngay cả khi cái phần được le lói soi rọi chập chờn ấy không nhất thiết phải mang ý nghĩa một khẳng định chân lý ngay lập tức, chúng ta sẽ thấy thế nào là tính-chuyên-nghiệp-không-ngừng-nghỉ của bất kỳ ai mang danh “sử gia” hay “nhà sử học” của thế giới học thuật Âu Tây.

quy-goi-hay-quy-dau-3

Trong tác phẩm dày 448 trang mang tựa đề Death and The Virgin: Elizabeth, Dudley and the Mysterious Death of Amy Robsart (Tử Thần và Trinh Nữ), Chris Skidmore đã khảo cứu về nghi án mà vị “nữ hoàng trinh nguyên” Elizabeth rất có thể do dan díu với Robert Dudley đã khiến vị này gây ra cái chết đầy bí ẩn của vợ ông là công nương Amy Robsart.

quy-goi-hay-quy-dau-5

Dựa theo những chứng cớ gom nhặt diễn giải từ tàng thư, những nghiên cứu thực nghiệm ngay tại lâu đài Cumnor gần Oxford cũng như tại vị trí những bậc thang nhỏ hẹp nơi xác công nương Amy Robsart được tìm thấy sáng ngày 08-9-1560 mà đoàn pháp y hoàng gia chứng thực sự tử thương là do nạn nhân sơ ý té lăn xuống những bậc thang uốn khúc, Chris Skidmore đã cho ra những hoài nghi, chẳng hạn như khu vực cầu thang đá nhỏ hẹp, không cao, nhiều uốn khúc dành cho gia nhân đó trong lâu đài không phải là nơi một vị mệnh phụ phu nhân một mình thẩn thơ đi giám sát để rồi té lăn xuống với vết tử thương cứ như đã bị sát hại rồi bị quẳng xác xuống từ một lầu  cao nào khác trước khi lôi đến bỏ tại chân cầu thang tăm tối, hoặc nữ hoàng Elizabeth dù si mê hoan lạc với tình nhân Robert Dudley cũng đã quyết định “ở vậy” chứ không kết hôn cùng ông sau cái chết của vợ ông, do cái chết đầy bí ẩn ấy râm ran hình thành những hồ nghi đơm đặt về sự nhúng tay đạo diễn của chính Robert Dudley, mà điều này có thể gây phương hại đến thanh danh Elizabeth và hoàng gia Vương Quốc Anh.

quy-goi-hay-quy-dau-4

Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu từ bình thường đến phi thường tương tự của nhiều “nhà sử học” đối với các khuất tất trong lịch sử hoặc của nước họ hoặc của nhân loại từ thời Cổ La Hy; chưa kể, không hề có mặc định là chỉ có “nhà sử học” Ai Cập mới có quyền nghiên cứu về Sử Ai Cập, hoặc phải là “nhà sử học” Việt Nam mới có quyền nghiên cứu về Việt Sử, v.v. Đây là lý do có số lượng ngồn ngộn các tác phẩm sách Sử và tác phẩm phim tài liệu về Sử, giúp trí hóa nhân loại được mở mang, giúp ngành Sử phát triển hùng mạnh, và giúp “nhà sử học” luôn bội thu cả về danh vọng lẫn tác quyền. Tất cả những điều “bình thường” này chưa hề thấy có ở Á Đông – trong đó có Việt Nam.

2- Bản Chất Trá Ngụy Á Đông

Để phục vụ mục đích chiến thắng thuần tâm lý chiến và ý thức hệ, Âu Mỹ luôn ra sức bóp méo lịch sử để biến công trạng vĩ đại riêng của Liên Xô đối với toàn nhân loại trong quyết định số phận toàn bộ Đệ Nhị Thế Chiến khi một mình Liên Xô chỉ riêng trên mặt trận trực diện Đức-Liên Xô đã tiêu diệt 507 sư đoàn tinh nhuệ chủ lực Đức Quốc Xã,100 sư đoàn Phát Xít, loại khỏi vòng chiến đấu 74% quân đội Đức, phá hủy 75% lực lượng xe tăng, 70% lực lượng không quân và 74% lực lượng pháo binh, bị phủ che mờ nhòe trong sử sách Âu Mỹ khiến cái “công trạng” tổng hợp của Mỹ và các nước đồng minh trong đánh bại 176 sư đoàn Quốc Xã và Phát Xít cùng việc thả hai quả bom nguyên tử xuống Nagasaki và Hiroshima trở thành duy nhất “hiển hách” trong đại cuộc “giải phóng Châu Âu”.

Tuy nhiên, sự bóp méo kể trên đã được thực hiện và đã thực hiện được chỉ nhờ vào có sự đồng tình đồng thuận đồng tâm đồng đẳng theo lợi ích nhóm của thế lực chính trị Âu Mỹ đối với thế giới sử nhằm (a) hòa âm điền dã với đại cuộc ngăn chặn nguy cơ khủng khiếp tràn lan ảnh hưởng của Liên Xô xô ngã thành trì của cái gọi là thế giới tự do; (b) tự cứu nguy thể diện của các quốc gia tư bản Tây Âu như Anh đã “đi đêm” với Hitler, Pháp “bán nước” cho Đức Quốc Xã, Thụy Sĩ “bán thân” cho Đức Quốc Xã, và hàng loạt các quốc gia Âu Tây quỳ gối và quỳ đầu trước lá cờ Chữ Thập Ngoặc, nên nhất thiết phải có cho bằng được tấm áo khoác mang dòng chữ lấp lánh kim tuyến dạ quang của “vùng lên giải phóng quốc gia khỏi gót giày xâm lược của Đức Quốc Xã”; và (c) các pho sử khác nhau của các nước Tây Âu khác nhau lại kể cùng một sự việc giống nhau đến lạ lùng nhưng đầy sức thuyết phục với những kẻ bàng quan về cái gọi là đại công của các nước Tây Âu này trong Đệ Nhị Thế Chiến do đó đã chứng minh rằng chính họ và Mỹ chứ không phải Liên Xô đã giải phóng Châu Âu.

Song, riêng với lĩnh vực Sử chuyên biệt của mỗi quốc gia Âu Tây thì tính chuyên nghiệp là bản chất thuần nhất hừng hực bung ra của nghiên cứu Sử Tây Âu, trong khi đó tiếc thay sự trá ngụy lại là bản chất hỗn tạp thu mình thâm căn cố đế của nghiên cứu Sử Á Đông như được thể hiện ở bảy dạng đặc thù sau.

a) Gắn Hào Quang Cho Sử

Sử Tàu là minh chứng hùng hồn nhất cho cái thói cố tình gắn hào quang cho Sử chẳng hạn như truyền thuyết về một vị sử quan bị xử trảm vì khăng khăng không chịu sửa lại những tình tiết mà chính mình đã hàng ngày ghi chép lại từ những “điều có thật” đã xảy ra tại triều đình. Chuyện tầm phào này nhằm phục vụ cho một mục đích ngụy trang dài lâu – có khi xuyên thiên niên kỷ – rằng tất cả những gì đã ghi trong sử sách Tàu đều trung thực và là chân lý. Việc này chẳng khác gì để lờ đi sự thật về thói tà dâm loạn luân kinh tởm của toàn bộ các mệnh phụ phu nhân của tất cả các vương triều Trung Hoa, bọn sử gia Tàu đã nêu ra một “gương tiết liệt” của một góa phụ thời Đông Chu Liệt Quốc đã hươi đại đao chặt đứt lìa cánh tay của mình sau khi cánh tay ấy bị một gã đàn ông sàm sở sờ mó mân mê. Sử Tàu đã được gắn hào quang kiểu ấy để qua thiên niên kỷ sau đó, Tàu hê lên rằng Tàu có chứng cớ sử liệu về sự ghé thăm của các thương thuyền Tàu đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, từ đó xác quyết chủ quyền lịch sử “không thể chối cãi” của Tàu đối với toàn bộ Biển Đông, theo kiểu: nếu sử quan A thời Đông Chu Liệt Quốc bị bêu đầu vì không chịu viết Sử sai sự thật thì tất tần tật mọi thứ từ B đến Z được ghi trong Sử Tàu – bất kể là Sử cổ hay Sử mới chế biến xào nấu – đều là thật tuốt tuồn tuột bất khả “chái cổi”.

Môn học Lịch Sử chỉ là một môn học về nhiều thứ, từ dã sử đến chính sử, từ truyền khẩu đến những bằng chứng thư tịch gọi là “sử liệu” vốn thuần túy mang tính hoạt động hành chính hàn lâm tại triều đình của bất kỳ quốc gia nào, của bất kỳ dân tộc nào.

Sử không hề có hào quang.

Sử là về những sự kiện, dù đó là về những cuộc ồ ạt di dân Exodus bi thảm hay bi tráng trong lịch sử nhân loại: từ cuộc Exodus vạn lý trường di của người Việt về phương Nam rời bỏ vùng Động Đình Hồ rộng lớn để lánh nạn giặc Tàu; cuộc Kansas Exodus của người Mỹ da đen năm 1879; cuộc Mormon Exodus xuyên lục địa vì lý do đàn áp tôn giáo vượt miền Trung Tây Hoa Kỳ tiến về Thung lũng Salt Lake; cuộc Exodus của người Do Thái; và các cuộc Exodus 1948, 1949-1956, và 1967 của người Palestin bị quốc tế xua đuổi khỏi quê hương, khỏi Dãy Gaza, khỏi Bán Đảo Sinai, khỏi Cao Nguyên Golan, và khỏi Bờ Tây; cũng như cuộc Exodus 1975 vượt biển của người Việt khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

Bản thân các Exodus không hề có hào quang, vì Sử không bao giờ có hào quang. Tất cả các Exodus đều là sự bôn đào từ bản chất, không bao giờ là sự “tìm đến miền đất hứa của tự do” chói lòa chói lọi chói chang hào quang bất kỳ.

Chăm chỉ gắn hào quang cho Sử là việc làm điểm tô nhan sắc cho Sử, mà sự tô son trát phấn đó chính là sự lạm dụng Sử, việc trá ngụy thứ nhất đặc thù của Á Đông.

b) Dùng Sử Làm Hào Quang

Sử gồm những gì (a) là sự thật, (b) được cho là giống sự thật hơn, (c) là kết quả của các khảo cứu khoa học bổ sung gần nhất tức còn đợi chờ các bổ sung của tương lai, và (d) thậm chí những gì hoàn toàn không bao giờ có thể kiểm chứng được. Tất cả dựa vào những pho Sử chủ lực của mỗi quốc gia, mà sự khách quan của các “sử gia” khi chấp bút viết nên các pho Sử ấy không bao giờ được mặc định là luôn tồn tại.

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.

c) Phủ Nhận Lịch Sử

Tàu phủ nhận lịch sử nên không bao giờ có các thiên tiểu thuyết lịch sử về các thời kỳ Tàu bị Việt Nam đánh cho đại bại, thậm chí có lần bị Lý Thường Kiệt xua đại quân tràn ngập non sông Tàu, phá tan thành bình địa bao thành quách khiến Sử Tàu mãi mãi không bao giờ còn có thể biết đến vị trí chính xác của các di tích lịch sử ấy. Toàn bộ nền văn học Tàu chỉ có các thiên “anh hùng ca” như Tiết Nhân Quý Chinh Đông đại thắng Đại Hàn, hoặc La Thông Tảo Bắc, hoặc Tiết Đinh San Chinh Tây, v.v. mà thôi.

Nhật phủ nhận lịch sử nên thường xuyên thay đổi sách sử, không công nhận các “tội ác” đã gây ra trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Những người Việt Nam của cuộc Exodus 1975 và những người chống Việt phủ nhận lịch sử khi bôi nhọ Hồ Chí Minh và phủ nhận tất cả các chiến thắng của cộng sản Việt Nam bất kể đó là chiến thắng Thực Dân Pháp hay chiến thắng Đế Quốc Mỹ hoặc chiến thắng Bá Quyền Bành Trướng Tàu. Ắt họ cũng đã soạn sẵn nội dung để tung ra nhằm phủ nhận ngay vinh quang của Trận Điện Biên Phủ Trên Biển của cộng sản Việt Nam khi biến Biển Đông thành Huyết Hải vùi chôn toàn bộ hải quân Tàu trong trận chiến vệ quốc của tương lai.

Nhiều “nhà nghiên cứu” Việt mang học hàm “tiến sĩ” khi viết về Sử đã lộ rõ nguyên hình là những tay mơ ngu ngốc một cách đáng thương hại khi lầm lẫn giữa sĩ diện đối với một hành vi vô nghĩa và sách lược sáng suốt của tất cả các đấng minh quân. Trong các bài viết trước đây, tôi có kể về “lễ bão tất” khi Vua Quang Trung sang Tàu phủ phục quỳ ôm gối Vua Càn Long để hành lễ như đối với phụ hoàng. Các vị tiến sĩ viết nghiên cứu Sử kiểu gì mà lại ghi rằng họ “không khỏi bẽ bàng”, rằng “vua nước mình chạy lại quỳ xuống ôm gối ông vua già nước Tàu thật còn gì là quốc thể”, và rằng “dù là vua Quang Trung thật hay vua giả thì nghi lễ đó cũng là một thái độ sĩ nhục đất nước mình”. Chính các “nhà nghiên cứu” này là sự sĩ nhục quốc gia Việt Nam, làm xâm hại quốc thể Việt Nam, khiến giới sử học Âu Tây phải cảm thấy bẽ bàng trước sự xuẩn ngốc bất chuyên nghiệp của những kẻ tiếm danh “nghiên cứu Sử”. Vì rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam tất cả các vị vua đều phải quỳ gối xưng “thần” với “thiên triều Tàu”, dù cho có đánh cho Tàu đại bại cũng phải ngay lập tức “xin lỗi mạo phạm”, lạy xin Hoàng Đế Tàu phong cho tước Vương để làm An Nam Quốc Vương, hối hả lùa bắt trinh nữ quốc sắc thiên hương, vơ vét tài nguyên quốc gia, để dâng Hoàng Đế Tàu, xoa dịu và cứu vãn uy danh Hoàng Đế Tàu, và khi chiếu sắc phong của Hoàng Đế Tàu về đến thì Vua Việt phải lập bàn hương án quỳ gối khấu đầu đón nhận “thiên ân” – tất cả nhằm để cứu đất nước được toàn vẹn và dân tộc được sinh tồn. Đó là “quỳ gối” để che dấu sự thật là không bao giờ “quỳ đầu”. “Quỳ Gối” như một sách lược vì đại cuộc tránh sự đối đầu kéo dài của “lấy trứng chọi đá”. Và chính sự không bao giờ “Quỳ Đầu” đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử của nước Việt mỗi khi “người quỳ gối xưng Thần” vùng lên đánh cho tan tác thiên binh thiên tử, di xú vạn niên, vạn đời ô uế, muôn kiếp ô nhục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ nghi lễ mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam tận dụng để tung hỏa mù trước đối phương.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ hành động mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam phải thực hiện, tự mình nuốt nhục thực hiện để chỉ bản thân lặng câm chịu tội trước dân tộc – nếu dân tộc không thấu hiểu – chứ quyết không để một người dân Việt nào phải quỳ gối trước ngoại bang như kiểu người dân Tàu phải quỳ gối bên vệ đường lịch sử trước quân đội Thiên Hoàng.

“Quỳ Gối”, do đó, là một thế xuống tấn của võ thuật Việt để khi cần thì xuất chiêu hất “đầu” hoặc lộn “đầu” đánh vòng hai chân ngược lên trấn đạp ngay vào đỉnh “đầu” tử huyệt đối phương.

Phủ nhận lịch sử để miêu tả nặng nề về việc “quỳ gối” là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử để lờ đi sự thật hào hùng không bao giờ “quỳ đầu” của tất cả các lãnh đạo Việt Nam từ xưa đến nay cũng là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử, do đó, chính là một trá ngụy quái gở đặc thù Á Đông.

d) Sáng Tạo Lịch Sử

Từ cái thói phủ nhận lịch sử như đã nêu trên, các “sử gia” Á Đông sáng tạo ra lịch sử. Và sự xào nấu chế biến này là một trá ngụy khác của giới gọi là “sử gia”, “nhà sử học” hay “nhà nghiên cứu Sử” Á Đông.

Vì cái sĩ diện mà “sử gia” Việt chế tạo ra giai thoại Vua Quang Trung cử người giả đóng vai mình để sang chầu vua Tàu Càn Long. Đã là bí mật cử một “giả vương” tức là một việc làm “khi quân” đối với Vua Tàu, có thể dẫn đến họa binh đao, thế mà sao tên thật của “giả vương” lại đường đường chính chính được ghi vào sử sách, chưa kể theo lề lối thực hành thực thi thực hiện của muôn đời và muôn nơi thì (a) vị “giả vương” ấy sẽ bị thủ tiêu sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về, (b) sự thật về việc “giả vương” chỉ có thể được phát hiện sau đó nhiều trăm năm từ các nguồn kể cả kém chính thống qua các nghiên cứu độc lập, và (c) chẳng có sử liệu gì ghi lại cuộc đời sau đó của “giả vương” sau khi lập “đại công” lừa gạt Vua Tàu khiến “giả vương” tự dưng tan biến trong sử sách.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra sự “hào hùng tuẫn tiết” của các bại tướng Việt Nam Cộng Hòa vốn chỉ biết tiến quân lúp xúp sau lưng các chiến binh viễn chinh Mỹ và đồng minh.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” nhằm che dấu sự thật rằng Mỹ đã (a) vừa cấm Việt Nam Cộng Hòa không được cho hàng trăm oanh tạc cơ xuất kích dù đã tập kết đầy đủ bom đạn tại Đà Nẳng sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ các chiến hạm Tàu xuống đáy Biển Đông, (b)  vừa lịnh cho Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ mặc để các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu tiêu diệt cho thêm phần bi tráng, và (c) vừa cho Đệ Thất Hạm Đội trấn giữ Biển Đông lẳng lặng rút lui và án binh bất động để Tàu thực hiện hoàn tất việc chiếm giữ Hoàng Sa ngay sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình – tất cả chỉ để bêu xấu Bắc Việt “bán nước” dù Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa quản lý đã bỏ mặc chủ quyền để dâng cho Tàu theo lịnh Mỹ.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra chuyện Bắc Việt định tuyên bố đầu hàng thì Mỹ đột nhiên chấm dứt ném bom Miền Bắc, nghĩa là chỉ cần Mỹ ném bom thêm một ngày là Hồ Chí Minh giương cờ trắng quỳ gối quy hàng.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ và Mỹ gốc Việt áp dụng ngay từ ngữ “xâm lược Campuchia” để Mỹ thực thi lịnh cấm vận Việt Nam.

Thật là sự suy vi suy đồi suy tàn của ngành Sử ở thế giới Á Đông, nơi có sự “quỳ đầu” rõ nét nhất, nhục nhã nhất của sự vong thân.

e) Tiêu Hủy Sử Liệu

Chi tiết hùng biện của tác giả bài viết này lúc đối đáp với các phóng viên báo chí đổ xô đến “tra tấn” về sự việc “Tứ Đại Ngu” năm 2011 đã chưa từng được bất kỳ tờ báo nào – dù in hay mạng – kể lại cho khách hàng tức độc giả của họ trên toàn quốc được biết đến. Tất cả chứng minh báo chí chính thống Việt Nam (a) không bao giờ để độc giả biết sự thật đặc biệt khi sự thật ấy gây bất lợi cho báo chí, (b) không bao giờ phơi bày bản thân hoàn toàn thất bại về hùng biện trước “đối tượng” mà họ phải tiêu diệt, (c) luôn có sự đồng tâm hợp lực trong ra sức tiêu diệt “kẻ thù chung” của báo giới, (d) luôn có sự lộng hành của báo chí khi mặc định rằng một cá nhân nào đó khi ngăn cản Luật Biểu Tình tức đồng nghĩa với việc chống Thủ Tướng và Chống Đảng nên nhất thiết phải bị tiêu diệt, và (e) luôn góp phần “tiêu hủy sử liệu” như đã không bao giờ nói gì đến “sử liệu” rằng lần đầu tiên đã có sự vỗ tay tán thưởng rầm rộ của cả hội trường quốc hội khi một nghị sĩ đứng phát biểu tại chỗ chứ không trên “sân khấu” khi nghị sĩ này hùng biện ngăn cản Luật Biểu Tình.

Tác giả bài viết này giữa vòng vây tấn công điên dại của báo chí đã hùng biện rằng (a) điều nào của luật nào ghi rõ không được phép dùng từ “đại ngu”, rằng (b) người viết xuất thân là nhà giáo nên học tính khẳng khái của Thầy Chu Văn An, rằng (c) tuy noi gương Thầy Chu Văn An vẫn không quá quắc cực đoan như Thầy khi nằng nặc đòi chém đầu cho bằng được bảy nịnh thần, rằng (d) có nhà báo nào biết tờ Thất Trảm Sớ hiện ở đâu không để có thể chứng minh lời lẽ của Thầy Chu Văn An khi giận dữ đòi chém đầu người khác vẫn viết với văn phong ôn hòa đôn hậu lịch lãm dịu dàng nhẹ nhàng, và rằng (e) có nhà báo nào biết tên bảy vị nịnh thần ấy cùng các tội cụ thể của từng vị hay không để yên tâm rằng các vị đó có thực tội để phải chịu tội theo chuẩn văn minh văn hóa cao vời của Ân Mỹ – trong khi tác giả bài viết chỉ ghi ra bốn điều ngu của một kẻ đại ngu chứ không kể bốn điều tội của kẻ đại tội thì sao các phóng viên lại phải quan tâm cứu nguy kẻ đại ngu đến thế.

Chi tiết có thật 100% trên nhằm chứng minh một sự thật khác cũng có thật 100% tại Việt Nam đối với sử liệu: thói hủy phá sử liệu. Ngoài một chi tiết lẻ loi bằng tiếng Việt hoàn toàn không đáng tin cậy trên Wikipedia ghi rằng trong Thất Trảm Sớ Chu Văn An đã xin vua Trần Dụ Tông chém đầu 7 vị quan mà ông cho là “nịnh thần” gồm Mai Thọ Đức, Châu Canh, Bùi Khâm, Văn Hiến, Nguyễn Thanh Lương, Tâm Đức Ngưu, và Đoàn Nhữ Cầu, thì (a) không bất kỳ một pho chính Sử nào của Việt Nam có ghi nội dung tương tự, (b) không bất kỳ ai từng thấy cái gọi là “Thất Trảm Sớ”, (c) không bất kỳ ai biết chức danh và tội danh của từng vị trong số “7 nịnh thần”, (d) không bất kỳ ai chứng thực Chu Văn An nắm rõ Luật Hình Sự nước nhà để dám quy chụp tất cả 7 vị đó đều phạm tội phải chịu bị xử trảm cũng như việc tố cáo có đã theo đúng trình tự tố tụng hay chưa hay chỉ cần muốn chém ai thì cứ tự tung tự tác viết sớ gởi thẳng cho vua, và (e) hệ thống lưu trữ tàng thư của Nhà Trần cụ thể ra sao mà để xảy ra việc lộng hành làm biến mất hoàn toàn và triệt để của tờ “Thất Trảm Sớ”.

Việc hào quang hóa một nhân vật lịch sử còn dẫn đến việc Chu Văn An được ngợi ca là “bậc trung thần dũng cảm phi thường, có uy tín cao trong triều đình, người Thầy chuẩn mực của muôn đời” dù sử liệu có cái thì ghi Thầy là Tiến Sĩ, có cái lại ghi Thầy chẳng đỗ đạt gì, thậm chí có cái còn ghi rằng “nội dung dạy học của Thầy ngày nay không còn được biết đến đầy đủ nhưng chắc chắn đã nổ lực giảng dạy học thuyết kinh điển của Nho gia tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng-Mạnh dần chiếm thế độc tôn.” Chỉ cần làm sớ xin chém đầu 7 vị quan mà hậu thế không rõ phạm tội cụ thể nào là đã được danh dũng cảm phi thường. Mặc cho Thất Trảm Sớ không đủ sức hùng biện thuyết phục vua, người viết vẫn được cho là có uy tín cao trong triều đình. Và mặc cho không ai biết rõ nội dung dạy học của Chu Văn An, Thầy vẫn được tôn vinh thành bậc Thầy của muôn đời. Tất cả những điều này chỉ được chấp nhận trong khung cảnh và hoàn cảnh Việt Nam, trong khi các chuẩn mực khoa học chuyên nghiệp Âu Tây luôn trên cơ sở “hữu bằng, hữu chứng” sẽ không cho là như vậy.

Tiêu hủy sử liệu là tội tày trời của nhà cầm quyền đối với lịch sử của dân tộc.

f) Không Bao Giờ Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Sử

Thay vì nghiên cứu khoa học, hình thành các khảo cứu lịch sử có giá trị về nội-dung-ắt-là của Thất Trảm Sớ hay của vị trí cụ thể chính xác của các đoạn sông cắm cọc từng nhuộm đỏ tanh tưởi máu giặc Tàu, cùng biết bao các điểm mờ, điểm xám, và điểm tối hay điểm nhòe nhoẹt lẫn lộn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ cuộc Exodus Vạn Lý Trường Di rời xa Động Đình Hồ, các “nhà sử học” Việt Nam hoặc (a) chỉ chuyên kể lại những tình tiết sẵn có trong các pho Việt Sử chính thống mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được trong sách hay trên mạng, hoặc (b) áp hiện tại vào quá khứ để giải thích quá khứ – như khi nói về Hội Nghị Diên Hồng như cách lấy ý kiến nhân dân của “trưng cầu dân ý” về chuyện “nên đánh hay nên hòa” trong khi Hội Nghị Diên Hồng thuần túy chỉ để nhà vua phổ biến các yêu cầu toàn dân phải đáp ứng cho đại cuộc đánh tan giặc xâm lược, hoặc (c) chẳng bao giờ xem là “sử liệu” nếu đó là nội dung nghiên cứu chẳng hạn về tên họ của những mỹ nữ thuộc những gia đình nào của những địa phương nào đã bị bắt để đưa về kinh đô dâng cho các vua Việt hưởng lạc hoặc triều cống vua Tàu, hoặc (d) tận dụng danh “nhà sử học” để tuyên bố ngay mà không qua nghiên cứu khoa học hàn lâm rằng “mại dâm” là một “nghề” đã có từ ngàn xưa nên nhất thiết phải được ngày nay luật hóa, v.v.

g) Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Ý Đồ Chính Trị

Từ việc không bao giờ nghiên cứu Sử phục vụ Sử tức phủ nhận giá trị sử liệu những thứ mà giới sử gia thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tìm tòi, các “nhà nghiên cứu Sử” người Mỹ gốc Việt tập trung cho những thứ cũng là “sử liệu” nhưng phục vụ được ý đồ chính trị, chẳng hạn như chi tiết về cái gọi là “Công thư Phạm Văn Đồng” hay “Hội Nghị Thành Đô”, v.v., mặc cho đây là những sử liệu còn nguyên vẹn, mới tinh, có nội dung hoàn toàn dễ hiểu. Tất nhiên nội hàm của Công Thư Phạm Văn Đồng và Hội Nghị Thành Đô mang tính sách lược chiến lược quốc gia nhằm (a) dùng làm chiến thuật hóa giải một tình thế chiến lược và (b) xuất chiêu “cao tay ấn” nhằm thực hiện một mưu trí “thả bóng, bắt mồi” nhằm đưa kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc vào bẫy rập ngoại giao trong thiên niên kỷ mới.

Nhưng chính bởi nội hàm không bao giờ được “bô bô cái miệng” nói về như trường hợp “giả vương” trong sử liệu về Vua Quang Trung nên chẳng mấy ai hiểu thấu đáo, mà đám chống Việt có cớ để tận dụng, để “nghiên cứu” phục vụ ý đồ chính trị nhằm bôi nhọ cho bằng được Cộng Sản Việt Nam bằng những danh xưng như “bán nước” hay “làm tôi mọi cho Tàu” mà nếu dưới thời Vua Quang Trung hay bất kỳ vị vua nào khác trong toàn bộ lịch sử Việt Nam thì những kẻ “nghiên cứu Sử” kiểu ấy trong đám chống Việt đương nhiên không bao giờ thoát được cơn thịnh nộ của nhà vua.

Thói sử dụng sử liệu phục vụ cho mưu đồ chính trị gần đây còn được thể hiện bởi những kẻ thậm chí không cần ngay cả tấm áo khoác của “nhà nghiên cứu Sử”, như bởi đám người đang bối rối cùng đường mạt vận không biết bấu víu vào đâu đã cùng tung hô Ngô Đình Diệm một cách đáng thương hại, khiến các sử gia Âu Tây chuyên nghiên cứu về Ngô Đình Diệm cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.

C) Lộng Giả Thành Chơn

Một gã nọ có background ngành Luật, thuộc đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh, có lần đã “chất vấn” trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nghị trường, yêu cầu Thủ Tướng cho biết kế sách đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

Gã ngu ngốc đó không biết rằng (a) trên toàn thế giới nghị viện không bao giờ có bất kỳ một nghị sĩ nào đặt câu hỏi tương tự, rằng (b) trên toàn thế giới không bao giờ có bất kỳ nguyên thủ nào mở miệng bô bô nói về sách lược quốc gia thực sự trong đối đầu với một siêu cường, và rằng (c) sách lược thực sự trong đối đầu với Trung Quốc không bao giờ là chi tiết được đem ra công khai công bố bên ngoài ngưỡng cửa cấm điện hoàng gia hay phòng họp tối mật của Bộ Chính Trị.

Đặt câu hỏi mà không biết câu hỏi ấy sẽ không bao giờ có câu trả lời, mà vẫn đặt câu hỏi, thì hoặc (a) y là kẻ ngốc thật sự hoặc (b) y nghĩ Thủ Tướng là kẻ đại ngu.

Ở đây chỉ nhằm nêu lên một sự thật rằng sách lược 5000 năm nay của Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, gồm

1) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bọn Tàu

2) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bất kỳ quyền lực nào, bất kể đó là quyền lực cứng của vũ khí tối tân hay quyền lực mềm của triết thuyết hay văn hóa hoặc tài chính. Quyền lực cứng đã muôn đời thất bại tại Việt Nam mà kẻ bại trận gần đây nhất là bọn Tàu trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc cùng với bọn theo đóm ăn tàn của chúng là Campuchia trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam. Quyền lực mềm cũng nếm mùi thất bại mà rõ nét nhất là tại Việt Nam Mác-Lê Nin chỉ là một hệ thống nghiên cứu mang tính cơ sở triết học hiện đại nên Việt Nam không trở thành một xứ miền của giáo điều, thậm chí còn sáng tạo thành công mô hình đầy sáng tạo “nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa” có sự điều tiết cần thiết của Nhà Nước trong giai đoạn phôi thai.

3) Sách lược quốc gia đối với Tàu luôn được chủ động đề ra bởi các lãnh đạo, chỉ được thể hiện khi có nạn ngoại xâm, không bao giờ là thứ để ghi rõ trong sử sách để tránh bị tiết lộ, không bao giờ được nói thật trong các phát ngôn chính thức của lãnh đạo, cũng như không bao giờ được đem ra hỏi ý kiến toàn dân. Hội Nghị Diên Hồng không bao giờ là để hỏi ý kiến người dân xem triều đình nên hòa hay nên chiến, vì chưa từng ai đưa ra được sử liệu về (a) thể thức lấy ý kiến bằng cách giơ tay hay bằng viết phiếu, (b) mẫu của phiếu – nếu là bỏ phiếu bằng cách viết phiếu, (c) danh sách các “bô lão”, và (d) kết quả bỏ phiếu.

Đem cái sự việc giông giống như một sự nhún nhường “quỳ gối” của giới lãnh đạo Việt Nam để bô bô về cái gọi là “bán nước”, ấy là mưu kế “lộng giả thành chơn” của bọn gian tà gian trá gian manh gian xảo gian hùng.

Tóm lại, tất cả những ai nói Cộng sản Việt Nam “quỳ gối” trước Tàu chính là những kẻ “quỳ đầu” trước bất kỳ ai chống Việt kể cả khi kẻ chống Việt chính là Tàu.

Và tóm lại, đây là phần giữa bài được lập lại làm phần kết cho bài viết này:

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự tự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.   

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thế Nào Là Sử Gia

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc!

Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!

Sát Tàu

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Trăm Trứng

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-7-2016

Nhân có cô học trò đọc mấy bài viết vừa qua của tôi thấy tôi than rằng đã không còn bản lưu nhiều bài viết nhiều năm trước do máy vi tính bị hỏng, đã gởi lại cho tôi bài sau, tôi xin lập lại nguyên văn như dưới đây (cuối bài có đăng thêm 5 hình ảnh mới, không có trong bản đăng trước trên emotino.com). Bài này được đăng khoảng đầu năm 2011 lúc Gaddafi vẫn còn tại vị (Mỹ và NATO tấn công Libya tháng 3-2011, giết Gaddafi tháng 10 cùng năm). Không bất kỳ báo chí Âu Mỹ Á Phi nào trên toàn thế giới lúc ấy dám vẽ ra “kịch bản Gaddafi bị sát hại” do Obama đã tuyên bố khẳng định “sẽ không lấy mạng Gaddafi” mà chỉ cùng Anh, Pháp “hỗ trợ phe dân chủ ôn hòa vùng lên nhằm phế truất nhà độc tài Gaddafi, tái lập nền dân chủ tự do, dựng xây đất nước Libya hùng mạnh.”

Hoàng Hữu Phước Luận Về Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên

(Thế Giới Sẽ Ra Sao Nếu Không Còn Gaddafi)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Xu thế hiện nay là…người ta sính dùng từ “xu thế” mỗi khi nói về sự yêu chuộng hòa bình khi có xung đột vũ trang, hiểm họa chiến tranh, hay bùng phát chiến sự, mà quên rằng hòa bình không tự nhiên có, không tuân theo bất kỳ công thức nào để có thể được gọi là “xu thế”, không tự nhiên tồn tại, và nhất là không thể tồn tại vĩnh hằng. Voi, trâu, bò, hươu, nai, hoẵng không xé xác ăn thịt sống của nhau ngay cả khi có sự cạnh tranh thực phẩm xảy ra làm vơi đi nguồn cây lá; song hổ, báo, mãnh sư, và linh cẩu không vì cây cỏ bị ăn tranh vẫn cứ xé thịt cộng đồng động vật ăn cỏ. Tương tự, hòa bình chỉ mang ý nghĩa hạn hẹp hoặc trong tâm tưởng mỗi cá nhân hoặc duy chỉ cho một đất nước nào đó đang không xảy ra nội chiến hoặc xung đột vũ trang với lân bang hay chiến tranh với … viễn bang, chứ không bao giờ có một thế giới hòa bình giữa những con người đang còn sống. Vì vậy, nội dung sau đây về Đại tá Gaddafi (hay Qaddafi hoặc Kadhafi) của Libya, nhân vật thời thượng đang là tâm điểm của báo giới quốc tế cùng lúc với đại họa tsunami và cháy nổ các nhà máy điện nguyên tử ở Nhật Bản, nhằm nêu những nét đặc biệt về Ông mà khó có nhiều người còn nhớ, cùng những nhận định phi-xu-thế của người viết.

Chó Điênlà tên mà Tổng thống Mỹ Reagan đã dùng để gọi con người này :

Libya (6)

Ở đây xin miễn bàn về văn hóa đẳng cấp thấp trong ngôn từ của rất nhiều tổng thống Mỹ như Reagan gọi Gaddafi là “Chó Điên” còn Bush lập đi lập lại “Tao sẽ đá đít thằng Saddam Hussein” khi manh nha cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thậm chí còn du côn khi nói “Tao là Tổng Tư Lịnh, sao lại phải trả lời câu hỏi của mấy người hử! Mọi người mới phải trả lời khi tao hỏi chớ!” khi trở thành vị cựu tổng thống buộc phải ra điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ do đã gây ra hậu quả nghiêm trọng tai hại đến uy danh, uy tín, sức mạnh quân sự và kinh tế Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh ấy), đơn giản vì chính Mỹ cũng bắt đầu không cho kiểu ăn nói dung tục vốn là thói quen của người Mỹ (do khinh thị toàn thiên hạ) còn thích hợp với “Châu Á Đại Gia” mà kinh tế nước Mỹ đang phải cầu cạnh nương nhờ (trong tất cả các game show phát tại Châu Á tất cả những lời chửi tục đều bị chêm ô mờ ngay mồm diễn viên kèm theo một tiếng bip, còn trong phim truyện thì chỉ các vai lưu manh thất học mới được thốt nên từ chửi tục), mà xin nêu vài ý kiến cá nhân thật ngắn gọn ở dạng các ghi chú và phân tích riêng của người viết liên quan đến Đại tá Muammar Gaddafi, qua các mục sau:

A) Gaddafi Ông Là Ai

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

F) Thế Giới Hậu Gaddafi.

A) Gaddafi – Ông Là Ai?

1- Người từ trước đến nay vẫn giữ nguyên cấp Đại Tá trong khi uy quyền có thể tự phong – hay sai khiến quân đội tấn phong –  Đại Tướng.

2- Người mỗi đêm ngủ tại một nơi khác nhau ngay cả vợ Ông cũng không biết nơi chốn, khiến các đội biệt kích tinh nhuệ của Mỹ trong hàng chục năm trời không tài nào ám sát được, kể cả các đội thám báo cũng chỉ có thể cung cấp các vị trí không-có-Gaddafi cho những cuộc không kích đầy tốn kém.

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi:

Đưa được tất cả các cường quốc Âu Mỹ vào bẫy qua mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay kinh hoàng trên vùng trời Lockerby (Tô Cách Lan, Anh Quốc), và  bồi thường vài tỷ USD cho gia đình các nạn nhân vụ Lockerby, để thoát nạn cấm vận, được Âu Mỹ chào đón như thượng khách:

Libya (1)

thậm chí có được cả bức ảnh đương kim tổng thống Hoa Kỳ kính cẩn dùng hai tay khi được vinh hạnh bắt tay “Chó Điên”

Libya (8)Libya (7)

để rồi sau đó làm Mỹ và Phương Tây muối mặt khi bắt đầu lên tiếng tuyên bố công kích Mỹ và Tây Phương tại các diễn đàn quốc tế quan trọng.

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi:

1- Không tấn công tổng lực ngay từ đầu để tiêu diệt bạo loạn thật dứt khoát và thật nhanh.

2- Cho phép con trai là Saif al-Islam Gaddafi tuyên bố Nicolas Sarkozy lén nhận tiền tài trợ của Libya trong chiến dịch tranh cử tổng thống Pháp năm 2007 và gọi Sarkozy là “thằng hề” nhưng không nhanh chóng trưng ngay bằng chứng tài liệu chuyển ngân.

3- Không tích cực và chủ động lôi kéo người bạn thân là Thủ tướng Ý Berlusconi vào cuộc để trói chặt tay chân Berlusconi ngay từ giây phút đầu tiên.

4- Chính mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay Lockerby, không bảo vệ công dân mình đến cùng, đã là con dao hai lưỡi đã dần xóa hình ảnh Gaddafi vị anh hùng dân tộc khỏi lòng kính trọng của một bộ phận người dân

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya:

1- Hấp tấp công nhận về mặt pháp lý chính trị phe nổi dậy ở Libya khẳng định Âu Mỹ chỉ biết một điều: ai chiếm được khu vực đang khai thác dầu hỏa của Libya đương nhiên là chính phủ mới của Libya.

2- Nga và Trung Quốc dùng mồm kịch liệt công kích Âu Mỹ khi có việc đệ trình kế hoạch lập vùng cấm bay ở Libya và tấn công quân sự nhằm lật đổ Gaddafi, nhưng Nga và Trung Quốc đã không sử dụng quyền phủ qu‎yết vì ý đồ thâm độc của Nga và Trung Quốc là muốn Âu Mỹ ngoài vũng lầy Afghanistan và Iraq phải sa lầy thêm trong cuộc chiến tranh Libya để Âu Mỹ suy sụp thêm về kinh tế, dẫn đến việc không thể theo đuổi các chương trình quân sự bủa vây Nga, còn Trung Quốc sẽ tự do xâm chiếm Đông Nam Á.

3- Anh Quốc tích cực tấn công Libya nhằm cứu vãn danh dự của đất nước Anh từ yếu hèn thỏa hiệp với Hitler bán đứng Đông Âu để Hoàng Gia Anh được Hitler bảo đảm bình an đến thuận răm rắp làm theo lời Mỹ để trả ơn đã chi viện bảo vệ Hoàng Gia Anh trước Quốc Xã Hitler.

4- Pháp Quốc tích cực tấn công Libya nhằm khoe sức mạnh quân sự của một nước Pháp đã tắt ngúm hào quang cường quốc, đồng thời muốn tỏ vị thế chính trị trên trường quốc tế và không muốn mất phần lợi về dầu hỏa như trong Chiến Tranh Iraq.

5- Mỹ chậm chạp để mong chờ Nga và Trung Quốc dùng quyền phủ quyết, hầu không phải trực tiếp tham gia chiến tranh với Libya, nhưng đã bị sập bẫy nên phải tuyên bố tham chiến bằng không quân mà không có bộ binh.

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

Người ta đã vẽ nên gần chục kịch bản cho Gaddafi và không ai lấy làm lạ khi nội dung nhiều kịch bản khác nhau này lại có cùng đoạn kết là sự sụp đổ của chế độ Gaddafi. Người viết bài này đã nói cùng vài người bạn cách nay hai tuần về bốn kịch bản khác, đó là

1- Gaddafi có thể tấn công tổng lực tiêu diệt phía bạo loạn đủ nhanh chóng an bài trước khi Mỹ và Phương Tây kịp trở tay;

2- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi sẽ bị tiêu diệt y như nhưng sớm hơn Saddam Hussein;

3- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nỗi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc chiến tiêu hao và lâu dài, biến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc và Tổng Thư K‎ý Liên Hợp Quốc bị thương tổn uy danh, khuấy động binh biến lan rộng Trung Đông và Châu Phi; và

4- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nổi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc thánh chiến, dẫn đến tình trạng Âu Mỹ phải đồng ý đàm phán đình chiến, tái lập hòa bình tại Libya, “thực thi dân chủ” tổ chức bầu cử “tự do và công bằng” trong tình thế “phe nổi dậy” do bị tiêu hao lực lượng không thể có thế mạnh lãnh đạo  tân chính phủ, khiến Libya trở thành quốc-gia-Gaddafi-có-Gaddafi-về hưu.

F) Thế Giới Hậu Gaddafi:

1- Sự thiếu khôn ngoan của Âu-Mỹ dẫn đến bị sập bẫy Nga-Trung Quốc tấn công Libya đã cung cấp cho thế giới một phương pháp mới vô cùng hữu hiệu để vô hiệu hóa Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc để áp dụng từ nay cho đến khi Liên Hợp Quốc cáo chung và bị thay thế bằng một tổ chức quốc tế khác – như lịch sử đã từng thay Hội Quốc Liên thành Liên Hợp Quốc – đó là: từ nay bất kỳ quốc gia nào có các cuộc nổi dậy, nhà cầm quyền quốc gia đó sẽ sử dụng toàn bộ binh lực thần tốc tiêu diệt ngay lập tức, không để Liên Hợp Quốc kịp có bất kỳ nghị quyết nào và không bất kỳ thế lực quân sự nước lớn nào và nước theo đóm ăn tàn nào kịp điều binh can thiệp hay bàn bạc cho việc lập “vùng cấm bay”.

2- Sự đàn áp các cuộc bạo loạn từ nay sẽ diễn ra dứt khoát hơn, tàn bạo hơn tại các nước Trung Đông và Châu Phi hầu tránh việc kéo dài dẫn can thiệp quân sự từ Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.

3- Nước Mỹ suy tàn, bắt đầu từ thái độ ngay trước chiến tranh Libya: cầu mong Nga và/hay Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết, khi chẳng được như ý thì vừa tiến hành không kích, vừa lập đi lập lại rằng sẽ nhanh chóng trong vài ngày chuyển quyền điều phối cho Anh hay Pháp, và rằng sẽ không sử dụng lục quân, sẽ không sát hại Gaddafi, sẽ tuân thủ nghị quyết Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, v.v., khiến cả thế giới – nhất là thế giới Hồi Giáo – nhận ra ngay là Hoa Kỳ đã biến đổi từ một siêu cường quân sự thao túng thế giới thành một quốc gia dễ bị tổn thương và dễ bị cho vào rọ đễ bị thao túng, từ đó kích thích sự trỗi dậy của tất cả các thế lực chống Mỹ, trong đó có cả các nhóm khủng bố quốc tế.

4- Từ sự suy tàn của Mỹ như nêu trên đến việc kiếm tìm hư danh của Anh và Pháp khi tung quân – tức tài lực ngân khố quốc gia – vào cuộc tấn công Gaddafi, sẽ là sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bành trướng lãnh thổ bằng quân sự khiến phần còn lại của thế giới sớm đối mặt với sự đe dọa từ Trung Quốc.

5- Số lượng quốc gia sẽ gia tăng đáng kể một cách cơ học, cụ thể là có sự xuất hiện của các “tân quốc gia” từ những vết thương quá khứ của những lần vùng lên đòi độc lập hay ly khai chẳng hạn của Xứ Basque, Tô Cách Lan và nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ vốn đã luôn bị dìm trong biển máu, nay sẽ nương theo “xu thế” thiểu-số-nổi-loạn-được-Liên-Hợp-Quốc-hậu-thuẫn-ngay của loạn quân Libya để thành một “tân xu thế” khi vùng lên xé nhỏ Tây Ban Nha, cắt khoanh Hoa Kỳ, hất tung Tô Cách Lan và Bắc Ái Nhĩ Lan khỏi cái tên ngạo nghễ Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan.

 

Gaddafi, vị phúc tinh đang ban cho Trung Quốc cơ hội quý hơn kim cương trở thành Chủ Tể Nhân Loại.

Gaddafi, chất xúc tác kỳ bí của Thượng Đế để thúc đẩy sự lộ diện hèn yếu suy tàn của những đầu óc thiếu thông minh của Mỹ, Anh, và Pháp, dẫn đến Đệ Tam Thế Chiến, một thế chiến kỳ quái không phải giữa hai bên rõ nét như Khối Trục đối với phần còn lại của thế giới, mà là một Thế Chiến mới giống như võ đài đô vật đánh hội đồng kiểu Mỹ với nhiều chục võ sĩ thượng đài cùng lúc đánh nhau tán loạn từng cặp, khi chiến tranh xảy ra khắp nơi một cách riêng biệt. Thế giới tối đen không vì tro núi lửa của Ngày Tận Thế hay do bùng bức xạ từ vụ va đập thiên thạch, mà vì khói từ hàng tỷ họng súng tiểu liên và những đám cháy của lốp xe.

Các hình ảnh bổ sung cho kỳ đăng lại năm 2016 này:

 Libya (5)Libya (4)LibyaLibya (3)Libya (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi và Saddam Hussein

Tứ Trụ Bắc Việt

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Đệ Tam Thập Thất Kế – Phần 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-7-2016

Phan2

I) Thế Nào Là “Quái Vật” – Giải Thích Từ Ngũ

Tương tự như “Chó Điên” là tên do chính Mỹ và Anh dùng để gọi sau lưng Gaddafi, “Quái Vật” là tên do Mỹ chắc chắn đã luôn dùng để gọi những ai do Mỹ dựng nên trong Kế 37 qua sự thể rằng chỉ có những kẻ được Mỹ dựng nên mới là những “Chó Điên” và “Quái Vật” (a) cực kỳ tàn bạo với chính dân của chúng một cách vô lý để bảo vệ quyền lợi của Mỹ, (b) trở nên bất trị đối với Mỹ, và (c) Mỹ đã phải ra tay trừ diệt.

Trong phần giải thích “a” ở trên, sự “tàn bạo” khủng khiếp của Stalin là có thể chấp nhận được vì Stalin (a) không do Mỹ dựng nên, (b) không phục vụ lợi ích của Mỹ, (c) buộc phải sắt máu để bảo vệ được đất nước và dân tộc trong Đệ Nhị Thế Chiến vốn không hề “có cửa’ cho bất kỳ một cố ý lệch tâm lệch hướng lêch đường của bất kỳ kẻ phản quốc nào dưới mặt nạ tự do dân chủ nhân quyền, (d) đã chứng minh chiến thắng tuyệt đối cuối cùng để xây dựng nên siêu cường Liên Xô tồn tại trong nhiều thập kỷ sau đó mà sức mạnh thế lực còn duy trì đến tận ngày nay, và (e) cũng đã chứng minh Âu Mỹ luôn tìm cách tiêu diệt Nga bất kể Nga theo thể chế chính trị nào. Do đó, sự độc tài tàn bạo của Stalin Liên Xô đối với kẻ thù của đất nước Liên Xô hay của chế độ Cộng sản Xô Viết hay của đất nước Nga đều phục vụ cho một sự chính danh và khôn ngoan do đó không dẫn đến việc sử dụng tên gọi “Quái Vật” cho nhân vật vĩ đại này, dù toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu luôn ra rả để làm vui lòng Âu Mỹ về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài Joseph Stalin, người đã dựng xây nên Liên Xô vĩ đại làm nền tảng cho siêu cường nguyên tử Nga của thời hiện đại.

Phan2 (15)

Trong khi đó, sự độc tài tàn bạo của Francisco Franco, tên bạo chúa ở Tây Ban Nha dưới sự hậu thuẫn của Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý, với sự chống Cộng điên cuồng của y từng sát hại gần nửa triệu dân Tây Ban Nha “thân Cộng” tại gần 200 trại tập trung chính y xây dựng tại Tây Ban Nha, lại dẫn đến việc y được “mời” gia nhập Liên Hợp Quốc để thành một trong những nhà lãnh đạo thế giới chống Cộng hàng đầu thời Chiến Tranh Lạnh, đưa Tây Ban Nha vào chiếc ô bảo vệ của khối Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (tức Khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO) để tiếp tục cai trị bạo tàn cho đến khi qua đời 7 tháng sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt, cũng được Mỹ và NATO chấp nhận đầy tự hào nên cũng sẽ không bao giờ bị gọi là tên “Quái Vật”, cũng như luôn được hòa âm điền dã bởi toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu do khiếp sợ Âu Mỹ đã luôn không bao giờ dám nói gì về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài “Quái Vật” Francisco Franco, người xây dựng nên đất nước Tây Ban Nha mà nếu không có mấy con bò tót thỉnh thoảng húc tiêu mấy ngưu-sát-sĩ matador và tay vợt tennis ỏn ẻn hà-tiện-thà-mất-ngôi-hạng-nhất-chứ-quyết-không-bỏ-một-xu-thuê-huấn-luyện-viên-ngoài-gia-đình Rafael Nadal thì chẳng ai biết xứ sở ấy ở đâu trên bản đồ địa chính trị thế giới.

Phan2 (14)

II) Đối Nghịch Song Kỳ

A- Sự Cáo Chung Của Kế Thứ 37

Trong phần số 1 của Đệ Tam Thập Thất Kế, để chống lại 4 cột trụ Bắc Việt, trong Thế kỷ XX Mỹ đã phải huy động 7 cột trụ để có thể đứng lên trên đó mà chiến đấu chống Bắc Việt và đã chiến bại.

Để đánh giá lại Kế Thứ 37 ấy, bản tóm tắt sau về công thức chung của Kế Thứ 37 bao gồm:

1) Mỹ sẽ tạo nên tại một quốc gia chư hầu một Quái Vật A theo Phương Án A để đạt chiến thắng.

Phan2 (13)

2) Trường hợp Quái Vật A kém cỏi hoặc bắt đầu dở chứng hoặc cần phải thí để bảo toàn thanh danh của Mỹ, Mỹ sẽ áp dụng Phương Án B bằng cách đưa Quái Vật B có đẳng cấp “quái” hơn Quái Vật A những 37 lần để triệt Quái Vật A, và cũng nhằm đạt được chiến thắng, như trường hợp cho phép “Quái Vật Dự Phòng” đảo chánh giết chết “Quái Vật” Ngô Đình Diệm.

Phan2 (12)

Các phương án như nêu trên đã phát huy tác dụng tại các nước đồng minh (tiếng bình dân gọi là “chư hầu”) của Mỹ tại Đông Nam Á và Đông Bắc Á, trừ ở Nam Việt thì Mỹ đại bại cả nghĩa đen và nghĩa bóng khi Mỹ phải lần đầu tiên Mỹ phải tháo chạy nhục nhã theo tối hậu thư do Bắc Việt ném vào mặt và trong thời gian khẩn cấp do Bắc Việt ấn định, còn Nam Việt thì vĩnh viễn biến mất trên bản đồ thế giới.

3) Tuy nhiên, biến cố mà báo chí Âu Mỹ gọi là “Sài Gòn Thất Thủ” đã cung cấp cho các khu vực khác trên thế giới những kinh nghiệm khiến những Quái Vật A do Mỹ tạo nên đã biến hóa thành những Siêu Quái Vật tiêu diệt tất cả các Quái Vật “nằm vùng” khác khiến tất cả các phương án dự phòng khác của Mỹ bị triệt tiêu làm Mỹ không thể áp dụng “biện pháp thay thế” bất kỳ. Và chính những Siêu Quái Vật này đã quay sang gây họa trực tiếp cho Hoa Kỳ, như trường hợp của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi.

Phan2 (11)

mà hậu quả là chính Mỹ phải cho ra một phương án “hậu 37” hoàn toàn bất lợi cho Mỹ, đó là từ vi trí bảo đảm luôn đứng hậu (sau lưng) để ủng hộ Quái Vật mà mình tạo ra, Mỹ đích thân ra tay tiêu diệt nó từ phía hậu (sau lưng) hoặc phía trước ngay trục của phía sau:

Phan2 (10)

Tuy nhiên, tình hình thế giới hiện nay cho thấy các Siêu Quái Vật lại biết rút kinh nghiệm từ số phận của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi để thay vì tiêu diệt các thế lực “dự phòng” lại dang rộng tay dung dưỡng các Quái Vật công khai hợp lực bủa vây gây họa cho Mỹ và Âu Tây, như Thổ Nhĩ Kỳ dung dưỡng các tổ chức Hồi Giáo tương đương IS

Phan2 (3)

mà thí dụ rõ ràng nhất là Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ vung quả đấm thép vào Barrack Obama của Hoa Kỳ, tạo nên Nghịch Chiến Song Kỳ của 2016

Phan2 (2)

B- Quả Đấm Của Thổ Nhĩ Kỳ Đối Với Hoa Kỳ: Nghịch Chiến Song Kỳ

Quả đấm của Thổ Nhĩ Kỳ dành cho Hoa Kỳ để trừng trị Hoa Kỳ tội đã bật đèn xanh kích hoạt cuộc chính biến vừa qua ở Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm 9 đòn của

1) yêu cầu Mỹ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ;

2) tuyên bố Hoa Kỳ không phải là bạn của Thổ Nhĩ Kỳ;

3) tiếp nhận cuộc gọi sẻ chia an ủi của Tổng Thống Nga Vladimir Putin để hẹn cuộc gặp sớm nhất có thể được giữa hai nguyên thủ;

4) thách thức NATO khi mạnh tay dụng nhục hình với và đe dọa tử hình các tướng lĩnh Thổ Nhĩ Kỳ vốn hình thành lực lượng chung sức lãnh đạo các quân đoàn NATO, đặt NATO vào tình thế sẽ có một lực lượng các tướng lĩnh mới của Thổ Nhĩ Kỳ trung thành với Erdogan và thân thiện với Nga;

5) đặt NATO vào bẫy rập do Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên NATO nhưng từ nay đơn phương giao kết với Nga là đối trọng mà NATO đang ra sức áp sát toàn tuyến biên giới phía Đông;

6- làm bỉ mặt EU với hành vi sẵn sàng chà đạp nguyên tắc cốt lõi “tự do – dân chủ – nhân quyền” của EU với tuyên bố Thổ Nhĩ Kỳ sẽ xem xét tái lập án tử hình để trừng trị tất cả những ai cầm đầu cuộc đảo chính vừa qua;

7- chứng minh cho EU biết EU đang nằm trong quyền sinh sát của Erdogan;

8- có thể làm phá sản toàn bộ các nổ lực của Mỹ và NATO trong việc lật đổ Bashar al-Assad của Syria; và

9- làm nhục Mỹ công khai khi ngưng cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân hạt nhân Incirlik, khiến vô hiệu hóa không những lực lượng không quân tham gia đảo chính mà còn chặn đứng  lực lượng không quân Mỹ tham gia tấn công IS.

Mỹ đã lúng túng trước sự thất bại của cuộc đảo chính, như thể hiện ở chố nhanh nhảu lên tiếng không dự phần, nhanh chóng thanh minh với Erdogan, từ tốn nói sẽ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen nếu Thổ Nhĩ Kỳ có đủ bằng chứng về sự xách động của giáo sĩ này đối với cuộc đảo chính, và nhẹ nhàng khuyên Thổ Nhĩ Kỳ hãy vì đại cuộc chống IS mà cho Mỹ sử dụng căn cứ Incirlik.

C- 4 Nhận Xét Của Lăng Tần

1) Dân Thổ Nhĩ Kỳ khôn ngoan, không để bị sập bẫy tự do dân chủ nhân quyền của Mỹ để chống lại Erdogan, nhờ chứng kiến sự ngu muội của người dân các nước khác đã phạm phải khi nghe sự rù quến của Mỹ vùng lên triệt hạ những Quái Vật và Siêu Quái Vật do Mỹ dựng nên để rồi quốc gia suy vong suy kiệt suy tàn.

2) Erdogan khôn ngoan, biết dựa thế Mỹ và NATO để trở thành Siêu Quái Vật, kết hợp với các Quái Vật khác để vô hiệu hóa mọi can thiệp thay ngựa giữa giòng của Mỹ, bắn hạ siêu chiến đấu cơ của Nga làm Mỹ lúng túng đồng thời sử dụng làn sóng di cư để đầy EU vào hỗn loạn để ép buộc EU không được câu giờ trong kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU tiến đến tiêu diệt EU, và khi chậm được đáp ứng lại nhanh chóng quay sang xin lỗi Nga để từ đó được Nga hỗ trợ ra tay củng cố quyền lực, ra tay tiêu diệt đảo chính.

3) Cuộc đảo chính vừa xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ 1.000% là do Mỹ đã bật đèn xanh theo bài bản  áp dụng Kế Thứ 37. Vĩnh viễn không bao giờ có việc cuộc đảo chính xảy ra tại một nước có sự hiện diện của Đại Sứ Quan Mỹ – đặc biệt là sự có mặt của các cố vấn quân sự Mỹ hoặc quân đội Mỹ hoặc căn cứ quân sự Mỹ hoặc sự tham chiến của Mỹ – lại không được sự cho phép của Mỹ hoặc nằm ngoài sự nắm tình hình của thông tin tình báo tại chỗ của Mỹ hoặc là sự cố làm Mỹ ngạc nhiên bất ngờ.

4) Nếu như Ngô Đình Diệm và những tên tương cận là Monster thì Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi là những Super Monster mà Mỹ phải đích thân ra tay mới diệt được, còn Taliban/Al-Qaeda/IS là những Super Monster “lũy thừa 37” vượt ngoài tầm hủy diệt của Mỹ, trong khi Erdogan đã trở thành một thứ Super Monster “lũy thừa 9999” có thể cùng lúc hủy diệt cả EU, NATO, và USA.

D- 8 Nội Dung Tư Vấn Của Lăng Tần Dành Cho Recep Tayyip Erdogan

1) Cứng rắn buộc Mỹ phải dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ vì theo Kế Thứ 37 chính y là thế lực dự phòng để gây bất ổn cho Thổ Nhĩ Kỳ nhằm lật đổ Erdogan trường hợp Erdogan vượt tầm kiểm soát của Hoa Kỳ.

2) Cứng rắn tái lập án tử hình, đừng để sập bẫy EU vì EU hàng chục năm nay vẫn chưa chịu kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU, nay lại lấy EU ra dẫn dụ để Erdogan không xử tử các tướng lĩnh và sĩ quan tham gia đảo chính. Mỹ và EU muốn cứu mạng những kẻ đã nghe lịnh Mỹ và NATO tổ chức lật đổ Erdogan. Erdogan nhất thiết phải áp dụng án tử hình để loại trừ hậu hoạn, đồng thời răn đe sự nhen nhóm tương tự trong tương lai, cũng như dạy Mỹ và NATO một bài học.

3) Nhanh chóng nắm bắt dựng xây liên kết với Nga vì lý do cực kỳ đơn giản: khi Quái Vật do Mỹ hậu thuẫn trở thành Siêu Quái Vật thì Mỹ dứt khoát phải tiêu diệt bằng cách sử dụng các Quái Vật dự phòng khác. Đây là bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Ngô Đình Diệm: đã nghịch với Mỹ thì dứt khoát phải có ngay lập tức một thế lực khác để nương tựa. Ngô Đình Diệm chõi lại Mỹ nhưng lại chống Cộng nên là một tên đại ngu.

4) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi là những nhà độc tài đã tiêu diệt tất cả các Quái Vật dự phòng của Mỹ để cuối cùng Mỹ đích thân ra tay diệt gọn. Để Bashar al-Assad tồn tại nghĩa là khiến Mỹ và NATO phải lưỡng đầu thọ địch. Đừng bao giờ trở thành thế lực cứng đầu duy nhất, tạo điều kiện cho Mỹ và NATO dễ dàng bẻ gảy.

5) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn: nhất thiết phải cùng nhau làm phá sản tất cả các manh nha cho các cuộc “cách mạng màu” như Mỹ và EU ủng hộ xúi dục tài trợ tại khu vực Châu Phi và Trung Đông cũng như ở Ukraine.

6) Cần nhận thức rõ ràng một điều minh bạch rằng: người dân đã ủng hộ Erdogan và chống đảo chính không những vì Erdogan vừa chính thức xin lỗi Nga, mở ra triển vọng tốt đẹp hơn về kinh doanh tiếp tục thu siêu lợi nhuận từ Nga, mà còn vì họ đã quá rõ từ các bài học của Thế Giới Sử rằng bất kỳ sự lật đổ nào đối với một nhà độc tài do Mỹ hậu thuẫn để đưa lên một nhà độc tài khác cũng do Mỹ hậu thuẫn thì người sau luôn tồi tệ hơn người trước, còn đất nước sẽ chắc chắn điêu linh. Do đó, Erdogan nhất thiết phải chụp lấy cơ hội này để thiết lập ngay cùng lúc 4 việc gồm

a- điểm c nêu trên – tức liên kết với Nga

b- áp dụng hình luật sắt, bảo đảm tiêu diệt tất cả các “lực lượng kế thừa” của Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ hoặc đang do Mỹ chứa chấp

c- phải để cho một nhà độc tài khác của nước khác tồn tại như trường hợp phần d nêu trên của Bashar al-Assad và

d- phải ủng hộ sự song hành tồn tại của Iran để tạo thế chân vạc vững bền Turkey-Iran-Syria tại khu vực.

7) Cuối cùng, việc EU dấy lên vấn đề cuộc đảo chính rất có thể do Erdogan đạo diễn, chính là cách hoặc EU cùng Mỹ vừa ăn cướp vừa la làng để né tội, hoặc đó là do những nhà bình luận lạm dụng “thuyết âm mưu” mà giá trị chẳng đáng một xu teeng (a dime a dozen) để bôi nhọ Erdogan, tạo dư luận hồ nghi trên thế giới, lại nên là động lực cho Erdogan xiết chặt và trừng trị truyền thông Âu Mỹ hiệu quả hơn.

8) Tóm lại, nếu Mỹ đã ngu dại ghi vào Hiến Pháp của họ quyền tự do sở hữu vũ khí sát thương, thì EU đã ngu xuẩn giương cao ngọn cờ tự do – dân chủ – nhân quyền – thiên chúa để hủy bỏ án tử hình; nhờ vậy dựa vào sự ra tay của Mỹ và NATO phá tan nát hạ tầng giềng mối dân sinh của khu vực, các chiến binh Hồi Giáo ngập tràn lòng căm thù báo oán đã hăng hái đổ bộ vào EU để ra tay tàn phá EU với niềm tin vững chắc là sẽ sống còn trọn đời trong tù ngục sang trọng tiện nghi nếu không bị bắn hạ lúc đấu súng với cảnh sát EU. Erdogan nên tận dụng thời cơ này để một mặt tái lập án tử hình tại Thổ Nhĩ Kỳ để dạy cho phần còn lại của thế giới nhược tiểu biết thế nào là kỷ cương, thế nào là bã tự do – dân chủ – nhân quyền – nhân đạo – thiên chúa, đồng thời thả cho rừng chiến binh Hồi Giáo mặc sức tràn ngập EU mở rộng bờ cõi Hồi Giáo lên nửa diện tích địa cầu.

III) Tứ Trụ Chống Nga

 Phan2 (1)

Khi thấy tư tưởng cộng sản chủ nghĩa hấp dẫn thế giới Hồi giáo Trung Đông và Phi Châu, Mỹ đã lập một vành đai ngăn chặn vừa bao vây Liên Xô (nay là Nga) vừa gây xung đột khu vực để làm thế giới Hồi Giáo chống phá nhau không còn quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản. Kế thứ 37 đã khiến Mỹ dung dưỡng một số nhà độc tài để khống chế khu vực, chẳng hạn như Iraq nhận được sự ủng hộ về tài chính và vũ khí của Mỹ để gây hấn với Iran. Đến khi khu vực đã trở thành một mớ hỗn độn chìm đắm trong các xung đột vũ trang đúng theo ý muốn của Mỹ và NATO, Mỹ và NATO sẵn sàng ra tay triệt tiêu các Super Monster nào không còn ích lợi hoặc có manh nha chống đối. Saddam Hussein của Iraq và Muammar Gaddafi của Libya lần lượt chịu chung số phận.

Cái sai của Mỹ và NATO là ở chỗ đã quên rằng các chỉ có các Super Monster mới khống chế dìm đầu các Monster, nghĩa là chỉ có Saddam Hussein và Muammar Gaddafi mới tiêu diệt, khống chế được khủng bố mà thôi. Chính sự yên tâm rằng chỉ còn lại các Monster rất dễ bị tiêu diệt đã khiến Mỹ cùng thế giới thân Mỹ trở nên yếu ớt hơn bao giờ hết, phơi mình trước các sự tấn công tàn khốc đầy nhục nhã. Một ví von đơn giản có thể dễ được hiểu hơn: một mình đánh nhau trên một võ đài với võ sĩ quyền anh vô địch hạng nặng thế giới Mike Tyson rất khó khăn để chiến thắng anh ta, còn một mình đánh nhau cùng lúc với nhiều chục ngàn chiến binh Hồi giáo ở khắp các hang cùng ngõ hẻm sử dụng vũ khí sát thương thì lại là một việc bất khả chiến thắng.

Cái sai của Nga là đã yên lặng để Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi bị Mỹ và NATO tiêu diệt, với suy nghĩ quá đơn giản rằng dù các Super Monster do Mỹ tạo ra này đã có thiện cảm với Nga, thì họ vẫn là thứ vũ khí hủy diệt của Mỹ, hoặc sự thân mật với Nga rất có thể chỉ để làm yêu sách thêm với Mỹ, hoặc có khi các Super Monster này chỉ đơn giản bốc đồng muốn lôi kéo Nga vào cuộc choảng nhau với Mỹ. Lẽ ra Nga đã nên dùng quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc hoặc ưu thế quân sự đối trọng với NATO để ngăn chặn các cuộc tấn công Iraq và Libya của liên quân do Mỹ đứng đầu, vì nhờ đó mà duy trì sự đối nghịch giữa Mỹ và các Super Monster do Mỹ tạo dựng nên, lợi dụng sự đối nghịch ấy, và lẽ ra đã có thể tránh cho nhân loại thảm họa khủng bố của ngày nay vốn sẽ không bao giờ còn có thể chế ngự được nữa.

IV) Nhân Tố Bí Ẩn

A- Thành Công Trong Chống Mỹ và NATO:

Ngoài việc Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ mà cuộc đảo chánh vừa qua chỉ làm Ông chính thức trở thành một đẳng cấp cao hàng ngàn lần so với một Super Monster nay ra mặt hù dọa cả EU như bức biếm họa bìa của tạp chí dưới đây cho thấy Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã trở nên e sợ thế nào trước đòn thị uy của Erdogen sau khi ông ta bị đâm sau lưng bằng chiếc tàu bay giấy (tương đương cuộc đảo chính thất bại của không quân vô dụng bị Mỹ và EU giật dây):

Phan2 (8)

thì thế giới vẫn không vì thế mà quên rằng sự tồn tại của Bashar al-Assad của Syria mới chính là minh chứng cho sự thất bại của Mỹ và NATO. Chính sự giúp đỡ tích cực của Nga – từ kinh nghiệm tiêu cực của sự bình chân như vại không tận tình giúp đỡ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi – đã duy trì chính quyền Bashar al-Assad để làm thành trì chống IS, đặt Mỹ và NATO vào tình thế không thể không tham gia chống IS.

Phan2 (9)

Không có Bashar al-Assad, khủng bố sẽ tiêu diệt Hoa Kỳ cùng EU, dù Bashar al-Assad không là Monster do Mỹ dựng nên cũng như không biến thành Super Monster, mà chỉ đơn giản vì nếu còn Bashar al-Assad thì mới có sự dấn thân cứu nguy chống IS của Nga, từ đó buộc Mỹ và NATO cũng phải tham gia diệt IS.

Nguy cơ IS tuyệt diệt nhân loại chỉ có thể được loại trừ nếu Bashar al-Assad còn tại vị và khi Recep Tayyip Erdogan đồng ý ủng hộ Bashar al-Assad cùng Iran được tồn tại theo cách của chính Erdogan mà không là cách của Mỹ cùng NATO.

Phan2 (7)

B- Tuyệt Diệt Mỹ và NATO:

Ngoài sự biến thể của Super Monster trở thành Invincible Monster không thể bị đánh bại – như trường hợp của Erdogan đang trở thành kẻ dọa nạt Mỹ và EU – còn có một nhân tố bí mật sẽ đưa Mỹ cùng EU đến bờ tuyệt diệt đó là chế độ Tân Quốc Xã mà Mỹ cùng NATO và EU hậu thuẫn ở Ukraine.

Muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga, Mỹ và EU đã đòi hỏi phải có một cuộc bầu cử dân chủ minh bạch tại Ukraine dưới sự giám sát trực tiếp của Mỹ và EU đối với bầu cử, bỏ phiếu và kiểm phiếu. Kết quả là Tổng Thống Viktor Yanukovych chính thức nắm quyền.

Phan2 (6)

Nhưng ngay khi Viktor Yanukovych không chống Nga, Mỹ và EU cùng NATO giật dây cho cuộc cách mạng màu lật đổ chế độ Viktor Yanukovych mà trước đó đã thực sự do dân bầu lên bằng một cuộc bầu cử có sự giám sát của EU cũng như được EU công nhận kết quả bầu cử hoàn toàn tự do dân chủ. Mọi cáo buộc, bôi nhọ rằng Viktor Yanukovych tham nhũng, ăn cướp công quỹ, sống đời trụy lạc xa hoa, ăn nói quàng xiên, v.v., được toàn hệ thống Mỹ và EU loan truyền, hoặc diễu cợt rằng Tổng Thống Viktor Yanukovych của Ukraine và Tổng Thống Alexander Lukashenko của Belarus là “đàn con” của Tổng Thống “độc tài phát-xít” Nga Vladimir Putin đã xuất hiện nơi nơi ngay cả trên ấn bản tiếng Nga của tạp chí The Economist để chứng minh sức mạnh của truyền thông tư bản hoàn toàn dễ dàng xô ngã bất kỳ một chính quyền hợp pháp hợp hiến hợp lòng dân nào dám đi ngược lại ý chí của Mỹ và EU

Phan2 (4)

Trong khi cuộc “biểu tình Maidan” được dàn dựng đầy khủng khoảng và khủng bố khiến Viktor Yanukovych phải tỵ nạn tại Nga, còn Mỹ và NATO chấp nhận sự lên ngôi của bọn Tân Quốc Xã Petro Poroshenko

Phan2 (5)

mặc cho sự thật quái dị là chính đám Tân Quốc Xã này ngay trước đó từng khét tiếng với các chiêu trò chống EU, chống Mỹ, và chống nhân loại. Để rồi sự điên rồ của bọn Poroshenko trong chính sách bài Nga triệt để hầu làm vừa lòng “bố mẹ” Mỹ và NATO đã làm bán đảo chiến lược Crimea cực kỳ quan trọng mà NATO thèm thuồng tự dưng rơi vào tay Nga mà không tốn một viên đạn kể cả của súng lục; còn mới đây các phóng viên truyền hình Pháp lại cho ra bộ phim tài liệu của “người trong cuộc” khẳng định rằng “biểu tình cách mạng Maidan” chỉ là sự dàn dựng, rằng tất cả chính phủ Poroshenko đều là Tân Quốc Xã, rằng dân chúng đã bị thảm sát không bởi vị tổng thống dân cử hợp pháp Yanukovych bị Mỹ và EU lật đổ mà chính bởi vị Tổng Thống Tân Quốc Xã do Mỹ hậu thuẫn Poroshenko.

C- Cải Số Trời: 8 Lời Khuyên Của Lăng Tần Dành Cho Mỹ và EU:

1- Mỹ + NATO + EU hãy chấp nhận sự đồng tồn tại với Nga. Lý do đơn giản: (a) khuyết một cột trụ chống trời chỉ dẫn đến nghiêng lệch và đổ sập của bầu trời, và (b) không bao giờ tiêu diệt được Nga.

2- EU hãy mô phỏng luật pháp hà khắc của Hoa Kỳ bằng cách tái lập ngay lập tức án tử hình cũng như gia tăng phạm vi phạm tội chịu sự điều chỉnh của án tử hình. Lý do đơn giản: (a) bỏ án tử hình chỉ là thứ màu mè đậy che cái lịch sử tàn bạo tham tàn khủng bố ghê tởm của Đức Quốc Xã, Phât-xít Ý, Chuyên chế Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha – Hà Lan, Thực dân Pháp và Đế Quốc Anh đã gây ra cho nhân loại tại Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh; và (b) bỏ án tử hình chỉ dẫn đến hậu quả là tạo ra chính xiềng xích tự trói mình trước làn sóng thâm nhập báo thù rửa oán của khủng bố.

3- Mỹ+EU hãy ngay lập tức STOP rao giảng về những cái gọi là giá trị tự do – dân chủ – nhân quyền đầy thiu thối, vô khả dụng, bất khả thi đối với sự sinh tồn của chính EU, vì nó (a) chỉ đem lại thứ bùa mê thuốc lú cho các nước nhược tiểu yếu bóng vía và cực kỳ lạc hậu tự động rời xa mãi mãi nẽo tiến vững chắc đến văn minh, và (b) bản thân nó bị vô hiệu hóa bởi chính Hoa Kỳ do Mỹ không là quốc gia đang có tự do – dân chủ – nhân quyền.

4- Mỹ + NATO + EU hãy để yên cho Bashar al-Assad và Syria vì chỉ có việc STOP can thiệp vào Syria nhằm lật đổ Bashar al-Assad mới STOP được việc di cư tỵ nạn ồ ạt của dân Syria vào EU đe dọa sự tồn tại của EU.

5- Mỹ + EU hãy STOP áp dụng Kế Thứ 37 vì đó là thứ hạ sách. Hãy nhớ công thức thuần túy tiếng Anh của Out-Langtan Langtan nghĩa là nhân vật đến sau sẽ y hệt và vượt quá nhân vật trước đó, nghĩa là nếu Mỹ + EU dựng nên những con Quái Vật thì thứ thay thế nó sẽ tàn bạo bất trị hơn thứ mà nó được dùng để thay thế. Quái Vật Ngô Đình Diệm ngu xuẩn. Quái Vật Saddam Hussein tinh ranh làm chao đảo Hoa Kỳ. Và Quái Vật Reccep Tayyip Erdogan dọa nạt đạp đầu Mỹ Quốc.

6- Mỹ và NATO hãy để yên Iran, đơn giản vì việc chống Iran chỉ thuần túy dựa trên một lý do duy nhất là bảo vệ Israel, còn lý do phát triển vũ khí hạt nhân của Iran chỉ là lý do gạt người ngu muội cùng trẻ nít.

7- Mỹ và EU hãy biết phân biệt chính – phụ để từ đó xác định (a) Trung Quốc là mối hiểm nguy của nhân loại, và (b) Nga là mối hiểm nguy của riêng Mỹ+EU. Trung Quốc mới là chính, Nga chỉ là phụ. Tấn công cả Nga và Trung Quốc nghĩa là gia tăng sức mạnh bất khả chiến bại của tổ hợp Nga+Trung Quốc.

8- Cuối cùng, Mỹ và EU hãy STOP tất cả các hỗ trợ dành cho Ukraine vì chính Ukraine (a) làm mất “chính nghĩa” của Mỹ và EU, (b) sống bám hoàn toàn vào Mỹ và EU, (c) chính sự cưu mang Hy Lạp cùng các nước yếu kém trong EU đã làm dân tình EU tan rả dấn đến các trào lưu “exit” nên sự cưu mang một chính quyền Ukraine rõ mười mươi bọn Tân Phát Xít điên cuồng sẽ lại nhanh chóng làm rả tan EU, tiến đến sự sụp đổ của NATO, và làm chao đảo vị thế của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết cùng chủ đề Thổ Nhĩ Kỳ:

Trò Hèn Của Thổ Nhĩ Kỳ

ISIS

Vladimir Putin Và Sự Ngu Xuẩn Triền Miên Của Phương Tây

Âm Mưu Thế Giới Đại Chiến III

Các tham khảo khác:

Tôi và Saddam Hussein

Ghi chú: 

– Nội dung đánh giá và tư vấn: thuần túy của Hoàng Hữu Phước

– Các hình vẽ do Hoàng Hữu Phước dựng chế từ các ảnh vẽ riêng rẻ thu từ Internet.

Tôi và Saddam Hussein

Và và Và

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-7-2016

Toi Va SH

Việt Nam tất nhiên có vô số người tài ba, song hầu như đa số sống đời triết nhân minh triết khi cặm cụi làm việc, cặm cụi nghiên cứu, cặm cụi tư duy, cặm cụi cống hiến, cặm cụi đem trí tuệ uyên bác dành cho tranh luận tự thân về các vấn nạn của hàn lâm, khoa học, hay của thực tế nhân sinh để cung cấp cho đời những công trình khảo cứu vốn dĩ có thể làm giàu hơn kho tàng tri thức và áp dụng của nhân loại – hay chí ít là của Việt Nam – nên số lượng chịu nhín thời gian chường mặt ra trong cõi hỗn mang để tranh luận với hoặc trải lòng cùng bàng dân thiên hạ chỉ đếm được trên đầu ngón tay của hai bàn tay đủ ngón.

Dù không được có tên trong danh sách những bậc tài ba đáng kính ấy, tôi cũng biết thế nào là sự cẩn trọng nên khi nếu chịu chào thua sự thôi thúc phải “trải lòng” thì cũng phải tự ẩn mình núp dưới tận cùng đáy của hố sâu tư tưởng bằng cách luôn tắt các “comments” như một chứng tỏ bản thân không hề dám tranh luận để đón nhận luận tranh. Rốt cuộc, những bài viết blog của tôi chỉ như thùng nước đá dọc đường gió bụi, không dành cho bậc đại gia chức trọng quyền cao mà dành riêng giải khuây giải khát giải trí cho những người tốt đẹp tốt lành còn chút lòng tin rằng bụi hồng trần vẫn có thể không làm nhiễm ô thùng nước mà họ yên tâm dừng chân múc uống.

1) Tôi và Tạp Chí Newsweek

Trong thời gian 1982-1988 làm giảng viên Anh ngữ trường Cao Đẳng Sử Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lần được đọc vài quyển tạp chí Newsweek do chị tôi làm quản thủ thư viện Trường Hàng Không đã xin từ một nữ tiếp viên người Pháp của Air France. Tôi đã đọc ngấu nghiến tài liệu quý báu ấy ở cái thuở những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, lúc chưa ai biết gì về cái gọi là internet, còn các Khoa Anh Văn ở tất cả các trường đại học-cao đẳng chỉ cho phép giảng viên đọc mấy tạp chí tiếng Anh như Peking Review (Điểm Báo Bắc Kinh) của Tàu và Moscow News (Tin Tức Mạc Tư Khoa) của Liên Xô mà chẳng lãnh đạo nào của Việt Nam biết rằng trong Peking Review thì Tàu ra rả chửi cả Mỹ và Xô, gọi cả hai là siêu cường di họa cho nhân loại, chứ không chỉ có chống Hoa Kỳ. Thế nên, tôi ngay từ thời gian đầu giải phóng đã biết rõ ràng rằng Tàu là một thằng nửa khỉ đỏ đít nửa đười ươi chẳng ra chi và rằng không thể nào có được Khối Xã Hội Chủ Nghĩa đoàn kết hùng cường, từ đó tôi đã theo khuynh hướng chính trị xã hội chủ nghĩa dân tộc như tôi hàng chục năm nay luôn ngạo nghễ ghi rõ trên trang mạng doanh nhân thế giới LinkedIn và các trang mạng khác của nước ngoài, cũng như gần đây tình cờ biết được qua internet rằng Saddam Hussein hóa ra cũng là người mang tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa dân tộc.

Trở lại với tiêu đề của mục này, khi đọc tạp chí Newsweek ấy tôi thấy có hai bài viết thật dài và thật mạnh mẽ chống cộng sản Việt Nam với những luận điểm đáng thương hại còn thông tin hoàn toàn từ trí tưởng tượng bịnh hoạn và vu khống nghèo nàn. Tôi lập tức dùng máy đánh chữ Underwood cũ mèm gỏ trên giấy vàng đầy hạt cát một bức thư bằng tiếng Anh hàn lâm rất dài – tôi chưa bao giờ luyện được cách viết “ngắn gọn súc tích” bình dân mách qué của những bậc kỳ tài lãnh đạo bộ môn tiếng Anh nước Việt – gởi Newsweek để (a) phân tích các điểm sai của các bài viết chống Việt, (b) nêu các luận cứ của tôi về Cộng sản Việt Nam cùng thế mạnh của Việt Nam dù Việt Nam đang oằn oại dưới lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, (c) gợi ý cộng tác viết bài cho Newsweek với thế mạnh của người không những có trình độ cao nhất về viết tiếng Anh báo chí hàn lâm mà lại còn là “insider” tức người từ trong…“bức màn sắt cộng sản” có khả năng trình bày chính xác nhất về địa chính trị của Việt Nam, và (d) khẳng định Newsweek sẽ suy vong nếu không tận dụng cơ hội cộng tác này. Và tôi đã nhận bức thư sau từ Newsweek có lời cảm ơn sự quan tâm của tôi và lời từ chối khéo rằng đã có đủ lực lượng nhà báo riêng:

Toi Va SH1

Thế thì muốn biết Newsweek đã ra sao, các bạn có thể tìm thấy thông tin trên Google về sự lụn bại của nó, để biết nó mắc nợ hơn Chúa Chổm như thế nào. Cái sai duy nhất của tôi là khi tuyên bố với học trò và nhân viên rằng Newsweek sẽ không đáng giá một xu do đã ngu xuẩn không nhanh tay chộp lấy cơ hội đăng các bài viết của mình, tôi đã sau này cay đắng khi Tiến sĩ Google báo tôi biết tin Newsweek hơn chục năm trước đã được bán với giá cao ngất ngút những 100 lần giá tôi đưa ra, nghĩa là đến 100 xu tức đổi được tới 1 USD lận, rơi vào tay hết gã này đến gã kia như một ả điếm buổi chiều tàn.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

2) Tôi và Saddam Hussein

 Toi Va SH2

Rất nhiều năm trước, tôi có viết blog một bài tựa đề “Tôi Và Saddam Hussein” trên cả Yahoo!360 và Emotino; song tiếc là dù tôi có bản lưu cũng như ảnh chụp màn hình trang Yahoo!360 cùng Emotino tải đăng bài ấy, chiếc máy vi tính desktop tôi đặt Phong Vũ lắp đặt toàn với chi tiết cấp cao đắt tiền lại bị hỏng vào cái thủa ban đầu lưu luyến ấy chưa có dịch vụ giải cứu thông tin nên mất sạch tài liệu nơi ổ dĩa cứng, đã vậy các học trò tôi thủa ấy chưa có thói quen tốt sao lưu các bài viết của tôi nên tôi không thể hỏi xin lại để tái tải đăng trên blog WordPress này. Thôi thì xin tóm tắt ý chính trong bài viết kể về các thư viết tay và các điện tín tôi gởi cho Tổng thống Saddam Hussein như sau:

– Thư bảo đảm: khuyên Ông giải hòa với Iran và bắt tay với Triều Tiên để hình thành khối Tân Trục, theo đó bất cứ khi nào một quốc gia bị phía Mỹ gây hấn thì cả hai nước còn lại đồng loạt dấy binh hoặc tấn công Hàn Quốc hoặc Israel để phía Mỹ do phân tán lực lượng không dám làm càn, nhờ đó cả ba nước được an toàn tồn tại. Tất nhiên, đã không có sự hình thành một khối nào như thế, và Iraq bị đại bại, Mỹ suy tàn, thế giới thành hỗn mang.

– Điện tín khẩn: khuyên Ông không rút quân toàn bộ khỏi Kuwait. Tất nhiên, đã có sự rút quân hoàn toàn, triệt để, và nhanh chóng khỏi Kuwait khiến hàng hàng lớp lớp các binh đoàn quân tinh nhuệ cùng chiến xa của Iraq phơi mình lồ lộ giữa sa mạc trở thành những bia di động tuyệt hảo cho hàng hàng lớp lớp oanh tạc cơ Mỹ và Anh hèn hạ theo sau tàn sát khiến Iraq tổn thất nặng nề hơn bao giờ hết.

– Điện tín thường: khuyên Ông không nên thả các con tin Âu Mỹ đang bị giam cầm tại Baghdad vì Ông không nên chứng tỏ tính anh hùng khi đối phương là bọn gian trá đê hèn. Tất nhiên, Ông đã thả tất cả các con tin Âu Mỹ khi nghe tin dư luận phương Tây dè bỉu cho rằng ắt Ông sẽ dùng các con tin làm lá chắn sống. Và ngay khi con tin cuối cùng rời Iraq, cuộc tổng tấn công của Anh và Mỹ xâm lược Iraq bắt đầu.

– Điện tín khẩn: Lời chúc cuối cho Ông, mong Ông được bình an.

– Điện tín khẩn: Gởi Đại Sứ Iraq tại Việt Nam, mong đất nước Iraq được sinh tồn.

Tất cả các nội dung trên chí ít được ba người biết đến, đó là (a) vợ tôi khi trao tôi các chỉ vàng để thanh toán cho những bức điện tín quá dài gởi Tổng thống Saddam Hussein; (b) em gái út của tôi, người đã bật khóc khi nghe tin Anh Mỹ bắt đầu xâm lược Iraq, và cũng là người đã viết thư tiếng Đức gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl để phản đối việc bọn đầu trọc Tân Quốc Xã đánh đập người Đức gốc Việt, mà tôi có kể chi tiết trong bài viết Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức trên blog này; và (c) anh rể tôi vốn là một người chống Cộng Sản Việt Nam tại Hoa Kỳ. Còn người ngoài gia đình thì có vài học trò, vài nhân viên, và vài chức sắc của CIMMCO International Ấn Độ và CIMMCO Limited Singapore là có biết đến các việc làm này của tôi.

Chục năm trước, hai nữ doanh nhân thành đạt đã mời tôi cùng sang Singapore tham dự buổi thuyết trình của Tony Blair. Tôi đã từ chối và xin lỗi hai vị trước khi nói thật rằng tôi không bao giờ đi nghe một tên tội phạm chiến tranh ghê tởm như Tony Blair.

Tôi cũng đã viết bài Thời Kỳ Hậu Chó Điên đăng trên Emotino để nói về Tổng Thống Lybia Muammar al-Gaddafi, người mà Tổng Thống Mỹ và Thủ Tướng Anh cung kính bắt tay, người mà Âu Mỹ gọi là “Chó Điên”, và cũng là người mà Anh Mỹ tiêu diệt để rồi Lybia bị tàn diệt như Iraq để rồi Mỹ suy kiệt, EU suy tàn, thế giới hỗn loạn, khủng bố hùng mạnh tràn lan.

Toi Va SH3Toi Va SH4Toi Va SH5

Và rồi cách nay vài hôm, Vương Quốc Anh rúng động với Bản Báo Cáo Điều Tra Của Ủy Ban Chilcot luận tội Tony Blair phạm tội ác chống lại hòa bình do đã ngụy tạo chứng cớ để lừa bịp Quốc Hội, lừa bịp nhân dân, xua quân cùng Mỹ xâm lược Iraq, tàn phá Iraq, hy sinh bao chiến sĩ Vương Quốc Anh.

Và rồi cách nay vài hôm, ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố thế giới lẽ ra đã 100% tốt hơn nếu tổng thống Iraq Saddam Hussein và tổng thống Lybia Muammar Gaddafi vẫn còn lãnh đạo quốc gia của họ.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

Toi Va SH6

3) Tôi Và Elizabeth Holmes

 Toi Va SH7

Cách nay nhiều năm, thấy mấy người nước ngoài trên mạng doanh nhân thế giới LinkedIn đã ngợi ca Elizabeth Holmes là nữ tỷ phú trẻ nhất thế giới, nữ doanh nhân đẹp nhất thế giới, nữ doanh nhân hành xử giống Bill Gates ở chỗ bỏ học đại học, và nữ doanh nhân sánh ngang bằng Steve Jobs, v.v., và đăng lên LinkedIn lời phát biểu mà họ rất tán dương trầm trồ thán phục cho rằng có đầy bản lĩnh tự tin: “Ngay phút giây bạn có một kế hoạch dự phòng là bạn đã nhìn nhận rằng bạn sẽ không thể thành công” thì tôi đã viết comment ngay rằng Elizabeth Holmes sẽ thất bại. Và sau đó hai ngày, tôi vào LinkedIn viết tiếp hai comment để giải thích thêm, kẽo thiên hạ Âu Mỹ không cam tâm khi bị tôi nhạo báng. Tôi viết rằng: “Tôi thì nghĩ khác. Ngay khi bạn có một hay nhiều hơn một kế hoạch dự phòng được chuẩn bị cực kỳ công phu, điều này chứng tỏ bạn quyết tâm phải thành công. Tôi còn xin nói thêm rằng ngay khi bạn có một hay nhiều hơn một kế hoạch dự phòng được chuẩn bị cực kỳ công phu, có nghĩa bạn ra lịnh cấm không cho sự thất bại ngáng đường thành công của mình”.

Toi Va SH8

Và mới tuần trước cũng chính các tờ báo nhiều năm trước tâng bốc Elizabeth Holmes lên tận mây xanh lại phát đi tin tức rằng cô tỷ phú ấy trắng tay chỉ sau một đêm. Tạp chí Forbes hóa ra là thứ vất sọt rác do ban biên tập không ai có khả năng thấu thị về một celebrity. Chi tiết bịp lừa của Elizabeth Holmes cũng được tải đăng trên báo chí Việt Nam. Tôi đã nói đúng tương lai của Elizabeth Holmes vì hiểu biết một chân lý vốn có thể áp dụng cho mọi người trên thế giới kể cả người Việt là nếu bạn thành công lúc còn trẻ thì bạn tuyệt đối hãy ngậm miệng lại, đừng cố gắng nhả ngọc phun châu lên tiếng dạy đời, vì tuổi trẻ thường bị tác động bỡi sự kém già dặn, kém chín chắn, kém cẩn trọng, nhiều ham hố, quá bốc đồng, lậm hư danh, chuộng thần tốc, mà tất cả ắt dẫn đến sự dấn thân không thể không trên cơ sở tham lam, để rồi sự hám danh bốc đồng khiến bạn huỵch toẹt cái “nền tảng” không bao giờ vững chắc hơn bùn của sự dấn thân ấy, khiến bạn tự lột trần mình ra trước những…“nhà thấu thị”. Elizabeth Holmes đã ngạo nghễ phán này nọ như trên khi được thỉnh mời đến một cuộc phỏng vấn truyền hình thu hút sự đăng ký xem có trả tiền subscribe của người xem đài khiến thiên hạ biết bao ngưỡng mộ bản lĩnh cả quyết của cô ấy, còn tôi thì tin vào bài học Á Đông từ cổ chí kim về tầm quan trọng của các kế hoạch dự phòng cho mỗi đại cuộc nên biết ngay Elizabeth Holmes sẽ phải thất bại. Đội bóng đá Bồ Đào Nha đã đổi ngay không những đội hình chiến thuật mà thay cầu thủ khi đội trưởng Cristiano Ronaldo của họ bị cáng ra ngoài. Đó là các “kế hoạch dự phòng” của tất cả các nhà chuyên môn chuyên nghiệp, chưa kể ai cũng có kế hoạch dự phòng mà cúp vô dịch Euro 2016 chỉ vào tay duy chỉ một đội bóng, huống hồ kẻ trẻ người non dạ như Elizabeth Holmes phỉ báng “kế hoạch dự phòng” lại được ngợi ca chỉ vì ả là tỷ phú đô-la.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

4) Tôi và Nhựt Bổn

 Toi Va SH9

Tuy mến mộ các nhà ngoại giao Nhật cũng như rất thân tình với các doanh nhân Nhật qua việc tôi sát cánh cùng Tổng Lãnh Sự Nhật trong hỗ trợ quan chức này tại các hội nghị về kinh tế và đầu tư ở Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc đưa các doanh nhân cùng nhà khoa học nông nghiệp của họ đến làm việc tại Tổng Công Ty Giống-Cây-Trồng Thành phố Hồ Chí Minh hay tại các nhà vườn ở Đà Lạt và chính quyền Tỉnh Lâm Đồng, hay giữ vai trò nhập khẩu lớn các hàng hóa từ Nhật như ô tô, xe máy, và hàng kim khí điện máy, tôi vẫn nói với sinh viên của mình tại Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội – nơi tôi tham gia giảng dạy buổi tối – rằng Nhật Bản rồi sẽ đối mặt với nguy cơ mất ngôi bá chủ công nghiệp vì ba lý do như (a) sự phát triển công nghiệp không thể mãi mãi là riêng của Nhật nên sẽ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh đáng gờm như Hàn Quốc, (b) sự phát triển các ngành công nghiệp mới lạ hoặc kỳ lạ khác sẽ đưa các nước khác lên chiếm thế thượng phong, và (c) sự phát triển tranh đua quá ồ ạt của Nhật sẽ phải trả giá về chất lượng của chính Nhật Bản. Và rồi hơn hai mươi năm sau, Nhật Bản thực sự phải đương đầu ngang ngửa và nghiêng ngửa rồi bật ngữa với Hàn Quốc, các công nghệ lạ hoắc xuất hiện như công nghệ thông tin và công nghệ kỹ thuật sinh học tạo nên các đại gia tỷ phú mới đầy lấn lướt đẩy các đại gia Nhật xuống hạng dưới tính về tổng tài sản tiền đô-la Mỹ, cũng như made-in-Japan không còn là thương hiệu tuyệt đỉnh của chất lượng khi hàng chục triệu ô-tô Nhật liên tục phải bị thu hồi vì lý do chất lượng trên toàn thế giới.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

5) Tôi và Đại Hàn

 Toi Va SH10

Lúc phụ trách cung ứng nhân lực cho các văn phòng đại diện và ngoại giao đoàn tại Công ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài tức FOSCO, tôi thường tư vấn cho các sinh viên mới tốt nghiệp rằng (a) hãy quẳng bỏ cái ý nghĩ ghét làm việc tại các công ty Hàn Quốc khi mặc định người Hàn hay “động thủ” tung chưởng với người Việt, rằng sự động thủ – nếu có – chẳng qua là do họ muốn duy trì tính kỹ luật cực cao đáng kính trọng kính nể kính yêu kính phục trong môi trường lao động sản xuất hàng hóa vật chất công nghiệp công nghệ đòi hỏi sự nghiêm túc và nghiêm khắc phải có nơi một quốc gia đã dựa vào đó để trở thành siêu cường công nghiệp có ngày sẽ tiếm ngôi của Nhật để danh trấn toàn cầu, và rằng (b) cá nhân tôi nếu phải lựa chọn nơi làm việc cho chính tôi thì tôi sẽ ưu tiên làm việc cho công ty Hàn Quốc. Sự thật là chỉ vì tôi luôn tận tụy trung thành với nơi đang làm việc nên đã từ chối lời mời làm đại diện cho một công ty Đại Hàn có chữ Daihan trong tên tiếng Anh của họ. Sự thật là Hàn Quốc ngày nay đã chễm chệ ngôi vị bá chủ hoàn cầu chí ít là trong lĩnh vực điện thoại di động và tivi, chưa kể lấn sân Nhựt Bổn trong kỹ nghệ ô tô và xe tải về doanh số bán. Sự thật là văn hóa Hàn Quốc đã trở thành làn sóng dũng mãnh đầy tự hào cuốn phăng và chinh phục thế giới chí ít là trong âm nhạc và điện ảnh, thời tramg. Và tất cả những sự thật ấy hoàn toàn đánh bật khiến biến mất cái gọi là sự dữ dằn hay động thủ của các đốc công Hàn Quốc đối với công nhân Việt Nam. Sự đánh giá cao của tôi về Hàn Quốc từ hơn 20 năm trước với các sinh viên và nhân viên, lúc chưa có điện thoại di động, và lúc hàng hóa made-in-Japan luôn là tột đỉnh chất lượng, duy chỉ dựa trên hai sự thật về (a) tinh thần quật khởi nghiêm túc của doanh nghiệp Hàn Quốc và (b) kinh nghiệm bản thân tôi trong tiếp xúc với các doanh nhân Hàn Quốc ngay từ thời Việt Nam mới hé cửa chứ chưa mở rộng cửa cho đại cuộc mời gọi đầu tư nước ngoài, đã trở thành sự thật.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

6) Tôi và Đủ Thứ

 Toi Va SH11

Khi chưa ai trên thế giới nói về vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của Darwin, thì tôi đã cảnh báo từ nhiều năm trước đối với mưu đồ của bọn Tàu. Để rồi nay Mỹ rúng động giật mình vì Úc vừa vô tình cho Tàu thuê Darwin trong gần một thế kỷ khiến đe dọa các căn cứ hải quân Hoa Kỳ và các trung tâm nghiên cứu chiến lược ở Châu Nam Cực.

Khi mọi người ở Âu Mỹ đều nói về tầm quan trọng của một thế lực kinh tài Tàu-Ấn mang tên Chindia, tôi đã phản bác và khẳng định Chindia không bao giờ tồn tại, để rồi 20 năm nay chỉ thấy giới kinh tế hàn lâm Âu Mỹ chẳng còn dám nhắc đến Chindia.

Khi mọi người ở Việt Nam chưa ai nói về Thực Phẩm Chức Năng còn ngay khi nó xuất hiện thì xúm lại dè bỉu chê bai, tôi đã khẳng định đó là ngành nghiên cứu mang tính đột phá dựa trên kinh nghiệm dân gian truyền thống, nhân văn, và lợi nhuận cực cao. Để rồi Mỹ và ngay cả các nước trước đây thuộc Khối Đông Âu cũng thi nhau làm giàu nhờ thực phẩm chức năng với sự đóng góp tiền bạc ngất trời của người Việt và người gốc Việt trên toàn thế giới.

Khi mấy nhà sản xuất ở Việt Nam thi nhau bắt chước Vinamit sản xuất thực phẩm sấy khô, tôi đã viết cảnh báo trên Emotino gần hai mươi năm trước rằng hãy vừa bảo vệ môi trường Việt Nam vừa bảo vệ kinh doanh thành công trên thế giới bằng cách xa rời “sấy khô” để tiến sang “khô” tương tự như các sản phẩm “nho khô” hay “đào khô” đầy dinh dưỡng lừng danh của Mỹ được chế biến từ việc phơi dưới ánh mặt trời. Gần đây các siêu thị có bày bán “xoài khô” và “cóc khô” hay “ổi khô” của Vinamit, tức là đã có áp dụng lời khuyên của tôi để dần xa “mít sấy”, dù mấy loại “khô” này màu xám ngoét cực kỳ xấu xí.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao phân tích chống Bauxite, tôi viết ngay một bài về mười hiểm họa môi sinh trên toàn thế giới mà bauxite hoàn toàn không có mặt trong danh sách ấy, và thật may mà tôi đã dập tắt được các công kích sai về khai thác bauxite ở Việt Nam.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao phân tích ủng hộ “luật Biểu Tình”, tôi lập tức phát biểu tại Quốc Hội cũng như viết ngay một loạt bài về những điều nhất thiết phải tính đến khi đặt bút biên soạn dự án luật ấy. Thật may mà tôi đã dập tắt được hoàn toàn tất cả các manh nha soạn thảo dự luật ấy trong toàn bộ thời gian của nhiệm kỳ Quốc Hội khóa XIII, chưa kể vài năm sau các phát biểu của tôi đã xảy ra sự cố Bình Dương khiến Chính phủ phải xuất chi từ ngân sách eo hẹp của mình để bồi thường các nhà máy bị đốt phá khiến câu kết của lời phát biểu hùng biện của tôi tại nghị trường rằng “Kinh tế Việt Nam chưa đủ giàu để có thể chi trả cho một sự ô danh” trở thành lời thấu thị chuẩn xác và chính xác. Cái gọi là “luật biểu tình” quả nhiên đã không bao giờ được soạn thảo hoặc soạn thảo “ra hồn” nếu theo đúng quy trình “hai kỳ họp” tại Quốc hội.

Khi báo chí Việt Nam và dư luận nhao nhao ồn ào phân tích phản bác dự án Sân Bay Long Thành, tôi đã ngay lập tức lên tiếng ủng hộ trong các bài viết, và tất nhiên các sự thật tồi tệ về vị trí hoàn toàn phản chiến lược của Phi trường Tân Sơn Nhất trong an toan an ninh cũng như sự hoàn toàn bất khả thi trong mở rộng Phi trường Tân Sơn Nhất đã dẫn đến tình trạng y hệt như thời Bauxite: tất cả tự nhiên im lặng tuyệt đối một cách chát chúa đinh tai nhức óc và siêu dự án Sân Bay Long Thành được tích cực triển khai.

Khi chỉ có tôi kiên trì công khai mắng mỏ Mỹ đại ngu xuẩn nếu cứ lãi nhãi mãi về nhân quyền, không nhanh chóng bắt tay với Việt Nam, và rồi Mỹ dường như chịu tác động từ bức tâm thư của Cô Lại Thu Trúc nên rốt cuộc cũng phải “đơn phương” gỡ bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, đồng thời tuyên bố chấp nhận những dị biệt đối với nội dung nhân quyền, thì cũng chẳng ai bảo Mỹ cuối cùng đã nhận ra sự ngu xuẩn của mình suốt hơn 50 năm, mà xúm lại cho rằng do Mỹ đánh giá cao các nỗ lực vươn lên của Việt Nam. Không sao. Vì tóm lại, tôi đã đúng khi nói rồi Mỹ sẽ nhận ra sai lầm xằng bậy của mình, dù quá muộn màng.

Khi Việt Nam xôn xao phấn khích áp dụng các phương pháp dạy tiếng Anh “hiện đại”, tôi đã khuyên các giáo sinh của tôi đừng bao giờ áp dụng mấy cái vớ vẩn đó khi trở thành giáo viên Anh Văn, và sau đó viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Sài Gòn Tiếp Thị, để phản bác cũng như để nêu lên các lý do. Để rồi gần 3 thập kỷ trôi qua, Việt Nam vẫn cứ mãi luôn đối mặt với trình độ tiếng Anh thảm hại của học sinh và sinh viên đã tốt nghiệp do đã áp dụng phương pháp ngược với tư vấn mang tính khẳng định của tôi.

Và còn vô số những điều khác nữa, chẳng hạn như không bao giờ Việt Nam mới có thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới”, hoặc còn lâu Việt Nam mới phát triển được nguồn nhân lực công nghệ thông tin dồi dào, hoặc còn khuya  chính sách giáo dục hay phát triển nông thôn Việt Nam mới đi đúng hướng, vân vân và vân vân.

Thế thì tôi có tài thấu thị ư? Thế thì tôi có tài bấm độn gieo quẻ làm thầy chiêm tinh bói toán ư? Thưa không phải vậy. Đời nào được như thế. Tôi chỉ là một hàn sĩ đem cái tâm đắc với lời dạy của người xưa rằng ở gần người khôn ngoan hay người tốt lành thì bản thân được thơm lây tỏa toát hương cỏ chi cỏ lan còn ở gần kẻ ngu dại hay kẻ ác độc thì bị nọc độc nhiễm lây như chơi thân với loài rắn rết để phán xét thiên hạ mà thôi.

Nhưng tôi cũng xin thưa rằng: thói thường ở Việt Nam là khi vấn đề đơn giản 2+2=4 mà ngay cả đứa con nít Việt có ăn học đàng hoàng đều biết nhưng được một celebrity Mỹ thốt ra thì vấn đề ấy sẽ được báo chí thi nhau đăng tải như châu như ngọc chẳng hạn như việc Elizabeth Holmes thành công “sau một đêm” hay như việc Donald Trump vừa tuyên bố ngợi ca Saddam Hussein và Moammar Gadhafi. Còn khi tôi mấy năm trước mắng Elizabeth Holmes, báo chí ắt sẽ có sẵn người ẩn danh tung lên mạng bảo “thằng cha Phước ganh tài”, và nếu tôi nhiều năm trước ngợi ca Saddam Hussein cùng Moammar Ghadafi thì báo chí ắt sẽ có đoàn quân ẩn danh cố moi ra để tung lên mạng bảo “lão Nghị Phước khùng điên”, bất kể về sau ngay trong năm 2016 này cả Elizabeth Holmes hiện nguyên hình gian xảo phạm tội trắng tay “sau một đêm” còn bọn George Bush cùng Tony Blair bị dân của họ lên án gian trá tội phạm chiến tranh, trong khi tôi chục năm trước viết  Saddam và Ghadafi có tài dìm đầu khủng bố thì tuần trước Donald Trump phát biểu Saddam và Ghadafi có tài giết khủng bố, v.v..

Tội cho những người giỏi hơn tôi vạn lần trong xã hội sẽ không còn dám chường mặt ra với đời, chấp nhận nhường hẳn diễn đàn ngôn luận cho rặt những phường phản phúc phản Đảng phản quốc bất tài vô hạnh và phi lý.

Cổ Học Tinh Hoa của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân có truyện xa xưa kia Quách Ngỗi tư vấn cho Yên Chiêu Vương rằng hãy trọng dụng Quách Ngỗi vốn chỉ là kẻ hàn sĩ tài cán chẳng là bao nhưng từ đó sẽ khuyến khích những bậc hiền tài thực sự trong xã hội yên tâm ra phò tá hoàng triều. Lành thay, quân vương đã chuẩn y kính trọng Quách Ngỗi như thầy, khiến quả nhiên biết bao hiền tài thực thụ tứ xứ đổ xô đến giúp biến Yên Quốc thành cường thịnh để giang sơn thành cẩm tú.

Tân Học Tinh Hoa của Hải Thoại Hoàng Ngọc Ẩn và An Thiện Hoàng Trọng có truyện mới hôm kia Lăng Tần tư vấn cho Báo Chí Đế rằng hãy trọng dụng Lăng Tần vốn chỉ là kẻ hàn sĩ tài cán chẳng ra chi nhưng từ đó sẽ khuyến khích những bậc hiền tài thực sự trong xã hội yên tâm ra thi thố khuông phò đế nghiệp. Hỡi ôi, hoàng đế đã không chuẩn y kính trọng Lăng Tần như thầy, khiến quả nhiên biết bao hiền tài thực thụ không có bất kỳ ai đến giúp biến Báo Quốc thành cường thịnh để non sông ngày càng trông giông giống gấm vóc nhiều hơn.

HHP Poem (2)Toi Va SH12

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo một vài bài viết cùng mang tính “thấu thị”:

Tầm Nhìn Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước Nói Về Tầm Quan Trọng Của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein, Tổng Thống Lybia Moammar Gadhafi, và Tổng Thống Syria Bashar al-Assad

Hoàng Hữu Phước Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tổng Thống Mỹ Donald Trump

Hoàng Hữu Phước Nhắc Đến Vị Trí Chiến Lược Của Darwin

Hoàng Hữu Phước Nói Về Bauxite

Hoàng Hữu Phước Nói Về Thực Phẩm Chức Năng

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Viexit

Rexit và Brexit: Bọn Trẻ Con “Liên” Học Đòi Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-7-2016

1) Rexit là khi bọn trẻ con Liên Xô ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị lên tiếng bảo bánh mì chấm muối cộng sản gây ra cao huyết áp nên ba-chớp-ba-nháng ùn ùn tán dương kẹo mút tư bản mang nhãn hiệu Perestroika tức “đổi mới, tự do, dân chủ” của chủ tiệm kẹo Góc-Ba-Chớp dẫn đến sự kiện tanh banh Liên Xô, các nước tách ra khỏi Liên Xô thành các quốc gia độc lập. Hầu như ngay sau sự tan rã của Liên Xô, người dân nước Nga Mới nhận ra (a) rằng hóa ra Âu Mỹ không bao giờ “chống Cộng” mà chỉ có muôn đời “chống Nga”, (b) rằng hóa ra kẹo mút làm họ mắc bịnh sâu răng và tiểu đường, và (c) rằng cuộc sống của họ thời Liên Xô sao mà hào hùng quá, sung sướng quá, ít te tua quá. Từ đó xuất hiện (a) nào là mấy bậc anh tài gốc cộng sản trung kiên như Putin trở thành lãnh đạo tối cao của quốc gia, (b) nào là các công luận công khai công bố công nhận sự nhung nhớ Liên Xô, (c) nào là sự cứng đầu cứng cổ của nhân dân Nga chọi lại Âu Mỹ bằng cách ủng hộ Putin bất kể kinh tế có te tua vì sự cấm vận của Mỹ Âu, và (d) nào là luôn tổ chức đại lễ vinh danh công trạng hào hùng của Liên Xô trong giải phóng thế giới khỏi chùm tư bản gồm Quốc Xã Đức, Phát-Xít Ý và Quân Phiệt Nhật.

Tóm lại, chỉ những người Nga kiên định tin vào Perestroika mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân Nga nào ủng hộ Perestroika rồi ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ Nga trở lại thành Liên Xô, và không bao giờ Nga thoát khỏi các mưu đồ tiêu diệt Nga của Âu Mỹ.

2) Brexit là khi bọn trẻ con Vương Quốc Anh ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị thực hiện tự do dân chủ lên tiếng đòi rút khỏi Liên Minh Châu Âu, để rồi hầu như ngay sau kết quả trưng cầu dân ý thiên về phía thuận tách khỏi EU thì nhao nhao khóc thét dãy dụa (a) mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý, (b) hào hùng mạnh mẽ lên tiếng ì xèo đòi ở lại EU, (c) dũng cảm hiên ngang từng “xứ” chủ động liên hệ với EU để xin tiếp tục ở lại EU, và (d) trật tự văn minh chen chúc xin làm dân Ireland để tiếp tục làm dân EU. Tất cả nói lên năm điều tệ hại gồm (a) dân Vương Quốc Anh ngu xuẩn không biết tôn trọng luật chơi, (b) dân Vương Quốc Anh làm chính trị kiểu ngẫu hứng, (c) chính phủ Vương Quốc Anh ngu xuẩn do mồm loa mép dãi luôn lảm nhảm nôn ọe bùa chú lên đồng về tự do dân chủ nên chịu quả đắng khi tự do dân chủ bị lạm dụng, (d) Vương Quốc Anh với việc các “xứ” quay sang tự làm việc với EU hóa ra không là một thể thống nhất mà chính tác giả của bài viết này mấy năm trước viết về sự tan rã của Mỹ cùng Vương Quốc Anh trong bài Nước Mỹ Vỡ Vụn đã từng đề cập đến, và (e) người dân Vương Quốc Anh chống Brexit đã không biết đến sự thật đánh dấu số d trong đoạn nêu dưới đây.

Tóm lại, chỉ những người dân nào của Vương Quốc Anh kiên định tin vào Brexit mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân nào của Vương Quốc Anh đã không đi bỏ phiếu cùng với những người đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit rồi lại ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ có việc Vương Quốc Anh tồn tại trong EU (a) ngay cả khi Quốc Hội Vương Quốc Anh phủ quyết kết quả trưng cầu dân ý, (b) ngay cả khi Chính phủ Vương Quốc Anh không kích hoạt tiến trình rời khỏi EU, (c) vì việc rời khỏi EU dù kéo dài hơn 2 năm cũng phải khẩn trương theo thúc giục của EU do EU muốn nhanh chóng tống khứ Vương Quốc Anh, và (d) do EU buộc phải mạnh tay dứt khoát với Vương Quốc Anh không phải như báo chí thường nói đến như giảm thiểu tác hại về kinh tế của EU mà chính là sự răn đe đối với phần còn lại trong EU cũng như giữ thể diện EU và sự chán nãn của EU đối với Vương Quốc Anh là thành viên luôn luôn ỏn ẻn đòi yêu sách linh tinh lung tung từ nhiều thập kỷ nay.

3) Viexit thì trái ngược với Rexit và Brexit, vì đây là phong trào của tương lai khi (a) phát sinh đòi hỏi phải có cuộc trưng cầu dân ý đòi rút Việt Nam ra khỏi ASEAN, (b) nếu dẫn đến cuộc chia tay của Việt Nam khỏi ASEAN thì đó là từ quyết định sáng suốt khôn ngoan đầy bản lĩnh của người dân Việt Nam, và (c) ASEAN bị sụp đổ mà không thể ngẫng mặt cao đầu như EU để lên mặt yêu cầu Việt Nam nhanh chóng “kích hoạt” tiến trình ra khỏi ASEAN.

Lý do của Viexit là vì người dân Việt Nam không thể chấp nhận việc khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam chỉ là nơi cho thiên hạ ASEAN tự do đến buôn bán, tự do đến làm việc, trong khi ASEAN lặng thinh chấp nhận có những con ngựa bẩn thỉu mất dạy thành Troy tự do công kích Việt Nam, tự do bắt tay với Trung Quốc để chống Việt Nam trong vấn nạn Biển Đông.

Tóm lại, ASEAN là một tổ chức ngu xuẩn như minh chứng qua việc hình thành cái gọi là ASEAN-Trung Quốc.

Tóm lại, ASEAN không là một thực thể hùng mạnh như EU để người dân Việt Nam sau Viexit sẽ phải mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý như bọn trẻ con Vương Quốc Anh sau Brexit.

Tôi là một Viexiter.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Việt Nam XIII, Viexiter

Ghi chú:

1) Vương Quốc Anh có tên đầy đủ là Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan, bao gồm Xứ Wales, Xứ Scotland, Xứ England, và Xứ Bắc Ái Nhĩ Lan. Xứ England tức Xứ Anh. Đại Anh tức Great Britain bao gồm ba xứ England, Scotland, và Wales. Người Việt hay gọi sai Vương Quốc Anh là Nước Anh. Tất nhiên, sẽ đúng khi gọi English là tiếng Anh, thậm chí có gọi là tiếng Mỹ cũng không sai. Nhưng gọi “Nước Anh” là sai vì xúc phạm Scotland và Wales nếu họ biết ở Việt Nam xem họ là “xứ” tức xứ miền trong khi lại dành cho England từ ngữ “nước” tức quốc gia.

2) Nhiều báo ghi sai rằng tiến trình để ra khỏi EU là 2 năm kể từ khi kích hoạt (tức chính thức nộp đơn xin ra khỏi EU). Điều này không được quy định trong Hiệp Ước Lisbon hay Hiệp Ước Maastricht, khi một nước thành viên rời bỏ EU. 2 năm là dựa theo thời gian thực tế mà Greenland phải mất mới kết thúc được các đàm phán với EU để chính thức rời EU (trước đây là EEC) và cũng dựa theo Điều 50 Hiệp Ước Lisbon, theo đó nếu sau 2 năm mà vẫn chưa đạt được một thỏa thuận nào giữa quốc gia xin rời bỏ EU với EU thì tư cách thành viên của quốc gia đó tự động chấm dứt (trừ phi có thỏa thuận giữa quốc gia đó và Eu về việc gia hạn thời gian thêm để đàm phán tiếp). Cần nhớ rằng Greenland là một quốc gia nhỏ, gắn kết kinh tế với EU chỉ có mặt hàng cá; trong khí đó, Vương Quốc Anh là một cường quốc với các gắn kết đa dạng rộng khắp với EU nên để kết thúc dứt điểm từng gắn kết một phải mất có khi hàng thập kỷ cũng khó thể kết thúc tất cả các đàm phán chi li với 27 nước thành viên khác. Ngoài ra, khi EU lớn tiếng yêu cầu Vương Quốc Anh nhanh chóng rời EU, điều này càng nêu bật ý nghĩa rằng đã chưa từng có quy định nào trong Điều 50 ấn định thời gian 2 năm cho một “exit” cả. Đã có quy định thì EU không bao giờ có quyền thúc giục Vương Quốc Anh hãy mau mau kết thúc mọi thứ để ra khỏi EU.

Tham khảo:

Andy McSmith. 24-6-2016. EU referendum result: What is Article 50? How long will it take for Britain to leave the EU. http://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/eu-referendum-result-what-is-article-50-how-long-will-it-take-for-britain-to-leave-the-eu-a7099966.html

Hoàng Hữu Phước. 29-3-2014. Nước Mỹ Vỡ Vụn. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/29/nuoc-my-vo-vun/

Hoàng Hữu Phước. 01-5-2012. Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/06/17/su-thieu-khon-ngoan-cua-asean/

Trung Quốc Phải Thua Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 7 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 23 giờ

(Sáu bài sau đã đăng cùng ngày hôm nay:

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê  đã đăng lúc 11 giờ

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn đã đăng lúc 14 giờ

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt  đã đăng lúc 18 giờ

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta đã đăng lúc 20 giờ

Văn Tế Tướng Tàu La Viện  đã đăng lúc 21 giờ

Giặc Tàu Mọi Rợ  đã đăng lúc 22 giờ)

*********

Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân  Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.

Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”

Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:

“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”

Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.

Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.

Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên, “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.

Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.

Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).

Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.

Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.

Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.

Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!

Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:

Tau (2)Tau (1)Tau (3)

Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.

Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.

33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.

Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!

Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.

                            Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

                            Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên được đăng lần đầu ngày 02-02-2012 trên blog.com, tức vào đầu năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70.

Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12.

Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 6 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 22 giờ

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Ghi chú: Bài viết trên đã đăng lần đầu ngày 14-9-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.

Văn Tế Tướng Tàu La Viện

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 5 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 21 giờ

La Vien

Hôm nay nhân kỷ niệm 140 năm ngày Nguyễn Khuyến viết bài Văn Tế Ngạc Nhi tức tế quan nhớn của Pháp tên Marie Joseph Francois Garnier còn gọi tắt là Francis Garnier bị tử trận ở trận Cầu Giấy, Hà Nội, trước tiên tôi xin ghi lại nguyên văn bài văn tế của Tam Nguyên Yên Đỗ, và sau đó noi gương tiền nhân để viết bài văn tế tên thiếu tướng Tàu La Viện, kẻ đang sủa ăng ẳng về Biển Đông:

Văn Tế Ngạc Nhi

Tác giả: Quế Sơn Nguyễn Khuyến

Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Văn Tế La Viện

Tác giả: Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Than ôi!

Thân mang hàm quan tướng

Tưởng an nhàn office thật sướng thân

Ngày qua ngày gom giấy cho mụ vợ bán ve chai

Có ngờ đâu một phút sa cơ vội bỏ kiếp đất bờ

Thân chìm nổi dật dờ thây cá rỉa.

 

Nhớ linh xưa:

Học sủa nhặng đua đòi thằng Mã Viện

Ẳng ẳng rằng tao cũng Viện vậy, thua ai?

Nước Nam kia tao sẽ quánh tựa chẻ tre

Lôi hết gái cháu chắt chút của Hai Bà về hưởng thú!

Mồm gấu gấu như La Thông thời tảo Bắc

Tay múa cào nhái La Quán ấy thằng Trung

Sử của Tàu chưa có đoạn trị Nam

La ta quyết: Viện này nay chấp bút!

 

Nhưng hỡi ôi!

Ngu dốt đặc nào đọc ra chữ “Nhất”

Đếch có mà biết sách sử có ghi chi

Chỉ xem tuồng ba xạo đánh đông tây

Với Nhân Quý, Cáp Tô Văn, toàn bá láp!

Ối cha ui! Ối mẹ ui! Giờ lỡ đụng cháu con Bà Nhị Trắc

Rời lưng voi, cưỡi trùng trùng lớp lớp súp-ma-rin

Nhấn Liêu Ninh đít cọ đáy Biển Đông

Lôi theo xác Viện La về trùng phùng Viện Mã

Khốn nạn thân Ông

Khốn khổ thân Ông

Khốn kiếp thân Ông

Khốn đốn thân Ông

Khốn khó thân Ông

 

Lăng Tần ta nay:

Tâm khuôn phò xã tắc nước Nam

Trí diệt tiêu bây giặc Tàu ché đỏ

Nhưng tuân ý muôn dân đem bày chút cỗ

Gồm Nờ Một Hát Năm: gà toi một chú, vịt lảo đảo một nàng

Sữa mê-la-mai: Sanlu bột mịn đại bổ béo hai thùng

Dưa hấu nổ: to đùng đùng ba trái

Móng trâu bò bốn năm chiếc xí quách gặm chơi

Rượu nước Nhiêu Lộc pha cồn chín mươi chữ sáu bình

La Viện ông sống có khôn thác có thiêng

(Mà dù có đếch khôn cộng với đếch thiêng, cũng)

Hãy chịu khó lội về đây phàn xực.

Ôi La Viện ơi là La Viện!

Ta vì phải học theo Nước Nam Truyện Cổ

Buộc mắng Ông cho tiêu tan tình tội của Ông

Nén hương trầm xin đốt cắm hũ chao

Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!

Thượng hưởng!

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1:

– office: văn phòng, cơ quan

– quánh: tiếng bình dân Nam Bộ, đồng nghĩa với “đánh”

– trị Nam: ý nói mấy tên họ La như La Thông (quyển La Thông Tảo Bắc) cũng là hạng vô danh tiểu tốt chẳng được dân Tàu xem trọng nên chẳng ai viết về y, còn La Quán Trung cũng là đứa họ La với La Viện thì cũng chỉ rặn ra được mấy quyển sách sử thể loại giải trí trường thiên chứ chẳng tham gia viết cái gì liên quan đến phía Nam vì toàn bộ lịch sử 5000 năm lập quốc của Tàu thì chỉ toàn đớn nhục ê chề khi đụng đến nước Nam, nên ngay cả có thời kỳ đô hộ nước Nam cả ngàn năm mà Tàu cũng chết khiếp không dám viết hay làm phim cổ trang về thời kỳ “ngàn năm” ấy. Tàu chỉ dám làm hai việc có dính tới nước Nam, đó là cách nay 30 năm sản xuất quả địa cầu vẽ nước Tàu dài tới…Mũi Cà Mau, và cách nay 3 ngày sản xuất tấm bản đồ ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Xem ra, Tàu vẫn sợ chết khiếp khi nghĩ đến nước Nam ta.

– Nhân Quý và Cáp Tô Văn: Tiết Nhân Quý (quyển Tiết Nhân Quý Chinh Đông), còn Cáp Tô Văn là thủ lĩnh Đại Hàn xứ sở kim chi, đối tượng của sự xâm lược do Nhân Quý tiến hành

– súp-ma-rin: tức submarine (tàu ngầm)

– Liêu Ninh: hàng không mẫu hạm của Tàu

– Nờ Một Hát Năm: tức H5N1, bịnh cúm gia cầm

– mê-la-mai: sữa melemin đặc sản Tàu, do hãng Sanlu sản xuất nhằm giết trẻ em … Trung Quốc, bảo đảm độc quyền, không đụng hàng trên toàn thế giới

– Nhiêu Lộc: nguồn nước tinh khiết độ đạm cực cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt dành riêng cho giặc Tàu xâm lược

– phàn xực: tức “xực phàn”, tức là … xực, tiếng lóng của Việt Nam gọi hành động “ăn uống”

– Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!: đây là lời kết rất hiền hòa do hậu sinh “Nhất Thạc Bàn Cờ” Lăng Tần không dám sử dụng từ ngữ ngang tầm “Đù cha mẹ nó!” của bề trên là Cụ “Tam Nguyên Yên Đỗ” Nguyễn Khuyến. (ghi chú thêm số1: Nhất Thạc là…Thạc sĩ mới có một lần, và là dân cư Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn; ghi chú thêm số 2: kiểu ngôn từ “Đù cha mẹ nó!” là kiểu đặc biệt dành cho bất kỳ bọn xâm lược nào đụng đến nước Nam, vì vậy cần được trau giồi, học hỏi, phát huy, tăng cường sử dụng trong văn học để chứng minh con cháu Việt ai cũng muốn giỏi như Trạng Nguyên Ba Lần Nguyễn Khuyến)

Ghi chú 2: Bài trên đăng ngày 14-01-2013 tức vào đầu năm thứ ba của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 4 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 20 giờ

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ. Tôi còn dị ứng trước bất kỳ những gì của Trung Quốc, từ phim cổ trang về bọn gióc tóc đến phim xã hội tầm phào (tất nhiên trừ vài phim họ làm để chinh phục Holywood), từ mấy thứ thuốc cao đơn hoàn tán khả nghi đến thực phẩm không đáng tin cậy, từ đồ chơi kém chất lượng đến hàng điện tử đầy hỏng hóc, v.v., tất cả không do bất kỳ một thái độ kỳ thị nào cả, mà từ sự miệt mài say sưa đọc sử Trung Quốc để rồi nghiệm ra rằng sở dĩ nước ấy có Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử xuất hiện chẳng qua vì tổ tiên Trung Quốc cực kỳ tàn độc, vô lễ, vô chính, vô hạnh, vô đức, vô duyên, vô trí như thể hiện đầy dẫy trong các chi tiết ở các triều đại phong kiến như vua cha cướp vợ của con, thái tử lấy vợ của vua cha, cha con/anh em giết nhau vì ngôi báu, v.v., và hậu duệ của một giống nòi như vậy không thể khiến người ta tin rằng đã nhờ văn hóa văn minh hiện đại ngày nay xóa tan được những gien vô sĩ, bất nghĩa, tàn độc của tổ tiên.

Thế nhưng, rất nhiều hàng hóa tồi tệ của Trung Quốc vẫn tràn vào Việt Nam, và nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn “đặt hàng” Trung Quốc chế tạo hàng kim khí điện máy. Tất nhiên điều này cho thấy Việt Nam có cơ chế thị trường mở, tự do, phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO, không dùng bất kỳ biện pháp hành chính nào để cản trở. Vấn đề do đó nằm trong cái tâm, cái tầm, và cái tình của người đi buôn và của người tiêu dùng.

Vấn nạn của Trung Quốc ngày nay bao gồm nhiều điểm nóng bỏng, nhưng nổi cộm nhất và mang tính dân tộc cụ thể nhất là vấn đề bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc không thể bành trướng lãnh thổ trên đất liền do phía Bắc bị Nga đè bẹp với vùng đệm khó chịu của Mông Cổ và Kazakhstan; phía Tây sừng sững kẻ thù bất cộng đái thiên Ấn Độ với vũ khí nguyên tử cùng vòng cung khó chịu của Pakistan, Afghanistan và vài quốc gia cựu-Liên-Xô khác; phía Đông bị Hàn Quốc án ngữ với vành đai khó chịu của Nhật Bản; còn phía Nam bị ngăn chặn vĩnh viễn bởi bức tường thép Việt Nam. Không thể tiến lên phương Bắc vì vùng Siberia ngàn năm băng giá của Nga, không thể vượt qua tường lửa phía Tây để nuốt Châu Âu, không thể vượt sự kềm tỏa phía Đông để đụng độ Hoa Kỳ và Châu Mỹ, Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất là đánh xuống phương Nam. Sự ra quân hối hả của Trung Quốc từ cơn khát thèm di truyền từ tổ phụ xua quân tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979 đã cũng cố tính chính xác của công thức phản ứng hóa học bất di bất dịch: quân đội nào vào tiếp xúc với đất Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học thăng hoa khiến quân đội ấy bốc hơi, tan biến, mà không thu hồi được ngay cả các khí thứ phẩm (công thức khác thì cần thời gian xác minh củng cố thêm, đó là: quân đội nào vào tiếp xúc với nước Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học lắng tụ khiến quân đội ấy thân chìm đáy biển mà không thu hồi được ngay cả các thứ bùn thứ phẩm). Trung Quốc chỉ còn cách hạ mình tránh né lục quân Việt Nam, cực chẳng đã phải buộc quên mình là Con Trời, muối mặt làm con kỳ nhông với lưỡi thè dài ra liếm láp các hòn đảo Biển Đông và tự an ủi là lưỡi mình là lưỡi bò chứ không phải lưỡi thạch sùng, cắc ké, kỳ nhông. Việc đi tắt bằng đường biển xuyên Biển Đông này không phải như hầu hết nhân loại đã nghĩ (chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì tài nguyên dầu hỏa phong phú), hay phần lớn nhân loại đã nghĩ (khống chế các nước ASEAN), mà chính là xuyên qua ASEAN làm chủ Biển Đông, thẳng tiến đánh chiếm Châu Đại Dương, sở hữu Nam Cực, khống chế Mỹ La Tinh và tất nhiên biến Bắc Mỹ thành búp bê Barbie hữu danh vô thực (Mỹ đấy – tức là…Đẹp đấy, nhưng không nhúc nhích cục cựa gì được).

Cái đói khát thèm thuồng của Trung Quốc đã rất thảm hại khi tung tiền mua một hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) thời Liên Xô cũ của Ukraine đang chờ bán sắt vụn để kéo về nước “tân trang”, rồi bắn tin là một doanh nhân Trung Quốc cũng sắp tậu một hàng không mẫu hạm khác, loại phế thải của Anh Quốc về làm nhà hàng, khách sạn. Hoàng Sa và Trường Sa, do đó, chỉ là nơi phải chiếm giữ để xây dựng căn cứ hải quân hậu cần cho những cuộc hải trình chinh phục phương Nam.

Việc làm của chúng ta, do đó, nhất thiết nên là:

1) Ủng hộ Chính phủ Việt Nam trong những cách chính quy, chuyên nghiệp mà Chính Phủ luôn áp dụng thành công với đối ngoại, ngoại giao, chính trị, và quân sự.

2) Kinh nghiệm cho thấy các cuộc xuống đường rầm rộ trên toàn thế giới và ngay trên đất Mỹ đòi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam vẫn không có tác dụng gì đối với Chính phủ Hoa Kỳ, và chỉ khi bị Việt Nam đánh bại về quân sự, Mỹ mới rút quân khỏi Việt Nam. Việc làm hiệu quả nhất để đòi lại chủ quyền hải đảo đã bị Trung Quốc chiếm đóng là phải đánh bại Trung Quốc về hải quân, mà để có sức mạnh hải quân sẽ cần đến nguồn tài chính dồi dào do dân đóng góp. Sự đóng góp này phải có tên gọi cụ thể là “đóng góp hiện đại hóa quân đội và xây dựng hải quân hùng mạnh” chứ không dưới một danh xưng mềm mỏng yếu ớt như “góp đá cho Trường Sa”.

3) Trong khi Chính phủ Việt Nam sử dụng sức mạnh công luận của ASEAN và thế giới, người dân Việt Nam nên sử dụng sức mạnh của dân Trung Quốc đối với Chính phủ của họ, nghĩa là nhất thiết phải cho người dân nghèo khổ Trung Quốc cùng các nhà sản xuất nhỏ Trung Quốc hiểu ra rằng bao năm qua Việt Nam nuôi sống họ bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ, và họ nay phải phản đối việc Chính phủ của họ gây hấn ở Biển Đông; bằng không, Việt Nam tẩy chay hàng hóa của họ, đẩy lùi họ về thời kỳ cùng khổ của cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

4) Phải làm cho các nước ASEAN và các nước Châu Đại Dương hiểu rằng Trung Quốc đang nhắm đến họ chứ không phải mấy hòn đảo ở Biển Đông, do đó họ nhất thiết phải cùng Việt Nam dùng sức mạnh ngoại giao và quân sự để đè bẹp ý chí bá chủ của Trung Quốc.

5) Nhất thiết phải có nhà biện sĩ thuyết khách cỡ Trương Lương hay Tô Tần sang du thuyết với lãnh đạo Trung Quốc, cho họ những lời khuyên khôn ngoan (a) rằng lẽ ra Nhật Bản không phải là đảo quốc nhỏ bé bị thiên tai tàn phá liên tục mà là một đại siêu cường có lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới nếu sau khi chiếm Trung Quốc họ biết dừng lại ngay tại biên giới Việt Nam; (b) rằng lẽ ra Đế Quốc Pháp ngày nay vẫn còn danh dự như Đế Quốc Anh đang còn tồn tại nhiều “thần dân” như Canada, Úc, v.v., nếu Pháp biết dừng lại bên ngoài hải phận Việt Nam; (c) rằng Đại Tống lẽ ra đã không bị Tây Hạ và Liêu Đông dày xéo đến phải mất nước về tay Nhà Kim và Nhà Nguyên nếu họ đừng xâm lấn nước Việt để bị Lý Thường Kiệt đánh cho suy tàn, cũng như nhiều triều đại khác trong lịch sử Trung Hoa; (d) rằng Hoa kỳ lẽ ra đã không mất ngôi vị lãnh đạo thế giới, không biến thành kẻ lụn bại về kinh tế lẫn uy danh nếu biết dừng lại ngoài lãnh hải Việt Nam mà không ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ để đổ bộ vào Đà Nẵng; (e) rằng Trung Quốc hãy vì đại cuộc mà rút quân khỏi Biển Đông để tập trung trấn quốc do việc xâm lấn ngày nay sẽ khiến Trung Quốc đối mặt cùng lúc bốn đại nguy cơ gồm thứ nhất là sự tẩy chay của thế giới khiến tác động tai hại đến kinh tế Trung Quốc, thứ hai là việc tung quân rời xa vùng cương thổ sẽ khuyến khích các cuộc tổng nổi dậy xé tan nát sự toàn vẹn của Trung Quốc, thứ ba là khuyến khích cắt cáp và gây hấn với tàu Việt Nam là hành động tương tự sự ngu xuẩn của bậc làm cha mẹ nào xui giục con giở thói côn đồ cướp bóc khiến đàn con sẽ trở nên bại hoại, mất dạy, bất lương, bất hiếu, quay ra đánh lại mẹ cha, tàn diệt Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, và thứ tư là Trung Quốc tất nhiên phải đại bại do lịch sử chưa bao giờ có bất kỳ sự kiện gì chứng minh Trung Quốc đánh thắng bất kỳ một quốc gia nào ở khu vực ASEAN; và (f) rằng Trung Quốc hãy chấp nhận vị trí siêu cường kinh tế vì không bao giờ “có cửa” cho Trung Quốc làm siêu cường quân sự cả.

6) Cảng Cam Ranh nên là một quân cảng cho Nga hoặc Mỹ thuê, do Cam Ranh thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam có toàn quyền quyết định việc sử dụng Cam Ranh, chứ không phải Việt Nam buộc sử dụng cho mục đích phi quân sự chỉ để nhằm khoe hay chứng minh với phần còn lại của thế giới rằng Việt Nam “yêu hòa bình” hay chỉ để làm yên tâm kẻ đang gây căng thẳng nơi Biển Đông. Kiểu cách bất di bất dịch của tất cả các vương triều nước Việt suốt chiều dài lịch sử 4.500 năm lúc nào cũng nhún nhường quỳ mọp xin lỗi “thiên triều” Tàu thì nay nhất thiết phải được thay đổi triệt để và ráo riết. Nhờ sự quỳ gối quỳ mọp quỳ lụy Tàu của tất cả các bậc minh quân nước Việt trong lịch sử mà dân tộc Việt đã được trường tồn. Đã đến lúc nhờ sự vùng lên nắm đầu đè cổ dí đầu Tàu xuống bùn nhơ của chính phủ Việt Nam trong tạo nên lịch sử mới cho dân tộc Việt mà dân tộc Việt sẽ được trường tồn.

7) Và cuối cùng – song không kém phần quan trọng – là chúng ta nên bảo đảm mọi hành động đều phát xuất từ lòng yêu nước tự thân, sự hiểu biết đúng đắn tự thân, quá trình tư duy tự thân, khả năng nhận định đúng đắn và phân tích đúng đắn tự thân, và trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, trật tự xã hội, an ninh quốc gia, để không dễ bị xui giục, khích động, lôi kéo bởi những tên chống Cộng thâm hiểm. Đất nước chỉ có thể được bảo vệ bởi quân đội đã chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 09-6-2011 tức trước khi tác giả chính thức trở thành Nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Ngưu Ngữ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 3 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 18g

Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…ông nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).

Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua), v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, long não không phải là…óc vua.

Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.

Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:

Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu ), nghĩa là mặt vua Tàu

Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu

Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu

Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò

Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu

Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu

Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu

Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng

từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, được sờ Ngưu Mông và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”

Đúng là ngôn ngữ Tàu cũng có các biến thiên để trở thành sinh ngữ uy trấn toàn cầu vậy.

Tiếng Tàu nay không còn là Hoa Ngữ hay Trung Văn mà được cách tân thời thượng gọi là Ngưu Ngữ, tiếng bình dân gọi là Tiếng Bò.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 02-9-2011 tức sau kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 2 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 14 giờ

Các dị nhân Tàu đã từng chứng minh thật hùng hồn đầy sức thuyết phục với toàn nhân loại rằng tổ tiên và hậu duệ của Tàu rất giỏi về bói toán, tử vi, bốc dịch.

Lịch sử của Tàu cũng từng chứng minh rằng Tàu đã thực sự có dị nhân tài ba như thế nhưng dù đã biết số trời vẫn ra sức hô phong hoán vũ trấn bùa ếm chú chống ngăn để rồi vẫn hoàn toàn đại bại thất bại lụn bại hủ bại, như cái gã họ Gia Cát tên gọi Khổng Minh (tức Phục Long Tiên Sinh, kẻ mà thiên hạ Tàu đại ngôn pháo đại cho rằng y cùng với gã nọ họ Bàng tên Thống còn gọi là Phụng Sồ Tiên Sinh hợp thành thiên hạ đệ nhất mà chỉ cần có một trong hai ở dưới trướng theo phò thôi là đã có thể gồm thâu xã tắc, nhất thống thiên hạ, lập nghiệp đế vương, để rồi khi trự nọ tên Bị họ Lưu thu nạp cả hai lại bị tủi nhục mất cả giang sơn Thục quốc) lập đàn bắt ấn cũng không tránh được chuyện bị tên bại tướng hàng binh Ngụy Diên lấy mất cái đầu.

Lấy cổ mà suy kim, chỉ cần quan sát xem Tàu động thủ ra sao khi bày chuyện can qua chống trời là đã có thể nhận định được ngay lập tức thật rất rõ ràng rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Quốc, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là Tàu, cùng đám tiểu quốc lâu la theo đóm ăn tàn, đã đến “ngày tuyệt diệt”, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là “ngày tàn”, theo lời bàn của Lăng Tần Tiên Sinh nước Việt, đối thủ của Phục Long Tiên Sinh và Phụng Sồ Tiên Sinh nước Tàu.

Cái sự suy vong của một nước nhớn từ cổ chí kim được nhận thấy qua duy chỉ một hành động duy nhất đã trở thành một đại công thức mang tính chân lý bất dịch bất di là khi lãnh đạo nước ấy đột nhiên ngu xuẩn hấp tấp dấy động can qua (a) trên tư thế yếu của tâm thần từ hỗn hợp của các bệnh lý tâm thần complex neurophysiological phenomenon of neuroleptic malignant syndrome do di truyền từ tiên tổ và chứng thác loạn thần kinh khiếp sợ hypersensitivity mental disorder from heredity, genetics and brain chemistry cũng do di truyền từ tiên tổ; và (b) dựa dẫm vào sức khỏe bò điên có lưỡi bị tưa toét đứt làm chín đoạn. Từ những mặc cảm bịnh hoạn bịnh lý bịnh kinh niên của chứng Gelotophobia khiến luôn sợ bị cười chê nhạo báng do dân tộc mình ăn dơ ở dáy muôn đời bại trận trước Việt Nam, chứng Ordacleaphobia khiến vạn kiếp khiếp sợ thân phận không bao giờ hoàn hảo do không bao giờ làm bất kỳ phim cổ trang nào có nội dung đánh thắng Việt Nam, dẫn đến sự hình thành chứng bịnh Vietnamophobia luôn luôn khiếp sợ Việt Nam đến độ

trầm trọng thành tâm bịnh Vietnamomania trở thành chứng điên dại Desanimania cộng với chứng EcdemomonomaniaPoriomania khiến bị thôi thúc phải bỏ lục địa lang thang ngoài khơi lạc tuốt xuống Biển Đông xây tạm cái xó xỉnh gọi là  “Thành phố Tam Sa”; cho đến sự khiếp sợ đầy bịnh hoạn của chứng Atychiphobia dưới tác động của lệch lạc tàn khốc của Homocidomania tức Phonomania đã khiến ra lịnh cho tay sai là bọn chó dại Khmer Đỏ tiến hành cuộc đại tàn sát dân Kampuchea nhằm thôn tính nước này làm bàn đạp vững chắc bảo đảm chiếm được Việt Nam. Chung quy, tất cả đã cộng hưởng với cái tâm thần lệch lạc của di chứng Claustrophobia lúc nào cũng sợ hãi sự tù túng bó rọ giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của đại quốc Nga và thực thể tiềm năng Mông Cổ ở phương Bắc, liên minh Hồi Giáo dũng mãnh và Ấn Độ ngoan cường ở phương Tây, Việt Nam thần uy dũng mãnh ở phương Nam, và ngọa hổ Nhật Bản với tàng long Hàn Quốc ở phương Đông, cuối cùng đã phá sụp thần trí Tàu, làm Tàu mông muội thè lưỡi xuống liếm phân chim ở Hoàng Sa và chấm mút Trường Sa.

Đầu Tàu đã mang quá nhiều chứng tâm thần, nhưng cũng nhờ những hành động chống trời kiểu Phục Long và Phụng Sồ đã khiến những bậc trí thức tài hoa đất Việt trời Nam không cần bấm độn cũng biết ngày tàn của Tàu đã đến. Do biết trước thiên cơ từ năm 2013 trở đi hàng vạn tai ương khủng khiếp giáng xuống Tàu cộng thêm với việc Tàu bị tan nát thành sáu nước, Tàu đã vì khiếp sợ mà cho rằng tiên hạ thủ vi cường, phải ra tay đánh xuống phía Nam trước để trừ hậu hoạn vừa tránh đại họa bị Việt Nam xóa sổ vừa có vùng đất đai mới để cắm dùi rời xa đất Tàu tan vỡ do bạo loạn và thảm họa thiên tai. Để thêm phần chắc thắng, một triệu chiến binh Tàu đã được cấp tiền bạc để trở thành công dân Campuchia, đất nước năm triệu dân, mua đất đai lập đồn điền áp sát toàn tuyến biên giới phía Tây của Việt Nam, tung tiền xây dựng tại thủ đô Phnom Penh con đường hoành tráng mang tên “Đại Lộ Mao Trạch Đông”, và hớn hở trước tình hình “đa đảng” của Cambodia với nhiều “đảng” hô hào thù hận Việt Nam, ra tay phá cột mốc biên giới, cản trở việc cắm mốc còn lại, và vẽ lại bản đồ Việt Nam chỉ kéo dài xuống đến xứ Quảng, còn lại thì sáp nhập vào Vương Quốc Cambodia. Việc nhanh chóng “ra tay” trước của Tàu càng củng cố sự thật rằng Tàu buộc phải bị diệt vong. Tàu đã để lộ thiên cơ qua việc chống lại cơ trời, thay vì gắng sức tu nhân tích đức, xử sự đàng hoàng với Việt Nam hầu mong cải tạo được tình hình đại họa sắp giáng xuống toàn dân tộc Tàu mà bất kỳ người Việt nhân từ nhân hậu nhân văn nhân ái nhân đạo nào cũng không muốn chứng kiến ngày đất Tàu vỡ vụn chôn vùi hàng tỷ con người còn Biển Đông South China Sea lại phải bị đổi tên thành Huyết Hải Blood Sea do nhuộm đỏ máu quân Tàu mà thế giới thì đã có biển Hồng Hải Red Sea sẵn rồi nên Việt Nam khó thể đặt trùng.

Bọn Phục Long Khổng Minh Gia Cát Lượng và Phụng Sồ Bàng Thống cùng với nào là Quan Công tưởng đâu là thánh thần ghê gớm lắm, Trương Phi ngỡ đâu là uy dũng lắm, Thường Sơn Triệu Tử Long tưởng đâu là báu lắm, thế mà đem ngựa Xích Thố với muôn vạn hùng binh không thể giúp vua làm nên nghiệp Đế đã vậy còn rước thất bại đớn nhục ê chề. Bọn Tàu hậu duệ ngày nay đem hàng không mẫu hạm cùng tàu bè lãng vãng ở Biển Đông và một triệu quân nhập quốc tịch Cambodia đóng vai nhà nông đi trồng cao su sát biên giới Việt Nam thì cái sự thất bại càng hiển nhiên, cảng rõ nét, càng nhanh chóng, càng dưới chuẩn của nhục đớn chề ê hàng vạn dặm.

Ngày tàn của Tàu và bọn theo đóm ăn tàn đã phải đến. Thiên cơ đã lậu. Biết làm thế nào được.

Điều phước thiện duy nhất ViệtNam có thể làm là tổ chức một Đại Lễ Cầu Siêu cho giặc Tàu mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng đầu tiên trên blog.com ngày 21-12-2012 tức sau kỳ họp thứ tư của năm thứ nhì của nhiệm kỳ Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo vài bài viết cùng chủ đề của Hoàng Hữu Phước:

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

900 Năm Hùng Khí Thần Uy

Trăm Trứng

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 1 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 11 giờ

Có một định nghĩa mang tính chân lý từ muôn đời nay mà từ kẻ thất phu đến bậc thức giả hàn lâm, từ bậc hiền nhân quân tử đến kẻ tham quan ô lại, từ nhà buôn chân chính đến doanh nhân làm giàu bằng cách ác nhân thất đức tàn phá môi sinh, từ bậc đạo đức tu hành chánh đạo đến phường hổ mang lưu manh khoác áo cà sa hay áo chùng thâm, đều biết rõ mười mươi rằng Việt Nam là mồ chôn tất cả các đoàn quân xâm lược bất kể chúng đến từ đâu (ngoại trừ … aliens tức sinh vật ngoài hành tinh vốn chỉ bị tiêu diệt duy bởi các vũ khí thần thông Mỹ … made-in-Hollywood bất kể chúng đến từ thiên hà nào). Đất Việt đã luôn là mồ chôn bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thiết giáp binh, pháo binh giặc xâm lược. Trời Việt đã luôn là mồ chôn không quân giặc xâm lược. Sông Việt đã luôn là mồ chôn thủy binh giặc xâm lược (chưa kể… Rừng Việt đã luôn là mồ chôn biệt kích giặc xâm lược và Hang Việt – mà điển hình là Hang Pắc Pó –  đã luôn là mồ chôn … đê tiện quân giặc xâm lược). Và đương nhiên đến lượt Biển Việt sẽ nối gót để luôn là mồ chôn hải quân giặc xâm lược.

Đã là chân lý‎ thì đương nhiên đúng, phải đúng, đúng một-cách-biết-làm-thế-nào-được, vì ngay cả Albert Einstein cũng phải sử dụng số học 2+2=4  trong các tính toán kinh thiên động địa không dính dáng đến số học của Ông. Mà đã đương nhiên đúng thì Biển Đông sẽ là mồ chôn của hàng không mẫu hạm của Trung Quốc và tất cả các chiến hạm cùng tàu ngầm của Trung Quốc, bất kể do chúng tự động chìm vì lớp sơn mới không bít được các lổ mọt rỉ sét mà độ mặn căm thù của Biển Đông tàn phá nhanh chóng gọn gàng thứ kim loại biến thái với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc là điển hình, bất kể do tổ tiên Việt Nam sau khi thấy lời răn dạy phải luôn dĩ hòa vi qu‎ý tránh voi đâu hổ mặt nào được con cháu áp dụng nhuần nhuyễn hơn 4000 năm vẫn không phát huy tác dụng với con cháu bọn cướp cạn Lương Sơn Bạc nên nóng mặt hung hăng hùng hổ vất bỏ dáng nhu mì từ trời cao giáng sấm sét bão tố đánh chìm chiến hạm giặc Tàu khiến thây nổi đầy mặt biển vướng chân vịt làm hỏng vô số tàu buôn, bất kể do bị các cao thủ võ lâm Hồi Giáo các nước trong khu vực ASEAN đánh chìm sau khi thọ giáo các tuyệt chiêu kinh nghiệm từ hảo hán người Sudan của lực lượng al-Qaeda dưới quyền Osama Bin Laden đã từng làm chiến hạm USS Cole của Hải Quân Hoa Kỳ thủng một lổ bự chà bá khi neo đậu tại Cảng Yemeni thành phố Aden nước Yemen lúc 11 giờ 18 phút 14 giây sáng ngày 10 tháng 12 năm 2000 gây thương vong cho 56 binh sĩ Mỹ chỉ với 250kg thuốc nổ, hay bất kể do chính các chiến sĩ hải quân tinh nhuệ của Trung Quốc thao tác sai khi thiết bị có chữ Nga và chữ Anh hay chữ Pháp được dán chữ Tàu đè lên nhưng bị sút rớt do keo dỏm made-in-China làm nhấn nút lộn phá tanh banh mẫu hạm còn tàu ngầm bị mỹ nhân ngư gốc Việt dụ lũi vô kẹt cứng như Mạnh Hoạch bị dính chấu giữa hai mỏm đá đáy biển sâu do tưởng bở hai bắp đùi nõn nà người ngọc, v.v. và v.v.

Mà các sự cố trên xảy ra – cách chi mà không xảy ra cơ chứ  – thì cứ tưởng tượng tàu Trung Quốc đổ xô đến Biển Đông cứu nạn, tàu Mỹ đổ xô đến vớt khí tài quân sự cùng máy bay tàng hình Tàu để xem kỹ thuật tiến bộ đến đâu, tàu Nga đổ xô đến nghiên cứu xác hàng không mẫu hạm để rút kinh nghiệm chế vỏ tàu chống muối Biển Đông, tàu các nước ASEAN mạnh ai đổ xô đến vì những mục đích khác nhau, còn ghe thuyền thúng mủng Việt Nam đổ xô ra vì vẫn mang nặng khí tiết đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo rồi vì nghĩa tử là nghĩa tận mà bắt chước tiền nhân vớt xác quân thù lên bờ lập đền thờ cúng tế ngàn năm không dứt khói hương, thật là tán loạn tự do thì còn gì là uy quyền quốc gia! Thế nên, thay vì đợi nước đến đầu gối mới nhảy, Việt Nam nên có sẵn các quy định mang tính luật pháp, chẳng hạn rằng bất kỳ tàu nào xâm lấn vùng lãnh hải của Việt Nam mà gặp nạn chìm – bất kể do trời đánh hay người đánh – thì thuộc quyền sở hữu của Việt Nam như pháo đài bay B-52 và oanh tạc cơ F của Mỹ bị rơi ở Miền Bắc Việt Nam trở thành tài sản của Việt Nam muốn trưng bảo tàng hay xẻ thịt làm lược chải đầu hoặc bán ve chai thì cứ tự tiện, rằng các nước có liên quan hay không có liên quan muốn vào nghiên cứu chụp hình phải đóng phí cho Việt Nam và trả tiền cho Việt Nam nếu muốn trục vớt mua lại xác tàu, rằng mọi dịch vụ phải hợp đồng sử dụng lao động Việt Nam, rằng các chính quyền các địa phương ven biển không cho dân lập đền thờ như xưa kia tổ tiên Việt đã thờ mấy tướng Tàu xâm lược nước ta bị chém bay đầu vì địa ốc ngày nay không còn dư dả gì nhiều để phí phạm vô bổ như thế do đã có quá nhiều resort ven bờ biển, v.v. Đồng thời, Việt Nam nên phát triển lực lượng cứu hộ biển, lực lượng khắc phục sự cố tràn dầu mặt biển do tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng khắc phục hậu quả phóng xạ do vũ khí rò rỉ dưới đáy biển từ tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng thu giữ khí tài quân sự từ đáy biển, lực lượng cảnh sát giao thông biển để giữ trật tự biển sau khi hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm làm vô số tàu buôn và tàu container bị vướng chân vịt không cục cựa gì được như đã nêu trên, lực lượng tuyên truyền thuyết phục các nước khách hàng đừng sợ cá biển Việt Nam xuất khẩu nhiểm độc tàu Tàu, và lực lượng đoàn tàu du lịch hạng sang để làm dịch vụ đưa đón hàng vạn người Trung Quốc hàng năm đến Biển Đông khu vực Trường Sa thả vòng hoa và thức ăn cúng tế hồn tử sĩ Tàu.

Thêm vào đó, còn phải tính đến trường hợp hàng không mẫu hạm Trung Quốc không bị trời đánh hay người đánh chìm nhưng lại giương cờ trắng đầu hàng Việt Nam, xin tỵ nạn chính trị tại Việt Nam, do rất nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cầu mong Trung Quốc xua hải quân đánh Việt Nam để ngay khi hải quân Trung Quốc tiến vào Biển Đông họ sẽ đồng loạt nổi loạn khắp nơi tấn công Bắc Kinh, tiêu diệt lực lượng quân đội ít oi còn lại để xé toang nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành ít nhất năm quốc gia mới, khiến đoàn quân viễn chinh Tàu xâm lược không chốn dung thân trên chính chiếc lưỡi bò. Vì vậy, Việt Nam phải quy định ra sao đối với tình huống tỵ nạn chính trị chưa có tiền lệ này, có chấp nhận cưu mang cho nhập quốc tịch những ngàn người Mác-xít Mao-ít bất hạnh đã từng có vinh hạnh duy nhất trong đời là làm cháu chắt chít chụt chịt của Ông Cố Tổ Trọng Thủy xưa kia từng được nằm chung giường với Bà Mỵ Châu chăng, hay học cách tiền nhân ban áo quần lành lặn và lương khô (còn trong hạn sử dụng) cho đoàn xe Hyundai (50 chỗ có máy lạnh) đưa đến tận biên giới Việt-Trung trao trả họ cho những chính phủ cầm quyền mới ở bển để bên ấy long trọng đón về tùng xẻo lấy thịt nấu bánh bao như bọn mọi Thủy Hử xưa kia, v.v. và v.v.

Vô số những vấn đề mà nếu áp dụng Xác Xuất Học sẽ thấy không phải không có khả năng xảy ra, khiến Việt Nam không thể không quan tâm đến, và không thể không sớm đề ra đầy đủ.

Chỉ vì cái đại ngu và đại điên của đại gia Trung Quốc mà Việt Nam ta phải tốn tiền lo tổ chức đủ thứ, e rằng GDP nước nhà lại bị tác động khó nhích lên cho sớm xứng mặt siêu cường trong thiên hạ, do các khoản thu từ dịch vụ du lịch Biển Đông thời hậu mẫu hạm khó đủ bù chi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 12-9-2011 tức ngay trước kỳ họp thứ nhì của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-6-2016

A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Sự Thật Về Thực Phẩm Tàu

Kỳ Tích và Kỳ Quái

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-6-2016

Bài viết này của Hoàng Hữu Phước, song không được viết với phong cách Hoàng Hữu Phước, nghĩa là lần này sẽ không có mào đầu dẫn nhập thứ tự lớp lang bài bản của chân phương từ trái qua phải, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, hay của phá cách vòng vo tam quốc quen thuộc, mà lại đi ngay vào kết luận ngay nơi đặt bút viết đoạn đầu tiên, đó là: Mọi Sự Xảy Ra Liên Quan Đến Thực Phẩm Trung Quốc Là Do Một Chữ “Đói” Mà Ra.

Nhớ khi xưa, chính phủ Cộng Sản Việt Nam lúc vừa đánh đuổi quân Mỹ và quân Cộng Hòa chạy tan tác tan nát tan vỡ tan tành không còn manh giáp, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, xong là đã phải đương đầu với một vấn nạn khủng khiếp mà chưa bất kỳ một chính phủ nào trên trái đất này từng kinh qua, đó là cùng lúc bình định cương thổ, tổ chức thống nhất giang sơn, quản lý tù binh và hàng binh, quán xuyến công tác hành chính nhân khẩu, thống kê cai quản kho tàng, và bảo vệ thành quả cách mạng, v.v. và v.v. Ngay sáng 01-5-1975, hàng ngàn người ào ạt xông vào cướp tất cả các kho hàng từ Cảng Khánh Hội đến bên kia Cầu Tân Thuận, và hàng núi bao gạo Mỹ (tức gạo Thái Lan) được chất đống hai bên lề đường (nay là đường Nguyễn Tất Thành) mà người bán là những thanh niên mình trần trùng trục, quần dài xăn đến gối có mà quần đùi cũng có, mặt mày đa số giống dân anh chị ở khu Tôn Đản khét tiếng (mà Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn cũng phải chùn tay) nhưng lại rất…“nhân từ” khi bán tháo bán đổ mỗi bao gạo 50 ký với giá bọt bèo mà ngưởi mua thì tùy hỷ muốn trả bao nhiêu tiền cũng được, chẳng qua đó là thứ có từ hôi của và phải bán cho nhanh trước khi “mấy ông Việt Cộng” đến!  Dân Sài Gòn từ các quận đổ xô về đấy để mua thứ châu ngọc mà thời cuộc chưa rõ sẽ có còn dồi dào. Và với một đất nước bị tàn phá thảm hại vì chiến tranh, cộng với sự tuyên truyền của tâm lý chiến Mỹ-Cộng Hòa về sự tàn ác kinh hoàng của Cộng Sản khát máu đã thay vì làm quân đội Cộng Hòa quyết tâm tử thủ lại khiến họ run cầm cập sợ hãi quýnh quáng vất súng đầy đường khóc lóc mếu máo chạy bộ tán loạn về Miền Tây gây khủng hoảng dây chuyền khiến bao dân cày bỏ đồng ruộng lũ lượt ra khơi vượt biển. Chủ điền cùng tư thương thì hoặc nhanh chân biến mất hoặc chậm lụt phải ẩn mình ngụy trang vô sản. Chủ trương chính sách thì tất nhiên cần nhiều thời gian sàng lọc, thử nghiệm, chiêm nghiệm, phân tích, tổng hợp, mới biết tính hiệu quả và tính an dân. Còn hậu quả tất yếu nhãn tiền là canh tác lúa gạo và sản xuất hàng hóa đều đình đốn, biến việc lo toan cái ăn cho toàn dân trở thành chuyện quốc gia đại sự cho Ủy Ban Quân Quản. Cái tài của những người chiến thắng lại được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quản trị và tổ chức khâu phân phối hiệu quả nhất thế giới trên phạm vi toàn quốc (mà ngày nay khi ấm no sang cả đủ đầy, người ta chảnh chọe ngoảnh nhìn về quá khứ, đưa ngón tay út chỉ về nó mà trịch thượng kháo dè bỉu khinh khỉnh trịch thượng mắng rằng: “ấy là cái gọi là thời bao cấp đấy”), vừa quyết định gieo trồng cây lương thực ngắn ngày là bo-bo để nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước. Đó là một kỳ tích xuất phát từ bản lĩnh đối phó, trí thông minh, và lòng yêu nước thương dân của những nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Còn nhớ khi xưa, nước Tàu sau khi thống nhất trở thành đất nước rộng lớn, đông đúc dân cư đến độ thành nạn nhân mãn, phải tiến hành bao cuộc chiến tranh xâm lược để (a) nếu may ra thắng trận thì có thêm lương thảo kho tàng đem về nuôi cả tỷ cái bao tử bự chà bá, còn (b) nếu rủi thất trận thì cũng không sao vì chiến thuật “biển người” mỗi khi xung trận giáp lá cà cũng giúp ngốn bớt sổ lượng lớn dân cư khỏi mất công nuôi. Điều khiến các vua Tàu ham đánh đấm là vì nhờ cái “uy khủng khiếp” của Tàu mà ai có nhỡ dại đánh thắng Tàu thì cũng phải “biết điều” mà lúp xa lúp xúp chạy qua Tàu quỳ lạy xin lỗi vừa xưng “Thần” vừa cung kỉnh dâng tiến cống với bao trân châu bảo ngọc, ngà voi sừng tê, trinh nữ quốc sắc thiên hương, kỳ nam, thảo dược, chiêm tinh gia, thầy thuốc, thợ thuyền và nhà nho. Chỉ có một lần duy nhất (ấy là tính đến năm 2012 thôi, chứ từ 2013 về sau thì ắt sẽ có thêm một hay nhiều lần khác) là có ông họ Lý tên Kiệt chữ lót là Thường (may mà không trùng tên với thằng nhãi ranh Tàu tên Lý Liên Kiệt toàn múa võ xạo trong phim kiếm hiệp tào lao), không những “xâm lược” xua quân tràn ngập đất Tàu, tiến như chẻ tre, đến nỗi hàng trăm dặm không nghe tiếng người, chớ còn tiếng chó, san thành bình địa bao thành quách của Tàu, suýt nữa đã thu hồi giang sơn về một mối để ngày nay Việt Nam vĩ đại có bức dư đồ kéo dài từ Động Đình Hồ phương Bắc xuống tuốt Mũi Cà Mau ở cuối phương Nam. Song, đất đai Tàu quá rộng, dân Tàu lại quá đông, mà phàm hễ cứ đông dân thì dị nhân cũng lắm mà quái thú cũng nhiều, cứ như bọn Lương Sơn Bạc đa số là quái thú giết người như ngóe làm nhân bánh bao cũng đủ biết cái đói đã hoành hành nước Tàu từ lâu, lâu lắm, đến độ vua chúa cũng ăn thịt người hoặc thịt từ đùi non của quan hầu cận, ai tò mò muốn kiểm chứng thì cứ xem Đông Châu Liệt Quốc với lại Xuân Thu Oanh Liệt thì rõ mười mươi. Đến khi bị xiêu vẹo do Bát Quốc Liên Quân chiếm Bắc Kinh rồi bị Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ cương thổ biến dân Tàu xơ xác như Cái Bang, may gượng dậy được nhờ khôn khéo giương cao ngọn cờ vinh diệu của Cộng sản để núp vào đấy mà giải phóng đất nước, song thói quái thú vẫn còn nên hễ đói là Tàu lại làm càn. Lấy việc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam và việc sử dụng bọn Khờ-Me Đỏ tàn sát tận diệt dân tộc Kampuchea với mưu đồ biến Campuchia thành lãnh thổ của Tàu nhằm hoàn tất đại cuộc dở dang mà tiên tổ Tàu chưa ai làm được là chiếm đóng Việt Nam nhằm cướp gạo Cửu Long về nuôi dân Hán tộc làm bằng chứng thì rõ ràng là Tàu đã cực kỳ khủng hoảng vì nạn đói. Từ Bắc đánh xuống không xong, phía Tây chọt qua cũng bại, Tàu bèn lè lưỡi bò tuyên bố liếm hết Biển Đông, chắc sẽ đánh chiếm Việt Nam từ phía Đông, còn nếu lại đại bại y chang tiên tổ thì sẽ lè xuống chiếm Malaysia, Singapore, Thái Lan để đánh chiếm Việt Nam từ phía Nam để một công đôi ba việc: khó chiếm Việt thì sẵn đường thò tay đánh Thái vì đó cũng là vựa gạo ngon lành. Do cái đói ám ảnh triền miên suốt đời suốt kiếp, trong lúc chưa chiếm được Việt Nam, nước Tàu đã có những cơ sở sản xuất thực phẩm “siêu tốc” để đủ số lượng mà “nuôi dân”, chẳng hạn như chế tạo sữa bột (điển hình là Tập đoàn Sữa Sanlu tức Tam Lộc, tỉnh Hà Bắc) bằng cách lấy nguyên liệu melamine vốn dùng chế đồ gia dụng ắt làm trẻ em Tàu vừa hết đói vừa có bao tử cứng như chén bát sẽ ngốn ít thực phẩm hơn; chế tạo thực phẩm tăng trưởng siêu nhanh để nuôi cha mẹ của mấy em bé uống sữa Sanlu, khiến xuất hiện dưa hấu nổ tanh banh lốp bốp nhuộm đỏ cánh đồng vì lớn nhanh căng phồng quá sức như bong bóng, trà sữa trân châu có trộn cao phân tử polymer để tăng độ dai, bún tàu bằng bộp bắp trộn thuốc tẩy trắng chứa chì, rau cải chua ướp muối công nghiệp, nước tương làm từ tóc người thu được từ xác ở các bệnh viện, trứng gà giả, heo siêu nạc, v.v. Cái tài của những người lãnh đạo một đất nước khổng lồ đã được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quái gở của thời mông muội (vì muốn chứng tỏ công nghiệp luyện kim nước nhà đứng đầu thế giới mà Tàu thời Mao Trạch Đông đã bắt từng hộ dân phải nấu sắt ngoài sân để qua đó chứng minh Tàu có số lượng “nhà máy luyện kim” nhiều nhất thế giới), vừa sử dụng chiêu “siêu” (như siêu nạc, siêu dưa hấu, siêu sữa, v.v.), vừa lập lại thói quen của phường trộm cướp là…nhìn dáo dác xem ở gần đấy đâu đó có gì thì đến quơ lấy đem về (như lè lưỡi chiếm Biển Đông) để hy vọng sẽ nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước Tàu. Đó là một lối kiếm ăn kỳ quái hèn hạ xuất phát từ bản tính lưu manh xỏ lá mất dạy mỗi khi phải đối phó với nạn đói của những nhà lãnh đạo nước Tàu đội lốt Cộng sản.

Kết luận: xin vui lòng đọc ở đoạn mở đầu.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên đã được đăng trên blog.com ngày 03-12-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Bài Thơ Tản Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-6-2016

Tôi có đến ba điều may mắn mà biết chắc chắn là số người cùng có một lúc cả ba điều này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, đó là (a) được ba tôi cho đọc truyện kiếm hiệp cùng dã sử Tàu “từ nhỏ” tức lúc 6 tuổi, (b) nhận ra ngay cốt lõi vấn đề “từ nhỏ” ngay lúc đọc các truyện kiếm hiệp cùng dã sử ấy tức vào lúc 7 tuổi, và (c) quyết định quẳng các quyển kiếm hiệp và dã sử đó qua một bên lúc tuổi còn trong giai đoạn “từ nhỏ” ấy tức vào lúc 8 tuổi; nghĩa là nhờ đọc từ nhỏ nên say mê đọc ngấu nghiến khiến hết các pho, nhờ phát hiện vấn đề từ nhỏ nên khôn hơn người lớn ở chỗ quẳng tất từ nhỏ để không phí phạm thời gian cho những điều vô bổ, tai hại khôn lường cho kiến thức mai sau, đặc biệt trong sùng bái lộn bọn người Tàu, hoặc tâm trí tẩu hỏa nhập ma. Hôm nay xin sẻ chia cùng các bạn sự thật về võ thuật Tàu và y dược Tàu để các bạn chặn ngăn chuyện cho con cái luyện võ Tàu và dùng thuốc Tàu chữa bệnh vốn cực kỳ nguy hiểm lắm đó đa.

Trước hết, cần lược qua mấy cái tên gọi của những cái gọi là môn phái võ thuật của Tàu, mà từ ngàn xưa đã cho thấy tổ tiên họ đã cực kỳ…tiến bộ đối với vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhân quyền nên mới đẻ ra các môn phái dành cho giống đực như Võ Đang, giống cái như Nga My, giới ăn mày ăn xin như Cái Bang, và giới tu hành như Thiếu Lâm mà bọn nào dù nam hay nữ, ăn mày hay tu hành, cũng giết người như ngóe; ngoài ra còn thêm mấy môn phái có tên trong Tiếu Ngạo Giang Hồ như Hoa Sơn, Thái Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, và Hành Sơn, với bí kíp Tịch Tà Kiếm Phổ của Hoa Sơn dành cho giống trung tính, khiến các phái hệ võ thuật Tàu đủ loại cho mọi hạng người, thượng cám mà hạ cũng cám. Điều này chỉ nêu bật một điểm quan trọng: tổ tiên Tàu toàn thuộc loại sát cuồng, dù tu hay tục vẫn đeo gươm xách gậy nhởn nhơ, lấy đánh nhau và chém giết làm kế sinh nhai hay tranh giành ngôi võ lâm bá chủ: kẻ cùng đường mạt vận thì mang danh cướp cạn, kẻ thắng thế chiếm gom nhiều kim ngân châu báu lấy thịt người làm nhân bánh bao thì được tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc, bọn chuột nhắt thời Tống loạn thì tự phong Ngũ Thử, lũ theo đóm ăn tàn thì có danh Thất Hiệp truyền lưu, khiến rối loạn cương thường, đem điều xạo sự tung hê thành hiệp nghĩa. Do bản sắc dân tộc Tàu là man trá, cha chiếm vợ của con, hoàng tử sát hại phụ vương, anh em tranh đoạt ngôi vua, luân thường đạo lý đảo đảo điên điên, khiến xú khí nồng xông thượng giới buộc trời sinh ra một Khổng Khâu, những mong thánh nhân dẫn dắt nẽo chánh đường ngay, nào hay dân tứ xứ ngày càng thêm loạn dữ. Người biết chữ thì nhiều như sao đêm Trừ Tịch, kẻ gian ngu lại ít như cát sa mạc Tân Cương, nên thầy-trò chỉ là cái sự ghi ghi chép chép tại sách kinh, chứ thực tế nào đâu tồn tại, khiến trò thường xuyên làm phản, còn thầy kia phải lo thủ thế phòng thân, có mười chiêu chỉ dạy có bảy rưỡi tám đường, đem diếm một hai để phòng trò đảo chính. Võ thuật mà như thế thì truyền lưu theo thế kỷ, có còn chi những chưởng lực, nội công; phi thân kia là chuyện xạo thế nhân, thần công lực còn thua môn đấm bốc. Để có đủ học trò nuôi cái miệng, thầy phải chế bao thế võ quái kỳ, khiến học trò ngẩn ngẩn với ngơ ngơ, rồi thầy phán: ấy nhập ma tẩu hỏa. Thế mới biết võ Tàu là xạo sự, giỏi sao lại tan tác trước súng Tây? Bát quốc kia gồm Anh, Mỹ, Đức, Ý, Nga; cùng nước Nga, nước Pháp với Áo-Hung, đánh một trận Võ Đang cùng Thiếu Lâm còn không phi thân trốn kịp, khiến Bắc Kinh bị dày xéo bởi những người không môn phái, chẳng chưởng lực nội công gì sất.

Chuyện tương tự cũng xảy ra trong y thuật, thế nên mới có nhiều thầy toàn tự học mà nên, còn học trò chỉ để vặt sai, đứa có chí cũng phải mày mò hiểu tìm hay chôm chỉa mà thôi. Bọn ngự y thì chỉ chuyên phục dịch chuyện dục dâm dù vua là nữ hay nam, nên thần phương ắt chỉ giỏi lấy dâm dương hoắc trộn ngâm cùng bửa củi.

Nói tóm lại, từ nhỏ người viết bài này đã đặt ra nhiều câu hỏi: bọn hiệp khách hành làm nghề ngỗng chi mà cứ vào quán rượu là ném ra đỉnh vàng nén bạc, hay chỉ toàn bảo kê vũ trường tửu điếm hoặc hộ tống thương đoàn bỏ học hành lang bạc đó đây, nào phải gương học hỏi của thanh niên; võ sư chưởng môn diếm bớt bí kíp võ công, thì cách chi còn gì cho hậu thế! Còn chuyện dạy võ cho môn sinh người Việt ắt là chuyện tiếu lâm, không những vì Tàu có còn chi mà dạy, mà còn vì ác tâm tàn diệt giống nòi Việt ta, nên có dạy ắt toàn những chiêu làm nhập ma tẩu hỏa.

Nói tóm thêm lần nữa, người viết bài này sang Bắc Kinh vào thời điểm Tàu chuẩn bị tiếp nhận Hong Kong, có đến thăm một “viện Đông Y”, nơi các “thần y” trẻ măng mắt nhìn láo láo liêng liêng khách nữ, tay bắt mạch, miệng phán lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng. Qua phiên dịch mới biết các “thầy” phán cả đoàn người Việt ông nào cũng bị tim mạch, tiểu đường, mỡ máu ngập tràn, thận suy làm dương liệt; còn các chị ai cũng đều âm hư thận hỏng, khiến da kia ắt sẽ sớm xạm đen, còn xương nọ thế nào cũng loãng lỏng le. Người viết tức cười ngoe nguẩy bỏ ra ngoài, bị một “thầy” chạy ra cự nự, hỏi vì sao đến mà chỉ đứng xem không chịu khám bịnh bốc thuốc thần y, nhìn bộ tịch giống báo tình (…tình báo) từ xứ Việt, rồi gây sự lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng, khiến anh phiên dịch phải hù nói với “thần y” rằng người viết bài này là võ sư chưởng môn nhân của Việt Phước Đạo nên dáng người to cao vậm vỡ 84 ký mà thịt toàn nạc không chút mỡ mòng, không dùng chất tạo nạc, chẳng cần đến dâm dương hoắc mần chi, khiến “thần y” khiếp sợ bị 84 ký đè, e thuốc thánh của Tàu cũng bó tay đành bỏ cuộc. Tôi về nước Việt, bảo nhân viên mình rằng nước Tàu rất đẹp, rằng họ nên nhanh chân lẹ tay qua đó mà thăm, vì sau chừng từ 2 đến 4 năm, nơi ấy sẽ không còn ai đoan chính.

Nay ngẫm lại xứ mình có bao xưởng bịnh, với bảng treo “Phòng Khám Trung Y”. Bạn hãy tin vào thảo dược nước nhà, chứ Tàu họ có còn gì đâu mà tin với tưởng. Thầy của họ có sách chi mà để lại, cỏ cây nguyên liệu họ có còn lành còn tốt gì đâu, có khi lá với rễ cây cũng toàn chế từ cao su cao áp, nên đừng để tiền mất tật mang, đem của cải tặng dâng phường xạo sự.

Đôi dòng tâm huyết viết theo thể tản văn, dưới trời cao vằng vặc ánh trăng sao, để ngâm vịnh nhận chân giá trị: rằng bất cứ gì thuộc y với võ, đừng rớ vô mấy cái của Tàu, giản đơn vì chúng chỉ toàn dóc tổ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 17-6-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Ngộ Số

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-6-2016

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:

1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.

Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”

Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobiamania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên blog.com ngày 27-6-2012

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Đại Sứ Mỹ Ted Osius

Phơi Bày Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-6-2016

Tôi không muốn viết thêm về Bob Kerrey; song, một câu nói được cho là của Đại Sứ Mỹ Ted Osius phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Và Quốc Tế CSIS ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nhắc đến Bob Kerrey và việc thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam, lại thúc giục tôi viết thêm một đôi dòng ngắn sau.

Đại sứ Ted Osius được cho là đã nói rằng (a) các tranh luận sôi nổi đang diễn ra ở Việt Nam về Bob Kerrey là một tín hiệu tích cực, và rằng (b) Mỹ muốn thành lập trường đại học Fulbright Việt Nam để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu như vậy về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới.

Đối với lập luận thứ nhất của Đại sứ Ted Osius, trường hợp Bob Kerrey cứ như là đã giúp Việt Nam có cơ hội để thực thi cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt từ đó cho thấy đã có một tín hiệu tích cực tại Việt Nam đối với cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ấy. Phải chăng Việt Nam không hề có tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên phải nhờ có Bob Kerrey mới bắt đầu thực tập tranh luận sôi nổi lành mạnh ư? Bất kỳ ai không điên loạn trên thế giới này đều biết rõ mười mươi rằng tại Hoa Kỳ luôn tồn tại song hành hai chân lý là (a) người dân Mỹ có quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái; và (b) chính phủ Mỹ không bao giờ quan tâm đến các nội dung ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái của công dân Mỹ, vì cả hai chân lý này chẳng bao giờ dính dáng với nhau cả trong suốt chiều dài mấy trăm năm lập quốc của Hoa Kỳ. Điều này có nghĩa là quý vị Việt Nam cứ việc tranh luận lành mạnh sôi nổi về Bob Kerrey vì đó là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, còn Bob Kerrey cứ là lãnh đạo Đại học Fulbright Việt Nam vì cả hai việc này chẳng bao giờ có gì dính dáng với nhau cả.

Tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ở Mỹ không bao giờ dẫn đến bất kỳ một thay đổi nào về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Hoa Kỳ. Các cuộc xuống đường rầm rộ khắp nước Mỹ đã không làm các chính phủ Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam; đã vậy Chính phủ Mỹ còn gây ra cuộc thảm sát ở Đại học Kent. Chỉ có “Bắc Việt” và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà Mỹ gọi mĩa là “Charlie” còn Việt Nam Cộng Hòa gọi tắt là “Việt Cộng” mới buộc được Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và sau đó là tháo chạy khỏi Việt Nam.

Đối với nội dung thứ hai thì e là Đại sứ Ted Osius đã lỡ lời.

Trường đại học là nơi có một số những ngành đào tạo để cho ra lò những chuyên viên hay chuyên gia chuyên ngành. Tranh luận luôn là hình thức thực tập chốn học thuật hàn lâm. Các sinh viên vật lý tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề vật lý sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư vật lý, còn các nhà vật lý tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề vật lý cao cấp. Các sinh viên luật tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề luật pháp cụ thể sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư luật, còn các nhà nghiên cứu luật pháp tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề luật pháp cao cấp. Trường Đại học Fulbright Việt Nam hóa ra được thành lập không để đào tạo những chuyên ngành hàn lâm học thuật cụ thể nào cả để có những sinh viên tranh luận “sôi nổi và lành mạnh” về những chuyên ngành ấy, mà chỉ để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu Bob Kerey về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới. Cái quỷ quái gì ở đây vậy?

Phải chăng Giáo sư Peter Kuznick khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Edu Montesanto đã nói đúng khi cho rằng các trường đại học do Mỹ xây dựng trên toàn Châu Mỹ La Tinh đã “tích cực tạo nên các lãnh đạo và thủ lĩnh của các biệt đội tử thần” để lật đổ các nhà lãnh đạo dân chủ tiến bộ các quốc gia Nam Mỹ nào không đi theo quỹ đạo của Hoa Kỳ?

Việc người Việt đoan chính tranh luận về Bob Kerrey là “lành mạnh” vì chỉ để thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, chứ không để dẫn đến việc Bob Kerrey phải bị bải miễn.

Còn việc những người Việt ăn phải bã Mỹ thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Việt Nam, thì Mỹ mong muốn nhất thiết phải dẫn đến việc thay đổi thể chế chính trị, đường lối cai trị, thậm chí cả hiến pháp của Việt Nam, như Mỹ đã ra tay tại Mỹ La Tinh cũng như các nơi khác trên thế giới hay sao?

Bob Kerrey đương nhiên cứ việc làm lãnh đạo tối cao của trường Đại học Fulbright Việt Nam vì đó chỉ là một trường tư thục mà kẻ có nhiều tiền thì đương nhiên làm chủ. Song, chừng nào Chính Phủ Việt Nam chưa chính thức rút lại lời cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh thì Bob Kerrey đương nhiên không được phép bước chân vào Việt Nam.

Thật là một sai lầm nghiêm trọng nếu phụ huynh cho con em mình vào học trường Đại học Fulbright Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent

Tội Ác Của Bob Kerrey

Peter Kuznick Nói Về Trang  Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Tội Ác Của Bob Kerrey

Tôi Và Fulbright

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-6-2016

Screen Shot 06-03-16 at 06.51 PM

1) Google Tiên Lãng:

Trong một bài viết mới đây, tôi có viết rằng tôi chả thèm đọc bài của mấy cái blog vớ vẩn chống Việt (tức chống Cộng, chống Chính phủ Việt Nam, chống Đảng Cộng Sản Việt Nam, chống thể chế chính trị Việt Nam, và cổ súy cho mấy thứ bị Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã gián tiếp xem là thứ vớ vẩn vô hiệu vô dụng chẳng hạn như “nhân quyền”).

Điều này cũng có nghĩa là tôi chỉ đọc – và thậm chí chăm chỉ đọc – các bài viết của các blog hay web tích cực như Sách Hiếm, Google Tiên Lãng, Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa, v.v., và v.v. Đọc vì..hợp “gu”, đọc để biết các vị này đang “mắng” ai hay việc gì, đọc vì để “né” hầu không viết trùng lặp nội dung, và đọc vì “phục.”  Sao lại không “phục” các vị như Thầy Trần Chung Ngọc và “Cô” Lê Hương Lan cơ chứ?

Cũng nhờ đọc Google Tiên Lãng, tôi biết đến vụ về Bob Kerrey. Và bài viết này không vì “không né” mà vì “hợp gu” nên cách tiếp cận của tôi đối với vụ Bob Kerrey là để làm rõ hơn những góc cạnh khác về Fulbright và về Bob Kerrey. Và do ở Việt Nam cụm từ “nhà sử học” không dành riêng cho người có bằng cấp cao về “Sử”, nên tôi với tư cách một “nhà sử học” thấy mình có thể nói về “Sử” như từ trước đến nay qua bài viết này, đặc biệt nhằm hỗ trợ “nhà sử học” nào chưa dám học tiếng Anh nhưng dám bạo mồm xem tội ác của quân Mỹ không đáng là một phần nên được ghi vào sử sách.

2) Tôi Và Fulbright

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, trong số 27 sinh viên cũ và nhân viên cũ tìm đến tôi để xin tôi giúp một thư tiến cử nộp vào hồ sơ xin học bổng Fulbright, tôi đã nhận giúp đúng 20 người, và cả 20 người đều thành công, được sang Mỹ du học, đã trở về nước, và gần hai thập kỷ nay chưa ai trong số họ phụ lòng tôi khi tất cả đều đi lên với sự nghiệp riêng và không bất kỳ ai chống đối chế độ hay phải đứng trước vành móng ngựa vì trở thành tội phạm.

Lý do để 27 người đó đã xin tôi giúp vì hồ sơ xin học bổng Fulbright cực kỳ chi tiết, đòi hỏi phải được một giáo sư trực tiếp giảng dạy viết lời phê và thư tiến cử, nhưng tất cả các giáo sư phụ trách bộ môn của họ đều (a) không ai viết được tiếng Anh, (b) có thể có vị biết tiếng Anh nhưng không thể nào viết đánh giá sâu sắc và thư tiến cử thuyết phục bằng tiếng Anh, (c) không ai chịu viết thư đánh giá sâu sắc bằng tiếng Việt dù sinh viên lạy lục cầu xin rằng sẽ đem các thư ấy đi nhờ dịch sang tiếng Anh rồi quay lại trình Thầy/Cô ký, và (d) là những vị khét tiếng ở trường đại học ấy do chuyên vòi vĩnh gợi ý sinh viên nên “biết điều” để được đánh giá tốt trong các luận văn tốt nghiệp nên sinh viên e sợ phải tốn kém khủng nếu như hồ sơ học bổng lại là đẳng cấp cao sang cỡ Fulbright cho học vị thạc sĩ.

Tôi đã giúp 20 người vì tôi biết rõ về tư cách của họ. Và tôi viết nhận xét cùng thư tiến cử rồi cho vào phong bì niêm kín (tùy trường hợp có yêu cầu như thế của hồ sơ), trao cho mỗi sinh viên để họ kèm vào đơn xin học bổng. Phong thư dày, vì tôi chưa bao giờ viết ngắn – nhất là viết bằng tiếng Anh. Nội dung tôi viết rất trung thực ngay cả về bản thân mình. Tôi có viết rằng tôi giảng dạy đại học sinh viên ấy nhưng tôi chưa có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, rằng tôi dạy đại học cho sinh viên ấy nhưng không dạy bộ môn mà sinh viên ấy đang xin Fulbright cấp học bổng, hoặc tôi viết rằng người ấy chỉ là học viên lớp tối của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nhưng tôi biết rõ tư cách người học viên ấy cùng quá trình làm việc của người ấy tại các công ty khác, hoặc tôi viết rằng người ấy đã là nhân viên của tôi tại công ty nào, hoặc tôi viết đó là đồng nghiệp của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nào nhưng là vai vế đàn em của tôi, v.v. Tôi cũng trả lời câu hỏi theo tôi thì người ấy khi trở về Việt Nam với thành tích học tập bên Mỹ về môn ấy môn ấy sẽ đóng góp được những gì cụ thể cho Việt Nam theo sự kỳ vọng của tôi. Tất cả tùy vào sự thật mỗi người ấy là ai. Và dù là phong bì niêm kín hay đánh máy ngay trên hồ sơ thì tôi biết chắc chắc rằng Fulbright phải công nhận – từ tàng thư của họ – một điều là không bất kỳ ai trên thế giới này có thể viết các nhận xét chi tiết với chất lượng ý tứ, ngôn ngữ Anh, và độ dài tương tự như sớ Táo Quân. Đó là lý do dù không đáp ứng đúng yêu cầu “giáo sư thực thụ đảm trách bộ môn mà ứng viên xin Fulbright cấp học bổng theo học thạc sĩ hay tiến sĩ tại Mỹ”, thư đánh giá và tiến cử của “thầy giáo đại học môn Anh Văn có bằng cấp cử nhân hạng trung bình màu xanh lè của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh ” Hoàng Hữu Phước lại khiến Fulbright buộc phải xé rào chấp nhận cấp học bổng cho các anh tài nước Việt.

Tôi đã làm “công tác tư tưởng” đối với các em mà tôi đã viết thư tiến cử rằng (a) học bổng Fulbright là cơ hội quý hơn vàng vì Fulbright chỉ cấp học bổng toàn phần cực kỳ hậu hỉ cho việc theo học chỉ tại những đại học Mỹ nào lừng danh thế giới, (b) người ta cấp học bổng chỉ nhằm tạo nên những người có khả năng khi trở về Việt Nam sẽ trở thành những người có lợi cho Hoa Kỳ, (c) các em được tôi giúp vì tôi kính trọng tư cách của các em cũng như kỳ vọng vào các em đối với những gì các em có thể phục vụ đất nước tốt hơn hay tốt nhất tức những gì bản thân tôi đã không thể thực hiện được do đã không có cơ hội học lên cao như các em, (d) các em phải biết tôi là người như thế nào đối với đất nước này nên đừng bao giờ trở thành thứ ăn bã “dân chủ” hay “nhân quyền” rồi trở thành phạm pháp hay phản quốc, và (e) đừng bao giờ nuôi ý định ở lại Mỹ vì Fulbright cần tất cả trở về Việt Nam để “giúp” Việt Nam thân Mỹ hơn nên do đó trốn ở lại Mỹ sẽ bị chính Fulbright trừng trị.

Đã có những thạc sĩ Việt trở về từ Mỹ nhờ học bổng Fulbright và trở thành những “tù nhân lương tâm”, cứ như thể Fulbright có cấp văn bằng thạc sĩ có giá trị toàn cầu ắt mang tên MCP tức thạc sĩ môn học…“tù nhân lương tâm” vậy, cũng như nếu có “thạc sĩ Luật” nào đó từ học bổng Fulbright về Việt Nam ắt người ta sẽ thấy vị ấy không soạn được dự án Luật nào ngay cả khi có trở thành nghị sĩ Quốc Hội mà trở thành nhà quay phim chuyên rình bấm máy mỗi khi thấy có “xuống đường” ắt để tải lên Facebook minh họa cho lời y đòi “dân chủ” trong “bày tỏ lòng yêu nước”. Và do không thể kỳ vọng gì nơi các luật sư trở về từ học bổng Fulbright, tôi đành dịch bài viết dưới đây của Bill Vann đã đăng cách nay gần 15 năm để bạn đọc biết Bill Vann ngay từ thủa ấy đã viết gì về Bob Kerrey, cũng như từ đó biết luật sư Mỹ John DeCamp đang làm gì khi sang Việt Nam tìm đến Thạnh Phong thu thập chứng cứ để lôi Bob Kerrey ra chịu tội cho cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, một việc mà chỉ có luật sư Mỹ học tại Mỹ như John DeCamp mới làm cho nạn nhân các cuộc thảm sát của Hoa Kỳ, đơn giản vì chỉ có các luật sư Mỹ như John DeCamp mới không bị “tẩu hỏa nhập ma” do biết cái nào là cao lương mỹ vị và cái nào là “bã”.

3) Bài Viết Chống Bob Kerrey Của Bill Vann (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước)

Việt Nam Khép Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Kerrey Vào Tội Ác Chiến Tranh

Bill Vann
06-6-2002

Chính phủ Việt Nam đã cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự khép tội này để đáp lại cuốn tự truyện phát hành gần đây mang tựa đề Thủa Tôi Là Thanh Niên, trong đó Kerrey trốn tránh trách nhiệm của mình đối với một vụ thảm sát được thực hiện bởi một đơn vị Hải quân SEAL (biệt kích Thủy Quân Không-Lục Chiến) mà y đã chỉ huy cách nay 33 năm.

“Chúng tôi hiểu sâu sắc và chia sẻ những nỗi đau, nỗi mất mát vô bờ bến mà các gia đình nạn nhân vô tội phải chịu đựng trong vụ thảm sát Thạnh Phong, những người đã bị thẳng tay hạ sát bởi đơn vị Thủy quân của Bob Kerrey,” Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết. “Dù cho Thượng nghị sĩ Kerrey có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật. Chính Kerrey tự thừa nhận nỗi xấu hổ của mình về tội ác mà y đã gây ra”, bà Thanh nhấn mạnh.

Theo một bài báo trên Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao tuyên bố rằng Kerrey và “những ai đã phạm tội ác chiến tranh” nên có những bước thực hiện thiết thực để “giúp hàn gắn những vết thương họ đã gây ra.”

Bài báo lên án Kerrey, người hiện là Chủ Tịch của Đại học New School danh tiếng ở thành phố New York, đã tạo ra các mâu thuẫn trong những tuyên bố trong quyển sách y viết năm ngoái thừa nhận vai trò của y trong vụ thảm sát.

Trong một phần cực kỳ ngắn gọn nêu rằng Kerrey có nói sự việc ấy đã làm thay đổi cuộc đời  mình, Kerrey chỉ nêu một cách mơ hồ về những hành động của chính y vào cái đêm 25-2-1969 ấy khi y chỉ huy đội SEAL Hải Quân tiến vào một thôn ấp nhỏ ở Đồng Bằng sông Cửu Long tại Miền Nam. Y viết: “Người chỉ điểm của tôi dẫn đường. Anh ta tiến đến một ngôi nhà mà anh ta bảo mình tin rằng quân giặc đang ở đấy. Chúng tôi đã được huấn luyện rằng trong những tình huống như thế sẽ là quá mạo hiểm để tiếp tục hành quân vì mấy người này sẽ cảnh báo cho quân trong làng trừ phi chúng ta hoặc giết họ hoặc hủy bỏ nhiệm vụ. Tôi đã không phải ra lệnh bắt đầu giết chóc, song tôi lẽ ra đã có thể ngăn chặn và đã không ngăn chặn.”

Liệu y có ra lệnh hay không? Liệu y có tham gia vào việc giết chóc, hay chỉ là một người ngoài cuộc vô tội? Độc giả bị y bỏ rơi trong bóng tối.

Câu chuyện của Kerrey tránh né sự mô tả chi tiết của sự bắt đầu đẫm máu tấn công vào Thạnh Phong như đã đăng trên tạp chí New York Times năm ngoái. Một chiến binh Hải quân phục vụ dưới quyền Kerrey báo cáo rằng đã có năm người trong căn nhà ấy. Một bô lão chống cự và, theo lời kể lại, Kerrey đã quỳ đè lên lưng cụ để một chiến binh khác cắt cổ họng. Bốn người khác, gồm một phụ nữ và ba trẻ em, bị đưa ra ngoài và sát hại từng người một.

Tiếp tục câu chuyện trong cuốn sách mới của mình, Kerrey nói rằng y và quân của mình tiến vào ngôi làng nơi họ thấy chỉ có phụ nữ và trẻ em, thức dậy bởi sự ồn ào nên ra đứng trước cửa. Có người đã bắn một phát súng, Kerry nói, và toán SEAL đáp trả bằng “một loạt súng chát chúa.”

“Tôi thấy phụ nữ và trẻ em trước mặt chúng tôi bị đạn bắn trúng và xé toạt ra nhiều  mảnh. Tôi nghe thấy tiếng kêu thét của họ và những giọng nói khác trong màn đêm khi chúng tôi rút lui về hướng kênh đào.”

Đây là đoạn mô tả duy nhất về vai trò của Kerrey trong cái đêm mà y cùng quân lính do y chỉ huy đã tàn sát 21 phụ nữ, trẻ em và bô lão.

Một trong những quân lính tham gia cuộc tấn công là Gerhard Klann đã kể lại chi tiết hơn với tờ Times về vụ thảm sát. Ông nhấn mạnh rằng không phát súng nào bắn vào các biệt kích SEAL và chẳng có “màn đấu súng” nào cả. Thay vào đó, quân Mỹ lùa các thường dân vào giữa làng và tàn sát họ trực diện. Những người Việt Nam sống sót từ đó đến nay đã ra mặt kể lại câu chuyện giống như nội dung của Klann hơn là phiên bản của Kerrey về cuộc tấn công ấy.

Kerrey hiện đang lưu diễn trong nước nhằm quảng bá cho quyển tự truyện của y, xuất hiện tại các hiệu sách và tổ chức các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình. Y đã né tránh các thắc mắc của báo chí về tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, nhưng lại giận dữ đáp lại một câu hỏi được nêu ra tại một buổi xuất hiện ở hiệu sách tại Thủ đô Washington.

“Tôi đã nói rõ rồi, và bây giờ tôi nói rõ, rằng cả hai phía đều đã gây ra rất nhiều thiệt hại trong chiến tranh Việt Nam,” y nói. “Bạn phải vượt qua điều này. Tôi tin chắc chắn rằng đa số người dân ở Việt Nam muốn tiếp tục cuộc sống của họ.”

Tuyên bố này phù hợp với những nỗ lực phối hợp của các phương tiện truyền thông và chính trị gia cùng phe với Kerrey để dập tắt những tranh cãi về sự tham gia của y trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Tờ New York Times thậm chí còn không nói gì đến tuyên bố của Việt Nam tố cáo Kerrey là tội phạm chiến tranh.

Trong khi lúc đầu làm sống lại những cáo buộc về những hành động tàn bạo, cuốn sách của Kerrey dường như được phát hành như một bài tập kiểm soát thiệt hại, nhằm làm chìm xuồng toàn bộ vấn đề. Trong cuốn hồi ký, Kerrey nói về chính mình như là một nạn nhân chính của sự kiện Thạnh Phong, chứ không phải 21 nạn nhân vụ thảm sát và gia đình của họ.

Việc Kerrey nói rằng “cả hai bên đã gây ra rất nhiều thiệt hại” và rằng người Việt Nam nên “vượt qua điều đó” chẳng khác nào một sự tởm lợm viện dẫn tính chất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và vai trò của mình trong đó. Hơn ba triệu người Việt Nam đã bị sát hại, hầu hết trong số họ là nạn nhân của Mỹ trong các vụ rải bom thảm, bom napalm, và kiểu thảm sát như được thực hiện bởi Kerrey ở Thạnh Phong. Vụ khét tiếng nhất trong số này là do trung úy William Calley thực hiện ở Mỹ Lại, nơi 567 người già, phụ nữ và trẻ em bị sát hại, hầu hết bị bắn chết chung trong một đường mương.

Các cuộc tấn công mà Kerrey tiến hành trong thời gian ngắn y đóng quân ở vùng châu thổ sông Cửu Long là một phần của một chương trình ám sát bí mật của CIA mang tên Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm tìm và diệt những lãnh đạo chính trị của cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam ở miền Nam. Chiến Dịch Phượng Hoàng gây ra cái chết của hàng chục ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Mục tiêu trong cuộc tấn công vào Thạnh Phong là nhằm vào vị trưởng thôn, người được biết là có thiện cảm với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia chứ không phải là chế độ Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.

Còn về việc “vượt qua việc đó,” hàng triệu người Việt Nam vẫn gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Chất độc da cam, các loại thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mỹ tiêu diệt rừng cây hầu khiến các chiến binh giải phóng không còn nơi ẩn nấp, đã làm khu vực rộng lớn của đất nước bị ô nhiểm. Là hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học này, chất dioxin độc hại ngấm vào chuỗi thức ăn khiến hàng triệu người bị vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, bao gồm cả nửa triệu trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Washington đã bác bỏ tuyên bố bồi thường, khẳng định rằng không có đủ bằng chứng và, giống như Kerrey, bảo người Việt hãy “vượt qua việc ấy đi.”

Động cơ Kerrey trong đánh bóng vai trò của chính y trong chiến tranh và làm sai lệch bản chất phạm tội của sự can thiệp của Mỹ là hiển nhiên. Là một chính trị gia sáng giá của đảng Dân Chủ, y đã cố giành sự đề cử của đảng Dân Chủ trước đây, và hiện thường được nói đến như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng cho năm 2004. Y vẫn chưa ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng.

Trên một mức độ rộng lớn thì nhờ có chiến tranh Việt Nam mà Kerrey thăng tiến sự nghiệp chính trị của y, nhận được sự ủng hộ như một vị anh hùng chiến tranh được thưởng huân chương – y đã được trao Huân Chương Sao Đồng cho chiến công láo khoét về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong được tung hê rằng những kẻ bị giết toàn là “Việt Cộng” – và Huy Chương Danh Dự Của Quốc Hội cho trận đột kích sau đó khi một quả lựu đạn làm y mất phần dưới gối của một bên chân. Trong khi các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam phản đối chiến tranh đã ném vất bỏ huy chương qua hàng rào Nhà Trắng để phản đối sự xâm lăng của Mỹ, thì Kerrey sau khi giải ngũ khỏi Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Washington nhận các giải thưởng từ Richard Nixon.

Kerrey giờ đây tuyên bố đã từ lâu luôn bị ám ảnh bởi cuộc chạm trán đẫm máu ở Thạnh Phong, nhưng y cứ ngậm tăm cho tới khi năm ngoái xuất hiện các sự tiết lộ về vai trò của y. Trong các chiến dịch chính trị thành công của mình cho ghế Thống Đốc Bang Nebraska và một ghế trong Thượng Viện, cũng như sự thất bại trong cuộc chạy đua giành sự đề cử của đảng Dân Chủ năm 1992, y đã dựa hẳn vào một quá trình tham chiến đã miêu tả xằng bậy gọi một hành động tàn bạo chống lại thường dân không vũ trang là một hành động quả cảm anh hùng.

John DeCamp, một đồng nghiệp cũng là chính trị gia Bang Nebraska và cũng là một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, cựu thượng nghị sĩ bang, đã đến thăm Thạnh Phong hồi đầu năm nay, gặp gỡ các gia đình của những người thiệt mạng trong vụ thảm sát. Ông đã kêu gọi Bộ Quốc Phòng mở một cuộc điều tra đối với cuộc tấn công, và đe dọa sẽ thay mặt những người sống sót để khởi kiện đòi bồi thường. Ông nói rằng Kerrey đã từ chối các đề nghị giúp lập nên một quỹ hỗ trợ những người sống sót.

Kerrey đã bác bỏ và gọi các yêu cầu của DeCamp là “vô lý và nực cười.”

Tại sao như vậy? Thành viên của quân đội Serbia đang phải đối mặt với các phiên xử tội ác chiến tranh tại The Hague vì đã thực hiện tội ác không ghê gớm như Kerrey đã làm ở Việt Nam. Đối với vấn đề đó, binh sĩ quèn và vệ binh tuy chỉ “làm theo mệnh lệnh” của quân SS Đức Quốc Xã vẫn phải đối mặt với lệnh trục xuất khỏi nước Mỹ và bị xét xử dù đã 60 năm sau khi gây ra tội ác.

Vấn đề thực sự là vì sao dù cho có sự phơi bày sự dính líu của Kerrey trong vụ thảm sát máu lạnh cùng hành vi che dấu sau đó của y, lại có quá ít yêu cầu mở cuộc điều tra. Tại sao vẫn chưa có một phản đối kịch liệt đòi bãi nhiệm Kerrey khỏi chức vụ chủ tịch New School, một đại học nổi tiếng trong quá khứ về truyền thống giáo dục dân chủ và tiến bộ của nó?

Sau những tiết lộ đầu tiên, hội đồng quản trị của New School mới công bố “hỗ trợ vô điều kiện” họ dành cho Kerrey mà không cần có cuộc điều tra độc lập nào dù nhỏ nhất. Họ vẫn lặng thinh đối với các cáo buộc gần đây của Chính phủ Việt Nam cũng như đối với việc làm giả tài liệu lịch sử trong cuốn sách của Kerrey.

Việc nín thinh của các đồng sự quanh Kerrey bởi phe nhóm chính trị bao gồm những kẻ từng tự gọi mình là những người tự do và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á đã có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các nỗ lực miêu tả một tội phạm chiến tranh, xem y là “nạn nhân” chẳng thua gì những người mà y đã giết chết, không phải là kết quả của sự cảm thông dành cho một cá nhân.

Thay vào đó, giai cấp cầm quyền đã chộp lấy vụ việc của Kerrey làm cơ hội để giáng một đòn mạnh vào di sản của sự phản đối rộng khắp chống lại sự xâm lược bằng quân sự của Mỹ, với số thương vong khủng khiếp của nó nhằm vào thường dân vô tội, cũng như sự hy sinh tàn bạo những chiến binh Mỹ đã được biết đến dưới tên gọi “hội chứng Việt Nam”.

Hơn thế nữa, trong khi Kerrey bị cáo buộc là một cá nhân phạm tội ác chiến tranh, thì vẫn còn có cả phe nhóm chính trị và quân đội – từ Henry Kissinger cho đến Tướng William Westmoreland cùng cựu giám đốc CIA Richard Helms – những kẻ đã trực tiếp ra lịnh thực hiện những tội ác lớn chống lại nhân loại mà chưa bao giờ được đem ra xét xử.

Với sự bùng nổ của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ sau vụ 11 tháng 9, vụ Kerrey mang lại ý nghĩa chính trị thậm chí còn to lớn hơn. Lập luận bao che tội ác mà y đã gây ra – cùng vô số những hành động tàn bạo khác đã gây ra trong hơn ba thập kỷ trước – và cố gắng để hợp pháp hóa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sẽ giúp mở đường cho những cuộc tàn sát mới và khủng khiếp hơn của quân đội Mỹ.

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam buộc Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” và nỗ lực của y trong cuốn tự truyện của mình để một lần nữa bao che cho vai diễn của mình, phải dẫn đến lời kêu gọi hành động của những sinh viên và giảng viên tại New School, những người coi trọng sự thật lịch sử và phản đối chủ nghĩa quân phiệt .

Yêu cầu bãi nhiệm Kerrey khỏi vị trí Chủ tịch của New School là một biện pháp cần thiết để sạch hóa xã hội: cho phép một tên tội phạm chiến tranh làm người đứng đầu một tổ chức hàn lâm lớn chỉ làm hạ phẩm giá của trường đại học và làm ô uế bầu không khí trí tuệ nói chung.

Chiến dịch đòi sa thải Kerrey, tuy nhiên, phải được dẫn dắt không chỉ ở những hành động của một cá nhân. Nó phải được sử dụng như một phương tiện nhằm giáo dục các thế hệ mới của sinh viên, người lao động, và giới trẻ đối với những bài học thật sự về Chiến Tranh Việt Nam, chuẩn bị cho họ chống lại các tội ác chiến tranh mới tại Afghanistan, Colombia, Iraq, và những nước khác.

*********

4) Kết Luận Về Bob Kerrey

Trong bài viết tựa đề Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức đăng trên Emotino, tôi có đưa hình ảnh sau về một cuộc tàn sát khác ở Bến Tre, và hình ảnh cũng do một phóng viên Mỹ thực hiện để tố cáo tội ác của quân đội Hoa Kỳ:

……..Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Screen Shot 06-03-16 at 07.35 PM

…..

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong tỉnh Bến Tre. Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh.

Khi bị lôi ra ánh sáng, Bob Kerrey qua quyển tự truyện của y và các trả lời phỏng vấn đã phạm thêm năm trọng tội gồm

(a) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã nhục mạ ý nghĩa cao quý của các huân chương quốc gia và huy chương quốc hội vốn chỉ dành cho các hành động anh hùng dũng cảm vị quốc vong thân. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(b) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã hợp pháp hóa các hành vi gây tội ác chống loài người, khiến giới trẻ Hoa Kỳ nhập ngũ sẽ lại vướng vào các trọng tội tương tự, có thể đưa Hoa Kỳ vào tình thế nghiêm trọng trước phản ứng của phần còn lại của nhân loại. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(c) Đối với Việt Nam: y tuyên bố rằng cả hai bên – tức Mỹ và “Việt Cộng” – đều đã gây ra những thiệt hại to lớn như nhau, với ngụ ý cả hai đều gây ra những cuộc thảm sát. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(d) Đối với gia đình nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám ngụ ý rằng y mới là nạn nhân của vụ thảm sát Thạnh Phong chứ không phải 21 người Việt bị y sát hại cũng như gia đình của 21 người này. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(e) Đối với gia đình các nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám cười cợt gọi đề xuất của luật sư DeCamp đòi phải bồi thường cho các gia đình của 21 nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong là “vô lý và buồn cười”. Đây là sự ngạo mạn, vô phương cứu chữa, xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

Với tư cách người đã được Fulbright kính trọng – qua việc chấp nhận cấp học bổng cho những người Việt Nam nào có thư đánh giá và tiến cử của tôi, giáo viên Cử Nhân Anh Văn – tôi có lời khuyên ngắn gọn đến Fulbright rằng với thực tế nhiều người có học bổng Fulbright trở thành những “tù nhân lương tâm” do chống chính phủ Việt Nam sau khi “vinh quy bái tổ”, Fulbright nên khôn khéo dấu cái đuôi của mình bằng cách hãy thay thế Bob Kerrey bằng người khác. Trường hợp Đại học Fulbright cần phải có “sớ Táo Quân” tiếng Anh của tôi mới chịu thay thế Bob Kerrey thì cứ lục kiếm tàng thư của chính Fulbright sẽ biết phải gởi yêu cầu ấy đến đâu.

Cựu chiến binh nào của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng có thể trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa và làm tất cả những gì mà sự ân hận có thể được diễn đạt bằng lý trí và với khả năng nhận thức sai trái của bản thân trong quá khứ thể hiện bằng sự thực tâm tưởng niệm các nạn nhân, bằng những lời nói đậm ấm tình người, chứ không nhất thiết phải bằng những đóng góp tài chính cụ thể. Vì người Việt rộng lượng và độ lượng, giàu tình cảm và dồi dào sự tha thứ như đã luôn thể hiện từ xưa đến nay.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam do (a) đã bị Chính Phủ Việt Nam cáo buộc tội ác chiến tranh; (b) xuyên tạc, xúc xiểm, xúc phạm Việt Nam; và (c) xuyên tạc, xúc phạm, xúc xiểm các nạn nhân của vụ thảm sát ở Thạnh Phong.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam vì y chỉ là một tên man rợ không đáng được dành cho sự tiếp đón chỉ dành cho con người.

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế,  Nhà Lập Pháp – Nghị Sĩ Đương Nhiệm Của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Nguồn tham khảo & đọc thêm:

Nguồn bài viết tiếng Anh của Bill Vann trên trang web của tổ chức WSWS của Anh Quốc: https://www.wsws.org/en/articles/2002/06/kerr-j06.html

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực lên không gian mạng vậy.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, còn là: nếu thực sự người ta có linh hồn thì các cô bé cậu bé ấy ắt sẽ ngạc nhiên không thể hiểu vì sao trong lúc các em vẫn yêu đời, vẫn làm thơ ngợi ca cuộc sống, vẫn cố kiếm màu để vẽ các cảnh vật xung quanh, thì các bác các chú các cô các dì các mợ ở Việt Nam ăn ngon, mặc đẹp, đi xe tốt, giải trí đủ đầy, tiện nghi thừa mứa, lướt web kết bạn bốn phương tám hướng, học hành tới nơi tới chốn, có người thân ở gần, có đồng bào ở quanh, được dân chủ tự do mà vẫn không nhìn thấy bất kỳ cái gì hay cái gì đẹp ở quanh mình.

Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 001Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 002

D) Gương Báu Ngàn Xưa

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cùng các em bé tận dụng những ngày trước khi bị ném vào lò hơi ngạt để tập tành làm nhà văn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ và những người như cô giáo đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm của các danh nhân thuộc gương báu ngàn xưa của lịch sử Việt Nam.

Đặng Dung trong hoàn cảnh cha của ông là Đặng Tất bị vua (tức…“chế độ” quân chủ) xử trảm, nhưng ông vẫn ra giúp vua cứu nước, và khi cất tiếng ngâm bi tráng “Thù trả chưa xong, đầu đã bạc; Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài”, Ông đã nói “thù” với nghĩa “thù” quân xâm lược, với nỗi lòng khắc khoải muộn phiền tuổi tác chất chồng mà vẫn chưa giúp vua hoàn tất đại cuộc bảo vệ quê hương. Đó là nghĩa khí nghĩa dũng nghĩa nhân của bậc hiền nhân quân tử Việt Nam. Đó là cung cách sống của tất cả những người Việt Nam có giáo dục.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những gương báu của ngàn xưa của các danh nhân lịch sử Việt Nam mà Đặng Dung làm biểu tượng là:  không phút giây nào đặt danh dự nước nhà thấp hơn sự ngẫu hứng cá nhân, thấp hơn quyền lợi cá nhân, thấp hơn định kiến cá nhân, và thấp hơn chủ quan cá nhân.

Alexander Solzhenitsyn đoạt giải Nobel Văn Chương vì tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nói lên sự thật mà bản thân ông thực sự trải nghiệm, được lãnh đạo Liên Xô công nhận giá trị, được đất nước cộng sản của ông nhìn nhận giá trị, từ đó lan ra thế giới. Ông không là kẻ hèn hạ viết vớ va vớ vẩn lén lút gởi ra nước ngoài cho những kẻ chống lại đất nước của ông.

Cô giáo dạy văn có bằng cấp thạc sĩ – tuy không rõ bằng thạc sĩ về cái gì – ắt không khó khăn để hiểu bức thông điệp ngắn gọn gởi đến cô qua bài viết không ngắn gọn ở trên, đó là sự kỳ vọng rằng trình độ của cô sẽ giúp cô hiểu vấn đề, thi thố tài năng để cho ra đời những áng văn thơ ngợi ca cuộc đời, làm bật ra được những tốt đẹp mà người đời chưa nhận ra được, để làm cho học trò của cô yêu môn Văn, giỏi môn Văn nhờ thán phục thực tài của cô, giúp môn Văn trở thành môn đỉnh của các anh tài nước Việt, củng cố cho học thuyết của tôi rằng muốn giỏi ngoại ngữ trước hết phải giỏi Văn tiếng Việt, và chẳng thể yêu nước nếu không giỏi Văn tiếng Việt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giới thiệu vài bài đọc thêm:

Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Tuyệt Thực 02-7-2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phụng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa – Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt 01-9-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập 06-4-2015

22-8-1972

Cô Gái Mỹ Bảo Vệ Việt Nam

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Mỹ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-5-2016

Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước về lời phát biểu tiếng Anh trên Đài Phát Thanh Hà Nội ngày 22-8-1972:

*********

Tôi là Jane Fonda.

Trong chuyến thăm hai tuần của tôi đến nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tôi đã có cơ hội đến thăm rất nhiều nơi và trò chuyện với rất nhiều người từ tất cả các tầng lớp xã hội: công nhân, nông dân, sinh viên, nghệ sĩ và vũ công, nhà sử học, nhà báo, nữ diễn viên điện ảnh, chiến sĩ, nữ dân quân, thành viên của hội phụ nữ, nhà văn.

Tôi đến thăm Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Tầm Xuân, nơi nuôi tằm và kéo tơ. Tôi đã đến thăm một nhà máy dệt, một nhà trẻ ở Hà Nội. Ngôi Văn Miếu tuyệt đẹp là nơi tôi xem những điệu múa truyền thống và nghe các bài hát kháng chiến. Tôi cũng xem một vỡ ba lê không thể nào quên về các du kích quân huấn luyện ong ở Miền Nam tấn công quân địch. Những con ong do các nữ vũ công thể hiện và họ đã múa hay.

Trong bóng râm của Văn Miếu, tôi thấy diễn viên nam và nữ của Việt tập dượt màn thứ nhì của vỡ thoại kịch Các Con Trai Của Tôi của  Arthur Miller, làm tôi rất cảm động – trước sự thực rằng nơi đây các nghệ sĩ đang dịch thuật và diễn các vỡ kịch của Mỹ trong lúc đất nước của họ đang bị các nhà đế quốc Mỹ dội bom.

Tôi yêu mến ký ức về những cô gái dân quân mặt đỏ hây hây trên nóc nhà máy của họ, động viên các chị em của mình khi cất tiếng ngợi ca bầu trời trong xanh của Việt Nam – những phụ nữ dịu dàng và thơ mộng, có giọng hát cũng  rất đẹp, nhưng khi máy bay Mỹ dội bom lên thành phố các cô trở thành những chiến binh tinh nhuệ biết bao.

Tôi trân trọng cách mà một nông dân sơ tán khỏi Hà Nội đã không do dự nhường cho tôi,  một người Mỹ, chỗ trú bom cá nhân tốt nhất  trong khi bom Mỹ rơi sát đó. Thật ra thì đứa con gái của ông đã cùng tôi núp chung trong hầm trú bom ấy đã ôm lấy nhau và áp gò má vào nhau. Đó là trên đường tôi trở về từ Nam Định, nơi tôi đã chứng kiến sự tàn phá có hệ thống các mục tiêu dân sự như bệnh viện, chùa chiền, nhà máy, nhà dân, và các hệ thống đê điều.

Khi tôi rời Hoa Kỳ cách nay hai tuần, Nixon đã một lần nữa nói với người dân Mỹ rằng ông đang hạ nhiệt chiến tranh, nhưng trong các đường phố đổ nát của Nam Định, lời nói của ông ngân vang những nham hiểm của kẻ sát nhân thực sự. Và cũng giống như cô bé Việt Nam tôi đang ôm đã bấu chặt vào tôi – và tôi đã áp sát gò má của mình vào gò má của cô bé ấy – tôi nghĩ đây có lẽ là một cuộc chiến tranh chống lại Việt Nam, song bi kịch lại là của Mỹ.

Một điều mà tôi đã học được vượt qua cái bóng của sự nghi ngờ kể từ khi tôi đã ở đất nước này là Nixon sẽ không bao giờ có thể phá vỡ tinh thần của những người dân nước này; ông sẽ không bao giờ có thể biến Việt Nam, cả miền Bắc và miền Nam, thành tân thuộc địa của Hoa Kỳ bằng cách ném bom, bằng cách xâm lược, bằng cách tấn công bằng bất kỳ cách nào. Người ta chỉ có đi vào các vùng nông thôn và lắng nghe những người nông dân mô tả cuộc sống họ đã có trước cách mạng để hiểu tại sao mỗi quả bom ném xuống càng củng cố quyết tâm chống lại của họ. Tôi đã nói chuyện với nhiều nông dân và họ đã nói về những ngày khi cha mẹ của họ đã phải bán thân để làm gia nhân cho giới chủ, trong khi có rất ít trường học và có rất nhiều người mù chữ, thiếu thốn về chăm sóc y tế, một khi họ không làm chủ cuộc sống của mình.

Nhưng giờ đây, mặc cho bom rơi, mặc cho tội ác xảy ra qua quyết tâm của Richard Nixon chống lại họ, những người dân này sở hữu đất đai của mình, xây dựng trường học của mình, trẻ em học hành, nạn mù chữ đang bị xóa sổ,  không có tệ nạn mại dâm như đã có dưới thời  thuộc địa của Pháp. Nói cách khác, người dân đã nắm lấy sức mạnh, và đang làm chủ cuộc sống của mình.

Và sau 4000 năm đấu tranh chống lại thiên nhiên và ngoại xâm – và trong 25 năm cuối cùng, trước cách mạng, chống chủ nghĩa thực dân Pháp – tôi không cho rằng nhân dân Việt Nam lại nhượng bộ bằng bất kỳ cách nào, thể thức hay hình thức, đối với nền độc lập tự do của đất nước họ, và tôi cho rằng Richard Nixon nên làm tốt hơn qua việc đọc lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thơ ca của họ, nhất là thơ ca sáng tác bởi Hồ Chí Minh.

*********

Nội dung trên được dịch từ nguyên văn bản báo cáo tiếng Anh gởi Ủy Ban An Ninh Nội Địa của Quốc Hội Hoa Kỳ, liên quan đến “tội” Đến Các Vùng Thù Địch, mang ký hiệu HR16742 từ ngày 19-25/9/1972, trang 761.

Jane Fonda khi trở về Mỹ đã bị lên án là kẻ phản quốc, bị đặt “nickname” là Hanoi Jane, bị bêu rếu mỉa mai bằng cách quen thuộc mang tính toàn cầu của “đâu là bộ mặt thật”, bị báo chí đưa ảnh cô chụp chung với các bộ đội phòng không bên cạnh khẩu cao xạ từng bắn rơi các chiến đấu cơ Hoa Kỳ khiến dư luận đặc biệt là thân nhân các quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam phẫn nộ công kích cô, v.v.

Khi báo chí Mỹ viết rằng các tù binh chiến tranh Mỹ bị giam tại “Hanoi Hilton” tức Hỏa Lò phải chịu đựng sự tra tấn dã man như theo lời kể của phi công Roger Ingvalson, cô Jane Fonda đã gọi những tù binh chiến tranh được trao trả về Mỹ ấy là “những kẻ đạo đức giả và dối trá” (hypocrites and liars) rồi nói thêm rằng các vị ấy không phải là những người đã bị tra tấn, không phải bị bỏ đói, không phải bị tẩy não. 16 năm sau, dưới sức ép ghê gớm của Tổng thống Ronald Reagan, Jane Fonda đã phải lên tiếng xin lỗi các cựu tù binh chiến tranh và gia đình của họ về những nỗi đau mà cô đã gây nên nơi họ.

Khi trả lời phỏng vấn của Tạp chí Wall Street năm 1995, kẻ đào tẩu Bùi Tín còn mắng Jane Fonda và John Kerry là những con rối của Xô-viết.

Qua Thế Kỷ XXI, với sự thật lịch sử, chứng minh của chân lý, đà tiến của công nghệ và tiến trình dân chủ tự do của Hoa Kỳ, Jane Fonda đã trả lời phỏng vấn năm 2005 của đài CBS rằng cô không hối tiếc gì về việc cô đã thăm Bắc Việt năm 1972, khẳng định đó chẳng là việc mà tôi phải xin lổi cả (“It’s not something that I will apologize for”).

Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016 đã nhắc đến lịch sử Việt Nam và thơ ca Việt Nam trong phát biểu của Ông.

Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016 có sự tháp tùng của Ngoại Trưởng John Kerry.

Trong cơ chế quyền lực cao nhất của Hoa Kỳ, Ông Obama ở vị trí số một và Ông Kerry ở vị trí số hai.

Sự nhắc đến lịch sử Việt Nam và thơ ca Việt Nam của Ông Obama và những bước sải chân của Ông Kerry trên đường phố Thành phố Hồ Chí Minh khiến tất cả những người Việt Nam thực sự yêu nước nhớ đến lời nhắn nhủ của Jane Fonda.

Và lời mắng chửi của Bùi Tín đối với Jane Fonda người đoan chính và can đảm nhất của nước Mỹ dám đến Bắc Việt thời chiến tranh dưới mưa bom của Mỹ và John Kerry người quyền lực thứ nhì của Hoa Kỳ đã từng là tù binh chiến tranh ở Hỏa Lò đến Việt Nam thời hậu chiến vì sự bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam và gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, đã cho thấy Bùi Tín cùng những con tương cận luôn có những phát ngôn có giá trị như thế nào, nghĩa là chuyên bôi nhọ những con người vĩ đại và luôn ngợi ca thứ phản nghĩa của con người vĩ đại.

Screen Shot 05-25-16 at 01.53 PMScreen Shot 05-25-16 at 01.54 PMScreen Shot 05-25-16 at 01.58 PM

Jane Fonda đã chiến thắng. Vietnam. Victory.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-5-2016

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, Philippines đã kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người dân, nhiều bài báo, thậm chí kể cả vị luật sư là nghị sĩ Quốc Hội, chưa nắm rõ quy trình cẩn trọng tối đa tại Tòa án The Hague, đều cùng lên tiếng đề nghị Chính phủ Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người gốc Việt ở nhiều nước trên thế giới như Úc, Thụy Điển, v.v., kể cả ở Đài Loan, đã cùng bạn bè nước sở tại đã xuống đường giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mong muốn Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người Mỹ gốc Việt “chống Cộng” mừng rở hung hăng lấn chiếm các trang mạng “chùa” và các đài phát thanh “có tài trợ” để lập tức ra rả bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam “bán nước”, “làm tay sai Trung Cộng”, v.v. và v.v., mà cụ thể là một bức ảnh trên internet hình đám đông giương cờ vàng ba sọc đỏ (mà những người cộng sản trên đài phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam luôn gọi mỉa là cờ “ba que”) với tấm bảng ghi dòng chữ ngô nghê ngu xuẩn điên dại “Muốn Chống Tầu Cộng Xâm Lược Phải Diệt Việt Cộng Bán Nước” (nghĩa là muốn chống Trung Quốc “xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa” thì trước hết phải giết sạch sành sanh nhiều chục triệu người ở Việt Nam bao gồm cả quân đội Việt Nam cùng các tướng lĩnh, tất cả các đảng viên cùng gia đình của họ, tất cả đoàn viên thanh niên, và sau khi giết sạch, xác chất thành núi, máu chảy thành sông thì mấy anh “cờ ba que” sẽ về dùng núi xác và sông máu đó làm chướng ngại vật chặn đường xe tăng Trung Quốc rồi lên làm tổng thống đuổi đi vùng “tân kinh tế” những ai còn sống để lấy lại nhà cửa mà cha ông đã bỏ lại khi bại trận phải chạy ra nước ngoài), đồng thời gởi các chiếc mặt nạ có in dòng chữ “yêu nước, chống Trung Quốc” về Việt Nam cho một số người có cái để đeo lên mặt mỗi khi tụ tập đông người hoặc gây ách tắc giao thông hoặc manh động đốt phá, đòi phải kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Tất nhiên, đối với mấy cái trò la hét vớ vẩn của cái cộng đồng hạng bét chống Cộng ở hải ngoại thì Đảng Cộng Sản và Chính Phủ Việt Nam chẳng xem ra thể thống gì để mà quan tâm, để ý.

Tuy nhiên, đối với người dân yêu nước cùng những kiều dân vốn là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, thì trước quan tâm chính đáng đầy lòng ái quốc của họ, những bài viết và các phát biểu từ những người có trách nhiệm của quốc gia, từ những người có hiểu biết thực tế và sâu rộng về thực thi thực hành bài bản công pháp quốc tế, từ những người có tâm huyết luôn đặt an nguy quốc gia là trên hết, và từ những người có tầm nhìn chiến lược vốn luôn là thứ gien sinh học đặc thù sẵn có nơi tất cả các vị minh quân thực sự và tướng tài thực sự của Việt Nam suốt chiều dài gần 5000 năm lịch sử thực sự của Việt nam cũng như các hậu duệ thực sự chưa thoái hóa của Việt Nam thực sự, luôn là hình thức giải bày cụ thể, khoa học, chính đáng, và thích hợp hầu chứng tỏ lòng tôn trọng của họ đối với người dân yêu nước thực sự và các Việt kiều thực sự yêu nước.

Một trong những bài viết ấy nêu những chi tiết công pháp quốc tế mà thậm chí đa số các nghị sĩ xuất thân ngành luật cũng chưa hề biết đến, là bài của Tiến sĩ Bành Quốc Tuấn thuộc trường Đại Học Kinh Tế-Luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Luật Pháp số thứ 9 năm 2016 mang tựa đề “Phán Quyết Điển Hình Của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye Về Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đảo Và Bài Học Kinh Nghiệm” mà những chi tiết tổng kết cho thấy các điểm chính cực kỳ quan trọng từ một án lệ của The Hague có giá trị tham khảo như sau:

Screen Shot 05-21-16 at 01.07 PMScreen Shot 05-21-16 at 01.09 PM

 

Từ các chi tiết trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng:

1) Chính phủ Việt Nam đã đúng khi đầu tư thời gian tập trung nghiên cứu, thu thập tài liệu, nghiên cứu các tiền lệ, không chủ quan cho rằng những tài liệu đang có là đã đầy đủ thich hợp, đã có giá trị pháp lý đúng tuyệt đối, và đã có đội ngũ nhân sự chuyên gia chuyên viên cao cấp về công pháp quốc tế có khả năng trực tiếp làm việc với các luật sư và thẩm phán của The Hague bằng ngoại ngữ. Không bao giờ vội vàng đưa vụ kiện Trung Quốc ra The Hague.

2) Phán quyết của The Hague là cuối cùng, song lại không ràng buộc và tùy thuộc vào ý thức của các quốc gia thành viên trong tuân thủ phán quyết của The Hague, chứ The Hague không có cơ chế chế tài bất kỳ nếu có sự bất tuân phán quyết. Trong vụ kiện Palmas nói trên, Hoa Kỳ và Hà Lan thậm chí ký thỏa thuận đồng ý đưa vụ việc cho The Hague xử lý và cam kết tuân thủ phán quyết của The Hague. Đối với vụ kiện của Philippines tại The Hague, ngay từ đầu Trung Quốc dù là quốc gia thành viên của The Hague đã ngạo mạn tuyên bố sẽ không dự các phiên xử nếu bị triệu tập (tức được “mời”) và sẽ phủ nhận giá trị phán quyết của The Hague nếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

3) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, nghĩa là Việt Nam phải chuẩn bị chấp nhận tình thế rằng trong thời gian dài The Hague đang thụ lý hồ sơ, nếu có sự manh động của Trung Quốc trong cải tạo, khai thác, chiếm đóng thêm các đảo khác tại Trường Sa, thì Việt Nam phải (a) vừa đương đầu ngoại giao với các manh động ấy, (b) vừa bị trói buộc bởi tư thế thành viên nghiêm túc của The Hague tức là phải chờ đợi sự phán quyết của The Hague, (c) vừa chuẩn bị nhiều hồ sơ khởi kiện mới đối với một hay những hòn đảo mới bị Trung Quốc lấn chiếm thêm, và (d) thậm chí vừa thực hiện lệnh tổng động viên toàn quốc và áp dụng thiết quân luật để chuẩn bị chiến tranh.

4) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng Trung Quốc không tuân thủ thì Việt Nam phải làm gì hay làm những gì, phải chăng sẽ bắt đầu sử dụng lực lượng đã tổng động viên vào cuộc chiến tranh cục bộ đánh chiếm lại các đảo hay tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện tổng lực chống Trung Quốc với nguy cơ những con ngựa thành Troy đánh tập kích cùng lúc từ phía Tây để hỗ trợ Trung Quốc, và sẽ đánh trả ra sao nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí nguyên tử tiêu diệt ngay Hà Nội, Đà Nẵng, và Thành phố Hồ Chí Minh?

5) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng lại công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn Biển Đông, Việt Nam với tư cách vừa là thành viên nghiêm túc của The Hague vừa là nguyên đơn khởi kiện tại The Hague tức mặc nhiên phải 100% tuân thủ phán quyết của The Hague, phải chăng sẽ chấp nhận mất biển, mất toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, vì tòa án The Hague không phải là tòa án xã phường quận thành phố tỉnh quốc gia để có thể chống án xin phúc thẩm tái thẩm giám đốc thẩm.

6) Do khả năng có xác suất của mục số 5 nêu trên, liệu Việt Nam có sẽ tiến hành trưng cầu dân ý để dân quyết định việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan, để nếu phán quyết theo hướng của mục số 5 thì xem như toàn dân Việt Nam đã chấp nhận cùng chịu trách nhiệm dâng đảo dâng biển cho Trung Quốc và công nhận chủ quyền của Trung Quốc, chấm dứt việc chống Trung Quốc “xâm lược”?.

7) Vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc là một cơ hội bằng vàng do Việt Nam (a) yên tâm không đơn độc khi phải đương đầu với Trung Quốc về mặt công pháp quốc tế; (b) có thời gian chuẩn bị cho chính mình từ những tài liệu thu thập được từ khắp nơi trên thế giới; (c) kết luận phán quyết của The Hague trong vụ Philippines sẽ giúp Việt Nam có kinh nghiệm phải xử lý ra sao đối với những nội dung trùng lặp đã có kết quả như ý ,cũng như đối với các nội dung trùng lặp có kết quả không như ý, đồng thời dự liệu tốt hơn đối với những nội dung không trùng lặp với vụ kiện của Philippines; và (d) kết luận phán quyết của The Hague nếu tuyệt đối đáp ứng đúng các nội dung Philippines kiện Trung Quốc, dẫn đến các phản đối, bất tuân phán quyết của The Hague, hoặc manh động của Trung Quốc tại Biển Đông làm cộng đồng quốc tế có những phản ứng mạnh mẽ, hiệu quả, có thể sẽ làm Trung Quốc hoặc bị cô lập hoặc do Trung Quốc là một trong số 117 quốc gia thành viên của The Hague sẽ phải buộc lòng tuân thủ để từ đó trở nên “biết điều” hơn trong đàm phán đàng hoàng với Việt Nam trong giải quyết cụ thể từng trường hợp của từng hòn đảo một ở Biển Đông mà Việt Nam có tuyên bố chủ quyền khiến sự việc của “tiền lệ” Palmas của thế kỷ XX và “tiền lệ” Biển Đông của thế kỷ XXI mang cơ chế quyết định cho các tranh chấp lãnh thổ trên toàn thế giới, nhờ đó Việt Nam vừa bảo vệ được chủ quyền biển đảo quốc gia, tránh được những xung đột chiến tranh, vừa thực hiện đúng vai trò một thủ lính của khu vực đã biết khôn khéo đặt sự an nguy toàn cục song hành với ổn định phát triển kinh tế, vì  an ninh khu vực và thế giới.

Tóm lại, 7 điểm nêu trên chứng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam hoàn toàn đúng khi đã không vội vàng nhanh nhảu kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Sự cân nhắc, đắn đo, khôn ngoan, của “Việt Cộng” luôn nhằm vào chiến thắng triệt để, cuối cùng.

Võ Nguyên Giáp đã cho đẩy đại bác lên các đỉnh đồi Điện Biên Phủ, rồi lại lịnh cho tất cả các khẩu đại bác phải được đem trở xuống, trước khi ra lịnh đẩy chúng lên trở lại và từ đó cấp tập bắn chụm xuống khống chế, tiêu diệt đại quân Pháp, chiến thắng nước Đại Pháp, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân Pháp trên toàn thế giới.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” chỉ bằng một trận Điện Biên Phủ “đưa pháo vào, lại rút pháo ra, rồi đưa pháo vào, bắn” đã tiêu diệt ngay lập tức sự tồn tại hàng trăm năm của chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” một khi đã dùng tên Hồ Chí Minh để đặt cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh – vào năm 1975 chứ không phải trước đó – là đại thắng ngay sau một tuần, vĩnh viễn xóa tên Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới.

Đối đầu với một siêu cường nguyên tử mọi rợ điên dại lưu manh như Trung Quốc cùng đám lâu la của nó dù về quân sự hay tại chốn pháp đình trên bình diện quốc gia nào phải là việc hát karaoke chỉ cần cầm micro đơn giản nhấn nút kê mồm vào micro tại nghị trường hay trên vĩa hè hùng dũng kêu gào đòi đánh kẻ này kiện kẻ nọ là đã có thể giải quyết được, mà phải dùng trí lực, chí lực, tâm lực, thể lực, thế lực, tài lực, nhân lực, nội lực, ngoại lực, thời lực, và vũ lực, mà cả mười một thứ lực này đều phải là ở mức cao nhất – theo phong cách của cộng sản Việt Nam – vậy.

Võ Nguyên Giáp đã dùng “quyết chiến và toàn thắng” trong mệnh lệnh ban ra cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh: “Thần Tốc, Thần Tốc Hơn Nữa, Táo Bạo, Táo Bạo Hơn Nữa,Tranh Thủ Từng Phút, Từng Giờ, Xốc Tới Mặt Trận, Giải Phóng Miền Nam, Quyết Chiến Và Toàn Thắng.” Võ Nguyên Giáp không dùng cụm từ cực kỳ quen thuộc của tất cả các lãnh đạo: “quyết chiến và quyết thắng” vì “quyết chiến và quyết thắng” là một khẩu hiệu mang tính động viên, kêu gọi, được dùng trong nhiều chục năm chỉ nói lên 2 thứ “lực” là chí lực và tâm lực. “Toàn thắng” là một mệnh lệnh mang tính kết quả dứt khoát, tuyệt đối, cuối cùng, nghĩa là sau khi đã có đầy đủ cả 11 thứ “lực”.

Việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan phải là một “toàn thắng” kiểu Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đả Đảo Tập Cận Bình!  (bài blog đăng ngày 01-12-2015 của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước)

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! (bài blog đăng ngày 30-12-2015 của Nhà viết blog  Hoàng Hữu Phước)

Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-5-2016

Trong vài năm trở lại đây, từ khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, có nhiều người phản đối việc sử dụng từ South China Sea trong tiếng Anh để gọi Biển Đông, khiến trên tất cả các chuyến bay của Việt Nam màn hình trên máy bay cho hành khách theo dõi bản đồ hành trình đều thấy Biển Đông có tiếng Anh bị sửa thành East Sea. Đây là một việc làm không đúng.

Như đã nêu trong nhiều bài viết của tôi trên các blog trong hơn 10 năm qua, tôi luôn khẳng định rằng trong thế giới hàn lâm thế giới thì tên riêng hoàn toàn không mang ý nghĩa từ vựng thực tế, đồng thời việc dịch tên riêng tiếng nước khác ra tiếng nước mình không bao giờ là việc làm nghiêm túc, trừ phi đó chỉ là chú giải để cho biết cơ sở hoặc ý nghĩa đại khái cho việc tạo nên cái tên nào đó. Gọi nước Côte d’Ivoire là Bờ Biển Ngà là cách gọi sai của Việt Nam, vì thế giới không gọi Việt Nam là Viet South hay South Viet bao giờ. Sở dĩ có tên tiếng Anh của Côte d’Ivoire là Ivory Coast đơn giản bởi vì chính Côte d’Ivoire chọn thêm cái tên ấy bằng cách dịch nó ra tiếng Anh – đó là đặc quyền của riêng chỉ Côte d’Ivoire. Còn nước khác chỉ có quyền đặt tên khác cho Côte d’Ivoire để phục vụ riêng cho dân của chính nước mình, thí dụ Việt Nam có quyền gọi United States of America là Mỹ hay Hoa Kỳ dù “cờ” Mỹ không có hình “hoa”, Germany là Đức dù Germany chẳng dính gì đến “đạo đức”, Spain là Tây Ban Nha dù hai từ này chẳng quan hệ gì với nhau, và Côte d’Ivoire thì có thể mượn tên của một sản phẩm dược của Việt Nam là … Cốt Thoái Vương ắt cũng không là lựa chọn kém tuyệt vậy.

Các thí dụ sau nhằm làm rõ hơn lý luận:

1) Indochina có hai cách gọi ở Việt Nam là Bán Đảo Ấn Trung (với ý nghĩa Indo là Ấn Độ và China tà Trung Quốc) và Đông Dương (chẳng dính dáng gì đến tiếng Anh Indochina). Indochina do giới địa dư bản đồ hàng hải hàn lâm Âu Châu từ xưa đã đặt cho vùng đất mà họ cho là nằm giữa hai nước lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Điều này chẳng bao giờ trở thành cái cớ để Ấn Độ tuyên bố phân nửa Đông Dương thuộc về Ấn Độ, còn Trung Quốc tuyên bố phân nửa còn lại thuộc Trung Quốc chỉ vì có tên nước mình trong đó để mà dân Việt Nam do sợ quá mà phải sửa Indochina thí dụ như thành…East Ocean chảng hạn thì thế giới Atlas không hiểu gì cả và chẳng biết nó ở đâu.

2) White Swan (nghĩa đen tiếng Việt: Thiên Nga Trắng) là tên tiếng Anh do người Nga gọi máy bay ném bom chiến lược siêu thanh khổng lồ Tupolev Tu-160 do chính họ chế tạo ra ấy vì nó đẹp kiêu sa lộng lẫy, song Mỹ và Khối NATO gọi nó là Blackjack ắt vì nó tàng hình không thể nhận diện trên màn radar tối đen và để phục vụ mục đích không dại gì dùng tên mỹ miều làm PR cho vũ khí chiến lược đáng gờm ấy của đối phương. Các từ tiếng Anh như White Swan hay Blackjack không phải là do dịch thuật hoặc mang ý nghĩa từ vựng nào dính dáng đến cái tên gốc tiếng Nga Tupolev cả.

3) Blow Room (nghĩa đen tiếng Việt: Phòng Thổi) được gọi là Máy Bông tại các nhà máy dệt ở Việt Nam, và không vì gọi nó là Máy Bông mà Việt Nam lại có quyền gọi nó bằng tiếng Anh là Cotton Machine (vì không phải do Việt Nam phát Minh ra máy công đoạn này trong dây chuyền kéo sợi của ngành dệt thế giới) để chẳng ai trên thế giới này hiểu cả. Chưa kể các máy khác trong nhà máy dệt còn mang những tên gọi tiếng Việt như Máy Cuộn Cúi chẳng hạn thì người ta cần phải xem catalogue để biết tiếng Anh thực sự của chúng ra sao để mà đặt mua phụ tùng chứ không thể cố dịch nghĩa của Máy Cuộn Cúi ra tiếng Anh được.

4) Fiery Cross Reef là một “đảo đá” ở quần đảo Trường Sa được đặt tên theo tên chiếc thương thuyền Fiery Cross buôn trà của Anh Quốc bị đắm ngày 04-3-1860, và do đại úy J.W.Reed của chiến hạm HMS Rifleman thuộc Hải Quân Hoàng Gia Anh khi tắp vào tiến hành khảo sát “đảo đá” năm 1867 đã phát hiện xác tàu Fiery Cross tại đấy. Việt Nam gọi đó là Đá Chữ Thập. Trung Quốc gọi là Yongshu Island. Đài Loan gọi là Yongshu Reef. Philippines gọi là Kagitingan Reef. Thế giới hàng hải gọi là Fiery Cross Reef. Tên Đá Chữ Thập. Yongshu Island, Yongshu Reef, và Kagitingan Reef đều không là dịch thuật từ tên tiếng Anh Fiery Cross Reef. Và do Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, và Philippines đều tuyên bố chủ quyền của “đảo đá” này, khi tranh chấp phải sử dụng tên Fiery Cross Reef. Nếu Việt Nam bảo Đá Chữ Thập là của ta, tên tiếng Việt của ta là quan trọng bậc nhất, từ đó ta tự động dịch ra tiếng Anh thành Cross Rock chẳng hạn thì ta thua ngay lập tức vì ta đòi chủ quyền của một Cross Rock nào đó trên hành tinh nào đó của thái dương hệ nào đó trong thiên hà nào đó thuộc vũ trụ nào đó chứ không phải đang đòi chủ quyền trên Fiery Cross Reef tại Biển Đông.

Tóm lại, giới đồ bản hàn lâm thế giới có gọi một nhóm đảo của Việt Nam là Paracel Islands thì Việt Nam cứ dùng từ Hoàng Sa trong nội bộ Việt Nam, nhưng đừng dại dột cố dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh giả dụ như Yellow Sand chẳng hạn, vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ Paracel Islands chứ nó có biết Yellow Sand là cái quái gì đâu mà Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ của đảo ấy sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Tương tự, giới đồ bản hàn lâm thế giới gọi một nhóm đảo khác của Việt Nam là Spratly  Islands thì Việt Nam cứ dùng từ Trường Sa trong nội bộ Việt Nam, đừng dại dột cố dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh giả dụ như Long Sand vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ Spratly Islands chứ nó có biết Long Sand là cái quái gì đâu mà Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ của đảo ấy sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Và cũng tương tự, giới đồ bản hàn lâm thế giới gọi vùng biển giữa Việt Nam và Philippines là South China Sea (nghĩa đen tiếng Việt: Biển Hoa Nam) thì Việt Nam cứ dùng từ Biển Đông trong nội bộ Việt Nam, đừng cố đặt tên tiếng Anh bằng cách dịch từ tiếng Việt sang thành East Sea vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ South China Sea, còn Việt Nam đang đòi chủ quyền của East Sea tức biển ở chỗ khác, nên không hiểu tại sao Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ Biển Đông sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới, và nếu Việt Nam nói mình là chủ East Sea thì hãy đi mà gây lộn với Nhật Bản để đòi lại East Sea. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Tôi khẳng định: việc các máy bay của Việt Nam dùng East Sea để làm tiếng Anh cho Biển Đông là hoàn toàn sai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết này bổ sung lý luận và thí dụ cho bài Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa

Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Nhân Chuyến Thăm Việt Nam Và Nhật Bản Của Tổng Thống Mỹ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2016

Hôm nay các phương tiện truyền thông đại chúng ở New Zealand – và tất nhiên cũng ở Việt Nam – đồng loạt đưa tin về chuyến thăm Việt Nam và Nhật Bản của Tổng Thống thứ 44 của Hoa Kỳ Ngài Barack Hussein Obama Đệ Nhị. Chuyến thăm này của Ngài Obama (a) một mặt làm tiu nghỉu những kẻ chống Việt đã loan tin hàm hồ láo xạo về việc hủy bỏ chuyến thăm Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ để phản đối việc Việt Nam bầu lại Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quốc Hội, và Thủ Tướng trước nhiệm kỳ – một việc hoàn toàn phù hợp Hiến Pháp Việt Nam và luật pháp Việt Nam mà tất cả các nguyên thủ của tất cả các nước trên toàn thế giới phải công khai công nhận và công khai tôn trọng, (b) một mặt tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu quốc tế và các nhà báo lão luyện trên thế giới tập trung viết về tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam và Nhật Bản. Một trong vô số các bài viết ấy là của nhà báo Edu Montesanti, tác giả quyển Những Sự Dối Trá Và Tội Ác Của Cuộc Chiến Chống Khủng Bố (Lies and Crimes of “War on Terror”), phỏng vấn độc quyền Giáo sư Peter Kuzinick, công dân New York, Giáo sư Lịch Sử Đại Học Hoa Kỳ và Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Nguyên Tử Hoa Kỳ, mà tôi dịch sang tiếng Việt như dưới đây để cung cấp cho bạn đọc có thêm thông tin về một giai đoạn lịch sử không thể nào quên của nhân loại. Trong bài phỏng vấn này, Giáo sư Peter Kuzinick nói về việc thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, về tội ác cùng các dối trá của Mỹ đàng sau cuộc chiến tranh tại Việt Nam cũng như về sự thật đằng sau cuộc xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, và vì sao Mỹ có cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên Xô cũng như vì sao cuộc chiến ấy cùng truyền thông chính thống đã ảnh hưởng đến thế giới ngày nay, lợi ích từ cuộc ám sát Tỏng Thống Kennedy, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với Châu Mỹ La Tinh thời Chiến Tranh Lạnh và ngày nay dưới vỏ bọc giả trá của Chiến Tranh Chống Khủng Bố và Chiến Tranh Chống Ma Túy.

*********

Edu MontesantiThưa Giáo sư Peter Kuznick, xin cảm ơn ông rất nhiều vì đã cho phép tôi được phỏng vấn ông. Trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, ông cùng đồng  tác giả Oliver Stone có tiết lộ rằng việc ném các quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki của Tổng thống Harry Truman là không cần thiết về mặt quân sự, cùng những lý do đằng sau nó. Xin Giáo sư vui lòng bình luận về các sự nêu lên này

Peter Kuznick: Thật là thú vị khi tôi nói chuyện với những người ở nước khác thì hầu hết đều cho rằng các vụ thả bom nguyên tử là không cần thiết và không thể biện minh được, trong khi hầu hết người Mỹ vẫn tin rằng việc thả những quả bom nguyên tử ấy là hành động thực sự nhân đạo vì chúng cứu sống hàng trăm hàng ngàn người Mỹ rất có thể sẽ chết trong một cuộc xâm lược của hàng triệu người Nhật.

Đó là một ảo tưởng để tự an ủi mà nhiều người Mỹ hằng tin sâu sắc, đặc biệt nơi những bậc lão niên. Đây là một trong những huyễn hoặc sơ đẳng phát sinh từ Đệ Nhị Thế Chiến. Nó có từ sự cố ý tuyên truyền của Tổng Thống Truman, Bộ Trưởng Chiến Tranh Henry Stimson, và nhiều vị khác, những kẻ loan truyền thông tin sai lạc rằng các quả bom nguyên tử đã buộc Nhật Bản phải đầu hàng. Truman tuyên bố trong cuốn hồi ký của ông rằng các quả bom nguyên tử đã cứu sống nửa triệu người Mỹ. Tổng Thống George H.W. Bush sau đó nâng con số lên thành “nhiều triệu người”. Thực tế là vụ thả các quả bom nguyên tử đã không hề cứu sống người Mỹ cũng như không hề đóng góp đáng kể nào vào sự quyết định đầu hàng của Nhật Bản. Các quả bom nguyên tử ấy lẽ ra đã khiến kéo dài chiến tranh hơn và gây thiệt hại nhân mạng nhiều hơn cho Mỹ. (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: hai quả bom nguyên tử rất có thể đã làm Nhật Bản nổi giận điên cuồng tập trung báo thù Mỹ nếu như bộ binh Nhật Bản không bị Liên Xô tiêu diệt ở Mãn Châu Quốc). Chỉ có một sự thật là chúng đã giết hàng trăm ngàn người Nhật và gây thương tích cho nhiều người hơn thế.

Theo báo cáo tháng 1 năm 1946 của Bộ Chiến Tranh Hoa Kỳ, các quan chức hàng đầu Nhật Bản đã có rất ít cuộc thảo luận về các vụ đánh bom nguyên tử, nghĩa là chúng không dẫn đến quyết định đầu hàng. Điều này mới đây đã được công nhận một cách khá gây sửng sốt bởi Bảo Tàng Quốc Gia của Hải Quân Hoa Kỳ tại Thủ đô Washington, khi báo cáo rằng “Sự tàn phá rộng lớn bởi các vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki và sự sát hại 135.000 người Nhật đã có rất ít ảnh hưởng đến quân đội Nhật Bản.”

Tuy nhiên, việc Liên Xô đem quân vào Mãn Châu Quốc đã làm Nhật Bản đổi ý. Ít người Mỹ biết rằng trong tổng số 7 vị Đô Đốc và tướng lĩnh năm sao của Mỹ đã có ngôi sao thứ năm trong cuộc chiến ấy thì đã có 6 vị nói rằng các quả bom nguyên tử hoặc không cần thiết về quân sự hoặc đáng bị lên án về mặt đạo đức hoặc cả hai. Các vị ấy gồm có Tướng Douglas MacArthur, Dwight Eisenhower, Henry “Hap” Arnold, và các Đô đốc William Leahy, Ernest King, cùng Chester Nimitz Leahy, chánh văn phòng của tổng thống Roosevelt và Truman. Vị này nói rằng các vụ đánh bom nguyên tử vi phạm “mọi chuẩn mực đạo đức Kitô giáo mà tôi từng nghe nói đến cũng như tất cả các luật thời chiến được biết đến.” Ông phát biểu rằng “Nhật Bản đã đã bị đánh bại và sắp sửa đầu hàng. Việc sử dụng các loại vũ khí man rợ này tại Hiroshima và Nagasaki không trợ giúp cụ thể nào trong cuộc chiến chống Nhật Bản của chúng ta. Là người đầu tiên sử dụng bom nguyên tử, chúng ta đã áp dụng một tiêu chuẩn đạo đức thường thấy của bọn man di thời Tiền Trung Cổ “.

Tổng thống Mỹ Eisenhower đồng ý rằng người Nhật đã bị đánh bại từ trước rồi. Tướng MacArthur nói rằng Nhật Bản lẽ ra đã đầu hàng nhiều tháng trước nếu Mỹ bảo Nhật Bản rằng Nhật Bản có thể duy trì hoàng đế của họ, cái điều mà cuối cùng Mỹ cũng đã cho phép Nhật Bản có được.

Thế thực ra đã đã xảy ra việc gì? Khoảng mùa xuân năm 1945, rõ ràng hầu hết các lãnh đạo Nhật Bản đều biết họ không thể thắng cuộc chiến tranh. Vào Tháng Hai 1945, Hoàng tử Fumimaro Konoe, cựu Thủ tướng Nhật Bản, đã viết thư cho Hoàng đế Hirohito, “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại của Nhật Bản là không thể tránh khỏi.”

Cảm nhận này cũng được thể hiện bởi Hội đồng Chiến Tranh Tối Cao vào tháng Năm 1945 khi họ tuyên bố rằng “Việc Liên Xô tham chiến sẽ giáng một đòn chí tử vào Đế Chế chúng ta” và được lặp đi lặp lại thường xuyên sau đó bởi các nhà lãnh đạo Nhật Bản.

Mỹ, vốn đã giải được bảng mật mã của Nhật Bản và đã chặn được đường dây cáp truyền tin của Nhật Bản, đã hiểu biết đầy đủ về sự tuyệt vọng ngày càng tăng của Nhật Bản muốn chấm dứt chiến tranh nếu Mỹ đồng ý cho họ “đầu hàng.” Nhật Bản đâu chỉ bị đánh bại tơi tả về quân sự, hệ thống đường sắt của Nhật cũng lâm vào cảnh bị phá huỷ còn nguồn cung cấp thực phẩm bị cạn kiệt. Đich thân Tổng Thống Mỹ Truman đã gọi bức điện thu được ngày 18 tháng Bảy là “bức điện của Nhật Hoàng yêu cầu hòa bình.” Nhà lãnh đạo Mỹ cũng biết rằng những gì Nhật Bản thật sự sợ hãi là khả năng của một cuộc xâm lược của Liên Xô mà Nhật Bản không thể nào ngăn chặn được.

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã không biết rằng tại Hội Nghị Yalta, Stalin đã đồng ý tham chiến tại Thái Bình Dương ba tháng sau khi kết thúc cuộc chiến ở Châu Âu. Nhưng Truman biết và hiểu hết ý nghĩa của nó. Ngay từ ngày 11-4-1945, Phụ trách Cơ Quan Tình Báo Hốn Hợp thuộc Tham Mưu Liên Quân Mỹ đã báo cáo rằng “Nếu bất cứ lúc nào mà Liên Xô tham chiến, tất cả người Nhật Bản sẽ nhận ra rằng thất bại tuyệt đối là không thể tránh khỏi.”

Tại Potsdam vào giữa tháng Bảy, khi Truman nhận được xác nhận của Stalin rằng Liên Xô sắp tham chiến, Truman vui mừng và đã viết trong nhật ký của mình, “Cho bọn Nhật đi đoong khi điều đó xảy ra”. Ngày hôm sau, ông đã viết cho vợ mình rằng, “Chúng ta sẽ kết thúc chiến tranh sớm một năm, và sẽ nghĩ về bọn trẻ sẽ không bị chết. ”

Vì vậy, có hai cách để kết thúc chiến tranh mà không phải thả bom nguyên tử. Thứ nhất là phải thay đổi yêu đầu hàng vô điều kiện và thông báo Nhật Bản rằng họ có thể giữ lại hoàng đế, điều mà hầu hết các nhà làm chính sách Mỹ muốn như vậy do họ biết Nhật Hoàng là chìa khóa cho sự ổn định hậu chiến. Thứ hai là chờ cuộc xâm lược Nhật Bản của Liên Xô sẽ bắt đầu lúc nửa đêm ngày 08 tháng 8.

Chính cuộc đưa quân vào chiếm Nhật ấy mới là đòn quyết định chứ không phải bom nguyên tử, có tác dụng lâu dài và gọn hẹp hơn. Cuộc xâm lược của Liên Xô hoàn toàn làm phá sản chiến lược ketsu-go của Nhật Bản (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: chiến lược Ketsu-Go tức Chiến Lược Giáng Đòn Quyết Định tiêu diệt lực lượng hải quân Hoa Kỳ trên biển để Hoa Kỳ không thể đổ bộ Nhật Bản, bằng cách ngày đêm tìm diệt các hàng không mẫu hạm Mỹ, và tăng cường phòng vệ bằng hải lục không quân để tiêu diệt bất kỳ đoàn  quân Mỹ nào lọt vào được lảnh thổ Nhật Bản). Hồng Quân Liên Xô hùng mạnh đã nhanh chóng tiêu diệt Đạo Quân Quan Đông của Nhật Bản. Khi Thủ Tướng Kantaro Suzuki được hỏi tại sao Nhật Bản cần thiết phải đầu hàng Hoa Kỳ một cách nhanh chóng, ông trả lời rằng nếu Nhật Bản chậm chân thì “Liên Xô sẽ không những chỉ chiếm Mãn Châu, Hàn Quốc, Karafuto, mà còn chiếm cả Hokkaido. Điều này nếu xảy đến sẽ phá hủy nền tảng của Nhật Bản. Chúng tôi phải kết thúc chiến tranh khi còn có thể thỏa thuận với Hoa Kỳ.” Cuộc tiến quân của Liên Xô đã thay đổi cán cân quân sự, chứ còn những quả bom nguyên tử trông khủng khiếp thế đấy đã không giúp được gì. Người Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi các thành phố Nhật Bản trong nhiều tháng trời. Như Yuki Tanaka đã chứng minh cho thấy Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi hơn 100 thành phố của Nhật Bản. Sự thiêu hủy đạt mức cao nhất 99,5% tại trung tâm thành phố Toyama. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã chấp nhận để Hoa Kỳ cứ quét sạch các thành phố của Nhật Bản. Hiroshima và Nagasaki chỉ là có thêm hai thành phố bị biến mất mà thôi, mặc cho mức độ tàn phá hay chi tiết khủng khiếp đến đâu. Nhưng cuộc xâm lược của Liên Xô đã chứng minh sức tàn phá sẽ còn ghê gớm hơn rất nhiều như lãnh đạo của cả Mỹ và Nhật Bản đều biết sẽ như thế.

Tuy nhiên, Mỹ muốn sử dụng bom nguyên tử làm lời cảnh báo nghiêm khắc dành cho Liên Xô về những gì đang sẵn chờ đợi họ nếu họ dám can thiệp vào kế hoạch của Mỹ đối với quyền bá chủ hoàn cầu sau chiến tranh. Đó chính xác là điều mà Stalin cùng các lãnh đạo Liên Xô ở Điện Kremlin đã nhận ra qua các vụ ném bom nguyên tử ấy. Việc sử dụng bom nguyên tử của Mỹ ít ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo Nhật Bản, nhưng nó chứng tỏ là nhân tố chính trong khởi động cuộc Chiến Tranh Lạnh. Và nó đặt cả thế giới trên một đường trượt đến sự  hủy diệt. Đã có ít nhất ba lần vào những tình huống khác nhau mà Tổng thống Mỹ Truman suýt khởi động một quá trình có thể dẫn đến sự kết thúc sự sống trên hành tinh này khi ông đã liều lĩnh dấn bươc. Khi ở Postdam, lúc nhận được báo cáo về sức mạnh của việc cho nổ thử nghiệm bom nguyên tử ngày 16 Tháng Bảy tại New Mexico, ông viết trong nhật ký của mình: “Chúng ta đã tạo ra được  quả bom khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới. Nó có thể là sự tiêu diệt trong biển lửa như tiên tri trong Thời Thung Lũng Euphrates sau Nô-Ê cùng con tàu Ark tuyệt vời của ông ấy.” Vì vậy, việc ném bom nguyên tử đã đóng góp rất ít hoặc chẳng đóng góp gì cả vào việc kết thúc chiến tranh, nhưng nó bắt đầu một quá trình tiếp tục đe dọa nhân loại với sự hủy diệt tận ngày nay – những 70 năm sau vụ ném bom. Như Stone và tôi đã nêu trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, giết thường dân vô tội là một tội ác chiến tranh. Đe dọa nhân loại tuyệt diệt còn tồi tệ hơn thế nữa. Đó là tội ác tồi tệ nhất của mọi thời.

Edu Montesanti Trong chương về Chiến Tranh Việt Nam, có tiết lộ rằng các lực lượng vũ trang Mỹ đã tiến hành ở đất nước nhỏ bé ấy việc ném  bom với số lượng lớn hơn nhiều so với tổng số bom đã ném trong Đệ Nhị Thế Chiến. Xin Giáo sư nói rõ hơn và vui lòng cho biết vì sao việc đó lại xảy ra.

Peter Kuzinick: Mỹ ném nhiều bom chống lại đất nước Việt Nam bé nhỏ, so với số bom mà tất cả các bên đã sử dụng trong tất cả các cuộc chiến tranh trước đó trong lịch sử  – tức nhiều hơn gấp 3 lần tổng số bom mà các bên đã sử dụng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Cuộc chiến tranh đó là sự tàn bạo tồi tệ nhất, là thí dụ tồi tệ nhất về sự xâm lược của nước ngoài, kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Mười chín triệu ga-lông chất diệt cỏ đầu độc nông thôn Việt Nam. Rừng rậm ba cấp xinh đẹp của Việt Nam đã biến mất một cách hiệu quả. Mỹ đã phá hủy 9.000 trong số 15.000 thôn ấp của Nam Việt Nam.

Mỹ cũng phá hủy tất cả sáu thành phố công nghiệp ở miền Bắc cũng như 28 trong số 30 thị trấn và 96 trong số 116 thị xã. Mỹ nhiều lần đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Trong số những người đã từng đặt vấn đề sử dụng cũng như có lúc ủng hộ việc sử dụng bom nguyên tử là Henry Kissinger. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara nói chuyện với sinh viên của tôi đã cho biết ông tin rằng 3.800.000 người Việt Nam đã chết trong chiến tranh.

Như vậy, cuộc chiến thực sự rất khủng khiếp và người Mỹ chưa bao giờ chuộc tội. Thay vì được ban cho giải thưởng Nobel Hòa bình cho việc kết thúc chiến tranh Việt Nam, Henry Kissinger phải ở trong chuồng xử án ở Hague cho tội ác chống lại loài người.

Edu Montesanti:  Xin Giáo Sư hãy nói về những kinh nghiệm của ông trong những năm 60 ở Việt Nam, và tại sao Mỹ quyết định tham gia cuộc chiến tranh chống lại quốc gia đó.

Peter Kuznick: Oliver và tôi tiếp cận chiến tranh từ những quan điểm khác nhau. Ông ấy đã bỏ học tại Đại Học Yale để tình nguyện tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Ông bị thương hai lần và được trao tặng một anh dũng bội tinh. Tôi thì khác, từ đầu đã quyết liệt phản đối việc Mỹ xâm lược Việt Nam.

Là một sinh viên đại học năm thứ nhất, tôi bắt đầu lập một nhóm phản chiến. Tôi tích cực tổ chức chống chiến tranh. Tôi ghét chiến tranh. Tôi ghét những kẻ phải chịu trách nhiệm về chiến tranh. Tôi nghĩ rằng tất cả bọn họ là tội phạm chiến tranh và tôi vẫn cho là như vậy. Tôi đã tham dự nhiều cuộc xuống đường tuần hành chống chiến tranh và phát biểu thường xuyên tại các sự kiện công cộng. Tôi hiểu, như anh bạn của tôi là Daniel Ellsberg thích nói như thế, rằng chúng ta đã ở phía sai trái.

Mỹ đã dần dần dấn thân. Trước tiên, Mỹ tài trợ cho chiến tranh thực dân Pháp và sau đó tự mình chiến đấu sau khi người Việt đánh bại người Pháp. Tổng thống Kennedy gửi 16.000 “cố vấn”, nhưng rồi nhận ra chiến tranh là sai lầm và đã lên kế hoạch để kết thúc chiến tranh giá như ông không bị sát hại. Động cơ của Mỹ là lẫn lộn. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà dân tộc chủ nghĩa, ông còn là một người cộng sản. Không nhà lãnh đạo Mỹ nào muốn để thua một cuộc chiến tranh vào tay những người cộng sản bất cứ tại đâu.

Điều này đặc biệt đúng sau chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1949. Nhiều người lo sợ hiệu ứng domino rằng Việt Nam sẽ dẫn đến những chiến thắng của cộng sản khắp Đông Nam Á. Điều đó sẽ khiến Nhật Bản bị cô lập và Nhật Bản cuối cùng rồi cũng sẽ quay sang khối cộng sản để tìm đồng minh và đối tác thương mại. Vì vậy, một động lực khác là địa chính trị.

Một động lực khác nữa là kinh tế. Các nhà lãnh đạo Mỹ không muốn để mất nguồn lao động giá rẻ, nguyên liệu, và các thị trường ở Đông Dương. Một lý do khác là các tổ hợp quân sự-công nghiệp tại  Mỹ – tức các ngành công nghiệp “quốc phòng” và các nhà lãnh đạo quân sự liên minh với chúng – đã được vỗ béo và phát tài từ chiến tranh. Chiến tranh là lý do tồn tại của họ, và họ thu lợi dồi dào từ chiến tranh ở cả lợi nhuận tăng cao và thăng quan tiến chức.

Vì vậy, nó là một sự kết hợp của việc duy trì tính ưu việt của Mỹ trên thế giới, bảo vệ và khai thác lợi ích kinh tế Mỹ, và một đầu óc phi lý nguy hiểm chống cộng muốn đánh bại những người cộng sản ở mọi nơi.

Edu Montesanti: Giáo sư có thể cho biết những lý do thực sự đằng sau cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là gì?

Peter Kuznick: George Kennan, quan chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã cung cấp cơ sở lý luận cho  lý thuyết ngăn chặn, đặt ra những động cơ kinh tế đằng sau Chiến Tranh Lạnh trong một bản ghi nhớ rất sáng tỏ vào năm 1948, trong đó ông nói: “Chúng ta chiếm khoảng 50% tài sản của thế giới, nhưng chỉ chiếm 6,3% dân số địa cầu…chúng ta không thể không là đối tượng của lòng ghen tị oán giận. Nhiệm vụ thực sự của chúng ta trong thời gian tới là nhằm tạo ra một mối quan hệ mẫu cho phép chúng ta duy trì vị trí quá bất bình đẳng này.” Mỹ theo đuổi công việc này. Đôi khi điều đó khiến Mỹ cần phải hỗ trợ của các chế độ độc tài tàn bạo. Đôi khi Mỹ cần phải hỗ trợ các chế độ dân chủ. Cuộc chiến xảy ra trên các bình diện văn hóa, chính trị, ý thức hệ, và kinh tế.

Henry Luce, nhà xuất bản của tạp chí Time và Life đã phát biểu năm 1941 rằng thế kỷ 20 phải là thế kỷ của Mỹ. Mỹ sẽ thống trị thế giới. Mỹ đã dấn thân để đạt được như vậy. Liên Xô, do đã từng bị xâm lược hai lần qua Đông Âu, muốn có một vùng đệm giữa họ và Đức. Mỹ đã phản đối các lĩnh vực kinh tế và chính trị nào hạn chế sự thâm nhập kinh tế của Mỹ. Mặc dù Hoa Kỳ và Liên Xô đã chưa bao giờ có chiến tranh trực tiếp với nhau, họ đã đấu với nhau trong nhiều cuộc chiến tranh do họ giật dây. Loài người đã may mắn sống sót qua thời kỳ ảm đạm này.

Edu Montesanti: Giáo sư nhận xét thế nào về  chính trị Mỹ đối với Cuba kể từ cuộc Cách Mạng Cuba, và đối với Mỹ Latinh nói chung kể từ khi Chiến Tranh Lạnh?

Peter Kuznick: Mỹ hoàn toàn kiểm soát nền kinh tế và chính trị Cuba từ những năm 1890 cho đến cuộc cách mạng năm 1959. Tổng thống Cuba Batista hỗ trợ các nhà đầu tư Mỹ. Mỹ đã can thiệp nhiều lần vào nội bộ Mỹ Latin giữa năm 1890 và năm 1933 và sau đó tái diễn trong năm 1950. Castro đại diện cho bước đột phá lớn đầu tiên của chu kỳ đó. Mỹ muốn tiêu diệt Castro và bảo đảm  không có ai khác ở Mỹ Latinh theo gương Castro. Mỹ thất bại. Mỹ đã không phá hủy được cuộc cách mạng của Castro, nhưng Mỹ đảm bảo rằng Cuba sẽ không thành công về kinh tế hay tạo ra nền dân chủ của nhân dân mà nhiều người mong mỏi.

Tuy nhiên, Cách mạng Cuba đã thành công trong những cách khác. Cuộc cách mạng đã tồn tại trong suốt Chiến Tranh Lạnh và cho đến nay. Cuba đã truyền cảm hứng cho các cuộc cách mạng Mỹ Latinh khác mặc dù các biệt đội tử thần do Mỹ đào tạo và hậu thuẫn đã tuần tra khắp lục địa sát hại hàng trăm ngàn người.

Các trường học Mỹ cho toàn Châu Mỹ đã tích cực tạo nên các lãnh đạo các thủ lãnh của biệt đội tử thần. Hugo Chavez và những vị khác theo con đường của Fidel trong truyền cảm hứng cho người dân Nam Mỹ đã không còn. Nhiều nhà lãnh đạo tiến bộ đã bị lật đổ trong những năm gần đây.

Hiện nay Dilma Rouseff đang chiến đấu để tồn tại, nhưng Evo Morales và Alvaro Garcie Linera ở Bolivia đang đứng vững tự hào và đứng trên cao để chống lại những nỗ lực của Mỹ đang muốn trở lại  thống trị và bóc lột Mỹ Latinh. Nhưng trên khắp Châu Mỹ Latinh, các nhà lãnh đạo tiến bộ đã hoặc bị lật đổ hoặc đang bị làm cho suy yếu bởi các vụ scandal. Các nhà tân-tiến-bộ do Mỹ hậu thuẫn đang sẵn sàng một lần nữa để cướp các nền kinh tế địa phương phục vụ lợi ích của tư bản nước ngoài và trong nước. Đó không phải là một hình ảnh đẹp. Người dân sẽ phải chịu đựng vô vàn trong khi một số ít trở nên giàu có.

Edu Montesanti: Theo nghiên cứu của Giáo sư thì ai đã giết Tổng thống John Kennedy? Những lợi ích đàng sau vụ ám sát kinh hoàng đó là gì?

Peter Kuznick: Oliver đã làm một bộ phim tuyệt vời về vụ ám sát Kennedy – Phim JKF. Chúng tôi không cho rằng chúng tôi cần phải xem xét lại những vấn đề trong cuốn sách và tài liệu của chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi tập trung vào những gì nhân loại đã mất mát khi Kennedy đã bị cướp khỏi chúng ta. Ông đã phát triển cực kỳ trong thời gian ngắn ngủi tại vị của mình.

Ông đã bắt đầu như một chiến binh thời Chiến Tranh Lạnh. Đến cuối cuộc đời, sau những bài học ông nhận ra trong hai năm đầu tiên cầm quyền và lấn cấn bởi cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba, ông mong muốn một cách tuyệt vọng kết thúc Chiến Tranh Lạnh cùng cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Nếu ông không bị giết, như Robert McNamara nói, thế giới cơ bản đã khác đi rồi. Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam. Chi phí quân sự sẽ giảm mạnh. Mỹ và Liên Xô sẽ đã tìm ra cách để làm việc cùng nhau. Cuộc chạy đua vũ trang sẽ được chuyển đổi thành một cuộc chạy đua hòa bình. Nhưng ông có nhiều kẻ thù trong cộng đồng quân sự và tình báo và trong khu vực quân sự của nền kinh tế. Ông cũng bị ghét bởi những kẻ phân biệt chủng tộc miền Nam, bọn Mafia, và cộng đồng Cuba-kiều lưu vong phản động. Nhưng những kẻ núp đằng sau vụ ám sát của ông có nhiều khả năng đến từ các cánh quân sự và tình báo.

Chúng tôi không biết ai đã làm điều đó, nhưng chúng ta biết quyền lợi của những ai đã được tăng cao nhờ vụ ám sát. Với tất cả các lỗ hổng trong câu chuyện chính thức như chi tiết của Ủy Ban Warren, rất khó để tin rằng Lee Harvey Oswald đã hành động một mình và rằng viên đạn ma thuật đã gây nên tất cả những gì gây ra sự tàn phá ấy.

Edu Montesanti: Giáo Sư có cho rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với khu vực hiện nay, đặc biệt là các cuộc tấn công chống lại các nước tiến bộ, về bản chất là cùng chính sách với thời  Chiến Tranh Lạnh không?

Peter Kuznick: Tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ muốn có một cuộc Chiến Tranh Lạnh mới với một đối thủ thực sự có thể cạnh tranh trên toàn cầu. Như những người tân-bảo-thủ tuyên bố sau sự sụp đổ của Liên Xô, Mỹ thực sự muốn có một thế giới đơn cực, trong đó chỉ có một siêu cường và không có đối thủ.

Ngày nay các nước tiến bộ có ít đồng minh lớn hơn là họ đã có trong thời Chiến Tranh Lạnh. Nga và Trung Quốc tạo ra sự cân bằng nào đó với Mỹ, nhưng hai nước này không thực sự là những nước tiến bộ thách thức trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa. Cả hai đều đang bị vướng trong các vấn đề nội bộ của họ và những bất bình đẳng.

Có vài mô hình xã hội chủ nghĩa dân chủ cho thế giới noi theo. Mỹ đã ra tay lật đổ và phá hoại hầu hết các tư duy tiến bộ và các chính phủ có tầm nhìn xa. Hugo, mặc dù có những thái quá, vẫn là một vai trò kiểu mẫu. Ông đã đạt được những điều tuyệt vời cho người dân nghèo Venezuela. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những gì đang xảy ra tại Brazil, Argentina, Honduras, đó lại là một bức tranh rất u  buồn.

Cần có một làn sóng cách mạng mới trên khắp thế giới thứ ba với các nhà lãnh đạo mới cam kết diệt trừ tham nhũng và đấu tranh cho công bằng xã hội. Riêng tôi phấn khích trước sự phát triển gần đây ở Bolivia, dù cho đã có kết quả của cuộc bầu cử vừa qua.

Edu Montesanti: Giáo sư thấy văn hóa Chiến Tranh Lạnh ảnh hưởng thế nào đến Mỹ và xã hội thế giới ngày nay? Vai trò của chế độ Washington và phương tiện truyền thông chính thống đối với vấn đề đó?

Peter Kuznick: Các phương tiện truyền thông là một phần của vấn đề. Họ đã phục vụ cho sự xáo trộn hơn là giáo dục và khai sáng. Họ truyền bá ý tưởng rằng có những nguy hiểm và kẻ thù rình rập khắp nơi, nhưng họ không đề ra giải pháp tích cực nào. Hậu quả là người ta bị khống chế bởi sự sợ hãi và phản ứng một cách phi lý. Cựu Phó Tổng Thống Mỹ Henry Wallace, một trong những nhà thấu thị hàng đầu của Mỹ trong thế kỷ 20, đáp lại bài phát của Winston Churchill về Bức Màn Sắt năm 1946 bằng cách cảnh báo rằng: “Nguồn gốc của tất cả các sai lầm của chúng ta là sự sợ hãi … Nếu những nỗi sợ này tiếp tục, sẽ đến ngày con và cháu của chúng ta sẽ phải trả giá cho những nỗi lo sợ này với những dòng sông máu …Thoát ra khỏi nỗi sợ hãi, các quốc gia vĩ đại xử sự như loài cầm thú bị dồn vào chân tường, chỉ biết nghĩ duy mỗi đến sự được sống còn“.

Điều này cũng như vậy trên bình diện cá nhân khi người ta sẽ hy sinh tự do của mình để được an ninh lớn hơn. Chúng ta đã thấy nó đã diễn ra như thế tại Mỹ sau sự cố 9/11. Chúng ta đang thấy như vậy tại Pháp và Bỉ.

Thế giới đang chuyển động sai hướng. Sự bất bình đẳng đang gia tăng. 62 người giàu nhất thế giới bây giờ đã giàu có hơn, so với 3,6 tỷ người nghèo nhất. Đó là sự tởm lợm. Không có biện minh nào cho sự nghèo đói trong một thế giới phong phú tài nguyên đến thế. Trong thế giới này, các phương tiện truyền thông phục vụ nhiều mục đích, mà mục đích ít được họ thực thi nhất trong số đó là cung cấp và trang bị cho mọi người thông tin người ta cần có để thay đổi xã hội và thế giới.

Các phương tiện truyền thông thay vì phóng đại nỗi sợ hãi của người dân để họ sẽ chấp nhận chế độ độc tài và các giải pháp quân phiệt cho những vấn đề không cần có giải pháp quân sự, cung cấp những trò giải trí vô hồn để đánh lạc hướng mọi người quên đi vấn đề thực sự, và mê hoặc mọi người vào cơn mộng du với sự thờ ơ. Đây đặc biệt là một vấn nạn ở Hoa Kỳ, nơi nhiều người tin rằng có một nền báo chí “tự do”. Còn nơi nào có sự kiểm soát báo chí, người ta lại tiếp cận truyền thông với sự hoài nghi. Nhiều người Mỹ cả tin không hiểu các hình thức tinh tế hơn của báo chí trong xảo trá và lừa dối.

Tại Mỹ, các phương tiện truyền thông chính thống hiếm khi đưa ra quan điểm thách thức suy nghĩ truyền thống. Ví dụ, tôi liên tục nhận được lời mời phỏng vấn bởi các hãng truyền thông hàng đầu tại Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, và các nơi khác, nhưng tôi hiếm khi được báo chí tại Hoa Kỳ phỏng vấn. Các đồng nghiệp tiến bộ của tôi cũng không được mời đến những chương trình truyền thông chính thống của Mỹ. Vì vậy, đúng là có một biện pháp nhất định của tự do báo chí ở Hoa Kỳ, nhưng sự tự do ấy bị làm suy yếu không phải phần lớn tại chính phủ mà tại báo chí tự kiểm duyệt và tự bịt miệng các tiếng nói tiến bộ. Nhiều người trong phần còn lại của thế giới cũng vậy khi rất cởi mở phê phán Hoa Kỳ nhưng không thẳng thắn như thế khi chỉ trích chính sách của chính phủ của chính họ.

Edu Montesanti: Giáo sư nghĩ sao về ý kiến cho rằng “Chiến Tranh Chống Khủng Bố” và thậm chí “Chiến Tranh Chống Ma Túy” của Mỹ đặc biệt là ở Mỹ Latinh là cách Mỹ đã tạo ra để thay thế Chiến Tranh Lạnh, để mở rộng quyền lực quân sự và thống trị thế giới?

Peter Kuznick: Mỹ bác bỏ các phương pháp của chế độ thực dân cũ. Mỹ đã tạo ra một loại đế chế mới được củng cố bằng từ 800 đến 1000 căn cứ quân sự ở nước ngoài mà từ đó các lực lượng đặc biệt của Mỹ hoạt động tại hơn 130 quốc gia mỗi năm.

Thay cho các lực lượng xâm lược bao gồm các đội quân bộ binh đông đảo mà lịch sử đã chứng minh bất thành ở nước này nước nọ, Mỹ hoạt động theo những cách bí mật hơn và ít vụng về hơn. Phương pháp ưa thích của Obama trong việc giết người là sử dụng máy bay không người lái.

Có biết bao giá trị pháp lý khả nghi cho ra những kết quả đầy nghi vấn. Chác chắn chúng có hiệu quả nhất định trong giết chóc, song có biết bao bằng chứng cho thấy cứ mỗi một “tên khủng bố” bị giết là tạo ra 10 tên khác lấp vào chổ trống của y.

Cuộc Chiến Chống Khủng Bố mà Mỹ và các đồng minh đã tiến hành trong 15 năm qua đã chỉ tạo ra thêm nhiều kẻ khủng bố. Giải pháp quân sự hiếm khi hữu hiệu. Cần có các phương pháp tiếp cận khác nhau và chúng sẽ phải bắt đầu bằng việc phân phối lại các nguồn tài nguyên của thế giới để làm cho mọi người muốn sống chứ không phải muốn giết và muốn chết. Mọi người cần có niềm hy vọng.

Người ta cần có cảm nhận về kết nối. Họ cần phải tin rằng một cuộc sống tốt hơn là điều khả thi cho họ và con cái của họ. Quá nhiều người cảm thấy tuyệt vọng và xa lánh. Sự sụp đổ của mô hình Xô Viết đã để lại một chỗ hỗng. Như Marx đã cảnh báo từ lâu, Nga đã quá lạc hậu về mặt văn hóa và kinh tế để phục vụ như là một mô hình cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa toàn cầu.

Cuộc Cách mạng Nga đã bị thử thách ngay từ đầu bởi các thế lực tư bản xâm lấn. Vấn đề nảy sinh ngay từ đầu. Sau đó, chủ nghĩa Stalin đem đến chuối những kinh hoàng. Trong phạm vi mà mô hình Xô-viết đã trở thành tiêu chuẩn thế giới cho sự thay đổi mang tính cách mạng, đã có rất ít hy vọng cho việc tạo ra một thế giới mỹ mãn. Mô hình Trung Quốc cũng không cung cấp một tiêu chuẩn tốt hơn. Cũng vì vậy mà một số người đã quay sang Hồi giáo cực đoan, đem đến cơn ác mộng của chính nó. Khi chính phủ tiến bộ tiếp tục vấp ngã, sự bá chủ của Mỹ được mạnh lên. Tuy nhiên, Mỹ đã có ít những tích cực đem đến cho thế giới. Thế hệ tương lai sẽ nhìn lại, xem cái Pax Americana tức cái Nền Hòa Bình Giữa Các Siêu Cường Dưới Quyền Mỹ này không phải là thời đại khai sáng mà là một thứ chiến tranh triền miên và sự bất bình đẳng không ngừng gia tăng.

Về nguyên tắc, dân chủ rất tốt nhưng ít thăng hoa trong thực tế. Và bây giờ với các mối đe dọa hạt nhân gia tăng và sự thay đổi khí hậu cũng đe dọa sự tồn tại tương lai của nhân loại, tương lai trở nên không còn chắc chắn. Mỹ sẽ bám vào các cuộc chiến tranh chống khủng bố và chiến tranh chống ma túy để duy trì những sự chênh lệch mà George Kennan vạch ra 68 năm trước. Nhưng đó không phải là con đường tiến lên phía trước.

Thế giới có thể nhìn chính trị nội tình Mỹ như một sự tuột dốc xuống sự điên rồ – một dấu hiệu hý hước của sự thất bại hoàn toàn của nền dân chủ Mỹ – nhưng sự thành công của Bernie Sanders người kém thế, và ngay cả những cuộc nổi dậy phản kháng trong các cơ sở của Đảng Cộng Hòa cho thấy người Mỹ đang khao khát có sự thay đổi. Cả Hillary Clinton và Đảng Cộng Hòa, với mối quan hệ gắn bó của họ với giới tài phiệt Phố Wall và các giải pháp quân sự, sẽ không đòi hỏi có sự tôn trọng bên ngoài của một số thành phần hạn chế của dân chúng.

Họ có thể giành chiến thắng, nhưng thời gian của họ bị hạn chế. Mọi người ở khắp mọi nơi đang tuyệt vọng đợi chờ câu trả lời mới, tích cực, tiến bộ. Rõ ràng là một số người như chúng ta thấy hiện nay trên khắp châu Âu, sẽ thiên về giới mỵ dân cánh hữu vào thời điểm khủng hoảng, nhưng điều này ít nhất một phần do cánh tả đã thất bại trong việc cung cấp thứ lãnh đạo mà thế giới cần đến.

Một cánh tả hồi sinh là chìa khóa để cứu lấy hành tinh này. Chúng ta đang không còn thời gian. Con đường phía trước sẽ không dễ dàng. Nhưng chúng ta có thể chiến thắng và phải chiến thắng.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn nguyên tác (original): http://www.pravdareport.com/opinion/columnists/10-05-2016/134368-peter_kuznick-0/#sthash.V2OZWB1n.dpuf

Tham khảo: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

 

Ngày 30 Tháng 4

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2016

Nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30 tháng 4 năm nay 2016, tôi xin kính chuyển đến các độc giả đường link các bài viết sau của tôi:

Ngày 30-4-1975:

Hoàng Hữu Phước: Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/11/ngay-chien-thang-30-4-1975/

Ngày 30-4-1970:

Hoàng Hữu Phước: Hoa Kỳ Và Cuộc Thảm Sát Đại Học Kent https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/12/3041970-3042015-45-nam-tu-cuoc-dan-ap-cua-ve-binh-quoc-gia-hoa-ky-tieu-bang-ohio-tham-sat-sinh-vien-tai-truong-dai-hoc-kent/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hoàng Sa

Tàu Mỹ Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-3-2016

Hoàng Sa gần đây đã trở thành phao cứu sinh cho bất kỳ ai đột ngột muốn hùng biện về lòng yêu nước vì sẽ là luôn là điều đội đá vá trời hay vượt tầm vói hoặc quá tầm với nếu lồng ghép lòng yêu nước với  việc tu thân, tề gia, luyện trí, phát triển kinh tế dựng xây quốc gia cường thịnh. Song, muốn hùng biện cho hay về Hoàng Sa, nhất thiết phải hiểu đúng về Hoàng Sa trong tương quan hiểu rõ về thế giới sử mà từ đó rất có thể sẽ có những cái nhìn tường tận về Tàu, về Mỹ, về ta.

Tàu

Từ cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ của Tàu nhằm “dạy cho Ấn một bài học” do Ấn đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng tỵ nạn chính trị khi Tàu chiếm Tây Tạng 1959, khi ngày 20-10-1962 Tàu ồ ạt tấn công theo thế gọng kìm suốt chiều dài 3.225 km dọc biên giới tự nhiên của dãy Hy Mã Lạp Sơn đánh vào hai trận tuyến Ladakh và McMahon chiếm lấy Rezang La ở phía Tây và Tawang ở phía Đông, thế giới sử đã cho thấy có những sự thật sau:

1- Sự giao tranh đã nổ ra trên quy mô rộng lớn trên nóc nhà của thế giới với điều kiện núi non trùng điệp và hiểm trở cao hơn 4.000 mét đầy băng giá, với một bên là quân Tàu ồ ạt biển người và một bên là quân Ấn với số quân tuần tra ít ỏi trang bị thô sơ. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp tấn công bất ngờ và vào nơi khó ngờ.

2- Cả hai bên chỉ sử dụng bộ binh; và trong khi sự vắng bóng của hải quân hai bên là sự đương nhiên, thì điều kỳ lạ là Ấn Độ hoàn toàn sai lầm khi đã không sử dụng không quân. Vào thời điểm đó, không quân Ấn mạnh hơn, và Tàu đã không thể sử dụng không quân do (a) Tàu chưa phát triển không quân hùng mạnh, (b) địa hình núi non hiểm trở, (c) quân đội Ấn tại dãy Himalaya chỉ có số ít, và (d) vững tin vào chiến thuật biển người tràn ngập dồn Ấn vào thế lưỡng đầu thọ địch theo binh pháp cổ Tàu. Cũng vào thời điểm đó, Ấn chỉ sử dụng không quân để tiếp tế lương thực và đạn dược cho đoàn quân đã bị Tàu đánh cho tan tác, vì (a) lãnh đạo Ấn là Thủ Tướng Nehru bối rối và lúng túng với dàn tướng lĩnh không biết phải đối phó ra sao cũng như chưa bao giờ cho rằng biên cương Himalaya thiên nhiên khắc nghiệt sẽ không làm chùn bước bất cứ mưu đồ xâm chiếm nào, (b) run sợ việc ném bom và không kích sẽ gây nên tội ác lớn vì giết quân Tàu đang ồ ạt xông lên đông hơn kiến trên mặt đất chết như rạ, (c) bàng hoàng vẫn không tin là nước cộng sản mà Ấn đã nhanh chóng công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ lại bất ngờ tấn công mình, và (d) đợi chờ sự ra tay cứu viện của Mỹ và Liên Xô. Điều này cho thấy Tàu đã biết rõ về cung cách của đối phương “dám làm gì” và “không dám làm gì” để xuất chiêu chiếm thế thượng phong.

3- Cuộc tấn công của Tàu nổ ra cùng ngày với biến cố mà thế giới Sử gọi là “Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba” khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau với sự chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp cổ Tàu trong chớp lấy thời cơ bành trướng ngay khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô (nay là Nga) có vấn đề căng thẳng về quân sự.

4- Ngày 20-11-1962 tức sau 32 ngày xâm lược Ấn Độ, Tàu đơn phương tuyên bố rút quân ngay khi hay tin đáp lời kêu gọi của Ấn, Mỹ bắt đầu đưa hàng không mẫu hạm và các chiến đấu cơ đến Ấn. Việc “rút quân” này khiến đặt Mỹ vào tình trạng không thể triển khai chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho Tàu, thậm chí làm Tàu tránh nguy cơ bị đại bại phải mất các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Ấn. Điều này cho thấy Tàu chỉ tuyên bố “rút quân vì đã dạy xong cho kẻ thù một bài học” khi đã đại bại hoặc khi đánh hơi thấy sắp có nguy cơ đại bại.

5- Vào ngày 03-10-1962 tức chỉ chục ngày trước khi xua quân xâm lược Ấn, Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai thăm New Delhi và đã hứa với Thủ Tướng Ấn Jawaharlal Nehru rằng hai nước hữu hảo tốt đẹp sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau. Điều này cho thấy Tàu mỗi khi mở miệng hứa điều gì là chỉ để che đậy một mưu đồ ngược lại.

6- Liên tục trong các năm 1951 và 1952, Tàu tái khẳng định Tàu không có vướng mắc gì về lãnh thổ với Ấn. Tháng 11-1956 Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai tái tuyên bố  rằng Tàu không có tranh chấp gì về lãnh thổ với Ấn nhưng bản đồ chính thức sử dụng toàn quốc của Tàu luôn vẽ nước Tàu gồm luôn 120.000 km2 bên trong lãnh thổ của Ấn. Để rồi sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu lặng lẽ xây dựng hệ thống đường sá cùng các tiền đồn tại vùng Aksai Chin của Ấn từ năm 1956 mà đến 12 năm sau, lúc tất cả đã hoàn tất thì Ấn mới hốt hoảng phát hiện. Thậm chí gần đây vào ngày 15-4-2013 Tàu chiếm 640km lãnh thổ Ấn dọc theo biên giới Depsang, Chumar và Pangong Tso của Ấn; và năm 2014 Tàu lấn sâu vào vùng Burtse ở Ladakh đến 30km và khi binh sĩ Ấn tiến đến, lính Tàu cầm bảng ghi câu tiếng Anh “This is Chinese Territory. Go Back!” (Đây là lãnh thổ Tàu. Hãy lùi lại!). Điều này cho thấy Tàu không bao giờ có tranh chấp lãnh thổ với bất kỳ quốc gia nào cả, mà Tàu chỉ xây dựng cơ sở tại những nơi Tàu bảo đó là của Tàu.

7- Năm 1954 Tàu đề ra khẩu hiệu Hindi-Chini bhai bhai (Ấn-Hoa huynh đệ) cùng Năm Nguyên Tắc Chung Sống Hòa Bình với Ấn Độ, theo đó hai nước sẽ hữu hảo giải quyết các bất đồng . Thủ Tướng Nehru bỏ ngoài tai lời khuyên của Thủ Tướng Ba Swe của Miến Điện (tức Burma, nay là Myanmar) rằng đừng tin những hứa hẹn của Chu Ân Lai. Nehru bị huyễn hoặc bỡi những lời hoa mỹ của Tàu, và thậm chí nhân nhượng Tàu về vấn đề Tây Tạng để hy vọng nhận được từ Tàu sự hình thành một liên minh khối trục Á Châu giữa Ấn và Tàu trên cơ sở đối tác chiến lược hùng mạnh. Hậu quả là sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu tuyên bố vùng Arunachal Pradesh 90.000km2 của Ấn có tên gọi Nam Tây Tạng nên thuộc về Tây Tạng tức thuộc về Tàu do Ấn đã công nhận Tây Tạng thuộc Tàu. Khi đã quá muộn lúc biết được bộ mặt thật của Tàu, Nehru vào năm 1959 chấp nhận cho Đức Dalai Lama tỵ nạn chính trị sau khi Dalai Lama đào thoát khỏi Lhasa vì cuộc khởi nghĩa chống Tàu thất bại. Điều này cho thấy Tàu không bao giờ muốn làm bạn với bất kỳ ai, và chuyên đề ra các khẩu hiệu để sử dụng các khẩu hiệu này như thứ bùa mê thuốc lú để săn mồi.

8- Tàu đã dồn Ấn vào thế bị lấn chiếm, đến độ Ấn sẵn lòng không tiếp tục đòi chủ quyền với phần diện tích 38.000km2 Jammu và Kashmir trong vùng Aksai Chin nếu Tàu không tiếp tục bảo phần diện tích 90.000km2 trong vùng Arunachal Pradesh kể cả Tawang là của Tàu. Điều này cho thấy Tàu luôn giở thủ đoạn chây lỳ tức kéo dài thời gian cho mọi sự trở thành việc đã rồi trong bành trướng xâm lược để những khi không thể ra tay sáp nhập bằng vũ lực thì cứ tự động vẽ bản đồ gồm thâu luôn lãnh thổ hay lãnh hải nước khác mà không cần tài liệu chứng minh chủ quyền, và tự động đổ quân đến đồn trú xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự và dân dụng.

Mỹ

Việc Mỹ đã không có tầm nhìn chiến lược quân-địa-chính-kinh-tài đã quá hiển nhiên không thể nào chối cãi. Vì không có tầm nhìn xa tối thiểu 50 năm, Mỹ đã xem Việt Nam như kẻ thù phải diệt tiêu bằng mọi giá, kể cả ủng hộ Tàu (mà Việt Nam dũng cảm gọi thẳng là Trung Quốc) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và ủng hộ chư hầu của Tàu là Campuchia (mà Việt Nam hay ỏn ẻn gọi là Khmer Đỏ chứ không dám gọi tên nước) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Khi 70.000 dân quân Việt Nam đánh tan 700.000 chiến binh tinh nhuệ Tàu bỏ chạy về bên kia biên giới, Mỹ không có cớ cấm vận Việt Nam vì Việt Nam không bước qua đường biên giới Việt-Tàu trên dường truy sát giặc Tàu. Mỹ vội có nhiều bài báo nói Tàu đã rút quân sau khi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi dân quân Việt Nam đánh bật Campuchia ra khỏi lãnh thổ, đồng thời nhận thấy nhân dân Campuchia bị nạn diệt chủng do chính phủ Campuchia điên loạn mà thế giới làm ngơ, Việt Nam đành tiến quân qua bên kia đường biên giới truy sát tiêu diệt chính phủ quái vật của Campuchia “once and for all” (kiểu Mỹ: một lần cho tuyệt mối họa về sau), thì Mỹ lập tức xem như có cơ hội bằng vàng để tuyên bố cấm vận kinh tế Việt Nam vì tội xâm lược Campuchia. Mỹ sau đó tăng cường viện trợ cho Campuchia, giúp Campuchia đoạt các đơn hàng khổng lồ về may mặc do Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO tận tình tận tụy tận tâm chỉ dẫn chỉ bảo chỉ dạy Campuchia đáp ứng các yêu cầu về tổ chức công đoàn kiểu Mỹ và tổ chức sản xuất để cấp cho Campuchia giấy thông hành ưu tiên bán hàng vào Âu Mỹ. Cấm vận Việt Nam để bần cùng hóa Việt Nam, giúp đỡ Campuchia để tước luôn khả năng kiếm sống bằng nghề may mặc của Việt Nam, Mỹ đã như kẻ thất học không nhìn xa trông rộng. Việt Nam yếu đi, dẫn đến sự lấn lướt của Tàu, đe dọa cả ASEAN. Campuchia mạnh hơn, và Campuchia trở về cạnh Tàu để phản phúc Mỹ, trở thành con ngựa thành Troy làm Mỹ muối mặt ở hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Nhận ra việc Việt Nam là chỗ dựa về an ninh cho cả khu vực ASEAN từ đó bảo vệ được Châu Đại Dương với vùng Nam Cực có nhiều căn cứ nghiên cứu tối mật của Mỹ, Mỹ đã có những bước đi đúng nhưng muộn màng. Đúng, chẳng hạn như mời Việt Nam làm một thành viên của Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Đúng, chẳng hạn như đã nhận ra tầm quan trọng cực kỳ của Biển Đông. Muộn màng vì Việt Nam bây giờ mới được Mỹ xem trọng để yên thân leo lên được ngưỡng đầu tiên của  sự phát triển, thay vì đã hùng mạnh hùng cường từ nhiều chục năm trước – với sự giúp đỡ của Mỹ. Muộn màng, vì Tàu đã quá mạnh đối với Mỹ và thế giới khi đầu tư Tàu tràn ngập thế giới từ Châu Phi ngập tràn khoáng sản đến khu vực Nam Mỹ trực tiếp đe dọa Mỹ từ phía Nam, từ thực tế đồng tiền Tàu đã thành tự do chuyển đổi, và từ thực tế Tàu thành lập hệ thống các ngân hàng cạnh tranh với cả các định chế tài chính như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, hay Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ADB, v.v.

Việc Mỹ đưa các chiến hạm đến Biển Đông với chiêu bài xoay trục về hướng Đông đã không tôn được vị thế và vai trò của Mỹ ở khu vực này của thế giới. Khi Mỹ hùng dũng tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý đối với các đảo trên Biển Đông mà Trung Quốc chiếm hữu tiến hành xây dựng sân bay bến cảng, Mỹ đã chỉ làm Tàu cười to nhạo báng, vì rằng “khi anh tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý, nghĩa là anh tuần tra cách các đảo chìm đảo nổi của tôi 12 hải lý, cũng có nghĩa là anh mặc nhiên thừa nhận rằng các đảo ấy là của tôi, thuộc chủ quyền của tôi! Ngay cả một tuyên bố thôi mà Mỹ cũng hoặc bất cẩn hoặc do biết chính mình bó tay không thể làm gì khác hơn được.

Ta

Sau khi đã biết Tàu đốn mạt như thế và Mỹ thiếu tầm nhìn như thế, ta sẽ nói gì – hay làm gì – về Hoàng Sa?

Nói Hoàng Sa đã là lịch sử, thì thế nào cũng có kẻ hê lên rằng: “Thế mầy dâng cho Tàu luôn à, thằng tay sai Tàu?

Nói Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, thì thế nào cũng có kẻ hét lên rằng: “Thế sao không kiện Tàu? Không đánh Tàu để đòi lại?”

Nói bây giờ Tàu tiến xuống chiếm mấy đảo của Trường Sa, thế nào cũng có kẻ gầm lên rằng: “Chính phủ vô dụng. Đảng vô dụng. Hèn nhát. Không dám làm gì.”

Chẳng ai đặt câu hỏi khi tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc, bị đánh cho đại bại phải rút về Tàu, quân Tàu do bản chất mất dạy có cố vớt vát vừa ở lỳ trên vài kí lô mét vuông đất nào của Việt Nam vừa hét lên rằng đó là đất của nó mà nó đã thua chạy về phần đất của nó rồi, vậy sao còn xâm lược nó? Có hay không việc Tàu đã giở thói lưu manh đó như nó đã từng làm với Ấn Độ để chiếm giữ một ít đất của ta?

Việc Tàu đưa ra lập luận “đường chín đoạn” mà ta gọi là “đường lưỡi bò” là để chiếm hữu toàn bộ Biển Đông, biến Việt Nam chỉ còn có thể cho tàu thuyền đi sát bờ biển, và tất cả các máy bay dân sự Việt Nam sẽ bị tên lửa đất đối không của Tàu bắn hạ nếu bay trên Biển Đông mà Tàu bảo là thuộc lãnh hải của Tàu. Tất nhiên toàn bộ các mỏ dầu hỏa của Việt Nam bây giờ tự động nằm bên trong cái đường lưỡi bò ấy. Việc Tàu sau khi đã chiếm hữu Hoàng Sa, nay tiến xuống Trường Sa chỉ là một bước tiếp theo chứ không phải là sự lấn chiếm lần lượt hết đảo này đến đảo khác để cho dân Tàu có “ngư trường” đánh bắt hải sản. Mưu đồ thâm độc và táo tợn, ghê gớm hơn nhiều, chứ không chỉ là chiếm đảo: chiếm toàn bộ Biển Đông, từ đó làm suy yếu toàn bộ ASEAN để chiếm cả ASEAN từ đó tiến xuống Châu Đại Dương và đẩy Mỹ khỏi Nam Cực.

Thay vì hùng dũng đặt câu hỏi chất vấn vì sao sách giáo khoa Sử vẫn chưa có viết về Hoàng Sa, hãy quan tâm đến những điều thiết thực sau:

1) Một sự việc được ghi vào sử sách luôn sau một thời gian hàn lâm hạn định tối thiểu 50 năm hoặc hơn, tùy theo từng loại sử liệu mà chính phủ mỗi nước quy định.

2) Trước khi Hoàng Sa được ghi vào sử sách, việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa phải luôn được tiến hành, đặc biệt khai thác các tài liệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng như của thế giới, tính cả đến việc chờ đợi đến khi Chính Phủ Mỹ cho phép tiếp cận các hồ sơ mật về chiến tranh Việt Nam để giải mã các sự kiện, sau 50 năm hay 90 năm. Việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa như nói trên được thực hiện bởi các tổ chức Sử và cá nhân các nhà nghiên cứu Sử, chứ không bao giờ là của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo vì tại tất cả các nước Bộ Giáo Dục chỉ sử dụng các pho lịch sử để lên chương trình học chứ không đứng ra tổ chức nghiên cứu Sử. Câu hỏi do đó hãy đặt ra cho các viện Sử học, các tổ chức nghiên cứu Sử, các nhà nghiên cứu Sử, viết khảo luận Sử, v.v., và tất cả các công trình đều phải cơ sở dữ liệu tham khảo chi tiết từ nguồn của Việt Nam và nguồn của nước ngoài, có liệt kê cuối mỗi công trình để tăng mức độ đáng tin cậy, và sau thời gian dài tranh luận, tranh cãi, thẩm tra, bút chiến, lúc các tài liệu khảo cứu biến thành sử liệu, các pho sử tân biên với các phần bổ sung sẽ được hình thành để các trường học sử dụng dạy Sử. Chính các sử gia, các nhà nghiên cứu sử, mới là những người duy nhất có trách nhiệm phải làm tất cả, từ kiếm tìm tài liệu, dịch thuật tài liệu, kiểm chứng tài liệu, hình thành tác phẩm về Hoàng Sa. Đây là việc của họ, vì đó là chuyên môn nghiệp vụ của họ, vì đó là quy trình tất yêu của sử liệu và pho sử, và vì đó cũng là kế sinh nhai của họ, đem lại cho họ nguồn thu nhập đương nhiên.

3) Không những chỉ có Hoàng Sa, mà Trường Sa cùng tất cả các đảo khác dù nhỏ dù lớn như Phú Quốc hay Côn Đảo cũng nhất thiết cần được sưu tầm tài liệu, cập nhật dữ liệu, vì chưa nói đến chuyện kiện tụng ra tòa án quốc tế đòi công lý chủ quyền, việc tập trung tài liệu đủ đầy sớm ngay từ trước luôn là cách tốt nhất phục vụ cho những đòi hỏi chủ quyền cho quốc gia khi hiểm họa tranh chấp chủ quyền không chỉ là một nguy cơ tiềm tàng, và khi khu vực có tồn tại một kẻ lưu manh mất dạy như Tàu.

4) Không để mất thêm những Hoàng Sa, nhất thiết phải có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh. Để có tiềm lực ấy phải có rất nhiều tiền. Để có rất nhiều tiền phải phát triển kinh tế vượt bậc. Để phát triển kinh tế vượt bậc phải có những con người xuất sắc. Để có những con người xuất sắc, giáo dục đạo đức của gia đình là tối quan trọng, tự rèn luyện của bản thân là tiên quyết, đào tạo của nhà trường là định hướng, và cơ chế chính sách là lực đẩy.

Tàu đã cướp Hoàng Sa bằng quân sự.

Tàu đang cướp Trường Sa bằng sự trơ tráo.

Tàu đang cướp Biển Đông bằng sự lưu manh.

Tàu đang cướp lúa gạo vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng cách gây hạn hán từ chuỗi đập thủy điện liên hoàn ở thượng nguồn Mekong.

Tàu đang cướp sự sống của dân Việt bằng các sản phẩm độc hại gây bịnh.

Vì tất cả các lý do trên, ta không trông mong gì Tàu sẽ trả lại cho ta Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông.

Vì tất cả các lý do trên, ta không thể kỳ vọng lớn vào Mỹ vì Mỹ đã mặc nhiên tuyên bố tuần tra 12 hải lý nghĩa là không dám tiến sát các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Vì tất cả các lý do trên, ta không chỉ có đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và các đảo ở Trường Sa, mà ta còn phải tranh đấu để dành lại sự sống còn của đất nước và dân tộc.

Đó mới là hiểu đúng nhất về Hoàng Sa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Bài 3: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-02-2016

Là một quốc gia không có nguồn nhân lực có ý chí cực cao, tính kỹ luật cực cao, sự trung thành cực cao đối với chế độ chính trị nước nhà, sự khôn ngoan cực cao làm chúa ngoại bang chớ không làm tôi tớ ngoại bang, và có sự giúp đỡ cực cao của Mỹ như Nhật Bản, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc nhất vô nhị của Nhật Bản để được hùng mạnh về kinh tế như Nhật Bản.

Có một thực tế ở Việt Nam là hay có dư luận dù vô tình bởi người thiếu hiểu biết hay dù cố ý bởi kẻ chăm chỉ chống chế độ cộng sản đều hay sử dụng Nhật Bản dù chỉ là một cái cớ rất nghèo nàn yếu đuối để chứng minh Cộng sản Việt Nam Cộng Sản đã thất bại không thể xây dựng được nền kinh tế thần kỳ như Nhật Bản do Nhật Bản cũng trải qua sự tàn phá kiệt quệ sau chiến tranh có khi còn tàn khốc hơn cả Việt Nam.

Tất nhiên, do Việt Nam chỉ lo tập trung vào các môn Lịch Sử Việt và Lịch Sử Đảng khiến học sinh trung học thì “dốt” Sử còn nhà sử học thì chỉ giỏi phát biểu về Việt Sử trong khi sách sử thì ai cũng có thể đọc được và biết được, chẳng cần phải có các vị nhà sử học ấy làm gì cho chật chội tháp ngà hàn lâm vốn đã chưa từng cao và không còn rộng, những kẻ thậm chí góp phần miệt thị môn Sử qua việc chẳng làm gì ra hồn khiến cho môn Sử lụn bại đến nỗi bị loại ra khỏi tất cả các kỳ thi cuối lớp hay cuối cấp ở trung học. Còn môn Thế Giới Sử thì đã biến mất cùng với sự sụp đổ Việt Nam Cộng Hòa nên ở Việt Nam ngày nay mỗi khi nói đến “Sử” thì người ta chỉ biết đó là “lịch sử Việt Nam” mà quan trọng nhất là môn Lịch Sử Đảng – tất cả khiến có sự mù mờ về lịch sử thế giới và sự thần phục Singapore – còn đối tượng của bài này là Nhật Bản – xuất hiện như sự đương nhiên, tất nhiên, hiển nhiên, và dĩ nhiên là tự nhiên. Bài viết này, do đó, trở thành một dẫn chứng về những sự thật lịch sử của thế giới hầu giúp lành mạnh hóa giới trẻ nai tơ và vô hiệu hóa các bài bản công kích của Việt gian cáo già nhắm vào Việt Nam Cộng Sản, theo các nội dung chính sau:

ScreenShot1109

A) Tội Ác Ngút Trời Của Nhật Bản Trong Đệ Nhị Thế Chiến

Giới cầm quyền Nhật Bản bị quy phải chịu trách nhiệm đã tàn sát nhiều triệu thường dân và tù binh chiến tranh tại các quốc gia Nhật chiếm đóng mà hình ảnh trữ lưu như các “chiến tích anh hùng” của các sĩ quan và chiến binh Nhật Bản cho thấy từ những cảnh xử tử bằng súng cho đến chặt đầu và chôn sống tù nhân, mà chỉ trong một cuộc thảm sát Nam Kinh thôi cũng đã có 300.000 hàng binh Trung Quốc bị xử tử và 80.000 phụ nữ dân thường từ 10 đến 80 tuổi kể cả các nữ tu bị hãm hiếp trước khi bị sát hại bằng cách cắt rời hoặc đóng cọc sắt vào bộ phận sinh dục của họ, hoặc bị bắt theo làm nô lệ tình dục phục vụ quân đội Thiên Hoàng. Những hình chụp hai chiến binh Nhật Bản đứng cầm khoe hai chiếc thủ cấp chiến sĩ Việt Minh bên cạnh hai thi thể không đầu của họ, hoặc hình chụp hai sĩ quan Nhật cầm gươm hãnh diện cá cược với nhau ai sẽ là người tự mình dùng gươm chặt đầu 100 tù binh trước, v.v., cho thấy sự tàn bạo tập thể mà mức độ của nó ắt khó thể so sánh ai-hơn-ai với các cuộc thảm sát của các đế chế thời Trung Cổ hay của Campuchia thời hiện đại. Xua quân gieo rắc kinh hoàng trên quy mô thế giới thì toàn nhân loại cận đại chỉ có Thiên Hoàng Chiêu Hòa Hirohito, chí ít xét về mức độ tàn bạo của các cuộc chinh phạt Châu Âu của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn cùng các hậu duệ Mông Cổ, và chín cuộc Thập Tự Chinh chính thức mà thế giới Cơ-đốc giáo dưới lịnh các Đức Giáo Hoàng tiến hành xâm lược cướp bóc tàn phá thế giới Hồi Giáo trong thời gian từ năm 1095 đến 1291.

B) Lý Do Mỹ Cấp Viện Trợ Khổng Lồ Cho Nhật Bản

Cùng với đại tội hình thành Khối Trục Đức-Ý-Nhật gây ra Đệ Nhị Thế Chiến cũng như các tội ác ngút trời nêu trên, Nhật Bản còn gây thiệt hại nặng nề cho Hải Quân Hoa Kỳ trên mặt biển, thậm chí còn táo tợn chế tạo được cả tàu ngầm khủng khiếp khổng lồ Sentoku Lớp I-400 có thể đi một vòng rưỡi quanh trái đất không cần tiếp nhiên liệu, đặc biệt mỗi chiếc có thể chứa trong lòng tàu những ba chiến đấu cơ không kích M6A1, lặn đi vòng qua Mũi Horn Nam Mỹ định tấn công Hoa Kỳ bằng không quân từ phía Đại Tây Dương hầu biến Hoa Kỳ bị phơi mình trước các cuộc không kích của Nhật Bản từ hai phía Đông và Tây. Tuy nhiên, Nhật Bản không kịp triển khai các cuộc tấn công Mỹ từ Đại Tây Dương và cũng không kịp đánh đắm tất cả các tàu ngầm I-400, nên Mỹ đã bắt được một chiếc “tầu ngầm sân bay” I-400 đầu hàng để khẩn cấp đổ các nhà kỹ thuật đến khẩn trương nghiên cứu công nghệ (sau này mô phỏng theo mà chế ra tàu ngầm lợi hại hơn, hợp lý hơn: phóng tên lửa tấn công có mang đầu đạn hạt nhân) trước khi nổ bom phá tan đánh chìm do không muốn phải chia sẻ với Liên Xô (do đã có thỏa ước với Liên Xô theo đó tất cả các vũ khí hiện đại của Khối Trục nếu bị tịch thu phải để các “đồng minh” cùng nhau nghiên cứu). Ấy vậy mà đối với kẻ thù táo tợn đến như thế, Mỹ lại đã ra tay cứu vớt mà thế giới sử đã có các ghi nhận các lý do như sau:

1) Gây hấn với Liên Xô do vầy đoàn với Đức và Ý trong Khối Trục, và gây chiến trực tiếp với Liên Xô trên lãnh thổ phía Đông của Nga tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Nhật vào thời điểm cuối Thế Chiến khi Đức và Ý đã bị Liên Xô đánh tan nát và Liên Xô hủy diệt đạo quân Quan Đông của Nhật, xóa sổ Mãn Châu Quốc mà Nhật đã dựng nên, khiến triệt tiêu bộ binh Nhật Bản ở Trung Quốc, làm nghiêng lệch cán cân cuộc chiến, Nhật Bản đã hốt hoảng trước việc Liên Xô sắp thừa thắng vượt biển tấn công trừng phạt và chiếm luôn Nhật Bản. Mỹ và Nhật Bản đã cùng có hành động kỳ dị như nhau: đối với Nhật Bản đã kiệt quệ thua trên tất cả các mặt trận sắp buộc phải đầu hàng trong ngày một ngày hai, Mỹ vội vàng hấp tấp ném ngay hai quả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima và Nagasaki để (a) thị uy với Liên Xô và (b) giúp Nhật có cớ để tuyên bố đầu hàng; còn Nhật chỉ chờ có thế để vội vàng đầu hàng Mỹ dù biết Mỹ không có thêm quả bom nguyên tử nào khác. Sự đầu hàng Mỹ của Nhật Bản được đặt ra với điều kiện tiên quyết là Nhật Hoàng Hirohito cùng toàn bộ hoàng gia kể cả các hoàng tử vương công khét tiếng tàn ác diệt chủng như Chichibu, Asaka, Takeda, và Higashikuni phải được Mỹ cam đoan không bị đưa ra tòa án quốc tế về (a) tội phạm chiến tranh, (b) tội phạm chống nhân loại, và (c) tội phạm chống hòa bình hầu tránh các án tử hình dù các nhân vật này nắm quyền lực chính trong chỉ đạo và trực tiếp tiến hành chiến tranh thế giới ở Châu Á – Thái Bình Dương. Để chặn đà tiến của cộng sản Nga ra Thái Bình Dương, Mỹ đã chấp nhận điều kiện của Nhật Bản, và cuộc đầu hàng đã diễn ra nhanh chóng trong 23 phút trên chiến hạm USS Missouri của Hoa Kỳ. Hoàng Đế Nhật Bản được Hoa Kỳ biến thành vị vua chỉ là biểu tượng quốc gia không quyền lực nên không phải chịu trách nhiệm gì. Hoa Kỳ được Nhật Bản trao cho danh dự giải phóng Châu Á – Thái Bình Dương, tước danh dự này khỏi tay Liên Xô một cách ngoạn mục. Hoàng gia Nhật Bản hoàn toàn thoát tội. Và ngay cả các quan tướng cao cấp dù phải làm bình phong chịu bị kết án nhưng sau đó đều được hoặc Tướng Mỹ Douglas MacArthur cứu vớt hoặc được các tổng thống Mỹ lần lượt ân xá, như Mamoru Shigemitsu (sau này trở thành Bộ trưởng Ngoại Giao), Okinori Kaya (sau này làm Bộ Trưởng Tài Chính), cùng những cái tên khét tiếng tàn bạo khác như Hashimoto Kingoro, Hata Shunroku, Minami Jiro, Oka Takazumi, Araki Sadao, Hiranuma Kiichiro, Hoshino Naoki, Kaya Okinori, Kido Koichi, Oshima Hiroshi, Shimada Shigetaro, và Suzuki Teiichi, v.v., đều được ân xá, không như các “đồng chí” Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý của họ bị tòa án Nuremberg lôi xềnh xệch lên giảo đài treo cổ tại trời Âu.

2) Dù chương trình tái thiết hậu chiến mang tên Kế Hoạch Marshall do Mỹ tài trợ không bao gồm Nhật Bản, Mỹ vẫn hỗ trợ Nhật Bản hồi phục và phát triển kinh tế bằng cách biến Nhật Bản thành cơ sở hậu cần cung cấp vật tư phương tiện vận tải chiến tranh cho Mỹ và Liên Hợp Quốc trong chiến tranh Nam-Bắc Hàn, khiến Nhật Bản nhận được một nguồn thu thậm chí còn lớn hơn gấp nhiều lần bất kỳ các quốc gia nào khác của Châu Âu có nằm trong danh sách nhận viện trợ tái thiết của Mỹ từ Kế Hoạch Marshall.

3) Ngoài ra, Nhật Bản còn được Mỹ xem như vòng cung tuyệt diệu phối hợp cùng Hàn Quốc trong ngăn chặn và kềm chế sự bung ra Thái Bình Dương của Trung Quốc, giúp giữ an toàn cho bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ tức Thái Bình Dương.

Như vậy, vừa thoát tất cả các sự trừng trị của quốc tế để bảo toàn danh dự cho hoàng đế và hoàng tộc, vừa được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 5 năm sau Thế Chiến, Nhật Bản đã đạt mức tăng trưởng GDP cao hơn cả chính Hoa Kỳ. Các thuận lợi ấy đều phải tính đến giá trị nhận được cao nhất của Nhật Bản là chính sự tiếp tục tồn tại của hoàng triều đã (a) duy trì lòng tự hào dân tộc, (b) các giá trị đặc thù dân tộc tính không bị tổn thương hay bị xúc phạm nên tính cách Nhật được tồn tại và phát huy mạnh mẽ hơn dù theo một đường hướng mới chinh phạt và chinh phục khác, (c) các tủi hổ tủi nhục không có cơ hội tồn tại vì đã có cái cớ “bị Mỹ tàn ác ném bom nguyên tử nên hoàng đế phải vì cứu dân mà tuyên bố đầu hàng” chứ quân đội Thiên Hoàng không bao giờ thất trận, và (d) người Nhật nhất thiết phải tạo ánh hào quang mới để vinh danh Nhật Bản trên trường quốc tế: đó là khoa học kỹ thuật hiện đại của đất nước đã từng chế tạo thành công tàu ngầm sân bay I-400 suýt nữa đã gây tang thương ngẫu lục ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ từ hai phía Đông và Tây.

C) Tam Đại Ngu Của Nhật Bản

Nhật Bản lẽ ra ngày nay là quốc gia rộng lớn nhất thế giới, và do đó đồng thời là siêu cường đứng đầu thế giới, nếu như Chiêu Hòa Thiên Hoàng Hirohito có dưới trướng những vị quân sư có tầm nhìn chiến lược của những nhà chinh phục chiến thắng, thay vì những thầy dùi chỉ có tầm nhìn chiến thuật của những kẻ lầm lũi chinh phạt đại bại. Ba viện dẫn cho sự ngu xuẩn khiến ngày nay Nhật Bản chỉ là một đảo quốc nhỏ bé bị bủa vây bởi thiên tai và sự đe dọa của Trung Quốc cũng như sự hằn học của Hàn Quốc gồm:

1- Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên vĩnh viễn dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Japonchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản lại hùa theo Khối Trục để chõi lại với Liên Xô. Đây là cái đại ngu thứ nhất: đã không biết gì về sức mạnh muôn đời của Nga dù là của chế độ Sa Hoàng, của chế độ cộng sản Liên Xô hay của chế độ phi cộng sản Nga.

2– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Nipponchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản với số dân ít ỏi lại muốn làm bá chủ trực tiếp cai trị cả vùng Châu Á – Thái Bình Dương, tức biến Nhật Bản thành một siêu quốc gia tức lớn hơn cả “đế quốc Đại Đông Á” vốn đã quá khổng lồ so với “đế quốc Tân Nhật Bản Nipponchin”. Đây là cái đại ngu thứ nhì: đã (a) tấn công Trân Châu Cảng tàn phá căn cứ hải quân Hoa Kỳ, (b) tìm diệt các hạm đội Hoa Kỳ trên toàn Thái Bình Dương, (c) tìm diệt các binh đoàn Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, và do đó (d) tạo thêm kẻ thù Hoa Kỳ hùng mạnh mới, khiến sự dàn trải quá rộng trên phần địa lý chiếm phân nửa địa cầu làm tiêu hao sinh lực quốc gia, đẩy Nhật Bản đến sự diệt vong lẽ ra không bao giờ có thể là sự thật.

3– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra phải dừng lại và đứng sững vĩnh viễn ngay tại trước cột mốc biên giới Việt Nam. Đây là cái đại ngu thứ ba, song lại là cái đại ngu lớn nhất, vì rằng đã chưa từng biết Việt Nam mãi mãi là tử địa muôn đời đối với bất kỳ thế lực đế quốc nào dù hùng mạnh đến đâu chăng nữa. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu cả Châu Âu bằng cách đánh bại bộ binh và kỵ binh của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn và hậu duệ của ông, khiến vó ngựa chinh phục của Mông Cổ phải dừng lại vĩnh viễn trước khi đến được bờ biển Đại Tây Dương, giúp các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Đức, Ý, v.v., có cơ hội vàng tồn tại để sau đó trở thành các thực thể đế quốc thậm chí có kẻ dám hổn láo bất hiếu bất mục xâm lược đô hộ Việt Nam. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu Nhật Bản bằng cách đánh bại các hạm đội thủy quân và hải quân Tàu khiến Tàu không thể tiến ra biển khơi tóm thâu Nhật Bản, mà Sử Tàu giỏi lắm cũng chỉ có đoạn viết ngợi ca mấy con tàu chỉ dám giong buồm mon men dọc theo sát bờ biển tiến đánh Đại Hàn để hình thành tiểu thuyết dã sử Tiết Nhân Quý Chinh Đông nhảm nhí. Trong thời cận đại, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cổ điển, khiến Pháp – và sau đó là hiệu ứng domino xô sập các đế quốc Châu Âu – mất đi các thuộc địa, làm cho Vương Quốc Anh dù mon men theo đóm ăn tàn đổ bộ Việt Nam toan tiếp nhận thuộc địa từ tay Pháp cũng phải vội vã rút quân, thay đổi chiến lược và chiến thuật, biến các thuộc địa của Anh trở thành các quốc gia độc lập trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thay vì mất trắng mất sạch thuộc địa. Tương tự, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới qua việc đánh bại Hoa Kỳ.

Từ ba đại ngu của Nhật Bản, nhân loại có thể rút ra ba bài học quý báu rằng nếu muốn sống còn hay còn sống thì (a) đừng bao giờ chọc giận Nga phải ra tay, (b) đừng bao giờ chọc giận Hoa Kỳ phải xuất chiêu, và (c) đừng bao giờ chọc giận Việt Nam phải động thủ. Tất nhiên là về quân sự.

D) Tứ Đại Phúc Của Nhật Bản

Thế giới – kể cả các tiểu thế giới chống cộng – đều biết nhiều, viết nhiều, và nói nhiều về sự thần kỳ của sức mạnh Nhật Bản. Lập lại các lời khen tặng đó trong bài viết này sẽ chỉ biến người viết thành kẻ thuộc đẳng cấp tầm thường. Nếu như sự đại bại của Nhật Bản là hậu quả của ba điều ngu muội lớn mà tiếng Hán Việt gọi là “tam đại ngu” thì sự vươn lên tuyệt vời của Nhật Bản không thể không nói đến “tứ đại phúc” tuyệt diệu cơ duyên Trời ban vĩ đại độc đáo sau, khiến mỗi người dân Nhật Bản có bốn chí khí không thể bắt gặp nơi bất kỳ dân tộc nào trên toàn thế giới:

1- Trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của nước nhà

Người Nhật là minh chứng cho tất cả các giải nghĩa giải thích thế nào là “trung thành tuyệt đối” khi hoàng gia của họ là độc nhất vô nhị duy trì quyền lực từ thủa xa xưa cho đến nay, bất kể trong cái “ngàn xưa” ấy thể chế quân chủ chuyên chế của họ có hà khắc bạo tàn đến đâu chăng nữa. Muốn đất nước hùng mạnh thì đất nước phải có con người hùng mạnh, và muốn trở thành con người hùng mạnh cần thiết cho một quốc gia thì bản thân người ấy phải trung thành tuyệt đối với thể chế chính trị nước nhà. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu không có đức tính trung thành tuyệt đối giống y hệt của người Nhật Bản.

2- Tận tụy hy sinh vì đất nước ngay cả trong mặt trận hiền hòa của giáo dục và đào tạo

Người ta chỉ hay nói đến các chiến binh Nhật Bản xa xưa với tinh thần được gọi quen thuộc là “tinh thần võ sĩ đạo Samurai” với hành động Seppuku tức Hara-kiri tức là dùng ngọn dao “tantō” tự mổ bụng tự sát để bảo toàn thanh danh trung thành trung tín đến cùng, bất kể đó là lòng tận trung của một nam nhân đối với chủ nhân là hoàng đế hay chỉ là một chủ nhân. Đến thời cận đại, người ta lại nói đến các phi đội Thần Phong Kamikaze với bao phi công cảm tử lái máy bay chở đầy bom lao xuống các ống khói của các hàng không mẫu hạm và soái hạm Hoa Kỳ để làm nổ tung đánh chìm các chiến hạm này. Tuy nhiên, sự tận tụy hy sinh của người Nhật Bản hầu như chỉ được nhắc đến ở Hara-kiri và Kamikaze khiến có sự lầm tưởng rằng sự dữ dội chỉ có nơi các chiến binh Nhật Bản đối với quân thù. Người ta ít khi nhớ đến sự thật rằng đã có những sự việc cho thấy trong khi Samurai dữ dội liên quan đặc thù đến những võ sĩ dũng mãnh, thì sự dữ dội còn được thể hiện bởi các văn nhân hiền hòa, qua các giai thoại về những du học sinh Nhật Bản tại Mỹ đã tình nguyện tự sát theo kiểu hara-kiri mà Mỹ và thế giới lầm tưởng là “thói quen mổ bụng của người Nhật” nên mất cảnh giác, giúp các du học sinh Nhật Bản khác có thể nhét dấu tài liệu tình báo khoa học kỹ thuật thu thập được của Mỹ vào bên trong xác các du học sinh tự sát ấy trước khi khâu vá ổ bụng lại để đưa linh cữu về Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng phát triển đội ngũ khoa học gia và kỹ thuật gia tiên tiến, trở thành siêu cường quốc công nghệ hàng đầu thế giới. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản chê bai Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên bỏ sang Mỹ học để bỏ Nhật Bản. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản lại không cho rằng chính vì Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên phải sang Mỹ học để bằng mọi giá đem được về Nhật Bản các “tài sản trí tuệ khoa học Mỹ” để giúp Nhật Bản hùng cường. Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu” bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Người viết bài này khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện, một “nhân sĩ chí sĩ” người Hà Nội đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị”, trở về hoạt động chính trị chống “Cộng”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ, trở thành một học giả thường được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của tác giả bài blog này đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài ấy. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu như đức tính tận tụy hy sinh dữ dội không tồn tại nơi tất cả người dân thuộc tất cả ngành nghề dù võ hay văn.

3- Dũng mãnh vươn ra thế giới toàn cầu hóa với tinh thần bài ngoại triệt để

Từ xua quân tràn ngập phân nửa địa cầu làm bá chủ Đại Đông Á và Thái Bình Dương, Nhật Bản đã xua sản phẩm công nghệ cao chất lượng tuyệt hảo tràn ngập toàn bộ địa cầu, đẩy ngay cả tượng đài công nghiệp vĩ đại nhất thế giới là Đức Quốc lùi vào bóng tối của kẻ chiếu dưới. Các công ty Nhật Bản có mặt ở nơi nơi. Và sự cúi đầu chào cung kính của người Nhật Bản gióng lên hồi chuông cảnh báo toàn cầu mà thành ngữ stoop to conquer (nhún nhường nhu mì hạ mình để chinh phạt) của tác phẩm She Stoops to Conquer của kịch tác gia Oliver Goldsmith thế kỷ XVIII là thích hợp nhất, vì cùng với thái độ lịch sự cung kính cúi rạp người của doanh nhân Nhật là sự cứng rắn dứt khoát phải sử dụng xe ô-tô do Nhật sản xuất dù đang công tác tại bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới. Chính các doanh nhân Nhật đã khiến các doanh nhân Đức tại Việt Nam buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Đức, và doanh nhân Pháp buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Pháp khi làm việc tại Việt Nam. Tất nhiên, doanh nhân các quốc tịch khác tại Việt Nam thì ưu tiên dùng xe ô-tô…Nhật. Nếu stoop vì ươn hèn, khom mọp mình luồn cúi ngoại nhân, thì đó không là tư cách người Nhật Bản mà là của giống dân nào đó. Nếu stoop để ru ngủ đối phương tiến đến mất cảnh giác, thì đây là một chiêu thức võ thuật tuyệt luân của nhà chinh phạt và chinh phục mà người Nhật Bản là bậc thầy duy nhất. Nếu bài ngoại để gây ác cảm với thiên hạ, tự cô lập hóa mình, thì đó không là tư thế người Nhật Bản. Nếu bài ngoại để khiến thiên hạ phải kính sợ mình, biến bài ngoại thành một thương hiệu dân tộc tính tích cực đầy hấp dẫn (nghĩa là: tôi dứt khoát chỉ xài hàng hóa của nước tôi vì đó là hàng tốt nhất thế giới, anh mua dùng đi rồi sẽ biết), thì đó chính là tư thế chỉ có nơi người Nhật Bản.

4- Nỗ lực chỉ làm chúa ngoại bang chứ không làm tôi mọi cho ngoại bang

Đây là đặc điểm tuyệt vời của người Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng trở thành siêu cường kinh tế thế giới. Hãng Toyota đã từng vung tiền “bứng” được một CEO người Mỹ của một công ty Mỹ về làm tổng giám đốc Toyota tại Nhật Bản. Người dân nước khác – trong đó có người Việt – thường lấy làm vinh dự khi được các công ty lớn ở nước ngoài tuyển dụng, nhất là khi cơ quan tuyển dụng thuộc cỡ như cơ quan nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ NASA, nhưng chẳng ai nhận ra một sự thật là dường như chẳng nghe hay rất ít khi nghe nói đến một người Nhật nào đó được tuyển dụng bởi các cơ quan khổng lồ tương tự. Chính vì vậy mà Nhật Bản chế tạo phi cơ tiêm kích, máy bay cường kích; hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, chiến hạm; sản xuất vệ tinh nhân tạo và tự phóng vệ tinh nhân tạo, v.v., trong khi người dân các nước khác – trong đó có người Việt – dù làm việc cho NASA thì cũng chỉ là người lao động làm công ăn lương chứ không bao giờ được nắm bắt các công nghệ kỹ thuật để các nước của họ – trong đó có Việt Nam – chế tạo được ngần ấy thứ như Nhật Bản.

Người Nhật Bản biết chính họ mới làm Nhật Bản thành cường quốc. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – chất vấn cật vấn tra vấn Chính phủ nước họ tại sao Chính phủ vẫn chưa luyện xong phép màu hô biến làm cho nước họ thành cường quốc.

Người Nhật Bản biết nước họ nhỏ hẹp, tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thể chế chính trị quân chủ quân phiệt sai lầm đẩy quốc gia vào Thế Chiến điêu linh điêu tàn, nên họ càng phải hy sinh tuyệt đối để quốc gia khắc phục khó khăn về sự nhỏ hẹp chật chội, khó khăn về sự thiếu hụt tài nguyên, khó khăn về hậu quả từ sự sai lầm nghiêm trọng của nhà cầm quyền thể chế chính trị quốc gia ấy. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – dù biết nước họ rộng lớn hơn, tài nguyên dồi dào hơn, chính phủ nước họ có kỳ tích giải phóng dân tộc và từng bước chậm rãi phát triển kinh tế nước nhà, vẫn điềm nhiên chê bai chính phủ nước họ, tích cực đòi hỏi “cãi thiện dân chủ”, hùng hổ vung tay đòi “đa đảng” và “biểu tình” nhằm tơ tưởng đến chuyện vi hiến là thay đổi thể chế chính trị nước nhà, tiến tới tiêu diệt thế lực hùng mạnh duy nhất có thể bảo vệ đất nước của họ trước hiễm họa xâm lăng.

Nếu như tiểu thuyết Tam Quốc Chí của nước Tàu có tuyên bố ai có một trong nhị đại quân sư Phục Long (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng) và Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì sẽ lập thành đế nghiệp, thì đại thuyết Lăng Tần của nước đánh bại Tàu lại tuyên cáo rằng nếu nước nào có nhân dân sở hữu một trong tứ đại phúc của người Nhật Bản thì nước đó đã có quá dư điều kiện để trở thành siêu cường kinh tế.

E) Sự Tốt Đẹp Của Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản và Việt Nam như một duyên nghiệp của sự hòa thuận điển hình độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.

Nhật Bản có một quá khứ tàn bạo trong Đệ Nhị Thế Chiến, làm hơn một triệu người Việt chết đói. Nhật Bản biết phục thiện, nên ngay từ thời chiến tranh giải phóng của Việt Nam chống Mỹ, Nhật Bản đã đối xử tốt với cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mà Bịnh Viện Chợ Rẩy hiện đại nhất ở Sài Gòn là một bằng chứng.

Trong khi đến tận ngày nay nhiều bà lão Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn còn kéo đến khóc lóc trước các đại sứ quán Nhật Bản đòi Nhật Bản chính thức xin lỗi và bồi thường do quân đội Thiên Hoàng đã hãm hiếp họ, bắt họ làm nô lệ tình dục phục vụ các đạo quân Quan Đông cũng như tại tất cả các vùng Nhật chiếm đóng, thì người Việt Nam lại hiền hòa không lưu giữ chút ký ức cỏn con nào mang dấu ấn căm thù căm hận, thay vào đó là sự mở rộng vòng tay cười đôn hậu đón tiếp bất kỳ “người chạy lại” nào có lòng phục thiện.

Sự hòa thuận giữa người biết lỗi ra sức chuộc lỗi và người xởi lởi thích bầu bạn bốn phương thân tình chứ chẳng biết oán thù là gì, đã giúp quan hệ Việt-Nhật tốt đẹp hơn hẳn các mối quan hệ ngoại giao khác. Sau ngày giải phóng miền Nam, Việt Nam bị bủa vây bởi lịnh cấm vận của Hoa Kỳ, và Nhật Bản, đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Châu Á, lại là sức mạnh xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ để đưa vào Việt Nam các nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất của nền kinh tế quốc dân, kể cả các vật liệu chiến lược như sợi cáp quang mà các siêu cường kinh tế chưa chắc có được – như đã dẫn trong bài Việt Nam Hưỡng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ trên blog này – kể cả việc đồng Yên Nhật trở thành đồng ngoại tệ giúp Việt Nam trụ vững trong thời gian Mỹ phong tỏa và tịch thu tất cả các chuyển dịch giao dịch bằng đồng Mỹ Kim của Việt Nam. Và trong thời điểm Việt Nam chưa mở cửa thì các doanh nhân và các nhà khoa học Nhật đã có mặt để đi đến các tỉnh thành của Việt Nam để nghiên cứu phát triển các giống cây trồng giúp Việt Nam và nhập khẩu hải sản từ Việt Nam, mà tác giả bài viết này đã là người đưa các nhà khoa học ấy lặn lội đến các vùng thâm canh chuyên canh nông nghiệp, cũng như đã ngạc nhiên khi Seaprodex bó tay không biết kiếm đâu ra baby octopus tức bạch tuộc con (tức con của con bạch tuộc) để gởi bản chào giá quotation cung cấp cho các nhu cầu của các doanh nghiệp Nhật Bản (với lý do ngư dân Việt Nam mà lưới nhằm “mực ma” tức bạch tuộc là ném trở lại biển hết vì sợ xui) mà tác giả bài này đã cất công kiếm về cho đất nước.

F) Lục Chân Lý Dành Cho Việt Nam

Từ tất cả các chi tiết trên, có thể rút ra sơ khởi 6 chân lý sau cho Việt Nam:

1- Khi người Việt không trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của Việt Nam, đất nước không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

2- Khi sinh viên học sinh Việt vừa ngày đầu đặt chân ra hải ngoại du học đã lớn tiếng chê bai nền giáo dục nước nhà, ca cẩm về thu nhập thấp ở quê nhà không tương xứng với sự vĩ đại của cá nhân (công thức bất lương: “được” học ở nước ngoài = vĩ nhân), đánh tiếng sẽ ở lại nước ngoài để làm việc (lạy giời, nếu có kẻ đại khôn nào đó thuê mướn đứa thua xa tư cách sinh viên học sinh Nhật ấy để trả lương thấp hơn) nếu nước nhà không “trọng dụng nhân tài” (công thức vô sĩ: nhân tài = du học nước ngoài về), Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

3- Khi sinh viên học sinh Việt Nam ngay khi còn ở Việt Nam đã vọng ngoại, tức đánh mất bản sắc dân tộc (nền tảng của sự phát triển đại thụ rừng sinh thái sinh quyển của nhân loại) mà chỉ còn là thứ lai F2 hay F3 nào đấy (cây ươm vườn rồi xuất khẩu trong túi nylon để trồng vào thổ nhưỡng khác để thành…cây dây leo hay cây cối hoặc cây kiểng), thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

4- Khi sinh viên học sinh Việt Nam dù đang học ở Việt Nam hay đã học “ở bển” mới về, đều hoặc muốn “khởi nghiệp” tức “mở công ty” ở Việt Nam để ngồi trên đầu dân Việt Nam, hoặc muốn làm việc cho công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, tức đội chủ nước ngoài trên đầu mình, thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

5- Bất kỳ sinh viên học sinh nào của Việt Nam dù đang học trong nước hay đang học “ở bển” ngay khi đọc xong bài viết này đều sẽ trở nên người có tư cách, có lòng tự trọng, khiến sẽ biết thân biết phận hèn kém của mình so với người Nhật ra sao nên sẽ học trong im lặng, sẽ làm việc trong yên lặng, sẽ tạo dựng “khởi nghiệp” trong lặng im, sẽ gầy dựng gia đình trong lặng yên, và sẽ không bao giờ dám mở miệng kém hèn của mình để lên mặt lên tiếng lên giọng dè bỉu, chê bai chế độ Việt Nam, bảo chính phủ Việt Nam bất tài vô dụng không thể dựng xây đất nước phú cường như Nhật Bản.

6- Việt Nam sẽ trở thành cường quốc kinh tế nhưng phải theo một tiến trình gian nan không nhanh chóng dựa trên đặc thù Việt Nam gồm (a) tự thân bương chải, (b) bốn phương tám hướng tổng cộng mười hai ngõ đều thọ địch bủa vây, (c) nguồn nhân lực có 5 “đức tính siêu tích cực” nêu trên, (d) thành công của Việt Nam khiến các ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế hoặc gia giảm hoặc không còn, và (f) thế giới không thực sự thực tâm tập trung giúp đỡ tận tình do không bao giờ cam tâm nhìn thấy một Việt Nam hùng mạnh biến chủ nghĩa xã hội cùng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trở thành khuôn mẫu quá hoành tráng trước nhân loại.

 

Hỡi ôi, là người có thẻ căn cước Việt Nam mà không nhận ra các sự thật trên, cứ mãi đít ngồi, đùi rung, lưỡi liếm bia bọt, răng nhai râu khô mực chấm tương ớt, mồm dè bỉu chế độ, miệng chê bai Đảng, mõ phát tán loa các nhạo báng Chính Phủ, gật gù ngợi ca Nhật Bản, trong khi chẳng hy sinh bất cứ thứ gì đáng giá hơn cọng tóc sợi lông cho đại cuộc phát triển quốc gia Việt Nam thành cường quốc thì chẳng phải chẳng là tự hạ mình thãm hại trước ánh mắt thương hại của người Nhật Bản lắm ru? Bản thân người ngợm chẳng bằng người Nhật mà còn rống họng đòi Cộng Sản Việt Nam phải có trách nhiệm dựng xây đất nước Việt Nam giàu mạnh y như Nhật Bản há chẳng phải là diễn tuồng hý hước chọc cười cho con cháu Thái Dương Thần Nữ hay sao?

Con cháu Bà Âu Cơ không có đặc tính dân tộc dữ dội trong huyết quản từ muôn đời, không từng đem sự dữ dội ấy ra đánh nhau với cả thế giới để mài giũa sắc bén thêm và làm tiêu hao dân số địa cầu, chưa từng thực hiện việc tìm-và-diệt cùng lúc đối với Hoa Kỳ và kẻ thù khác của Hoa Kỳ để phải bị Hoa Kỳ ném bom nguyên tử rồi được Hoa Kỳ đổ tiền vào tái thiết hầu biến thành đồng minh chống các kẻ thù khác của Mỹ như con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ nên không cách chi đất nước của con cháu Bà Âu Cơ sẽ biến thành cường quốc y hệt đất nước của con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ cả.

Tuy nhiên, con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ mà hợp tác với con cháu Bà Âu Cơ thì con cháu Bà Nữ Oa chỉ còn nước khóc òa.

Kỳ sau: Bài 4: Ý Chí Quốc Dân và Yêu Cầu Công Dân

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

16-7-2014: Vững Tâm Kiến Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/16/vung-tam-kien-quoc/

29-10-2014: Trăm Trứng Âu Cơ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/29/tram-trung/

06-01-2016: Việt Nam Hưởng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/06/viet-nam-huong-loi-tu-linh-cam-van-cua-hoa-ky/

06-02-2016: Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Cụm bài về “Nhân Tài”:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Bài 2: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2016

Là một quốc gia phải vượt qua các cuộc chiến tranh trường kỳ cứu quốc, lập quốc, và vệ quốc, theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự “tự mình bương chải” giữa các thế lực thù địch bủa vây, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc tài của Singapore chỉ để nuôi giấc mơ được hùng mạnh về kinh tế như Singapore.

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu) là nhà độc tài mà thế giới tự do yêu thích. Ông ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội và cùng người ủng hộ Chủ Nghĩa Cộng Sản là Lim Chin Sion (Liêm Chính Xương) hợp nhất lập đảng Hành Động Nhân Dân PAP, trở thành đảng chính trị cầm quyền thống trị ở Singapore. Từ triết thuyết cộng sản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Lee Kuan Yew lập nên mô hình quản lý riêng biệt thiên hướng xã hội dân chủ theo một nền văn hóa chính trị riêng biệt với cơ cấu quyền lực của độc tài, thực dụng, hợp lý và mang tính pháp lý trung ương tập quyền cao độ mà các nhân sự trị quốc được bổ nhiệm chứ không qua bầu cử và dưới sự lãnh đạo của Lee Kuan Yew và PAP Singapore đã đạt và giữ vững sự tăng trưởng kinh tế cùng sự ổn định chính trị. Như vậy, Singapore theo đuổi một chế độ gọi là Meritocracy tức chế độ trọng dụng nhân tài mà điều kiện tiên quyết của Lee Kuan Yew buộc phải là: luôn hết lòng trung thành với quốc gia và với chủ trương chính sách của Lee Kuan Yew.

Trong các giá trị thì Lee Kuan Yew xem kỹ luật nghiêm ngặt cùng sự bất chấp dân chủ là cao trọng nhất. Lee Kuan Yew cho rằng dân chủ không thích hợp cho các quốc gia đang phát triển. Ông xử tội bất kỳ ai vi phạm các quy định của ông đối với trật tự công cộng, từ người nhai kẹo cao su nhổ bừa bãi, đến người đồng tính nam, nhà phê bình truyền thông, và các lãnh đạo chính trị đối lập. Ông đã thố lộ với phóng viên Thời Báo New York rằng ông đã phải làm vài việc xấu xa như bắt nhốt dân chúng không cần xét xử. Điển hình như vụ Tiến sĩ Chia Thye Poh (Châu Thái Bảo) đã bị bắt tống giam lưu đày trên đảo suốt 23 năm vì thiên cộng sản và dám công kích Lee Kuan Yew, theo Luật An Ninh Nội Địa Singapore nên không bao giờ được đưa ra xét xử ở tòa án, và khi được thả phải bị quản thúc tại gia trong 9 năm, cấm không được đi lại, không được có việc làm, bị tước quyền “làm chính trị”. 32 năm tù đã làm Giáo sư Tiến sĩ Vật Lý Chia Thye Poh từ một giáo sư vật lý trẻ tuổi tài cao 25 tuổi trở thành một ông lão khi được thả khỏi ngục năm 1989 và giam lỏng thêm 9 năm trong một căn phòng giám quản nhỏ đủ cho một người ở mà nhà nước Singapore thậm chí còn bắt ông phải trả tiền thuê để nhà nước có cớ nói ông đã được “tự do”.

Singapore

Cả thế giới tự do không bao giờ lên án Lee Kuan Yew vì Lee Kuan Yew không cộng sản và sự tàn ác của Lee Kuan Yew có thể chấp nhận được vì “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh “có đầu óc” cộng sản. Giáo sư Chia Thye Poh được Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế gọi là “tù nhân lương tâm lâu năm nhất Singapore” như một cách tính toán số học thuần túy cứ như để cái tổ chức ấy có việc để làm, chứ thân phận con người của ông không bao giờ là thứ đáng cho họ phải quan tâm đến, và công việc quan trọng cuối cùng của tổ chức này là ra tuyên bố vào ngày 27-11-1998 rằng các trừng phạt đối với “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh cuối cùng đã được giải tỏa. Ông được trở vào đất liền, được phép tìm việc làm, và được học tiếng Đức, học các bộ môn chính trị học cùng kinh tế học tại Hamburg nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Đức Helmut Kohl và năm 2015 được đề cử cho giải Nobel Hòa Bình.

Gần đây hơn, Tiến sĩ Chee Soon Juan (Chí Xuân Dương) sau nhiều lần bị tù tội do dám tuyên bố các cơ quan tư pháp Singapore không độc lập, đã bị tuyên bố phá sản năm 2006 khiến không được phép ra ứng cử Quốc Hội do không đủ tiền đóng phạt cho hai vị thủ tướng tiền nhiệm là Lee Kuan Yew và Goh Chok Tong do đã chê bai các vị lãnh đạo này của đảng PAP. Chỉ sau khi kiếm đủ tiền nộp cho hai vị này, Tiến sĩ Chee mới được phép tham gia ứng cử năm 2015.

Với quyền lực thống chế truyền thông, Lee Kuan Yew thường xuyến công kích các tổ chức truyền thông phương Tây nào dám cả gan nói về chủ nghĩa “gia đình trị” hoặc “chủ nghĩa truyền ngôi triều đại” nhắm vào việc con ông được lên làm Thủ Tướng năm 2004 cũng như nhiều thành viên gia đình ông nắm giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền, thậm chí Ông còn kiện ra tòa luôn cả các cơ quan thông tấn báo chí như International Herald Tribune, Economist, và Bloomberg News, khiến các cơ quan ngôn luận này bị tòa án Singapore phạt nặng và phải giới hạn số lượng ấn bản được phép phát hành.

Lee Kuan Yew đã phạm sai lầm khi ra sức phát ngôn về dân chủ Châu Á, cho rằng các giá trị Á Châu độc đáo không bao giờ tương thích với các hình thái tự do phương Tây, và ông đã bị hớ khi Đài Loan, Hàn Quốc, và Indonesia sau đó trở thành các thực thể “thân Mỹ” hùng mạnh về kinh tế theo mô hình phương Tây, khiến người dân Singapore đòi hỏi phải có những cải tổ dân chủ hơn, và khiến con của Lee Kuan Yew là Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long) buộc phải tuyên bố “đây là một thế hệ khác, một xã hội khác, nên chính trị sẽ phải khác”.

Tóm lại, nền tảng cho sự “cất cánh” của Singapore là minh chứng cho công thức mang tính chân lý của muôn đời của thế giới quân chủ chuyên chế và tư bản đế quốc:

 Singapore 2

mà người đời có thể ví von rằng nếu thiếu ngọn roi của Tần Thủy Hoàng thì thế giới ngày nay đã không bao giờ có (a) vật thể được nhìn thấy từ khoảng không vũ trụ tức Vạn Lý Trường Thành, và (b) siêu cường quốc Trung Hoa thống nhất.

Vì lý do trên, sơ khởi có 8 chân lý sau:

a- Chân Lý 1: Việc nêu tên Singapore như một “gương sáng” đáng ước mơ mà Việt Nam phải noi theo như một khuôn mẫu duy nhất để trở thành cường quốc kinh tế là một việc hoàn toàn thiếu khôn ngoan.

b- Chân Lý 2: Việc Lee Kuan Yew đã thực thi chủ nghĩa trọng dụng nhân tài với tiêu chí duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Hành Động Nhân Dân Singapore, cho thấy việc Việt Nam sử dụng nhân tài có sự chọn lọc dù nhân tài trong Đảng hay nhân tài ngoài Đảng trên cơ sở duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đúng đắn ở tất cả các quốc gia. Đã có – hoặc manh nha có – các hoạt động chống Chính phủ và/hay chống thể chế chính trị của đất nước thì mãi mãi không bao giờ được xem là “nhân tài” để mà được “trọng dụng” vì đó chỉ là kẻ phá hoại mà ngay cả “thiên đường cường quốc Singapore” cũng phải luôn ra tay trừng trị, triệt tiêu.

c- Chân Lý 3: So với Singapore, Việt Nam đang có cơ sở dân chủ tốt hơn, tự do hơn, lý tưởng hơn, nhân văn hơn, tiến bộ hơn, trọng dân hơn.

d- Chân Lý 4: Nhờ có bàn tay hà khắc của Lee Kuan Yew và luật pháp hà khắc của Singapore, tình hình tham nhũng ở Singapore tốt hơn, trong sạch hơn Việt Nam. Không có bàn tay hà khắc ấy và không có luật pháp hà khắc, Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa quá dịu dàng với người dân tiêu cực vừa quá nhân đạo với đảng viên hư đốn sẽ không bao giờ cải thiện được tình trạng tinh hình tham nhũng ở Việt Nam.

e- Chân Lý 5: Chỉ có học sinh non nớt, sinh viên thơ dại, và người lớn mơ hồ, mới nói, mới viết, mới cho rằng Singapore là hình mẫu đáng ca ngợi và gương sáng vinh diệu cho Việt Nam noi theo.

f- Chân Lý 6: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã trên cơ sở xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trong tư duy khiến thúc đẫy ươm mầm cho sự vươn lên “vì nước, vì dân” trong kỷ luật sắt, trừng phạt “biểu tình”, tạo nên sự ổn điịnh chính trị gần như là tuyệt đối khiến thế giới tư bản yên tâm đổ xô đổ tiền vào bùng nổ đầu tư, kinh doanh, còn Singapore trở thành cường quốc kinh tế.

g- Chân Lý 7: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã khôn ngoan vừa chống tất cả những ai có tư tưởng cộng sản và xã hội chủ nghĩa như mình để được danh “chống cộng” lấy lòng “thế giới tự do” để cái thế giới ấy để yên cho Ông phát huy tính khí “thiên triều” thừa hưởng từ giòng máu Hoa để trở thành nhà độc tài có quyền trao ngôi thống trị lại cho “hoàng thái tử” và “hoàng tộc Lý triều”.

h- Chân Lý 8: Singapore thành cường quốc vì người dân Singapore tự nguyện chấp nhận các chân lý 6 và 7 kể trên, nghĩa là người dân luôn là một thực thể quyền năng trong hiện thực hóa giấc mơ cường quốc của một quốc gia.

Kỳ sau: Bài 3 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) Tư liệu về Lee Kuan Yew và Singapore:

Báo Washington Post. 22-5-2015: An Astonishing Record. http://www.washingtonpost.com/opinions/lee-kuan-yew-singapores-long-time-leader/2015/03/22/47d34c2e-ce60-11e4-8c54-ffb5ba6f2f69_story.html. Retrieved 20 February 2016.

Tạp Chí Economist. 23-3-2015. Lee Kuan Yew, Singapore’s Longtime Leader. http://www.economist.com/blogs/graphicdetail/2015/03/lee-kuan-yews-singapore. Retrieved 20 February 2016.

B) Bài viết của Hoàng Hữu Phước:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-02-2016

Thói thường thì người Việt Nam mỗi khi đi nước ngoài về đều hết lời tán dương ca ngợi sự giàu có, tiện nghi, lộng lẫy, nguy nga biểu hiện lồ lộ qua các điều vật thể cụ thể như đền đài, thành quách, phố xá, công trình, v.v. ; cũng như qua những điều phi vật thể như các nét văn hóa, cách ứng xử, lễ hội, v.v., tất cả toát lên sức sống sinh động, trù phú, đáng khâm phục.

Và cũng theo thói thường thì mỗi khi có cái “thói thường” nêu ở trên, người Việt Nam ngao ngán, ngúc ngoắc đầu ra dáng ngại ngùng, ngán ngẩm, khi liên tưởng đến những điều vật thể và phi vật thể biểu hiện lồ lộ qua bao việc, tất cả toát lên sự tồn tại mà không ai cho là không dị thường, ngay cả nơi các nhà giáo dạy Sử và những người tự phong là “nhà sử học” hay “sử gia”.

Cái hệ lụy từ hai thứ “thói thường” ở trên là chưa thấy ai nhìn ra được – hay chí ít đề ra được một phương pháp cụ thể, khoa học, thuyết phục để nói về – sự giàu đẹp “lồ lộ” định hình được, định tính được, định lượng được của Việt Nam, vì vậy chả trách không đâu thấy có sự tự hào, nhận ra được niềm vinh dự, của việc được sinh ra làm người Việt Nam, dẫn đến việc tay thì ngửa ra nhận tiền lương, mà việc dạy Sử vẫn không làm tròn, khiến học trò Việt thì dốt Sử (điểm zero mà không gọi là “dốt đặc” mới là lạ!), còn hệ thống giáo dục nước nhà cứ mãi dùng chữ “trăn trở” với “băn khoăn”, khiến nước ngoài lầm tưởng người Việt ta khoái nằm ưỡn trên giường để thở dài (“trăn trở” lăn qua trở lại mà lị!) hoặc ngồi đực ra bên bàn trà để nhíu mày nhăn trán (“băn khoăn” mà lại!).

Bài viết này, do đó, cung cấp cho các nhà giáo dạy Sử, các “nhà sử học” tự phong, và các “sử gia” trên trời rơi xuống những luận cứ khoa học cho một công thức hàn lâm chuẩn xác nhằm cân đong đo đếm được mức độ giàu mạnh của Việt Nam để sử dụng trong các bài giảng Sử, bài viết Sử, phát biểu Sử, nhắm đến việc “minh bạch hóa” sức mạnh và vẻ đẹp của quốc gia này.

Trước khi vào phần cốt lõi của các luận cứ, xin nói vi von thêm rằng Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dù có phát triển vùn vụt đến đâu, điều này chẳng dính dáng gì đến việc phát triển vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam, nghĩa là những gì đang có ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh như nhà cao tầng đồ sộ, đường nhiều tầng hiện đại, hệ thống điều khiển giao thông phức tạp, v.v., không mang nội hàm rằng ngần ấy thứ cũng có đầy dẫy khắp nơi ở các vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam. Sự chịu đựng thành công của các vùng biên giới đầy gian truân, lắm khổ ải, thừa thiếu thốn, đưa đến sự tồn tại phát triển phồn hoa của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các phố thị khác của Việt Nam. Đã là chốn biên phòng, nơi ấy buộc phải chịu nhiều thiếu thốn, thiếu hụt, cả về tiện nghi sống lẫn sự phô trương vật chất phù hoa.

Việt Nam là xứ sở kỳ lạ vì gánh lấy gánh nặng làm chốn biên phòng của toàn vùng Đông Dương và Đông Nam Á.

Khi đi thăm Campuchia, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu, dồn của cải cứu đất nước ấy không bị Trung Quốc tuyệt diệt giống nòi, không bị Trung Quốc cướp sạch kho tàng đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành, để mọi thứ bảo vật Khmer mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước ấy phát triển vượt bậc, trở thành một thành viên của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi đi thăm Thái Lan, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là thốt nên tiếng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính Thái Lan cướp sạch kho tàng Thái Lan đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành Thái Lan, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước Thái Lan phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành một thành viên đầy vinh diệu của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Và khi đi thăm Mã Lai, Singapore, hay Indonesia, thậm chí cả Australia bao la giàu mạnh, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia Việt Nam để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính toàn bộ Đông Dương và Đông Nam Á, ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc tràn quân thôn tính Châu Đại Dương, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để toàn vùng phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành những thành viên đầy tự hào của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi nói đến tên các quốc gia Đông Nam Á và Úc châu, không có nghĩa là Việt Nam chỉ có thể tìm thấy sự vĩ đại của chính mình tại những nơi ấy. Sự giàu có của Pháp cũng đến từ tài sản cướp được của nước Việt ta trong hàng trăm năm xâm chiếm.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực sở dĩ có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Phủ nhận điều này chỉ khiến người lên tiếng phủ nhận biến thành phường ăn cháo đái bát, phụ nghĩa, vong ân, mà như thế có khác gì loài dã thú.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Không biết gì về sự thật này để dạy học trò chỉ khiến nhà giáo dạy Sử biến thành vô trí vô hóa vô lương vô tâm, chỉ là những cỗ máy vô tri nhào nặn ra những học trò dốt Sử, giỏi chê bai nước nhà, hám chạy theo phục dịch ngoại bang.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải mãi gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Thái Lan khi đã thức tỉnh trước sự thật này đã không tiếp tục cho phép các nhóm người Việt từ Úc hay Mỹ đến lập căn cứ “Kinh Kha” trên đất Thái chống phá Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực do đã thức tỉnh trước sự thật này nên đã ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là hành động duy nhất đúng của các chính phủ có trí tuệ.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải luôn gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Do đó, người dân Việt Nam cần nhận thức rõ nhất về vai trò này của Việt Nam, để tự hào về đất nước, từ đó vững vàng trước các chống phá của các thế lực thù địch chống Việt mà thực chất là bọn Việt gian tiếp tay Trung Quốc thôn tính Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á.

Muốn biết Việt Nam giàu đẹp đến dường nào, hãy đi du lịch ra các nước trong vùng Đông Nam Á, để tấm tắc khen rằng người dân ở các nước ấy thật may mắn đã có Việt Nam dạn dày sương gió trấn giữ biên cương vùng đất, vùng biển, vùng trời tại khu vực này của thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Giaothoa2GiaothoaGiaothoa1Giaothoa3

Tóm Tắt Nội Dung

“Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” là một vấn đề mang tính quan điểm được nói đến nhiều thời gian dài. Song, hoàn cảnh mới khiến nhất thiết phải có những phân tích mới, nhận định và nhận diện mới trên nền ngôn ngữ học trong môi trường giao thoa văn hóa và toàn cầu hóa.

Từ các nội dung chuyên biệt của bộ môn Lexicology tiếng Anh, tham luận này nhằm phân tích có so sánh để nhận diện tiếng Việt như một ngôn ngữ sống với đầy đủ các thành tố của sự bền vững, đào thải, cộng sinh, cộng hưởng, đa dạng thức, đa sắc màu, và phát triển. Với thực tế tiếng Việt còn non trẻ cộng với thực tế chiến tranh đã không cho phép có sự phát triển bài bản, tham luận đồng thời đề xuất hai chuẩn mực về phong cách formal như trong các ngôn ngữ khác và tái lập dấu gạch nối thuần Việt như biện pháp khả thi, khả dụng, định vị sự trong sáng của tiếng Việt.

Cuối cùng, truyền thông đại chúng giữ vai trò quyết định trong sự thành công của sự giữ gìn này.

Summary

The preservation of the clarity and the adaptability of the Vietnamese language has been a point of perspectival concept for years. However, new situations ignite the need for new and appropriate analysis, evaluation, and definition of that phrasing on the basis of linguistics and within a cross-culture and globalized environmental perspective.

With reference to the specific contents and scopes of study of English Lexicology, the essay is to analyze then shed lights to the acknowledgement of Vietnamese as a “living language” with full constituent elements of say stability, up-gradation, degradation, co-existence, assimilation, variety, and development. In view of the fact that the present-day Vietnamese language has been used only from the end of the Nineteenth century and the country immersed in wars until its reunification in end April 1975 with no scopes for proper lingual study and development, the essay further provides two proposals of (a) the application of formal and informal usage, and (b) the re-application of the Viet-styled hyphen, considering these among the best possible and feasible tools of positioning the clarity of Vietnamese.

Last but not least, the mass media is considered to play the decisive role in the success of the effort for the above-mentioned preservation.

I- Dẫn Nhập: Bản Chất của Bản Sắc

Bản sắc là những tính chất mang nét đặc trưng, và khi nói đến thời đại toàn cầu hóa, bản sắc dân tộc tức National Identity được đưa lên hàng đầu của tất cả các sự quan tâm và quan ngại, tình thế trước là khi muốn khai thác cái ưu việt, trong khi tình huống sau là do nguy cơ đánh mất bản sắc từ những lấn lướt mang yếu tố ngoại lai. Nếu bản sắc dân tộc bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các yếu tố lịch sử, văn hóa, chính trị, tập tục, tư tưởng, v.v., mang tính kế thừa truyền thống và/hay đương đại qua thẩm thấu có hay không có chọn lọc, thì ngôn ngữ được sử dụng trên nền và thể hiện rõ nét nhất cái bản sắc ấy. Nét nổi bật nhất của bản sắc dân tộc Việt Nam hay được đề cập đến là sự cởi mở, thân thiện, yêu chuộng hòa bình, ham học hỏi, cần cù lao động, không cực đoan, và ý nhị thâm thúy; trong khi bản chất xã hội của ngôn ngữ luôn là yếu tố quan trọng định tính, định lượng và định vị chính ngôn ngữ ấy trong tiến trình phát triển và giao thoa ngôn ngữ và văn hóa. Do đó, bản chất của bản sắc văn hóa dân tộc của ngôn ngữ tiếng Việt là nhằm nêu bật các nét đặc trưng; trong đó, nói về sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt qua nhóm từ tiếng Anh hay được dùng tại Việt Nam là “the preservation of the clarity and the purity of the Vietnamese” sẽ lệch tâm vì “purity” hướng đến sự “thuần khiết” hay “thuần Việt” vốn không là bản chất của bản sắc Việt và trái ngược với tiến trình giao thoa ngôn ngữ và văn hóa không thể đão ngược của xu thế toàn cầu hóa mà Việt Nam với bản sắc dân tộc đặc thù hoàn toàn tương thích và hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị mà sức sống mới của tiếng Việt có thể truyền tải được.

II- Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt – Anh

Không nhất thiết phải đợi đến khi phát sinh khái niệm lẫn thực tiễn về toàn cầu hóa mới có các nhận diện về sự giao thoa của các nền văn hóa và các ngôn ngữ. Những nghiên cứu về ngôn ngữ Anh của các tác giả như Felix, True, và Otto (1897) hay Bloomfield (1914), v.v., cho thấy mức độ tiếp nhận hàng chục ngàn từ ngữ từ 46 nhóm ngôn ngữ khác trên thế giới vào tiếng Anh, như một khẳng định không phải duy chỉ sự xâm chiếm thuộc địa mà còn phải tính đến sự phát triển của ngôn ngữ đã như tàng cây tự thân ngày càng mạnh khỏe sống động thành một thứ “sinh ngữ” – theo nghĩa đen – vươn ra bao trùm tất cả. Tương tự, các nghiên cứu về Tiếng Việt cũng cho thấy cơ sở hình thành của chính lớp từ thuần Việt cũng đến từ các gốc Nam Á và Tày Thái, chứng minh đã có những tương ứng và quan hệ phức tạp trong nhiều bộ phận hay nhiều nhóm ngay của lớp từ thuần Việt với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng, như Mường, Tày Thái, Bru-Vân Kiều, Non-Khmer, và Indonesia, v.v. (Chữ, Nghiệu, và Phiến. 1997). Ngoài ra, một bộ phận quan trọng các từ ngữ gốc Ấn-Âu du nhập vào Tiếng Việt thành từ ngoại lai khi Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, sau đó là tiếng Anh và tiếng Nga cùng nhiều xuất xứ khác đã được dùng rộng rãi như trong các lĩnh vực thực phẩm, y học, trang phục, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, và kỹ thuật; đặc biệt, trong tất cả các ngôn ngữ có sự giao thoa với tiếng Việt, tiếng Anh tuy có sự thâm nhập trễ hơn, ít hơn, nhưng lấn át hơn về truyền thông đại chúng nhất là trong thời hiện đại của kỹ thuật số và phát triển công nghệ thông tin. Trên cơ sở thực tế ở Việt Nam tiếng Anh đã và đang trở thành ngoại ngữ của đa số người dân, sự nghiên cứu sâu về ngữ pháp tiếng Anh cũng sẽ có giá trị trong tương quan so sánh, phát hiện tương đồng, tận dụng bổ sung các khiếm khuyết, để hoàn thiện hệ thống ngữ pháp tiếng Việt.

III. Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

A) Luận Về “Sự Trong Sáng”

Trước khi nói đến “sự trong sáng” của Tiếng Việt, nhất thiết phải xác định tài sản của Tiếng Việt cả hiện hữu nội tại và tiềm tàng vun quén, chẳng hạn bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – cấu tạo từ, nghĩa từ, cụm từ, quan hệ đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa, biến đổi từ vựng trong triệt tiêu/thêm mới/tăng nghĩa, từ cổ, từ du nhập gốc Hán/Ấn-Âu so với từ thuần Việt, thuật ngữ, phương ngữ, từ nghiệp vụ, từ lóng, từ mới, từ văn khẩu ngữ, từ văn viết (Chữ, Nghiệu, và Phiến, 1997), cả ngôn ngữ cử chỉ và cú pháp (Bloomfield, 1914, 4, 167). Như vậy, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt đồng nghĩa với việc giữ gìn toàn bộ những gì thuộc tài sản kho tàng Tiếng Việt cùng với khả năng phát triển luôn đi kèm các yếu tố sinh lợi cũng như đào thải của một ngôn ngữ đang sống và đang được đầu tư nghiêm túc để sống mạnh và lan tỏa, chứ không phải chỉ là việc máy móc giáo điều tập trung duy chỉ vào từ thuần Việt vốn tự thân không hình thành ngôn ngữ Việt. Thêm vào đó, sự trong sáng của Tiếng Việt không có nghĩa là phải cố gắng vận dụng từ Tiếng Việt trong những trường hợp không cần thiết, thậm chí tầm thường hóa Tiếng Việt, xóa nhòa ranh giới formal/informal, tức văn bác học/bình dân, hay văn viết/văn nói vốn luôn luôn có ở bất kỳ ngôn ngữ “sống” nào trên thế giới.

Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trong một chừng mực mang tính ngôn ngữ học đầy đủ nhất, do vậy, còn có nghĩa đón nhận có chọn lọc những từ nước ngoài sẵn có đưa vào vận dụng làm giàu kho tàng từ vựng nước nhà.

B) Các Xâm Hại Kho Tàng Ngôn Ngữ Việt      

1-   Vấn Nạn “Bế Quan”

Do những tác động của lịch sử, tiếng Việt được hình thành không trên cơ sở sau đó có được đủ các nghiên cứu hàn lâm với các nghiên cứu do các học giả Pháp thực hiện từ xưa không nhằm phục vụ người Việt, và do các trường đại học Việt Nam hiện nay xây dựng qua các giáo trình không nhằm phục vụ nền giáo dục nói chung của Việt Nam mà riêng dành cho phân khoa ngôn ngữ hay xuất bản dành cho số ít các độc giả tự do. Tất cả tạo nên cách ứng xử không có cơ sở khoa học đối với những khía cạnh khác nhau của ngôn từ, chẳng hạn qua việc cho phép sử dụng tiếp tục tên Hán Việt của chỉ một số quốc gia, chấm dứt sử dụng tên Hán Việt của số còn lại (Bảng 1)