Category Archives: Tiếng Anh

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

Bản dịch tiếng Việt ngày 19-10-2017 của Hoàng Hữu Phước

theo nguyên bản tiếng Anh tại https://laithutruc.wordpress.com

https://laithutruc.wordpress.com/2017/10/19/letter-by-lai-thu-truc-of-vietnam-to-president-donald-j-trump/  

*********

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 10 năm 2017

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ Donald J. Trump

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ

 

Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Trước thềm chuyến thăm chính thức của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Mười Một này, tôi xin kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài một số  ý kiến.

 

Trong nhiều chục năm qua tôi đã đọc nhiều bài blogs của, và cũng đã có nhiều cuộc trò chuyện với người thầy của tôi là Ông Hoàng Hữu Phước, CEO của doanh nghiệp tôi làm việc và cũng là Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII (2011-2016) và đồng thời là Ủy viên Ủy Ban Đối Ngoại của khóa ấy. Ông Phước có lẽ là một trong những người ủng hộ Ngài rất mạnh mẽ như qua các đối đáp sâu sắc của ông ấy trên Twitter (1). Còn tại bài blog ngày 01-01-2016 ông ấy thậm chí viết phân tích về chín sức mạnh độc đáo của Ngài. Ông cũng là người Việt Nam duy nhất tiên đoán chiến thắng áp đảo của Ngài trong kỳ bầu cử Tổng Thống Mỹ vừa qua (2). Những quan điểm từ những thảo luận của tôi với ông ấy như đề ra dưới đây rất công tâm vì tôi và ông ấy không phải là đảng viên Cộng sản cũng như không là công chức hay quan chức chính phủ của Việt Nam.

A- Vị Thế Thanh Gươm và Lá Chắn của Việt Nam

Có một sự thật hiển nhiên là Việt Nam nhiều thế kỷ qua luôn là thanh gươm và lá chắn đánh bại và ngăn chặn tham vọng triền miên của Trung Quốc trong xâm lược Nam Tiến nhằm dùng sức mạnh quân sự chiếm đoạt các vùng lãnh thổ nay thuộc Khối ASEAN như Lào, Cambodia, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Brunei, và Indonesia, nghĩa là Việt Nam đã gián tiếp bảo đảm luôn sự tồn tại hòa bình và phát triển của đất nước nay là Úc Đại Lợi, chủ nhân của Darwin chiến lược. Vị thế này của Việt Nam trong khu vực hiện nay phải đối đầu với một Trung Quốc hiếu chiến tuyên bố chủ quyền toàn bộ Biển Đông khiến Việt Nam lâm vào cảnh rất cần có những hỗ trợ từ Hoa Kỳ.

Trong hoàn cảnh trên, tôi tin rằng Việt Nam đương nhiên cần phải sở hữu vũ khí nguyên tử để tự vệ trước mối đe dọa xâm lược từ Trung Quốc – và tất nhiên cũng đồng thời bảo vệ các nước trong khu vực.

Song, do quy định nghiêm ngặt của Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử, các quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử giao kết không chuyển giao vũ khí nguyên tử hoặc các thiết bị nổ nguyên tử, hoặc không được bằng bất kỳ biện pháp nào hỗ trợ, khuyến khích hay thuyết phục bất kỳ quốc gia nào không có vũ khí nguyên tử chế tạo hoặc tìm mua vũ khí nguyên tử, và điều này khiến mong muốn sở hữu vũ khí nguyên tử của Việt Nam trở thành bất khả.

Để giải quyết vấn nạn này, tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam nên thảo luận với Hoa Kỳ về việc triển khai bố trí tại Việt Nam các hệ thống THAAD hoặc Aegis Ashore nếu như việc mua các hệ thống này được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chấp thuận.

B- Hợp Tác Tương Hỗ Hải Quân giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Cũng đế đối phó với những căng thẳng bùng phát tại Biển Đông do Trung Quốc gây ra, Chính phủ Việt Nam nên thảo luận đồng ý với Hoa Kỳ phát triển Cảng Cam Ranh thành một quân cảng để triển khai bố trí các chiến hạm của Việt Nam và Hoa Kỳ cùng tuần tra để kiểm soát, bảo vệ, và bảo đảm tự do hàng hải và an ninh các tuyến giao thương biển.

C- Khía Cạnh Tương Hỗ Quan Trọng từ phía Hoa Kỳ đối với Thế Giới:  Cân Giải Thể Cục Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ

Điểm cuối cùng – song không phải là ít quan trọng nhất – tôi mong được Ngài quan tâm là vấn đề tế nhị đến từ Cục Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động trực thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Hàng năm Cục ấy phát hành cái gọi là “Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền ở Từng Quốc Gia.” Trong khi không thể cho ra một định nghĩa có thể hiểu được và thuyết phục về nội dung của “dân chủ”, việc phát hành báo cáo đã phải trả bằng một giá quá đắt về nhân lực – và ngân sách – của chính phủ vì phí phạm cho việc miệt mài thu thập dữ liệu từ từng quốc gia một chỉ để báo cáo Quốc Hội Hoa Kỳ. Đó là một mục đích vô dụng, gây bực tức không những nơi chính phủ mà còn nơi người dân của đất nước có tên trong báo cáo ấy.

Việc làm trên không được các nước quan tâm – hoặc chí ít là không được chính phủ Việt Nam cùng tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam quan tâm tìm đọc làm gì  – cũng như bị cho chỉ là sự gấu ó lời qua tiếng lại cá nhân giữa Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và phía “đồng cấp” là Cục Thông Tin Hội Đồng Nhà Nước Trung Quốc tức cơ quan cũng hàng năm phát hành cái gọi là “Ghi Nhận về Nhân Quyền ở Hoa Kỳ.” (3).

Trong số nhiều phê phán sai lệch, trong khi chỉ trích một cách hoang đường rằng “những vấn nạn chính của Việt Nam là sự cấm đoán hà khắc của chính phủ đối với việc công dân có quyền thay đổi chính phủ” như nêu trong Báo Cáo Nhân Quyền ở Việt Nam Năm 2016 trong “Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền ở  Từng Quốc Gia” như đã dẫn ở trên, Cục Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại làm ngơ trước sự thật là có sự tương đồng giữa luật pháp hiện hành của Việt Nam với Điểm 2385, Chương 115, Phần 1, Mục 18, Luật Hoa Kỳ, đối với hành vi lật đổ chính phủ Hoa Kỳ (4).

Tôi tin rằng việc giải thể Cục Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ giống như vụ mới đây Ngoại Trưởng Rex Tillerson giải thể Cục Tội Phạm Toàn Cầu còn gọi là Cục Các Vấn Đề Tội Ác Chiến Tranh cũng thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, sẽ góp phần vào đại cuộc Làm Nước Mỹ Vĩ Đại Trở Lại của Ngài, giúp Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lấy lại uy tín và đạt quản lý ngân sách, đặc biệt chấm dứt vai trò đơn độc gây tranh cãi chỉ để đấu khẩu với Trung Quốc. Lực lượng nhân sự tài năng của Cục này sẽ giúp ích cho đất nước Hoa Kỳ nhiều hơn nếu dành sự phục vụ tích cực của mình cho các Cục/Vụ khác của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chẳng hạn như tại Vụ Tây Á-Thái Bình Dương, Vụ Âu-Á Âu, Vụ Cận Đông, hay Vụ Tây Bán Cầu, v.v.

 

Tôi mong là với sự quan tâm, tầm ảnh hưởng, và quyền lực của Ngài, các ý kiến trên sẽ được chiếu cố để Việt Nam và Hoa Kỳ có thể hiện thực hóa sự hợp tác hiệu quả, dài lâu, để bảo vệ hòa bình và tự do thương mại hàng hải ở ASEAN nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.

.

 

Kính chào trân trọng,

 

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Web cơ quan: www.myabiz.biz

Blog cá nhân: https://laithutruc.wordpress.com

Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Tham khảo:

(1) @HoangHuuPhuoc

(2) https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/  (in Vietnamese)

(3) http://news.xinhuanet.com/english/china/2017-03/09/c_136115481.htm

(4) https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/2385

Advertisements

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to President Donald J. Trump

Thư Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Gởi Tổng Thống Mỹ Donald J. Trump

theo nguyên bản tiếng Anh tại https://laithutruc.wordpress.com :

https://laithutruc.wordpress.com/2017/10/19/thu-cong-dan-viet-nam-lai-thu-truc-goi-tong-thong-my-donald-j-trump/ 

Hoàng Hữu Phước đăng lại trên blog này ngày 19-10-2017 theo sự đồng ý của tác giả Lại Thu Trúc

 

Letter by Lai Thu Truc of Vietnam to POTUS Donald J. Trump

Ho Chi Minh City, 19 October 2017

 

The President of the United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

 

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this November wish to hereby present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my various opinions as follows.

For over a decade, I have read many blog articles of, and had personal talks with my mentor Mr. Hoang Huu Phuoc, the CEO of our company and also the Representative to the Vietnam’s XIIIth National Assembly (2011-2016) as well as Member to its Foreign Relations Committee. He is probably one of the very strong but unknown supporters of yours as seen via his very smart responses on his Twitter (1). In his blogs dated 01 January 2016 he even made an analysis of the nine unique strengths of yours and was the only person in Vietnam to predict your landslide triumph of the presidency (2). The points from my discussions with him as presented hereunder are non-partisan as both my mentor and I are not communist party members nor government’s officers.

A- The Shield & the Sword Status Quo of Vietnam

It is a well-proven fact that Vietnam has been for centuries being the shield and the sword to defeat and stop the China’s age-long ambitions of southward invasions to militarily colonize the territories which are now ASEAN countries e.g. Laos, Cambodia, Thailand, Malaysia, Singapore, Brunei, and Indonesia, thus indirectly ensuring the peaceful existence of the now Australia the owner of Darwin. This status quo of Vietnam in the present regional arena of an aggressive China claiming its assertions of sovereignty over the whole South China Sea makes Vietnam in dire need of considerable supports from the USA.

In this regard, I believe Vietnam need possess nuclear weapons to protect itself from the threats of invasions from China – and of course to protect regional states as well.

However, as strictly ruled by the NPT (Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons), the NWS pledge not to transfer nuclear weapons or other nuclear explosive devices to any recipient or in any way assist, encourage or induce any non-nuclear-weapon state in the manufacture or acquisition of a nuclear weapon, and this makes the issue of Vietnam’s possession of nuclear weapons impossible.

To solve this problem, I think the government of Vietnam should talk with the USA on the deployment of THAAD or Aegis Ashore systems, should the sales be approved by your Department of State.

B- The Supportive Navy Cooperation between Vietnam and the USA

Also in coping with the tension eruption in the South China Sea ignited by China, the government of Vietnam should also discuss with the USA and approve the development of the naval port at Cam Ranh Bay for deployment of and patrols by warships of both Vietnam and the USA to control, protect, and safeguard the freedom of navigation and maritime trade route security.

C- The Decisive Supportive Aspects from the USA to the World: Considering to Shutter the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor

The very last but never the least point I wish to invite your kind attention to is the inconvenient issue from the US Department of State’s Bureau of Democracy, Human Rights and Labor.

Every year that bureau issues the so-called Country Reports on Human Rights Practices. While failing to offer a fully understandable and convincing definition of “democracy”, this work is a costly practice as huge human resources – and huge budgets – of the administration are simply wasted in toiling to collect data of dubious sources from each country for that reporting to the US Congress. It is of a totally useless purpose, irritating not only the government but also the people of each country listed in the report.

This practice is ignored by all – at least by Vietnam’s government and the majority of its people  – and considered only an individual war game between the US Department of State and its counterpart China’s State Council Information Office who annually publishes its own “Human Rights Record of the United States(3).

Among many other misleading comments, whist blaming Vietnam’s imaginary “the most significant human rights problems in the country were severe government restrictions of citizens’… right to change the government” as stated in its Vietnam 2016 Human Rights Report within the above-mentioned Country Reports on Human Rights Practices, the Bureau ignored the obvious fact that there is a similarity between the Vietnam’s applicable law and the 18 US Code § 2385 on advocating overthrow of government (4).

I personally believe the shuttering of the Bureau of Democracy, Human Rights and Labor under your Department of State just like the recent case of Secretary Rex Tillerson’s decision to shutter the Office of Global Criminal Office J/GCJ (or Office of War Crime Issues) will contribute to your MAGA efforts to make the US State Department to regain its prestige and to achieve its budget management, particularly to stop playing the controversial role of lonesome argumentation with China only. Its talented staffs would help the country a lot if providing their positive supportive services to the other offices under the US Department of State, e.g. EAP, EUR, NEA, or WHA, or the like.

 

I hope that with your kind consideration, influence and power, the above opinions would be of values in order that both Vietnam and the USA could materialize the effective sustainable cooperation for securing peace and free maritime trade of ASEAN in particular and the world in general.

 

Most respectfully,

 

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Blog: https://laithutruc.wordpress.com

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

References:

(1) @HoangHuuPhuoc

(2) https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/  (in Vietnamese)

(3) http://news.xinhuanet.com/english/china/2017-03/09/c_136115481.htm

(4) https://www.law.cornell.edu/uscode/text/18/2385

Suy Nghĩ Trong Ngày

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-9-2017

Nguyên tác Tiếng Anh: Suy Nghĩ Trong Ngày

Bản dịch Tiếng Việt: Suy Nghĩ Trong Ngày.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hội Chứng Hoàng Sa  28-7-2014

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis

Thư Của Hoàng Hữu Phước Gởi Đức Giáo Hoàng Francis

– Bản Dịch Tiếng Việt –

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2017

 

Kính gởi Đức Thánh Cha, Đức Giáo Hoàng Francis

Cung Điện Tông Đồ

Vatican, 00120

 

Chủ đề: Những hành động sai trái nghiêm trọng của một số giám mục ở Việt Nam

 

Đức Thánh Cha Tôn Kính,

 

Con ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, một doanh nhân đến từ và là Nghị Sĩ Quốc Hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Việt Nam, kính lời chào trân trọng nhất đến Đức Thánh Cha và xin nhân cơ hội này kính trình Đức Thánh Cha những vấn đề nghiêm trọng sau đây liên quan đến một số linh mục và giám mục ở Việt Nam đối với việc họ can dự vào sự kích động các tín đồ và kích động những cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam mà con xin khép nép tin rằng Đức Thánh Cha đã hiểu biết tường tận.

 

A) Các Cuộc Biểu Tình Xách Động Bởi Các Giám Mục Phản Nghịch Ở Việt Nam

 

1- Sự Lạm Dụng Cờ Vatican Của Đám Đông Giáo Dân Công Giáo Việt Nam:

Những người theo Công giáo La mã trên toàn thế giới đều biết lá Thánh Kỳ Vatican hình vuông bao gồm hai nửa ngang thẳng đứng với một phần vàng hướng cột cờ và phần trắng phía ngoài, có Huy Hiệu Vatican cùng hai chìa khóa Thánh Paul bắt chéo nhau và Ngọc Miện Giáo Hoàng, cũng như biết các pháp chế nghiêm ngặt và tính trên hết của Thánh Kỳ.

Tuy nhiên, để phục vụ mục đích tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam dưới cái cớ chống lại các nhà đầu tư Đài Loan đang gây hại cho môi trường, các giám mục bất đồng chính kiến ​​ở Việt Nam ra lệnh cho người dân của các giáo phận của họ sản xuất ra những cái gọi là “Cờ Vatican” ở dạng hình chữ nhật có hai nửa nằm ngang và phần trắng phía trên còn nửa dưới màu vàng, hoặc không có hình ảnh của các chìa khóa Thánh Peter bắt chéo cùng Ngọc Miện Giáo Hoàng, hoặc có một chữ thập đỏ dày rất lạ nằm giữa lá cờ. Còn khiến sự việc tồi tệ hơn nếu không nói là tệ hại nhất, đám đông giáo dân còn hoặc vác “Cờ Vatican” trên vai, hoặc cầm vẫy qua vẫy lại, hoặc đơn giản cắm cột cờ vào bất cứ khe có sẵn nào trên phần sau đuôi xe, tức là để các “Cờ Vatican” phấp phới sau lưng các phụ nữ ngồi sau những ông lái mô tô.

Các giám mục và những người mà họ giảng dạy giáo lý cho (a) rõ ràng là không biết gì về lá cờ của Vatican, hoặc (b) phớt lờ bỏ qua pháp chế của Tòa Thánh quy định về Thánh Kỳ và sự cao trọng trên hết Toà Thánh dành cho Thánh Kỳ, hoặc (c) trở thành những kẻ phản bội muốn lật đổ triều đại Giáo Hoàng của Công Giáo La Mã bằng cách thiết kế một lá cờ Vatican mới để sử dụng theo ý riêng của họ tại Việt Nam, hoặc (d) ngụ ý rằng sự bất đồng của họ được ủng hộ mạnh mẽ và tài trợ hào phóng của Tòa Thánh chống chính phủ Việt Nam, hoặc (e) tệ hại hơn cả là có kế hoạch biến Nhà Thờ Công Giáo La Mã ở Việt Nam thành một đảng chính trị cạnh tranh với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

2- Cờ Giẻ:

Để thách thức quyền quản trị toàn thế giới của Tòa Thánh, các giám mục và những giáo dân tại các giáo phận của họ biểu tình với nhiều Thánh Kỳ giả mạo được may từ những thứ vải có nguồn gốc chất lượng khả nghi. Đây là một sự lăng nhục Tòa Thánh.

Để thách thức giới tinh hoa hàn lâm  trên toàn thế giới, các giám mục và giáo dân tại giáo phận của họ cùng nhau biểu tình phất nhiều lá cờ đầy màu sắc hình vuông với những chiếc đuôi nheo không đều ở dọc các cạnh trừ cạnh sát cột cờ, mà họ tự hào vẫy qua vẫy lại cùng với “Thánh Kỳ Vatican”. Đây là một sự sỉ nhục đối với Tòa Thánh.

Và để thách thức chính phủ Việt Nam vốn được công nhận trên toàn thế giới, các giám mục cùng các giáo dân của họ biểu tình cùng với nhiều miếng vải màu vàng hình chữ nhật có ba sọc đỏ, tương tự như lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) đất nước mà Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục không bao giờ ủng hộ, cũng như bị tiêu diệt vĩnh viễn bởi quân đội cộng sản của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) vào năm 1975. Phất cao ngọn cờ đã bị vất bỏ sọt rác của một chế độ đã bị xóa sổ vĩnh viễn trong khi xuống đường biểu tình dưới danh nghĩa Giáo Hội Công Giáo và dưới sự lãnh đạo của các giám mục của họ, đám đông giáo dân Công Giáo rõ ràng ám chỉ họ công khai chống cộng sản và nếu vậy đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật nghiêm ngặt hiện hành của Việt Nam đối với  các hành động khuyến khích hoặc kích động sự lật đổ Chính phủ – mà các quy định này khá tương đồng với nhưng không nghiêm ngặt như Đạo Luật 18 US 2385 của Hoa Kỳ. Tình trạng bất khả tương nghị của họ cũng là một sự xúc phạm đến Tòa Thánh.

 

3- Các Giám Mục Việt Nam Là Những Người Kích Động Và Là Những Kẻ Làm Loạn

Mặc dù chữ “lật đổ” đã được dùng trong 52 trường hợp trong 17 câu, 11 chương và 11 sách trong Bộ Thánh Kinh, thậm chí không có một gợi ý nào về lật đổ chính phủ đã được đề cập tới. Thay vào đó là lời giáo huấn rằng mọi chính phủ đều được đặt lên theo ý muốn chủ quản của Thiên Chúa (như tại Psalm 75: 7, Daniel 2:21) và tất cả các chính phủ ở mọi nơi đều phải được tôn trọng, kính trọng và tuân theo bởi các tín đồ (nêu tại  Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10 và 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 nêu rõ rằng: “Hãy nhắc nhở người dân phải phục tùng các nhà cầm quyền, biết tuân lời, sẵn sàng để làm bất cứ điều gì tốt đẹp, không vu khống ai, phải tránh xung đột, hãy tử tế và luôn dịu dàng với mọi người.” Tất cả những lời thông thái từ Thiên Chúa đã được nêu lên rất nhiều lần làm nền tảng của hòa bình hợp tác hài hòa mọi người với chính phủ. Quy tắc tuân thủ này hợp lý vì nó có cung cấp một lựa chọn duy nhất khi người dân có thể thực hành việc bất tuân dân sự bằng cách từ chối thực hành các luật lệ của chính phủ nếu các luật lệ này được chứng minh là có mâu thuẫn trực tiếp với luật lệ của Đức Chúa Trời như được tạo ra trong Kinh Thánh (nêu tại Exodus 1:15-17, Acts 4:19, và Daniel 3:14-18).

Sự hỗn loạn chính trị trên toàn thế giới ngày nay nảy mầm từ sự trắng trợn xem thường giáo lý của Đức Chúa Trời.

Khi các nhà đầu tư Đài Loan gây thiệt hại cho môi trường sinh thái biển ở một số tỉnh duyên hải của Việt Nam, họ đã bị toà án Việt Nam khởi kiện và bị kết án theo luật pháp hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, phớt lờ lời dạy trong Deuteronomy 25:1-3 rằng “Khi có tranh chấp, người ta đưa vụ việc ra tòa án và các thẩm phán sẽ phán xét vụ án, tha người vô tội và buộc tội kẻ có tội. Nếu kẻ phạm tội đáng bị đòn roi, thẩm phán sẽ bắt kẻ đó nằm xuống và cho quất roi trước mặt mình và với số lượng quất roi đánh đúng theo tội trạng. Nhưng thẩm phán không được áp đặt đánh hơn bốn mươi roi đòn”, các giám mục bất đồng chính kiến dẫn đầu đám đông từ các giáo phận của họ tiến hành biểu tình, hung hãn phất “cờ giẻ” và giận dữ la hét đòi trừng phạt nặng hơn bên phạm tội dù pháp luật hiện hành không quy định như vậy, thậm chí đòi đóng cửa các nhà máy dù luật pháp hiện hành không quy định như vậy, cũng như đòi trục xuất tất cả những người Đài Loan dù luật pháp hiện hành cũng không quy định như vậy.

Những sự kiện không ra chi gần đây nhất ở Việt Nam là một ví dụ về tầm quan trọng sống còn của việc thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ và người lớn ngoan đạo trong gia đình, việc thiếu vắng sự giáo dục tốt ở trường học, việc thiếu vắng những lời giảng đạo sâu sắc về những lời dạy của Đức Chúa Trời tại nhà thờ, và việc thiếu vắng sự giám sát chặt chẽ của các cấp cao hơn của Giáo Hội Công Giáo khu vực chỉ có thể tạo ra những giám mục trơ trẻn thiếu suy nghĩ trở thành kẻ xách động bạo loạn, tự để mình vướng vào các cực đoan chính trị thế tục mặc dù chẳng hiểu biết gì hết về chủ nghĩa cộng sản hay bất kỳ chủ nghĩa nào khác, mơ màng một cách đáng thương hại về việc dấn thân vào những âm mưu điên rồ lật đổ Chính phủ Việt Nam và qua đó làm nhục Tòa Thánh.

 

4- Sự Ngu Dại Của Các Giám Mục Xách Động Là Do Sự Thiếu Hiểu Biết Về Lịch Sử

Rõ ràng là không ngoài sự hiểu biết của những người có phúc được cắp sách đến trường rằng Công Giáo lần đầu tiên đổ bộ lên đất nước Việt Nam thông qua các linh mục trên các tàu chiến của Pháp khi bắt đầu cuộc chiếm đóng – tức cuộc thuộc địa hóa – Việt Nam trong một trăm năm. Đây là một sự thật cay đắng không thể chối cãi đối với bao thế hệ những người yêu nước thật sự của Việt Nam, mà thực tế là đã làm Công Giáo không thể trở thành tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam.

Thay vì theo lời răn dạy trong Kinh Thánh để sống đời đạo hạnh một giáo dân Công giáo để trở thành người gương mẫu giúp làm cho lời dạy của Đức Chúa Quyền Năng được cụ thể hóa có tầm ảnh hưởng tốt nhất vì sự tiến bộ của cả dân tộc, một số giám mục lạm dụng quyền lực được giao phó chỉ để biến giáo dân tại các giáo phận thành thần dân còn bản thân trở thành các Lãnh Chúa Phong Kiến chủ nhân ông các giáo phận cứ như thể đó là những lãnh địa của riêng họ. Quả đó là một sự thật cực kỳ vô lý một cách xằng bậy ở Việt Nam nơi mà một số giám mục luôn muốn các giáo phận của họ tách cả thể xác và tinh thần xa khỏi phần còn lại của dân tộc, khinh thường các trách nhiệm công dân và luật pháp quốc gia.

Ngoài sự thiếu hiểu biết về những giáo huấn sâu xa của Thiên Chúa, sự thiếu hiểu biết về lịch sử của Việt Nam nơi các giám mục không giúp Việt Nam phát triển ở bất cứ khía cạnh nào – dù cho đó là về kinh tế, về uy tín của đất nước nói chung và của Công Giáo nói riêng, về chính trị, và thậm chí về tôn giáo.

Tự do ngôn luận và biểu đạt không bao giờ là để gây ra khó khăn cho đa số người Công Giáo khác trên cả nước và cho những đồng bào nghèo. Trong khi các nhà thờ Công Giáo và tín đồ Công Giáo có mặt khắp nơi tại Việt Nam, chỉ có một hoặc hai giáo phận nhỏ ở một số tỉnh là tuân theo chỉ thị của các giám mục xách động của họ để tổ chức các cuộc biểu tình với cờ nùi giẻ la hét đòi trừng phạt khắc nghiệt hơn nhiều đối với một doanh nghiệp nước ngoài, đòi đóng cửa doanh nghiệp đó, và đòi đuổi doanh nghiệp đó ra khỏi Việt Nam; tức là gieo rắc những mầm mống tạo ra sự ghét bỏ nơi những người Việt Nam thuộc các tín ngưỡng khác dành cho tín đồ Công Giáo, làm cho những người Công Giáo “ôn hòa” trên cả nước bối rối, và buộc chính phủ không giảm bớt sự dè dặt đối với các giám mục Công Giáo và cộng đồng giáo dân Công Giáo nói chung. Và cuối cùng song không phải là kém quan trọng  nhất, đó là các cuộc biểu tình như vậy ở các tỉnh nghèo tạo ra những rối loạn ảnh hưởng xấu đến cuộc sinh nhai hàng ngày của những người bán hàng rong và những người nghèo khổ đang làm những công việc lặt vặt trên những lề đường bị chặn ngăn  bởi các giám mục đang giận dữ và những giáo dân ngây thơ của họ.

 

B) Những Kiến Nghị Khiêm Tốn

 

Con được sinh ra trong một gia đình với đấng sinh thành tuy là Phật Tử vẫn tin vào Đức Chúa Jesus Christ (do có ấn tượng bởi cuộc sống đạo hạnh gương mẫu đáng kính tích cực giúp đời của các nữ tu Công Giáo tại một nữ tu viện gần nhà của chúng con tại Quận 3 Sài Gòn năm 1957 mà sau đó nữ tu viện ấy trở thành trường tiểu học Phan Đình Phùng trước năm 1975, những “bà sơ” ấy đã giúp đỡ bất cứ ai trong khu vực toàn người ngoại đạo), và vì tin nên đã cho con cùng các chị em ruột của con theo học tại các trường trung học Công Giáo ở Việt Nam. Một số chị em của con là tín đồ Công Giáo hoặc Tin Lành. Mọi người trong gia đình lớn của con bất kể là Phật tử hay tín đồ của Chúa hoặc như con chỉ là một người thờ phượng tổ tiên, đều đồng ý về một quan điểm rằng trước hết chúng con là công dân Việt Nam và sau đó mới là nhận thức rằng chúng ta là con cái của Thượng Đế. Điều này là để xác quyết rõ ràng rằng chúng con là con cái Thiên Chúa được Thiên Chúa ban phúc cho vào Việt Nam và chúng con sẵn sàng tiêu diệt không thương xót bất kỳ quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu chẳng hạn như Trung Quốc hay nơi nào khác, mặc cho chúng cũng  con cái Thiên Chúa. Việt Nam Trên Hết chính là phương châm của tất cả những người yêu nước thực sự của Việt Nam, những người luôn cầu nguyện Chúa Trời ban phước cho đất nước của họ trước hết.

Với tâm nguyện như trên, và với ấn tượng tuyệt vời từ nhiều tuyên bố của Đức Thánh Cha, ví dụ như những phê phán chống lại những phương cách tàn nhẫn trong chủ nghĩa tư bản, và đặc biệt là những điều được Đức Thánh Cha đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn với Il Messaggero vào tháng 6 năm 2014 liên quan đến nội dung “Sự nghèo khổ là trọng tâm của Phúc Âm”, sâu sắc ngụ ý rằng mối quan tâm của chủ nghĩa cộng sản dành cho người nghèo là trong thực tế từ sự quan tâm đến người nghèo như được viết trong Phúc Âm từ hai mươi thế kỷ trước đó, nên chủ nghĩa cộng sản  coi như đã như một tín đồ của Chúa, con muốn trình cùng Đức Thánh Cha những kiến nghị sau đây.

 

1) Sự Giám Sát Mạnh Hơn Và Hiệu Quả Hơn Đối Với Các Linh Mục Và Giám Mục Tại Việt Nam

Tòa Thánh nên xem xét việc tấn phong một Sứ Thần Tòa Thánh thật mạnh mẽ để phụ trách giám quản Công Giáo Việt Nam, có năng lực lột mặt nạ các sai phạm và thủ đoạn bẩn thỉu của những linh mục và giám mục có mưu đồ làm nhục danh tiếng Tòa Thánh, phá hỏng mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam, lật đổ chính phủ Việt Nam, lùa những giáo dân Công Giáo ngây thơ phạm tội phản quốc, và bóp méo lời răn dạy của Thượng Đế.

 

2) Thực Thi Sức Mạnh Thực Sự Của Vatican Đối Với Những Kẻ Sai Quấy

Các sự cố nêu trên về lạm dụng quyền lực để bêu xấu uy tín của Tòa Thánh cũng kích hoạt sự cần thiết phải thực thi  quyền lực của Vatican chống lại những  kẻ sai quấy sử dụng áo chùng thâm làm vũ khí ngụy trang và sử dụng Vatican làm áo giáp bảo vệ. Rút phép Thông Công là hình thức trừng phạt đúng đắn áp dụng đối với các linh mục và giám mục người Việt Nam nào đã ra lệnh cho giáo dân tại giáo phận của họ phô trương Thánh Kỳ giả tạo cùng cờ giẻ tại những cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đã sống một cuộc sống trần tục của dối trá, bài ngoại, bất tuân xã hội, và kích động bệnh hoạn để phạm tội phản quốc .

 

3) Thực Hiện Các Quan Hệ Ngoại Giao Thật Sự Với Chính Phủ Việt Nam

Tự do ngôn luận và biểu đạt bao gồm  cả quyền dù của một cá nhân hay một tổ chức trong phổ biến chủ nghĩa vô thần hay bất kỳ một tín ngưỡng nào khác. Bất kỳ hành động chống lại một chế độ dựa trên niềm tin tôn giáo khác nhau của chế độ đó không bao giờ là một sự thực thi  đúng đắn về tự do ngôn luận và biểu đạt trong thế giới văn minh.  Cố Giáo Hoàng Benedict Đệ Nhất Thập Lục đã có một bước chính đáng và quan trọng khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng Sản Việt Nam vào ngày 25 tháng 1 năm 2007.

Tuy nhiên, dường như Việt Nam là quốc gia duy nhất mà nơi đó một số linh mục Công Giáo địa phương và các giám mục không chỉ công khai ra mặt lãnh đạo các  nỗ lực thực hiện những thủ đoạn bẩn thỉu nhằm tạo ra các rối loạn chống lại chính phủ, mà còn khóc lóc với nước mắt cá sấu mỗi khi gặp Đại Sứ Tông Tòa, Sứ giả Giáo Hoàng, hoặc Hồng Y, cứ như thể họ đang bị áp bức tàn nhẫn, bị đàn áp bởi các chiến dịch chống Công Giáo của Chính phủ Việt Nam.

Tòa Thánh cần xem xét việc khẳng định chính thức rằng các giám mục Việt Nam được Tòa Thánh phong chức phải tôn trọng mối quan hệ ngoại giao giữa Toà Thánh và Chính phủ Việt Nam, phải báo cáo với Tòa Thánh bất cứ vấn đề gì quan ngại để Tòa Thánh có các hành động ngoại giao phù hợp với các đối tác ngoại giao theo các thực tiễn ngoại giao song phương được cả hai bên thỏa thuận, và phải hiểu rằng họ không có quyền bất kỳ trong tụ tập cầm đầu giáo dân biểu tình chống chính phủ thay mặt cho Tòa Thánh và sử dụng Thánh Kỳ trong bất kỳ trường hợp nào bên ngoài nhà thờ.

 

4) Xác Quyết Quyền Lực Của Chính Phủ Theo Lời Dạy Của Thánh Kinh

Các linh mục và giám mục Công Giáo ở Việt Nam cần được nhắc nhở về nội dung tuân phục Chính Phủ Việt Nam theo lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh.

 

5) Đào Tạo Lại Các Giám Mục tại Việt Nam

Các linh mục và giám mục Công giáo ở Việt Nam cần được đào tạo lại về (a) bổn phận thật sự của mình và trách  nhiệm thực sự của mình đối với giáo phận và những giáo dân, (b) nội dung toàn bộ về các pháp chế và các chế định ưu tiên của Tòa Thánh, và (c) trách nhiệm công dân của tín đồ của Chúa đối với cả hai phạm vi thế tục và phạm vi tâm linh đối với quốc gia cùng luật pháp quốc gia (nêu tại Romans 13:1-7), và đối với Nước Chúa cùng các giáo luật của Chúa (nêu tại Philippians 3:20, Exodus  20:1-5, và Luke 20:25) cùng các giáo lý Kinh Thánh, vốn chứng minh vô chính phủ không bao giờ nằm trong số những lời dạy của Thượng Đế. Sự thiếu hiểu biết đối với một trong hai loại tư cách công dân nêu trên là dấu hiệu nhận ra các linh mục và các giám mục sai quấy của Việt Nam.

 

6) Hiệu Đính Lại Bản Tiếng Việt Của  Kinh Thánh

Có một thực tế là tất cả các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh chưa bản nào là bản dịch thuật xuất sắc, dù đó là công trình dịch thuật của Giáo Hội Công Giáo hay Tin Lành. Ngôn ngữ của bản tiếng Việt không thể phủ nhận được là khó hiểu đối với mọi tín đồ người Việt theo đạo của Chúa vì ba vấn đề sau đây:

(a) Hình thức ngôn ngữ viết tiếng Việt hiện nay là do các nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp vào thế kỷ XVII trước tiên phục vụ cho mục đích giảng đạo. Tiếng Việt trong thời nguyên thủy của nó tất nhiên đã không thể diễn tả chính xác và đầy đủ ý nghĩa của các văn bản thuộc một ngôn ngữ khác, đặc biệt từ tác phẩm Kinh Thánh vĩ đại. Ngoài ra, các nhà truyền giáo người Pháp không phải là những nhà dịch thuật chuyên nghiệp tiếng Việt. Tất cả những yếu tố này khiến các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh phần thì vụng về và phần thì khó hiểu, và việc giáo dục tinh thần của giáo dân Công Giáo Việt Nam nói chung và các linh mục Công Giáo nói riêng không thể ở vị thế cao bằng như trong thế giới phương Tây.

(b) Nhiều từ ngữ Việt Nam đã lỗi thời, không còn được sử dụng, nhưng vẫn tồn tại trong các bản Thánh Kinh tiếng Việt, và thậm chí một số không phải là “bản dịch” vì chúng không phải là từ bất kỳ từ ngữ nào trong bản gốc tiếng Anh chẳng hạn.

(c) Theo truyền thống, các giáo dân Việt Nam theo đạo Chúa đã xem các lời ghi chép trong Kinh Thánh là những lời dạy của Thượng Ðế mà họ phải tuân theo và tôn trọng, bất kể bản Kinh Thánh ấy bằng tiếng Việt đã vậy không phải là một bản dịch hoàn hảo mà chỉ là một công trình không chuyên nghiệp của những dịch giả nghiệp dư.

Các sự thật nêu trên làm cho bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh không hề thay đổi và không hề được cập nhật hoặc không hề được sửa sai trong nhiều thế kỷ. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào các linh mục và giám mục mỗi khi đọc Kinh thánh tại các buổi lễ, mà những giáo dân ngây thơ của họ do không hiểu được nội dung đã phải dựa hẳn vào lời giải thích của các linh mục và giám mục. Nói cách khác, các linh mục và các giám mục ở Việt Nam có thể lạm dụng quyền lực của mình bằng cách giảng giải không đúng những lời dạy của Đức Chúa qua  một bản dịch Kinh Thánh chất lượng kém để khống chế tư tưởng những giáo dân ngây thơ tham gia vào các cuộc tụ họp chống chính phủ.

Đề nghị của con đối với Đức Thánh Cha là Giáo Hội của Việt Nam nên được Đức Thánh Cha giáo huấn rằng bất cứ sự bỏ mặc nào đối với tính chính xác, sự sâu sắc và bản dịch của Kinh Thánh cũng chính là sự báng bổ Thiên Chúa, và rằng bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh được Tòa Thánh cho phép được cập nhật và sửa sai.

 

Do Việt Nam cần sự ổn định và do chính quyền cộng sản Việt Nam là thực thể duy nhất có khả năng bảo vệ hòa bình cho người dân Việt Nam, sự kích động của các linh mục và các giám mục Công Giáo sử dụng Thánh Kỳ giả và cờ nùi giẻ, kích động không chỉ lòng hận thù bài ngoại mà còn là sự bất tuân luật pháp quốc gia không bao giờ có thể được chấp nhận. Các linh mục và giám mục này cần được Tòa Thánh bảo ban nhắc nhở hay tái đào tạo rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc ngay khi chính quyền cộng sản Việt Nam bị tổn hại bởi những cuộc phản đối thiếu suy nghĩ như vậy chắc chắn sẽ làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm cả những giáo dân đạo Chúa bị đẩy đến bờ vực của diệt vong và diệt chủng.

 

Kính mong nhận được sự giúp đỡ của  Đức Thánh Cha.

 

Kính gởi đến Đức Thánh Cha sự tôn kính là lòng tôn trọng.

 

Hoàng Hữu Phước đốn thư

Địa chỉ thư tín:

Hoàng Hữu Phước

MYA BizCorp

399B Trường Chinh, Tân Bình,

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

GHI CHÚ RIÊNG CHO WORDPRESS.COM

 

A) Danh mục các “thư” gởi các lãnh đạo chính trị các nước:

1) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Mỹ Gus Hall (Tiếng Anh, 1978, dài 8 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy pelure lưu vì mối mọt).

2) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Anh Gordon McLennan (Tiếng Anh, 1978, dài 10 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt).

3) Thư doanh nhân Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Thống Iraq Saddam Hussein (Tiếng Anh, gởi thư thường qua bưu điện và gởi bằng điện tín, thất lạc bản nháp viết tay thư, thất lạc bản nháp viết tay điện tín, thất lạc biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Tổng Thống Iraq, chỉ còn biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Đại Sứ Iraq ở Hà Nội đề nghị khẩn báo Tổng Thống Iraq, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Thư sinh viên Hoàng Thị Thu Hương (em gái út của Hoàng Hữu Phước) gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl (Tiếng Đức, gởi thư bảo đảm qua bưu điện, còn lưu trong tàng thư cá nhân, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Thư Lại Thu Trúc (Trợ Lý của Hoàng Hữu Phước) gởi Tổng Thống Mỹ Barack Obama (Tiếng Anh, gởi bằng email đến Tòa Bạch Ốc, nội dung bản gốc tiếng Anh kèm bản dịch tiếng Việt tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

6) Thư Nghị sĩ  Khóa XIII Hoàng Hữu Phước gởi Đức Giáo Hoàng Francis (Tiếng Anh, gởi bằng thư và bằng email đến Vatican, nội dung bản tiếng Anh tại WordPress https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/01/letter-to-his-holiness-pope-francis/ và Twitter @HoangHuuPhuoc).

B) Danh mục các “thư” gởi các cơ quan thông tấn nước ngoài:

1) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Newsweek Mỹ (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện 1988, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu ảnh thư trả lời của Madelain Edmondson của Newsweek đăng tại Tôi và Saddam Hussein).

2) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Hãng Thông Tấn Novosti Liên Xô (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu danh sách trúng giải trên tạp chí Sputnik, với chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Letter to His Holiness Pope Francis

Ho Chi Minh City, 01 August 2017

 

His Holiness, Pope Francis

Apostolic Palace

Vatican City State, 00120

 

Subject:  The Serious Wrong-Doings of Some Bishops in Vietnam

 

Your Holiness,

 

I the undersigned Mr. Hoang Huu Phuoc, a businessman from – and a National Assembly Representative in the 2011-2016 tenure of – Vietnam, wish to convey my best compliments to Your Holiness and would like to take this opportunity to invite the kind perusal of Your Holiness to the following serious issues relating to some priests and bishops in Vietnam involving themselves in antagonizing their followers and agitating the rioting protests against the government of Vietnam, which I humbly believe are not beyond your full awareness of.

 

A) Protests Agitated by Dissident Bishops in Vietnam

 

1- The Misuse of the Vatican Flag by Vietnamese Catholic Hoi Polloi:

The Roman Catholic followers worldwide know the square Holy See Flag consisting of two equal vertical halves with a yellow hoist side and the white fly having the Vatican City coat of arms bearing the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, as well as the strict legislation and precedence of The Holy See Flag.

However, to serve the purpose of organizing protest demonstrations against the government of Vietnam under the pretext of fighting against the Taiwanese investors doing harms to the environment, the dissident bishops in Vietnam order the people of their dioceses to produce many of the so-called “Vatican Flag” in rectangle shape of two horizontal halves of white upper band and yellow lower half, either without the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, or with a strange thick red cross in the middle. To make it worse or the worst, Catholic hoi polloi have such “Vatican Flags” either shouldered, waved, or simply inserted the flagstaffs into whatever holes available on rear tailstock covers of motorcycles, i.e. leaving such “Vatican flags” flutter at the back of the women sitting behind male riders.

These bishops and the people they teach doctrines to either (a) are obviously so ignorant of the Vatican Flag, or (b) disregard the legislation and precedence of The Holy See, or (c) become traitors wishing to overthrow the Papacy of the Roman Catholic Church by designing a new Vatican Flag for separate use totally at their own discretion in Vietnam, or (d) imply that their dissidence is strongly supported and generously funded by The Holy See against the government of Vietnam, or (e) at the worst plan to make the Roman Catholic Church of Vietnam a political party competing against the Communist Party of Vietnam.

 

2- Rags for Flags:

To challenge the worldwide administration power of The Holy See, the bishops and their diocesan people rally with many fake Vatican Flags of dubious sources of fabrics. This is an insult to The Holy See.

To challenge the worldwide academicians, the same bishops and their diocesan people rally also with many unknown square colorful “flags” with unevenly serrated tails at all sides except the hoist, which they proudly wave alongside the Vietnam-bishopized “Vatican flags”. This is an insult to The Holy See.

And to challenge the worldwide-acknowledged Government of Vietnam, the same bishops and their diocesan people rally also with many rectangular yellow three-red-lined pieces of cloth, similar to the flags of the Republic of Vietnam (South Vietnam), which was never supported by the late His Holiness Pope Paul VI, and which was totally defeated for good by the communist army of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) in 1975. Wavering the rag flags of a permanently eliminated regime when protesting under the name of the Catholic Church and the leading of their bishops, Catholic hoi polloi obviously imply they are openly anti-communist and thus put themselves in seriously violating the country’s strict applicable laws relating to the acts of advocating or abetting overthrow of the Government – rules somewhat similar to, but not as strict as, the 18 US Code 2385. Their non-compos mentis status is an insult to The Holy See.

 

3- Vietnamese Bishops as Agitators & Rioters

Even though the word “overthrow” has been found in 52 instances in 17 verses, 11 chapters and 11 books of the Holy Bible, not even a single implication of overthrowing the government is mentioned. Instead, the teaching is that every government is put in place by the sovereign will of God (cf. Psalm 75:7; Daniel 2:21), and that all governments in all places are to be honored, respected, and obeyed by believers (cf. Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10, and 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 clearly mentions, “Remind the people to be subject to rulers and authorities, to be obedient, to be ready to do whatever is good, to slander no one, to be peaceable and considerate, and always to be gentle toward everyone.” All are abundantly raised as words of wisdom from God for the very basis of peace in everybody’s harmonious cooperation with the government. Such rule of obedience is reasonable as it provides a lone option when the people can practice civil disobedience by refusing to practice the regulation of the government’s laws if such laws are proven in direct conflict with God’s laws as generated in the Holy Bible (cf. Exodus 1:15-17, Acts 4:19, and Daniel 3:14-18).

The worldwide political chaos nowadays are germinated from the blatant disregard for God’s teachings.

When the Taiwanese investors brought damage to the marine ecological environment at some coastal provinces of Vietnam, they were sued to and found guilty and fined by the Vietnam’s court as per the applicable laws of Vietnam. However, ignoring the Deuteronomy 25:1-3 that “When people have a dispute, they are to take it to court and the judges will decide the case, acquitting the innocent and condemning the guilty. If the guilty person deserves to be beaten, the judge shall make them lie down and have them flogged in his presence with the number of lashes the crime deserves, but the judge must not impose more than forty lashes”, the dissident bishops led the crowds from their dioceses for protests,  vehemently waving the “rag flags” and angrily shouting for heavier punishment to the culprits though beyond the applicable laws and even for closing of the factories though beyond the applicable laws and expelling all those Taiwanese people though beyond the applicable laws.

These recent sad incidents in Vietnam are of an example of the vital importance of how the lack of proper care of faithful parents and elders at families, of decent education at schools, of profound teachings of God’s words at churches, and of strict supervision of the higher levels of the regional Roman Catholic Church may only produce some impudent inconsiderate bishops as agitators for rioting, enmeshed in the mundane political polarities though totally unknowledgeable of communism and any other –isms, pitifully dreaming of self-involvement in insane plots to overthrow the government of Vietnam and thereupon insulting the Holy Church.

 

4- Stupidity at Agitating Bishops from Their Ignorance of History

It is obviously not beyond the knowledge of the people blessed to have had years at school that Catholicism first landed onto Vietnam’s shore through the priests aboard warships of France in its commencement of the one-hundred-year occupation – i.e. colonialization – of Vietnam. This is a bitter indisputable truth to generations of patriots of the country, as-a-matter-of-factly hindering Catholicism from becoming the main religion in Vietnam.

Instead of following teachings from the Holy Bible to lead a pious life of a Catholic to become an exemplary being to help make words of Lord God Almighty well-materialized an best-influential for the betterment of the whole nation, some bishops misuse the power entrusted to them only to make the people at dioceses their subjects and themselves the Feudal Lords owning the dioceses as if these were their isolated kingdoms. It is a preposterously nonsensical fact in Vietnam where some bishops always want their dioceses physically and spiritually separated from the rest of the nation, ignoring their citizen’s responsibility and their country’s laws.

Besides the ignorance of the profound teachings of God, the ignorance of the history of Vietnam at those bishops does not help the country develop in any aspect at all – be it economy, prestige of the country in general and of  Catholicism in particular, education, politics, and even religion.

Freedom of speech and of expression can never be for creating problems to the majority of Catholics countrywide and to poor compatriots. Whilst Catholic churches and Catholics are everywhere in Vietnam, only one or two small dioceses in some provinces follow the order or their agitating bishops to organize protests with rag flags shouting for much harsher punishment against a foreign business, closing of that business, chasing its people out of Vietnam; thus sowing further seeds of hatred from Vietnamese people of different religious beliefs towards Catholics, making “moderate” Catholics countrywide embarrassed, and forcing the government not to lessen its alertness against the Catholic bishops and Catholic communities as a whole. And last but never the least, such protests at poor provinces create disturbances badly affecting the daily toiling for a living of street vendors and destitute people doing odd jobs on pavements of roads blocked by angry vehement bishops and their naïve diocese people.

 

B) Humble Proposals

 

Born into the family of my Buddhist parents who believed in Jesus Christ (as impressed by the much exemplary respectful responsible supportive pious living of the Catholic nuns at a convent located near our home at District 3 of Saigon in 1957 who provided generous help to anybody of the neighbourhood comprising of  non-Christians only) and sent their children to Catholic high schools in Vietnam, I have some siblings who are Catholic or Evangelical Christians, and everyone in my big family regardless of a Buddhist or a Christian or just an ancestor-worshipper like myself agrees on the one and utmost point of view that we are the citizens of Vietnam first before the perception that we are children of God Almighty. This is to set it very clear that we the children of God bestowed by God on to Vietnam are prepared to annihilate without any mercy the invaders say from China or elsewhere, be them also the children of God. Vietnam First is the very motto of all the real patriots of Vietnam who pray God to bless their own country first.

With the above in mind, and with the great impression instilled from the various statements of Your Holiness, e.g. the criticisms against the abusive practices in capitalism, and particularly the one delivered by Your Holiness at the interview with Il Messaggero in June 2014 relating to “Poverty is at the center of the Gospel”, profoundly implying that the concern of communism for the poor is in fact from the concern of the poor as written in the Gospel twenty centuries earlier, which thereupon make communism a Christian, I wish to bring the following proposals to Your Holiness for consideration.

 

1) Stronger & More Effective Supervision of Local Priests and Bishops in Vietnam

The Holy See should consider to ordain a very strong Apostolic Nuncio in charge of Vietnam capable of unmasking the wrong-doings and dirty tricks of those Vietnamese priests and bishops whose plots are to besmirch The Holy See, to spoil the diplomatic ties between Vatican and Vietnam, to overthrow the Government of Vietnam, to lure naïve Catholic followers to treasons, and to distort the teachings of God.

 

2) Execution of Real Power of Vatican to Wrong-Doers

The above incidents of abuse of power to besmirch the prestige of The Holy See also ignite the necessity of execution of power of Vatican against wrong-doers using the cassocks as camouflage and Vatican as protecting armor. Excommunication is the only correct punishment imposed against the Vietnamese priests and bishops who order their diocese people to display fake Vatican Flags and rag flags at illegal protests, and lead a mundane life of lies, xenophobia, social disobedience, and morbid agitation for conviction of treason.

 

3) Materialization of Real Diplomatic Ties with the Government of Vietnam

Freedom of speech and expression includes the right whether of an individual or an organization to promote atheism or other beliefs. Any action against a regime on the pretext of its different religious belief is never a righteous observation of the freedom of speech and expression in the civilized world. The late His Holiness Pope Benedict XVI made a righteous and important step towards establishing diplomatic ties with the communist Vietnam on 25 January 2007.

However, it seems Vietnam is the only country whereat some local Catholic priests and bishops not only openly show their leadership in the efforts to do dirty tricks to create problems against the government, but also cry with crocodile’s tears whenever meeting Apostolic Nuncio, Papal Delegates, or Cardinals, as if they were under the cruel oppression and suppression and anti-Catholic campaigns of the Government of Vietnam.

The Holy See should consider the official affirmation that the Vietnamese bishops ordained by The Holy See must honour the diplomatic relation between The Holy See and the Government Vietnam, must report to The Holy See whatever problems of their concern for The Holy See to take suitable diplomatic action with the diplomatic counterparts as per diplomatic practices bilaterally agreed upon by both sides, and must understand that they have no right whatsoever to gather and lead their diocese people for anti-government protests on behalf of The Holy See and deliberate use of Vatican Flag inn any occasions outside the church premises.

 

4) Acknowledging the Power of the Government as per Teachings in Testaments

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be reminded of the obedience to the Government of Vietnam, following God’s teachings in The Holy Bible.

 

5) Retraining of Bishops in Vietnam

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be retrained on (a) their real duties and real responsibilities with the diocese and the followers, (b) the full legislation and precedence of The Holy See, and (c) the citizenship of Christians in both the earthy and the spiritual realms with the former the country and its laws and regulation (cf. Romans 13:1-7), and the latter God’s Heaven (cf. Philippians 3:20, Exodus 20:1-5, and Luke 20:25) and its doctrines, which prove anarchy is never amongst the teachings of God. The ignorance of either of the two citizenships is the very sign of wrong priests and bishops of Vietnam.

 

6) Revision of Vietnamese Translation of the Bible

It is a fact that all the Vietnamese versions of The Holy Bible have not been of excellent translation, be it the work of the Catholic or Evangelical Churches. The language is undeniably incomprehensive to every Vietnamese Christian, due to the following three issues:

(a) The present-day Vietnamese language format of alphabet writing presentation was developed by the French Jesuit missionaries in the XVIIth century to first serve the purpose of Bible teaching. The Vietnamese language in its primitive time definitely failed to accurately and sufficiently express the sense of the texts in another language, particularly from the great Holy Bible. Additionally, the French missionaries were of course not professional translators of Vietnamese language. All these make the Vietnamese versions of The Holy Bible partly clumsy and partly incomprehensive, and the spiritual education of the Vietnamese Catholics in general and Vietnamese Catholic priests could not be of a profile as high as in the Western world.

(b) Many obsolete Vietnamese wordings are still in the Vietnamese translation versions, and even some are not “translation” as they are not from any wording in the original say English version.

(b) Traditionally, the Vietnamese Christians have considered wordings in the Holy Bible the teachings of God which they must obey and respect, regardless of the fact that the Bible is in Vietnamese but not of a perfect profound translation but just an unprofessional work of amateur translators.

The above facts make the Vietnamese translation of The Holy Bible unchanged and non-updated or uncorrected for centuries. It depends totally individually on priests and bishops when reading the Bible at Church services, which their naïve followers failing to get the true context have to rely on their explanations. In a word, priests and bishops in Vietnam can easily misuse their power by misinterpreting the words of God in a poor translation of The Bible to mastermind the naïve people to involve in anti-government gatherings.

My proposal to Your Holiness is that the Vietnam’s Church should be taught by Your Holiness that any disregard to the accuracy, profound, and translation of The Holy Bible is itself a blasphemy, and that the Vietnamese translation version of The Holy Bible is allowed by The Holy See for updating and correcting.

 

As Vietnam need be stabilized and the communist government of Vietnam is the only entity capable of securing peace to the people of Vietnam, the agitation by those Catholic priests and bishops using fake flags and rag flags and inciting not only xenophobic hatred but also disobedience to the country’s laws can never be accepted. These priests and bishops need be reminded or re-educated by The Holy See that China’s invasion once the communist government of Vietnam is harmed by such thoughtless protests will surely corner the people of Vietnam including Vietnamese Christians to the definite verge of perdition and genocide.

 

The help from Your Holiness is kindly requested.

 

With every good wish to Your Holiness, I am,

Very Respectfully Yours,

 

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam’s XIIIth National Assembly Representative

Mailing address:

Hoang Huu Phuoc

MYA BizCorp

399B Truong Chinh St., Tan Binh,

Ho Chi Minh City

Vietnam

Tel: 84-1689996266

Email: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

**********

Notes for the WordPress.com, regarding the personal letters to foreign institutions:

A) Letters to Political Leaders:

1) Letter to Secretary General of the US Communist Party Gus Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

2) Letter to Secretary General of the UK Communist Party Gordon McLennan (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

3) Letter to President Saddam Hussein (by Hoang Huu Phuoc, in English, sent via telegrams and postal service. Details in Vietnamese at Tôi và Saddam Hussein https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Letter to Chancellor Helmut Kohl (by Hoang Thi Thu Huong, the youngest sister of Hoang Huu Phuoc. In German. Sent via postal service. Copy available at personal archives. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Letter to President Barack Obama (by Lai Thu Truc, Secretary to Hoang Huu Phuoc. In English. Sent by email. Details with Vietnamese translation available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

B) Letters to Foreign Mainstream Media:

1) Letter to Newsweek of the USA (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1988. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details and image of reply letter from Madelein Edmondson available at Tôi và Saddam Hussein)

2) Letter to Novosti of the USSR. Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1996. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Sagarmatha

Bài Thơ Tản Văn Gieo Vận Sonnet (Sonnet-Rhymed Prose Poem) tặng Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2017

screen-shot-02-21-17-at-01-59-pm

Văn nhân thi sĩ Việt hay gọi thơ là Nàng Thơ cứ như thể có một mặc định bất dịch di nào đó rằng thơ ca mang bản chất giới tính nữ thuần, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về hoa về lá về cảnh đẹp mông lung về cảm tình nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, bất kể thơ ca còn có bao thiên anh hùng ca hoặc những vần thơ dũng mãnh gươm khua lẻng kẻng hòa quyện tiếng lạc vó câu chiến mã vút vun vụt vùn.

Văn nhân thi sĩ Việt cũng hay dùng ngọn núi như biểu tượng chứa chất một mặc định bất dịch di nào đó rằng núi non mang bản chất giới tính thuần nam, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về ý chí hào hùng trang nam tử “phải có danh gì với núi sông”.

Tất nhiên, thi nhân Việt Nam có khi tự suy tự diễn rằng núi non có ngọn như Phú Sĩ Sơn Fuji đẹp như thơ, rồi thi vị hóa nó, tự phán rằng ngọn núi tuyệt mỹ ấy là nguồn thi hứng cho thi sĩ văn nhân sáng tác nên những vần thơ hoa lá cành cảnh đẹp mông lung nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, mà không biết rằng đa số nhân loại vẫn không cho Phú Sĩ Sơn ở Nhật đẹp sánh bằng các ngọn Kilimanjaro, Assiniboine, Castle, Matterhorn, Bora Bora, Dhaulagiri, Alpamayo, Eiger, hay Machabuchare, v.v., đơn giản vì chỉ những ngọn núi này mới mang vẽ đẹp cực kỳ uy nghi, cực kỳ uy dũng, cực kỳ uy nghiêm ung dung tự tại sững sừng giữa một không gian chung quanh cũng đẹp uy nghi uy dũng sững sừng tương tự, hình thành từ kiến tạo địa tầng thuần túy, không ẩn tàng trong nó hiểm họa cho nhân sinh – trong khi đó, Phú Sĩ Sơn là ngọn hỏa sơn đang ngủ yên nghĩa là đã từng tàn phá và ắt sẽ có ngày phá tàn tất cả sau ngàn năm yên ngủ.

Nếu nói về của cải thiên nhiên Việt Nam thì những hình ảnh trên internet về dãy Hoàng Liên Sơn cho thấy đó thực sự là một dãy núi thực sự tuyệt đẹp với những đỉnh non cao thực sự đẹp tuyệt. Tuy nhiên, về vẽ đẹp nên thơ của Hoàng Liên Sơn thì chưa từng có một kiệt tác hay những kiệt tác nào của bất kỳ một thi bá hay những thi bá nào ngay của Việt Nam xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ nền văn học sử Việt Nam hay thế giới. Đồng thời, cũng tuy nhiên, cái vẽ đẹp uy nghi hùng dũng sững sừng của Hoàng Liên Sơn thì cũng chưa từng được bất kỳ nhà leo núi lừng danh hay tổ chức thám hiểm non cao uy tín nào trên toàn thế giới xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ các chương trình thám hiểm chinh phục hùng sơn của họ. Đó là lý do rặng Hoàng Liên Sơn hay ngọn Fansipan khi chưa được người Việt biết đến – trừ cái tên – thì khó thể được sử dụng làm hình tượng cho một von ví bất kỳ bằng công cụ thơ ca.

Đó là những sự thật.

Một sự thật khác là: nhân thế chưa từng có ai lấy cái đẹp của một ngọn núi uy nghi uy dũng sững sừng để xưng tụng nét đẹp của một nữ nhân, mặc cho hai sự thật là (a) tuyệt đại đa số các ngọn mỹ sơn đẹp nhất trên thế giới đều sừng sững uy nghi tượng trưng cho sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của thiên nhiên và con người, và (b) sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của cuộc sống là đức tính đáng ngợi ca không bao giờ được mặc định chỉ tồn tại nơi nam giới.

Bài thơ bằng tiềng Anh dưới đây, do đó, đã như một phá cách của tác giả bài viết này khi sáng tác để ngợi ca sự trung hậu, lòng trung tín, chí trung thành vững bền theo năm tháng mà Cô Lại Thu Trúc đã luôn dành cho tác giả, cũng như xưng tụng nét đẹp cao trọng cao vời cao thượng của Cô, theo thủ pháp quyện hòa đầu tiên về ý nghĩa của những mỹ sơn khi ngọn hùng sơn đồng thời là đỉnh thi sơn.

Ngọn hùng sơn Sagarmatha có thể là tột đỉnh của nóc nhà thế giới. Nhưng ngọn hùng sơn ấy vẫn dễ dàng nằm gọn một cách đầy kiêu hãnh trong chu vi nhỏ bé một con tem bưu chính của một quốc gia không phải siêu cường.

Đỉnh thi sơn có thể là ngự điểm của các bậc thi bá thơ vương. Nhưng đỉnh thi sơn ấy vẫn có thể nằm gọn một cách đầy tráng lệ trong bài sonnet nhỏ gọn chỉ có 14 dòng của một blogger không phải lừng danh để tả miêu sự cao vời vợi nơi một cô gái bé nhỏ không phải siêu mẫu.

Những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn thường là về những lớn lao luôn có nơi những con người rất lớn lao. Nhưng những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn ấy cũng có thể là về những điều quý trọng thuần đạo đức giản đơn cùng ý chí nơi một người con gái bé nhỏ không thuộc danh sách những người khổng lồ.

Bài thơ tản văn gieo vận kiểu sonnet dưới đây, do đó, là món quà Tết 2017 thay cho hai ngàn không trăm mười bảy lời khen tặng cảm ơn mà tác giả đã gởi đến Cô Lại Thu Trúc ngày Mùng Một Tết Đinh Dậu này, đem ngọn Sagarmatha để ví về Cô, để từ nay cho đến Ngày Tận Thế thì cái tên gọi Sagarmatha sẽ luôn và chỉ thuộc về Cô.

Kính đăng lại như sau để tất cả những người bạn tốt khác trên không gian mạng cùng thưởng lãm.

sagarmatha-post-3sagarmatha-postsagarmatha-post-1screen-shot-02-23-17-at-01-54-pm

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thơ:

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Thông Giáng Sinh và Formal English January 2, 2015

15 năm ngoảnh nhìn August 16, 2016

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood September 13, 2016

The Wondrous Mirror – Khai Thần Bút  February 19, 2017

Lại Thu Trúc:

Lại Thu Trúc December 22, 2015

The Wondrous Mirror – Khai Thần Bút

Chiếc Gương Thần Diệu

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-02-2017

Đã là thói quen từ lớp 8 trung học mà tôi mô phỏng theo Thầy Đàm Dược Côn, giáo sư Anh Văn trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn, hàng năm sau Tết Nguyên Đán tôi đều hoặc sáng tác một bài thơ Đường Luật hoặc chép lại một bài thơ Đường Luật cổ của một bậc thi bá tài hoa, và xem đó như thủ pháp Khai Thần Bút. Nhưng không như Thầy Đàm Dược Côn chỉ phóng bút sáng tác các bài Đường Luật tiếng Hán-Việt để Khai Thần Bút, tôi thỉnh thoảng có năm lại sáng tác một bài Sonnet tiếng Anh nếu bắt gặp một gợi ý tuyệt diệu tạo nguồn cảm hứng.

Tết Đinh Dậu 2017 này, cô học trò cũ của tôi là Nguyễn Thị Mai Linh đang là giáo viên tiếng Anh ở Thành phố Hồ Chí Minh lúc chúc Tết tôi có nói về thời gian qua nhanh thắm thoát mới là sinh viên của tôi mà nay đã 35 năm, còn con gái của cô là Linh Nhi mới ngày nào còn nhờ tôi hướng dẫn chọn trường đại học rồi hướng dẫn làm đơn xin việc sau tốt nghiệp cũng như cách trả lời phỏng vấn tuyển dụng và nay làm việc cho mấy công ty nước ngoài. Mai Linh khoe hình hai mẹ con chụp với nhau ở Hội Hoa Xuân. Và những bức ảnh vui tươi nhí nhảnh hồn nhiên tươi trẻ đó đã gợi nên trong tôi cảm hứng viết nên bài thơ Chiếc Gương Thần Diệu “The Wondrous Mirror” để Khai Thần Bút để vẽ nên bức tranh như sau, kính đăng lại để những người bạn tốt trên không gian mạng cùng thưởng lãm:

ml1ml2ml3

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Thông Giáng Sinh và Formal English January 2, 2015

15 năm ngoảnh nhìn August 16, 2016

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood September 13, 2016

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoa Hậu Nói Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-9-2016

hhp-8-2016

Ảnh: Hoàng Hữu Phước, 08-2016

Giữa lúc cuộc diện thế giới và nước nhà có lắm điều cần bàn đến thế mà lại nói về cách mà cái cô hoa hậu người Việt gì đó họ Vũ – dưới đây gọi tắt là Vũ Hậu – đọc tiếng Anh thì rõ là vớ vẩn, không phù hợp chút nào. Song, biết làm thế nào được khi có đến những 3 vấn nạn trầm kha của (a) những người khóc mướn, (b) những người chả biết ất giáp gì về tiếng Anh nhưng sính nói nhặng lên về tiếng Anh dù cho có mặt đầy ngạo nghễ trong hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách giáo dục đào tạo tiếng Anh hoặc trong hàng ngũ tay mơ, và (c) những người mặt dày mày dạn bô bô cái mồm tửng tửng làm nhục quốc thể, khiến dù Vương Tử Trực đã phán “Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi” thì tôi cũng vì đại nghĩa trừ dịch bịnh mà ra sức lấy chổi chà ra đập ruồi đuổi nhặng vậy.

Những kẻ khóc mướn đã hoàn toàn sai khi nói rằng (a) có nhiều người Việt nói tiếng Anh như Vũ Hậu ấy và rằng (b) chính MC chương trình người Philippines cũng bảo vì cô giám khảo Vũ Hậu vốn dĩ là dân nước Việt Nam mà nước ấy không nói tiếng Anh nên Vũ Hậu đương nhiên không đọc được tiếng Anh.

Xin thưa rằng cái việc bình thường của một người may mắn không có khiếm khuyết bẩm sinh đối với một ngôn ngữ bao gồm 8 nội dung: nghe, nghe-hiểu, nói, nói-hiểu, đọc, đọc-hiểu, viết, và viết-hiểu. “Nghe” khác với “nghe-hiểu” vì “nghe” như vịt nghe sấm rất khác với nghe mà hiểu được nội dung vừa nghe. Tương tự, một người thí dụ người Việt có thể cầm một tài liệu vật lý vũ trụ bằng tiếng Việt để đọc ra thành tiếng nhưng không hiểu gì cả.

Và cũng xin thưa rằng cái mà người Việt Nam hay lầm to cả trăm năm nay là khi cho rằng việc học tiếng Anh gồm 4 nội dung – xếp theo quy trình theo thứ tự trước-sau của một đứa bé hay người bắt đầu “học” – nghe, nói, đọcviết. Thực ra, đã học thì phải hiểu. Và do đó, dù tiếng Anh ghi cái quy trình ấy là listening, speaking, readingwriting, thì tiếng Việt tương đương lẽ ra phải là nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Điều khẳng định ở đây là một người chỉ khi học tiếng Anh đến trình độ làm chủ tiếng Anh (mastering English) thì mới nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu tiếng Anh. Còn nếu có “học” mà không “làm chủ” được thì người đó chỉ có thể nghe, nói, đọc, và viết tiếng Anh – có thể nói lưu loát (nhờ “học” thuộc lòng các mẫu câu), phát âm tốt (theo rèn luyện tại lớp), nghe tốt (nhờ đã nghe trước bản ghi âm), đọc tốt (theo rèn luyện phát âm và đọc câu hay đoạn văn tại lớp) và viết được (nhờ học thuộc lòng câu mẫu hay đoạn văn mẫu), nghĩa là cái gì cũng được trừ sự hiểu biết toàn phần hoặc một phần.

Trong khi việc nói tiếng mẹ đẻ bất kỳ của một đứa bé bất kỳ của một đất nước bất kỳ đúng là theo trình tự của nghe – nói – đọc – viết, nghĩa là sau một thời gian ngắn nghe những âm thanh lời nói của cha mẹ và/hay người thân, đứa bé sẽ phát âm lập lại những âm thanh đã nghe, và lớp học tiểu học giúp tạo nên hai khả năng còn lại là đọc và viết; thì việc học một ngoại ngữ – ở đây xin nói cụ thể về tiếng Anh – lại hoàn toàn khác: hoàn toàn không theo quy trình trước-sau như cách đứa hài nhi đối với tiếng mẹ đẻ của bé, mà là một gói học đồng thời cùng lúc của nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Đây là một sự thật dễ y như “quả trứng của Christopher Columbus” nhưng sự thật là chưa hề có bất kỳ người Việt Nam nào trong hàng trăm năm nay nói đến.

Ngoài ra, việc có quá nhiều sự lập đi lập lại tại Việt Nam rằng người ta nên học tiếng Anh từ khi còn là trẻ nhỏ thì (a) tôi đã chứng minh là xằng bậy trong tất cả các bài viết về “học tiếng Anh” dù trên báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, và Sài Gòn Tiếp Thị cách nay 20 năm hay trên các blog hơn chục năm qua; (b) chưa hề có bất kỳ nghiên cứu nào cho ra số liệu về những trẻ nhỏ Việt Nam cụ thể nào học tiếng Anh thì sau 20 năm đã trở thành nhà hùng biện tiếng Anh; và (c) có sự tồn tại cách học tập “bất thường” dành cho những người lớn “phi thường” tại tất cả các cơ quan tình báo lừng danh thế giới để nắm bắt một ngoại ngữ tuyệt hảo trong một thời gian tuyệt ngắn.

Từ tất cả những lập luận trên, có thể tin rằng nếu Vũ Hậu có thực sự học cấp trung học thì chắc chắn 100% ả ta có thể đọc được tiếng Anh một đoạn văn từ một bản in giấy cầm trên tay, ngay cả khi ả chẳng hiểu nội dung đoạn văn viết in sẵn đó, trong khi chưa chắc ả nghe được tiếng Anh, chưa chắc ả nói được tiếng Anh, và tất nhiên chưa chắc ả viết được tiếng Anh. Bởi cái sự dạy và học tiếng Anh ở tuyệt đại đa số các trường trung học ở Việt Nam như bấy lâu nay sẽ cho ra lò những học sinh đa số có khả năng đọc được các bài văn một cách dễ dàng, vấn đề là đọc với phát âm và ngữ điệu có tốt nhiều, tốt, hay hơi tốt mà thôi.

Ở đây, cái quái gở là Vũ Hậu đã không như một người đã từng học tiếng Anh ở trung học, nghĩa là đương nhiên phải đọc được một câu tiếng Anh in sẵn, bất kể có hiểu câu đó nghĩa gì hay không. Vũ Hậu đã thốt nên những âm thanh gì đó chẳng dính dáng đến tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trừ trong kịch bản hài. Vũ Hậu đỗ thừa cho chất lượng micro, rồi sau đó lại tuyên bố rằng khả năng nói tiếng Anh của ả không tệ nhưng thiên hạ không nghe được chẳng qua là do ả phát âm với chất giọng đặc trưng của người Việt Nam. Đây không những là một sự xúc phạm nặng nề người Việt mà còn là tư cách thấp lè tè của Vũ Hậu, vì rằng chính người Việt mới là người có ưu thế trời sinh để phát âm hay nhất bất kỳ ngoại ngữ nào, thậm chí phát âm tiếng Anh hay nhất Á Châu kể cả hơn hẳn người Ấn vốn có tiếng Anh là một trong những quốc ngữ của họ và họ viết tiếng Anh tuyệt hảo hơn cả người Anh.

Tôi chỉ có thể khẳng định Vũ Hậu đã hoặc chưa  từng học trung học hoặc chưa từng học bất kỳ một giờ nảo của bộ môn tiếng Anh trong suốt 7 năm trung học của ả. Hãy hỏi các giáo viên Anh Văn của tất cả các trường trung học ở Việt Nam để biết một sự thật rằng trong khi nghe-nói-viết có thể vẫn là một vấn nạn thì đọc luôn là điều mặc định sẽ đạt được ở tất cả các học sinh có bước chân vào lớp học tiếng Anh mà lớp ấy có người hưởng lương “giáo viên tiếng Anh” đang đứng lớp giảng dạy. Chưa kể, “đọc” ở đây là “reading” tức mới chỉ nói về cái khả năng máy móc của cái mồm bật lên âm thanh khi đôi mắt nhìn thấy các chữ, chứ không là “reading compehension” tức “đọchiểu” vốn thuộc đẳng cấp cao hơn, quan trọng hơn, chủ lực hơn, chủ động hơn, trí tuệ hơn, trong việc học tiếng Anh.

Cuối cùng, cái anh MC người Philippines sở dĩ nói thế là để cứu nguy cho ban tổ chức đã ngu muội mời Vũ Hậu, chứ không phải để khẩn thiết cầu mong khán giả thông cảm cho Vũ Hậu. Song, anh MC của thế giới giải trí do ít học đã không đủ trí tuệ để nhận ra rằng anh ta đang chửi cha dân Việt khi bảo ở Việt Nam tiếng Anh đâu là quốc ngữ nên người Việt không nói được tiếng Anh. Từ giọng điệu của tên MC mất dạy người Philippines đó mà suy ra thì người Việt cũng không nói được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Bồ, tiếng Phạn, tiếng La Tinh, tiếng Tàu, v.v., vì mấy thứ tiếng này không phải quốc ngữ của Việt Nam. Cũng từ đó suy ra người Việt không thể biết 2+2=4 vì chẳng có định đề toán học nào được đẻ ra ở Việt Nam; hoặc mấy ông cộng sản Việt Nam không thể giỏi lý luận chính trị Mác-Lê Nin vì nước Việt đâu có đẻ ra chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít; hoặc đừng thèm nghe mấy giáo sư Triết Tây ở Việt Nam nói chuyện về Sigmund Freud vì Việt Nam không là xứ sở đẻ ra ngành phân tâm học hay tâm bệnh lý học; hoặc quân Việt không biết bắn súng, lái tiêm kích siêu thanh, hay lái tàu ngầm vì mấy món vũ khí này do nước khác chế tạo ra; vân vân và vân vân.

Tôi khẳng định:

– Ai bảo có nhiều người Việt đọc tiếng Anh giống Vũ Hậu thì chính kẻ đó chưa từng học tiếng Anh hay tiếng Pháp, kể cả tiếng Việt.

– Vũ Hậu đã chưa từng học tiếng Anh nên việc dễ dàng nhất là đọc “read” một câu hỏi tiếng Anh in sẵn sao cho người ta nghe ra ngô ra khoai cũng bất khả thi.

– Người Việt Nam (nếu đã học tiếng Anh đạt yêu cầu bình thường tại Việt Nam) phát âm tiếng Anh hay nhất toàn Châu Á chứ không chỉ ở Đông Nam Á, thậm chí dứt xa dân các nước Đông Âu ngay cả khi các dân Á Châu hay Đông Âu này đã học tiếng Anh đạt yêu cầu tại nước họ hay ngay tại nước Mỹ.

Xin hãy hỏi các giáo viên tiếng Anh bậc trung học ở Việt Nam về sự thật trên để đừng khóc mướn khóc thuê cho kẻ tội đồ mặt dày làm nhục quốc thể và sĩ nhục quốc thể.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết có liên quan:

WordPress.com:

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Tips for Learners of English (có đăng trên Aspiration Blog của uk.360, và trên LinkedIn.com)

Emotino.com (Đã đóng cửa. Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Phường Có Đúng Là Ward?

Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ

Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh.

Kịch Của Hoàng Hữu Phước: Thorns of Life.

Báo Người Lao Động (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân?

Báo Tuổi Trẻ (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Có Nên Cho Trẻ Em Học Tiếng Anh?

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-9-2016

french1

A) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bài này của mụ Marie Cordiez xuất hiện ngày 12-9-2016 trên http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam và được gởi đến tôi bởi một nhà báo Pháp do bực tức trước luận điểm càn quấy của Marie Cordiez)

french2

EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam

Il y déjà presque un an, nous vous vantions 10 bonnes raisons de s’expatrier au Vietnam. Nous manquerions à notre devoir d’objectivité si nous ne faisions pas également état des quelques désagréments qui ne manqueront pas aux expats sur le départ. Ils sont en effet nombreux, aux mois de juillet et août, à rentrer au pays ou être appelés sous d’autres latitudes.

  1. La pollution

D’après un rapport d’experts dont nous vous parlions ici, nous respirons l’un des plus mauvais airs de la planète. Ici, le masque n’est pas un luxe ou un effet de mode, c’est une nécessité. La pollution est palpable à la crasse qui s’accumule sous nos ongles et qui s’écoule dans la douche en fin de journée.

  1. L’humidité

Qui dit pays tropical, dit humidité ambiante permanente. Nos accessoires en cuir n’apprécient pas vraiment. En moins de deux, ils se couvrent d’une fine couche de moisissure verte. Le linge a du mal à sécher, surtout en saison des pluies. Et à la sortie de la douche, le répit est de courte durée avant que nos vêtements ne soient à nouveau trempés.

  1. Les conditions sanitaires

La qualité de l’eau courante est tellement déplorable que certains médecins déconseillent même de l’utiliser pour se laver les dents ou laver ses légumes. Pas étonnant qu’on retrouve des choses pas très nettes dans les glaçons! Il faut dire qu’il y a encore du boulot de sensibilisation à faire pour inciter les Vietnamiens à ne pas considérer la rue et la rivière comme des dépotoirs à ciel ouvert.

  1. Les soucis de santé

Les points précédents ont un impact direct sur la santé : nombreuses infections aggravées, problèmes de toux et d’asthme, cicatrisation difficile… Auxquels il faut ajouter des maladies endémiques dues notamment aux moustiques, comme la dengue, dont on ne peut se prémunir. Mieux vaut prévoir une bonne assurance pour pouvoir faire face aux frais médicaux que cela engendre.

  1. Le bruit

Quand il ne s’agit pas des travaux incessants (oui, ici les ouvriers travaillent jour et nuit), du trafic (la symphonie des coups de klaxons intempestifs), du karaoké d’à côté (les Vietnamiens semblent être sourds de naissance tant ils aiment pousser le volume à fond), c’est l’air conditionné ou le ventilateur qui vous empêchera de dormir.

  1. Le manque des “produits de chez nous”

Qui n’a pas rêvé d’une bonne fondue savoyarde ou d’une raclette, de chocolats dignes de ce nom, voire d’un foie gras coupable ? D’une cuite au champagne, de bonnes bières belges (on ne se refait pas…), de tomates goûtues et surtout d’une vraie baguette ? Certains de ces produits peuvent se trouver ici à prix d’or, mais rien ne vaut le plaisir de faire les courses une fois de retour au bercail !

  1. Les frais de scolarité

Pour ceux qui, comme moi, viennent d’un pays où l’éducation est gratuite, les frais de scolarités sont un vrai coup de massue. Quand on arrive, on rêve parfois d’inscrire ses enfants en anglais, mais ceux dont l’employeur ne prend pas ces frais en charge se ravisent généralement bien vite (jusqu’à 30.000 $ par an pour un enfant… mieux vaut ne pas être une famille nombreuse !) et restent en français.

  1. Les machines à laver à eau froide

Ça. Ne. Lave. Absolument. Rien. Le linge blanc sera vite jaunâtre, oubliez l’idée de faire partir les auréoles et encore moins les taches difficiles. Vous pouvez utiliser tous les trucs de grand-mères et les produits que vous voulez, votre linge sortira de plus en plus sale de cette fichue machine. Evidemment, la qualité de l’eau n’y est pas pour rien. Un conseil : faites bouillir régulièrement votre linge de maison au pressing si vous voulez éviter les odeurs.

Au final, vous le voyez, il reste quand-même plus de raisons d’y venir que de le quitter!

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12 Septembre 2016

B) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bản ý nghĩa tiếng Việt này có thể chưa được hoàn chỉnh do Pháp Văn cùng Nga Văn là các sinh ngữ phụ của người dịch. Xin vui lòng xem như chỉ có các ý chính được tập trung nêu rõ. Xin đa tạ. Hoàng Hữu Phước)

Ra Đi Biền Biệt – 8 Lý Do Để Bỏ Việt Nam Không Chút Hối Tiếc

Đã gần một năm kể từ khi chúng tôi đăng bài 10 Lý Do Để Đến Việt Nam. Chúng tôi sẽ không đạt yêu cầu khách quan nếu không nêu ra vài thứ phức phiền khiến người nước ngoài ở Việt Nam phải ra đi. Thật ra trong hai tháng 7 và 8 đã có nhiều người như vậy: bỏ về nhà hoặc đến các nước khác.

  1. Sự Ô Nhiễm

Theo một báo cáo của chuyên gia thì chúng ta hít thở không khí của một trong những nơi tồi tệ nhất thế giới. Tại xứ sở này thì khẩu trang không là thứ xa xỉ hay  kiểu thời trang dị hợm, mà là sự cần thiết. Sự ô nhiểm đến độ sờ thấy bụi bẩn mồn một bám đầy dưới các móng tay rồi từ đó trôi tuột theo dòng nước khi tắm rửa cuối ngày.

  1. Ẩm Độ

Ai bảo những xứ nhiệt đới tức nói về sự ẩm ướt triền miên. Đồ dùng bằng da của chúng ta thật không chịu nổi và bị phủ lớp mốc meo xanh rì. Vừa tắm xong là sự ngơi nghỉ biến mất vì áo quần lại ướt đẫm mồ hôi.

  1. Điều Kiện Sức Khỏe

Chất lượng nước máy thì cực kỳ tồi tệ đến độ có bác sĩ khuyên đừng dùng nó để đánh răng hay rửa rau. Chả trách có mấy vật mờ mờ trong mấy cục nước đá. Cần phải nói rằng vẫn có công tác khuyến nghị người Việt Nam đừng xem đường sá và sông ngòi là nơi tự do đổ rác.

  1. Các Quan Ngại Y Tế

Những điều trên cho thấy có tác động trực tiếp đến sức khỏe: nhiều vụ lây nhiễm tồi tệ, ho và hen suyển, chưa kể những dịch bệnh đặc biệt do muỗi gây ra như sốt xuất huyết mà ta không thể tự bảo vệ được. Phải có bảo hiểm tốt mới đương đầu được đối với chi phí y tế từ các hậu quả đó.

  1. Tiếng Ồn

Nếu không vì vấn đề làm việc ngày đêm (ở nước này là vậy đấy) thì tiếng còi xe , tiếng hát karaoke của hàng xóm (người Việt Nam dường như sinh ra đã bị điếc rồi do họ thích mở hết volume), tiếng máy lạnh và tiếng quạt máy đủ làm bạn khỏi ngủ.

  1. Thiếu Hàng Của Chúng Ta

Ai mà lại không mơ đến các món phó mát Savoie, sô-cô-la danh tiếng, và món gan ngỗng cơ chứ! Làm gì mà sánh được với thú vui mua sắm khi trở lại quê mình!

  1. Học Phí

Đối với những người như tôi chẳng hạn, đến từ xứ sở mà việc học hành được miễn phí thì học phí tại Việt Nam như một cú búa giáng xuống vậy. Khi bạn đến đây, bạn mơ đến việc cho con cái đi học tại trường tiếng Anh, song những người không được công ty đài thọ việc này thì phí tổn hàng năm lên đến 30.000 USD cho mỗi đứa trẻ. Tốt hơn là gia đình ít người thôi, và cứ xài tiếng Pháp.

  1. Máy Giặt Nước Lạnh

Màu trắng sẽ nhanh chóng biến thành ố vàng, nói chi đến các vết bẩn. Bạn có thể xài đồ của bà nội bà ngoại, vì đồ đạc giặt xong sẽ bẩn hơn với thứ máy giặt quỷ tha ma bắt này. Rõ ràng là chất lượng nước có vấn đề. Mẹo ở đây là hãy thường xuyên đun sôi quần áo của bạn nếu bạn muốn tránh mùi hôi.

Và cuối cùng thì chừng nào mới có việc có thêm lý do để bạn đến đây thay vì bỏ đi cơ chứ.

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12-9-2016

C) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

(Bài này được đăng ngay trên LinkedIn.com. Do yêu cầu của lepetitjournal.com đòi phải vào Facebook mới đăng trực tiếp vào phần commentaries của bài viết của Marie Cordiez trong khi tôi không sử dụng Facebook, tôi cũng đã gởi bài đến một nhà báo Pháp – theo yêu cầu của chính nhà báo này – để ông phổ biến khắp nơi)

french3

EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good

Hoang Huu Phuoc, MIB

In her aricle in French entitled EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam posted on 12 September 2016 at  http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez becomes a non-compos mentis when saying nonsense agaisnt Vietnam. To teach her and people like her about the fact that limitations are always the must-have parameters of the civilized world and that absolute freedom never exists even among barbarous societies and cavemen, I hereby wish to respond to her with my article entitled EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good to simply tell her a proverb of the Oriental Wisdom of “when you take a mouthful of blood to spit on to the face of other people, you are sure to first make your own mouth besmirched”, a lesson which I regretfully believe she has not been educated to know from the first day she was thrown by God on to the lap of her mother.

1- National Shame on French Language

Though France dominated Vietnam for a century, it failed to make French language dominating the tongue of the Vietnamese people – hence forcing the French colonialists’ offspring like Marie Cordiez to waste huge money to invest to studying English in order to survive the struggling for jobs in Vietnam in this millennium.

2- National Shame on Health Concerns

Though France dominated Vietnam for a century, it seemed the Vietnamese people could not learn anything from the French conquerors on best practices on health concerns, probably possibly due to the fact that the French colonialists – i.e. the ancestors of Marie Cordiez – did leave only traces and proofs of their total satisfaction of daily inhaling and enjoying the unhygienic situations and accommodations available for a hundred years!

3- National Shame on Pollution

Similarly, it seemed the one-hundred-year colonization of France did instil in the mind of the Vietnamese people to consider the sick morbid way of living in dirtiness of the French colonialists worthy of imitating, without knowing that in the new millennium the offspring of such colonialists like Marie Cordiez glue the word “pollution” to the face of the offspring of the ones who overthrew not only the French colonialism but also the French Empire.

4- National Shame on Security

Though France dominated Vietnam for a century, it is so well-proven nowadays that Vietnam is so much secured than France on the issues like human rights, dignity, and terrorism that Marie Cordiez’s French patriots can hardly enjoy peacefulness even in Paris.

5- Personal Shame on Being Ignored

It is absolutely understandably normal to take vengeance on the culprits for their heinous crimes. However, Vietnamese people never take any revenge on Marie Cordiez and the offspring of the French colonialists, making this seem that the Vietnamese people look down upon guys like Marie Cordiez as if those guys did not exist or were not worth a tinker’s damn. Such disgrace and humiliation can hardly be taken by proud people like Marie Cordiez and therefore they – including herself – are in dire need of running away from Vietnam as fast as possible.

6- Personal Shame on Personal Disqualification

During the past two three decades all the expatriates in Vietnam have been offered by their companies the schooling expenses for their children at foreign schools in Vietnam. People like Marie Cordiez if incapable of self-funding the school fees at foreign “English” institutions in Vietnam for their own children, it simply means they are not at senior or important positions due to their disqualification. For a cover up for such shame, they should run away from Vietnam as fast as possible.

7- Personal Shame on Being Unknowledgeable

When lamenting on the unbearable natural high moisture degree in Vietnam, Marie Cordiez and people like her are totally unknowledgeable. This raises a surprising question on how a person in this modern much competitive world decides to come to a far away place without even investing at least five minutes to google the FAQs of such place. It seems they come to Vietnam as a desperado!

8- Personal Shame on Being Named Flibbertigibbet or Blabbermouth

The civilized expatriates always behave educatedly by making recommendation to the local authorities as a responsibility of the global citizen in making contributions to make things better for the benefits of the humankind or at least the local people. Telling stories of a place then advising people to leave such place are the jobs of the non-compos mentis.

9- Personal Shame on Ancestors’ Stupidity

To help save the face of their ancestors for failing throughout a century to understand the terrible things of Vietnam then to be beaten black and blue by such terrible people, what Marie Cordiez and people like her can do is to talk nonsense against Vietnam to make it still the underdog to the highly valuable and proudly civilized country like France, then to shout aloud to warn people to leave Vietnam for good.

10- Personal Relief to All Above-Mentioned Shames

However, Marie Cordiez and people like her can leave Vietnam for good with a blessed relief because big investors the world over have been flocking to Vietnam in endless queues for business opportunities. Such overcrowded community will play the excellent role of shielding away the with-the-tail-between-the-hind-leg escapade of Marie Cordiez and people like her. Thank God for all this!

And finally, if any other terrible thing about Vietnam could be further defined by Marie Cordiez or people like her, they are hereby requested to kindly keep the undersigned informed so that the humankind may have another opportunity to read my highest quality counter-attack comments. Being a Vietnamese, though never a communist party member, I vow to the world over that nobody on earth can say or write anything against my Vietnam without facing the strongest retribution from my very self.

“Assez! Voici la punition!”

Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoang Huu Phuoc, Ho Chi Minh City, Vietnam.

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

D) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

france

Bỏ Đi Biệt Xứ – 10 Lý Do Marie Cordiez Nên Rởi Việt Nam Vĩnh Viễn Không Chút Hối Tiếc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trong bài viết bằng tiếng Pháp nhan đề EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam đăng ngày 12-9-2016 tại http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez đã trở thành kẻ bất khả tư nghị khi nói xằng bậy chống Việt Nam. Để dạy cô ta và những tên tương cận về sự thật rằng các giới hạn luôn là những thước đo phải có trong thế giới văn minh và rằng sự tự do tuyệt đối không bao giờ tồn tại ngay cả trong các cộng đồng man di mọi rợ kể cả người của thời kỳ sống trong hang động, tôi qua đây muốn phản pháo băng bài viết của tôi nhan đề Bỏ Đi Hẳn – 10 Lý Do Marie Cordiez Không Nên Tiếc Nuối Khi Bỏ Việt Nam Ra Đi Không Bao Giờ Quay Lại ngõ hầu đơn giản cho cô ta biết về một câu tục ngữ của trí tuệ Á Đông rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu”, một bài học mà tôi lấy làm tiếc tin rằng cô ta đã chưa từng được giáo dục để biết đến kể từ ngày đầu được Thượng Đế quẳng ném cô ta lên bắp đùi của mẹ cô ta cho đến ngày nay.

1- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Pháp Ngữ

Mặc dù đô hộ Việt Nam trong một thế kỷ, Pháp vẫn thất bại không biến Pháp Ngữ thành ngôn ngữ của người Việt – vì vậy đã khiến các hậu duệ của các tên thực dân Pháp như Marie Cordiez phải phí số tiền khổng lồ để đầu tư học tiếng Anh để có thể chen lấn kiếm được việc làm tại Việt Nam trong thiên niên kỷ này.

2- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Các Quan Tâm Về Sức Khỏe

Mặc dù Pháp đô hộ Việt Nam hàng trăm năm, có vẻ như người Việt chẳng học hỏi được gì từ các nhà chinh phục Pháp đối với các thực hành thực tế tốt về sức khỏe, ắt có thể do có sự thật là các tên thực dân Pháp – tức tổ tiên của Marie Cordiez – chỉ để lại chứng tích về việc chúng đã hoàn toàn thỏa mãn với việc hàng ngày hít thở thưởng thức những điều kiện mất vệ sinh tồn tại những hàng trăm năm (ý nói bọn thực dân Pháp quen ăn ở dơ dáy nên người dân Việt chẳng bắt chước được gì từ chúng đối với cách sống vệ sinh mà chúng tự hào là văn hóa văn minh Pháp).

3- Quốc Nhục (Của Pháp) Về Ô Nhiễm

Tương tự, dường như thời gian làm thuộc địa Pháp trong hàng trăm năm đã khắc ghi vào tâm khảm người Việt Nam để xem cách sống bịnh tật và bịnh hoạn của thực dân Pháp sống trong sự dơ dáy là thứ đáng để bắt chước mà không biết rằng qua thiên niên kỷ sau thì đám hậu duệ của bọn thực dân Pháp như Marie Cordiez lại mặt dày đem dán từ “ô nhiễm” lên trán các hậu duệ của những người lật đổ không những chế độ thực dân Pháp mà còn cả đế chế Pháp.   

4- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Vấn Đề An Ninh

Dù Pháp chiếm đóng Việt Nam trong một thế kỷ, đã có sự minh chứng hùng hồn ngày nay rằng Việt Nam an toàn hơn Pháp rất nhiều đối với các vấn đề như nhân quyền, phẩm giá, và khủng bố mà những nhà ái quốc Pháp của Marie Cordiez khó thể có được ngay tại Thủ đô Paris.

5- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Ngó Lơ

Thật bình thường một cách hoàn toàn dễ hiểu đối với việc rửa thù báo oán dành cho những kẻ đã gây ra tội ác tởm kinh. Song, người Việt lại không bao giờ trả thù  Marie Cordiez cùng hậu duệ của đám thực dân Pháp, cứ như thể người Việt khinh thường khinh khi những kẻ như Marie Cordiez cứ như thể đám này không tồn tại hoặc chẳng đáng giá một xu teeng. Những sự bị điếm nhục và hạ nhục như thế khó lòng chịu đựng được bởi những kẻ vác mặt lên trời như Marie Cordiez và do đó chúng – có cả cô ta – nhất thiết cần kíp phải chuồn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể.

6- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bất Tài Vô Dụng

Trong vài ba thập niên qua, tất cả những người nước ngoài công tác tại Việt Nam đều được công ty của họ đài thọ chi phí cho con họ được học tại các trường quốc tế ở Việt Nam. Những kẻ như Marie Cordiez nếu không thể lo được chi phí học hành cho con cái họ tại các trường dạy bằng tiếng Anh thì điều này đơn giản có nghĩa rằng họ không ở vị trí lãnh đạo hay quan trọng vì bất tài vô dụng. Để đậy che nỗi nhục này, họ nên chạy trốn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể được.

7- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Vô Trí

Khi than vản về ẩm độ cao tự nhiên không thể chịu đựng được ở Việt Nam, Marie Cordiez và những tên tương cận hoàn toàn vô trí. Việc này đặt ra một nghi vấn đầy ngạc nhiên vì sao trong thời hiện đại và lắm cạnh tranh này lại có kẻ quyết định đến một nơi xa xôi mà lại không đầu tư ít nhất là năm phút để kiếm tìm trên Google những câu hỏi thường gặp có liên quan đến nơi chốn ấy. Cứ như thể họ đã đến Việt Nam với tư thế những kẻ cùng đường mạt vận cùng đinh!

8- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Gọi Là Quân Mồm Loa Mép Dải Già Mồm Bá Láp Láo Xạo Tào Lao

Những ngoại kiều có văn minh đều luôn hành xử một cách có học thức bằng cách gởi những ý kiến đóng góp cho chính quyền nước sở tại như một trách nhiệm của người công dân toàn cầu có những cống hiến nhằm tạo nên những ích lợi tốt hơn cho nhân loại hoặc chí ít là cư dân địa phương. Đơm đặt về một nơi rồi khuyên bảo người khác bỏ nơi ấy mà đi là việc mà những chỉ những kẻ bất khả tư nghị mới làm.

9- Nỗi Nhục Bản Thân Đối Với Sự Ngu Xuẩn Của Tiền Nhân

Nhằm giữ thể diện cho tổ tiên vì đã thất bại suốt thế kỷ vẫn không nhận ra các điều kinh khủng ở Việt Nam để rồi bị những người Việt Nam kinh khủng ấy đánh cho tơi tả tơi bời, những gì mà Marie Cordiez cùng đám tương cận có thể làm là đơm đặt điều láo xạo chống Việt Nam nhằm biến Việt Nam vẫn như là nước ở chiếu dưới so với đất nước Pháp văn minh tột đỉnh giá trị tột cùng, rồi hô hào kêu gọi mọi người hãy rời bỏ Việt Nam mãi mãi.

10- Sự Thở Phào Nhẹ Nhỏm Của Bản Thân Đối Với Những Nỗi Nhục Nêu Trên

Tuy nhiên, Marie Cordiez và đám tương cận có thể bỏ Việt Nam không bao giờ quay lại với một sự thở phào nhẹ nhỏm được Thượng Đế tặng ban, vì rằng các nhà đầu tư lớn trên toàn thế giới đã và đang đổ xô về Việt Nam đứng sắp hàng dài vô tận để kiếm tìm cơ hội kinh doanh. Cái cộng đồng đông đúc khủng khiếp đó sẽ đóng vai trò tuyệt hảo trong che chắn cảnh tháo chạy lúp xúp với đuôi cụp giữa hai chân sau của Marie Cordiez và đám tương cận. Tạ ơn Thượng Đế cho ân phú này!

Cuối cùng thì nếu có điều gì khác khủng khiếp về Việt Nam có thể được nhận diện  bởi Marie Cordiez hoặc những người như cô ấy, kính xin họ hãy vui lòng báo cho người ký tên dưới đây được biết để nhân loại có thêm cơ hội đọc những ý kiến phản pháo chất lượng tuyệt hảo của người ký tên dưới đây. Là người Việt Nam, dù không bao giờ là Đảng viên Cộng Sản, tôi xin thề với toàn thế giới rằng không bất kỳ ai trên trái đất này có thể nói hay viết bất kỳ điều gì chống lại đất nước Việt Nam của tôi mà không phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của chính tôi.

“Assez! Voici la punition!”

(Thôi quá đủ! Hãy xem đây hình phạt!)

Thơ Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Các bài viết thể loại Dạy Bảo Ngoại Nhân:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Tôi Và Philipp Rösler

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-9-2016

ballade-of-childhood

Ballade là một bản tự tình ca trong khi Ballad là một thể loại thơ ca ngâm vịnh lãng mạn gọi là bản tình dao.

Bài sau mang tên Ballade of Childhood tôi sáng tác năm 1980 nhưng đã được chú thích tiếng Việt “Bản Tình Dao Thơ Ấu” – để cho giống một bài thơ chứ không là bản nhạc – trên blog Aspiration của tôi tại uk.blog.360.yahoo.com năm 2006 và trên emotino.com năm 2008

ballade-1ballade-2

Ballade of Childhood
by Hoang Huu Phuoc, 12-1980

Along the gloomy path I composed these lines of verses
To recall the events in my salad days
With carefree joyousness, disillusionment, then the sight of a hearse
Which brought the corpse of my sister Thuy to her grave
And my soul to the miserable tomb of Fate !
I was hurt with untold excruciating agony
Tearing me off apart from my fragile soul
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

I used to hark to chirp-chirp of nightingales
And haphazard once I saw a dog running crookedly and sideways
Then loping across the green like a little demon
Towards the hedgerows of a crumbling cottage
In which there was not even a human trace !
So with a pen I toiled and toiled indefatigably
To materialize the dream on page and page
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

Deep in the cockles of my dead-beat heart
I loathed vice blokes, imposing mass in false fame
Who jerked and jerked and jerked and turned to dust
Like the extinguishment of candle-flames.
Only babes and sucklings romping on the bay
Could bear misfortunes with equanimity.
Without suffering one can neither love nor create!
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

At onto ridiculous world I wanted to nauseate
The damned baits. Only the pristine beauty
Did not betray me. O blokes, go to blazes !
And my mind was perplexed by the so-called immortality !
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo bài Sonnet “How to Overwhelm the Un-Overwhelmed” của Hoàng Hữu Phước tại:

15 năm ngoảnh nhìn

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

Đoạn ngâm thơ được ghi âm trích từ dĩa CD của The International Library of Poetry: https://www.youtube.com/watch?v=6-P93U7t79I&feature=youtu.be

15 năm ngoảnh nhìn

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-8-2016

1) Bài viết: Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

2) Đoạn ngâm thơ được ghi âm trích từ dĩa CD của The International Library of Poetry: https://www.youtube.com/watch?v=6-P93U7t79I&feature=youtu.be

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Siêu Nhân và Tồi Nhân

Điểm Giống Nhau và Khác Nhau

Superman vs Bottom-Rate Man

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-6-2016

Trên Trái Đất của Thái Dương Hệ này trong vũ trụ bao la kia thuộc Dải Ngân Hà đó, có hai quốc gia giống nhau như đúc nhưng đồng thời cách nhau một trời một vực vì một ở trên đỉnh cao chót vót hào quang còn một lại ở tận đáy sâu thăm thẳm bần cùng: đó là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, mà ở đây vì lý do tiết kiệm chữ nghĩa – vì tiết kiệm là quốc sách – sẽ gọi tắt là Mỹ với Tàu. Thế thì điểm giống nhau y hệt là ở chỗ nào cơ chứ?

Mỹ là siêu cường miên viễn. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Mỹ. Tức thật. Ngay cả đồng minh như Anh như Pháp cũng chống Mỹ, xạo xạo hữu hảo ngoài mặt chứ chơi xỏ được là chơi ngay. Bỏ tiền tỷ tỷ đô để diệt bao chế độ rồi ủng hộ dựng xây bao chế độ mới, để rồi vài chục năm sau các chế độ ấy bị sụp đổ vì toàn bọn độc tài gia đình trị khét tiếng từ el-Haj Mohammed Suharto của Indonesia, Park Chung-hee của Đại Hàn Dân Quốc, Muhammad Hosni El Mubarak của Ai Cập, v.v. bị ghét bỏ bởi dân chúng của họ; hoặc có chế độ trở mặt phản phúc như Ngô Đình Diệm của Việt Nam để Mỹ phải gạt lệ cá sấu cho phép sát hại diệt tiêu; hay chế độ Nguyễn Văn Thiệu chơi xỏ một mặt lấy ma túy từ Tam Giác Vàng giết lần mòn binh sĩ Mỹ, một mặt làm bể kế hoạch rút quân trong danh dự của Mỹ bằng cách phá Hiệp Định Paris, một mặt trước khi đào tẩu đã khóc bù lu bù loa trên TV công khai mắng nhiếc Mỹ hèn hạ bỏ rơi đồng minh, v.v. và v.v.; khiến người Mỹ không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Chúa Trời bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, Holywood đẻ ra nhân vật Superman cứu nguy nhân loại, được loài người xưng tụng anh hùng, đẹp trai hết biết, mình mẩy đầy sơ với múi, hùng mạnh vô song, cứ như là thiên sứ. Người Việt ta gọi anh ấy là Siêu Nhân. Những thứ tương cận với Siêu Nhân thuộc giống đực còn có Người Dơi, Người Nhện, Thần Sấm (Thor), Người Cao Su, Người Điện Quang, và Người …Xanh Lè (Hulk), vân vân và vân vân, và để xứng đôi vừa lứa với các đấng anh hùng ấy, Holywood rặn đẻ thêm giống cái gồm các nàng Nữ Siêu Nhân, Nữ Người Dơi, v.v và v.v; biến nước Mỹ thành nơi duy nhất trên thế gian này mà các thiên sứ uy dũng từ thượng giới đều tập trung về tất. Tuy người dân khắp nơi trên thế giới vẫn chống Mỹ, họ sẵn sàng bỏ tiền túi ra để chầu chực chờ xem các phim ấy, khiến nước Mỹ cũng được an ủi rằng văn hóa của ta lấn át văn hóa của họ, làm bạn Pháp mày ê mặt ủ chịu trận te tua.

Tàu là siêu cường mới nổi. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Tàu. Tức thật. Ngay cả các nước đại siêu cường phải chú mục há hốc mồm nhỏ nước miếng ràn rụa hai bên mép lỏ mắt nhìn trân trân túi tiền đô nặng trĩu của Tàu, ve vãn Tàu bỏ tiền ra cứu độ chúng sinh qua cơn sóng gió mà tiếng hàn lâm gọi là suy thoái kinh tế toàn cầu. Vậy mà tiền thì chúng nhận, mà mồm vẫn không ngưng mắng tổ chửi tiên. Thế mới tức chứ lị. Ngay cả gia tài văn học Tàu có mấy bộ sách bấy lâu nay khoe là kỳ quan thiên cổ cũng bị một gã nọ tên gọi Lăng Tần ở cái tiểu quốc gì gì ấy mắng cho là đồ bá láp, gọi các anh hùng Lương Sơn Bạc là bọn cướp cạn bán bánh bao nhân thịt người mới tức chớ! Thế là Tàu ta do không có Tàulywood như Holywood nên vén áo khoe bắp thịt tay, tụt quần khoe bắp thịt chân, dùng sức cơ bắp quẫy đạp tung tóe nước Biển Đông như để dằn mặt toàn vùng Đông Nam Á rằng ấy ao ta, lấn đất Ấn Độ như để chứng minh kinh Phật tự có trên đất Tàu chứ đâu phải do con khỉ con heo quảy gánh vác về. Bỏ tiền mua hàng không mẫu hạm của Ukraine để bị cười vô mặt là sắm thứ thổ tả tơi tả tả tơi. Làm gì cũng bị cười chê, khiến Tàu không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Ngọc Hoàng Thượng Đế bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là vừa đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, vừa tức quá hóa khùng, đói quá hóa dại, Tàu ta bèn rao bán hàng trong nhà người khác, gọi thầu khai thác dầu hỏa mấy lô thềm lục địa của Việt Nam, khiến thế gian lần này được phen cười lớn, rúng động Thiên Cung, rung rinh Thủy Giới, khiến Thượng Đế Ngọc Hoàng phải cúi xuống mà xem, bật cười văng nước mắt nước mũi thành mưa to gió lớn ngập lụt Bắc Kinh; Long Vương Đại Hải ngóc đầu lên nghía, té cười đập mình xuống nước, gây sóng thần ghê gớm, mở miệng mắng “Tổ Cha Mi” bị nước biển tràn vào làm sặc họng, tạo thành âm thanh lạ hoắc mà người đời nghe lộn thành…tsunami.

Thế đấy. Mỹ và Tàu giống y nhau ở chỗ cả hai bị thiên hạ ghét bỏ.

Và thế đấy. Mỹ và Tàu khác nhau ở chỗ Mỹ hốt bạc và văn hóa vang danh hoàn vũ, còn Tàu mất tiền và ô danh toàn thế giới.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tiện Nhân.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tồi Nhân.

Và do tất cả các từ điển tiếng Anh trên toàn thế giới đều không có từ phản nghĩa của “super” tức “siêu” của siêu nhân superman; và do cái sở học của Trung Hoa đã đổ hết về Việt Nam nên Hoàng Hữu Phước tôi đây sáng chế ra chữ tiếng Anh “bottom-rate man” (có thể áp dụng cách tạo khác của 17 cách tạo tính từ để cho ra “bottom-rated man” hay “bottom-ranked man” hoặc “good-for-nothing wretched” tức … “đồ vất đi” thì cũng được) để có Tiện-Tồi-Bết-Bát-Vất-Đi-Nhân làm từ phản nghĩa cho Siêu Nhân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài trên được đăng lần đầu ngày 24-7-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Đả Đảo Xi Jinping! 01-12-2015

Sát Tàu  07-7-2014

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  2011

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! 30-12-2015

Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì J 18-6-2014

Dương Khiết Trì Run Sợ  22-6-2014

Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải  30-8-2014

Tàu Hứa Không Xâm Lược Các Nước Láng Giềng  19-10-2015

Ngộ Số

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-6-2016

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:

1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.

Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”

Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobiamania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên blog.com ngày 27-6-2012

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Công Dân Lại Thu Trúc Của Việt Nam Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Tháng 5 Năm 2016

(có bản dịch tiếng Việt bên dưới phần nguyên tác)

Ho Chi Minh City, May 14, 2016

 

The President of The United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this May, wish to present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my proposals as follows.

The USA should consider to timely and completely lift the arms embargo imposed against Vietnam from 1975 extended from a previous one against North Vietnam in 1964.

The bilateral relations between the USA and Vietnam have been well-developed with obvious significant progress on many issues during the past two decades resulting in the diplomatic, economic, and educational activities, and particularly the Comprehensive Partnership Agreement between the two countries. However, the impact on Vietnam from the said arms embargo has not enabled Vietnam to improve its security capabilities, as the country is in dire need of lethal weapons for its defense purposes particularly at the non-stop aggressive actions of China in its territorial claiming in the South China Sea causing constant conflict and tension threatening not only the sovereignty and safety of many countries of ASEAN but also the commercial gateway of the world’s merchant shipping navigation.

In fact, the USA has partly lifted the said embargo for transferring to Vietnam the maritime security-related defense articles, thanks to which the maritime security capabilities of Vietnam could be but partly improved.  But Vietnam needs more than that for its coastal defense and its ground forces as tension and conflict would not arise only at sea.

Issues of say human rights may still be haunting your decision for a total lifting of the embargo; however, the cultural aspects of the differentiation in that matter, the fast progress of reforms of Vietnam, the security of the whole ASEAN, and the positive regional role of the country should be considered to justify the lifting strategically.

I hope that with your kind consideration, influence and power, the total lifting of the arms embargo against Vietnam will soon be materialized to pave the way to the uniformed strengthening of the defense capabilities of the ASEAN countries for the benefits of the region and the world.

Most respectfully,

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Bản dịch tiếng Việt ngày 17-5-2016 của Hoàng Hữu Phước:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ

 

Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhân sắp có chuyến thăm của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Năm này, kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài khuyến nghị sau:

Hoa Kỳ nên xem xét gỡ bỏ kịp thời và hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đã áp đặt chống Việt Nam từ 1975 sau khi gia hạn lịnh cấm đã có trước đó chống Bắc Việt năm 1964.

Quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ rõ nét có ý nghĩa về nhiều mặt trong hai thập kỷ qua, dẫn đến kết quả là có những hoạt động trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và giáo dục, đặc biệt là việc ký kết Thỏa Thuận Đối Tác Toàn Diện giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, tác động của lịnh cấm vận đã không giúp Việt Nam tăng cường năng lực phòng vệ vì Việt Nam rất cần có các vũ khí sát thương phục vụ quốc phòng, đặc biệt trong hoàn cảnh Trung Quốc có các hành động không ngừng gây hấn tuyên bố chủ quyền biển đảo ở Biển Đông gây ra những xung đột căng thẳng thường xuyên đe dọa không những chủ quyền và sự an nguy của nhiều quốc gia trong khối ASEAN mà còn đối với cửa ngõ giao thương của tuyến hàng hải này của thế giới.

Trên thực tế, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lịnh cấm vận để chuyển cho Việt Nam những khí tài liên quan đến an ninh biển, nhờ vậy mà năng lực an ninh biển của Việt Nam được nâng cao dù chỉ một phần. Song, Việt Nam cần nhiều hơn thế để phòng thủ suốt vùng duyên hải cũng như lực lượng mặt đất do các căng thẳng xung đột không chỉ có thể xảy ra ngoài biển khơi.

Những vấn đề như nhân quyền chẳng hạn vẫn làm Hoa Kỳ đắn đo việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí; tuy nhiên, các khía cạnh văn hóa đối với những dị biệt trong vấn đề ấy, tiến bộ vượt bậc trong cải cách của Việt Nam, an ninh của cả khối ASEAN, cùng với vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực nên được xem xét đến như điều kiện đủ để tiến đến việc gỡ bỏ mang tính chiến lược lịnh cấm vận.

Tôi kính mong sự xem xét của Tổng Thống cùng ảnh hưởng và quyền lực của Ngài sẽ giúp sự gỡ bỏ lịnh cấm vận vũ khí Việt Nam sẽ sớm biến thành hiện thực, mở đường cho sự tăng cường đồng bộ về năng lực phòng thủ của các nước ASEAN vì lợi ích của khu vực và thế giới.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Phá Luật

Tôi Thấy Mình Trong Phim

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-4-2016

Cách nay 3 hay 4 năm tôi có xem một bộ phim trên đài HBO, tựa đề Dead Poets Society (nghĩa tiếng Việt là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố) và tôi đã xúc động khi thấy mình không còn là kẻ cá biệt lẻ loi vì rằng tôi đã thấy mình trong phim.

Dead Poets Society là bộ phim Mỹ do hãng Walt Disney – Touchstone Pictures phát hành giữa năm 1989, tiêu tốn hết gần 17 triệu USD, đạt doanh thu gần 250 triệu USD. Bộ phim xoay quanh việc Thầy giáo Anh văn John Keating (do Robin Williams thủ vai chính) đã thông qua các tiết dạy thơ ca của mình truyền được cảm hứng nơi học trò ở Học Viện Welton ở Vermont dành cho giới quý tộc bảo thủ trong bối cảnh Hoa Kỳ của thời gian 1959. Với những gò bó bởi truyền thống, danh dự, kỹ luật và đẳng cấp siêu đẳng, nhiều sinh viên chẳng hạn như Neil và Todd bị áp lực của cha mẹ bắt buộc phải trở thành bác sĩ và luật sư trong khi bản thân hai em lại có thiên hướng khác, thì kiểu dạy của ông Thầy giáo tiếng Anh John Keating mới đến nhận công tác đã quá phá cách phá lệ phá rào phá luật so với khuôn mẫu chuẩn mực của Học Viện Welton: Thầy Keating dẫn sinh viên bỏ ra ngoài thực nghiệm thực tế, còn lúc trong giảng đường thì đọc bài giới thiệu trong quyển giáo trình thơ ca rồi cười nhạo nó dị hợm và bảo tất cả các sinh viên xé vất bỏ ngay trang giới thiệu ấy khỏi giáo trình, hoặc kêu sinh viên hãy leo lên đứng trên bàn của Thầy y như Thầy leo đứng trên bàn sinh viên để nói xem các em đã nhìn thấy thế giới quanh mình có gì khác biệt, v.v. Các sinh viên về sau phát hiện Thầy Keating là cựu sinh viên Welton từng ra sức gầy dựng lại cái gọi là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố mà Thầy là thành viên thường hay tụ tập xướng họa tại một hang động cách trường không xa mà ban giám hiệu nhà trường liệt vào loại bất hảo bất lương bất hợp pháp. Nhiều sự việc sau đó đã xảy ra như (a) Todd rớt bài viết luận nên Thầy Keating dẫn dắt Todd qua một quá trình tập luyện viết diễn đạt, nhờ đó nhận ra năng khiếu đặc biệt nơi sinh viên này; (b) Charlie viết bài báo tường nêu ý kiến là trường nên có tuyển nữ sinh để rồi nhận lấy cơn thịnh nộ từ Hiệu Trưởng, và Thầy Keating lập tức theo sát động viên, ủng hộ, với lời khuyên hãy khôn ngoan hơn khi chống lại nhà trường; (c) Knox nhận ra trong mình sự ưa thích mới mẻ đối với thơ ca, và khi được Thầy Keating tán thưởng nhiệt liệt khi Knox đọc trong lớp một trong những bài thơ tình của mình, Knox đã can đảm tìm đến trường nữ trung học tìm gặp nữ sinh Chris để đọc bài thơ ấy tặng cô và có được tình yêu của cô; còn (d) Neil đã nói ở trên muốn trở thành kịch sĩ nên lẻn đi đăng ký thi tuyển chọn phân vai cho nhân vật Puck trong vở Giấc Mộng Đêm Hè (A Midsummer Night’s Dream) của Shakespeare, và khi không có đủ can đảm theo lời khuyên của Thầy Keating hãy giải bày cho cha mẹ mình thông hiểu, Neil đã bị bố giận dữ xông lên sân khấu khi đang diễn xuất để lôi cổ về tuyên bố phải chuyển sang học Đại học Harvard theo nghiệp y khoa, khiến trong cơn tuyệt vọng và xấu hổ Neil đã tìm đến cái chết. Theo yêu cầu của cha mẹ Neil, hiệu trưởng tổ chức cuộc điều tra và buộc học trò đẩy Thầy Keating ra làm vật tế thần. Charlie bị đuổi học vì đấm Cameron khi biết cậu này tố cáo Thầy và rủ rê bạn bè cùng tố cáo Thầy Keating. Todd bị cha mẹ và trường buộc ký tên vào bản cáo buộc Thầy Keating lạm dụng quyền hành, kích động học trò tái khởi động cái câu lạc bộ phi pháp mang tên Hội Những Nhà Thơ Quá Cố ấy, cũng như xúi giục Neil chống lại cha mẹ, khiến đẩy Neil đến chỗ tự sát. Bản cáo buộc ấy đã có nhiều chữ ký của các sinh viên khác. Và Thầy Keating bị sa thải. Lúc lớp tập trung học giờ tiếng Anh với sự giảng dạy của thầy giáo khác, Thầy Keating bước vào lấy lại vài vật dụng cá nhân. Todd đứng lên xin lỗi Thầy Keating, tuyên bố tất cả các bạn đều đã bị đe dọa buộc phải ký tên chống lại thầy. Thầy giáo mới lập tức quát bào Todd câm miệng lại và bảo Thầy Keating phải cút đi ngay. Todd lập tức leo lên bàn đứng; và dù thầy giáo mới quát bảo Todd phải ngồi xuống ngay nếu không muốn bị đuổi học, nhiều sinh viên lần lượt cùng leo lên đứng trên bàn học, kiểu mà Thầy Keating đã thực hiện trước đó như một phá cách phá rào phá lệ cho sự làm khác và nhìn khác. Thầy Keating lầm lũi bước đi với vẻ xúc động tột cùng trước sự tiễn đưa như thế.

Keating

Lúc khởi nghiệp làm thầy giáo tiếng Anh tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã từng phá cách phá rào phá lệ phá luật.

Như đã từng viết trong một bài blog nào đó tôi có nói về việc tôi đã khơi dậy trong sinh viên – thậm chí là sinh viên lớp “Kế Hoạch B” nghĩa là ở các tỉnh phía Nam mà đa số chưa từng học tiếng Anh đủ số thời gian 7 năm trung học – lòng yêu thích sáng tác thơ văn tiếng Anh, và tôi có đăng một thí dụ như bài “A Long Long Lapse of Time” của em Trần Duy (hiện sống tại Hoa Kỳ). Tôi thậm chi còn muốn – nhưng đã không bao giờ được cho phép – phát hành tuần san hay nguyệt san tiếng Anh do tôi làm “tổng biên tập” và các sinh viên của tôi làm “cộng tác viên” để sinh viên toàn trường có cơ hội trau giồi và thưởng thức tiếng Anh. Lý do của sự cấm đoán ấn hành là: không ai trong ban lãnh đạo hiểu các bài thơ bài văn ấy nói về cái gì, có phản động không, có đúng đường lối chủ trương của Đảng không, có nhằm hun đúc con người mới xã hội chủ nghĩa không, và có bị tiêm nhiễm khuynh hướng lãng mạn tiểu tư sản không. Một cô giáo đồng nghiệp cũng theo gương tôi và cũng đã có những sinh viên được cô truyền cảm hứng để sáng tác thơ ca tiếng Anh, và tôi cũng đã từng đưa một bài thơ tiếng Anh của cô sinh viên Lâm Hoàng Yến lên blog, từ tuyển tập thơ ca viết tay bằng mực tím gởi tặng cô giáo ấy, mà cô giáo này về sau trở thành vợ tôi nên tôi được xem quyển tuyển tập thơ ca bí mật dễ thương ấy của Hoàng Yến.

Keating1

Trước sự thật kỳ quái những lãnh đạo Khoa Anh Văn trước 1975 toàn là MA (thạc sĩ) ở Mỹ nhưng đề ra những quy định kỳ dị như sinh viên nào đến trường sau khi giáo viên đã vào lớp thì giáo viên phải giải sinh viên ấy xuống Văn Phòng Khoa gặp Phó Khoa (cũng là một vị MA Mỹ) để ngồi viết vài chục trang “tự kiểm điểm” với dòng chữ “Em đã vi phạm đi học trể. Em sẽ không tái phạm”, tôi đã nói với tất cả các lớp rằng vào những giờ tôi dạy thì các em nào đến trể cứ việc chạy ngay vào lớp, không cần chào xin phép tôi, vì rằng các em không được phí phạm thời gian, vì rằng các em phải được học nhiều nhất, vì rằng việc các em đi trể tôi đều có thể hiểu được do các em còn phải dạy thêm buổi tối hoặc phục vụ tại các quán cà phê kiếm thêm thu nhập nuôi thân.

Trước sự thật kỳ quái duy ý chí khi các tỉnh “gởi” lên Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh các “sinh viên” chưa từng học tiếng Anh ở trung học – hoặc không được học tiếp tiếng Anh từ lớp 9 đến lớp 12 do không có giáo viên – để đào tạo thành giáo viên tiếng Anh sau 3 năm hầu bảo đảm các tỉnh có đủ số lượng giáo viên Anh văn cho các trường trung học, tôi phải nói với sinh viên tỉnh Đồng Nai do tôi chủ nhiệm rằng các em buộc phải biến 3 năm thành có giá trị như 6 năm để có “chất lương” theo đúng bài bản của tôi, theo đó, mỗi tối sau khi tôi dạy xong ở các trung tâm ngoại ngữ, tôi sẽ đến ký túc xá để dạy phụ đạo các em từ 21 giờ đến 23 giờ, các môn tiếng Anh do tôi phụ trách tại lớp như Dịch Thuật (Translation), Luyện Viết (Composition), Luyện Nói (Speaking), Văn Phạm (Grammar), Văn Học (Literature), Văn Minh (Civilization), và Từ Vựng (Lexicology), trừ các môn tiếng Anh khác của các giáo viên khác như Luyện Nghe (Listening), Ngữ Âm (Phonetics) và Phương Pháp Giảng Day (Methodology); và sinh viên các tỉnh khác ở chung ký túc xá nhưng thuộc lớp chủ nhiệm của giáo viên khác nếu muốn cứ tập trung tại canteen để học chung. Tất nhiên, tôi dạy miễn phí, và thậm chí không cho phép các em mua nước đá chanh đường cho tôi, với lý do mấy em nghe rất hợp lý là do tôi chưa ăn tối nên uống sẽ làm hại bao tử. Việc “bán phá giá” hay “khuyến mãi” tức “miễn phí” như trên ắt vào thời điểm những năm 1980 của thế kỷ trước được xem là trọng tội nên tôi trở thành tội phạm không thể nào được tha thứ chốn sư phạm hàn lâm.

Và trước sự thật kỳ quái rằng Khoa Anh Văn buộc tất cả các sinh viên “dự thi tốt nghiệp” đều phải có kèm thêm “luận văn tốt nghiệp công trình nghiên cứu khoa học” viết bằng tiếng Anh với đầy đủ ban bệ của các giáo viên bảo trợ và giáo viên phản biện, chứ không phải theo hướng sinh viên giỏi làm luận văn tốt nghiệp còn sinh viên không giỏi dự thi tốt nghiệp, tôi đã phải “bảo trợ” hàng trăm công trình và “phản biện” hàng trăm công trình khác, mà tôi đã “bảo trợ” hay “phản biện” đều làm việc nghiêm túc, hướng dẫn tường tận, sửa chữa chi li vì các em khó thể viết lách tiếng Anh đạt yêu cầu tầm cỡ “công trình nghiên cứu”. Kết quả thuần tình cảm: tất cả các quyển luận văn của các em đều có bút phê sửa lỗi và viết lại đỏ lòm đặc nghẹt, mà nhiều em khoe tôi rằng vẫn còn giữ đến tận ngày nay sau hơn 30 năm lúc các em sắp sửa nghĩ hưu. Còn hậu quả thuần vật chất: tất cả các lãnh đạo Khoa và Tổ kết tôi vào tội là đã “phá luật” vì có quy định rằng Thầy Cô không được phép sửa trực tiếp vào các tập luận án của sinh viên vì như thế là “xúc phạm sinh viên”, “phá lệ” vì không có Thầy Cô bảo trợ hay phản biện nào bảo ban bất kỳ điều gì cho sinh viên để “phát huy tính tự chủ tự lập” của sinh viên, và “phá hoại sự đoàn kết nhất trí” vì khi sửa bài cho sinh viên và bảo ban sinh viên nên nghiên cứu gì và theo hướng nào thì tôi đã bị coi như “làm nhục” các giáo viên khác, tất cả dẫn đến việc tôi bị tước mọi danh hiệu thi đua, ngay cả Giấy Khen của Bí Thư Thứ Nhất Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Vũ Mão dành cho cá nhân tôi cho thành tích giảng dạy và chủ nhiệm thành công cũng bị Khoa thu giữ và làm thất lạc để tôi sau này không thể “khoe khoang” gì với hậu thế.

 

Khác với Thầy John Keating, tôi đã không lầm lũi đơn độc bước đi khỏi trường, vì cô giáo đồng nghiệp ấy cũng bị “xử đẹp” triệt hết tất cả các danh hiệu dạy giỏi để cùng tôi trắng tay bước ra khỏi trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp HCM để trở thành vợ của tôi.

Khác với Thầy Keating, tôi không nhằm tái lập bất kỳ cái “hội kín” nào như cái hội Dead Poets Society của Thầy ấy.

Khác với Thầy Keating, tôi là một thực thể có thật, trong khi Thầy là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Khác với Thầy Keating, tôi có các sinh viên xuất sắc tuyệt vời xuất thân từ những gia đình nghèo đa số ở các tỉnh nghèo nước Việt chăm chỉ theo đuổi con đường trở thành các nhà giáo tiếng Anh, trong khi Thầy có các sinh viên toàn thuộc gia đình quý tộc thượng lưu xứ Mỹ đứng núi này trông núi nọ.

Khác với Thầy Keating sử dụng ngoại hình ngổ ngáo leo đứng trên bàn để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” trong “muốn gì thì hãy cứ làm điều đó”, tôi sử dụng ngoại hình nghiêm túc nghiêm trang quý phái để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” cao cấp chuẩn bị cho một thị trường nhân lực cấp cao đáp ứng nhu cầu xã hội mà tôi tin chắc rằng sẽ đến.

Khác với Thầy Keating có sinh viên rủ nhau leo lên dứng trên bàn để tiễn đưa trong khi Thầy lặng thinh bỏ ra đi vĩnh viễn, tôi có các sinh viên nghe lời tôi cố gắng ở lại học tốt, cố gắng trở thành những nhà giáo tiếng Anh giỏi, và các em có con cái tiếp tục được cha mẹ đưa đến gặp tôi để được tôi giải đáp thắc mắc, giúp đỡ những chỉ dẫn bảo ban trên đường lập nghiệp, giúp đỡ hoàn thiện lý lịch tiếng Anh và đơn xin việc tiếng Anh, và do các công dân “con em” này của học trò tôi đều đã ở lứa tuổi 30 nghĩa là các học trò tôi bắt đầu có cháu nội cháu ngoại nên tôi lại phải chỉ dẫn cách chăm sóc các cháu này để các cháu được phát triển trí tuệ lành mạnh, đồng thời có điều kiện giỏi…tiếng Anh như ông bà, cha mẹ của chúng.

Tuy nhiên, tôi cảm ơn tác giả bộ phim Dead Poets Society vì đã cho tôi có được vài giờ đồng hồ thưởng thức một xuất phẩm xuất sắc của điện ảnh Hoa Kỳ mà qua đó, tôi đã thực sự có đôi dòng nước mắt vội vàng dấu diếm không để ai phát hiện, của một thoáng ủi an khi chợt thấy mình không cô độc: tôi đã thấy chính mình trong phim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đám Cưới

Một Thoáng Tư Duy

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-4-2016

LinkedIn (43)LinkedIn (42)

Thánh Gandhi: “Nhiều người – đặc biệt là người ngu – muốn trừng phạt bạn vì bạn nói lên sự thật, vì bạn đúng, vì bạn đúng là bạn. Đừng bao giờ xin lỗi vì mình đúng, hay vì mình đi trước thời đại. Nếu bạn đúng và bạn biết mình đúng, cứ nói ra. Ngay cả khi bạn là thiểu số của chỉ có một mình mình thì chân lý vẫn là chân lý”

Hoàng Hữu Phước: Đoạn đầu và đoạn thứ ba thì đúng. Còn đối với đoạn thứ nhì thì tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau; do vậy, cách dùng từ “đừng bao giờ” nghe có vẻ cực đoan quá. Nếu bạn có óc khôi hài thì bạn vẫn có thể hùng dũng xin lỗi vì mình đã đúng, hay vì mình đã đi trước thời đại.

LinkedIn (16)LinkedIn (15)LinkedIn (14)

Ghazal Omid: Ắt tôi đang trên một con đường đầy gian khó trước mặt trong cái thế giới mà cái sai dường như trở thành khuynh hướng thời thượng còn cái đúng thì bị cho là cổ hủ, nhưng tôi sẽ cứ dấn thân bất kể có chậm lại vì rằng làm điều đúng và nói điều đúng có thể bị ghét bỏ nhưng nào bị buộc phải đúng ngay đâu. Chúng ta phải luôn làm điều đúng, nói điều đúng chừng nào chúng ta còn sống vì rằng đó là cách duy nhất chúng ta chắc chắn bảo đảm giáo dục thế hệ tương lai đi trên con đường đúng. Những kẻ nổi điên vì bạn nói lên sự thật là những kẻ sống trong dối trá. Hãy cứ nói lên sự thật.

Dave T.: Những lời minh triết đấy Ghazal…Chị hãy cứ là chị, đừng bao giờ thay đổi.

Hoàng Hữu Phước: Điều này nghe rất cơ bản: đất đai màu mỡ giúp những hạt giống mạnh khỏe nảy mầm thành những cây tốt hơn. Chẳng gì tích cực đến từ dối trá. Đây là điều chắc chắn. Tất nhiên, cây từ đất đai màu mỡ ấy có thể phát triển mạnh thêm thành những cấy cối to cao hơn nếu vùng đất đai màu mỡ ấy có hàng rào tốt và được bảo vệ tốt. Tương tự, nói ra sự thật cho đúng người vào đúng thời điểm và đúng nơi chốn có thể đáng được tính đến. Tôi ngưỡng mộ chị lắm đấy Chị Ghazal Omid ạ.

LinkedIn (84)

Heinrich Heine: “Nếu người La Mã chịu học tiếng LaTinh thì họ lẽ ra đã không bao giờ còn thời gian chinh phục thế giới”.

Ghazal Omid: Rất đúng. Một xã hội có học thức chẳng cần có chiến tranh để chứng tỏ sức mạnh của mình.

Hoàng Hữu Phước: Có khi người ta gây chiến không để chứng tỏ sức mạnh của mình mà để kiếm tìm lợi nhuận. Thực dân Pháp đến đô hộ Việt Nam. Nhưng trước tiên họ học tiếng Việt rồi cố tạo ra cách mới để ghi lại tiếng Việt bằng hệ mẫu tự tiếng Pháp để họ học tiếng Việt nhanh hơn. Khi họ học xong, các chiến thuyền của họ đổ xô đến Việt Nam để đô hộ nước này trong một trăm năm đấy.

LinkedIn

Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Khi nói, bạn chỉ lập lại những gì bạn biết; còn khi bạn lắng nghe, bạn học được điều gì đó mới lạ”

Hoàng Hữu Phước: Tôi không đồng ý với câu nói trên của Đức Đạt Lai Lạt Ma.Khi bạn nói, có thể bạn nói điều gì đó từ sự tưởng tượng mới tinh khôi của bạn; còn khi bạn lắng nghe, có thể bạn lại nghe những điều củ rích mà thiên hạ cứ lập đi lập lại với thế giới quanh mình.

Christine Cargill: Tôi nghĩ rằng ông có ý hay đấy! Cảm ơn ông.

LinkedIn (30)LinkedIn (23)

Quan hệ thật sự là khi hai người không hoàn hảo không chịu nhân nhượng nhau.

Hoàng Hữu Phước: Thật buồn cười. Mối quan hệ thực sự giữa hai người là khi dù biết mình không hoàn hảo, dù họ vẫn hiểu những khác biệt không thể vượt qua của mình là gì, cũng như dù họ không thể vì người kia mà từ bỏ những gì mình cho là đúng đắn, thì họ vẫn tôn trọng nhau, hợp tác cùng nhau, thông hiểu nhau, và cùng nhau sẻ chia bất kỳ những mục tiêu chung nào có thể có được.

Rami J, Ronald Viitaniemi: Đặt vấn đề hay đấy Hoàng Hữu Phước, tuyệt đối đúng.

LinkedIn (44)LinkedIn (45)

Andy Stanley: “Lãnh đạo mà không lắng nghe thì cuối cùng bu quanh mình toàn là kẻ chẳng có gì để nói”.

Henk Van Zaanen: Vâng, hiệu quả 100%. Vì vậy hãy cố lắng nghe với sự tập trung và hàng ngày thực tập hiểu những gì không được thốt ra.

Rami J. Ronald Viitaniemi: Rất đúng!

Hoàng Hữu Phước: Không phải luôn đúng. Lắng nghe không có nghĩa là mọi thứ được nói hay đề xuất tất cả đều được lãnh đạo biến thành hiện thực. Tôi có thể lắng nghe ý kiến đề xuất của nhân viên thuộc quyền, nhưng tôi có thể thực hiện điều nào đó hoặc chẳng điều nào cả bây giờ, sau này, hoặc chẳng bao giờ cả. Nhân viên thuộc quyền thường nhụt chí khi cấp giám quản mình có lắng nghe mình đấy song chẳng làm gì cả theo lời góp ý. Rồi đến thời điểm nào đó các nhân viên thuộc quyền này “chẳng còn gì thêm để nói.” Do vậy, mấu chốt của vấn đề là ở chỗ tư duy tích cực phải đến từ hai phía. Lịch sử cho thấy có những sự thật rằng có những nhà lãnh đạo vĩ đại chẳng lắng nghe ai nói cả và họ có quanh mình những nhà thực hiện mệnh lệnh vĩ đại.

LinkedIn (65)

“Những người thành công luôn có hai điều trên môi, đó là sự im lặng và nụ cười.”

Hoàng Hữu Phước: Điều này phải chăng có nghĩa rằng họ sẽ không cho ai biết làm thế nào họ thành công và thậm chí còn mĩm cười với vẻ mặt láu cá ư? Câu nói trên nên như thế này: Những người thành công luôn có hai điều trên môi họ, đó là không thốt nên những điều sai và mĩm cười với lòng độ lượng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Có Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-3-2016

VoDuyen1Vo Duyen2

Vo Duyen3Vo Duyen4XYZ

Bài này cùng hai bài trước chỉ đưa ra một vài thí dụ tôi từ khi internet xuất hiện đến nay đã liên tục đơn thương độc mã chống chọi với các xúc xiểm đất nước Việt Nam từ không gian mạng. Gọi là đơn thương độc mã vì đa số những người chống Chống Cộng ở Việt Nam đã dùng những từ thật ngắn gọn, mạnh mẽ, để nguyền rủa những ai thóa mạ Việt Nam cùng Hồ Chí Minh. Gọi là đơn thương độc mã vì chỉ có tôi miệt mài bút chiến bằng tiếng Anh vì đối tượng tôi nhắm đến là sinh viên – học sinh Việt Nam ở Việt Nam hay hải ngoại, và những người nước ngoài, chứ không bao giờ bút chiến luận với những ai là tác giả các bài thóa mạ bôi nhọ Việt Nam cả.

Hai thí dụ ở trên là hai thí dụ mới nhất của ngày hôm qua. Thí dụ thứ nhất là bức tranh hạ đẳng của một gã tên Nguyễn Đất, Nguyễn Đạt, hay Nguyễn Dật gì đó, với chức danh ghi là “quản lý chương trình phát triển Việt Nam tại Đại Học Nam Columbia”. Rất có thể y là một chiến sĩ cộng sản trẻ ưu tú đang tạo lớp vỏ bọc chống Việt để lấy lòng phe nhóm chống Việt để có thể leo cao trong hàng ngũ chống Việt để từ đó đánh phá tan tành hàng ngũ ấy. Rất có thể y giống như bao kẻ tầm thường khác hễ ra nước ngoài du học là cứ triền miên lầm tưởng là phải chửi cha Việt Nam để phù hợp với xã hội Âu Mỹ. Nhưng dù y là ai đi nữa thì tôi bảo đảm với các bạn rằng nếu các bạn đừng khinh thường y mà chịu khó nhớ tên của y thì sau 50 năm nữa các bạn cũng sẽ chẳng hề nghe tin tức gì về y như nhà trí thức hay nhà bác học vĩ đại của Âu Mỹ, đơn giản vì các vị trí ấy không bao giờ dành cho những gã hoặc hề hoặc ngu muội.

Nếu các bạn thực sự muốn người thân của mình là nhân tài ở Việt Nam hay ở Âu Mỹ, xin hãy tìm đọc các bài viết của giáo sư tiến sĩ Trần Chung Ngọc. Tiến sĩ Trần Chung Ngọc là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, Cử nhân Giáo khoa Khoa Học 1962 (Đại học Khoa học Saigon), Tiến sĩ Vật lý 1972 (Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ), Trưởng khoa Vật lý và Hóa học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1962-1965), giảng viên Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1965-1967), giảng sư Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1972-1975), giảng sư Vật lý Đại học Wisconsin – Madison (1975-1977), Giám đốc phòng thí nghiệm phân tích của Trung tâm Vật liệu Đại học Wisconsin – Madison (1977-1996), và là Cố vấn kỹ thuật Viện Tiêu chuẩn và Nghiên cứu Công nghiệp Singapore (1989), khi nghỉ hưu tại thị trấn Grayslake, bang Illinois, Hoa Kỳ, đã dành nhiều thời gian nghiên cứu tôn giáo, lịch sử, v.v., với nhiều tác phẩm được xuất bản ở Mỹ. Tiến sĩ đã qua đời cách nay hai năm.

Trang web của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc cung cấp hàng trăm bài viết có sức thuyết phục cao do Ông không những là một bậc trí thức đại tài mà còn là một nhà khoa học đáng kính trọng. Chỉ cần đọc các bài viết của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, các bạn trẻ Việt Nam vừa có thể mở rộng tầm mắt, mở mang trí tuệ, học hỏi thuật phân tích khoa học cùng nhận định sâu sắc, vừa có thể trau giồi hoàn thiện tiếng Anh (do Tiến sĩ Trần Chung Ngọc thường có các trích dẫn làm luận cứ cho các luận điểm của Ông và dịch ngay các dẫn chứng ấy ra tiếng Việt trong bài viết để tạo cơ sở so sánh cho người đọc) một cách hiệu quả nhất là đối với thuật hùng biện. Tấm lòng Ông với Việt Nam, các nhận định công tâm công bằng của Ông với chế độ cộng sản ở Việt Nam, cũng như lòng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của mình và về đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, đã quá đủ để nêu danh nghĩa khí bậc kỳ tài cao thượng và hướng thượng, những thứ mà chưa hề thấy có được nơi hàng vạn du học sinh Việt Nam ở hải ngoại, và do không tồn tại nơi họ, chẳng ai trong họ lập nên những kỳ tích hàn lâm danh vang thế giới như Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc.

Tôi không tìm sự nổi tiếng trên không gian mạng, nên chỉ chăm chút cho blog này trên WordPress.com dù cho các bài viết từ trái tim khối óc chỉ được tìm đọc bởi vài ba chục bạn đọc mà thôi. Xin cảm ơn các bạn ấy, và xin đội ơn các bạn nếu các bạn rộng lượng chuyển các đường link những bài viết này đến các bạn trẻ người Việt và gốc Việt để các bạn biết thế nào là quốc thể và lòng hướng thiện đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính Mời Tham khảo:

Thầy Trần Chung Ngọc: http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp Quốc Gia: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/22/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 2: Hão Huyền Singapore: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/23/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc-hao-huyen-singapore/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 3: Hão Huyền Nhật Bản: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/28/2744/?preview=true&preview_id=2756&preview_nonce=6f505f96f0&frame-nonce=0d9ea09f6d&iframe=true

Không Lời 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-3-2016

Khong Loi2 (1)Khong Loi2 (2)Khong Loi2 (3)Khong Loi2 (4)Khong Loi2 (5)Khong Loi2 (6)Khong Loi2 (7)Khong Loi2 (8)Khong Loi2 (9)aaaaaaFrom LinkedIn (84)Khong Loi2 (11)Khong Loi2 (12)Khong Loi2 (13)Khong Loi2 (14)Khong Loi2 (15)Khong Loi2 (16)Khong Loi2 (17)Khong Loi2 (18)Khong Loi2 (19)Khong Loi2 (20)Khong Loi2 (21)Khong Loi2 (22)Khong Loi2 (23)Khong Loi2 (24)Khong Loi2 (25)Khong Loi2 (26)Khong Loi2 (27)Khong Loi2 (28)Z (1)Z (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Không Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-3-2016

HHP L1 (1)HHP L1 (2)HHP L2 (1)HHP L2 (2)HHP L3 (1)HHP L3 (2)HHP L4HHP L5HHP Viet1HHP Viet2HHP Viet3HHP Viet4HHP Viet5HHP Viet6HHP Viet7HHP Viet8HHP Viet9HHP Viet10HHP Viet11HHP Viet12

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Tam Nhin1

Tầm nhìn là thứ luôn có nơi mỗi người. Vấn đề là nhìn vào gì hay vào những gì và thấy gì hay thấy những gì trong vô số những gì; nhìn đến đâu: ở gần, ở xa, ở rất xa, ở đường chân trời, ở phía sau đường chân trời; nhìn phía nào của trên dưới trái phải; và quan trọng nhất là bản thân người nhìn có thiên hướng như thế nào sau khi nhìn và thấy, đồng thời có diễn giải được bằng ngôn ngữ để phổ biến cái đã nhìn đã thấy được ấy cũng như luôn kèm theo đó là những đánh giá, những phê phán, những phân tích, những tổng hợp, những đề nghị, và các đề xuất hay không. Chính những khác biệt này mà cái gọi là tầm nhìn của một người mới được xem là sự thấu thị mang tính tiên tri chiêm nghiệm – gọi tắt là tiên tri thấu thị mà tiếng Anh gọi người có khả năng như thế là man of vision – hay chỉ là khả năng cơ học của đôi mắt chưa đến lúc phải đeo kính cận, kính viễn, kính loạn, hay kính lão, có gọng vàng, gọng nhựa, gọng dây thun, hay loại áp tròng.

Thủa ấu thơ tôi rất kính nể các cụ chơi cờ tướng vì tầm nhìn của các cụ đối với các nước cờ mà đối thủ sẽ đi sau tối thiểu dăm ba nước đi, thậm chí chính các cụ đã biến thành ngữ “thí chốt” trở thành lạc hậu khi các cụ thí cả xe – pháo – mã để bảo vệ các quân chốt đang lừ đừ từ đồ dần dà tiến bước vây hãm tướng soái của đối phương. Tôi vốn người minh bạch, nên sau thời gian dài từ lúc chưa có cái gọi là vi tính viễn thông cho đến ngày nay đã làm gì khi nhìn thấy gì, muốn ghi lại dăm ba nội dung nào mà tôi còn nhớ được, vừa để sẻ chia với mọi người về cái tầm nhìn của mình, vừa để mong có ngày sẽ được vài người rộng lượng nhìn nhận đó là tầm nhìn, để tôi tự an ủi rằng ít ra mình xứng đáng với vai trò một nghị sĩ trong một nhiệm kỳ qua, do nghị viện chính trường là nơi chỉ dành riêng cho những người luôn có tầm nhìn. Không có tầm nhìn thì chỉ đơn giản là người lạc lối chốn bàn đào, không đủ lực đứng ra tham gia lo chuyện quốc gia đại sự, quốc kế đại minh, vì quốc dân đại phát trong quốc tế đại hỗn mang.

A- Tầm Nhìn Học Thuật

1- Đế chế Kinh Tài Chindia

Còn khi thế giới học thuật hàn lâm bắt đầu nói về toàn cầu hóa và hí hửng đem thuật ngữ “Chindia” vào chương trình thạc sĩ kinh doanh quốc tế để nói về sự hình thành một đại siêu cường kinh tài của tương lai gồm sự cộng sinh tương hổ của hai thị trường khổng lồ của China – công xưởng của thế giới – và Ấn Độ – văn phòng của thế giới – sẽ thống trị toàn cầu, thì tôi đã tận dụng tính tự do trong nghiên cứu hàn lâm để một mặt viết khóa luận cho Đại Học Curtin (Australia), một mặt viết trên Yahoo!3600 một bài tiếng Anh mang tựa đề “People Say Chindia. I Say Vietnam” với nội dung rằng thật là sai lầm hoang tưởng bậy xằng khi đánh bóng về Chindia do không bao giờ có sự hình thành của cái gọi là Chindia ấy. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Ấn Độ. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Tàu. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự kém khôn ngoan khi đầu tư vào Ấn Độ chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự tự sát nếu đầu tư vào Tàu chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao không bao giờ có Chindia. Kết luận của bài viết ấy là: một nhà tư bản nếu thật sự khôn ngoan sẽ chọn Việt Nam làm nơi đổ tiền vào thay vì vào Ấn Độ và Trung Quốc bởi vì cái hình ảnh hào nhoáng từ cái tên Chindia vớ vẩn ấy. Thế rồi quả nhiên Chindia biến mất một cách nhục nhã khỏi diễn đàn hàn lâm. Thế rồi quả nhiên các đại gia sau khi đã đổ xô đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ở Trung Quốc dẫn đến việc biết bao bí mật phát minh kỹ thuật bị ăn cắp, công ty bị đập phá đốt phá tan tành bởi những đám đông người Tàu xuống đường biểu thị lòng “yêu nước, chống xâm lược” mỗi khi có căng thẳng ở Biển Hoa Đông rốt cuộc cũng phải bỏ chạy khỏi Trung Quốc và dời nhà máy sang Việt Nam. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận Chindia!

 TamNhin

2- Phát kiến BoP

Án binh bất động là căn bệnh trầm kha của giới thức giả Việt Nam, còn dệt thêu là căn bệnh kinh niên của giới thức giả Âu Mỹ. Cũng vì vậy, Việt Nam chớ có công trình nghiên cứu nào làm thế giới phải ghi danh, còn Âu Mỹ mới có vô số công trình tầm cỡ Nobel cùng lắm tác phẩm cưc kỳ vớ vẩn. Một trong những cái vớ vẩn đó là việc rặn ra cái gọi là BoP (Bottom of the Pyramid – đáy kim tự tháp – ví von nơi có đông dân nghèo nhất ) xem như phát kiến vĩ đại về một nơi mà giới tư bản có thể đổ quân đến thu hốt lợi nhuận cao nhờ bán cho số đông (đơn giản: cứ mỗi 1 tỷ người nghèo thì chỉ cần moi của mỗi người 1 USD thôi là sẽ có ngay 1 tỷ USD), cho đến khi tôi phản bác trong bài tiểu luận ở Đại Học Curtin rằng nào có hay ho gì việc đại gia tư bản chen chân vào vừa vơ vét tiền xu của người cùng khổ vừa lấy thịt đè người tiêu diệt luôn ngành tiểu thủ công nghiệp ở nước sở tại chẳng hạn như công ty đại gia tư bản thế giới rao ra rả trên tivi Ấn bán cà-rem giá rẻ mạt cho trẻ em cùng khổ rồi trên tivi Việt quảng cáo gói bột giặt hay dầu gội đầu nhỏ xíu giá rẻ mạt hai trăm đồng. Rốt cuộc, đại gia tư bản tuy vẫn cứ tiếp tục moi móc từng xu lẻ của dân nghèo các nước nhưng câm miệng lại không dám tung hê BoP như nền tảng hàn lâm cho sự lấn chiếm tổng lục của họ nữa khiến BoP lặng lẽ biến mất khỏi tháp ngà hàn lâm. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận hèn hạ của BoP!

B- Tầm Nhìn Kinh Tế

1- Hàng Trung Quốc

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không được mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ so với văn phòng phẩm Nhật Bản mà tôi đã quen dùng từ trước 1975, và khẳng định với các nhân viên thuộc quyền rằng chất lượng hàng Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn theo năm tháng. Mà quả thật, ngày nay hàng Trung Quốc toàn là thứ vất đi, độc hại, rẻ mạt, ngay cả việc xây dựng kỹ thuật hiện đại hơn như đường sắt cao tốc trên cao ở Hà Nội do Trung Quốc xây dựng cũng là một thứ đường sét thấp tốc với thời gian xây dựng cực kỳ cao. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về nơi đến của hàng hóa cùng dịch vụ Tàu, từ miếng dán sticker khiến trẻ em gái Việt Nam lao vọt như tên bắn đến tuổi dậy thì, cho đến hàng không mẫu hạm của lĩnh vực quốc phòng, v.v. Nơi đến là các thùng rác.

2- Slogan cho Việt Nam

Như đã đăng lại trong bài Chí Phèo mới đây trên blog này, tôi có nói về chuyện tôi khai phát pháo đầu tiên về khẩu hiệu của Việt Nam ngày 10-9-2008 trên báo Sài Gòn Tiếp Thị phê phán chê bai cái slogan kém cỏi vô lý “Sử Dụng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước”, đồng thời đề xuất 3 khẩu hiệu mới để thay thế, trong đó có khẩu hiệu “Người Việt Nam Ưu Tiên Sử Dụng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam”. Ở Việt Nam sau đó xuất hiện khẩu hiệu này, chỉ thiếu có chữ “Cao Cấp”, biến thành hướng kêu gọi của Đảng và Chính Phủ hơn nửa thập niên nay – tất nhiên chưa hề có ai nói chuyện với tôi về … tác quyền vốn là điều quan trọng thuộc sở hữu trí tuệ mà các định chế song phương và đa phương thường nêu lên như điều kiện tiên quyết với Việt Nam, ắt tại thiên hạ biết tôi ưa tư vấn miễn phí. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về khẩu hiệu đàng hoàng nên có của Việt Nam.

3- Thương hiệu quốc gia cho Việt Nam

Trong bài viết song ngữ Việt–Anh đăng trên Yahoo!3600 năm 2007 mang tên Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam, tôi đã phê phán cái sai của tất cả các báo khi không ai hiểu nội dung thuyết trình của giáo sư Philip Kotler nên đã tập trung diễn giải sai về cụm từ “Nhà Bếp Của Thế Giới” khiến tràn ngập trên báo chí suốt tháng ca ngợi món Phở, phỏng vấn anh Phở, hí hửng hí ha về chuyện Việt Nam sẽ có thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới đầy vinh diệu ấy. Tôi phán phê rằng Philip Kotler là nhà chuyên nghiệp nên không bao giờ nói cụ thể tại một buổi thuyết trình công chúng, nghĩa là nếu muốn ông cho ra một thương hiệu quốc gia thì phải ký hợp đồng nhiều triệu USD với ông, rằng Phở thì có ra chi mà chỉ với nó Việt Nam lại dám kỳ vọng sẽ đè bẹp ngay món pizza vĩ đại để có ngay thương hiệu ấy, rằng anh Phở thì biết quái gì về ẩm thực và thương hiệu quốc gia, và rằng không bao giờ cái thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới thuộc về Việt Nam. Thế mà quả thực đến tận ngày nay sau 10 năm thì chí ít mọi người chứng kiến chuyện anh Phở bán luôn thương hiệu Phở để chấm dứt kinh doanh món Phở nhạt thếch của anh ta, cũng như chuyện Việt Nam đâu có thành cái bếp ăn điên khùng ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phân tích vì sao không bất kỳ quốc gia nào sở hữu thương hiệu nhà bếp ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi đề xuất ý kiến chiến lược về một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam, gọi là Campus of the World, tức Trường Đại Học Của Thế Giới, với các sách lược mở cửa cấp đất cho các trường đại học danh tiếng nước ngoài vào xây dựng các trường đại học và các làng đại học thay vì xây các sân golf. Nay thì sau một thập niên, mọi người đang chứng kiến việc hết tỉnh này đến tỉnh kia bắt đầu tạo điều kiện cho các trường đại học nước ngoài vào mở trường. Lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ khi tiếp nguyên thủ các cường quốc Âu Mỹ đã luôn có bàn đến các đề án mở các làng đại học ở Việt Nam.

Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn chiến lược xa như thế về một thương hiệu quốc gia đẳng cấp cao, thực tiễn, thực tế, thực dụng, và thực lợi cho Việt Nam!

4- Cà phê Việt Nam

Ngày 22 Tháng 01 Năm 2009 trong bài “Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn” đăng trên Emotino, tôi có viết: …Thay vì tung tiền tung hô “xây” thiên đường cà phê hay “tặng” hàng triệu ly sữa từ tiền lời có được do khai thác “thời cơ” cái khổ ải nghèo bấn của nông dân, họ có thể dùng số tiền ấy biến nông dân thành “người” của họ, hàng tháng có thu nhập cố định, còn nguyên liệu “cống nạp” cho họ theo tỷ lệ và thời giá xuống hay lên, để họ chiếm “thời cơ” thành đại gia thực thụ khi là chủ nhân nguồn nguyên liệu đầy ắp kho lẫm, thống lĩnh thương trường xuất khẩu và sản xuất nội địa, điều tiết giá cả giúp chính phủ ổn định kinh tế, còn họ hưởng lợi hoàn toàn và tuyệt đối khi tung hàng ra thị trường hải ngoại. Giả như một công ty nước ngoài nào đó đột nhiên “tin tưởng tuyệt đối” vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thì với tài lực của họ, thử tưởng tượng xem họ thực hiện việc trên để nắm nguồn nguyên liệu cà phê của Việt Nam dễ dàng như thế nào, và đừng nói chi tất cả các đại gia là nhà sản xuất cà phê thành phẩm của Việt Nam mà đến các nhà buôn nước ngoài cũng sẽ mua lại nguyên liệu cà phê Việt Nam từ công ty nước ngoài “nhìn xa trông rộng” ấy…

Tháng 6 Năm 2011 vị đại gia “xây thiên đường” cà phê trả lời phỏng vấn trên VTV nói đại ý rằng chính phủ phải làm gì đấy để trả lại sự công bằng cho doanh nghiệp xuất khẩu vì họ “đầu tư cho nông dân “vay” để rồi công ty nước ngoài vào Việt Nam chẳng “đầu tư” gì hết mà lại tung tiền mua gom hết cà phê trực tiếp của nông dân khiến doanh nghiệp kinh doanh cà phê gặp khó khăn về nguồn hàng phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Cho vay mà gọi là đầu tư! Cho vay thì phải tính lời, và nông dân bán giá cao cho công ty nước ngoài để có dư tiền trả nợ đầu tư nào phải là chuyện sai quấy vì đã trả cả vốn vay lẫn tiền lãi vay sòng phẳng. Và rồi ngày 20 Tháng 7 Năm 2011 một chức sắc ngành cà phê trả lời phỏng vấn trên đài InfoTV nói rằng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lỡ k‎ý hợp đồng giá thấp với khách hàng nước ngoài nên bây giờ để giữ uy tín phải tìm đến các công ty nước ngoài ở Việt Nam để mua lại cà phê với giá cao thực hiện cho bằng được chuyến giao hàng.

Tôi đã từng viết rằng kinh doanh cà phê mà không có tâm với cà phê thì hỏng bét, vì nếu có tâm với cà phê ắt đã không xây thiên đường cà phê hay làm cái tách cà phê khổng lồ cẩu bằng trực thăng để ghi vào Kỹ Lục Guiness rồi đổ bỏ làm chết bao thảm thực vật, mà quan tâm đến những người trồng nên cà phê, chăm lo giúp họ làm giàu từ công sức canh tác của họ – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải chăm sóc cha mẹ của cô gái ấy mới đúng là có cái tâm đúng của đấng nam nhi đoan chính, có giáo dục; rằng kinh doanh cà phê mà không có tầm nhìn dành cho cà phê, vì nếu có tầm nhìn với cà phê ắt đã biết cà phê là thứ hàng quý hiếm để đầu tư xây dựng chuỗi silo làm kho lẫm lưu trữ cà phê trước khi cà phê rơi vào tay người khác – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải biết cô gái ấy hấp dẫn đối với bao người để chăm sóc cô gái ấy thật nhiều để cô gái ấy không hướng về sự chăm sóc đeo bám của chàng trai lịch lãm khác; và rằng mọi sự trên đời đều đơn giản như thế, cái sự đời là thế, và chỉ cần sống theo thế là anh đại gia đã giữ được nàng cà phê đen tuyền kiều diễm mà không phải phát biểu với chính phủ kiểu em bé khóc nhè méc mẹ thế kia.

Vậy là phải mất hai năm sáu tháng tức 910 ngày các đại gia cà phê mới thấy được cái tầm nhìn của tôi; mà đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện đại gia cà phê sẽ mất nguồn cung cà phê và đại gia ấy sẽ chẳng bao giờ xây được cái gọi là thiên đường cà phê trẻ con trẻ nít trẻ người non dạ tức cười ấy.

5- Gạo Việt Nam

Là người thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam năm 1989, tôi cực kỳ quan tâm đến phát triển hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong số những bài viết về gạo đăng trên Emotino, bài “Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam” đăng năm 2010 có nội dung sau:

 Tam Nhin2

đặc biệt có nói đến sự thật thứ nhất là có những trái khoáy được bộc lộ trong quy trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đã hoạch định, khiến gạo Việt Nam lâm vào tình thế lục đầu thọ địch khi (1) nông dân vẫn là mắc xích yếu ớt dễ bị tổn thương nhất trong chuỗi giá trị gạo; (2) đất nông nghiệp dành cho canh tác lúa bị thu hẹp; (3) biến đổi khí hậu và sự dâng cao của nước biển làm ngập mặn diện tích lớn vùng đồng bằng Sông Cửu Long; (4) thiên tai lũ lụt gây thất bát mùa màng; (5) sự non yếu của hiệp hội lúa gạo trong vai trò phân tích sâu sắc, tổng hợp đáng tin cậy, đánh giá chính xác cao về thông tin thị trường gạo thế giới, và tư vấn hiệu quả sách lược giá bán; và (6) lề lối làm việc của các nhà hoạch định chính sách hay những quan chức chỉ giỏi phát biểu về chính sách; còn sự thật thứ hai là khi đề ra cơ sở Tam Nông trong kế hoạch phát triển nông nghiệp nước nhà, không bất kỳ quan chức nào nhận thức được vị trí quan trọng của silo như sợi liên kết vật chất cụ thể cho nền tảng nông dân – nông thôn – nông nghiệp. Và dù đã gắng sức viết tư vấn hết kế sách này đến kế sách khác thì tôi vẫn không tác động được vào guồng máy chiến lược an ninh lương thực quốc gia và phát triển tam nông, khiến nhiều chục năm qua, Việt Nam vẫn không có hệ thống silo bảo quản chất lượng gạo sau thu hoạch, còn gạo Việt Nam thì chất lượng thấp giá bán thấp lại càng phải phập phồng rớt giá do sự non yếu của cái gọi là Hiệp Hội Lúa Gạo. Rất nhiều năm trước, khi tôi lúc tham dự hội nghị lúa gạo quốc tế có đề nghị Việt Nam nên có hệ thống silo hiện đại thì một chức sắc cao cấp của VCCI đã nhắc khéo tôi rằng tôi lo bò trắng răng vì Việt Nam đâu có thiếu gạo bao giờ đâu mà phải phí tiền nhập silo. Và chỉ cần một câu nói như thế của vị chức sắc ấy là tôi đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện gạo Việt Nam vẫn mãi ở thứ hạng chiếu dưới so với Ấn Độ, Thái Lan, v.v., và thậm chí hiện nay nhiều người Việt Nam thi nhau mua gạo Campuchia vì có hương thơm hơn, hương bền hơn, và vị ngon hơn.

 Tam Nhin2a

Ngoài ra, phần kết luận của bài viết trên tôi phê phán cách dùng cụm từ “đi tắt đón đầu” hoàn toàn sai do muốn đi tắt đón đầu phải là cường quốc kinh tài, chứ hành động duy nhất đúng của Việt Nam phải là cụm từ “lao nhanh, bắt kịp, chặn đầu, tạo thế”. Và nhiều năm nay hầu như không ai còn dám buộc miệng nói ra các chữ “đi tắt đón đầu”.

6- Sản xuất và Môi trường

Trong những năm 1980 khi giảng dạy tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh và các trường đại học khác, chỉ với khát vọng học trò của mình ngày sau sẽ giúp Đảng và Nhà Nước hiệu quả hơn, tôi đã luôn thẳng thắn trao đổi với sinh viên về những chủ đề mà thời ấy thuộc lọai nhạy cảm và dễ bị chụp mũ vì “đi trước thời đại”, nói ngược lại chủ trương, chẳng hạn theo tôi: Việt Nam nên ưu tiên dựa vào nông nghiệp để trở thành cường quốc, chứ ngợi ca phát triển công nghiệp nặng chỉ đưa đến hủy phá tàn tạ môi sinh do tâm, tầm, thế của lãnh đạo phát triển công nghiệp hoàn toàn là con số không. Trong thời điểm cơn sốt của chính sách “ưu tiên công nghiệp hóa” dựa vào sự ưu ái mang tính chính trị và lý tưởng học thuật dành cho giai cấp công nhân, đã có công trình xây dựng nhà máy sản xuất máy kéo (tractor) từ vốn vay hay viện trợ của Liên Xô và các nước khối Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Âu, để rồi xây xong bỏ đó, mang nợ ân tình và tiền nong, xây mà không biết rằng một nhà máy công nghiệp nhất thiết phải hoạt động sản xuất liên tục 24/24 và sản phẩm nhất thiết phải có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đặc biệt tổ chức đồng ruông bị cắt nhỏ như ở Việt Nam sẽ không thể sử dụng được tractor. Thêm vào đó, những khẩu hiệu tuy tốt đẹp như “sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu” đã không màng đến cái thực tế phũ phàng của phát trỉển những ngành công nghiệp không-thuộc-thế-mạnh-chuyên-biệt-tiềm-năng-của-nước-nhà. Tôi đã đưa ra dẫn chứng bài học thương đau của Ấn Độ khi nỗ lực thu hút các công ty hóa chất nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, nhưng chưa kịp thành Khu Chế Xuất Của Thế Giới (The SEPZONE of the World) thì đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa kinh hoàng chấn động địa cầu cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, khiến 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và làm hơn nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay còn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống. Số lượng các công ty quốc doanh ở Việt Nam rồi sẽ dần trở thành thiểu số, khiến sẽ có sự chuyển hướng cơ bản và thực chất của lực lượng công nhân sang khu vực tư nhân và tư bản, trong nước hoặc nước ngoài, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của khu vực và toàn cầu của các ngành công nghiệp, khiến người công nhân sẽ đối mặt nhiều hơn và dày hơn với sự chèn ép quyền lợi từ giới chủ, dẫn đến các cuộc đình công hợp pháp xảy ra nhiều hơn, cũng như khiến giai cấp công nhân không còn mang ý nghĩa duy nhất chủ lực trong phát triển kinh tế nước nhà; và trong điều kiện đa số trong các ngành sản xuất công nghiệp tham gia tích cực vào quá trình gia tăng ô nhiễm nghiêm trọng với môi trường sống của cộng đồng, thì sự tập trung đưa nền kinh tế dựa vào phát triển nông nghiệp và nông sản sẽ là một chiến lược khôn ngoan. Và rồi biết bao vụ việc xả thải tàn diệt bao dòng sông, triệt nguồn sống của bao cư dân, gieo rắc mầm bệnh nhãn tiền cho người dân đã được phát hiện, gây nên những chấn động xã hội, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện môi trường sẽ bị hủy hoại ở Việt Nam.

7- Hợp Tác Bốn Nhà

Ngay khi nghe kế sách quốc gia về “hợp tác bốn nhà giữa Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, và nhà khoa học”, tôi đã viết ngay trên Emotino một bài mang tên “Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm, Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà” để khẳng định rằng kế sách ấy sẽ thất bại vì chỉ có hai nhà là Nhà nước và nhà nông mới là động lực duy nhất của phát triển tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân). Tôi đã lập luận và đưa ra dẫn chứng với số liệu và chi tiết của các cường quốc Âu Mỹ –đặc biệt là Anh Quốc và Hoa Kỳ – để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng không bao giờ ở Việt Nam có nhà khoa học tự nghiên cứu về nông lâm thủy hải sản để rồi đi kiếm nông dân để rao bán công trình, mà chỉ có mấy anh được gọi là nhà khoa học ở các viện khoa học hưởng lương Nhà nước ngồi chờ Nhà nước rót tiền để thực hiện các công trình nghiên cứu rồi đúc kết in vi tính nộp Nhà nước lưu cất tàng thư. Nếu các doanh nghiệp tư nhân nghiên cứu khoa học thì họ là doanh nhân đi cung cấp dịch vụ cho nông dân để lấy tiền chứ không phải với tư cách nhà khoa học đi hợp tác với nông dân. Thậm chí tầm nhìn cũng là vấn đề nghiêm trọng nơi các “nhà khoa học” của Việt Nam, chẳng hạn có vị giáo sư tiến sĩ lừng danh tên VTX ở Miền Tây chuyên tạo ra các giống lúa cho Việt Nam, nhưng Ông không có tầm nhìn chiến lược nên gạo Việt Nam của Ông có thể kháng rầy tốt, có thể vươn cao theo đà nước dâng, v.v. và v.v., chứ tuyệt đối không thơm hơn, không thơm lâu hơn, không ngon hơn, không có giá trị cao hơn, không đáp ứng nhu cầu chất lượng cao hơn của thế giới, hoặc Ông không thể giúp gì được cho việc bảo tồn giống cây ăn quả khiến cây trái Miền Nam gần như thoái hóa gần hết. Còn doanh nghiệp nếu hiểu như là doanh nghiệp thu mua nông sản thì hoặc họ là quốc doanh thu mua theo lịnh của Nhà nước và dùng tiền Nhà nước để mua, hoặc họ là tư nhân thì thu mua theo thương thảo giá cả với nông dân mà trong trường hợp này nông dân ở vai trò đối tác của một thương vụ nên do đó cũng được gọi là doanh nhân. Rốt cuộc chỉ có Nhà nước đứng ra hợp tác với nông dân mới nên đại cuộc mà thôi, chẳng hạn Nhà nước đặt hàng cho các viện nghiên cứu của Nhà nước hoặc các công ty ứng dụng khoa học tư nhân thực hiện các nghiên cứu theo chủ đề của Nhà nước – thí dụ qua đề xuất cụ thể và chi tiết của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn – hoặc xuất tiền mua bản quyền nghiên cứu của nước ngoài rồi Nhà nước thông qua các tổng công ty Nhà Nước cung cấp các giải pháp đã nghiên cứu hay đã ứng tiền mua cho nông dân dưới hinh thức các công ty này ký hợp đồng với nông dân để khấu trừ vào lượng sản phẩm thu mua mùa thu hoạch, v.v. Tuy tôi có hí hước trong bài viết rằng nếu liệt kê ra 4 thì còn thiếu vì ngay cả nhà tu hành cũng đứng ra thành hợp tác 5 nhà do có công cầu cho mưa thuận gió hòa giúp nông dân được mùa, và kể thêm nhiều nghề khác cũng đóng góp thành “hợp tác vạn nhà”, tôi vẫn nhằm nêu lên một vấn nạn là các nhà hoạch định chính sách hay cho ra các cụm từ giống như để thỏa thú chơi chữ chứ hoàn toàn không có tính khả thi, khiến “phát triển tam nông” vẫn không phát triển được cho đến tận ngày nay. Và đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “hợp tác bốn nhà” sẽ chẳng bao giờ tồn tại trên thực tế.

C- Tầm Nhìn Giáo Dục & Đào Tạo

1- Sự xuống cấp

Tình trạng này tôi đã nói và viết nhiều trong mấy chục năm qua. Sự xuống cấp về trình độ học sinh sinh viên đến từ sự xuống cấp của nhà trường và giáo viên, của lề lối suy nghĩ và nội dung hoạch định của ngành giáo dục. Đây là việc hiển nhiên đối với học lực thực chất, kỹ năng mềm thực chất, giảng dạy thực chất, mà đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về sự đi xuống của giáo dục và đào tạo của nước nhà.

2- Tiếng Anh

Lĩnh vực này tôi cũng đã nói và viết rất nhiều trong mấy chục năm qua – và sẽ còn viết mãi – rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do chỉ áp dụng các phương pháp của Âu Mỹ một cách vừa máy móc vừa nông cạn đến độ bày ra việc cho trẻ em học tiếng Anh từ nhỏ, mà không quan tâm đến thế mạnh của người Việt. Việc 40 năm qua dù đã trải qua bao lần cải cách giáo dục đầy tốn kém mà xã hội Việt Nam cứ mãi băn khoăn về trình độ tiếng Anh bất-khả-sử-dụng của học sinh và sinh viên Việt Nam, và đây là việc hiển nhiên đến độ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện sau gần nửa thế kỷ áp dụng các điều “tân tiến” từ phương pháp đến giáo trình giáo cụ mà người Việt vẫn cứ lẹt đẹt sau thiên hạ về tiếng Anh.

3- Phát triển IT

Khi công nghệ thông tin (gọi tắt là IT hay Aitee) bùng phát, thiên hạ ở Việt Nam thi nhau cho con cái học Aitee, còn chính phủ thì ưu ái phát triển Aitee, rót ngân sách dồi dào cho toàn bộ hệ thống giáo dục để xây dựng phòng Aitee. Ngay chính thời điểm đó, tôi đã ra sức can ngăn các bậc phụ huynh mà tôi quen biết không cho con em du học về Aitee, thậm chí còn tận dụng các buổi phỏng vấn tuyển dụng để “tuyên truyền giáo dục” người dân hiểu đúng hơn. Tôi cho rằng Aitee sẽ không bao giờ phát triển ở Việt Nam vì (a) người đi học Aitee không vì có năng khiếu về Aitee, không vì có đam mê làm một chuyên viên Aitee hay kỹ sư Aitee, mà chỉ vì muốn trở thành tỷ phú như Bill Gate; (b) Aitee là hands-on cầm tay chỉ việc trong đào tạo nên việc bỏ phí 4 năm đại học để học Aitee là việc không khôn ngoan; (c) học xong về chỉ ôm mộng mở công ty hoặc viết phần mềm hoặc mua bán laptop điện thoại di động vậy sao không chịu bỏ tiền ra ngay – nếu có tiền – khỏi đi học, mở công ty thuê người về viết phần mềm hoặc cứ tham gia mua đi bán lại laptop và điện thoại di động; và (d) sẽ không thể mở công ty vì không thuê được người do tất cả những ai học Aitee đều chỉ muốn làm ông chủ doanh nghiệp. Thực tế hiện nay các đại gia Aitee thế giới đã xây dựng các dự án khổng lồ về vốn đầu tư ở Việt Nam nhưng vấn đề đau đầu của họ luôn là không thể tuyển đủ số “thợ Aitee” cho các nhà máy của họ ở Việt Nam. Chỉ cần biết lối suy nghĩ của người Việt là đã có thể biết ngay Aitee có thể phát triển mạnh ở Việt Nam hay không, chứ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế.

D- Tầm Nhìn Chính Trị

1- Quốc Hội Khóa XIII

Khi nhận thức được các thách thức hết sức quan trọng và đặc biệt nghiêm trọng sẽ ập đến nước nhà khiến Quốc Hội ắt rất cần có những nghị sĩ sáng suốt, cương quyết để phục vụ Khóa XIII làm thất bại tất cả các mưu toan “diễn biến hòa bình” cũng như hoàn thành sứ mệnh lịch sử trước dân tộc bảo vệ được đất nước, tôi quyết định tự ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIII. Dần dà có các thách thức gồm sự tấn công của các thế lực thù địch vào dự thảo sửa đổi Hiến Pháp Việt Nam nhằm đạt được những thay đổi mang tính tấn công vào thể chế chính trị như đổi tên nước, đổi lời quốc ca, v.v.; sự phức tạp của bộ đại luật Đất Đai; diễn biến phức tạp ở Biển Đông với các hành vi gây hấn của Trung Quốc; cũng như sự việc Luật Biển phải được thảo luận trong bí mật và được thông qua trong tình hình đe dọa của Trung Quốc; v.v. Với sự sáng suốt và cương quyết như thế, tôi phát biểu ngăn chặn sự vô tư hồn nhiên ngây thơ của một hai nghị sĩ nêu yêu cầu phải có cái gọi là Luật Biểu Tình để “trả xong món nợ với nhân dân”. Tôi ngăn chặn vì (a) Khóa XIII sẽ đầy ắp những biến động đại sự liên quan đến sự tồn vong của đất nước đối với chiến tranh – hòa bình cũng như những thời cơ ngập tràn từ các định chế kinh tế song phương và đa phương mà Việt Nam phải gặt hái cho bằng được để phát triển kinh tế nước nhà, và vì (b) ngay cả vị nghị sĩ “luật sư” của Thành phố Hồ Chí Minh lớn tiếng ủng hộ việc có cái gọi là “Luật Biểu Tình” cũng không biết mình dại dột khi nói với báo chí rằng “chúng ta chưa có kinh nghiệm nên phải ra Luật Biểu Tình để học tập” mà không hiểu rằng chính vì những người tay mơ chưa có kinh nghiệm như ông ta mà tôi phải cản ngăn để tôi có thời gian truyền các kinh nghiệm của tôi về “biểu tình” qua các nghiên cứu sâu sắc nhất và đầy đủ nhất với các bài viết đăng blog không những về ngữ nguyên mà còn về luật pháp cùng thực tế hành xử của các cường quốc tư bản Âu Mỹ và các thực tế lịch sử cận đại và hiện đâị của “biểu tình”. Chỉ cần có tầm nhìn chiến lược đối với quốc gia đại sự mà tôi nêu vấn đề khiến Quốc Hội nhận ra sự thật, ủng hộ, rồi quyết định không lập dự thảo cái gọi là Luật Biểu Tình trong toàn khóa XIII (2011-2016) còn tôi đã hoàn thành sứ mệnh cung cấp các lập luận, tư liệu, kể cả chiến thuật và chiến lược, cho cơ quan sẽ được phân công thảo dự án ấy cho Khóa XIV (2016-2021), khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện Quốc Hội Khóa XIII vừa chưa rõ gì cả về “biểu tình” do chưa ai từng nghiên cứu thấu đáo để công khai công bố về “biểu tình” vừa phải đương đầu với các lấn xâm của Trung Quốc nên không thể cho ra dự thảo “Luật Biểu Tình”.

2- Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh

Ngay khi lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh lập đề án Chính Quyền Đô Thị trình Bộ Chính Trị xin chủ trương để có cư sở trình Quốc Hội, tôi đã viết ngay bản thảo mang tựa đề “Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Nguyên Nhân Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành phố Hồ Chí Minh” có nội dung mục lục như sau:

 Tam Nhin3

nhưng đã quyết định không đăng trên WordPress vì những lý do tế nhị. Tôi đã nêu trong bản thảo ấy rằng (a) việc bỏ Hội Đồng Nhân Dân sẽ không bao giờ được thực hiện, rằng (b) khái niệm “thành phố trong thành phố” là tùy tiện và sai hoàn toàn vì khi diễn giải ra tiếng Anh thì “Thành Phố Bắc thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh” sẽ viết ra sao, rằng (c) Thành phố Hồ Chí Minh sẽ co rúm lại trong vòng 10 năm sắp đến vì diện tích đất bị ngập mặn do sự cố nước biển dâng thì sao lại cắm đầu phân chia thành các thành phố bị ngập nước bên trong thành phố bị nước lấn xâm, rằng (d) phục vụ người dân thì cứ phục vụ người dân sao lại phải đòi xây dựng “thành phố trong thành phố” mới phục vụ dân “tốt hơn”, rằng (e) xây cái megacity đó rồi ai là lớp người quản lý vì hiện nay có lực lượng công chức nào đang tận tụy phục vụ nhân dân hiệu quả đâu mà mong làm nòng cốt cho tầng lớp lãnh đạo đó, và rằng (f) tiền đâu mà xây. Và rồi sau thời gian “thí điểm” thì Hội Đồng Nhân Dân được tái lập như một đặc thù tổ chức chính quyền Việt Nam, còn cái megacity trên dự án trở thành núi giấy tờ ngốn tiền tỷ nghiên cứu và phác thảo chìm vào quên lãng, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “Thành phố trong Thành phố” sẽ không bao giờ biến thành hện thực.

E- Tầm Nhìn Địa Chính Trị

1- Hậu quả từ sự biến mất của Saddam Hussein và Muamar Gadafi

Trong bài viết “Tôi và Saddam Hussein” đăng trên Emotino tôi có nói về sự liên lạc bằng thư và bằng điện tín của tôi gởi Tổng Thống Saddam Hussein trong thời gian tôi công tác tại CIMMCO International, với nội dung đề nghị Ông theo cách liên hoành để liên kết với Iran và Bắc Triều Tiên nhằm tạo thế sinh tồn, giúp thế giới ổn định như vốn có về chiến lược, vì nếu Ông đơn thương độc mã đương cự với Hoa Kỳ thì Ông sẽ bị tiêu diệt, đến phiên Iran bị đàn áp kiệt quệ, còn Bắc Triều Tiên bị vây hãm chỉ ngẫu hứng một mình một cõi không cài vào thế chiến lược quan trọng hơn cho chính sự sinh tồn của nước ấy, theo kiểu từng chiếc đũa bị vô hiệu hóa, nhưng lại dẫn đến việc không phải là thế giới có một nước Hoa Kỳ hùng mạnh bậc nhất mà làm cho nước Mỹ suy yếu hơn, tiền đề cho sự bùng phát không bao giờ còn có thể chế ngự được của chủ nghĩa khủng bố. Còn trong bài “Hậu Muammar Gaddafi” cũng đăng trên Emotino, tôi cũng nêu ra lập luận tương tự rằng Âu Mỹ sẽ đại ngu nếu tấn công triệt hạ Gaddafi vì cũng như Saddam Hussein, Gaddafi có năng lực dìm đầu khống chế chủ nghĩa khủng bố. Chuyện đã cũ, nhưng với sự thật như đang xảy ra trên toàn cầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự vùng lên hơn nấm không bao giờ còn có thể được chế ngự của chủ nghĩa khủng bố.

2- Ngày tàn của Bắc Kinh

Thật nhiều năm trước, khi Trung Quốc điên rồ phát triển công nghiệp luyện kim bằng khẩu hiểu “nhà nhà luyện kim, người người luyện kim” khiến cả tỷ người suốt ngày ngồi chổng mông quạt lửa nấu chảy vài cục sắt để nộp cho hợp tác xã, tôi đã phì cười, nói với thân hữu rằng cái đất nước ấy rồi sẽ thành hỏa ngục với khói bụi đậm đặc và ô nhiễm môi sinh (từ ngữ của Việt Nam Cộng Hòa, có nghĩa: môi trường sinh sống). Rồi khi đến thời hiện đại, lúc Trung Quốc hồ hởi phấn khởi với danh xưng Công Xưởng Của Thế Giới, thì tôi – với tư cách cảm tình viên của Hòa Bình Xanh – càng tin tưởng vững chắc rằng ngày tàn của Bắc Kinh đã đến. Đây thuần túy không là một nhận xét chính trị mang tính định kiến chống Trung Quốc, mà hiện đã có thực tế về mức độ ô nhiễm khủng khiếp về môi sinh ở Bắc Kinh, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của Bắc Kinh.

3- Ngày tàn của EU

Tôi vốn tin tưởng vào một thế giới đại đồng trong đó các quốc gia riêng rẻ chung sống hòa hợp với nhau, tôi đã luôn cho rằng (a) dân tộc tính là điểm bất khả triệt tiêu nên xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ không bao giờ được xây dựng nên; rằng (b) việc hình thành các khối thuần kinh tế là mô hình duy nhất đúng để sống nương tựa vào nhau; và rằng (c) việc hình thành các khối thành một “đại quốc gia” với đồng tiền chung, nghị viện chung, tự do đi lại chung sẽ dẫn đến việc bị kẻ thù của khối lợi dụng, lạm dụng, khiến cả khối bị đe dọa về an ninh, còn chính điểm a về dân tộc tính sẽ đe dọa sự kết liên vững bền của khối khiến EU sẽ phải đối mặt với sự tan rã mà hậu quả là từng quốc gia tách ra từ sự tan rã đó sẽ yếu ớt hơn là chúng đã là trước khi gia nhập mà hậu quả ấy lại sẽ gây ra sự suy vong sụp đổ của các quốc gia từng là cường quốc này. Hết thành viên này đến thành viên khác trong cái “đại quốc gia” EU ấy đã tiến hành các cuộc trưng cầu dân ý về việc có tách ra khỏi EU hay không, còn hiện nay sau khi đã dấn thân với NATO gây hấn với Nga rồi gánh chịu sức nặng của sóng người di cư tị nạn từ Syria và các nước Châu Phi, giềng mối gắn kết EU đang bị rung lắc dữ dội với các chính phủ thực hiện “bế quan tỏa cảng” ngăn chặn làn sóng di cư tị nạn đồng thời hủy phá tinh thần tự do đi lại trong toàn khối, mà gần đây nhất là việc Đan Mạch ra luật cho tịch thu tài sản người di cư tị nạn đã xo sập hoàn toàn bức tường ý thức hệ đầy kiêu hãnh của EU. Còn vụ thảm sát ở Na Uy vài năm trước gióng lên hồi chuông báo động của chủ nghĩa bài Hồi Giáo, bài ngoại, và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đường hướng Quốc Xã bài chủng tộc.

Xây dựng một khối để chơi riêng với nhau dành cho nhau nhưng ưu ái về kinh tế kinh doanh là chuyện bình thường nên làm. Xây dựng mối giao hảo xóm giềng hòa thuận, hỗ tương, đầy tính nhân văn là chuyện bình thường nên làm.

Xây dựng một khối để hình thành một “đại quốc gia”; xóa nhòa ranh giới văn hóa, chủng tộc, quốc gia, dưới chiêu bài “tự do”, là việc của những kẻ rồ dại. Xây dựng xóm giềng thành một “đại gia đình” để ai muốn qua nhà người khác ở chung đụng thì cứ tự do, là việc của những kẻ muốn đi thụt lùi về thủa hồng hoang ăn lông ở lổ.

Cứ luận việc xóm giềng ăn ở luôn tuồng sẽ dẫn đến sự vô luân vô đạo ra sao thì có thể biết ngay số phận của EU, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của EU.

4- Vấn nạn ASEAN

Tương tự, mấy năm trước tôi có viết bài trên Emotino cảnh báo về nguy cơ Trung Quốc Hóa đối với một khối ASEAN mà tất cả các thành viên đều ngó lơ chấp nhận sự tồn tại của một Con Ngựa Thành Troy. Khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, chính Con Ngựa Thành Troy ấy đã phản phúc như đặc tính cố hữu của nó tuyên bố đó không phải là chuyện của nó vì tuy nó là thành viên ASEAN đất nước nó chẳng có biển nào mang tên Biển Đông, thậm chí nó còn làm nhục cả Hoa Kỳ trong công khai ủng hộ Trung Quốc đối đầu với Mỹ. ASEAN không có cùng văn hóa. ASEAN không có cùng bản chất dân tộc. ASEAN không có cùng bất kỳ điểm tương đồng nào, kể cả về màu da hay lịch sử. ASEAN không cùng nhìn về một hướng. Thành ngữ “Đồng Sàn Dị Mộng” là một bi kịch của hai người nằm ngủ chung giường, đắp chung chăn, nhưng mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau. Song, ASEAN là tổ chức “Dị Sàn Dị Mộng” tức là một thảm họa khi hai người nằm khác giường, đắp khác chăn, mỗi mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau, những vẫn nói với người ngoài rằng đó là gia đình đầm ấm. Gần đây cac vụ khủng bố rộ lên ở Indonesia và Malaysia, trong khi các quan chức an ninh ASEAN bàn đến chuyện một khi một người đã qua sự kiểm tra giấy tờ ở một nước ASEAN thì có quyền sang các nước khác của ASEAN mà các nước ấy không có quyền kiểm tra lại giấy tờ cá nhân. Sẽ ra sao nếu trong một phường người ta có quyền sang nhà hàng xóm ngủ? Sẽ ra sao nếu một quan chức an ninh là cảm tình viên của mạng lưới khủng bố đóng dấu kiểm tra xong đối với một đối tượng khủng bố để tạo điều kiện cho đối tượng này ra vào các nước còn lại để thực hiện các vụ khủng bố?

Sự hỗn loạn hỗn mang như ASEAN đang phải đương đầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự rung lắc tương tự EU của ASEAN trong một vài năm sắp đến.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo :

1) Hoàng Hữu Phước. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bản song ngữ Việt & Anh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ ; bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc; và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn. (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu thứ nhì cho Việt Nam liên quan đến gạo được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19).

2) Hoàng Hữu Phước. 23-10-2010. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

3) Hoàng Hữu Phước. 22-01-2009. Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn. http://www.emotino.com/bai-viet/17393/ca-phe-mot-chuyen-nho-va-hai-lon. Sẽ được đăng lại trên blog này.

4) Hoàng Hữu Phước. 26-12-2010. 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/09/15-000-tan-gao-1-xap-vai-quan/

5) Hoàng Hữu Phước. 2009. Hành Trình Hạt Gạo Việt: Gạo Việt Ra Chợ Quốc Tế . http://www.emotino.com/m.php?p=18302

6) Hoàng Hữu Phước. 2009. Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa. http://www.emotino.com/m.php?p=17638

7) Hoàng Hữu Phước. 08-01-2016. Gạo Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/08/gao-viet-nam/

8) Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Chí Phèo. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/chi-pheo/

9) Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Khía Cạnh Pháp Luật Của Luật Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Tình Yêu

Các Loại Tình Yêu – Tôi Và Những Cuộc Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-01-2016

Có lần tôi viết blog rằng các bạn nên trau giồi tiếng Anh cho khá để có thể biến nguồn tư liệu của Wikipedia thành kho tàng kiến thức khổng lồ cho riêng bạn. Song, tại sao phải là tiếng Anh trong khi Wikipedia có cả phần tiếng Việt? Phải là tiếng Anh vì nếu Wikipedia cứ có mỗi 10.000 tài liệu cực kỳ dồi dào thông tin thì có ai đó là người Việt (không phải người nước ngoài giỏi tiếng Việt) tham gia “dịch” sang tiếng Việt võn vẹn 01 tài liệu chắc để nhận thù lao vài xu của Wikipedia, mà các “công trình dịch” này (a) hoặc ngắn ngủn dăm ba đoạn của nguyên tác tiếng Anh, (b) hoặc né không dám “dịch” các tài liệu hàn lâm học thuật hay khoa học, (c) hoặc gặp các tài liệu liên quan đến chính trị là lập tức “sáng tạo” toàn những ý tứ giải thích để chống lại ý thức hệ cộng sản mà ác tâm là chỉa vào Nhà nước Việt Nam cùng thể chế chính trị Việt Nam trong khi nguyên tác tiếng Anh rất công tâm thuần học thuyết hàn lâm không hề viết thế, và (d) hoặc gặp những tài liệu chung chung thì be ra, tán ra, theo hiểu biết nông cạn của cá nhân mình chứ không dịch từ nguyên bản.

Mới đây tình cờ tôi xem thử bản tiếng Việt về “tình yêu” trên Wikipedia thì hết hồn nhận thấy “nó” thuộc loại “be tán” chứ không phải là bản dịch nghiêm túc từ nguyên bản tiếng Anh về Love, khi kẻ ấy “be tán” ra nào là Tình Yêu Nước, tình yêu này nọ, thậm chí còn khủng khiếp dịch Unrequited LoveThất Tình, trong khi cái gọi là Tình Yêu Nước là Lòng Ái Quốc chứ không dính dáng gì đến Love, còn Unrequited Love có thể dẫn đến Thất Tình chứ bản thân nó không phải Thất Tình. Hơn 30 năm trước, tôi đã dạy sinh viên của tôi về các loại Love chính trong tiếng Anh, nay xin lập lại như sau – kèm với những chuyện tình có thật của tôi để minh họa – để giúp các bạn hiểu rõ hơn chứ các bạn sinh viên sẽ không bao giờ có thể học tập gì được nơi phần tiếng Việt của Wikipedia vĩ đại cả đâu, cũng như sẽ không có bất kỳ giảng viên Anh văn nào dù là người Việt hay người nước ngoài có thể giải thích tường tận và chính xác tương tự.

Các Loại Tình Yêu

Dù về phương diện ngôn ngữ thì Love của tiếng Anh thua kém các từ tương đương trong tiếng Việt, do người ta nói anh love em, anh love mẹ, anh love cà rem, anh love cà ri, v.v., còn tiếng Việt thì anh yêu em, anh thương em, anh yêu cha mẹ, anh thương cha mẹ, anh thích cà rem, anh khoái cà ri, v.v., trong đó thậm chí chữ thương lại dễ…thương hơn chữ yêu. Ở đây xin nói về tình yêu trai gái theo ý tứ chính quy từ ngàn xưa dành cho hai người khác phái chứ không vì cái gọi là “phân biệt đối xử”, và theo đúng tài liệu về Love của Wikipedia tiếng Anh.

1) Unrequited Love:

Đây là tình yêu đơn phương (tức one-sided love) khi bạn yêu một người mà không được đáp lại. Nếu sự đáp lại sở dĩ không có là do bạn yêu mà không dám tỏ nên đối tượng không biết để đáp hoặc không đáp, thì Unrequited Love sẽ được dịch thành thầm thương trộm nhớ, hoặc tình yêu thầm lặng. Nếu sự thầm lặng này làm bạn ưu sầu, khổ đau, héo úa, mà tất cả do bạn tự chuốc lấy thì có thể bạn sẽ tương tư tức lovesick. Nếu sự thầm lặng này không làm bạn héo hon vì bạn là người bản lĩnh thì xem như bạn có một mối tình đẹp thuần khiết để nhớ trong đời. Còn nếu bạn tỏ tình mà người ấy không đáp lại, khiến bạn khổ sầu héo hắt thì lúc ấy bạn có thể xem như mình thất tình tức lovelorn (chứ không phải được yêu rồi bị….”đá” mới là thất tình đâu bạn ạ, mà là “tình phụ” hay “phụ tình”, mà ngữ này thì tiếng Anh không có, vì Âu Mỹ cứ theo hợp đồng hôn nhân để “love” rồi “hết love” trong pháp luật).

2) Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Đây là từ thường được dịch thành Mối Tình Đầu, nhưng nếu bạn trên 18 tuổi mới có mối tình đầu tiên thì đó gọi là First Love chứ không phải Puppy Love, vì Puppy Love là khi bạn yêu ai lúc bạn còn ở tuổi ấu thơ hay tuổi thiếu niên hoặc vị thành niên. Puppy là “cún con” nên không dành cho loại..bẹc-giê.

3) Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Bài viết này như đã nói rõ ở trên là về tình yêu trai gái, do đó Platonic Love là tình yêu cao thượng khi cả hai không dụng mưu hoặc không để cuốn theo đòi hỏi tình dục trước ngày cưới, nghĩa là không để vấn đề tình dục xen vào như điều kiện tiên quyết nằng nặc phải có trong quan hệ gọi là “tình yêu” của hai người.

4) Compassionate Love: Tình Yêu Trắc Ẩn

Khi tình yêu được một người dành cho một người khác xuất phát từ lòng vị tha hay sự trắc ẩn, chỉ quan tâm đến việc làm điều tốt hơn cho người ấy, thì đó là compassionate love. Có thể liên tưởng đến những cuộc hôn nhân mà một trong hai người là người chịu thiệt thòi do yếu thế hoặc vì khuyết tật.

5) Conjugal Love: Tình Yêu Chung Thủy

Khi hai người yêu nhau và trở thành vợ chồng gắn bó keo sơn với nhau đến trọn đời thì đó là conjugal love, với ý nghĩa “tình yêu” là đẹp và cao trọng. Cảm xúc nhất thời, hoặc ngắn hạn, không thể được gọi là “tình yêu” tức tiền đề cho một tình yêu keo sơn gắn bó. Báo chí thường đưa tin diễn viên này chia tay người mẫu kia sau 9 năm yêu nhau mà lẽ ra họ nên viết chính xác là: sau 9 năm chung sống với nhau. Đã là tình yêu thì chỉ luôn hướng đến chuyện lâu dài mà chỉ có sự ngang trái bất ngờ ngoài ý muốn của cả hai mới khiến không thành ước nguyện song tình yêu vẫn còn trong tâm khảm nhung nhớ đến trọn đời.

6) Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Tình yêu sét đánh (tiếng Pháp gọi là coup de foudre) là tình yêu bùng phát ngay từ cái nhìn đầu tiên với người lạ mặt. Đã là sét đánh thì cực kỳ dữ dội, cực kỳ chấn động, cực kỳ dài lâu, cực kỳ lãng mạn. Đã là sét đánh thì ngoài thực tế đời sống không ai có thể sống sót, vì vậy trong “tình yêu” mà bạn cứ gặp ai cũng yêu ngay từ cái nhìn đầu nghĩa là bị sét đánh đi đánh lại vô số lần thì thứ tình cảm của bạn không thể gọi đó là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên tức tình yêu sét đánh mà cũng không thể nói đó là “tình yêu” bất kỳ mà là một kiểu lệch lạc cần sự giúp đỡ của bác sĩ phân tâm do bạn đã bị sét đánh đen thui tóc dựng đứng và bốc khói.

7) Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Star-Crossed Love do chính tôi đặt ra (bạn không thể thấy có trong tự điển bất kỳ) từ nhóm chữ Star-Crossed Lovers của William Shakespeare gọi đôi tình nhân Romeo và Juliet. Đây là loại tình yêu có thể xảy ra không ít trong xã hội Việt Nam do sự can thiệp của mẹ cha vì vấn đề tôn giáo hoặc gia thế.

Ngoài ra, còn những thứ “Love” khác xin được kể ra sau đây, không với dụng ý xem đó là những loại “tình yêu”, mà chỉ đơn giản muốn nói rằng từ “Love” đã rất yếu kém và được sử dụng quá thoải mái vô tư cho những phạm trù khó thể gọi là “tình yêu”:

1) Free Love: Tình Yêu Không Giá Thú

Đây là thứ “love” theo trào lưu Âu Mỹ, theo đó nam nữ sống với nhau không muốn có sự ràng buộc về hôn thú, không bị bó buộc bởi các quy định kế hoạch hóa gia đình, và thậm chí cả hai đều có quyền tự do ngoại tình với bất kỳ ai khác trong thời gian chung sống với nhau, kể cả theo kiểu đăng báo kiếm “đối tác” để đổi vợ đổi chồng vài ngày để thay đổi không khí.

2) Infatuated Love: Tình Yêu Cuồng Si

Cái tên cuồng si ắt cho bạn biết sự si dại, mê cuồng, đắm đuối ghê gớm của ngôn từ nên ắt bạn cũng hiểu là thứ tình yêu này khó thể là lành mạnh vì nó khống chế toàn bộ hành vi của con người, dễ dẫn đến các hành vi manh động, dữ dội, và do đó ắt chỉ có thể thấy trong miêu tả các nhân vật trong các quyển tiểu thuyết. Do “tình yêu” thì mang ý nghĩa tốt đẹp, trong khi “love” được dùng thoải mái trong tiếng Anh nên Infatuated Love tốt nhất nên chỉ dịch thành sự si mê cuồng dại một người khác phái, chứ yêu đương gì mà giống mafia như thế thì rõ ràng không thể nào là yêu mà chỉ là sự ra tay chiếm đoạt, sở hữu mà thôi.

3) Love Triangle:

Tình Tay Ba (còn gọi là Romance Triangle hay Romantic Love Triangle tức “love” lãng mạn…tam giác), mà nếu trên cơ sở Phim Hàn Quốc hàng trăm tập thì hoặc gồm hai anh yêu một cô, hoặc hai cô yêu một anh. Thật ra thì đây là cách gọi chơi cho vui vì dù cho trên thực tế có sự cố “tay ba” như vậy thì cũng chỉ có hai người yêu nhau thôi, chứ nếu một anh yêu hai cô hoặc một cô yêu hai anh thì không gọi là tình tay ba mà phải gọi là tình khùng chạy vì hai cô sẽ bỏ chạy cùng với hai anh kia cũng đang bỏ chạy.

4) Obsessive Love: Tình Chiếm Đoạt

Đây cũng là thí dụ về sự kém cỏi của từ Love trong tiếng Anh, vì Obsessive Love nói về một cảm xúc mang tính bịnh lý tâm thần, hỗn loạn nhân cách, nơi người thèm khát chiếm đoạt một người khác phái cho bằng được mà không chấp nhận bị thất bại hay bị khước từ kể cả để thỏa mãn tình dục. Do Obsessive Love tồn tại trong tiếng Anh nên cực chẳng đã được nêu lên trong bài viết này chứ bản thân tính cách ấy không thể gọi là “tình yêu”.

5) Unconditional Love: Tình Yêu Thần Tượng

Unconditional love tức Tình Yêu Vô Điều Kiện có thể được hiểu như một thứ “love” phát sinh từ lòng vị tha thương người, hoặc từ một thứ “love” tuyệt đối, mà người có thứ “love” này dâng tặng tất tần tật cho đối tượng mình xem như thần tượng mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện hay sự đền đáp tương xứng nào, vì xem tình yêu mình dành cho người mình yêu mới là duy nhất quan trọng với cuộc đời mình. Loại “love” này cũng không được xem như lành mạnh vì có thể có lấn cấn vấn đề tâm lý bất bình thường hoặc trẻ dại nơi người hiến tặng, trừ phi đó là tính cách cao thượng nơi những nữ tu, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì “love” cũng không phải là “love” vì không phải là “tình yêu trai gái”.

Tôi Và Những Cuộc Tình

Tất nhiên, tôi sẽ không nói gì về 5 loại tình yêu khác thường không phải tình yêu mà chỉ là Love. Trong 7 loại tình yêu bình thường thì tôi đã có những trải nghiệm tình yêu chính như kể dưới đây. Dù tôi và những người con gái ấy nay ai cũng đã trên 50 tuổi, có những trường hợp tôi sẽ không nêu tên thật do những vấn đề tế nhị khác – chứ toàn bộ sự thật tôi đều đã “khôn ngoan” kể hết cho vợ tôi từ trước ngày cưới như đã ghi trong bài blog khác.

1) Tôi và Unrequited Love:

Dù tôi luôn được nhiều nữ sinh (tôi từ lớp 1 đến lớp 10 học ở các lớp nam sinh, và lớp 11 trở lên mới học lớp nam nữ học chung) mến thương gởi thư tỏ tình trước, tôi khi vào đại học vẫn có những tình yêu thầm lặngtình yêu đơn phương do những năm đầu sau giải phóng ai cũng “thủ thế”: Thầy Cô không nói chuyện với học trò vì sợ “lỡ lời” và vì giữ an toàn chờ ngày vượt biên, còn sinh viên thì không trò chuyện với nhau cũng do sợ “lỡ lời” và cũng vì giữ an toàn cho bản thân chờ ngày vượt biển. Tôi yêu say đắm Nguyễn Thị Hồng Loan ở Khoa Pháp Văn, một cô gái đẹp xinh, trầm lặng, khỏe mạnh, quý phái, và sáng tác bài thơ tiếng Anh tựa đề Bạch Hồng Riêng Tặng Hồng Loan The Rhododendrons for Hong Loan trao tặng nàng. Song, nàng lặng thinh không trả lời, nhìn tôi với ánh nhìn buồn bã, để rồi vài tuần sau nàng biến mất. Cứ vài tháng tôi vờ dọ hỏi các sinh viên Khoa Pháp về Hồng Loan nhưng chẳng ai biết gì, và tôi chỉ mong Loan không là nạn nhân của hải tặc ngoài biển khơi. Rồi khi trong hội trường giờ học Lịch Sử Đảng, tôi nhận được nụ cười tuyệt đẹp của một búp bê tên Lệ Thủy cũng của Khoa Pháp, tôi xao xuyến ngồi sau nàng hai dãy bàn vẽ tranh nàng, cô gái xinh đẹp có mái tóc ngắn chạm vai, rồi nhờ các bạn chuyển lên để tôi lại được nàng quay lại tặng tôi thêm một nụ cười đẹp tuyệt não nùng. Vài bạn hỏi tôi sao hôm trước làm bài thơ Autumnal Dew tức Sương Thu Dành Tặng Nguyễn Thị Thu Sương ở Khoa Anh trong giờ Kinh Tế Chính Trị Mác-Lê Nin trong khi Sương tóc dài tuyệt đẹp lại không vẽ nay lại vẽ mái tóc ngắn của Thủy, thì tôi trả lời do không làm thơ tiếng Pháp được nên vẽ tranh. Và rồi Lệ Thủy lại biến mất theo làn sóng vượt biên mà không ai nhận được tin tức gì sau đó. Tôi yêu Hồng Loan vì nét đẹp quý phái nghiêm trang. Tôi yêu Lệ Thủy vì nét đẹp thanh tú quyến rũ hơn tranh vẽ của nàng nhất là nụ cười Liêu Trai đẹp hơn cả nụ cười bừng sáng của Catherine Jeta-Jones. Gọi là tình yêu đơn phương thầm thương trộm nhớ hoặc tình yêu thầm lặng của tôi vì tôi chưa từng tỏ tình bằng lời nói mà chỉ qua một bài thơ và một bức tranh gởi tặng thay lời muốn nói. Tất nhiên, sự thầm lặng này không làm tôi héo hon héo hắt héo úa, mà xem như tôi đã có hai lần cảm nhận được sự thương yêu mình dành cho hai người con gái vào hai thời điểm khác nhau thật thuần khiết để mãi nhớ trong đời.

Love (2)Autumnal Dew

2) Tôi và Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Do đây là từ của văn hóa Âu Mỹ, nhưng vì tôi đã trải qua, cũng xin kể lại vào năm học lớp 4 tiểu học (lúc ấy gọi là “lớp nhì”) tôi có thương cô bé Lê Thị Cẩm Hà học lớp 3. Cẩm Hà ở gần nhà tôi nên khi chúng tôi đi bộ đến trường Phan Đình Phùng (nay vẫn là trường Phan Đình Phùng ở Quận 3), tôi cứ mãi ngắm nhìn cô bé trắng mũm mĩm có đôi môi hồng dễ thương ấy. Gọi là “Love” vì khi đi học về là tôi nằm ôm chiếc gối ôm, nghĩ đến chuyện ngày sau sẽ cưới Cẩm Hà làm vợ. Khi biết chuyện tôi thương nàng (qua cái nhìn say đắm say mê của tôi), “bé” Cẩm Hà cứ gặp tôi trên đường là bẽn lẽn, gò má thêm ửng hồng, nụ cười thêm e ấp, còn những ngày không đi học thì hay đứng nép bên cửa nhìn tôi đắm đuối tương tự. Rồi vài năm sau, gia đình Cẩm Hà dọn về Miền Tây nên “đôi trẻ” không còn dịp gặp nhau mỗi ngày trên đường đi học. Vài chục năm sau, có người hàng xóm thuật cho Má tôi nghe chuyện Cẩm Hà lấy chồng và sống rất cơ cực ở miền quê. Lúc ấy – và cho đến tận bây giờ – tôi vẫn còn nhớ đến ánh mắt long lanh, đôi môi hồng, nụ cười thật đẹp và gương mặt sang trọng nghiêm nghị của cô bé Cẩm Hà của ngày xa xưa ấy.

3) Tôi và Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Tôi có thể nói rằng giáo dục gia phong và tinh thần trách nhiệm đã cho tôi sự tự hào để bảo rằng tất cả những tình yêu đã đến với tôi đều là Platonic Love.

4) Tôi và Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Đinh Thị Mai Trâm có thể là tình yêu sét đánh (tiếng Pháp hay dùng là coup de foudre) bùng phát bùng nổ ngay từ cái nhìn đầu tiên của tôi. Là lớp trưởng lớp 9 ở trường Nguyễn Bá Tòng, mỗi khi chào cờ tại sân trường, tôi phải luôn đứng đầu hàng ngũ của lớp nam sinh của tôi. Và trong rừng nữ sinh áo dài trắng đứng đối diện, một hôm tôi chợt tình cờ nhìn thấy Mai Trâm cũng đứng đầu hàng ngũ lớp 9 nữ sinh của nàng ngay trước mặt tôi. Từ hôm đó, tôi mất ăn mất ngủ, luôn có hình ảnh Mai Trâm trong ý nghĩ, ước mơ, nhung nhớ. Nhưng tuy sét đánh làm tôi chấn động, tôi vẫn không nghĩ đến việc tỏ tình vì rất sợ các linh mục mà chúng tôi gọi là “hiệp sĩ áo đen” với cây roi mây đầy chất khủng bố bạo hành trẻ em. Rồi một hôm nọ, một bé gái ở học khu tiểu học đã chạy qua học khu nam sinh để trao tôi một phong thư màu xanh biển, vừa nói “của chị kia kêu em đưa cho anh” vừa chỉ tay về Mai Trâm đang nhìn tôi cười bẻn lẻn bên kia hàng rào kẽm gai điện tử MacNamara phân chia học khu nam sinh và học khu nữ sinh. Nàng nói rằng nàng rất mến thương tôi vì tôi là lớp trưởng gương mẫu toàn trường mà lớp của nàng cùng các lớp khác hạ quyết tâm sẽ tranh nhau làm quen cho bằng được, nhưng vì tôi nghiêm quá nên dù nàng không là lớp trưởng vẫn cố dàn xếp cho lớp trưởng mượn các tiểu thuyết của Quỳnh Dao để được nhường chỗ đứng đầu hàng mà tôi cũng cứ như linh hồn tượng đá chẳng chịu nhìn nàng trong nhiều tháng, nay nàng thấy tôi đã chịu nhìn nàng với bộ tịch ngất ngây như say rượu dáng đứng loạng choạng như đang động đất, hơi thở dập dồn, không cất tiếng hát quốc ca hào hùng dậy sấm như mọi lần khác, và không nghe cả lời của linh mục Phạm Minh Công đang xướng tên tôi xuất sắc, nên nàng yên tâm tôi có trái tim đang thổn thức để tự tin gởi thư tỏ tình cho tôi để dứt điểm ghi bàn toàn trường. Tôi hơi đoảng nên sau này mới biết hóa ra lớp tôi gọi nàng là hoa khôi và họ cũng cùng các lớp nam sinh khác quyết tâm tranh nhau làm quen với nàng cho bằng được với bao chàng công tử chạy xe Cady lạng qua lạng lại trên đường nàng đi bộ đến trường. Thảo nào vừa nhìn thấy nàng tôi đã bị sét quất trúng làm bốc khói khét lẹt, nên đến nay vẫn còn nhớ như in gương mặt tuyệt đẹp của nàng (và do vẫn đang còn giữ một bức ảnh học sinh của nàng), bàn tay thon mịn ấm áp của nàng mà tôi đã nâng niu hôn trong tối Giáng Sinh ở sân trường, và đôi môi của nàng vì nàng là người con gái đầu tiên tôi hôn trong đời mỗi khi hẹn hò tại vườn Tao Đàn ngồi trên thảm cỏ nói chuyện tương lai chồng vợ, cùng nhau đặt tên trước thật đẹp thật văn hoa cho các đứa con của ngày sau gồm 6 gái 6 trai dù chúng tôi chỉ mới học lớp 9. Nếu như tình yêu thời tiểu học của tôi với Cẩm Hà là Puppy Love thì tình yêu của tôi với Mai Trâm thời trung học cũng là Puppy Love vì chúng tôi còn ở tuổi thiếu niên của thời niên thiếu. Nàng thuộc gia đình công giáo người Bắc di cư, với Bố của nàng là bác sĩ quân y Hoa Kỳ, nhưng nàng yêu tôi là kẻ ngoại đạo, thậm chí khi tôi bịnh nàng lập tức đòi Bố kê toa mua thuốc và nhờ linh mục làm phép lên sợi dây chuyền thánh giá đem đến cho tôi. Đến khi lên lớp 11 tôi phải thôi học trường Nguyễn Bá Tòng ở Gia Định do nhà trường không mở được lớp Ban C (thiên hạ sợ chuyên khoa ngoại ngữ và triết học) để chuyển qua Tân Việt ở Quận 3, nàng vẫn mỗi trưa chạy xe Honda PC từ đường Chi Lăng đến chờ đợi tôi ngoài cổng vì sợ tôi có bạn gái mới ở Tân Việt, vậy mà tôi vẫn lâm vào tình huống của Phim truyện Hàn Quốc khi tin lời một cô bạn học chung lớp với Mai Trâm tự nhiên một hôm đến tìm tôi tỉ tê với tôi những chuyện tệ hại của Mai Trâm sau khi tôi chuyển trường – chỉ vì cô bạn tên Tuyết này là dân công giáo nên tôi tin không thể nói điêu ngoa – nên đã giận dữ cắt đứt quan hệ với Mai Trâm, cố tình chấp nhận ngay tình cảm của một nữ sinh khác ở Tân Việt tên B.K.H. Rồi tôi “dạy học” tại Tân Việt khi giải phóng đến lúc tôi đã học xong lớp 12 tú tài (do giáo viên tan rã bỏ đi mất khiến cán bộ giải phóng là Anh Ba Châu tiếp quản Quận 3 nhờ tôi giúp dạy Anh Văn cho mấy lớp đàn em để giữ trường, giữ lớp, giữ học sinh cho cách mạng), sau đó đậu vào đại học năm 1976. Có lần đang nắm tay N.T.K.K. nữ sinh Đại Học Văn Khoa tuyệt đẹp với mái tóc dài đến dưới thắt lưng học cùng lớp Anh Văn với tôi đi bộ trên đường Lê Duẩn, tôi thấy một cô gái chạy xe lên ngoáy đầu lại nhìn, thậm chí còn quay xe lại để nhìn tôi thêm một lần nữa. Đó là Mai Trâm và cũng là lần cuối tôi gặp nàng. Giá như không đang nắm tay đi cùng N.T.K.K., tôi đã chạy theo xe Mai Trâm để xin nàng tha lỗi, cho tôi được cùng nàng hoàn tất bức tranh gia đình đã phác thảo từ lớp 9. Đinh Thị Mai Trâm là người con gái tôi mãi yêu và ánh mắt u buồn của nàng trong bức ảnh tôi còn cất giữ cứ làm tôi lo lắng, mong sao cuộc đời của nàng an bình, an vui, an nhàn, không lận đận khổ đau như Lê Thị Cẩm Hà. Và giá như nàng biết tôi nhớ thương nàng biết bao.

Love (1)

5) Tôi và Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Mỵ là nữ sinh đã khóc khi thấy tôi vì cứu người mà bị công an do tin lời vu cáo mà quất một báng súng vào gáy làm tôi té đập mặt xuống đất quần áo lấm lem bị giải đi giơ hai tay lên trời vào giam ở Phòng Giáo Viên, câu truyện mà tôi đã kể trong một bài blog gần đây. Xin chỉ tạm gọi nàng là Mỵ (vì trong bài thơ tiếng Việt Hiên Mi tặng nàng tôi có ví von đôi hàng mi của nàng cong dài mà tôi áp đầu vào ngực nàng để núp dưới hàng mi ấy chở che như mái hiên, và để mộng mỵ về hạnh phúc gia đình), thay vì ghi ra tên của nàng. Mỵ hôm ấy mặc áo dài trắng, đứng khóc suốt ngoài cửa sổ phòng “tạm giam”, làm tôi xúc động, sau đó làm một bài thơ tiếng Anh tặng nàng, và thậm chí viết tặng nàng cả một thi tập sau đó. Chúng tôi yêu nhau, và gia đình hai bên đều đánh giá cao chàng rể tương lai cùng cô dâu tương lai. Thế rồi toàn bộ đại gia đình của nàng được bảo lãnh xuất ngoại nhờ có một người chị ở nước ngoài làm vợ một quan chức ngoại giao Phương Tây khiến thủ tục giấy tờ can thiệp với Chính phủ Việt Nam được ưu tiên giải quyết nhanh cấp kỳ. Vì tôi không chịu nghe theo lời gia đình nàng làm hôn thú để nàng sẽ bảo lãnh tôi “qua bển” nên chúng tôi phải chia tay, và nơi Sân bay Tân Sơn Nhất đông nghẹt người tôi và nàng hôn nhau quấn quýt không rời, nước mắt ràn rụa, mặc cho cha nàng và các anh chị thúc giục nàng vào phòng cách ly. Nhiều lần tôi nhận được giấy báo của bưu điện và tôi ra đúng theo lịch hẹn, để chờ đến phiên kết nối được đường truyền để vào ô nói chuyện điện thoại với Mỵ do Mỵ đăng ký từ nước ấy. Để rồi khi tôi trở ra quầy để ký xác nhận thời gian điện đàm bao nhiêu chục phút để bưu điện thành phố tính tiền “bên bển”, cô thu ngân hỏi “anh có sao không vì em thấy anh với chị chỉ khóc mà không nói gì cả”, lúc ấy tôi mới biết là ở trong ô kính kín đáo ấy mình nói gì bưu điện cũng nghe hết! Cô gái tên Mỵ ấy đã làm việc rất tốt ở hải ngoại, ắt do đã có thời gian làm học trò của tôi vì Mỵ thuộc Khoa Nga Văn, nên khi đã yêu nhau, mỗi tối khi đã dạy xong ở các trung tâm lúc 21 giờ, tôi đến dạy kèm Mỵ tiếng Anh và dạy xong đến 23 giờ là chúng tôi ngồi hôn nhau suốt cả nửa tiếng đồng hồ, không nói lời nào vì đã nói quá nhiều tiếng Anh trong hai tiếng đồng hồ, tôi mới đạp xe về chong đèn soạn bài cho cả ngày mai dạy tiếp, khiến đấy là điều tôi nhớ nhất về Mỵ yêu quý và trong trắng ngây thơ của tôi trong cuộc tình ngang trái.

Love

Hien Mi

Trước đây trên blog Emotino tôi có đăng bài “Chuyện Tình Tự Kể” viết về lúc tôi học lớp 12 ở Tân Việt trước 1975 có thương một nữ sinh tên N.T.H. Ngày nọ, cùng đạp xe song song với nàng đến thăm nhà nàng ở con đường sau này gọi là Cách Mạng Tháng 8, tôi thấy có treo hình đen trắng thật to anh của nàng là một sĩ quan cao cấp (vì có cầm gậy chỉ huy) chụp chung với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời tôi thấy một phụ nữ gầy gò mặc áo nâu sồng ẩn sau rèm cửa đứng nhìn tôi. Nàng cho biết đó là Mẹ của nàng. Mẹ xuống tóc đi tu sau khi đi thăm Cha của nàng ở tiền đồn về, do kinh hoàng thấy Cha của nàng hễ hành quân bắt được Việt Cộng nào là lôi về cho mổ bụng rồi đem vất ruột gan lên nóc trại khiến cả trại bốc mùi hôi thối nồng nặc. Mẹ nàng sợ “con gái hưởng đức cha” mà cha ở ác quá nên bà đi tu để nguyện xin bớt tội cho chồng và cầu xin chút đức cho đứa con gái út ngoan hiền xinh như thiên thần của bà. Nghe xong, tôi vì kinh sợ đã từ bỏ ý định tiến xa hơn với người con gái ấy. Ắt nàng không hiểu vì sao sự không gian dối của nàng lại khiến nàng phải gánh chịu thiệt thòi từ tôi như vậy. Tôi thì không xem đó là cuộc tình ngang trái vì tôi định hôm ấy đến nhà nàng sẽ nói nàng biết tôi yêu thương nàng đến dường nào sau một thời gian im lặng dành cho nàng những chăm sóc ân cần; mà do đã chưa thốt ra, chưa thể gọi đó là tình yêu để mà ngang trái. Tôi đã viết lời kết rằng tôi không mong nàng đọc được bài viết ấy của tôi vì tôi cứ bị ám ảnh bởi niềm tin rằng nàng ắt đã theo mẹ bình lặng quy y nơi cửa Phật vì tội ác của người cha.

 IM000125.JPG

Trên đây là những “tình yêu” chính mà tôi chọn lựa cho tương hợp với các tên gọi các loại “love” chủ yếu của tiếng Anh. Tất cả những nhân vật trên đều được vợ tôi hoặc đã nghe kể về hoặc chính vợ tôi làm nhân chứng do đã học chung với tôi ở đại học và dạy chung với tôi sau khi tốt nghiệp, thậm chí có khi còn chọc ghẹo tôi mỗi khi có những cô gái ấy chờ đợi tôi ở cổng trường hoặc khi thấy tôi đạp xe song song với “người ta” được “người ta” nhí nhảnh chồm qua đút ăn ô mai ngoài đường ngoài sá. Song, khi nói về vợ tôi, tôi muốn nêu sự khác biệt giữa “love” và “tình yêu” vì “love” thuần túy mô tả thực tế thực dụng, trong khi “tình yêu” nhiều khi đượm tính nghĩa tình nghĩa ơn sâu đậm, do đó “tình yêu” của tôi dành cho vợ tôi khó được diễn tả tương hợp với bất kỳ loại “love” nào đã kể ở trên theo tinh thần ngôn ngữ Anh và thực tế đời sống Anh Mỹ. Vợ tôi đã chứng kiến những năm dài “đoan chính” của tôi tại Đại Học Văn Khoa, từng là “cánh chim đưa thư” của tôi gởi tặng những bài thơ tiếng Anh cho bạn học chung lớp của nàng và những bạn học của nàng tại các khoa khác, sau đó thậm chí chứng kiến những cuộc tình của tôi với các nữ sinh của lớp tôi chủ nhiệm, của lớp nàng chủ nhiệm và của lớp thuộc giáo viên chủ nhiệm khác. Đó là khía cạnh “luôn luôn thấu hiểu” nơi nàng. Còn khi nàng đơn độc “hoa lạc giữa rừng gươm” đấu tranh chống lại cường quyền để bảo vệ tôi khi tôi bị xử bức, bị đình chỉ công tác phải đi quét rác tại Khoa Ngoại Ngữ, bị bôi nhọ, bị vu khống, để rồi chính nàng bị vạ lây, bị tước hết các danh hiệu “thi đua” hay “dạy giỏi”, bị tước bỏ khỏi danh sách cùng tôi du học thạc sĩ Anh văn ở Úc, nhưng vẫn điềm nhiên cười khẩy rồi mỗi khi trên đường dạy thêm vì kế sinh nhai vẫn đến thăm tôi, động viên với câu nói giản đơn giản dị mang chiều hướng tâm linh rằng “ở hiền như anh sẽ gặp lành”, rằng “Trời Phật biết hết về anh mà, lo gì”, rằng “em cũng bị xử bức như anh, có sao đâu”, rằng vân vân và vân vân. Và khi nàng và tôi nên nghĩa vợ chồng với sự thương phục ủng hộ giúp đỡ thật cao nơi cha và mẹ của nàng (trừ câu nói nhẹ nhàng của mẹ nàng rằng mẹ rất lo lắng vì “nó cứng đầu không chịu luồn cúi ai thì khó ngóc đầu lên lắm con ơi”) thì tôi vẫn chưa thấy tiếng Anh có loại “love” nào thích hợp mang cả nội hàm bao trọn ý của nghĩa tình, nghĩa ơn của tôi đối với nghĩa cử nghĩa vụ nghĩa khí cùng sự hiểu biết, hiểu thấu, phục nết phục tài và sẵn sàng…phục vụ của nàng. Khi nào sáng tạo ra từ ngữ “love” thích hợp, tôi sẽ phổ biến tiếp trên blog này.

Tôi tin rằng các bạn sinh viên từ nay có thể gọi tên những cuộc tình của mình thật đúng khi viết hồi ký những ngày xưa năm cũ đầy ắp những yêu thương nồng cháy của đời mình.

Thương chúc các bạn có những tình yêu thật đẹp, thật bền vững, hữu thủy hữu chung đúng nghĩa keo sơn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo;

Hoàng Hữu Phước. 09-12-2015. Đám Cưới

Hoàng Hữu Phước. 18-12-2015. Tôi Dạy Vợ

Hoàng Hữu Phước. 09-10-2014. Bài Thơ Về Đinh Thị Mai Trâm: Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/09/tho-cung-ban-huu-tren-khong-gian-mang/

Viết Phức Tạp

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-01-2016

Có người cho rằng tôi viết các bài tiếng Việt câu cú phức tạp, đọc khó hiểu. Thật ra người ấy không sai vì ngay cả chính những thạc sĩ/tiến sĩ dạy tiếng Anh chuyên khoa ở đại học cũng không biết thế nào là một câu đơn giản (simple sentence) thật sự trong tiếng Anh mà chỉ bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt nên câu đơn giản tức là đơn giảncâu phức tạp tức là phức tạp. Nếu người ấy giỏi tiếng Anh hoặc đã là học trò của học trò tôi thì người ấy đã thay vì nói các bài viết tiếng Việt của tôi phức tạp sẽ bảo rằng chúng được viết đơn giản một cách cực kỳ văn vẻ cầu kỳ.

Tôi là giảng viên Anh Văn đại học duy nhất ở Việt Nam dạy rõ ràng rằng trong tiếng Anh, câu đơn giản là câu không có quan hệ chính-phụ, còn câu phức tạp thì có quan hệ ấy; cũng như câu đơn giản không bao giờ được mặc định là câu ngắn gọn ngắn ngủn, còn câu phức tạp không bao giờ được mặc định là câu dài lượt thượt lê thê. Để chứng minh cái đáng sợ đầy bẫy rập của câu đơn giản nhằm giúp sinh viên nhận chân giá trị của câu đơn giản nơi các đại văn hào, tôi viết kiểu impromptu ứng khẩu lên bảng các thí dụ đại khái như sau (“đại khái” vì ở mỗi lớp khác nhau tôi “ứng khẩu” các thí dụ hoàn toàn khác nhau mà tôi chỉ còn nhớ “đại khái”):

Câu phức tạp: I went there where I met her. (Tôi đến đấy, nơi tôi gặp nàng). Câu này thuộc loại câu phức tạp, có 7 từ trong 1 mệnh đề chính main clause và 1 mệnh đề phụ adverbial subordinate clause, mỗi mệnh đề có 1 chủ từ và 1 động từ chia finite verb.

Câu đơn giản: Wearily trudging on the winding narrow dusty path leading to an old ramshackle pagoda built halfway on the slant slope of the barren hill, the rickety old man smilingly thought of his heyday embellished with laughter from his beloved folks and close acquaintances gathering around him at times to enjoy whatsoever blessings bestowed so generously by the Almighty God to all. (Mệt nhọc lê bước trên con đường đất đầy bụi bặm nhỏ hẹp ngoằn nghoèo dẫn lên một ngôi cùa cổ xiêu vẹo được xây ở lưng chừng đồi trọc thoai thoải, ông lão khập khiễng nghĩ suy về thủa vàng son xưa cũ của đời mình đầy ắp những tiếng cười của những người thân thương và bạn hữu quây quần quanh ông để vui hưởng những điều tốt đẹp mà Trời đã ban tặng mọi người). Câu này thuộc loại câu đơn giản với 61 từ, không có mệnh đề chính, không có mệnh đề phụ, chỉ có 1 chủ từ duy nhất là man và chỉ có một động từ chia duy nhất là thought.

Như vậy, thí dụ trên cho thấy không bất kỳ giảng viên Anh Văn nào (dù là người Việt Nam hay người nước ngoài) ở tất cả các trường đại học ở Việt Nam (của Việt Nam hay của nước ngoài) có thể cho được những thí dụ đầy sức thuyết phục như trên để giảng dạy và do đó không thể đào tạo được những sinh viên thực sự giỏi tiếng Anh, có khả năng đọc hiểu các văn bản cực kỳ phức tạp của luật pháp hay văn học bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cũng như có khả năng thưởng thức từ bài văn câu cú lúc ngắn lúc dài của tác giả cận đại vĩ đại Ernest Hemingway đến truyện ngắn câu cú cực kỳ cầu kỳ của tác giả truyện kinh dị lừng danh Edgar Poe.

Mỗi khi đến mùa Giáng Sinh, rất nhiều người gởi nhau những cánh thiệp thật đẹp, thật đa dạng, mừng đón Noel, đa số bằng tiếng Anh, bất kể người gởi và người nhận có sử dụng tiếng Anh trong đời sống thường nhật hay không, và có tôn thờ Đức Chúa hay không, đơn giản vì đó là ngày lễ của công chúng chứ không của riêng tôn giáo. Ngày lễ ấy tuyệt diệu vì vào thời điểm tại hầu hết các nơi trên thế giới tiết trời đẹp hơn và Năm Mới đã rất cận kề, khiến ngày Noel thành ngày vui chào đón Tân Niên.

Khi thời đại internet đến, sự tất bật của sinh nhai đã được giải cứu khi người ta thay vì lang thang từng góc phố con đường tìm chọn mua thiệp rồi len lỏi luồn lách giữa giao thông chen chúc để tìm đến một bưu cục tốn tiền gởi xe vào mua tem dán gửi đi, đó là chưa kể phải canh thời gian nhiều ngày trước đó với mong muốn thiệp mừng đến được tay người nhận ở đâu đó trên thế giới bao la hoang dã này kịp lúc, nay lại đơn giản ngồi vào bàn gởi email những giòng chữ do mình sáng tác, những thiệp điện tử do mình sưu tầm, hoặc những thông điệp ai đó đã chuyển đến mình và mình đơn giản chuyển tiếp đi cho hàng trăm người bạn dân cư mạng toàn cầu khác.

Văn ôn võ luyện là việc cực kỳ bình thường của những con người nhận thức đầy đủ được thế mạnh vô song và giá trị vượt bậc của văn và võ trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Với quyết tâm phải là người giỏi tiếng Anh nhất – chứ không phải là người kiếm nhiều tiền nhất – tôi đã luôn sửa sai và hoàn thiện tất cả văn thơ của bất kỳ bậc kỳ tài nào của văn học Anh Mỹ, cũng như tất cả những “thiệp điện tử” eCard mà học trò và bạn hữu bốn phương gởi tặng trong những dịp lễ Noel tương tự. Bạn hữu và học trò tôi ở nước ngoài đã hình thành một thói quen tốt là ngoài việc chuyển đến tôi những “sứ điệp chống Cộng” (để qua các bút chiến phân tích phản biện của tôi họ hiểu biết thêm về thực tế Việt Nam thay vì đọc các bài trên trang web của các cơ quan truyền thông cộng sản mà họ không tin tưởng), còn gởi tôi những thiệp mừng lễ mà họ cho là tuyệt hảo để xem tôi có biến cái tuyệt hảo đó của dân Anh Mỹ thành đồ chơi trẻ nít hay không, mà sau đây là ví dụ.

Từ một Cây Thông Noel một tầng trong chậu bằng tiếng Anh do Cô Lê Tâm Hạnh ở ngân hàng Deustche Bank nhận được từ internet gởi tôi mùa Giáng Sinh 2000 có nội dung nguyên văn như sau mà tôi đã phân tích các yêu điểm ở phần ghi chú: PineTreeXmas1

tôi đã sáng tác ngay một cây thông khác với bốn tằng trên mặt đất bằng tiếng Anh có nội dung và ghi chú đặc điểm như sau: Xmas2Pine Tree (1)

Như vậy, nhảy múa theo điệu nhạc rất tốt trên bình diện luyện tập thể dục kèm hưởng thụ nghệ thuật âm nhạc, còn nhảy múa với ngôn từ rất tốt trên bình diện luyện tập trí nhớ kèm hưởng thụ văn học văn vẻ văn chương, nghĩa là tất cả đều vì lợi ích của bản thân và của người khác vì việc nhảy múa theo âm nhạc góp phần sinh động vào tập thể đang nhảy múa kể cả tập thể ngồi nghe nhạc ngắm nhìn sự nhảy múa của nam thanh nữ tú dập dìu, trong khi việc nhảy múa với ngôn từ góp phần sinh động vào tập thể các nhà viết lách kể cả tập thể ngồi đọc blog và thưởng thức sự nhảy múa ấy của ngôn từ.

Tương tự những kiến trúc có thật trong đời, từ cung điện đến căn hộ liền kề hay song lập, từ khu phố đến khu đô thị mới, sự cầu kỳ hoặc giản đơn đều có những cái hay của nó tùy vào sự thăng hoa của các nhà sáng tạo, và đương nhiên môi trường sống sẽ khó thể gọi là bình thường nếu mọi nơi đều chỉ có những kiến trúc đơn giản đơn điệu đơn sơ; cách hành văn cũng mang cái đẹp đến với văn chương chữ nghĩa vì không bao giờ có cái mặc định rằng phải chỉ được viết đon giản. Tùy túi tiền của mỗi người mà việc đầu tư lựa chọn một kiến trúc căn nhà được tiến hành. Tùy mức độ tư duy cảm thụ của mỗi người mà việc quan tâm lựa chọn kiểu hành văn thích hợp được thực hiện.

Song vẫn có một điều duy nhất đúng, tuyệt đối đúng là chỉ những ai viết – và nói – tiếng Anh đơn giản một cách cầu kỳ chặt chẽ về cú pháp mới có thể được gọi là người thực sự giỏi tiếng Anh được người Anh nể trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-01-2016

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày giải phóng 30-4-1975, thế mà thiên hạ vẫn cứ nói về trình độ yếu kém tiếng Anh của lực lượng lao động Việt Nam dù đã bao phen cải cách giáo dục. Như tôi đã khẳng định với sinh viên của tôi cách nay hơn 30 năm rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do không biết đâu là ưu thế sẵn có của người Việt nên sẽ mãi mãi không thể nào có chuyện người Việt Nam sẽ giỏi tiếng Anh, và rằng các sinh viên của tôi muốn giỏi tiếng Anh – kể cả muốn giỏi tiếng Anh hơn tôi – hãy áp dụng phương pháp của tôi. Bảy chứng bịnh trầm kha ở Việt Nam rất rõ nét như sau:

1) Rập khuôn bài bản nước ngoài chú trọng đến khâu nói, trong khi không hiểu gì về các cái khuôn ấy, nên dù có thay đổi tăng cường xoành xoạch, lớp có trang bị wifi, máy vi tính, overhead projector, micro, phục vụ việc dạy và học tiếng Anh thì chẳng học sinh nào “giỏi” được tiếng Anh.

2) Sử dụng sai người theo cách từ chương: giao một người phụ trách ban khảo thí tiếng Anh ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ vì đó là một nữ tiến sĩ dạy đại học để rồi đề thi Tú Tài môn tiếng Anh mà các câu hỏi lại phải ghi bằng tiếng Việt ở các tiêu đề (thí dụ: “hãy điền vào chỗ trống một trong các từ cho sẵn ở a, b, c, và d”; hoặc “hãy dịch đoạn sau đây ra tiếng Anh”) còn Báo Tuổi Trẻ thịnh trọng đăng bài của nữ tiến sĩ ấy dạy cách học giỏi tiếng Anh bằng cách hãy vào trang web nọ để kiểm tra từ vựng.

3) Dạy tiếng Anh mà khư khư tự ái dân tộc nên sách tiếng Anh phải do người Việt của cách mạng soạn nên giáo trình thuộc cấp thấp, không như thời Việt Nam Cộng Hòa sử dụng bộ English for Today của Nhà xuất bản McGraw Hills của Hoa Kỳ rất đạt yêu cầu dạy và học.

4) Dạy tiếng Anh ở trung học mà cứ khư khư phải nhét cho bằng được tinh hoa Việt Nam nên nay thì soạn sách giáo khoa tiếng Anh có mời một người nước ngoài tham gia biên soạn chung với bốn người Việt Nam, in ấn màu sắc công phu, nhưng khi học trò tôi đưa tôi xem qua sách tiếng Anh cải cách ấy mà các em đang phải dạy thì tôi nói ngay với các em là sách chỉ đáng ở trong sọt rác do có bài “Phở”. Tôi bảo các em rằng đó là sự ngu xuẩn của người soạn vì (a) “phở” không là cái thá gì của tiếng Anh để viết về nó, và (b) thầy giáo cô giáo bị đặt vào vị thế nguy hiểm khi dạy do sẽ lúng túng cà lăm nếu học sinh cắc cớ yêu cầu thầy cô nói và viết bài luận mẫu về bánh xèo, bánh cóng, bánh cuốn, bánh canh cua, bún bò Huế, bò nướng lá lốt, v.v.

5) Phí tiền của để tạo các chương trình “dạy tiếng Anh” trên tivi VTV Hà Nội do một thạc sĩ (MA) tên Hùng học ở Anh Quốc về phụ trách, nhưng ông Hùng MA này luôn luôn ngồi thừ ra trước máy thu hình, giọng nói buồn ngủ, tiến hành dạy ca mấy bài hát tiếng Anh cho bốn nữ sinh mà bốn cô bé này cũng ngồi thừ như mông bị ngấm keo vạn năng hiệu Con Voi dính khắng vào mặt ghế – nghĩa là không thấy cái sinh động hoạt bát hoạt náo của cả “thầy” và “trò”.

6) Toàn bộ các chức sắc phụ trách môn học tiếng Anh trung học ở Việt Nam đều sai bét do không hiểu được tầm quan trọng của viết tiếng Anh và văn phạm tiếng Anh trong tương hỗ tương tác với nói tiếng Anh.

7) Các trường đại học ở Việt Nam đã dùng sai người trong đội ngũ giảng huấn tiếng Anh, khiến sinh viên tốt nghiệp ngay cả của chuyên khoa tiếng Anh cũng không thể đạt yêu cầu về Tiếng Anh. Một nhân viên của tôi ở CIMMCO International thuộc lớp đàn em của tôi ở Khoa Anh Văn Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh sang định cư ở Mỹ, lấy bằng thạc sĩ toán học, dạy học ở nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ (chủ yếu ở Texas và California), sang dạy cả ở Canada, sau 20 năm ở hải ngoại nay mới hồi hương trở về định cư ở Việt Nam, có về thăm trường xưa (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn), và đã nổi giận đùng đùng xin gặp lãnh đạo trường để chất vấn vì sao toàn bộ lãnh đạo Khoa Anh lại là thạc sĩ / tiến sĩ ngành “giảng dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai” ở Philippines vì như thế thì số người này cách chi có trình độ để dạy văn chương Anh, văn chương Mỹ, v.v., là các môn cao cấp của ngôn ngữ Anh. Tất nhiên, không lãnh đạo nào ưa thích các câu hỏi đó do không có câu trả lời, và em Việt Kiều Mỹ này đến thăm tôi để nói lên bức xúc của em, tức giận của em trước sự xuống cấp của trình độ dạy và học ở đại học từng lừng danh ấy mà em tự hào là lớp đàn em xứng đáng của tôi, đồng thời trách tôi sao làm nghị sĩ mà thờ ơ để cho cớ sự đó xảy ra cho tiền đồ tiếng Anh của Việt Nam. Thấy em có cái trực tính của nhà chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phải giải thích với em rõ (a) tôi đâu có quyền hạn gì đối với ngành giáo dục, (b) tôi ngoài Đảng nên có đóng góp ý kiến cũng chẳng quan chức nào của ngành quan tâm, và (c) chẳng đại học nào dại dột mời tôi đến giúp do các giáo sư Anh Văn ở đấy không muốn vừa bị tôi vạch mặt chỉ tên là dạy sai dạy dỏm dạy tầm bậy tầm bạ vừa bị tôi thu hút hết sinh viên của họ, thậm chí cái trường Cao Đẳng Sư Phạm nay là Đại Học Sài Gòn cũng bỏ luôn vài môn sau khi làm tôi phải thôi việc do không ai dạy nổi nên sinh viên đâu được học các phân môn đặc thù ấy để có đẳng cấp tiếng Anh như kỳ vọng của các nhà tuyển dụng và của xã hội.

Tôi từng định viết trên Emotino một loạt 7 bài theo yêu cầu của một số giáo viên Anh Văn ở Hà Nội (ưa thích các bài viết tiếng Anh của tôi trên Aspiration và Emotino) và Thành phố Hồ Chí Minh (học trò cũ của tôi), gồm các tựa đề soạn sẵn như:

– Bài 1: Chuẩn bị hành quân: Ngoảnh nhìn chân lý, Vất bỏ hoang đường

– Bài 2: Chuẩn bị hành quân: She Don’t và You Is

– Bài 3: Vào trận: Quy trình duy nhất đúng để học giỏi một ngoại ngữ

– Bài 4: Vào trận: Tiếng Anh Formal

– Bài 5: Vào trận: Nói giỏi tiếng Anh

– Bài 6: Cắm cờ chiến dịch: Sa trường

– Bài 7: Bí kíp trận mạc

Tuy nhiên, sau khi đăng được hai bài thì xảy ra sự việc bọn đạo tặc chui vào Emotino xóa bài của tôi vì tôi chưởi mắng Đài BBC, đồng thời bày đặt viết liung tung bằng tiếng Việt chê bai trình độ tiếng Anh của tôi sau khi đã gởi hàng trăm tin nhắn đe dọa ném lựu đạn vào văn phòng tôi, khiến tôi nổi giận không viết thêm, đồng thời từ bỏ Emotino, tự lập ra blog mới. Nay xin đăng lại hai bài ấy để qua đó các bạn có thể sơ lược nắm được hành trạng tư duy của tôi đối với việc làm thế nào học tiếng Anh thực sự giỏi ở Việt Nam.

Để Học Giỏi Tiếng Anh

Bài 1

Chuẩn Bị Hành Quân: Ngoảnh Nhìn Chân Lý, Vất Bỏ Hoang Đường

Hoàng Hữu Phước, MIB

KHÚC DẠO ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu của rất nhiều người (học trò, đồng nghiệp, phụ huynh, nhân viên, và bạn hữu) trong vài chục năm qua – ngay cả trước khi có internet và Emotino – về cách học giỏi tiếng Anh, sau thời gian suy nghĩ đắn đo vì rằng nếu viết “thật” thì hóa ra tôi ở vị trí cao để bài xích, phản bác tất cả mọi điều đã và đang áp dụng ở Việt Nam do những chức sắc cao nhất về Tiếng Anh đề xuất và thực hiện; mà nếu làm lơ, viện cớ bận rộn để tránh né việc viết lách về chủ đề này thì chỉ sợ tuy được một hay hai bậc thầy trong thiên hạ tắc lưỡi cảm thông ngậm ngùi đồng cảm thương cho thân phận thất thời thất thế của mình không đất dụng võ phục vụ sự nghiệp giáo dục nước nhà, nhưng lại bị đa số sẽ cho rằng mình dấu nghề y như cung cách tổ tiên bọn Tàu luôn dấu bớt tuyệt chiêu vì sợ học trò làm đảo chính chiếm môn phái hay dành mối khách hàng khiến võ nghệ bọn Tàu dần bị triệt tiêu (bị phương Tây đánh chiếm dễ dàng chỉ với một cái phất tay, chỉ còn một tên dở hơi là Lý Tiểu Long chạy tóe khói sang Mỹ trốn) còn Đông Y bọn Tàu thì bây giờ toàn thuốc gây bá bịnh, tôi quyết định giữ lời hứa với loạt bài này để chứng minh mình là người Việt, có nghĩa là đương nhiên còn đủ tuyệt chiêu. Tất cả là sự thật, không gì khác hơn ngoài sự thật.

Đây là bài thứ nhất của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc cốt lõi là: Ngoảnh Nhìn Chân Lý & Vất Bỏ Hoang Đường, giống như tắm gội sạch sẽ tinh tươm trước một lễ nghi.

NGOẢNH NHÌN CHÂN LÝ & VẤT BỎ HOANG ĐƯỜNG

Đã là chân lý thì luôn đúng. Đã là ngoảnh nhìn thì ắt đã là quá khứ. Nhưng phải chăng chân lý đã không còn nên phải ngoảnh nhìn? Không phải vậy, ngoảnh nhìn vì đã ngộ nhận trong thời gian dài; ngoảnh nhìn để tôn vinh chân lý vì không thể tìm ra cái gì khác khi đã lao tới trước quá xa nên phải quay lại nơi xuất phát; và ngoảnh nhìn để thấy con đường lãng phí đã dẫn đến việc đến nay đã mấy chục năm sau giải phóng mà Việt Nam vẫn còn nói rằng học sinh Việt Nam không nói được Tiếng Anh. Đây là một tuyên bố hay nhận xét hoàn toàn sai, dựa trên các nhận xét phân tích sau về những hoang đường bấy lâu nay ấy và 8 Chân Lý đúc rút được:

1) Chỉ luôn mồm cho rằng học sinh Việt Nam không nói được tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, vậy phải chăng muốn ám chỉ rằng học sinh Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh; và phải chăng muốn nói rằng học sinh Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, sinh viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, nhân viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh?

Hoàn toàn sai vì học sinh Việt Nam cũng không viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh; và học sinh Việt Nam cũng không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, sinh viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, đa số nhân viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh. Nhưng hai thế kỷ nay ở Việt Nam mãi than thở về chuyện học trò Việt không nói được tiếng Anh rồi đổ lỗi cho cái gọi là “từ chương” dù “từ chương” chẳng dính dáng gì đến việc “nói tiếng Anh” cả, vì viết tiếng Anh còn không được nừa là. Cái căn cơ của chứng bịnh hoang tưởng này bắt nguồn từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi những kẻ mông muội phương Tây đề ra cái gọi là “Direct Method” tức cách học tiếng Anh trực tiếp mà tôi ngay lúc còn nhỏ đã nhún vai xem thường, và khi nhà xuất bản McGraw Hill phát hành phiên bản mới của bộ English for Today vào cuối thập kỷ 1960 theo hướng gia tăng phần “nói” thì tôi đã khẳng định ngay với bạn học là ngày tàn của bộ sách ấy đã đến (hiện tôi còn giữ nguyên bộ English for Today nguyên thủy, và đã vất bỏ sọt rác bộ English for Today phiên bản mới sau ngày 30/4/1975).

Chân lý 1: Chúng ta cần phải đồng ý với nội dung rằng học sinh Việt Nam học kém tiếng Anh nói chung chứ không chỉ là “không nói được tiếng Anh”, và rằng học sinh Việt Nam sở dĩ không nói được tiếng Anh vì học sinh Việt Nam…không viết được tiếng Anh, không giỏi dịch thuật Anh-Việt/Việt-Anh, không có sách giáo khoa “đúng”, chứ hoàn toàn không tại bị vì bỡi Việt Nam không xem trọng thực hành nói tiếng Anh!

2) Nói sai về “từ chương”

Trong một bài viết khác, tôi sẽ nói thật rõ về “từ chương”, về việc đổ lỗi sai cho “từ chương”, hiểu sai về “học thuộc lòng”, và đề xuất nhầm về việc đả phá “từ chương”.

Trước tiên, cần phải làm rõ một điều là không nhất thiết phải ra nước ngoài mới học tốt một ngoại ngữ. Trước 1975 ở Miền Nam có vô số người du học ở Mỹ, nhưng chỉ một ít thực sự tài giỏi về tiếng Anh để trở thành các giáo sư hay giảng sư Anh văn (trước 1975 ở Việt Nam Cộng Hòa: danh từ “giáo sư” được dùng cho người dạy trung học, “giáo viên” dùng cho người dạy tiểu học, và “giảng sư” dành cho người dạy đại học, chính vì vậy nên nhà giáo rất tự hào và lấy làm danh dự với danh xưng ấy, trước đây luôn cố gắng tự sống tốt, tự dạy tốt, tự gương mẫu, tự thành đạt, tự thành công, tự chịu trách nhiệm về cuộc sống sinh nhai của bản thân và gia đình, khiến nhiều học trò bị hấp dẫn dấn thân theo nghề giáo), và chỉ cần được học các vị giảng sư này tại các trường đại học Việt Nam (không có trường đại học 100% vốn nước ngoài, chẳng có hình thức “liên kết đào tạo” với nước ngoài), sinh viên Việt Nam đã có thể tham gia các cuộc thi hùng biện tiếng Anh, đoạt học bổng du học Mỹ/Anh ngay (không như hiện nay có tình trạng du học nhưng phải bỏ ra khối tiền cả năm rèn lại tiếng Anh nếu đạt mới được học ở nước ngoài hay được cho … thiếu nợ nếu “liên kết” học…song ngữ ở Việt Nam). Từ sau 1975 Việt Nam có vô số người du học Âu Mỹ, và nhiều người trong số “vô số” này hoặc giữ chức vụ cao về Anh Văn trong các trường đại học ở Việt Nam hoặc giảng dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam, nhưng họ cho ra lò toàn những “sản phẩm” đầy tì vết, luôn có vấn đề như được thể hiện qua các nhận xét của nhà tuyển dụng nước ngoài là ứng viên có bằng cấp cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Như vậy, chương trình học chắc chắn có bài tập, chắc chắn có thực tập, chắc chắn có thuyết trình (bằng chứng là hiện có sự sử dụng thường xuyên một cách đáng sợ công cụ PowerPoint© của sinh viên), được dạy bởi các thạc sĩ/tiến sĩ có bằng cấp của đại học nước ngoài, vậy thì có dính dáng gì đến “từ chương” đâu mà vẫn không đào tạo ra người “nói/viết được tiếng Anh” rồi đổ thừa cho “từ chương”?

Cái sai ở đây xuất phát từ trình độ người dạy, vì không phải cứ là tiến sĩ vật lý là tự động thành nhà bác học đào tạo được các nhà vật lý kiệt xuất, cứ là cử nhân thể dục thể thao là tự động thành nhà vô địch …đô lực sĩ quyền anh hạng nặng đào tạo được các tuyển thủ Việt Nam mà tất cả các câu lạc bộ Châu Âu phải đánh đấm nhau để giành chữ ký, và cứ là thạc sĩ/tiến sĩ Anh văn là tự động thành nhà giáo kiệt xuất có thể đào tạo những sinh viên giỏi tiếng Anh. Mặc định theo kiểu văn bằng như thế rồi trao trọng trách là đích thị “từ chương”, tất nhiên kết quả sẽ không bao giờ là như ý.

Chân lý 2:

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách học “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách dạy “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại cách bố trí/bổ nhiệm kiểu “từ chương” của Nhà nước và các cơ quan chức năng.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại các hành vi “từ chương” của các giáo viên đối với học sinh/sinh viên (cho thực tập, cho thảo luận, cho thuyết trình, nhưng cho điểm theo cách tiêu cực tùy vào trọng lượng quà cáp từ phụ huynh hay sự biết điều của sinh viên đối với các gợi ý bóng gió không khó hiểu chút nào của thầy/cô).

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại tấm mộc có khắc chữ “từ chương” để những kẻ vô lương tâm, vô trách nhiệm, và vô hạnh được chở che, đỡ đạn trước các công kích của công luận và báo chí về thực trạng chất lượng đào tạo ở Việt Nam, trong đó có đào tạo về tiếng Anh.

3) Nói sai về “thực học”

Ở Mỹ, học sinh tất nhiên học tiếng Anh với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Anh, thương yêu ngôn ngữ Anh, thưởng thức ngôn ngữ Anh, sử dụng ngôn ngữ Anh thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Pháp, học sinh tất nhiên học tiếng Pháp với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Pháp, thương yêu ngôn ngữ Pháp, thưởng thức ngôn ngữ Pháp, sử dụng ngôn ngữ Pháp thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Việt Nam, học sinh tất nhiên học tiếng Việt với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Việt, thương yêu ngôn ngữ Việt, thưởng thức ngôn ngữ Việt, sử dụng ngôn ngữ Việt thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ấy vậy mà khi nói về “học tiếng Anh”, những kẻ kém hiểu biết nhất ở Việt Nam lại lớn tiếng nhất trong hô hào cuộc “tổng nổi dậy” nhằm lật đổ các môn “văn phạm” và “luận văn” cứ như thể sẽ nói giỏi tiếng Anh ngay khi bỏ các môn “thực học” không-phải-nói này! Đây là việc hoàn toàn sai, như hậu quả nhãn tiền là dù họ đã nhiều chục năm qua tập trung cho “nói” thì học sinh/sinh viên Việt Nam vẫn không nói giỏi tiếng Anh. Nếu bị tiêm nhiễm ý nghĩ bậy bạ rằng văn phạm Anh văn giết chết khả năng nói tiếng Anh, thì học trò cứ tự nhiên đừng thèm học văn phạm tiếng Anh nữa, thầy/cô dạy văn phạm thì mặc thầy/cô, thầy/cô dạy viết thì mặc thầy/cô, rồi xem mình có nói giỏi tiếng Anh không.

Chân lý 3: Muốn giỏi “nói” tiếng Anh, học sinh/sinh viên phải học giỏi tất cả các nội dung nêu trên về tiếng Anh. Làm gì có chuyện học trò Mỹ học đủ thứ, còn học trò Việt Nam đi đường tắt, xem thường văn phạm, lại giỏi y như học trò Mỹ! Các giáo viên Việt Nam dạy tiếng Anh cần phải thấu hiểu điều cực kỳ căn bản này.

4) Nói sai về vai trò của “viết” trong tiếng Anh

Viết là thể hiện mức độ sâu sắc cao cấp thượng đẳng của tư duy con người. Từ khả năng viết, người ta có thể thu xếp để việc nói trở nên chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, gia cố biện luận, lèo lái phản biện, phù hợp hoàn cảnh bình dân hay cung đình, thích hợp nội dung chuyện phiếm hay đề tài nghiêm túc, v.v.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực học” còn ở chỗ mặc cho có các nội dung thuyết trình nhóm, thực tập thực tế, v.v, thì điểm số quan trọng của các chương trình thạc sĩ vẫn đến từ các bài viết nghiên cứu nhóm, bài viết nghiên cứu cá nhân, và bài thi viết.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực hành” còn ở chỗ chỉ những đơn xin việc được viết chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, phù hợp hoàn cảnh, thích hợp nội dung, v.v. mới được nhà tuyển dụng quan tâm, mời đến phỏng vấn mà tại buổi phỏng vấn đó ứng viên “nói giỏi” mới có cơ hội “nói giỏi”, nghĩa là “viết giỏi” quyết định số phận của “nói giỏi”; song, nhất thiết cần lưu ý rằng ứng viên có đơn xin việc “viết giỏi” nhưng không “nói giỏi” vẫn có cơ may trúng tuyển đối với các vị trí cao vì “viết giỏi” là điểm ưu việt cần có nơi các chức sắc cấp cao, những người luôn phải đối mặt với các yêu cầu hoạch định chiến lược, sách lược, kế hoạch, chỉ thị, và các báo cáo mật, nhạy cảm chỉ được soạn bởi và lưu hành trong nội bộ ban lãnh đạo.

Kinh nghiệm thực tế của người viết bài này đã luôn ở vị trí lãnh đạo ở các công ty nước ngoài nhờ biết xem trọng việc ưu tiên trau giồi viết tiếng Anh sao cho thật giỏi ngay từ nhỏ, cũng như việc viết giỏi ấy đã tác động thành công đến ban lãnh đạo ở nước ngoài trong việc nhiều lần “cứu nguy” nhân viên Việt Nam hoặc đã gây sức mạnh thuyết phục công ty mẹ sa thải gần chục lãnh đạo cấp cao – kể cà Tổng Giám Đốc và 3 Phó Tổng Giám Đốc tiêu cực – tất cả đều là người nước ngoài ở chi nhánh Việt Nam.

Chân lý 4: Viết tiếng Anh chính là một thể hiện trước, hoặc một chuẩn bị thích hợp cho nói tiếng Anh, chứ không là phần độc lập, đối chọi với nói tiếng Anh. Viết tiếng Anh giúp hoàn thiện nói tiếng Anh. Trong cả học tập cấp cao ở nước ngoài – dù đó là về ngôn ngữ Anh hay khoa học kỹ thuật hoặc kinh tế tài chính – thì viết tiếng Anh giỏi quyết định số phận của văn bằng. Người có hiểu biết, có thực sự học “cao”, luôn nhận thức được tầm quan trọng của viết giỏi tiếng Anh, cũng như hiểu rằng rất khó đạt đến trình độ viết giỏi chứ còn nói giỏi đâu phải là kỳ công.

5) Nói sai về… “nói” trong tiếng Anh

Nhiều người cho rằng “nói” là “nói” mà không chịu hiểu rằng “nói” phải gắn chặt vào nghĩa “nói cái gì, với ai, tại đâu, và với mục đích gì”.

Nếu nói để … “thoát hiểm” thì phi công Mỹ có tờ giấy ghi vài câu để khi bị bắn hạ trên vùng trời Miền Bắc Việt Nam sẽ dùng để nói với người dân Việt Nam như: “xin cho tôi ăn, xin giúp che dấu tôi, chính phủ Hoa Kỳ sẽ cứu tôi và đền ơn, v.v.”

Nếu nói để… “thoát hiểm” thì người Việt chỉ cần biết hỏi thăm đường sá, v.v.

Quá nhiều người không hiểu biết gì mới cho rằng văn viết khác văn nói, rằng văn nói đi vào đời sống còn văn viết ở trên trời, v.v. Tất nhiên có sự khác nhau vì khi viết người ta có nhiều thời gian hơn để trau chuốt lời văn, còn chỉ có người cực giỏi mới trong tích tắc trau chuốt lời nói kịp ngay trước khi bật ra âm thanh. Thật sai lầm khi cho rằng nói dễ hơn viết vì không bị ràng buộc bởi văn phạm. Thật sai lầm khi cho rằng dựng túp lều tranh dễ hơn xây tòa nhà chọc trời vì không bị ràng buộc bởi công thức thiết kế và quy định kiến trúc hay cấu trúc vật liệu. Khi không bị ràng buộc về văn phạm, đấy sẽ không là câu nói giữa các đại gia kinh tế hay các chính khách nguyên thủ tại Liên Hợp Quốc. Khi không bị ràng buộc bởi thiết kế, túp lều tranh không bao giờ là nơi cho hai quả tim vàng vì gió có thể thổi bay bất cứ lúc nào. Sự ràng buộc kỹ thuật văn phạm cực kỳ rõ nét khi đó là phát biểu của một luật sư, một giảng viên, hay một chính khách. Vì vậy, dựa vào mức độ văn phạm bạn đang sử dụng, người ta biết bạn ở đẳng cấp nào, thuộc giới chuyên môn nào, đang ở cộng đồng nào, và cũng biết ngay bạn sẽ đấu khẩu thắng hay thua.

Chân lý 5: Muốn nói giỏi hãy tìm đọc tác phẩm của những người…viết giỏi để có thêm thông tin, kiến thức, bổ sung chất lượng cho tài “nói giỏi” của mình. Đặc biệt lưu ý rằng “nói giỏi” tiếng Anh không đồng nghĩa với “hùng biện” tiếng Anh, vì hùng biện là năng khiếu bẩm sinh hoặc là kết quả rèn luyện thực tập hiệu quả nhằm luôn đạt thế thượng phong khi sử dụng khẩu ngữ hoặc văn viết, còn nói giỏi chỉ là sử dụng được ngôn ngữ ấy bằng khẩu ngữ và sử dụng đúng việc, đúng người, đúng chỗ, thường bị giới hạn về thời gian (đối tượng xua tay không muốn nghe tiếp hoặc quay mặt bỏ đi hoặc bảo gia nhân… “tiễn khách”).

6) Hoang đường huyễn hoặc về… “rửa chén” để “nói” giỏi tiếng Anh

Nhiều người du học Âu Mỹ về hay khoe rằng mình đã tích cực thực tập “nói” tiếng Anh bằng cách xin việc rửa chén ở các nhà hàng ở gần trường. Đây là điều hoang đường vì mục đích rửa chén là để kiếm tiền, only this and nothing more (chỉ có thế thôi chứ làm gì còn lý do nào khác). Điều dễ nhận ra là việc rửa chén xảy ra về đêm, giữa những người nghèo khổ – đa số là dân nhập cư Mễ hay Đông Âu – luôn sử dụng tiếng lóng, tiếng sai, tiếng tục, tiếng địa phương, giọng thổ ngữ, chưa kể làm việc tất bật làm gì có thời gian (và ai cho phép cà-khịa tại nơi làm việc) để nói chuyện phiếm hầu “thực tập” nói tiếng Anh để bị ông chủ tống cổ ra khỏi quán. Ngay cả khi làm những việc lao động tay chân khác thì cũng bảo đảm rằng khi về Việt Nam người ấy không thể dạy học trò nói giỏi tiếng Anh được với kiểu ăn nói quàng xiên của tầng lớp thấp ấy. Ngoài ra, việc trắng đêm rửa chén sẽ không bao giờ bảo đảm du học sinh có thể tỉnh táo, tinh anh, tiếp thu bài vở tuyệt hảo trong các tiết học buổi sáng-chiều, và kết quả học tập – dù có được văn bằng – cũng không bao giờ có đủ chất lượng để làm “thầy/cô” cho học sinh/sinh viên ở quê nhà. Đó là lý do chất lượng đào tạo tại Việt Nam luôn có vấn đề, mà đào tạo Anh văn không là một ngoại lệ.

Chân lý 6: Chất lượng nói (và viết) tiếng Anh chỉ có được qua sự tập trung học tập cao độ với người thực sự có trình độ giỏi, và nhất thiết tránh xa – chí ít là trong giai đoạn chưa học thành tài – những cộng đồng cư dân bản địa có văn hóa thấp, học thức thấp, hay cách sử dụng văn nói không chính quy để vốn từ, cách phát âm, và cách sử dụng cấu trúc câu trong văn nói không bị bình dân hóa, địa phương hóa, hay hạn hẹp hóa (mà chính người Mỹ “đẳng cấp” cũng xem thường), và bị hỏng hóa cả khẩu ngữ và phong cách.

7) Hoang Đường Về Giọng Mỹ Giọng Anh

Trong một bài viết trên báo Người Lao Động cách nay gần 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được) tôi có viết rằng không tồn tại trong đời sống thực cái gọi là nói tiếng Anh giọng Mỹ và nói tiếng Anh giọng Anh, và rằng bạn hãy nói tiếng Anh bằng giọng của bạn, với điều cần nhớ là người Việt có nhiều lợi thế hơn nhiều dân tộc khác ở Châu Á vì sắc điệu của tiếng Việt giúp người Việt nói tiếng Anh hay hơn hẳn phần còn lại của Châu Á. Ấn Độ dùng tiếng Anh làm quốc ngữ và vài trăm năm dưới sự đô hộ của Vương Quốc Anh cũng chỉ giúp họ viết báo hay hơn người Anh chứ họ vẫn nói tiếng Anh với giọng Ấn. Ông Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon nói tiếng Tiếng Anh với giọng Hàn. Các CEO công ty Đài Loan ở Việt Nam nói tiếng Anh với giọng Tàu. Các nhà tài phiệt người Hong Kong và Nhật Bản nói tiếng Anh rất tệ. Vì vậy, vấn đề là bạn là ai và tiếng Anh mà bạn nói đang truyền tải thông điệp gì, với mục đích gì, nhắm vào đối tượng nghe nào, chứ không phải có kiểu phát âm Mỹ hay Anh. Bất kỳ “giáo viên” Anh văn nào nói với bạn rằng sẽ dạy bạn nói giọng Mỹ hay Anh, bạn hãy tự tin nói với người đó rằng chính tôi nói họ có trình độ rất khả nghi về tiếng Anh.

Chân lý 7: Học sinh/sinh viên chỉ nên tập trung xây dựng bản thân thành người có kiến thức sâu rộng và học đủ giỏi tiếng Anh để hiểu người nói nói gì, người viết viết gì, và để người nghe hiểu mình nói gì hay viết gì. Chú mục xem ai đó nói giọng gì, hoặc luyện cho mình nói theo giọng gì chỉ tiết lộ mình là điệp viên của Việt Nam, hoặc khiến mình trở thành người duy nhất trên thế gian này làm điều vô bổ.

8) Hoang đường về việc muốn giỏi tiếng Anh phải học từ nhỏ

Điều hoang đường cuối cùng được nêu trong bài viết này (vì còn những 10 điểm khác, thiết nghĩ sẽ tốt hơn nếu để dành khi thuyết trình đầy đủ trước một hội nghị cấp quốc gia về chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Anh hiệu quả cao cho người Việt ở Việt Nam) là khi cho rằng người ta sẽ học giỏi tiếng Anh hơn nếu được cha mẹ cho học tiếng Anh từ rất sớm, việc mà tôi đã có một bài viết dài phản bác trên báo Tuổi Trẻ cách nay 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được), với bằng chứng là sau 20 năm thì chẳng thấy các cháu bé “học tiếng Anh từ sớm” ấy có gì nổi đình nổi đám về tiếng Anh trong hay ngoài nước cả. Tất cả đều do trình độ tiếng Anh yếu kém của dịch giả người Việt khi dịch một tác phẩm của Noam Chomsky và của độc giả người Việt khi đọc nguyên tác hay bản dịch tiếng Việt ấy, mà sự thể là như sau:

Noam Chomsky là giáo sư tiến sĩ và nhà ngôn ngữ học người Mỹ. Ông đặc biệt ủng hộ chính nghĩa của nhà nước Cộng sản Việt Nam (và thậm chí dũng cảm đến thăm Hà Nội trong khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt, cũng như đứng đầu ủy ban các giáo sư tiến sĩ và phóng viên chiến trường Mỹ cùng bác sĩ quân y Mỹ vạch trần tội ác của Mỹ và quân đội Cộng Hòa trong cuộc thảm sát người dân Huế “đối lập” với Thiệu và phật tử Huế trong Tết Mậu Thân 1968 rồi đổ cho “Việt cộng”). Theo ông, người ta (tức người Mỹ) nên cho con mình (tức trẻ em Mỹ) học tập sớm để phát triển ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, nắm bắt ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm. Thế mà nội dung dịch “người ta nên cho con mình học tiếng Anh sớm để phát triển tiếng Anh sớm, nắm bắt tiếng Anh sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm” thay vì phải hiểu như “người Việt nên cho con mình học tiếng Việt sớm để phát triển tiếng Việt sớm, nắm bắt tiếng Việt sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, hoặc “người ta nên cho con mình học tiếng mẹ đẻ sớm để phát triển tiếng mẹ đẻ sớm, nắm bắt tiếng mẹ đẻ sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, người ta nhao nhao lên rằng người Việt nên cho con em học tiếng Anh từ nhỏ để giỏi tiếng Anh. Đây là một điều sai hoàn toàn về phương diện khoa học và tinh thần nghiên cứu của Noah Chomsky! Những người Mỹ ở Trung Ương Cục Tình Báo Mỹ CIA nói tiếng Việt như gió, phải chăng đã học tiếng Việt từ năm lên 4 ở Mỹ? Alenxandre de Rhode soạn tự điển tiếng Việt ắt nhờ học tiếng Việt lúc lọt lòng mẹ và được đưa vào nhà thờ? Nội dung đơn giản chỉ là: thay vì chờ đợi lúc con đến tuổi đến trường theo luật định mới cho con học chữ, các bậc cha mẹ nên tích cực tập con nói chuyện, nói chuyện với con ngay từ lúc con còn nằm nôi (có nhà khoa học còn đề nghị cha mẹ nói chuyên với con qua…da bụng của người mẹ, lúc con còn là bào thai), và kể chuyện cho con, tập cho con nhận diện chữ cái, màu sắc từ trước khi con đến tuổi đến trường, vì rằng việc kích thích trí não của bé vào thời điểm này rất thích hợp giúp bé nhớ nhanh hơn, dễ hơn, tạo đà cho hoạt động học tập khi đến tuổi vào trường, chứ không khuyên cha mẹ cho con học “ngoại ngữ” từ trong bụng mẹ! Việc cha mẹ người Việt cho con học tiếng Anh từ nhỏ sẽ vướng phải các tai hại sau:

– Nhiễu loạn: (a) môi trường xung quanh nói toàn tiếng Việt đa số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Anh, (b) học tiếng Việt ở lớp thiểu số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Việt, còn (c) người dạy tiếng Anh ở nhà trẻ Việt Nam khó thể nào là người có trình độ cử nhân hay thạc sĩ Anh văn nên việc dạy sai là nguy cơ đương nhiên đối với hệ thống phát âm luyện tiếng của trẻ.

– Bất phân định: không thể hiểu được đâu là “tiếng mẹ đẻ” và đâu là “ngoại ngữ” vì không phải cứ sinh ra tại Việt Nam, có khai sinh Việt Nam thì đương nhiên “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Việt Nam, đương nhiên “giỏi” tiếng Việt Nam. Khái niệm “tiếng mẹ đẻ” chỉ liên quan đến ngôn ngữ chính của một người, được người ấy học từ nhỏ, dùng từ nhỏ đến suốt cuộc đời mà không cần có văn bằng chứng chỉ về “tiếng mẹ đẻ”. Trong khi đó, “ngoại ngữ” là ngôn ngữ khác mà một người học thêm theo phương pháp thích hợp và chương trình bài bản, mà kết quả học tập không dựa theo chủ quan, nghĩa là có thể thành công (sử dụng nhuần nhuyễn, có văn bằng chứng chỉ chứng nhận), hoặc có thể thất bại do năng khiếu thiên về lĩnh vực khác. Một đưa bé Việt Nam ngay cả khi chỉ ở Việt Nam, học tiếng Anh từ nhỏ và chỉ học tiếng Anh, đến độ “giỏi” tiếng Anh thì có nghĩa đứa bé Việt Nam ấy có “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Anh tức ngôn ngữ chính và tiếng Việt có khi trở thành “ngoại ngữ”, nhất thiết phải rời Việt Nam do khó thể đấu tranh sinh tồn trong môi trường sống tại Việt Nam.

Chân lý 8: Người Việt Nam càng trưởng thành càng dễ học giỏi tiếng Anh, viết giỏi tiếng Anh, nói giỏi tiếng Anh. “Trưởng thành” có nghĩa là có năng lực hành vi, năng lực trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ, sáng tạo, siêng năng, bản lĩnh, tự quyết, kiên trì và độc lập. Còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, luôn cho mình là “teen”, không làm chủ được bản thân, dựa dẫm vào người khác, v.v. thì chỉ là đứa trẻ, và không thể học giỏi được tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào), đó là chưa kể ngay cả tiếng Việt cũng chưa chắc sử dụng được hiệu quả cho cuộc sinh tồn và sinh nhai. Tiếng mẹ đẻ dành cho trẻ em; còn ngoại ngữ dành cho người không còn là trẻ nít.

ĐOẠN KẾT

Tóm lại, chân lý mà ta cần ngoảnh lại nhìn trước khi dấn bước vào tiến trình “nói giỏi tiếng Anh” là: không bao giờ có sự tách bạch độc lập giữa nói và viết. Viết càng giỏi thì nói càng có chất lượng tốt hơn. Khi một người được phong tước Hiệp Sĩ để được có chữ Sir ngay trước tên họ của mình, người đó được hướng dẫn các nghi lễ hành vi và lời nói khi vào hoàng cung Anh Quốc, lúc quỳ trước Nữ Hoàng để được người đặt lưỡi kiếm trên vai trái và vai phải. Người dân Mỹ xem phát biểu ứng khẩu của Tổng Thống Abraham Lincoln tại Gettysburgh là kiệt tác. Người dân Anh xem phát biểu của Nữ Hoàng Anh là mẫu mực của sự kiệt tác ngôn từ. Tiếng Việt bạn nói trực tiếp với Ông Trương Tấn Sang sẽ không là tiếng Việt bạn dùng trực tiếp với các bạn của bạn trong quán cà phê. Tiếng Anh khi bạn dùng “Mr President!” khiến người nghe nghĩ rằng bạn hoặc là người trình độ đang phỏng vấn Ông Obama hoặc bạn là nhân vật quan trọng được ở gần vị tổng thống ấy. Tiếng Anh khi bạn dùng “Ê President!” khiến người ta nghĩ rằng bạn đang réo một người hàng xóm tên President thường hay chỉ trích chê bai bạn. Vì thế, văn nói cũng là loại văn cần được bạn trau chuốt, học tập, thực hành nghiêm túc giống như điều tất cả những học sinh gia giáo của những gia đình giàu có qu‎ý phái tại các cường quốc Âu Mỹ đều làm, mà nếu cần thí dụ, bạn hãy theo dõi gameshow Người Tập Sự Của Donald Trump để nghe cậu con trai Don và cô con gái Ivanka của Trump ăn nói ra sao, tác phong khi nói ra sao, và để biết rằng chính Donald Trump mới là người giàu nhất thế giới vì chỉ có Trump mới có những đứa con tuyệt vời, đẳng cấp cao, chưa bị dính vào những scandal làm tổn hại thanh danh bản thân và uy danh người Bố. Hãy học theo những người như vậy, và bạn sẽ hiểu ra rằng chỉ có việc học hành nghiêm túc, kiến thức rộng, bạn mới giỏi tiếng Anh, và khi giỏi tiếng Anh, bạn viết giỏi tiếng Anh và không còn có tên trong danh sách những học sinh/sinh viên/nhân viên có bằng cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Tiếng Anh như một “ngoại ngữ” là tiếng Anh dạy theo bài bản chuyên nghiệp, khoa học, đầy đủ, thực dụng cả về viết và nói, theo từng cấp độ, và có các loại sát hạch cho những người cần chứng chỉ, văn bằng, nhằm phục vụ việc mưu sinh hay đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.

Nếu bạn là người trưởng thành, hãy yên tâm nếu bạn muốn giỏi tiếng Anh như một “ngoại ngữ” theo cách lành mạnh, bình thường, khoa học, và nghiêm chỉnh.

Để Học Giỏi Tiếng Anh (Bài 2)

Chuẩn Bị Hành Quân: She Don’t, You Is, D’Passion, I and You, Th’ Universe, Emotino, Anh Văn Hoàng Tộc

KHÚC DẠO ĐẦU

Đây là bài thứ nhì của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc thứ nhì: học đẳng cấp cao của She don’tYou is để hiểu thấu đáo thế nào là chân giá trị của ngôn từ và ai có thẩm quyền tối cao đối với thứ ngôn ngữ đang thống trị thiên hạ.

D’PASSION EMOTINO

Cách nay vài năm được một bạn – rất tiếc tôi không thể nhớ tên – gởi email giới thiệu “phát hiện một trang web” lý thú tên Emotino vào thời điểm tôi chán ngấy cái anh Yahoo! 360 mà tôi đã báo trước sự suy tàn của nó qua một số bài viết, tôi vào xem và tuy mừng vì đó là trang web cực kỳ nghiêm túc của “những người trong cuộc” của giới kinh doanh, nhưng vẫn lo vì ở Yahoo!360 tôi chỉ viết toàn tiếng Anh nay vào Emotino mà viết tiếng Anh thì rất không an tâm vì tôi biết quá rõ có những người Việt Nam sẽ nhao nhao lên rằng tôi “khoe khoang” ngoại ngữ, mà nếu viết tiếng Việt thì chỉ giỏi văn chương thi phú thời còn học về Nguyễn Công Trứ, Lục Vân Tiên, hay Sãi Vãi, v.v., hồi xửa hồi xưa, chứ về các vấn đề học thuật mới tinh của thế kỷ XXI thì thật là run tay. Song, tôi bắt đầu tập viết tiếng Việt, nhờ vợ tôi hay nhân viên công ty tôi giúp sửa các dấu hỏi dấu ngã trước khi post lên Emotino. Vậy Emotino có dính gì đến bài nói về Học Tiếng Anh ở đây? Xin thưa, từ cái ngày đầu đến với Emotino và biết D’Passion lập nên Emotino, cho đến tận ngày hôm nay tôi chưa bao giờ gọi phone, gởi email hay tin nhắn bất kỳ để bảo Ông Chủ của Emotino và D’Passion rằng Emotino sai rồi vì phải là Emotion, và D’Passion sai rồi vì trong tiếng Pháp chữ De chỉ khi ở trước nguyên âm mới biến thành D’. Tôi không bảo hay hỏi hoặc mách vị chủ nhân ấy, vì tôi biết chỉ những người thật giỏi ngoại ngữ mới có hai quyền tối thượng là đặt ra từ mới và phá cách từ cũ. Chỉ cần nhìn chữ Emotino và D’Passion, tôi lặng thinh…trầm trồ thán phục. Tôi cũng có sáng tác một bài thơ tiếng Anh lúc còn ở đại học năm 1977, trong đó lập đi lập lại từ th’Universe, nay ngẫm lại thấy mình thậm chí còn táo bạo hơn cả chủ nhân D’Passion vì nhiều người sẽ bảo tiếng Anh làm quái gì có kiểu the trước nguyên âm được viết tắt thành th’.

Như vậy, phải chăng chăng ông chủ của D’Passion và ông Hoàng Hữu Phước viết sai chính tả lung tung, thua xa người mới học tiếng Anh hoặc đã học xong căn bản của tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

SHE DON’T YOU IS

Bất kỳ ai mới học tiếng Anh đều biết phần sơ đẳng nhất là chia động từ TO BE và TO DO, để biết luôn là She does not hay She doesn’t nghĩa là “nàng ấy đâu có (làm việc ấy)” và You are nghĩa là “ngươi là…” hay “ngài thì…”.

Thế nhưng:

1- Nữ ca sĩ LeToya Luckett trong album phát hành năm 2006 mang tên cô đã hát bài She Don’t theo thể loại R&B của hai nhạc sĩ nổi tiếng Walter Milsap and Candice Nelson, với phần điệp khúc thú vị:

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

2- Ban nhạc The Beatles lừng danh thì có bài She’s a Woman trong đó từ don’t được dùng cho ngôi thứ ba số ít:

     …My love don’t give me presents,

     I know that she’s no peasant.

     Only ever has to give me forever and forever;

     My love don’t give me presents.

     ………

     She don’t give boys the eye.

     She hates to see me cry.

     She is happy just to hear me

     Say that I will never leave her,

     She don’t give boys the eye…..

3- Trong khi đó ca sĩ nhạc rock huyền thoại Frank Zappa có album phát hành năm 1981 mang tên You Are What You Is cũng là tên một ca khúc thể loại pop rock trong album ấy, với lời ca rất dài mà chỉ trong một đoạn ngắn sau đã có những phá cách dữ dội như you is và thậm chí you am:

     ….. Do you know what you are?

     You are what you is

     You is what you am

     A cow don’t make ham…

   You ain’t what you’re not

     So see what you got

     You are what you is

     An’ that’s all it ‘tis

…….

Như vậy, phải chăng chăng các ca sĩ Anh và Mỹ lừng danh này thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

I AND YOU

Trở lại phần bọn bị bịnh thần kinh chống đối tôi đã la toáng trên mạng rằng tôi sai tiếng Anh khi dùng I and You (chẳng hạn như tiêu đề các bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!360 như I and Dr Le Van Diem, I and Mr Nguyen Quang To, v.v.), một ca sĩ nổi tiếng khác là Lobo ắt cũng bị la toáng lên như thế do đã dám viết bài ca tuyệt diệu hàng đầu loại “top hit” mang tên Me and You and the Dog Named Boo (Anh và Em cùng Chú Cún Tên Boo) thay vì phải viết You and Me theo điều sơ đẳng mà con nít và bọn tâm thần ấy được dạy.

Như vậy, phải chăng chăng ca sĩ Mỹ lừng danh Lobo thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

ANH VĂN HOÀNG TỘC

Các bạn ắt biết tác phẩm điện ảnh gần đây mang tên The King’s Speech (Diễn Văn của Nhà Vua, hoặc Nhà Vua Cà Lăm ) đoạt nhiều giải thưởng lớn, nói về Vua George Đệ Lục của Anh Quốc thời Đệ Nhị Thế Chiến đã phải nỗ lực ra sao để khắc phục tật nói lắp của mình, từ đó có các hiệu triệu quốc dân đồng tâm hiệp lực chống Đức Quốc Xã. Tôi chưa xem phim The King’s Speech, nhưng lúc học lớp 12 năm 1974 tôi đã được đọc quyển The King’s English tức Tiếng Anh Hoàng Tộc của anh em nhà Fowler, dày 383 trang, ấn bản năm 1906 của Đại học Oxford, mua tại Nhà Sách Khai Trí, Sài Gòn, và đây là lý do vì sao tôi “cứng và vững” văn phạm và luận văn Anh hơn mọi người đồng trang lứa, vì khi tất cả các tác giả văn học vĩ đại của nước Anh, tất cả các báo và tạp chí lừng danh (còn tồn tại cho đến ngày nay hàng trăm năm tuổi) đều bị lôi ra vô số các trích đoạn để chứng minh các điểm sai về văn phạm, từ ngữ, ngôn phong, v.v., chẳng hạn như:

1) …Mrs. Downe Wright had not forgiven the indignity of her son having been refused by Mary…       FERRIER

2) …Hurried reading results in the learner forgetting half of what he reads, or in his forming vague conceptions….         SWEET

3) …As to the audience, we imagine that a large part of it, certainly all that part of it whose sympathies it was desired to enlist, …        TIMES

thì tôi đã được tiếp cận các câu văn vẻ tiêu biểu được chọn lọc, học được vô số điều từ các phê bình đẳng cấp cung đình, những điều mà tất cả các sách vở và thầy cô ở Việt Nam không hề (hoặc không thể) nói đến ở tầm cao tương tự.

(Ghi chú về ba câu tiếng Anh có “ngoại hình” rất cao cấp ở trên:

– Phê bình (luôn ngắn gọn, chỉ ghi tên gọi của lỗi, không giải thích) ghi trong sách The King’s English: Câu 1 và 2 sai ở sở hữu cách

– Tôi giải thích với sinh viên khi đem vốn liếng The King’s English của tôi ra dạy sinh viên: Chữ her son trong Câu 1 nếu là her son’s và chữ the learner trong câu 2 nếu là the learner’s mới đúng. Trong câu 1, đối tượng liên quan đến indignity là “cái việc” having been refused by Mary của her son, chứ không phải bản thân her son, nếu viết như S. Ferrier thì hóa ra having been refused by Mary không còn là “cái việc” tức là một danh từ/nhóm từ danh từ noun phrase mà trở thành một tính từ loại perfect participle. Còn ở câu 2 thì rất rõ vì xuất hiện yêu cầu đối xứng của tiêu chí parallelism khi viết văn: từ OR liên kết 2 phần cân xứng y như nhau, do đó, nếu vế sau OR có IN HIS với HIS ở sỡ hửu cách thì vế trước OR buộc phải có sở hữu cách nên phải là IN THE LEARNER’S. Còn câu 3 có phần sau phải viết lại thành whose sympathies were enlisted mới đúng tiếng Anh.

ĐOẠN KẾT

Các thi sĩ, nhạc sĩ có đặc quyền áp dụng các phá cách mà không cần giải thích, và những người hiểu biết không bao giờ đặt câu hỏi, càng chẳng bao giờ tung email không chỉ vì muốn khoe các phát hiện của mình mà có khi vì những lý do xấu khác, chẳng hạn như nhằm chê bai hay bôi nhọ đối thủ cạnh tranh.

Lý do của các phá cách như She don’t rất đơn giản: nhà thơ hay nhạc sĩ đều giống nhau ở điểm họ cần số lượng âm nhất định cho một khổ thơ hay một đoạn nhạc. Nếu ở một đoạn đặc thù chỉ còn trống chỗ cho 2 âm tiết thì She doesn’t đúng văn phạm nhưng có 3 âm tiết, và She don’t trở thành một giải pháp 2 âm tiết tuyệt hảo được các fan hâm mộ tán dương, khen ngợi, thần phục. The cow don’t (thay vì the cow doesn’t) cũng là trường hợp tương tự.

Lý do của You IsYou Am lại nhằm mục đích khác, có thể mang tính triết lý sâu sắc sâu xa, hoặc diễu cợt, hoặc “chơi chữ” của tác giả, chứ không vì giới hạn của số lượng âm tiết, chẳng hạn muốn hàm ý “anh chỉ là số ít, anh chỉ là cái tôi của anh”. Và cũng như việc không ai đến viện bảo tàng nghệ thuật đứng ngắm nhìn các bức họa kiệt tác lại mở miệng nói linh tinh hoặc hỏi lung tung – thậm chí ngay cả khi bức họa là một tấm giấy trắng khổ lớn như đang có tại một viện bảo tàng hình như ở New York nghe đâu được mua với giá vài trăm ngàn USD – độc giả và khán giả cũng sẽ thưởng thức các cái “sai cố tình” và tán thưởng vì đó là sự độc đáo độc quyền trong lĩnh vực nghệ thuật, mỹ thuật, chẳng khác nào tranh truyền thần và tranh trừu tượng đều vẽ về người phụ nữ nhưng theo cách khác nhau và giá tiền của tranh trừu tượng của Picasso luôn đắt hơn tranh truyền thần thời hiện đại.

Về I and You / Me and You thì rất đơn giản:

– Lobo muốn Me and YouYou đồng âm với Boo, nên khi hát Me and You and the Dog Named Boo sẽ tạo tác dụng ngữ âm hợp vận tuyệt hảo theo ngắt đoạn: Me and You…. and the Dog Named Boo.

– Tôi không kiếm tìm sụ hợp vận như Lobo mà chỉ thực hiện cái quyền sử dụng tiếng Anh cho mục đích của riêng tôi, người ở vị trí cao hơn tất cả mọi người ở Việt Nam (dù là người Việt Nam hay người nước ngoài làm việc ở Việt Nam) về tiếng Anh nên có cái đặc quyền này, và nếu văn phạm tiếng Anh chưa ai giải thích thì tôi sẽ lấy làm vinh dự giải thích rằng: khi tôi viết I and Professor Le Văn Diem, tức theo kiểu I and You, thì tôi ngụ ý rằng từ I trở thành nhân vật chính và duy nhất, với nhân vật You ở vị trí phụ trợ, biến chữ and mang ý tương tự của together with cho một tình huống tương tự của nhu cầu 1 âm tiết của and mà không là 4 âm tiết của together with hoặc thậm chí chỉ một từ with với chỉ một âm tiết tôi cũng không muốn sử dụng vì with thuộc âm vực lên cao rất chỏi với các âm trước và/hay sau nó, trong khi and lại là một trầm bình thanh, đáp ứng dụng ý vần điệu cho thơ ca hoặc âm điệu cho văn xuôi. Nói đơn giản hơn, bạn dùng đúng văn phạm tiếng Anh thí dụ như You and I will go to the market để nói lên một sự thật là cả hai cùng đi chợ, nhưng khi tôi viết I and you will go to the market, tôi muốn nói tôi buộc bạn là cấp dưới của tôi phải đi với tôi ra chợ và khi phát âm tôi sẽ nhấn mạnh chữ and you cùng với việc chỉ ngón tay vào bạn. Khi tôi viết Professor Le Van Diem and I, ý nghĩa sẽ là thực sự Thầy Diệm và tôi cùng nhau thực hiện một công việc gì đó, chẳng hạn cùng đóng góp tư liệu và hiệu đính cho giáo trình văn học Anh Mỹ cho Đại Học Boston. Nhưng khi tôi viết I and Mr Nguyen Quang To, tôi và Thầy Tô là hai cá nhân riêng biệt vì chỉ có tôi nói về Thầy chứ không phải cùng Thầy cùng nói về nhau.

Nói tóm lại, trước khi bắt đầu cuộc chinh phục tiếng Anh để nói giỏi tiếng Anh và viết giỏi tiếng Anh, bạn cần quan tâm đến những điều sau:

1- Đừng dùng tiếng Việt viết phê phán chất lượng tiếng Anh của tôi trong khi bản thân bạn chỉ mới nắm phần sơ đẳng của tiếng Anh. Muốn biết bạn đã vượt qua phần sơ đẳng hay chưa, khi “phát hiện” điều mà bạn cho là “kém” của tôi, bạn hãy viết một bức thư thật dài bằng tiếng Anh để gởi tôi, trong thư bạn nêu rõ điểm hay các điểm sai, đưa ra các dẫn chứng hàn lâm mà bạn có để chứng minh đó đúng là các điểm sai, và bạn đề nghị các sửa sai. Khi bạn nhận được thư cảm ơn của tôi – dù tôi rối rít cảm ơn bạn hay trình bày bạn rõ các dụng ý của tôi – bạn sẽ biết chắc chắn rằng bạn đã giỏi tiếng Anh.

2- Đừng bắt chước việc phá cách của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền phá cách. Phá cách là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng) mà bạn chưa chắc đã có đủ.

3- Đừng bắt chước việc tạo từ của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền tạo từ. Tạo từ là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng). Tạo từ cũng là quyền của giới học thuật và truyền thông, chẳng hạn Liên Xô chê từ astronaut (phi hành gia) của Mỹ thuộc đẳng cấp thấp (vì astro có ngữ nguyên tiếng Ai Cập nghĩa là ngôi sao) nên chế ra từ mới cosmonaut (nhà du hành vũ trụ) cho “vĩ đại hơn (chơi chữ: tạo từ có cùng ngữ nguyên Ai Cập, nhưng cosmo nghĩa vũ trụ nên bao trùm hơn và rộng lớn vĩ đại hơn astro); hay vào những năm đầu sau Giải Phóng Miền Nam, các đài phát thanh tiếng Việt và tiếng Anh của Mỹ và Anh chế tạo ra từ mới tiếng Việt “thuyền nhân” và “boat people” gọi những người vượt biên, vì việc vượt biên không mang ý nghĩa chính trị do không có bằng chứng về các ngược đãi nên không thể dùng từ refugee tức người tỵ nạn đã dùng thời Thế Chiến II.

Khi bạn biết bạn đang ở bậc thang nào của tiếng Anh và biết giữ theo ba lời khuyên trên, xem như bạn đã chuẩn bị kỹ càng cho tư thế một chiến binh chinh phạt và chinh phục ngôn ngữ ấy vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời bạn tham khảo thêm:

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Các bài cùng chủ đề tiếng Anh:

1) Hoàng Hữu Phước. 07-12-2011. Phường có đúng là Ward? http://www.emotino.com/bai-viet/19422/phuong-co-dung-la-ward

2) Hoàng Hữu Phước. 13-5-2011. Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ . http://www.emotino.com/bai-viet/19112/kinh-nghiem-ve-viec-hoc-ngoai-ngu

3) Hoàng Hữu Phước. 20-6-2011. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh. http://www.emotino.com/bai-viet/19153/chia-se-kinh-nghiem-ve-hoc-gioi-tieng-anh

4) Hoàng Hữu Phước. 14-04-2011. Don’t Ever Talk Nonsense against vietnam, You Expatriate Businessmen. http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen

5) Hoàng Hữu Phước. 05-06-2010. Tips for Excellent Learners of Excellent English. http://www.emotino.com/bai-viet/18651/tips-for-excellent-learners-of-english

6) Hoàng Hữu Phước. 03-06-2010. The Three Important P’s in a Seven-Sentence Writing. http://www.emotino.com/bai-viet/18642/the-three-important-ps-in-a-sevensentence-writing

7) Hoàng Hữu Phước. 08-03-2010. Kịch: Thorns of Life. http://www.emotino.com/bai-viet/18458/kich-thorns-of-life

8) Hoàng Hữu Phước. 17-9-2008. Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân? http://www.emotino.com/bai-viet/17025/anh-van-bang-a-b-c-hay-cu-nhan

Cùng Hát Chúc Mừng Năm Mới 2016

Hoàng Hữu Phước, MIB

 NewYear

Chỉ còn vài ngày nữa là đến năm mới 2016. Sau gần hai thập kỷ liên tục viết blog từ Yahoo!3600 đến Emotino và nhiều trang mạng khác để kêu gọi loại trừ bài ca Happy New Year của Abba, năm nay tôi sẽ không phí sức nhắc gì về bài hát thấp kém đáng vất vào sọt rác đó, mà sẽ viết về bài hát đúng cho dịp năm mới để Việt Nam hòa âm hòa hợp với toàn thế giới đại đồng, đó là về bài hát Auld Lang Syne.

Auld Lang Syne là bài hát được sử dụng lúc “giao thừa Tây” tại tất cả các quốc gia nói tiếng Anh và rất nhiều nước khác, trở thành nét văn hóa đặc thù mang tính cộng đồng thế giới vui đón mừng năm mới.

Có nhiều phiên bản Auld Lang Syne, từ nguyên tác tiếng Tô Cách Lan dựa theo bài hát nổi tiếng nhất của Robert Burns, vị thi bá còn được thế giới văn học Anh nhớ đến với bài hát O, My Luve’s Like A Red, Red Rose (Ôi Tình Yêu Của Anh Như Đóa Hồng Đỏ Thắm) trong số hơn 300 bài ông đã cố lưu truyền cho hậu thế, cho đến những phiên bản hiện đại bằng tiếng Anh, thậm chí có cả phiên bản dài hơn của nữ ca sĩ Mariah Carey như sau, và các bạn cần lưu ý đến đoạn kết có màn cùng nhau nói thật to đếm ngược từ 10 đến 1 để ngay sau đó cùng nâng ly champagne và cùng nói Chúc Mừng Năm Mới đầy khí thế và phấn khởi:

 New Year

Tiễn đưa năm cũ với bài ca êm đềm để nâng ly đón chào năm mới như điều tuyệt diệu hàm chứa tính cách “tẩy trần” tương hợp với văn hóa Á Đông, và đây là lý do từ các nước vùng Nam Á như Ấn Độ và Bangladesh, đến Đông Bắc Á như Tàu, Hàn Quốc và Nhật Bản, và Đông Nam Á như Thái Lan, v.v., đều có phiên bản riêng bằng ngôn ngữ nước họ.

Thật ra thì Việt Nam Cộng Hòa đã từng có một phiên bản đầy dung tục, vô văn hóa, do ai đó đã chế lời hát cho Auld Lang Syne thành “ò e, con ma đánh đu, Tặc Dăng nhãy dù, Dô Rô bắn súng,…” để con nít xó chợ đầu đường Sài Gòn thốt lên mỗi khi nghe radio trỗi nhạc của bài Auld Lang Syne đón mừng năm mới.

Giá như có ca sĩ nào đó của Việt Nam sáng tác lời Việt cho ca khúc Auld Lang Syne (vì đây không là việc khó do “sáng tác lời” chứ không phải “dịch lời”) để mỗi dịp Xuân về, không khí vui tươi được sẻ chia hòa hợp với mọi người nước ngoài đang ở Việt Nam dù họ có đến từ bất kỳ nơi nào trên thế giới vào thời điểm khắp hành tinh đón mừng năm dương lịch mới. Hát Auld Lang Syne là bài hát ngoại nhưng tính văn hóa cao vì thế giới cùng hát bài này vào dịp đón mừng năm mới. Còn hát bài của Abba thì cũng là bài hát ngoại nhưng lại là sự nhạo báng phần còn lại của thế giới vì họ nào có xem đó là bài hát thích hợp cho dịp quan trọng đón mừng một năm mới tươi vui nhiều may mắn.

Sau đây là phiên bản tiếng Việt của tôi soạn tặng mọi người Việt:

NewYear5

Chúc Mừng Năm Mới An Vui, Hạnh Phúc, Thịnh Vượng, Thành Công!

 NewYear1

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 04-01-2015 Cần Loại Bỏ Việc Phát Bài Ca Happy New Year của Abba Dịp Tết

Hoàng Hữu Phước. 25-01-2014. Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba

Nguồn cho bài viết này:

Lời cùa Mariah Carey: http://www.metrolyrics.com/auld-lang-syne-lyrics-mariah-carey.html

Tham khảo thêm các lời khác tại:

http://english-zone.com/holidays/auldlang2.html

http://www.carols.org.uk/auld_lang_syne_song.htm

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Bài Viết Tặng Học Sinh, Sinh Viên, Nhân Viên, Và Những Người Có Học Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Khi một người luôn sống khắc khổ, ứng xử nghiêm túc, tư thế nghiêm trang, thể hiện nghiêm nghị trong công việc đối nội và đối ngoại,

Humor1 lúc chủ trì phiên họp toàn thể hàng tháng (Monthly Staff Meeting) tổ chức tại cơ quan sau giờ làm việc, từ 18g đến 20g, phát biểu báo cáo bằng tiếng Anh và luôn làm tất cả ban lãnh đạo cùng hàng trăm nhân viên dù là người Anh, người Canada, người Mỹ, người Hong Kong, người Singapore, người Malaysia hay người Việt đang mõi mệt sau 8 giờ lao động vẫn cùng cười to sảng khoái và luôn ngóng mong mau đến thời điểm có buổi họp toàn thể ở tháng tiếp theo

IM000766.JPG

Humor3

còn khi người đó có thể trò chuyện làm Tân Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh cười tươi rạng rở và vui vẻ thì tất nhiên không do người ấy diễu hề chọc cười kiểu Việt

 Humor4

Thì chúng ta tạm xem như người ấy có “a very good sense of humor” mà cái sự tạm hiểu ở tiếng Việt có nghĩa là “giỏi khiếu khôi hài”. Vậy nếu hiểu luôn luôn đúng thì sense of humor là gì? Tại sao Thánh Gandhi của Ấn Độ từng phán rằng nếu Ngài không có sense of humor thì lẽ ra Ngài đã tự tử từ lâu rồi, còn câu nói thường gặp ở Phương Tây nhằm đánh giá cao tầm quan trọng của sense of humor lại là các bộ dụng cụ cứu hộ cứu nguy nên có sẵn một sense of humor?

Có lẽ ý kiến của William James là xác đáng nhất, nói đúng bản chất sense of humor nhất, khi cho rằng khiếu khôi hài sense of humor cũng chính là common sense tức năng lực phổ biến có nơi đa số con người trong cảm nhận được và có đánh giá nhìn nhận chinh xác và logic đối với những vấn đề cụ thể được đồng thuận đương nhiên về tính hợp lý và mức độ an toàn chung của nó; và cả hai chỉ khác nhau ở chỗ chúng có tốc độ di chuyển không như nhau: sense of humor đơn giản là một thứ common sense đang nhảy múa hát ca vui vẻ mà thôi

Như vậy, ngôn ngữ Việt đã không thể nào có từ ngữ diễn đạt thích hợp sense of humorsense of humor hàm chứa tự thân cái common sense để biểu đạt cái common sense ấy trong tư thế đầy ắp sự hân hoan, yêu đời, ý nhị, sâu sắc, duyên dáng, ngập tràn tính giúp đỡ – chẳng khác nào vừa nói lên một sự thật ai cũng đồng tình vừa hát ca nhảy múa vui vẻ vậy – trong khi khiếu khôi hài của người Việt lại dựa chủ yếu trên sự tưởng tượng mà mục đích chỉ để chọc cười vô thưởng, vô phạt, vô lý, hoặc chỉ để bôi nhọ, kích bác, chế giễu, châm biếm, châm chọc, mà không ít các trường hợp xuất phát từ ác ý ác tâm hoặc một sự “bó tay”.

Có một Việt Kiều Canada từng hăng say kể rằng anh đến dự một cuộc phỏng vấn và được yêu cầu cười to rồi bị đánh giá chưa đạt yêu cầu, phải về luyện tiếp. Thế là anh ta trở đi trở lại nhiều lần trong những 3 năm liên tục mới được tuyển dụng và được cử sang làm việc cho chi nhánh ở Việt Nam. Và anh ta mỗi khi cười là tiếng hả hả vang dội khắp tầng lầu, rung rinh toàn bộ khung kính cửa sổ dán phản quang màu xanh lá của Diamond Plaza. Mọi nhân viên Việt Nam cho rằng anh ta ba xạo, dóc tổ. Còn tôi cho rằng nếu anh ta nói thật, đích thị anh ta hoặc kể chuyện hoang đường hoặc anh ta ngu khờ không biết mình bị chơi trác vì nhà tuyển dụng đuổi khéo anh ta nhưng vì anh ta kiên trì luyện cười trong ba năm nên nhà tuyển dụng đành phải ban cho anh một cơ hội để vào công ty làm công việc ở chi nhánh Việt Nam vốn đòi hỏi tính kiên trì cao độ (chứ không phải vào công ty để cười ha hả); nhưng nếu anh ta nói xạo nhằm để thiên hạ thấy anh ta thân thiện, vui tính, thì rất có thể anh ta có “sense of humor”; còn nếu anh ta đem chính mình ra nói với ngụ ý bản thân phải trầy da tróc vảy chịu đựng sự đòi hỏi quái đản của công ty mới có công việc này thì đích thị anh ta có “a very good sense of humor”. Thế “good sense of humor/humour” của tiếng Anh khác với “có khiếu khôi hài” ở tiếng Việt ra sao?

Rất nhiều người Việt cho rằng khôi hài là chọc cười thiên hạ, chẳng khác gì diễu hề, mà nội dung khôi hài truyền thống của đa số đàn ông người Việt toàn là có liên quan dến bộ phận sinh dục, đến đời sống tình dục, đến kinh nghiệm sắc dục, đến nữ đồng nghiệp nào đó; còn nhiều người khác thì chuyên sưu tầm những bài lục bát hay những thông tin bỡn cợt đầy mỉa mai nhạo báng chế độ Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đăng đầy trên các trang mạng chùa của bọn chống Việt ở hải ngoại rồi khi đến giờ ăn trưa thì quây quần kể lể cười ha hả cho mau chóng tiêu cơm tiêu cá không cần phải súc miệng xỉa răng. Vậy thì khôi hài kiểu Việt thiên về tiêu cực, hạ thấp tư cách và tư thế người chủ sở hữu cái năng khiếu ấy. Nhiều học sinh, sinh viên, trước khi lên đường du học đã thu thập nhiều truyện tiếu lâm, và khi sinh hoạt tập thể đem kể lại bằng tiếng Anh cho các bạn học là người Mỹ người Anh để chứng tỏ ta có óc khôi hài; nhưng trăm lần như một chỉ làm cho các bạn này dù hiểu hết nội dung tiếng Anh vẫn không hiểu nó khôi hài ở chỗ nào trong khi người kể và các sinh viên Việt khác thì cười rũ rượi, rụa ràn nước mắt.

Đối với dân Âu Mỹ, sense of humor không để chọc cười vô duyên vô đạo mà trước hết để minh chứng bản thân có sức khỏe tâm thần tốt, lạc quan, yêu đời, khéo léo, vị tha – mà tất cả ngần thứ này hoặc chứng minh hoặc cho thấy tiềm tàng rõ nét nhất sự thành công của những ai có nó. Đặc điểm nổi trội của sense of humortự trào (tức tự cười bản thân mình, tức đem mình ra làm đối tượng cho sự khôi hài), sâu sắc ý nhị (tức làm người nghe phải suy gẫm và ghi nhớ), khéo léo (tức nhanh trí hóa giải vấn đề nghiêm trọng thành lợi thế bản thân), và vị tha (tức thấu hiểu hoàn cảnh khó xử của người khác để tham gia hóa giải hoặc cảm nhận được tính tích cực nơi và đồng thuận với cái sự tình người khác ấy muốn bày tỏ).

Mới đây trong chuyến thăm Mỹ của Đức Giáo Hoàng đã có hai giai thoại thí dụ về “sense of humor”. Khi thấy trong biển người chào đớn hai bên đường có một phụ nữ bế con và cháu bé mặc trang phục giống y hệt mình, Đức Giáo Hoàng đã nói với người phụ nữ ấy rằng “Bà đúng là có good sense of humor” minh chứng sự khôi hài là trong ý nghĩ, trong tư duy, thể hiện bằng sự chọn may trang phục giáo hoàng cho đứa bé, rất ý nhị, thanh lịch, dễ thương, chứ không để chọc cười hay qua thể hiện bằng lời nói kèm tiếng cười hả hả. Chính Đức Giáo Hoàng sở hữu sense of humor khi phán người dàn bà ấy có sense of humor. Còn tại một buổi họp bên lề ở Liên Hợp Quốc cùng thời gian với chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Francis, một tổng thống ở Châu Âu đã “Kính thưa Tổng Thống (Mr. President)” khi bắt đầu hội đàm với Phó Tổng Thống Mỹ Biden. Khi mọi người cười ồ lên, vị tổng thống ở Châu Âu ấy nói ngay rằng “biết đâu sắp tới sẽ là như vậy?” khiến mọi người cười ồ lên lần thứ hai và lần này để tán thưởng tài ứng đối khôi hài nhanh trí của một người chủ nhân sense of humor.

Như vậy, bất kỳ ai khỏe mạnh về tinh thấn, yêu đời, vị tha, và có tài hùng biện đều có thể có sense of humor. Bất kỳ ai có khả năng kể chuyện tục tĩu để làm thiên hạ cười không thể xem như có khiếu khôi hài của sense of humor vì có khi sự tập trung nói về bộ phận sinh dục hay chuyện tình dục cho thấy có sự ám ảnh dục tình mang tính bịnh lý trong bộ môn khoa học Tâm Bịnh Lý Học do kẻ khôi hài có cuộc sống tình dục thất bại hoặc vì một ám ảnh dục tình từ thời thơ ấu mà không thể thỏa mãn được cho đến tận ngày nay – theo lý giải của bộ môn Phân Tâm Học – còn nếu sự tập trung diễu cợt về chế độ cộng sản hay các lãnh đạo cộng sản thì dứt khoát đó không là sense of humor mà đích thị là miệng lưỡi kẻ có ác tâm chống cộng muôn đời thất bại mà tiếng Anh gọi là eternal loser vì nếu thành công thì đã không đắng cay diễu cợt sau lưng như thế.

Như đã nói, sự hóm hỉnh tự trào về chính mình là một phần quan trọng của sense of humor.

 Humor5

Một thí dụ khác về sense of humor: khi có người tưởng là hay lắm nên dạy đời trên LinkedIn rằng “….Hảy nói ít thôi…Hãy thường xuyên cười to…” thì y đã nhận được lời dạy về sense of humor rằng “Nếu bạn nói ít mà thường xuyên cười to, bạn có thể bị cho là một tên đần. Nếu bạn được trời phú cho có một sense of humor, bạn phải lắng nghe nhiều hơn để hiểu cái humor của thiên hạ để bạn có thể cười to, và bạn cần nói nhiều hơn để đem humor đến cho thiên hạ để làm họ cười to.” Bản thân lời “dạy” đầy ý nhị này cũng cho thấy người “dạy” có một sense of humor.

Humor6

Bảng cắm trên đường cao tốc như sau là một thí dụ về sense of humor: “Nếu yêu Chúa Jesus thì hãy nhấn còi xe. Nếu muốn đi gặp Chúa Jesus thì hãy vừa lái xe vừa gởi tin nhắn.”

Humor7

Một minh chứng khác để thấy Âu Mỹ thực sự thể hiện khiếu khôi hài của mình ra sao nếu liên hệ tới tạp chí biếm họa Cú Đấm (Punch) lừng danh của Anh Quốc (khai trương năm 1841 và đình bản năm 2002 sau hơn 160 năm tồn tại, trước đà tấn công hơn vũ bảo của báo mạng) chuyên đăng toàn tranh humor về các chủ đề đối nội, đối ngoại, văn hóa, nghệ thuật, thời trang, xã hội, khoa học và công nghệ, qua các thí dụ sau, để biết họ khi khôi hài sẽ cười ha hả ồn ào hay chỉ là cười mĩm đầy ý nhị hoặc ngay cả không cười mà chỉ thấy trong lòng thoải mái khi xem tranh:

Tranh humor mang tiêu đề “tác động của đình công đối với nhà tư bản và với người lao động” của Punch:

 Humor8

hay như tranh humor sau của Punch trong Đệ Nhị Thế Chiến lúc Anh Quốc yêu cầu các xí nghiệp phải che đậy, ngụy trang cơ sở của mình để tránh bị oanh tạc bởi các chiến đấu cơ Đức Quốc Xã, thì nhà máy sản xuất sơn đã ngụy trang như thế này:

 Humor9

Bạn hãy so sánh các tranh trên với tất cả các tranh của Tuổi Trẻ Cười để thấy sự khác biệt hoàn toàn về “khôi hài”. Đây cũng là lý do tôi đã từng viết cách nay nhiều năm chê bai cái trần trụi của cách đặt tên của “Tuổi Trẻ Cười” do không sâu sắc ý nhị độc đáo như “Quả Thôi Sơn” của Anh hay “Cá Sấu” của Liên Xô, chẳng khác nào gọi trụi trần là Cửa Hàng Ăn Uống (thay vì nên là Nhà Hàng) hay Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn (thay vì nên là Đại Học Bà Huyện Thanh Quan) vậy.

Tóm lại, đã luôn có sự khác biệt giữa các ngôn ngữ khác nhau, Democracy được dịch là Dân Chủ, nhưng nội dung từ vựng của Dân Chủ nơi suy nghĩ của người Việt lại hoàn toàn xa rời Democracy, vì trong khi Democracy diễn giải như một hình thái người dân tham gia chính trị qua việc bỏ phiếu bầu người dại diện cho mình thay mình chăm lo việc quốc gia đại sự thì người Việt lại cho rằng dân phải làm chủ, từ đó phe nhóm Chống Việt nhao nhao công kích Việt Nam là “đảng trị”, bóp nghẹt “dân chủ” mà láu cá không nói gì đến Mỹ cũng “đảng trị” và nếu vậy thì cũng bóp nghẹt “dân chủ”, còn ai trẻ người non dạ trong nước cũng đòi trực tiếp làm chính trị để thực thi dân chủ mà không cần thông qua bầu cử theo hiến định và luật định. Tương tự, Humor (Humour) được dịch là Khôi Hài, nhưng nội dung và nội hàm của sự biểu đạt của humor lại khác với của khôi hài vì người Việt ta cho rằng khôi hài là tiếu lâm và chọc cười thiên hạ với thủ thuật dung tục hoặc dè bỉu. Trong khi đó, humor không để chọc cười, không để dè bỉu, thí dụ như tranh humor đã qua thủ thuật hội họa đẳng cấp cao cùng ý tứ ý nhị phục vụ sự suy gẫm và thưởng thức, hoàn toàn để lành mạnh hóa sự suy tư, giải tỏa căng thẳng, tạo môi trường giao hảo mang tính tích cực, xây dựng, đồng an vui, đồng cảm thụ rằng cuộc đời đáng sống biết bao, một khi tất cả những cái lẽ ra là vấn nạn đã được hóa giải sắc sâu, chuyên nghiệp, hình tượng hóa qua nét cọ của bậc tài hoa danh tiếng trên một ấn phẩm tiếng danh như Punch. Như thí dụ ở trên, đang trong Đệ Nhị Thế Chiến mà Punch vẫn xuất bản đều đặn, với cả bức tranh về nhà máy sơn đã sơn ngụy trang ra sao để tránh hỏa tiển V1, V2, cùng bom đạn của các oanh tạc cơ của Đức, biến hoàn cảnh thảm khốc của chiến tranh được vơi đi từ các tranh humor đó. (Và cũng lại là vấn đề ngôn ngữ khi người ta cho rằng đó là tranh humor thì Việt lại cho đó là biếm họa, mà biếmchâm biếm, nên tranh nào cũng chọt cái này, chọi cái kia, chõi cái nọ, không thể nào là tác phẩm sâu sắc được lưu trữ trong bảo tàng nghệ thuật của Anh Quốc cho toàn thế giới thưởng lãm như các tranh humor của Punch.

Như vậy, bạn hãy xem mình có đang yêu đời, có lòng tốt vị tha, có ý xây dựng, có tâm hỗ trợ, có định hướng cởi mở, có tài lan tỏa sự bừng sáng tích cực nơi những người chung quanh, và có năng lực ứng đối hùng biện để nhanh chóng hóa giải – thậm chí “mềm hóa” – hoàn cảnh từ bất lợi trở thành thuận lợi cho bạn (hoặc đỡ lời cho người khác) hay không. Nếu có, bạn đang sở hữu cái sense of humor, và nếu cái sense of humor của bạn nổi bật, biến hóa đầy tích cực, thì bạn ắt đang sở hữu very good sense of humor mà dân Âu Mỹ rất thán phục. Còn nếu không có cùng lúc tất cả những tính chất trên, trong khi bạn vẫn khẳng định bạn có khiếu khôi hài chọc cười thiên hạ thì bạn hãy lấy công tâm mà xem mình có đang (a) sử dụng sự dung tục về tình dục hay bộ phận sinh dục làm trò cười, (b) sử dụng trí nhớ để đọc lại những bài vè trên mạng có nội dung chống đối chế độ bôi nhọ lãnh đạo nhà nước hoặc lãnh đạo doanh nghiệp, phòng ban, cơ quan bạn đang công tác, hoặc (c) sử dụng tài riêng để sáng tác chính những bài vè có nội dung chống đối chế độ bôi nhọ lãnh đạo nhà nước hay không, vì nếu như vậy thì bạn đừng dại dột phát huy cái khiếu ấy bằng tiếng nước ngoài khi giao du với người nước ngoài, vì sự giáo dục hiệu quả của nước họ sẽ khiến họ rất giỏi ngoại giao, luôn cười to cười vui hưởng ứng bạn, nhưng bảo đảm đến 10.000% là họ xem bạn như một gã tâm thần hoặc bị ám ảnh dục tình, hoặc bị thất thời thất chí thất tình thất bại nên chua chát chua cay chua lè với xã hội và đất nước của chính mình. Có khi bạn chỉ có irony hay satire chứ bạn không có humor, vì irony thiên về châm chọc mĩa mai cay đắng còn satire lại thiên về châm chọc châm biếm bỡn cợt mĩa mai, mà cả hai đều mang tính dạy đời. Vì vậy, humor thuộc đẳng cấp cao của sự lành mạnh, hóa giải, hòa giải, hòa hợp, hòa thuận, hòa bình, an bình, thiện tâm.

Và nếu bạn hội đủ tất cả những tính chất phải có của excellent sense of humor tức tạm dịch là khiếu khôi hài bậc Thầy kiểu Tây, tôi và những người bạn nước ngoài của bạn sẽ hoàn toàn ngạc nhiên không thể nào tin được nếu bạn không thể là ngôi sao sáng trên đường đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hà Hồ

Bài Viết Dành Cho Học Sinh, Sinh Viên, Nhân Viên, và Những Người Nổi Tiếng (Celebrity) Có Học Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Để tránh các hiểu lầm, tôi xin khẳng định rằng Hà Hồ là cái tên ngẫu nhiên tôi chọn từ một tên tưởng tượng của người Việt nào đó như Hồ Thị Hà hay Hồ Văn Hà để làm thí dụ việc người nữ hay nam này học đòi viết theo kiểu tên tiếng Anh thành Hà Hồ. Ngoài ra, tôi xin khẳng định rằng tôi không hề quan tâm hay biết đến bất kỳ ai là “celebrity” trong lĩnh vực công nghiệp giải trí ở Việt Nam vì đối với tôi chẳng ai đáng để tôi quan tâm đến cả. Do đó, đây là ý kiến thuần tiếng Anh dành cho người đẳng cấp cao thực sự.

Trước khi phân tích sâu hơn, tôi xin đặt vấn đề ngay – theo kiểu nói ngay phần kết luận của bài này – với các bạn là Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu luôn được báo chí Mỹ gọi là Nguyen Van Thieu chứ không bao giờ gọi là Thieu Nguyen. Tương tự, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được báo chí Mỹ gọi là Ho Chi Minh chứ không bao giờ gọi là Minh Ho, và Chủ tịch Trương Tấn Sang luôn được báo chí Mỹ gọi là Truong Tan Sang chứ không bao giờ gọi là Sang Truong. Vì vậy, nếu bạn thực sự là một celebrity của Việt Nam vươn ra thế giới và được thế giới kính trọng, bạn hãy cứ là Hồ Thị Hà tức Ho Thi Ha trong tiếng Anh, hoặc Hồ Văn Hà tức Ho Van Ha trong tiếng Anh.

Ngay từ còn là một thiếu nhi ở Sài Gòn, tôi đã nhận ra sự khác biệt này nên luôn luôn khẳng định bản thân sẽ luôn là Hoàng Hữu Phước chứ không bao giờ là Phước Hoàng. Tôi cũng đã khẳng định kiểu viết theo thứ tự ngày-tháng-năm của Việt Nam sẽ thống trị thế giới tiếng Anh, và đơn vị đo lường mét mà Việt Nam đang sử dụng sẽ lấn lướt các đơn vị đo lường hệ khác của Mỹ. Thực tế đã chứng minh tôi hoàn toàn đúng khi Microsoft sản xuất các phần mềm Window đều có các tùy chọn về ngày-tháng-năm thay vì mặc định cổ điển tháng-ngày-dấu phẩy-năm, còn tất cả các đại học lớn như ở Úc đều có đơn xin nhập học chừa các ô trống để ghi đúng theo thứ tự lần lượt trước sau là Họ-Chữ Lót-Tên thay vì mặc định cổ điển Tên-Chữ Lót-Họ.

Ngay cả nhân vật Việt Kiều Pháp tôi nhắc đến trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa khi in thiệp mời dự đám cưới cũng đã in tên mình là Phạm George cho đúng tinh thần tôn ti trật tự của văn hóa Việt luôn xem họ tộc là quan trọng nhất đối với dòng dõi thế gia vọng tộc của mình, còn khi ở Pháp giấy tờ có mang tên George Pham thì lại là việc khác.

Trừ phi những mặc định tự động của hạ tầng một trang mạng khi ghi nhận sự điền vào của Họ, Chữ Lót, và Tên rồi tự động cho ra tên chủ nhân tài khoản là Phươc Huu Hoang thì tôi buộc phải chấp nhận, tôi khi chủ động được sẽ luôn là Hoang Huu Phuoc hoạc hhphuoc. Một đặc điểm trầm kha của giới công nghệ thông tin (gọi tắt là IT) là rất yếu kém về ngôn ngữ con người nhất là không nắm vững các biến thiên của tên gọi của người Việt, và không có khả năng lường trước các xung đột nếu có các mặc định phi-Việt. Khi tôi làm việc cho một công ty đa quốc gia, lúc thấy IT tự động cấp cho tôi một địa chỉ email mang tên phuoc_hoang, tôi đã bảo mấy em lãnh đạo IT rằng cách đặt tên theo kiểu tiếng Anh như thế sẽ gây nhiều rắc rối khiến hủy phá toàn bộ chương trình hạ tầng đã thiết lập tự động, vì sẽ ra sao nếu ngoài Hoàng Hữu Phước còn có thể sẽ có Hoàng Văn Phước, Hoàng Đại Phước. Các em lãnh đạo IT đã trả lời rằng tại bị vì bởi đã không hề nghĩ sâu đến như thế khi viết phần mềm quản trị tự động cho hệ thống email. Sau đó tôi gởi một email loại bảo mật cho một nhân viên tên Nguyễn Kiều Trang tức gởi cho trang_nguyen, và hôm sau tôi nhận email của trang_nguyen cho hay Cô là một chuyên viên của tổng hành dinh ở Canada và không hiểu tôi muốn nói gì, nhưng đã một cách chuyên nghiệp xóa ngay email của tôi nên tôi hãy yên tâm. Nghĩa là IT ở Việt Nam sau đó phải cho cô Nguyễn Kiều Trang ở Việt Nam địa chỉ email “không giống ai” là nguyen_kieu_trang. Tương tự, IT ở Quốc Hội Việt Nam cũng yếu kém tương tự nên đã cấp địa chỉ email trên nền mặc định của công thức Tên Viết Nguyên_Họ Và Chữ Lót Viết Tắt nên địa chỉ email của Chủ tịch Nước tại Quốc Hội là sangtt, còn của tôi là phuochh, v.v. Rồi sự “trật rơ” như tôi đã cảnh báo xảy ra khi tôi gởi một email loại tối mật cực kỳ nhạy cảm có liên quan đến một tổng lãnh sự quán của một siêu cường cho Nghị sĩ Võ Thị Dung theo địa chỉ mặc định dungvt. Sau đó tôi mới biết email của tôi không đến nghị sĩ Võ Thị Dung vì dungvt là email của một cán bộ nào đó tên Vũ Tiến Dũng hay Võ Trí Dũng, và nghị sĩ Võ Thị Dung tự dưng được cấp một địa chỉ email “không giống ai” là vothidung. Vì vậy, tôi luôn cho rằng tôi hoàn toàn đúng khi nói IT nên đặt địa chỉ email của người Việt theo đúng thứ tự tên của họ trong chứng minh nhân dân. Chưa kể, sẽ ra sao nếu Trương Thị Ngọc Trân bị biến thành tran_truong rất dễ thành chủ đề cho sự cười nhạo của đồng nghiệp? Hoặc IT cấp địa chỉ email truongthingoctran hoặc “đàm phán” với Cô Trân này để cho ra địa chỉ ngắn hơn, tránh các sự cố cười cợt của đồng nghiệp như ttngoctran hay ttntran chẳng hạn. Khi tôi có toàn quyền tại công ty của tôi, tất cả các địa chỉ email của toàn bộ nhân sự của tôi đều mang đúng tên của họ theo chứng minh nhân dân, nên tôi là hoanghuuphuoc, viết dính liền, vì tôi xem kiểu hoang_huu_phuoc là kiểu chẳng ra chi, hoàn toàn thấp kém.

Nếu bạn nghĩ rằng sau này bạn có thể là một celebrity đình đám trên thế giới của ngành công nghiệp giải trí, bạn nên nghe lời khuyên của tôi để hoặc đừng hoán đổi vị trí tên của bạn hoặc cứ lấy một nghệ danh thuần Anh. Tôi chọn cho tôi bút hiệu Tannhauser Beowulf Thor cho các sáng tác thơ ca bằng tiếng Anh, nhưng tôi không bao giờ là Thor Hoàng hay Beowulf Hoàng.

Tôi phải là Hoàng Hữu Phước vì tôi biết rất rõ một điều rằng người Âu Mỹ không bao giờ tự động đổi vị trí tên của người Việt để tỏ lòng tôn kính người Việt. Và nếu họ gọi tôi là Phước Hoàng thì chẳng qua tại tôi ắt trong phút giây nào đó do ngu muội và trẻ con ắt đã tự gọi mình như thế, không chút lòng tự trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông

Nhí Tồi Tự Sướng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Một sự việc trước đây tôi đã nêu ra có liên quan đến bản tham luận của tôi tại Hội Nghị Quốc Gia về Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt, khi một gã tiến sĩ đang giảng dạy tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh đăng đàn kích bác tôi xúc phạm tiếng Việt trong khi y có bản tham luận không được chọn đăng trong kỷ yếu hội nghị cũng như không được mời lên thuyết trình về đề tài của y. Gã tiến sĩ đó tuyệt đối dốt ngoại ngữ nên không sao hiểu nổi dù tôi đề xuất chi li – và được Ban Tổ Chức hiểu, đánh giá cao, qua việc chọn đăng vào kỷ yếu – nên có sự làm cho tương thích giữa văn phạm tiếng Việt và văn phạm tiếng Anh nhằm giúp người Việt học tiếng Anh đẳng cấp cao hơn và chính xác hơn, đồng thời giúp người nước ngoài học tiếng Việt dễ hơn khiến tiếng Việt lan tỏa toàn thế giới. Tất nhiên với tư cách bậc trưởng thượng từ lúc mới lòng mẹ đến nay, tôi sau đó không đăng đàn phân bua làm chi như đàn gảy tai trâu mà phát biểu phản bác cái kiến nghị của y về việc nên đưa vào dạy tiếng Hoa từ cấp tiểu học trên toàn quốc, và tôi đã xổ nhiều câu đối Hán-Việt trong đó có những câu chẳng hạn như Thị Tại Môn Tiền Náo, Nguyệt Lai Môn Hạ Nhàn, hoặc sử liệu về Rút Ruột Vương Tam Phân Thiên Hạ, Chặt Đầu Tây Tứ Hải Thái Bình đủ để làm cả hội trường ngạc nhiên thích thú và thuyết phục về sự thật rằng tôi là một thạc sĩ kinh doanh quốc tế không thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học Tiếng Việt nhưng đã nắm vững cái ngành của gã tiến sĩ đó hơn là gã biết gì đó về lĩnh vực ngôn ngữ Anh của tôi, chứng minh cho cả hội trường thấy rằng qua tôi thật sự văn hóa Hán-Việt được thưởng lãm trong kho tàng văn học Việt Nam, nhưng không vì vậy mà đề xuất Nhà Nước đầu tư số tiền khổng lồ đào tạo giáo viên tiếng Hoa rồi áp đặt vào chương trình giáo dục tiểu học, loại bỏ tiếng Anh tiếng Pháp. Tiến sĩ chuyên ngành ngôn ngữ Việt mà còn có trình độ thấp kém như thế thì bảo sao ở Việt Nam cách chi không có vấn nạn ngôn từ trong giới truyền thông.

Trong các ngôn ngữ Âu Mỹ đang thống trị toàn cầu về học thuật hàn lâm thì luôn có nhiều loại từ được phân hạng trong tự điển của họ như hạng trang trọng, hạng bình dân, hạng cổ xưa, hạng văn nói, hạng thơ ca, hạng tiếng lóng, hạng tiếng bẩn, v.v. Đây là lý do có sự sử dụng thích hợp các hạng từ cho những ấn phẩm báo nói báo viết báo hình: chỉ có từ ngữ hạng trang trọng formal được sử dụng, còn phong cách thì thuộc thể loại báo chí nghĩa là phải đáp ứng cho đủ lượng chữ được hạn chế bởi số cột số trang. Trong khi đó, Việt Nam tại bị vì bởi chiến tranh nên đã hoàn toàn bỏ phế chuyên ngành văn phạm học tiếng Việt, bỏ mất dấu gạch nối đặc thù của tiếng Việt, bỏ luôn các phân hạng từ trong từ vựng tiếng Việt, dẫn đến việc sử dụng từ vô tội vạ, hoàn toàn sai, hoàn toàn bậy bạ trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng. Người ta vô tư phát những bản tin về những nghệ sĩ nhí, về sự lựa chọn không tồi khi một Đảng ở Mỹ đề nghị ứng cử viên tổng thống, về sự găm hàng, về đi phượt, về ngáo đá, về bật mí, về y xì, về gậy tự sướng, và về vô thiên lủng thứ, cứ như thể tất cả những từ lóng và hạ cấp đó đương nhiên là từ chính quy không cần sự sàng lọc của thời gian và của giới học thuật hàn lâm về ngôn ngữ để được phép sử dụng đại trà trong văn chính quy chính thức. Thậm chí có tờ báo còn đăng ý kiến của nhà học thật nào đó rằng nên bổ sung ngay các từ mới xuất hiện trong xã hội vào từ điển tiếng Việt, chẳng khác nào một anh đi thu gom rác y tế ở phường đề nghị cách vi phẫu thuật thần kinh vậy. Đọc những bài báo, xem những game show hay nghe những bản tin tức thời sự chính thống, học sinh Việt Nam sẽ tự nhiên xem bản thân mình cũng có quyền dùng các từ lóng đó trong bài luận văn của mình tại lớp, trong thư từ gởi ông bà cha mẹ, và trong đối thoại với nhau hoặc đối đáp với Chủ Tịch Nước. Đây là thảm họa.

Không ai nhận thức được rằng nghệ sĩ thiếu niên nhi đồng mới là từ được phép sử dụng chính quy trong học tập và truyền thông.

Không ai nhận thức được rằng quyết định của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp kéo pháo ra khỏi trận địa Điện Biên Phủ là một quyết định không tồi là nội dung chỉ được viết nên hay phát biểu bởi kẻ mất dạy.

Tương tự, chỉ cần những người công tác biên tập của các tòa soạn báo Việt Nam đọc báo chí đẳng cấp cao bằng tiếng Anh của giới tài phiệt truyền thông Âu Mỹ đang thống trị toàn thế giới là có thể nhận ra ngay rằng không bao giờ nhà báo của họ dùng những tiếng lóng kiểu như phượt, găm hàng, ngáo đá, bật mí, v.v. trong toàn bộ các bài viết dày cộm dồi dào tràn ngập trong báo và tạp chí tuyệt đẹp tuyệt mỹ tuyệt vời của họ như Time hay Newsweek.

Là tiến sĩ giảng dạy đại học mà dốt ngoại ngữ, hoặc học ngoại ngữ không đến nơi đến chốn cho tương xứng với trình độ tiến sĩ luôn đòi hỏi sự dày công nghiên cứu thường xuyên tư liệu tiếng nước ngoài, thì rõ là văn bằng tiến sĩ ắt do nhờ người khác thi hộ hoặc do Nhà Nước phát ban mới có.

Là nhà biên tập của giới truyền thông chính quy mà không biết có sự khác nhau giữa các hạng từ, không biết sử dụng hạng từ duy nhất thích hợp cho báo chí thời đại toàn cầu hóa nghĩa là phải vươn lên ngang tầm với người ta về đẳng cấp dùng từ, thì chẳng khác nào biến báo hình ngang đẳng cấp tiết mục tấu hài, biến báo chữ ngang đẳng cấp tờ rơi quảng cáo khu nhà thổ, biến báo mạng ngang đẳng cấp trang web khiêu dâm.

Hãy học ngoại ngữ Âu Mỹ rồi đem áp vào cách hành văn tiếng Việt cho chính xác tương hợp, vì rằng khi một vị lãnh đạo Việt đọc diễn văn rằng “Là tương lai của đất nước, tôi cho rằng thanh niên nên…” thì theo văn phạm Âu Mỹ, cụm từ “là tương lai của đất nước” chỉ bổ nghĩa cho chữ “tôi”, khiến câu nói tiếng Việt như thế sẽ biến thành câu tiếng Anh mang nghĩa khôi hài rằng “chính tôi là tương lai đất nước và chính tôi cho rằng…”; vì vậy nhất thiết phải viết lại câu phát biểu ấy thành “tôi cho rằng: là tương lai đất nước, thanh niên nên…” mới có sự chính xác tương hợp giữa văn phạm tiếng Việt và tiếng Anh. Khi áp văn phạm Âu Mỹ vào tiếng Việt để cho ra các khai niệm tương hợp về mệnh đề chính và mệnh đề phụ, truyền thông sẽ không còn đưa tin như “mặc dù đã…, tuy nhiên….” hoặc “dù…, nhưng…” mà người nước ngoài học tiếng Việt sẽ không tài nào hiểu được vì câu ấy có hai mệnh đề phụ hoặc một phụ một độc lập, không có mệnh đề chính, mà đã là phụ thì chúng bổ nghĩa cho cái gì, hoặc đã là độc lập thì chúng càng không nhận sự bổ nghĩa của cái gì, vì lẽ ra một khi đã dùng “mặc dù” thì mệnh đề theo sau trở thành mệnh đề chính nên không được phép tùy tiện có chữ “tuy nhiên” của mệnh đề độc lập, còn khi đã dùng “dù” bắt đầu một mệnh đề phụ thì “nhưng” lại bắt đầu một mệnh đề độc lập khiến tất cả trở thành những thứ rất tồi tệ về văn phạm mà tiếng Anh gọi là dangling modifiers tức những thứ lòng thòng lửng lơ chẳng dính đâu vào đâu cả.

Bảo vệ sự trong sáng kiểu gì mà thay cụm từ Hán-Việt đầy uy lực sử dụng công lộ thành cụm từ đầy sơ hở tham gia giao thông khiến tình trạng xe cộ chạy loạn xạ làm nhục quốc thể như hiện nay.

Bảo vệ sự trong sáng kiểu gì mà thay cụm từ Hán-Việt đầy hấp dẫn cao đẳng kỹ thuật cung cấp cho đời biết bao cán sự kỹ thuật tài ba bằng cụm từ cháo pha cơm cao đẳng nghề thấp kém khiến xã hội luôn thiếu những người mà sự bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt dìm xuống thành thợ.

Và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt kiểu gì mà thay thế từ thuần Việt đĩ  và từ Hán-Việt mại dâm vốn bao đời giúp đĩ cứ tự do hành nghề nhưng trong tư thế luôn cúi gầm mặt trong xã hội thành từ thuần Việt trang trọng trân trọng đầy tôn kính tôn vinh gái bán hoa khiến đĩ trở nên vinh diệu vác mặt lên trời đầy kiêu hãnh, trở thành phong cách sống của các nữ celebrity, thậm chí được các nhà sử học tự phong và các vị thạc sĩ tiến sĩ trên trời rơi xuống chụp lấy như đề tài quý báu để dồn trí tuệ tâm huyết lên báo chí kiến nghị lập khu nhạy cảm, nhằm biến mại dâm nữ thành một nghề chính thức chính quy cần phát triển nhân rộng trong cả nước, kể cả bên cạnh đền thờ Bà Triệu, Bà Trưng.

Hãy dừng ngay cái sự nhí phượt ngáo tồi hạ đẳng ấy rồi bắt đầu đi học ngoại ngữ Âu Mỹ để nhà biên tập báo chí không còn vô tình viết nên những cấu trúc lòng thòng hạ cấp để thực sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đúng theo tinh thần tinh hoa cao trọng nhất của ngôn từ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan tuyên giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam thực sự mong muốn ước muốn hằng muốn song nhiều chục năm nay chẳng mấy ai hiểu thấu hiểu rõ mà chỉ có hiểu lầm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước: Tham Luận: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Hoàng Hữu Phước: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Hoàng Hữu Phước: Tham luận: Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Đại Học

University vs College

Hoàng Hữu Phước, MIB

Daihoc

Việt Nam hiện có quá nhiều trường đại học mang tên tiếng Anh có chữ university. Đại học tất nhiên có rất nhiều tiến sĩ và thạc sĩ, nhưng rõ ràng là tất cả các vị này dù có thực sự đi học ở nước ngoài – nhất là các nước Âu Mỹ – vẫn không biết hoặc cố tình không biết thế nào là university. Trong khi đó, các giáo viên Anh Văn hiện nay là sinh viên của tôi cách nay 30 năm vẫn nhớ sự bực tức của tôi trước sự yếu kém của những lãnh đạo ngành giáo dục trong sử dụng university một cách tùy tiện. Còn một nhà giáo thạc sĩ Việt Kiều than với tôi rằng ở Việt Nam làm lơ trước hồ sơ của anh vì cho rằng anh tốt nghiệp cao đẳng do các văn bằng của anh có những tờ ghi rõ ràng chữ college chứ không phải university.

Phân Tích University So Với Đại Học Ở Việt Nam

Tại Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có vài ba đại học university chẳng hạn như ở Sài Gòn chỉ có một university duy nhất là Viện Đại Học Sài Gòn Saigon University hay University of Saigon.

Tại Việt Nam Cộng Hòa có rất nhiều đại học faculty chẳng hạn như ở Sài Gòn có Đại Học Văn Khoa (Faculty of Letters), Đại Học Y Khoa, Đại Học Luật Khoa, Đại Học Bách Khoa, Đại Học Sư Phạm, v.v., tất cả đều dùng chữ faculty trong tên trường đại học bằng tiếng Anh của họ.

University không là nơi giảng dạy bất kỳ môn gì mà chỉ là nơi quản lý, tổ chức các trường đại học chuyên ngành gọi là đại học college (hay đại học faculty thời Việt Nam Cộng Hòa) do đó được gọi là Viện Đại Học.

University quản lý nhiều trường đại học chuyên ngành “đa ngành”. Thử tham khảo đại kháisơ lược về các trường đại học chuyên ngành mà chỉ một New York University của Mỹ thôi đã tổ chức, quản lý, cho đại khái và sơ lược chỉ mới 5 chuyên ngành như (a) Khoa học – Công nghệ – Kỹ thuật – Toán học – Nghiên cứu khoa học công nghệ, (b) Khoa học xã hội & nhân văn, (c) Giáo dục – Y tế, (d) Kinh doanh, và (e) Nghệ thuật – truyền thông, chúng ta đã thấy đại khái và sơ lược các ghi chú đại khái và sơ lược về các văn bằng từ cử nhân trở lên cho các ngành sau:

– Khoa học (21 chuyên ngành, từ Vật lý ứng dụng, Thiên văn học, Sinh hóa, Sinh vật, Vi sinh, Cổ sinh vật học, Hóa học, Môi trường, Di truyền, Ngôn ngữ, Thần kinh, Tâm lý, v.v.), Công nghệ (8 chuyên ngành, có cả Công nghệ thông tin, Nghệ thuật và thiết kế kỹ thuật số, công nghệ âm nhạc, v.v.), Kỹ thuật (13 chuyên ngành, như Kỹ thuật sinh hóa, Kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật vi tính, Kỹ thuật điện, Kỹ thuật cơ khí, Quản lý xây dựng, v.v.), Toán học (5 chuyên ngành, gồm Toán cao cấp, Toán tin, Thống kê, v.v.), và Nghiên Cứu Khoa Học-Công Nghệ (6 chuyên ngành, như Giáo dục Sinh-Hóa-Địa cầu-Vật lý, Lịch sử khoa học, Môi trường đô thị, Khoa học và xã hội, v.v.)

– Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, với Nhân văn (có 56 chuyên ngành, trong đó có Cổ đại, Văn minh cổ đại, Phi châu học, Lịch sử nghệ thuật, Điện ảnh, Văn chương, Văn chương Anh Mỹ, Nghiên cứu giáo dục, Pháp ngữ, Ngôn ngữ học Pháp, Ngôn ngữ học Đức, Ngôn ngữ học Ý, Giới tính, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Hồi giáo, Văn hóa – truyền thông, Viết văn, Đô thị, Bảo tàng – di sản văn hóa, Tôn giáo, Ngữ học Nga, v.v.,), và Khoa học xã hội (có 24 chuyên ngành, trong đó có Cổ sinh, Ngôn ngữ – cổ sinh, Tâm lý ứng dụng, Kinh tế, Giáo dục, Môi trường, Quan hệ quốc tế, Lịch sử, Luật, Chính trị, Chính sách công – chính sách xã hội, v.v.)

– Giáo dục & Y Tế, với Giáo dục (có 15 chuyên ngành, như Phát triển tâm lý thiếu niên – nhi đồng, Giáo dục đô thị, Giáo dục âm nhạc, Công tác xã hội, v.v,), và Y Tế (có 24 chuyên ngành, như Tâm lý ứng dụng, Sức khỏe tâm thần thiếu niên nhi đồng, Vệ sinh răng miệng, Nha khoa, Điều dưỡng, Dinh dưỡng – thực phẩm, Y tế công toàn cầu, v.v.)

– Kinh doanh (có 27 chuyên ngành, từ Kế toán, Định phí bảo hiểm, Kinh doanh & tài chính, Kinh doanh & kinh tế chính trị, Giải trí – truyền thông – công nghệ, Kinh doanh ngành giải trí – truyền thông – công nghệ, Quản trị công nghệ kinh doanh, Khởi nghiệp kinh doanh, Thời trang, Kinh doanh toàn cầu, Quàn trị khách sạn – du lịch, đến Marketing, Quản trị và tổ chức, Hệ thống thông tin, Kinh doanh âm nhạc, Địa ốc, Quản trị thể thao, v.v.)

– Nghệ thuật & Truyền thông, gồm Nghệ thuật (có 6 chuyên ngành, như Lịch sử nghệ thuật, Nghệ thuật hình ảnh, Nhiếp ảnh, v.v.), Kinh doanh nghệ thuật (có 3 chuyên ngành trong đó có Sản Xuất, v.v.), Khiêu vũ (2 chuyên ngành), Thiết kế – Kiến trúc – Quy hoạch đô thị (có 4 chuyên ngành), Nghệ thuật kỹ thuật số (có 6 chuyên ngành, trong đó có Thiết kế game), Kịch nghệ (có 6 chuyên ngành, trong đó có Sáng tác kịch bản, Văn học kịch nghệ, v.v.), Điện ảnh (có 3 chuyên ngành, trong đó có Phim ảnh và truyền hình, v.v.), Âm nhạc (có 8 chuyên ngành, từ Công nghệ âm nhạc, Đàn piano, đến Thanh nhạc và Dạy nhạc, v.v.), Viết (có 5 chuyên ngành, như Viết sáng tạo, Viết kịch, Viết truyền thông, v.v.), Truyền thông (có 17 chuyên ngành, từ Điện ảnh và truyền thông mới, đến Nghệ thuật truyền thông tương tác, Nghệ thuật studio, v.v.)

Chưa kể New York University còn chưa cho là bao nhiêu ngồn ngộn chuyên ngành trên đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập nghiên cứu của người dân nên còn lập ra trường đại học mang tên Galatin School of Invidualized Study để cung cấp các chương trình học theo những “môn học” mà cá nhân người học quan tâm nghiên cứu lấy văn bằng đại học và cao hơn nhưng xã hội chưa từng có nơi nào sẵn có để cung ứng như: giáo dục trong nhà tù, dân chủ đô thị, viết văn phong cách riêng, v.v. Tất cả cho thấy mới đại khái và sơ lược như trên về một đại học university thực thụ đã đủ chứng minh thế nào là một university đúng nghĩa: có nhiều trường đại học trực thuộc và bao trùm nhiều ngành khác nhau thuộc những lĩnh vực hoàn toàn khác nhau như kỹ thuật, công nghệ, vật lý, văn chương, âm nhạc, v.v.

Trở lại vấn đề chính sau khi nêu các đại khái và sơ lược trên, Việt Nam Cộng Hòa chọn chữ Faculty là do ảnh hưởng dài lâu của Pháp, trong khi tiếng Anh gọi đại học chuyên ngànhcollege. Thậm chí, đại học chuyên ngành sâu hơn của một đại học chuyên ngành college nhưng hoạt động có tầm cỡ danh tiếng y như college và độc lập trong quản lý cũng như chuyên môn, dù trực thuộc college theo chuyên ngành rộng, còn được gọi là department tức đại học chuyên ngành sâu hơn (người Việt dịch theo tự điển thành phân khoa hay ban là do tầm cỡ đại học Việt Nam quá bé nhỏ). Như vậy university (tức viện đại học) tổ chức và quản lý nhiều đại học chuyên ngành (tức college) của những lĩnh vực khác nhau. Chỉ ở university vĩ đại tầm cở hàng đầu thế giới như Oxford University hay Cambridge University của Anh Quốc không những có các đại học chuyên ngành college mà còn có luôn các đại học chuyên sâu lừng danh thế giới gọi là department hay hall, nghĩa là danh mục các trường đại học của đại học Cambridge chẳng hạn sẽ mang tên gọi college, department, và hall. Hiện Oxford University tổ chức và quản lý 43 trường đại học chuyên ngành trong đó có 36 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh college, 4 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh hall, 1 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh house, và 2 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ chớ chịu mang danh nào cả vì chỉ cần cái tên riêng của mình thôi là thế giới hàn lâm – trừ Việt Nam – phải tự động biết đến. Tương tự, Cambridge University tổ chức và quản lý 31 trường đại học chuyên ngành trong đó có 27 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh college, 3 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh hall, và 1 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ chớ chịu mang danh nào cả vì chỉ cần cái tên riêng của mình đã có từ năm 1284 thôi là thế giới hàn lâm – trừ Việt Nam – phải tự động biết đến.

Ở Việt Nam, Đại Học Bách Khoa dù tên mang nghĩa 100 khoa, và dù có hàng trăm ngành đi nữa thì chúng cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là kỹ thuật – công nghệ nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tức tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, Đại Học Sư Phạm dù có hàng trăm ngành đi nữa thì cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là đào tạo giáo viên trung học nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, Đại Học Y Dược dù có hàng trăm ngành đi nữa thì cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là đào tạo chuyên lĩnh vực chữa bệnh y tế y học y khoa nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, tất cả các trường đại học đang tồn tại với chữ university trên bảng tên tiếng Anh của họ đều lại vừa (a) đang thực hiện giảng dạy vốn là việc chỉ của đại học chuyên ngành college/department/hall, vừa (b) không đang quản lý bất kỳ đại học chuyên ngành nào, mà chỉ có tổ chức các phân khoa department, nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Cách nay 30 năm tôi đã dạy sinh viên rằng nếu các em nghe ai đó nói rằng anh ta/chị ta đang học ở Oxford University hay Cambridge University thì chắc chắn 1000% (một ngàn phần trăm) là anh ta/chị ta đang “nổ dóc” vì hai university ấy đâu có dạy gì đâu mà học, hoặc anh ta/chị ta thực sự đang học tại một trường dại học chuyên ngành college nào đó của Oxford University hay Cambridge University nhưng do cái tên của đại học chuyên ngành ấy vừa không có chữ Oxford hay Cambridge hoành tráng lại vừa có chữ college cấp thấp do Việt Nam gọi là cao đẳng có thể làm hạ cái phẩm giá du học cao sang của anh ta/chị ta, hoặc anh ta/chị ta học một ngành chẳng ai ở Việt Nam thèm học mà cũng có thể là đặc thù thuộc hạng…an ninh quốc phòng siêu bí mật quốc gia nên phải dấu biệt đi dưới tên gọi chung chung của Oxford University hay Cambridge University.

Hệ Quả University

Cái sai của các quan chức ngành giáo dục đại học hoặc chức sắc quản lý trường đại học ở Việt Nam là đã vì không biết tiếng Anh hoặc không học tiếng Anh đến nơi đến chốn, hoặc chưa từng đi học ở trường nước ngoài tầm cỡ quốc tế, hoặc chưa từng nghiên cứu tìm hiểu, hoặc chưa từng lắng nghe góp ý của người thực sự có hiểu biết, nên không hiểu rõ ý nghĩa của university, của college, của hệ thống tổ chức và quản lý university. Họ thậm chí không biết đến một sự thật là tính ngạo mạn là đức tính cao vời vợi luôn có ở đẳng cấp hàn lâm cao nhất, và chính tính ngạo mạn này đã hình thành trong tên gọi của trường đại học luật danh tiếng nhất thế giới Yale Law School của Mỹ, nơi đã không dùng university trong tên trường vì họ muốn khẳng định sự ngạo nghễ không thèm ôm đồm thêm bất kỳ lĩnh vực ngoại lai nào không phải là luật, và không dùng college trong tên trường vì họ muốn khẳng định sự ngạo nghể rằng họ không trực thuộc bất kỳ một university nào trên trái đất này cả. Đối với Yale, School mang nghĩa một dấu ấn trường đại học chuyên ngành bậc nhất hành tinh, ban phát bằng cấp thạc sĩ và tiến sĩ luật giá trị nhất thiên hà, và là nơi cung cấp cho Mỹ các vị tổng thống và các quan chánh án tòa án tối cao cũng như các giáo sư luật lừng danh hoàn vũ. Còn ở Việt Nam, university là lớn nhất, school chỉ là trường tiểu học hay trung học thấp lè tè.

Khi tiếp quản cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa sau ngày giải phóng 30-4-1975, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy trường Đại Học Sư Phạm Faculty of Pedagogy có hai bộ phận là Đại Học Sư Phạm Đệ Nhất Cấp và Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp (cái thì đào tạo giáo sư dạy trung học cấp 2 và cái thì đào tạo giáo sư dạy trung học cấp 3) nên chuyển bộ phận “cấp 2” băng qua bên kia đường tiếp quản cơ sở vật chất trường trung học Thiên Phước của người Hoa, biến bộ phận “cấp 3” ở lại thành Đại Học Sư Phạm University of Pedagogy và bộ phận qua Thiên Phước thành Cao Đẳng Sư Phạm Teachers Training College. Chính quyền đã đúng vì Pedagogy hoàn toàn sai do chỉ liên quan đến một môn họcsư phạm học, hoàn toàn không mang ý nghĩa đào tạo giáo viên vốn là ý nghĩa thực thụ của trường sư phạm trong tiếng Việt, nên teachers training (hoặc teacher’s training hoặc teacher training) theo kiểu tiếng Anh của người Mỹ là hoàn toàn chính xác để gọi Đại Học Sư Phạm. Tuy nhiên, chính quyền đã sai khi vừa duy trì từ Pedagogy cho bộ phận đại học “cấp 3” ở lại cũng như cho nó giữ nguyên tên “đại học” và cho dùng từ university, còn gọi bộ phận đại học “cấp 2” đã được chuyển đi là cao đẳng và dùng tiếng Anh college cho trường mới này, trong khi chữ college không có ý nghĩa cấp học thấp hơn đại học, và từ ngữ cao đẳng thời Việt Nam Cộng Hòa thường được dùng cho hệ thống trường kỹ thuật hay mỹ thuật mà thôi. Sự việc này đã hủy phá toàn bộ những nỗ lực đầu tư cho giáo dục ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì lý do sau:

– Trong khi ở Việt Nam Cộng Hòa học sinh thi vào Đại Học Sư Phạm chọn đệ nhất cấp hay đệ nhị cấp học trong 3 năm hay 4 năm đơn thuần chỉ vì hoàn cảnh hoặc sở thích có muốn mau chóng tốt nghiệp hay không để sớm có việc làm nuôi gia đình, chứ mọi người dù học hệ 3 năm hay 4 năm đều là cử nhân như nhau, lương bổng như nhau (thu nhập của giáo sư dạy cấp 3 sẽ cao hơn nhờ cấp 3 sẽ có thi tú tài, tạo điều kiện dạy luyện thi thêm ở các trường khác hay trung tâm khác), và ai cũng chăm chỉ công tác khác nhau trong phạm vi được đào tạo khác nhau của mình; thì ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam người theo học cao đẳng có mặc cảm tự ti, xem mình đẳng cấp cao tức cao đẳng mà hóa ra lại thấp kém so với đại học, nên đa số cố gắng về sau học thêm bổ túc để thăng hạng đại học, không phải vì lý tưởng vươn lên trong tri thức mà chỉ để nhanh chóng bỏ trường bỏ lớp đang dạy để sang trường trung học cấp 3 có danh hơn và có lương cao hơn, khiến đội ngũ ở lại của cấp 2 không thể có chất lượng giảng dạy tốt hơn do sự đổ xô ra đi ấy, khiến trường cấp 2 chỉ còn lại toàn sinh viên mới tốt nghiệp có năng lực chưa vững, chưa có nhiều kinh nghiệm, và khiến học sinh cấp 2 khó thể giỏi thật sự về học vấn đáp ứng yêu cầu của cấp 3, làm chất lượng học tuột dốc theo thời gian theo hiệu ứng domino.

– Cũng vì cái tên cao đẳng college mà học sinh trung học đổ xô thi vào đại học university khiến gây cơn khủng hoảng triền miên trong vất vả tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo Dục cũng như khiến ý nghĩa đại học chuyên ngành của college hoàn toàn biến mất, khiến ở Việt Nam cụm từ cao đẳng sư phạm tự nhiên mang nghĩa cấp dưới của và cấp thấp hơn đại học sư phạm.

– Một khi chữ college của hệ thống trường kỹ thuật bị tước đoạt để làm tiếng Anh cho từ cao đẳng, trường kỹ thuật bị đổi ngay thành Trường Cao Đẳng Nghề dường như để khẳng định (a) học chữ quan trọng hơn học kỹ thuật qua việc cao đẳng nghề tất nhiên là sự phân biệt đối xử để có khoảng cách với cao đẳng chữ dù cả hai cao này đều thấp, và (b) chuyện giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là chuyện dành riêng cho những gì thấp kém nên những từ Hán-Việt tiếp tục duy trì cho cấp cao còn chữ thuần Việt như Nghề thì quẳng cho kỹ thuật tầm tầm bậc trung, và chính những quan chức Giáo Dục của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tạo ra ThầyThợ cũng như sự nghiêng lệch trong trọng vọng về phía Thầy trong cách nghĩ của học sinh và phụ huynh học sinh, cùng sự sụp đổ của nguồn cung ứng nhân lực cho kế sách quốc gia của hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Trường Kỹ Thuật Cao Thắng và trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ của Sài Gòn trước 1975 là nơi học kỹ thuật đầy vinh dự tấp nập học sinh nào tự hào có năng khiếu cao về kỹ thuật mới được theo học sau những kỳ thi tuyển cực kỳ khó khăn. Trường Nghề XTrường Cao Đẳng Nghề Y nào đó của Thành phố Hồ Chí Minh, trái lại, chỉ là nơi mà học sinh vì nghèo vì yếu nên phải theo học không có chút tự hào vì được gom vào để học không qua thi tuyển, còn bản thân trường cũng không chút vinh dự với sự ế muộn vắng vẻ của nó. Trong một thư gởi Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục nhiều năm trước, tôi đã kiến nghị trong vô vọng về việc sửa đổi cách gọi tên trường Nghề cũng như các vấn đề đại học đã giải bày ở trên. Cụm từ “thừa thầy thiếu thợ” là do chính các quan chức Việt Nam chế ra, mặc nhiên xếp thợ ở hàng thấp kém, và mặc nhiên xếp bất kỳ ai không phải là thợ đều là thầy, trong khi cách gọi thầy như vậy là sai, vừa mang tính rơi rớt của thời Pháp thuộc, vừa biến anh thợ đại học (tức tốt nghiệp kỹ thuật ở Đại học Bách Khoa) thành thầy vừa biến anh thợ cao đẳng nghề thành thợ, nói chi đến anh thợ trung cấp nghề chắc ở vị trí thợ hạng hai như công dân hạng hai vậy.

Biến Thiên Ngôn Từ

Người Việt thật ra đã có quyền năng ghê gớm trong thay đổi và hạ thấp ý nghĩa ngôn từ tiếng Anh.

Từ những năm 1990 của thế kỷ trước, mỗi khi mua thuốc tại bất kỳ nhà thuốc tây nào, tôi đều xem kỹ tên nhà sản xuất, rồi từ chối mua tất cả các sản phẩm của “viện bào chế” như Calipharco hay Ampharco,v.v., và giải thích với người bán là tôi không mua thuốc của mấy công ty dược của Việt Kiều. Trước đó, do công ty nước ngoài của tôi cung cấp bulk drug (thuốc nguyên liệu như paracetamol trong thùng phuy để các công ty dược Việt Nam nhập về nén viên đóng vỉ) và thuốc thành phẩm cho thị trường Việt Nam thời cấm vận, vài công ty Việt Kiều Mỹ đã kiếm tôi, bàn chuyện sản xuất thuốc viên tại Ấn Độ, in bao bì tại Ấn Độ ghi dòng chữ Made in USA và lá cờ Mỹ, rồi tôi nhập về Việt Nam tha hồ kiếm lời. Tất nhiên tôi từ chối, và đem kinh nghiệm này để cảnh báo người thân về thuốc của Việt Kiều Mỹ. Cách nhận diện rất dễ: chỉ cần nhìn tên nhà sản xuất, vì chỉ có người Việt mới “nổ” bằng cách đặt tên mang danh tiểu bang Mỹ và dán lá cờ Mỹ, theo kiểu Calipharco là chữ viết tắt rất dễ hiểu của công ty dược (pharmaceutical company) của tiểu bang California, còn Ampharco là công ty dược của America Mỹ, mà mọi người Việt ở nước Việt hay nước khác đều áp dụng. Trong khi các công ty dược lừng danh của Âu Mỹ thì chẳng hề lấy tên của địa danh hay có chữ dược pharmaceutical và không bao giờ in lá cờ Mỹ lên sản phẩm thuốc của họ, thí dụ như “hãng” Kirkland hay Pfitzer của thuốc đa sinh tố Centrum lừng danh mà nhiều người Việt rất quen thuộc do thân nhân từ Mỹ gởi về. Tuy nhiên, sự lập lại hoài chữ Pharmaceutical của người Việt hải ngoại đã khiến gần như tất cả các công ty dược hạng nhỏ mới mở sau này ở Việt Nam và khu vực Á Châu đều dùng chữ PHARMA trong tên “hãng” của mình, khiến ngay cả thuốc Hàn Quốc nhập vào Việt Nam cũng do một phạc-ma nào đó của Hàn Quốc sản xuất, còn các lân bang trong ASEAN thì khỏi nói, cũng bị lây bịnh phạc-ma.

Phần phụ lục của từ điển Webster nặng chình chịch của Mỹ in khoảng năm 1960 cung cấp danh sách khoảng trăm đại học university và mấy chục ngàn đại học college. Nhưng từ khi người Việt xuất hiện nhiều ở Mỹ, và đặc biệt từ khi Việt Nam trở nên giàu có mà PhốBolsa TV của Mỹ khi phỏng vấn tôi đã nói kháy là “tư bản đỏ”, thì Mỹ và các nước Tây Âu phát hiện du học sinh giàu có của Việt Nam không chịu theo học các đại học lừng danh bất kỳ nếu các đại học này có chữ college. Muốn thì chiều, Mỹ và Tây Âu đột nhiên xuất hiện nhiều đại học university bé tí tẹo để giành giật học sinh Việt, từ đó hấp dẫn luôn học sinh các tiểu quốc giàu giống Việt Nam, khiến nhiều năm trước ở Việt Nam la làng tá hỏa tam tinh trên báo chí khi phát hiện một trường đại học university ở California đã lừa bịp biết bao du học sinh Việt Nam vì cái đại học university đó chỉ là một căn nhà trống trơn với hai cái bàn và ba chiếc ghế, không một bóng người bên trong, ngoài vài bóng người bên ngoài sau khi bay từ Việt Nam sang. Điều này cho thấy từ university ở Âu Mỹ đã mang thêm ý nghĩa của tự do kinh doanh: muốn mở university thì cứ mở, và university là bất kỳ cơ sở nào cho ra chương trình đào tạo không phải của trung học, còn văn bằng thì nếu muốn có giá trị phải đăng ký với cơ quan chức năng Mỹ, còn nếu không muốn do không thể đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt của cơ quan ấy thì cứ phát văn bằng cho sinh viên nước ngoài nào muốn có văn bằng Mỹ về làm vật trang sức hoặc dụng cụ thiên hạ.

Kết Luận

Như vậy, nếu dựa theo sự biến thiên kiểu degradation trong môn Lexicology tức hạ phẩm giá của ngôn từ, thì các trường đại học university ở Việt Nam vẫn có thể cứ yên tâm giữ ghịt lấy chữ university cho hấp dẫn học sinh trong nước.

Tuy nhiên, ắt du khách Âu Mỹ sẽ ngạc nhiên không hiểu vì sao ở Việt Nam có quá nhiều đại học quản lý mà chẳng có đại học giảng dạy.

Tất nhiên, ắt du khách Âu Mỹ sẽ ngạc nhiên không hiểu vì sao Thành phố Hồ Chí Minh có Đại học university Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn đồng thời có cả Đại học university Luật, vì lẽ ra Đại Học Luật phải trực thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn vì luật là một chuyên ngành riêng của khoa học xã hội & nhân văn, còn Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn phải trực thuộc Đại Học Sài Gòn vì đại học mang tên địa danh ở Âu Mỹ thường là ở cấp cao nhất về quản lý ở mỗi địa phương. Từ đó suy ra, Đại Học Sài Gòn ắt là university, Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn ắt là college, và Đại Học Luật ắt là department hay hall hay house. Nhưng điều ai cũng có thể thở phào nhẹ nhõm là: du khách chỉ lo đi ngoạn cảnh, ngắm người, chứ chẳng ai hơi đâu thắc mắc về sự kỳ lạ ở Việt Nam.

Đương nhiên, việc chẳng ai chịu học nghề, việc các university mà đa số nhỏ bé về tầm vóc tầm cỡ và uy thế cũng như cơ sở chẳng thể đào tạo nên những cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ thực sự có năng lực cao cho xã hội, cho đất nước, là chuyện riêng của Bộ Giáo Dục, miễn trường phải có chữ university để trên cơ sở đó thu nhận được nhiều người theo học, và cũng trên cơ sở đó mà tự do phong tước giáo sư cho phe nội bộ.

Tự nhiên cái sai thì hiển nhiên, mà việc sửa sai thì bất khả thi.

Nếu dị ứng với từ college do từ này đã bị Bộ Giáo Dục Việt Nam hạ phẩm giá, các trường có thể dùng từ khác, nhưng hãy vì lòng tự trọng hàn lâm mà bỏ chữ university, chẳng hạn Đại Học Bách Khoa có thể mang tên tiếng Anh Polytechnic Institute đầy danh giá.

Còn ai đó viện cớ ở California có rất nhiều university, thì xin thưa đó là cách dùng chữ chỉ để chứng tỏ mình trực thuộc Viện Đại Học California University of California (chẳng hạn như University of California, Berkerly; University of California, Irvine; University of California, Los Angeles; v.v.); trong khi Viện Đại Học Tiểu Bang California California State University thì thoáng hơn, đặt tên các trường đại học của mình có hoặc không có chữ university (chẳng hạn như California Maritime Academy, Humboldt State University, San Diego State University, v.v.). Cần lưu ý rằng khi Đại Học Bách Khoa California State Polytechnic University có chữ university đó chỉ là cách cho biết đại học bách khoa này trực thuộc California State University mà thôi chứ không phải đại học bách khoađẳng cấp university.

Cách tốt nhất cho các trường đại học sắp mở là đừng bao giờ đặt tên trần trụi kiểu Việt Nam (như: Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Luật, Kiến Trúc, Giao Thông, v.v.) mà nên theo cách đặt tên của những đại học danh tiếng nước ngoài (kiểu như đại học Kellogg hay Regent’s Park của Oxford University, và Churchill College hay Queen’s College của Cambridge University) để mang tên chẳng hạn Đại Học Mai Hắc Đế, Đại Học Thắng Lợi, v.v., để người nước ngoài khỏi ai thắc mắc tại sao Đại Học Luật lại không thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn.

Các bạn tốt nghiệp college ở Việt Nam hãy yên tâm, tự tin nộp đơn xin việc tại các công ty Âu Mỹ vì với họ: college tức là đại học chuyên ngành. Tuy nhiên, nếu công ty Âu Mỹ đó thuê một người Việt hay một người ASEAN làm sếp ở Việt Nam thì xem như các bạn sẽ phải chịu khó tìm cơ hội việc làm ở nơi khác vì các vị này giống y chang ở chỗ xem university mới là đại học.

Biết đâu được, nhờ cách dùng sai ở Việt Nam mà bạn tốn chỉ có 3 năm nhưng được các đại gia Âu Mỹ trọng vọng. Tất cả chỉ nhờ vào năng lực thật sự của bạn thôi, còn văn bằng luôn luôn là thứ yếu đối với những nhà tuyển dụng sừng sỏ của các công ty sừng sỏ Âu Mỹ như tôi đã từng viết trên báo Tuổi Trẻ những năm 1990 của thế kỷ trước vậy.

Lòng thành xin tỏ với trăng sao.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

1) Hoàng Hữu Phước. Tham Luận: Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học Và Các Biện Pháp Cách Tânhttps://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

2) Lại Thu Trúc. 26-7-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII, http://hhphuoc.blog.com/?p=75 :

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.”  http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.”  http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.”  http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”   http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.”   http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.”   http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”  http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!”  http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Chống Cộng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong tiếng Anh, tiếp đầu ngữ (prefix) anti được thêm vào trước từ nào là có ngay từ mới mang ý chống lại, ngược với, nội dung của từ ấy (chưa kể anti mang cả nghĩa “thay thế”, chẳng hạn Christ là Chúa Jesus và Anti-Christ được dùng hai lần trong Kinh Thánh mang nghĩa kẻ giả danh Chúa và do đó “cùng phe” với “quỷ”). Vì vậy, thế giới Âu Mỹ mới có các từ anticapitalism, antiglobalism, antisocialism,và antiterrorism (còn được viết theo cách anti-capitalism, anti-globalism, anti-socialism, anti-terorism) mà người Việt do áp đặt một từ duy nhất là “chống” cho đầu anti cộng với một từ duy nhất là “chủ nghĩa” cho đuôi ism nên dịch thành chống chủ nghĩa tư bản, chống chủ nghĩa toàn cầu hóa, chống chủ nghĩa xã hội,chống chủ nghĩa khủng bố. Đây là cách dịch sai vì nếu chủ nghĩa là một triết thuyết thì không bao giờ có những cái chủ nghĩa vừa nêu ấy.

Bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm – kể cả trang mạng hàn lâm – của các giáo sư tiến sĩ từ Novara, Oxford, Portoroz, Bern, Punaauia đến Zürich, v.v., về những nỗi muộn phiền đối với những vấn đề tư duy từ hai thế kỷ nay liên quan đến các tranh luận có trọng tâm chính trị và xã hội nhưng theo cùng khuôn khổ xơ cứng khiến tư duy cứ như trong vòng tròn lẩn quẩn dẫn đến sự nghèo nàn dẫm chân tại chỗ của các ngành khoa học xã hội và nhân văn – như trong trường hợp của chính trị học, xã hội học, và kinh tế học. Nếu dựa vào sự tranh luận hàn lâm của các bậc học giả uyên bác này đối với duy chỉ bốn nhóm đối kháng của Capitalism – Anticapitalism, Globalism – Antiglobalism, Socialism – Antisocialism, và Terrorism – Antiterrorism qua các biên khảo về Các Hình Thái Chủ Nghĩa Nhà Nước thì người ta hoàn toàn không thấy có thêm nhóm nào đứng hàng thứ năm để mang dòng chữ Communism – Anticommunism (tiếng Việt luôn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản và Chống Chủ nghĩa Cộng sản gọi tắt là Chống Cộng) cả.

Trước khi nói về “Chống Cộng”, tôi xin lướt qua về một số khái niệm vừa hàn lâm vừa thực tế lịch sử vừa về ngữ nghĩa chính xác của các thuật ngữ trên như sau, còn nội dung thuần triết học sẽ được đào sâu trong một bài viết khác:

1- Từ “Capitalism” (tiếng Việt hay dùng: “Chủ nghĩa tư bản”) thuộc phạm trù kinh tế chứ không phải thuần chính trị, và không do bất kỳ ai trong ba nhà kinh tế lừng danh của lịch sử nhân loại là Adam Smith, David Ricardo và Karl Marx sáng tạo ra – cho dù Karl Marx trong các tác phẩm vĩ đại của mình thường xuyên dùng các từ “capital” (tư bản) và “capitalist” (nhà tư bản). Cha đẻ của từ capitalism được cho là Werner Sombart qua tác phẩm tựa đề Der Moderne Kapitalismus (Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại) ấn hành năm 1902, nói về căn nguyên của “chủ nghĩa” tư bản từ thời cổ xưa cho đến tận ngày nay, mà ông đã chú giải như một hình thái tổ chức kinh tế trên cơ sở trao đổi theo đó hai nhóm người khác nhau gồm chủ nhân ông của các phương tiện sản xuất và các người lao động không có của cải cùng hợp tác với nhau trong quy trình sản xuất có sự tham dự của thị trường. Từ Capitalism sau đó cũng được ông sử dụng trong các tác phẩm khác như Der Bourgeois năm 1913, v.v.

2- Từ Anticapitalism: người Việt đã dịch sai thành Chống Chủ Nghĩa Tư Bản vì đây hoàn toàn không phải phong trào mang tính ý thức hệ chính trị do các lãnh đạo cộng sản hay những người thân Cộng tạo ra hay xách động, mà những vị này cũng không chống cái gọi là chủ nghĩa tư bản như một thể chế chính trị đối kháng, hoặc như một hệ thống triết thuyết. Anticapitalism được ví như tương đồng với Neo-mercantilism (Tân “Chủ nghĩa” Trọng Thương) và xuất phát từ nội tình chính các nước tư bản. Các cuộc xuống đường bạo loạn căng thẳng ở các nước Tây Âu vài năm qua đều căng biểu ngữ Anticapitalism để chống việc nhà nước bỏ tiền ra cho EU…cưu mang mấy nước thành viên lụn bại phá sản về kinh tế, hoặc khi bị sa thải hàng loạt khiến mất công ăn việc làm. Họ nào có chống cái gọi là chủ nghĩa tư bản. Họ chống chuyện ruồi bu vác tù và hàng tổng của nhà nước.

3- Từ Antisocialism: người Việt đã dịch sai thành Chống Chủ Nghĩa Xã Hội vì đây hoàn toàn không phải phong trào mang tính ý thức hệ chính trị do các nhúm chống chủ nghĩa cộng sản tạo ra hay xách động, mà những vị này cũng không tài cán gì về phương diện hàn lâm để có thể đẻ ra bất kỳ học thuyết dày cộm nào hầu chống lại một chủ thuyết tầm cở như Chủ nghĩa Cộng sản hay…Chủ nghĩa Xã hội. Socialism và Anti-socialism chỉ là sự đối kháng suốt hai thế kỷ XIX và XX giữa các đảng cánh tả và cánh hữu chốn nghị trường quốc hội các nước tư bản. Socialsim khi mang tính thể chế nhà nước độc đoán thì lại liên quan đến các nước tư bản Phát-xít Ý (Italian Fascism) và Quốc Xã Đức (German National Socialism – Chủ Nghĩa Xã Hội Quốc Gia Đức). Ngay tại Hà Lan, phong trào phát-xít của Anton Mussert cũng mang tên Nationaal-Socialistische Beweging. Do đó, từ socialism này rất khác với chủ nghĩa xã hội socialism của Việt Nam. Vậy, Anti-socialism là chống mấy anh tư bản phát-xít và quốc xã hay chống anh cộng sản mà phát-xít và quốc xã đã ra tay tàn sát nhưng thất bại chua cay? Lịch sử hiện đại của hình thái chủ nghĩa nhà nước tại Châu Âu có nêu cặp đối kháng giữa socialismfascism, cho socialism cái danh well-mannered statism (chủ nghĩa nhà nước tốt, “biết điều”) và gán cho fascism cái tên violent statism (chủ nghĩa nhà nước bạo lực). Như vậy có thể kết luận: các nhóm chống Cộng ở hải ngoại chỉ chống phát-xít và quốc xã, chứ không chống Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì chỉ có kẻ ngu đần mới chường mặt ra thanh thiên bạch nhật giương biểu ngữ chống nhà nước well-mannered.

4- Từ Antiterrorism: người Việt đã dịch thành Chống Chủ Nghĩa Khủng Bố. Có điều thú vị là từ terrorism (chủ nghĩa khủng bố) được phe Âu Mỹ sinh ra để dùng thay thế từ commmunism (chủ nghĩa cộng sản) do thấy từ communism không còn có thể bị họ tiếp tục bôi bẩn với các ý nghĩa tàn bạo, cực đoan, hà khắc, lạc hậu, và thất bại, vì sự thật đã hoàn toàn ngược lại: (a) có những quốc gia cộng sản quá hùng mạnh về kinh tế và khoa học, (b) có những quốc gia cộng sản đã hết là cộng sản nhưng Âu Mỹ vẫn chống tới cùng, (c) có những quốc gia cộng sản vẫn đang là cộng sản nhưng có khả năng là những đồng minh đáng nể, và (d) có những quốc gia tư bản trở thành khủng khiếp đối với thế giới Âu Mỹ. Điều này cho thấy Âu Mỹ đã không bao giờ còn dùng đến từ “chống Cộng”. Và trên cơ sở ngữ nghĩa hiện đại của từ ngữ mới toanh terrorism thì giới học giả Âu Mỹ cho rằng việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima (80.000 người chết) và Nagasaki (40.000 người chết) rõ ràng là hành động khủng bố, ngay cả việc rải mưa bom giết người như rạ ở Coventry (Anh Quốc) và Dresden (Đức Quốc) trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng bị gọi đích danh là hành động khủng bố, bất kể đó là do sự tấn công của Đức hay của Mỹ và đồng minh Mỹ dội vào Đức. (Ghi chú thêm về từ gốc Terror tức khủng bố trong tiếng Anh: lịch sử từng dùng từ này như Thời Khủng Bố từ 9-1793 đến 7-1794 tại Pháp đã xử tử 17.000 người theo thống kê chính thức, không kể vô số chết trước khi xét xử; và Cách Mạng Hoa Kỳ cũng không thoát được danh Khủng Bố trong thế giới sử).

Như vậy, có thể nói rằng

1- Chủ nghĩa Cộng sản không nằm trong 4 nhóm đối kháng của các học giả hàn lâm Âu Mỹ nên không có đối trọng của nó là Chống Cộng.

2- Chủ nghĩa Cộng sản không là một hình thái cai trị của nhà nước mà là một đối trọng về kinh tế mới hơn so với hình thái kinh tế tư bản đã có từ lâu trước đó và bộc lộ nhiều khiếm khuyết

3- Thế giới Âu Mỹ không còn chống Cộng vì đã nhận ra (a) nhờ những đấu tranh giai cấphạch tội trong biện thuyết của Karl Marx mà thế giới tư bản rút kinh nghiệm để trở nên tốt đẹp hơn; (b) những miêu tả tiêu cực về phe cộng sản như khát máu, lạc hậu, cực đoan, hà khắc, v.v. đã được chứng minh là sai hoàn toàn; (c) một nước cộng sản dù trở thành tư bản như Nga vẫn mãi là đối thủ Âu Mỹ phải tiêu diệt, vì vậy trên thực chất chỉ có Chống Nga chứ không có Chống Cộng; và (d) chủ nghĩa cộng sản thuộc phạm trù ý thức hệ, do đó chỉ được chống bởi một hệ thống triết thuyết mới hơn, trong khi lãnh đạo Âu Mỹ vừa không thể có khả năng sản sinh ra bất kỳ học thuyết kinh tế mới nào khác, vừa không ngu để ủng hộ sự sinh sản chủ thuyết kinh tế mới nào đó vì nó đồng nghĩa với việc chống cả chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản.

Các nhóm đang tồn tại ở hải ngoại chống Cộng sản Việt Nam phải có can đảm đổi tên thành Chống Việt Nam cho giống với Mỹ Quốc chống Nga chứ không còn chống Cộng sản Nga.

Phải đổi tên vì muốn chống Cộng sản phải có đủ tài trí sản sinh ra một học thuyết kinh tế ưu việt mới để chống lại hệ tư tưởng của Karl Marx. Chống Cộng sản nào phải là vác loa và viết blog nheo nhéo chửi rủa cộng sản, dựng chuyện điêu ngoa bôi nhọ cộng sản. Chống Cộng sản là công việc độc quyền của các triết gia và các nhà kinh tế học ngấp nghé giải Nobel, không bao giờ là của những người không thuộc hàng học giả và chỉ biết chửi tục. Phải can đảm vì khi đổi tên thành Chống Việt, cả thế giới sẽ nhạo báng rằng người Việt mà chống nước Việt thật quả là sự suy đồi tâm thức chỉ có nơi người gốc Việt. Phải đổi tên vì đừng để Âu Mỹ ra tay trừng phạt nhằm diệt trừ hậu hoạn vì tưởng lầm rằng những người chống Cộng ắt đang manh nha cái gọi là học thuyết kinh tế ưu việt mới nhằm lật đổ ngay cả các thể chế kinh tế chính trị hiện nay của các cường quốc Âu Mỹ.

Phải ngưng ngay các cụm từ rẻ tiền, lạc hậu, quê mùa, luôn được các cụ già hải ngoại chống Cộng dùng như điêu linh, khát máu, lạc hậu, bần cùng, tàn ác, v.v., để đừng chọc giận Mỹ vì Mỹ bảo các cụm từ đó Mỹ dành độc quyền cho Khủng Bố, và vì Mỹ đã nhận ra cái tốt đẹp, chơi được, của các nước cộng sản thuộc hình thái nhà nước tốt đẹp biết điều well-mannered statism.

Chống Cộng đã không cón tồn tại trong thế giới văn minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tàu Hứa Không Xâm Lược Các Nước Láng Giềng

– Thời Sự Trào Phúng –

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vừa qua, tại cuộc gặp không chính thức ở Diễn Đàn Xiangshan (phát âm tương tự “xáng sàn”) giữa Bộ Trưởng Quốc Phòng Tàu với Bộ Trưởng Quốc Phòng các nước khối ASEAN tại thủ đô Bắc Kinh của Tàu, Bộ trưởng Quốc phòng Tàu Chang Wanquan (phát âm tương tự “chẳng vận quần”) tuyên bố rằng Tàu hứa không xâm lược các nước láng giềng. Trước khi lột trần tuyên bố này, tôi xin nhắc lại vấn đề ngôn ngữ sau mà trong bài Ai Đẻ Ra Tập Cận Bình đăng trên blog này ngày 25-7-2014 cũng như trong nhiều bài viết khác tôi đã từng nói rõ.

Trước hết đó là vấn đề nguyên tắc trên toàn thế giới văn minh: không bao giờ dịch nghĩa tên riêng từ tiếng nước khác sang tiếng nước mình. Nước Ivory Coast là nước Ivory Coast; dịch thành nước Bờ Biển Ngà dứt khoát là điều xằng bậy. Người Anh không bao giờ gọi Hồ Chủ Tịch là President Bright và tất nhiên họ không ngu đến độ cố gắng dịch họ Nguyễn ra tiếng Anh – chẳng hạn thành chữ XYZ nào đó để từ đó dịch Nguyễn Ái Quốc thành tiếng Anh XYZ Patriot. Tóm lại: tên riêng rất có thể có ý nghĩa nào đó nhưng nguyên tắc ngôn ngữ toàn thế giới văn minh có văn hóa cao là không bao giờ được phép dịch tên riêng tiếng nước khác ra tiếng nước mình.

Thứ đến, tên riêng trong một ngôn ngữ có thể được viết

a- Theo các mẫu tự tiếng Anh nếu ngôn ngữ khác có dùng tương tự bảng mẫu tự an-pha-bê: thí dụ Hồ Chí Minh có thể dược viết thành Ho Chi Minh trong tiếng Anh nghĩa là đơn giản lập lại y nguyên sau khi loại bỏ hết mấy dấu thanh mà tiếng Anh không có như sắc-huyền-hỏi-ngã (còn do người Nga không thể phát âm được các âm Hờ, Chờ, Inh nên họ bó tay, phải viết tên riêng Hồ Chí Minh ở tiếng Nga có cách phát âm là Khô Si Min – thậm chí do văn phạm tiếng Nga dùng từ đến 6 cách nên Khô Si Min còn biến thành Khô Si Min Na, Khô Si Min Nu, Khô Si Min Nhe, v.v.) – đây là lý do tiếng Anh là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng khi viết một tên riêng từ ngôn ngữ khác bất kỳ để sử dụng thuận tiện chung trên toàn cầu; hoặc

b- Theo phiên âm của tiếng Anh khi chuyển một tên riêng của ngôn ngữ nào khác có kiểu mẫu tự không theo mẫu tự an-pha-bê tức ABC như tiếng Anh: thí dụ người Anh nhìn chữ lăng quăng của Nga và chữ quẹt qua quẹt lại của Tàu thì không biết ra sao nên phải lắng nghe người Nga người Tàu phát âm rồi dựa theo cái nghe được mà viết ra, nên khi nghe người Nga phát âm tên thủ đô nước họ là “mốt xơ cơ vơ” với âm “vơ” nhẹ như gió thoảng khiến khó phân biệt giữa “vơ” và “quơ” thì chế ra từ Moscow, còn nghe người Tàu phát âm tên thủ đô Tàu thì chế ra từ tiếng Anh Beijing trong khi người Tàu ban đầu còn dảy nảy không chịu và tự dùng tiếng Anh riêng là Peking thì sau này cũng phải chịu phép vì Peking cũng chả ai trên thế giới quan tâm sử dụng.

Về từ Bắc Kinh trong tiếng Việt, dường như Việt Nam đã đúng vì Bắc Kinh phát âm giống tiếng Anh của PekingBeijing nghĩa là lỗ tai của người Việt giống lỗ tai của người Anh và do đó giống lỗ tai của nhân loại.

Tuy nhiên, khi viết tên riêng của một nhân vật lãnh đạo Tàu nào đó thì dường như lỗ tai của người hay nhóm người chịu trách nhiệm cung cấp cho báo chí cách viết tên thống nhất lại có thính lực rất khác với phần còn lại của nhân loại. Trong khi học giả Anh dỏng tai lên lắng nghe phát âm tiếng Tàu của tên riêng của Chủ tịch nước Tàu rồi dùng tiếng Anh cho ra chữ Xi Jinping thì thay vì viết y tiếng Anh hoặc viết tiếng Việt là Xí Dính Bình thì lại cho ra từ Tập Cận Bình quái lạ, cứ như thể lịch sự muốn giữ thể diện cho ông Tàu Xi Jinping (né sự liên tưởng đến “xấu xí” và “dính dơ”) vậy. Tương tự, Hồ Cẩm Đào là cách Việt Nam giữ thể diện cho Hu Zintao (tức Hù Dính Táo, rất có thể khiến liên tưởng đến “táo bón”) để chống lại giới học giả Anh quốc, khiến các học giả Anh quốc nào biết tiếng Việt sẽ bó tay không hiểu Việt Nam muốn nói đến lãnh đạo Tàu nào.

Tương tự, ông Bộ trưởng Quốc phòng Tàu có tên Tàu được phát âm ra sao đó mà học giả Anh viết tiếng Anh thành Chang Wanquan thì lẽ ra tiếng Việt phải chứng minh có nghe tương tự và viết thành Chang Van Quan hoặc nếu né cái Chằng Vận Quần thì có thể tử tế gọi là Chấn Văn Quân cho hòa âm cùng thế giới, thì đàng này lại mỹ-miều-hóa thành Thường Vạn Toàn, còn Diễn Đàn Xiangshan thì thay vì viết Xang San lại sơn-phết-hóa thành Hương Sơn như hiện đang sử dụng trên tất cả các báo Việt Nam. Thường Vạn Toàn ư? Thường thì y làm vạn việc sẽ toàn vẹn cả vạn việc ư? Kể cả xâm lược Việt Nam ư? Ban cho một thằng Tàu một cái tên tiếng Việt tuyệt hảo như thế rõ là một sự ngu xuẩn.

Do khẳng định tôi không có lỗ tai khác nhân loại, trong bài viết này tôi không gọi Bộ trưởng Quốc phòng Tàu là Thường Vạn Toàn mà gọi y như cách người Anh viết là Chang Wanquan hoặc như cách tôi thực sự nghe từ tiếng Anh rồi Việt Hóa thành Chẳng Vận Quần hay Chán Vận Quần để có sự tương đồng hòa hợp giữa Chang WanquanChẳng Vận Quần, chưa kể tránh được một lúc hai lỗi của (a) vô văn minh của dịch thuật tên riêng và (b) chọc giận các ông Tàu vì dám làm cha mẹ mấy ổng khi tự tiện đặt tên Việt cho mấy ổng.

*********

Trở lại chủ đề chính vốn bị độ dài của các đoạn trên biến thành phụ, những tuyên bố của ông Chang Wanquan hoàn toàn vô nghĩa. Chang Wanquan nói Tàu sẽ không xâm lược các nước láng giềng. Tất nhiên, Tàu không bao giờ xâm lược ai vì Tàu chỉ bảo vệ những lãnh thổ mà Tàu cho là của Tàu, chẳng hạn Tàu nói Hoàng Sa là của Tàu, Tàu nói Trường Sa là của Tàu, Tàu nói Philippines là của Tàu, Tàu nói Malaysia là của Tàu, và Tàu nói Indonesia cũng là của Tàu tuốt. Tàu chẳng xâm lược ai cả. Tàu chỉ cần tuyên bố “đó là của Ngộ” thì ai mà bén mảng đến thì Tàu sẽ la toáng lên “Ngộ tả lị xảy à!” Thậm chí Tàu có thể khóc với Liên Hợp Quốc rằng mấy nước quanh Biển Đông bắt nạt Tàu nên Tàu buộc phải kêu gọi dân Tàu vùng lên chống quân thù xâm lược để bảo vệ quê hương Tàu.

Tổ tiên Chan Wanquan đã từng có mặt ở nước Nam thời Bà Triệu vì sử có ghi rằng bọn Tàu chẳng mặc quần (tiếng Việt miền Bắc gọi là chẳng vận quần) khi đánh nhau với quân Bà Triệu.

Chan Wanquan sẽ không xâm lược các nước láng giềng, vì sợ bị đánh te tua tháo chạy về Tàu trong tư thế chẳng mặc quần.

Nhưng Tàu cứ vẫn gào lên rằng đảo này, lãnh thổ nọ là của Tàu rồi ngang nhiên kéo đến ở, để xem có ai dám làm gì không. Đảo thì bé tí tẹo, Tàu chỉ đem tí teo quân giả dạng dân lành đến giữ, thì ai đem ít binh đến cự sẽ bị thua, còn ai đem đại binh đến thì rõ là dại vì bỏ trống đất nước dồn binh vào chỗ nhỏ để bị diệt tiêu, tạo thời cơ cho dân Tàu ùn ùn kéo đến nhập hộ khẩu.

Nếu chẩng ai dám làm gì thì Tàu khoe “Đấy, thấy chưa? Của Ngộ mà! Chân lý luôn thắng mờ! Người ngay luôn gặp phúc mờ! Hảo lớ! Hảo lớ!

Còn nếu ai đó dám làm gì thì Tàu khóc “Bớ Liên Hợp Quốc ôi! Các con cọp lân bang xâm lược xúm lại cắn xé con rồng của tại hạ, đàn áp hai tỷ dân ít ỏi bị phù thủng to đùng của tại hạ! Xin Hội Đồng Bảo An ra uy trấn áp kẻ gian tà, ban Nghị Quyết cấm vận bọn cọp hung dữ ấy, đem thái bình cho bá tánh. Trong khi chờ đợi đại binh cứu khổn phò nguy của chư vị quần hùng, tại hạ sẽ với sức mỏn hơi tàn cùng Cái Bang quơ đả cẩu bổng chèo tay hàng không mẫu hạm ra bắn pháo hoa, đổ mực tàu, quăng giấy cuộn, và ném thư pháp cố gắng chống ngăn gót giày xâm lược của ngoại bang.

Ô hô! Ô hô! Đúng là Tàu. Tàu Tàu luôn.

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Ghi chú:

1) Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình” Bài viết đăng ngày 25-7-2014 trên blog này

2) Cái bang: hành khất, ăn xin

3) Đả cẩu bổng: gậy xua chó của cái bang

4) Tàu: tiếng lóng của tiếng Việt miền Nam (tao tàu mày luôn = tao sợ mày luôn)

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi có nhiều bài viết gởi các tờ báo lớn và được các tờ báo này đăng từ hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Khi internet phát triển, tôi viết hàng trăm bài tiếng Anh đăng trên blog của tôi trên Yahoo!3600 cho đến khi mạng này bị chính đám lãnh đạo ngu xuẩn của Yahoo! thay thế bằng mạng khác và khi cái mạng mới này sớm bị triệt tiêu y như lời tiên tri thấu thị của tôi trước đó, tôi bắt đầu viết hàng trăm bài khác bằng tiếng Việt trên blog chung của giới kinh doanh trên Emotino.com cho đến khi bọn nô dịch vô lại mất dạy chui vào xóa bài tôi viết về những điều tệ hại thảm hại tai hại của Đài BBC tôi mới chuyển sang blog riêng của tôi trên Blog.com (sau này, do Blog.com hay bị trục trặc kỹ thuật, tôi chuyển sang blog riêng khác của tôi tại WordPress.com). Rất nhiều bạn là học trò cũ của tôi, sinh viên lạ trên không gian mạng, và những bạn trẻ mang hàm chức sắc ngoại giao của Ủy Ban Đối Ngoại khuyên tôi nên đăng bài trên Facebook để các bài viết của tôi đến tay nhiều bạn đọc hơn; tôi đã trả lời rằng tôi không viết blog dành cho thế giới đại đồng khắp cõi ta bà, rằng tôi không viết blog để khoe với nhân loại có số lượng hàng triệu người đọc, rằng tôi viết blog trên tinh thần của bài “Blog Và Thùng Nước Đá” nghĩa là chỉ phục vụ bạn đọc nào đúng đắn, có trí tuệ cao, có công tâm, có quan tâm; rằng tôi dù có tài khoản Facebook ngay từ khi nó mới xuất hiện nhưng đã bỏ rơi nó nhiều năm nay sau khi bọn chống Việt và bọn Tây ngu léo nhéo rủa Chính phủ Việt Nam ngăn chặn truy cập vào Facebook (tôi viết bằng tiếng Anh phản công bất kỳ tên Tây ngu nào bày đặt xỏ xiên Chính phủ Việt Nam đàn áp tự do thông tin, khóa mõm chúng hoàn toàn và tuyệt đối khi nhiếc mắng chúng rằng chúng nào có ra chi khi chỉ dùng mạng “chùa” để chát chiếc với bạn bè bồ bịch chứ làm quái gì có cái trí hóa để đọc hay rặn ra được cái gọi là “thông tin” –  tất cả các lời mắng nhiếc này đều được đăng trên Yahoo!3600 với đầy đủ hình chụp nội dung mà bọn Tây ngu đã viết; và rằng Chính phủ Việt Nam đủ khôn lanh để tận dụng chính Facebook làm vũ khí đấu tranh chính trị đập lại bọn chống Việt thay vì “ngăn chặn truy cập” mà bọn khờ khạo chống Việt lầm tưởng).

Nhân có học trò cũ của tôi vừa nói có một kẻ nào đó hoặc do không biết tiếng Việt khiến không thể đọc hết và hiểu hết bài Blog Và Thùng Nước Đá cũng như đã không nằm trong số độc giả có chọn lọc (đúng đắn, có trí tuệ cao, có công tâm, có quan tâm) nên viết lảm nhảm chống lại bài Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?  mà tôi đã đăng nhiều năm trước. Cũng có thể kẻ đó mang chứng bịnh thần kinh Anti-latabetho Syndrome [1] tức Hội Chứng Chống Lăng Tần Beowulf Thor nghĩa là hễ cứ gặp cái gì mà Ông Hoàng Hữu Phước viết ra (bằng tiếng Việt) thì phải bằng mọi giá rặn đẻ ra lời chống lại cho bằng được, kể cả khi việc chống lại ấy chỉ để tự lột trần bản thân là kẻ hèn hạ thất học điên rồ. Tôi xin đăng lại bài viết ấy để những người thâm thúy bản lĩnh cao siêu có tầm nhìn xa, sâu, rộng, cùng chiêm nghiệm, sẻ chia, đồng cảm, ngày sau.

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Hoang Huu Phuoc, MIB

(Bài viết đăng trên Emotino.com ngày 26-9-2012, lập lại trên hhphuoc.blog.com)

Ten Tieng Anh

Dự án Luật Hộ Tịch đang nhận được sự quan tâm của người dân do tầm quan trọng của nó không những trong công tác quản lý hộ tịch thời đại số hóa mà còn trong ý nghĩa thực tế gắn bó với tất cả các công dân, bất kể đó là hài nhi vừa lọt lòng mẹ hay người đã đến cõi trăm năm. Do trong hơn 20 năm qua tôi thường trò chuyện với học trò và nhân viên về vấn đề Tên Tiếng Anh Cho Người Việt (với ước mong một người trong số họ sau này có một vị trí trong đội ngũ lãnh đạo của quốc gia sẽ lưu tâm về vấn đề mang tính nhân quyền, dân quyền, quen thuộc đối với các siêu cường kinh tế Châu Á, và hội nhập tòan cầu hóa này), nay nhận được lời nhắc nhở và đề nghị tuy chỉ mới của một nhân viên còn nhớ chuyện ngày xưa, tôi cũng muốn nêu lại vấn đề này như một đề xuất đúng thời điểm tuyệt vời vài chục năm mới có một lần này.

A- Dẫn Nhập: Những Vấn Đề Chính Danh

 

1)  Thế Giới Đại Đồng: Thời Kỳ Trước Thời Toàn Cầu Hóa :

Trong số những người nước ngoài tôi quen biết từ những năm cuối của thập niên chót của thế kỷ trước ở Hong Kong và Singapore, họ thuộc một cộng đồng doanh nhân giống y nhau ở hai điều: (a) họ là người có tổ tiên gốc Hoa có trình độ cùng tác phong chuyên nghiệp cao và (b) mang tên họ theo một công thức chung cùa Tên Tiếng Anh + Họ Tiếng Tàu Được Viết Theo Phiên Âm Thành Mẫu Tự Tiếng Anh, như Francis Tan, Samuel So, Catherine Zhu, Maria Wong, Ivan Tong, Robert Yeap, Bonnie Chen, Irene Chan, Frankie Leung, v.v.

Trong nhiều người Việt Nam mà trong số đó có các sinh viên cũ của tôi đang làm việc cho các ngoại giao đoàn và các văn phòng đại diện công ty nước ngoài hoạt động ở Việt Nam ngay từ những năm cuối của thập niên chót của thế kỷ trước, tôi nhận thấy danh thiếp của họ giống y nhau ở hai điều: (a) dù họ đều là công dân duy chỉ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, (b) nhưng in tên họ theo một công thức chung cùa Tên Họ Đầy Đủ Tiếng Việt Không Bỏ Dấu + Dấu Ngoặc Đơn Mở + Tên Tiếng Anh + Dấu Ngoặc Đơn Đóng, như Nguyen Thi Hoang Uyen (Maria), Tran Tuyet Nhung (Rose), Ly Thi Hoa Quynh (Susan), Tran Van Nghia (Tony), v.v. với đặc điểm là tên tiếng Anh trong ngoặc đơn …chẳng dính dáng gì đến ý nghĩa hay hình dạng của tên tiếng Việt mà họ cho tôi biết là do mấy ông sếp tự đặt đại cho mỗi người ngay từ lúc … ký hợp đồng lao động tuyển dụng vào làm việc để sếp dễ kêu dễ nhớ dễ gọi – nghĩa là sếp nước ngoài có quyền đặt tên cho nhân viên Việt cứ như thể là cha mẹ của các nhân viên này!

Thế là đã xảy ra hai sự việc giống nhau tại khu vực Á Đông theo hai chiều hướng hoàn toàn khác nhau cho cùng một mục đích như nhau. Hai chiều hướng khác nhau gồm một bên ở nhiều quốc gia có công dân là người gốc Hoa chủ động tích cực đặt tên cho con cái theo tiếng Anh từ đầu thế kỷ XX để tích cực phục vụ …toàn cầu hóa của thế giới đại đồng của lĩnh vực ngoại thương để làm giàu cho quê hương xứ sở dù vào thời điểm những thập kỷ đầu của phần nửa sau của thế kỷ trước ấy chưa ai trên đời chế ra từ “toàn cầu hóa”, và tên tiếng Anh này chính thức hiện diện trên giấy khai sinh, giấy hôn thú, bằng lái xe và hộ chiếu; và bên còn lại là công dân Việt Nam cực kỳ thụ động để mấy ông sếp bà sếp nước ngoài tự do đặt tên tiếng Anh để buộc phải in trên danh thiếp trong dấu ngoặc đơn. Mục đích giống nhau ở một điểm là nhằm giúp thuận lợi tối đa trong giao dịch giao thiệp giao du giao tiếp giao tế giao thương giữa nhân viên người Á Đông với nhân viên Âu Mỹ, khách hàng Âu Mỹ, sếp Âu Mỹ, tức những người không thể phát âm và không thể nhớ các tên Uyên, Nhung, Quỳnh, Nghĩa, Xuân, v.v., của tiếng Việt, hay những tên Tàu phát âm cũng khó chẳng khác nào khi rặn ra các cụm từ Tố-chè-sính-sáng, Mẫu-dễ-xì-cun, Hảo-lớ, Bi-xà, Tèng-shi-hwàng, Cung-chúa, Ngộ-tả-lị-xảy-à, v.v.,  của tiếng Tàu vậy.

Cả hai sự việc trên chứng tỏ đã luôn tồn tại – thậm chí ngay từ thời con người biết theo các thương thuyền vượt biển tìm đến miền đất hứa của nhân loại (tức Châu Á) để mua hương liệu, mua vàng ngọc châu báu (trả bằng thuốc phiện), cướp bóc, hãm hiếp, truyền đạo, bắt nô lệ – nhu cầu sử dụng một tên gọi mới dành cho con người bản xứ trong môi trường giao tiếp hoặc kinh thương để thay thế tên gốc tiếng địa phương Đông Á.

2)  Quan Niệm Về Văn Hóa Dân Tộc

Rất có thể tồn tại trong suy nghĩ một số người Việt rằng đặt tên tiếng Anh là mất gốc, là ngoại lai, là lai căng, là không yêu nước, và là đề xuất không nghiêm túc. Họ không biết – hay cố tình làm ngơ vì nếu “biết” thì với tài hèn sức mọn biếng lười họ không bao giờ có thể thực hiện được – rằng làm giàu cho đất nước mới là yêu nước, làm vinh danh đất nước với ngoại bang mới là yêu nước, làm việc giỏi và hiệu quả mới là yêu nước, đóng góp tiền của để xây dựng quân đội hùng mạnh mới là yêu nước; rằng mang tên Việt Nam, sống tại Việt Nam, ăn cơm Việt Nam Cộng Sản thờ ma chống Cộng Sản Việt Nam, làm việc biếng nhác nhưng tích cực bốc phét trên mạng xã hội xỉa xói chính phủ nước nhà mới là mất gốc, nô dịch, lai căng, ngoại lai, và phản phúc và phản quốc.

Ngoài ra, bài học của anh chàng cà phê Trung Nguyên hơn chục năm trước bị một người Mỹ chiếm mất tên Trung Nguyên trên thế giới web domain (thậm chí mới đây lại khù khờ mãi dõi mắt ngó lên “thiên đường” biền biệt xa tít mù khơi làm mất luôn tên miền cho một sản phẩm về tay một nhà đầu cơ tên miền người Úc) mà không thể phân bua nổi với quan tòa Mỹ với cái lập luận ngô nghê rằng đó là tên tiếng Việt nên phải trả lại cho người Việt, do bất kỳ ai cũng có quyền tự do “sáng chế” ra tên gọi bằng bất kỳ ngôn ngữ nào; giúp chúng ta liên tưởng đến cách lập luận rằng tên tiếng Anh Mỹ có thể là của người Việt mà tòa án Anh Mỹ không thể cấm người Việt được sở hữu.

Tên gọi của cá nhân, do đó, không dính dáng gì đến cái gọi là văn hóa, dân tộc, mất gốc, hay vọng ngoại, hoặc yêu nước.

3)  Thế Mà Là Tên Tiếng Việt Ư?

Có nhiều công dân Việt Nam người sắc tộc thiểu số, và có nhiều địa danh ở Việt Nam, có hình thức cấu tạo như Ông K’Rấp, Ông K’Rá, Tỉnh Đắk Lắk, Tỉnh Bắc Kạn, Huyện Đăk R’lấp, Huyện Đăk Glong, v.v. , trong khi tất cả những tên riêng này tuy đang tồn tại ngay tại Việt Nam nhưng không theo cấu trúc luôn có của tiếng Việt chuẩn trong sách văn phạm đã và đang được sử dụng tại trường học Việt Nam (lẽ ra phải được “Việt Hóa” thành Ông Cơ Rấp, Ông Cơ Rá, Tỉnh Đắc Lắc, Tỉnh Bắc Cạn, Huyện Đắc Rờ Lấp, Huyện Đắc Gờ Long cho “đúng là tiếng Việt”), cũng như không hề được nói đến trong các sách văn phạm này.

Tương tự, có nhiều Việt Kiều đang sinh sống ở nước ngoài vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam và đang có tên chính thức nếu viết theo thứ tự của tiếng Việt sẽ là Phạm George, Trần Victor, Nguyễn Maxx, Hoàng Josephie, v.v.

K’Rấp, R’lấp, Glong, George Victor, Maxx, Josephie, tất cả không phải tiếng Việt, nhưng là của người Việt, chứng tỏ tất cả dù không phải tiếng Việt đều đã, đang, và sẽ luôn tồn tại song hành với tiếng thuần Việt.

Trong khi các khu resort, tên các tòa cao ốc văn phòng, tên các khu địa ốc sang trọng, tên các sản phẩm, tên các khách sạn, kể cả tên các cửa hàng, v.v., ở Việt Nam đều “được phép” thoải mái đặt theo tiếng nước ngoài, thế mà tên của người dân Việt Nam lại chưa được phép, còn kẻ không hiểu gì không biết gì và không tài cán gì thì “được phép” bù lu bù loa chống lại ý kiến đề xuất của bài viết này.

Tóm lại, tại sao người Việt không có quyền đặt tên con cái của mình theo các cách không thuần Việt, trong khi luôn có sự tồn tại của những tên như K’Rấp, R’lấp, Glong, v.v. mà văn phạm tiếng Việt hoặc bó tay, hoặc làm lơ, hoặc vờ như không biết, không nghe, không thấy, còn dăm ba kẻ kém hiểu biết thì tự cho mình có quyền tru tréo chống lại George, Victor, Maxx, Josephie?

Trường Ten-Lơ-Man. Đảo Ti-tốp. Trường Ma-ri Quy-ri. Phải chăng đây là các tên thuần Việt của những trường học Việt Nam và địa danh Việt Nam?

4)  Quyền Công Dân

Cuối cùng – song lại là điều quan trọng nhất – việc chọn tên để đặt cho con cái là quyền tự do của công dân Việt Nam, tất nhiên theo sự điều chỉnh của Luật Hộ Tịch, trong đó sẽ phải quy định những điều hợp tình, hợp lý, và khoa học, như sẽ được đề ra trong những chương tiếp theo dưới đây.

 

B- Những Điểm Chính Phải Có Trong Phần Đặt Tên Của Công Dân Trong Luật Hộ Tịch

1)  Xác Quyết Về Bảng Mẫu Tự Tiếng Việt

Tất nhiên ai cũng biết bảng mẫu tự tiếng Việt bao gồm những mẫu tự nào. Nhưng để hiện đại hóa và hợp lý hóa tiếng Việt trong tình hình thực tế sử dụng mới, nhất thiết phải quy định lại bảng mẫu tự tiếng Việt mới bao gồm các cụm sau:

a- Bảng Cụm 29 Mẫu Tự Tiếng Thuần Việt:

a   ă   â   b  c   d   đ  e   ê   g   h   i   k   l  m  n   o   ô  ơ   p  q   r    s    t   u  ư   v  x  y

(Ghi chú: đã có sự tự tung tự tác của những người ăn không ngồi rồi khi xếp mẫu tự Y ngay sau mẫu tự I như muốn khoe tài rằng “ta đây đã nhận ra sự phát âm gần giống nhau giữa Y và I nên xếp chúng đứng gần nhau”. Đó không là “phát kiến” mà là sự ngu xuẩn, hủy phá cái nền tương đồng giữa các ngôn ngữ mà theo đó các thứ tiếng có thể dựa vào nhau trên cở sở thứ tự trước sau nhằm phục vụ sự dễ nhớ vốn là một nét quan trọng của sư phạm nơi người muốn học.)

b- Bảng Cụm 4 Mẫu Tự Tiếng Việt Du Nhập:

Không thể chối cãi rằng trong thời gian nhiều chục năm qua, những chữ cái của tiếng Anh đã được sử dụng trong các văn bản pháp quy ở Việt Nam, chẳng hạn mẫu tự W đã được dùng để thay thế chữ cái Ư trong chữ viết tắt TW của TRUNG ƯƠNG do khó thể sử dụng chữ tắt TƯ  khi văn bản đó được dịch sang tiếng Anh (đồng thời xét về hình dạng thì W cũng tương tự Ư). Ngoài ra, những từ như “zero” hoặc cách nói “từ A đến Z” hay việc sử dụng F trên báo chí như đối với FIFA hay IMF đã trở nên rất quen thuộc với người dân Việt.

Vì vậy, nhất thiết phải luật hóa sự nhìn nhận những chữ cái này dưới tên gọi Mẫu Tự Tiếng Việt Du Nhập, theo các chi tiết sau:

f   j   w  z

c- Bảng Cụm 6 Dấu Thanh Dùng Trong Tên Tiếng Việt:

– dấu huyền: Hoàng, Trường

– dấu sắc: Trúc, Thái

– dấu hỏi: Thủy,  Hải

– dấu ngã: Hữu, Vũ

– dấu nặng:  Thạch, Trọng

– không dấu: Mai, Linh

d- Bảng Cụm 2 Dấu Hình Dùng Trong Tiếng Việt:

– dấu gạch nối: Hoàng-Hữu-Phước, Hoàng Hữu-Phước, Phan Nguyễn Tường-Uyên, Phan-Nguyễn Tường-Uyên [2]

– dấu phẩy trên:  K’Rấp, R’Lấp [3]

2)  Xác Quyết Tiếng Anh Như Ngôn Ngữ Duy Nhất Được Chọn Tên Du Nhập Vào Tiếng Việt  

Hoàn toàn không phát xuất từ bất kỳ thiên kiến hay định kiến nào đối với các ngoại ngữ khác, tiếng Anh được lựa chọn ngoài sự thật đó là ngôn ngữ có sự thuận lợi trong sử dụng toàn cầu còn có lý do bảng chữ cái tiếng Anh hiện diện đầy đủ trong bảng chữ cái tiếng Việt và tất cả số chữ cái đặc thù còn lại như F, J, W và Z đều không xa lạ với tuyệt đại đa số người Việt (ai cũng biết chữ F hay được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thay thế cho chữ PH khi viết tay các bản thảo, J quen thuộc đối với hàng hóa chất lượng cao Made in Japan, W trong viết tắt của Trung Ương, và Z trong Từ A Đến Z hoặc zê-rô).

Trong khi đó tên tiếng Pháp hay Đức có những mẫu tự rất khó thể hiện trên bàn phím máy chữ hành chính thông thường, chẳng hạn như

ç   ß  œ  æ  î  û  ä   ï   ë   ö  ü  ÿ

còn tiếng Nga hay Hy Lạp, Tàu, Hàn, Nhật, v.v., tất nhiên, càng không thể khả thi và do đó phải được chuyển tải thành tiếng Anh nếu muốn dùng các tên ấy đặt cho người Việt, thí dụ như Tannhäuser phải đổi thành Tannhauser và Кузнецов phải chuyển thành Kuznetsoff, Kuznyetsov, Kuznetsov hay Kyznetsov, có như thế việc đánh máy tên tiếng nước ngoài vào Chứng Minh Nhân Dân Việt Nam mới thực hiện được.

3) Giới Hạn Về Tổng Số Chữ Cái Xuất Hiện Trong Tên Một Công Dân

Do thẻ Chứng Minh Nhân Dân luôn có kích cỡ nhỏ bé, và khoảng trống đàng sau dấu hai chấm sau chữ Tên Họ không bao giờ đủ chỗ chứa một tên dài bất thường, tất yếu dẫn đến việc phải luật hóa độ dài của tên người Việt, bất kể đó là tiếng Việt hay tiếng Anh. Việc giới hạn này là sự đương nhiên trên thế giới của thời hiện đại. Nếu ngày xưa người ta có quyển sổ chứng minh nhân dân đủ dày cộm để ghi tên đầy đủ của họa sĩ Picasso là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Ruiz y Picasso (thật ra “tên” của họa sĩ này là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad còn Ruiz là tên cha và Picasso là tên mẹ – theo quy định đặt tên con của hộ tịch Tây Ban Nha), hay tiểu bang Philadelphia của Hoa kỳ có công dân tên Adolph Blaine Charles David Earl Frederick Gerald Hubert Irvin John Kenneth Lloyd Martin Nero Oliver Paul Quincy Randolph Sherman Thomas Uncas Victor William Xerxes Yancy Zeus Wolfe­schlegelstein­hausenberger­dorffvoraltern­waren­gewissenhaft­schaferswessen­schafewaren­wohlgepflege­und­sorgfaltigkeit­beschutzen­von­angreifen­durch­ihrraubgierigfeinde­welche­voraltern­zwolftausend­jahres­vorandieerscheinen­wander­ersteer­dem­enschderraumschiff­gebrauchlicht­als­sein­ursprung­von­kraftgestart­sein­lange­fahrt­hinzwischen­sternartigraum­auf­der­suchenach­diestern­welche­gehabt­bewohnbar­planeten­kreise­drehen­sich­und­wohin­der­neurasse­von­verstandigmen­schlichkeit­konnte­fortplanzen­und­sicher­freuen­anlebens­langlich­freude­und­ruhe­mit­nicht­ein­furcht­vor­angreifen­von­anderer­intelligent­geschopfs­von­hinzwischen­sternartigraumjoeblock, Senior mà người ta phải gọi ngắn là Ông Hubert Blaine Wolfe­schlegel­stein­hausen­berger­dorff, Senior và gọi tắt là Ông Wolfe+585, Senior với con số 585 cho biết còn 585 chữ cái nữa dính sau chữ Wolfe trong cái tên đầy đủ dài 590 chữ cái của công dân nhập cư khả kính ấy. Tuy không người Việt nào đặt tên dài như thế cho hậu duệ của mình, nhưng nếu không quy định giới hạn, người ta vẫn la lên rằng luật không cấm người ta đặt tên đưa con gái mỹ miều mới sinh của mình là Trương Hùng Nguyễn Hậu Ngàn Hoa Cẩm Chướng Mẫu Đơn Thiên Hạ Đệ Nhất Mỹ Nhân Diễm Lệ Thúy Huyền Thủy Tú Hoàng Mai Nương Nương mà thẻ chứng minh nhân dân của Việt Nam sẽ không thể chứa hết được tên của cái quý cô mỹ nhân diễm lệ nương nương bà bà  ấy.

Thiết nghĩ, quy định của ViệtNam nên là như sau trên thẻ Chứng Minh Nhân Dân:

– tên bằng tiếng Việt có tối đa sáu chữ đơn mà dấu gạch nối có thể tạo nên chữ kép, thí dụ như Trương Lâm Bảo Ngọc Thùy Trang (6 chữ) hoặc Trương Lâm Bảo-Ngọc Thùy-Trang (4 chữ)  hay Trương-Lâm Bảo-Ngọc Thùy-Trang (3 chữ, gồm 1 họ kép, 1 chữ lót kép, và 1 tên kép), hoặc Trương-Lâm Bảo-Ngọc-Thùy-Trang (2 chữ, gồm 1 họ kép hai từ và 1 tên kép bốn từ)

– tên bằng tiếng Anh có họ bằng tiếng Việt và tên bằng tiếng Anh, với họ là chữ đơn hoặc chữ kép, và tên tiếng Anh có hay không có gạch nối, nhưng hợp lại tên họ không quá bốn chữ thí dụ như Hoàng Tannhauser Beowulf Thor (4 chữ, gồm 1 họ, 2 chữ lót, và 1 tên đơn), Hoàng-Nguyễn Beowulf Thor (3 chữ, gồm 1 họ kép và 2 tên đơn), Hoàng-Nguyễn Beowulf-Thor (2 chữ, gồm 1 họ kép và 1 tên kép), cùng Hoàng Tannhauser-Beowulf-Thor (2 chữ, gồm 1 họ đơn và 1 tên kép).

4)  Quy Định Về Vị Trí Tên Và Họ Của Công Dân

Tất nhiên, vị trí tên và họ của công dân Việt Nam phải luôn theo công thức thuận Họ + (Chữ Lót) + Tên, thí dụ như Hoàng Thiên Hoàng (Họ đơn + chữ lót đơn + tên đơn), Hoàng Thiên-Trường (họ đơn + tên kép), hay Hoàng-Nguyễn Beowulf-Thor (họ kép + tên kép); còn khi công dân lúc khai điền vào giấy tờ tiếng Anh của nước ngoài, có thể viết theo thứ tự mà các văn bản nước ngoài ấy yêu cầu tức theo thứ tự nghịch của tiếng Anh Tên + (Chữ Lót) + Họ, với lưu ý chữ kép vẫn không được tách rời, thí dụ Thien-Truong Hoang hay Beowulf-Thor Hoang-Nguyen.

(Ghi chú về “thuận” và “nghịch”: Tôi từ thời trung học của những năm 60 của thế kỷ trước đã đấu khẩu liên tục về những kiểu cùng đường cùng đinh cùng cực của Âu Tây do cùng thời gian trung cổ thì văn hóa Á Đông đã ở lúc cực thịnh trước và hơn hẳn Tây Âu, nên kiểu viết ngày tháng và tên họ của Âu Tây là kiểu hoàn toàn kém do  không theo trật tự đúng đắn. Tôi dứt khoát – “dứt khoát” luôn là đức tính của người có quyền lực, dù người ấy là chú bé học lớp 6 hay ông già 99 tuổi – luôn ghi ngày tháng năm tiếng Anh theo đúng trật tự tiếng Việt và khẳng định với bạn học và thầy cô giảng dạy Anh Văn rằng rồi thế giới sẽ phải chấp nhận thứ tự Á Đông này. Sau này, kiểu viết ngày-tháng-năm đã “lẳng lặng” được sử dụng trong tiếng Anh và Microsoft cũng “lẳng lặng” đưa thành một option chọn lựa tiếng Anh cho thế giới sử dụng máy tính bằng tiếng Anh. Riêng thứ tự họ tên thì ngay từ đầu thế kỷ XXI thế giới Âu Mỹ mà điển hình là Úc đã phải cho in trong đơn xin nhập học đại học bằng tiếng Anh của họ theo đúng thứ tự họ-chữ lót-tên rồi phát cho người ghi danh nhập học bất kể người đó ở bất kỳ đâu trên thế giới vì không ai dại gì không cung phụng ý chí quyền lực thực sự của sức mạnh thực sự của đế chế Á Châu. Tương tự, tôi cũng luôn chê bai cách sử dụng đơn vị đo lường của Âu Mỹ, và trước hậu quả cách nay 20 năm một vệ tinh của NASA lao vùn vụt hơn tên bắn đâm sầm xuống Hỏa Tinh nổ tung thay vì đáp nhẹ nhàng do thiết kế mang số liệu đo lường với inch và dặm, còn nhà sản xuất theo đúng từng chữ số ấy nhưng với ý nghĩ theo hệ cen-ti-mét và ký-lô-mét, làm phá sản vốn đầu tư nhiều tỷ đô-la mà mãi tận nay mới khắc phục được bằng chuyến bay khác, các nhà tổ chức thể thao và kinh doanh trên thế giới đã “lẳng lặng” trang bị đồng hồ đo tốc độ km/giờ của mỗi cú đập bóng ở các giải tennis lớn nhất hành tinh, hay của các tay đua thể thức 1, thay cho dặm/giờ. Do đó, ta có thể ung dung nói rằng những gì của Việt Nam ta là “thuận”, kỳ dư của thiên hạ Âu Mỹ là “nghịch”.)

5)  Quy Định Về Danh Mục Tên Tiếng Việt Cấm Được Chọn

Ngôn ngữ luôn chất chứa trong nó vô số từ ngữ mang ý nghĩa dung tục, phản cảm, và do đó quyền đặt tên con của người làm thủ tục khai sinh hợp pháp của hài nhi sẽ bị giới hạn bởi một danh sách các từ cấm được chọn nhằm bảo vệ đứa bé về lâu về dài trước sự châm chọc của cộng đồng từ nơi trường lớp ra ngoài xã hội. Những chữ tiêu cực hay thóa mạ như Hận Đời, Hận Kẻ Bạc Tình, Vô Duyên, Khốn Nạn, v.v., hoặc những chữ dù mang nghĩa tiết trời như Thu Phân cũng không được dùng đặt tên cho trẻ. Và ngay cả những từ mang nội dung hoặc có âm tiết bất lợi cho trẻ (như Rắm, Chó, hoặc chỉ bộ phận sinh dục, v.v.) cũng phải được cân nhắc và xem xét bởi người có trách nhiệm ở cơ quan hộ tịch. Còn bậc cha mẹ người Việt có thể cân nhắc khi đặt tên tiếng Việt cho con để tránh các sự cố về sau nếu con mình làm việc toàn cầu hóa cho Âu Mỹ – chẳng hạn Loan do trùng với chữ Loan của tiếng Anh có nghĩa món nợ; Mỹ Dung tức dung nhan xin đẹp lại trùng với chữ my dung (phát âm: mai đăng) tức phân (bò) của tôi – kể cả tên Dũng của phái nam cũng chịu chung cảnh khó xử khi danh thiếp buộc phải ghi thành Dzung, Djung, Zung, hay Jung để tránh bị bỏ mất dấu ngã khi in danh thiếp tiếng Anh thành Dung;  Vân thì trùng với van tức xe tải, v.v.

6)  Quy Định Về Danh Mục Tên Tiếng Anh Cấm Được Chọn

Tương tự, tiếng Anh cũng chất chứa trong nó vô số từ ngữ mang ý nghĩa dung tục, phản cảm, và do đó quyền đặt tên con của người làm thủ tục khai sinh hợp pháp của hài nhi sẽ bị giới hạn bởi một danh sách các từ cấm được chọn nhằm bảo vệ đứa bé về lâu về dài trước sự châm chọc của cộng đồng từ nơi trường lớp ra ngoài xã hội. Những chữ tiêu cực hay thóa mạ hoặc mang nội dung hay có âm tiết bất lợi cho trẻ cũng phải được cân nhắc và xem xét bởi người có trách nhiệm ở cơ quan hộ tịch. Ngay cả những cái tên như Jesus Christ hay Buddha chẳng hạn cũng không được tự do chọn đặt khai sinh cho con cái. Và có những trường hợp ngay cả khi tên tiếng Việt và tên tiếng Anh đều tốt đẹp hoàn toàn, vẫn gặp khó khăn nhất định tại một ngôn ngữ, chẳng hạn người họ Vũ không nên đặt tên con trai là Bob của tiếng Anh vì khi tên được thể hiện theo kiểu tiếng Việt là Vũ Bob sẽ không sao, nhưng khi thể hiện trên danh thiếp kiểu tiếng Anh sẽ là Bob Vu rất dễ bị cười chọc của người Việt khác.

7)  Vấn Đề Việt Hóa Phiên Âm Tên Tiếng Anh

Việc ở Việt Nam Cộng Hòa trước đây có công dân tên Woòng Chấn Sềnh ghi rõ y như vậy trên Thẻ Căn Cước, và công dân ấy đã không bị buộc phải phiên âm tên mình ra tiếng thuần Việt, thí dụ như Vương Chấn Sinh, chứng minh đó là quyền của công dân khi muốn hoặc không muốn thay đổi tên “cha sinh mẹ đẻ” của mình trên thẻ chứng minh nhân dân. Đối với tên tiếng Anh, sẽ không áp dụng kiểu Việt hóa phiên âm vì rất kỳ dị mà bài viết Cu Dơ Nhét Xốp đã từng phân tích rõ. James sẽ là James chứ không là Dêm-Xơ, còn Washington là Washington chứ không là Oa-Sinh-Tơn trong thẻ chứng minh nhân dân ViệtNam.

8)  Vấn Đề Dịch Thuật Tên Tiếng Nước Ngoài Sang Tiếng Việt

Tất nhiên một cô gái người Việt gốc Hoa ở Việt Nam, có tên tiếng Hoa mang nghĩa là Mai nhưng phát âm là Mùi. Việc ghi tên Mùi tiếng Việt trong thẻ chứng minh nhân dân theo phát âm tiếng Hoa có thể làm cô gái bối rối vì Mùi có nghĩa là  hoặc mùi vị trong tiếng Việt. Cô ấy có thể xin ghi tiếng Việt theo ý nghĩa mà không theo phát âm để thẻ chứng minh nhân dân của cô mang tên Mai. Song, đối với trường hợp tên bằng tiếng Anh thì việc dịch nghĩa sang tiếng Việt không bao giờ là điều đúng đắn. Nguyễn Black không làNguyễn Đen. Trần Smith không là Trần Thợ. Lý Knickerbocker không là Lý Quần Đùi.

C- Những Việc Phải Làm Trước Hoặc Cùng Lúc Với Việc Ban Hành Luật Hộ Tích

1)  Cải Cách Giáo Dục Bậc Tiểu Học

Những điểm đã nêu ở phần B.1.a, B.1.b, và B.1.d ở trên nhất thiết phải được dưa vào chương trình giáo dục bậc tiểu học để học sinh Việt Nam biết rằng bảng chữ cái tiếng Việt có tổng cộng 33 mẫu tự, trong đó có 29 mẫu tự thuần Việt và 4 mẫu tự du nhập (loan alphabets, alphabet loans, alphabet borrowings, borrowed alphabets). Các dấu hình chẳng hạn như dấu gạch nốidấu phẩy trên cũng được giới thiệu; nhưng điều quan trọng nhất là phải có cuộc điều nghiên sâu rộng về vấn đề tái lập dấu gạch nối trong ngôn ngữ viết tiếng Việt, điểm quan trọng mà bài viết Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến trước đây đã từng phân tích. Đó là chưa kể đến việc nhất thiết phải có Luật Tiếng Việt, trong đó phần bảng chữ cái, dấu hình gạch nối và dấu hình phẩy trên, cùng những vấn đề khác được luật hóa chỉnh chu.

2)  Lập Hội Đồng Tư Vấn Cập Nhật Danh Mục Và Xử Lý Các Vấn Đề Ngôn Ngữ

Khi luật đi vào cuộc sống tất nhiên sẽ phát sinh những vấn đề mới cần được xem xét, xử lý kịp thời về hộ tịch. Song, việc tu chỉnh sửa đổi một bộ luật đòi hỏi thời gian không ngắn; do đó, Luật Hộ Tịch cần đề ra một cơ chế để xử lý các phát sinh liên quan đến hộ tịch trong cuộc sống của người dân. Một hội đồng chịu trách nhiệm cập nhật danh mục tên, tư vấn tên, và xử lý các vấn đề ngôn ngữ của tên cần được thành lập, và các quyết định của hội đồng này sẽ có giá trị thực hiện như những “thông tư” nhằm bảo đảm thực hiện Luật Hộ Tịch được xuyên suốt thuận lợi, thuận ý  và thuận tiện.

 

D- Kết Luận: Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Chắc chắn người Việt có họ tiếng Việt và tên tiếng Anh sẽ không bao giờ là điều quái lạ đối với nhân loại toàn thế giới; vấn đề, do đó, duy chỉ là do nội tại tư duy của một ít người Việt đối với việc rất nhỏ nhưng mang ý nghĩa tự do, hội nhập, toàn cầu hóa, và đại đồng này.

RexMajestic của Việt Nam vẫn đang tồn tại ở Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam. Đó là tên các khách sạn hạng sang của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam do đó khó thể không tính đến lúc nên cho phép người dân đặt tên con mình là Rex hay Majestic.

Người Việt Nam do đó khó thể nói rằng Rex và Majestic là dấu hiệu của sự ngoại lai, mất gốc, không yêu nước, nô dịch, lai căng của hệ thống khách sạn Việt Nam, vì nếu nói thế là cực đoan, phi lý, phi thực tế, và vô trí.

Người Việt Nam do đó khó thể nói rằng James và Beowulf là dấu hiệu của sự ngoại lai, mất gốc, không yêu nước, nô dịch, lai căng của con người Việt Nam, vì nếu nói thế là cực đoan, phi lý, phi thực tế, và vô trí.

Người Việt tên tiếng Anh: tại sao không?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

[1] Cụm bài “Hội Chứng”:

  1. a) Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn. hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

b) Hoàng Hữu Phước. 28-7-2014. Hội Chứng “Hải Chiến Hoàng Sa”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/28/hoang-sa/

[2] Hoàng Hữu Phước. 18-10-2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. http://www.emotino.com/m.php?p=18206. Đã đăng lại tại http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com : Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Không Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. Sẽ đăng lại trên blog hoanghuuphuocvietnam ở WordPress.com này.

[3] Hoàng Hữu Phước. 28-11-2011. Để Học Giỏi Tiếng Anh (Bài 2): Emotino, D’Passion, She Don’t, You Is, I and You, Th’Universe. http://www.emotino.com/bai-viet/19452/de-hoc-gioi-tieng-anh-bai-2-emotino-dpassion-she-dont-you-is-i-and-th-universe. Sẽ sớm được đăng lại trên hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB.

Tôi vừa đăng lại trên trang mạng LinkedIn của doanh gia thế giới bài viết tiếng Anh của tôi về Ngày Chiến Thắng 30-4-1975 với tựa đề Vietnam: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975, và đã nhận được các đánh giá sau:

1) Ông Keith Scott, Chủ tịch Phòng Thương Mại Hạt Baltimore, Bang Maryland, Hoa Kỳ, Đảng Viên Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, viết:

Bài viết hôm nay của Ông xuất sắc – Ông nắm quá tinh thông cách lựa chọn ngôn từ khiến người ta có cảm xúc thật mạnh mẽ

 HHP_LinkedIn (2)

2) Ông Daniel Soum, chuyên gia lĩnh vực truyền thông – truyền hình, viết:

“Một bài viết hay bởi một người đáng kính trọng mà tôi rất vui đã được quen biết và cùng đàm đạo. Việt Nam cần có thêm nhiều người như Ông, Ông Hoàng ạ!”

 HHP_LinkedIn

Trân trọng kính mời các bạn xem bản tiếng Anh và bài dịch tiếng Việt tại: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Những Thách Thức Mới Và Khó Khăn Đối Với Các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững Trong Nghị Trình Phát Triển Hậu 2015 Của Liên Hợp Quốc

Xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư của Cô Lại Thu Trúc gởi Lãnh đạo Đại Hội Đồng Liên Minh Nghị Viện Thế Giới IPU132. Việc đăng lại này có sự đồng ý của cô Lại Thu Trúc

[- Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước -]

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 3 năm 2015

Những Thách Thức Mới Và Khó Khăn Đối Với Các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững Trong Nghị Trình Phát Triển Hậu 2015 Của Liên Hợp Quốc

Thư của Lại Thu Trúc, Công dân Việt Nam

Kính gởi Ngài Saber Hossain Chowdhury,

Chủ tịch Liên Minh Nghị Viện Thế Giới

Bản sao kính gởi:

  • Ngài Ban Ki-Moon, Tổng Thư Ký‎ Tổ Chức Liên Hợp Quốc
  • Ngài Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội Nước CHXHCNVN
  • Ngài Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước CHXHCNVN
  • Ngài Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Nước CHXHCNVN
  • Ngài Trần Văn Hằng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước CHXHCNVN
  • Ngài Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Nước CHXNCNVN, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước CHXHCNVN

Kính thưa Ngài Chủ Tịch:

Tôi là Lại Thu Trúc, công dân Việt Nam, ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Được khuyến khích bởi vị Thầy khả kính của tôi là Ngài Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Nước CHXNCNVN, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vốn là người ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam và xuất thân từ vị trí ứng cử viên độc lập, trong việc hãy tự tin tín thác các đóng góp ý kiến xây dựng của bản thân không những đến lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam mà còn đến các lãnh đạo các định chế quốc tế và các phái bộ ngoại giao, đối với các vấn đề đang là những quan ngại toàn cầu với tư cách một công dân toàn cầu có trách nhiệm;

Tôi kính xin được trình bày cùng Ngài ý kiến sau liên quan đến những thách thức khó khăn mới đối với những mục tiêu phát triển bền vững để được Ngài xem xét, có liên hệ đến chủ đề của IPU 132: “Những Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững: Biến Lời Nói Thành Hành Động”.

Như được nêu trong tài liệu phát hành của Rio+20 mang tựa đề “Tương Lai Chúng Ta Muốn Có”, các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững cần được liên kết chặt chẽ và hợp nhất với Chương Trình Nghị Sự Phát Triển Của Liên Hợp Quốc kể từ 2015 sự phát triển của những mục tiêu này không được gây chệch hướng đối với trọng tâm và các nỗ lực vào thành tựu của Các Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ 1. Chủ đề “Biến Lời Nói Thành Hành Động” của IPU 132 do đó cũng gắn liền vào Chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc.

Tuy nhiên, trong số sáu thách thức chủ yếu trong tương lai 2 như đã nếu trong Chiến Lược Phát Triển Của Liên Hợp Quốc Từ Năm 2015, có thể phát sinh các thách thức mới và khó khăn hơn nhiều như sau:

A- Sự Diễn Giải Sai Của Các Quyền Của Con Người (“Nhân Quyền”):

1)  Trong khi tái khẳng định tầm quan trọng của sự tôn trọng các quyền con người, văn kiện Rio+20 đã không ghi rõ nội hàm thực sự của cái gọi là “nhân quyền” dù sắp xếp theo thứ tự mẫu tự hay theo tầm quan trọng ưu tiên, và thậm chí ngay cả các vấn đề tối quan trọng của “nhân quyền” thí dụ như quyền được học tập phát triển, quyền hưởng chuẩn sống bình đẳng, quyền có thực phẩm, quyền được tiếp cận luật pháp, quyền bình đẳng giới, nữ quyền, v.v., cùng nhiều quyền khác, đã bị cố tình đặt sau từ “cũng bao gồm” chẳng khác nào ngụ ý rằng những nội hàm này có tầm quan trọng thứ yếu so với những “quyền” gì khác đã không được nêu ra

2) Với đà phát triển vũ bão của công nghệ thông tin, khía cạnh tự do ngôn luận trong “nhân quyền” cũng đã được gồm trong các hành vi tự do diễn đạt qua internet, các trang mạng blogs, các diễn đàn đa phương tiện, v.v., và – trong trường hợp của Việt Nam – thông qua các đối thoại trực tiếp và liên hệ trực tiếp với giới chức có thẩm quyền tại các văn phòng tiếp công dân được lập ra vô số khắp cả nước tại các trụ sở cơ quan công quyền các cấp, từ trung ương đến địa phương, từ cấp bộ đến cấp tỉnh, từ các cơ sở Đảng Cộng Sản cầm quyền đến ngay cả các văn phòng cơ quan hành chính cấp thấp nhất. Quyền tự do ngôn luận không thể nào – và không bao giờ nên tiếp tục – được hiểu một cách giản đơn như một đặc quyền đơn giản và lạc hậu hòa quyện với chuyện xuống đường la hét với hoặc không với loa phóng thanh.

3) Như đã được chứng minh trên toàn thế giới, và loại trừ các cuộc bạo loạn và bất ổn xảy ra do cố ý hoặc vô tình từ các cuộc xuống đường, thì ngay cả việc xuống đường trong hòa bình cũng gây ra khó khăn cho các chủ cửa hiệu và những người bán hàng rong, những người mà thu nhập mỗi ngày của họ dù có ít ỏi đến đâu chăng nữa cũng bị ảnh hưởng đương nhiên mà trong một chừng mực nào đó thì tác động thêm vào các nỗ lực của chính phủ nhằm hướng đến các Mục Tiêu Phát Triển Vững Bền.

4) Và điều cuối cùng song không phải là điều kém quan trọng nhất là: không bất kỳ ai có thể dễ dàng phủ nhận sự thật rằng việc xuống đường thể hiện quyền tự do ngôn luận hoàn toàn khác với việc tụ tập của đám người nhằm gây bạo loạn, hôi của, hoặc lật đổ chính phủ. Khuyến khích hoặc hỗ trợ việc bạo loạn, hôi của, hoặc lật đổ chính quyền, dù bằng lời hay bằng tài chính, thì việc xuống đường dẫn đến bất ổn xã hội nhằm lật đổ một chính phủ không bao giờ được xem là việc làm trong sạch của những người đoan chính nào có sự quan tâm thực sự đến mục tiêu phát triển vững bền. 

Với các luận điểm nêu trên, tôi kính đề nghị IPU-132 cần xác định rõ thêm hoặc cập nhật nội hàm của “nhân quyền” trong các công bố hội nghị như một cách có ích lợi trong hỗ trợ việc thực hành tốt nhất đối với công tác trị quốc của các nước thành viên IPU, nhằm loại bỏ hoàn toàn bất kỳ hành vi tiêu cực nào lạm dụng những ý nghĩa không được giải nghĩa của cụm từ “nhân quyền” để mưu đồ gây bất ổn xã hội.

B- Đưa Những Nhóm Chủ Lực Và Các Thành Phần Khác Của Xã Hội Vào Tiến Trình Phát Triển Bền Vững:

Với sự ủng hộ hoàn toàn đối với sự nhấn mạnh rằng sự phát triển bền vững đòi hỏi phải có cả sự tham gia tích cực của các nhóm chủ lực như thanh-thiếu niên, dân tộc thiểu số, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương, công nhân và công đoàn, doanh nghiệp và các ngành, cộng đồng khoa học-công nghệ, và nông gia, cùng người cao tuổi và người khuyết tật 3, tôi tin rằng IPU 132 sẽ có những cam kết về cơ chế cụ thể và chi tiết đối với những thực hiện nào có liên quan đến nông gia, người cao tuổi, và người khuyết tật, đặc biệt tại các nước đang phát triển và chậm phát triển, nơi mà những lời tuyên truyền vẫn chỉ là những lời nói.

C- Việc Tuân Thủ Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển:

Dù Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển được công nhận là một chế định quan trọng đối với sự phát triển bền vững trên toàn thế giới, việc áp dụng đầy đủ các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc vẫn là vấn đề còn tồn đọng, và một khi các tranh cãi không có sự cương tỏa thì các tranh chấp có thể gây hại đến sự phát triển toàn cầu. IPU132 nên có những quyết sách cụ thể về những biện pháp giải quyết đối với những sự bất tuân thủ thay vì để mặc vấn đề này được nói đến chung chung theo phép lịch sự tu từ.

D- Chiến Tranh Không Gian Mạng

Tât nhiên, vấn đề chiến tranh không gian mạng được các Bộ Quốc Phòng của các quốc gia xử lý; song, các mục tiêu của Tương Lai Chúng Ta Muốn CóChiến Lược Phát Triển Từ Năm 2015 Của Liên Hợp Quốc có thể bị triệt tiêu nếu cuộc tấn công mạng không được xử lý căn cơ và hiệu quả. Sự tàn phá của tấn công mạng đối với hệ thống dữ liệu y tế, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống quản lý công nghiệp, hệ thống truyền tải điện, hệ thống dịch vụ vận chuyển, và hệ thống ngân hàng – và còn nhiều hệ thống khác – sẽ có tác động rộng lớn và nhanh chóng đối với sự bền vững của các chính phủ của khu vực hay trên toàn cầu, và ngay cả đến sự hủy diệt của loài người nếu cuộc tấn công nhằm vào các cơ sở hạt nhân. IPU 132 do đó được đề nghị dự thảo một kế hoạch toàn thể hoàn chỉnh nhằm đến sự hợp tác đầy đủ giữa các quốc gia thành viên, vì rằng vấn đề liên quan đến quốc phòng không thể hoàn toàn nằm ngoài và không bị tác động bởi các mục tiêu kinh tế,chính trị, xã hội của bất kỳ kế hoạch nào của sự phát triển bền vững.

Với tất cả lòng tôn kính, tôi hy vọng các vấn đề nêu trên sẽ được Ngài và Liên Minh Nghị Viện Thế Giới quan tâm xem xét.

Tôi cũng nhân đây muốn tỏ lời cảm ơn Ngài Hoàng Hữu Phước vì đã chấp thuận đọc qua nội dung thư này để giúp tôi hoàn thiện hơn tiếng Anh của mình.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Phone: 84-8-903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa Chỉ Thư Tín: Công ty MYA, 399B Trường Chinh, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Tham khảo

1 & 3 The Future We Want. Nghị quyết số A/RES/66/288 do Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 27-7-2012. Truy cập từ http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N11/476/10/PDF/N1147610.pdf?OpenElement ngày 25-3-2015.

2 Bao gồm: (1) sự chuyển dịch sâu sắc về cơ cấu tuổi tác của dân cư, (2) sự phát triển đi kèm theo sự bất bình đẳng dai dẳng ở các cấp quốc gia và toàn cầu, (3) sự gia tăng các áp lực môi trường, (4) sự bất ổn của các thị trường toàn cầu, (5) sự bất túc quyền cai trị, và (6) cơ chế hỗ trợ toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp và phân tán

The New Tough Challenges to the Sustainable Development Goals of the UN Post-2015 Development Agenda

Xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư của Cô Lại Thu Trúc gởi Lãnh đạo Liên Minh Nghị Viện Thế Giới IPU132.

Việc đăng lại này có sự đồng ý của cô Lại Thu Trúc. Post

  • Ho Chi Minh City, 25th March, 2015The New Tough Challenges to the Sustainable Development Goals of the UN Post-2015 Development Agenda

    From: Lai Thu Truc (Ms), Vietnamese Citizen

    To:    H.E. Mr. Saber Hossain Chowdhury,

    President of the Inter-Parliamentary Union

    Copy to:

    • H.E. Mr. Ban Ki-Moon, Secretary-General of the United Nation
    • H.E. Mr. Nguyen Sinh Hung, President of the Vietnam National Assembly
    • H.E. Mr. Truong Tan Sang, SRV President
    • H.E. Mr. Nguyen Tan Dung, SRV Prime Minister
    • H.E. Mr. Tran Van Hang, Head of the Vietnam National Assembly Foreign Affairs Committee
    • H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc, Vietnam National Assembly Representative and Foreign Affairs Committee Member

    H.E. Mr. Saber Hossain Chowdhury,

    President of the Inter-Parliamentary Union

    Your Excellency:

    I am Lai Thu Truc (Ms.), a citizen of Vietnam, residing in Ho Chi Minh City.

    As encouraged by my respectful mentor H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc, the XIII Vietnam National Assembly Representative, cum-Member to the Vietnam National Assembly Foreign Affairs Committee, a non-communist party member and an independent electoral candidate, on confidently entrusting my constructive opinions and proposals not only to the leaders of the State and the Communist Party of Vietnam but also the leaders of international institutions and diplomatic missions, on issues of global concerns as a responsible global citizen, I wish to present to Your Excellency the following opinion on the new tough challenges to the sustainable development goals for your kind perusal, with reference to the thematic aspect of IPU132’s “The Sustainable Development Goals: Turning Words into Action”.

    As mentioned in the Rio+20 outcome document of “The Future We Want” the Sustainable Development Goals should be coherent with and integrated into the United Nations development agenda beyond 2015, and the development of these goals should not divert focus or effort from the achievement of the Millennium Development Goals1. The “Turning Words into Action” theme of IPU 132 is therefore in terms with the UN’s agenda in this regards.

    However, from the six key future challenges2 stated in the United Nations Development Strategy Beyond 2015, there may arise other much tougher challenges as follows:

    A- Mis-interpretation of Human Rights:

    1)  Whilst reaffirming the importance of respect for all human rights, the Rio+20 outcome document fails to specify what are really embodied within the so-called “human rights” either alphabetically or prioritically, and even the crucially important issues of say the right to development, the right to an adequate standard of living, the right to food, the right to rule of law, the right to gender equality, the right to women’s empowerment, etc., naming just a few, are deliberately put after the wording of “including” thus having the connotation of lesser importance to the un-listed.

    2) At the incredibly fast development of information technology, the freedom of speech aspect of “human rights” has been already included in those actions of free expressions via internet, blogs, media forums, and the like, and – in Vietnam’s cases – via direct conversation and contact with people of authority at places of people’s reception abundantly established throughout the country at administrative premises of all levels, be it central or local, ministerial or provincial, and of branches of the ruling Communist Party or even offices of lowest administration levels.  Freedom of  speech cannot – and should never more – be simply understood as a simple and out-dated privileged intertwining of shouting in street demonstration, with or without loud-speakers.

    3) As well-proven the world over and putting aside the riots and unrest arising deliberately or undeliberately from street demonstration, even the peaceful street demonstrations create problems to shop-owners and even street-vendors whose daily earnings however petty they may be are definitely affected which to some extent further threaten the government’s efforts towards the Goals of Sustainable Development.

    4) And last but never the least, no one can easily deny the fact that a street demonstration of freedom of speech of human rights is totally different from a gathering of mobs for rioting, looting, or overthrowing a government. Encouraging or supporting – even through verbally and not financially – a street demonstration to lead to a social unrest to overthrow a government can never be a decent work of righteous people whose true concerns are on a sustainable development cause.

    In view of above, I would suggest that the IPU-132 need further identify or update the norms of “human rights” in its documentation as a helpful move to assist the best practice of governance of the IPU state members, eliminating any negative doing to take advantage of the non-definition of “human rights” to manoeuver unrests to the society.

    B- Engaging Major Groups and Other Stakeholders:

    Whilst totally supporting the underscoring that the sustainable development requires the active participation of all major groups of say women, children and youth, indigenous peoples, non-governmental organizations, local authorities, workers and trade unions, business and industry, the scientific and technological community, and farmers, as well as older persons and persons with disabilities 3, I believe the IPU 132 would provide concrete and detailed framework commitments for whatever materialization relating to farmers, older persons and persons with disabilities could be, particularly at developing and under-developing countries whereat the vocal propagandas remain words and words only.

    C- Obligations Under the UN Convention on the Law of the Sea:

    Though the United Nations Convention on the Law of the Sea is recognized as an important institution for a sustainable development the world over, the full implementation of obligations of State members under the convention remains unsolved, and once such argument goes uncurbed the conflicts may affect the sustainability of the global development. The IPU 132 should address concretely on the measures to handle the non-conformities rather than leaving this in a general mentioning of rhetorical courtesy.

    D- The Cyber Warfare

    The cyber warfare is of course a matter to handle of the Defense Ministry of each country; however, the scopes of The Future We Want and the United Nations Development Strategy Beyond 2015 could go to naught if the problem of a cyber attack is not fundamentally and effectively tackled with. The cyberly destruction of  hospital records systems, sanitary water supply system, industrial management systems, electrical distribution networks, transportation service systems, and banking systems, naming just a few, has a vast and fast affect to the stability of governance regionwide or worldwide, and even the existence of humankind if the attack is at nuclear sites. The IPU 132 is therefore required to draft a comprehensive master plan to full cooperation among its State members as the defense-related matter cannot be totally beyond and remain unaffected to the economic, political, social scopes of any sustainable development plan.

    With all due respect I hope the above contents would be taken into consideration by Your Excellency and the Inter-Parliamentary Union.

    I wish to also hereby to express my gratitude which I owe to H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc for his kind reading of my draft of this letter for improvement of my English presentation.

    Respectfully yours,

    Lai Thu Truc

    Phone: 84-8-903 380 207

    Email: laithutruc@myabiz.biz

    Mailing Address: MYA Business Corporation, 399B Truong Chinh, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

    Reference:

    1 & 3 The Future We Want. Resolution adopted by the General Assembly on 27 July 2012. Ref. A/RES/66/288. Retrieved from http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N11/476/10/PDF/N1147610.pdf?OpenElement on 25 March 2015.

    2 Naming: (1) profound transformation of the age structure of populations, (2) growth accompanied by persistent inequalities at the global and national levels, (3) increasing environmental pressures, (4) instabilities of global markets, (5) inadequacies of governance, and (6) global aid architecture becoming more complex and fragmented.

Vì Sao Là Tannhäuser Beowulf Thor

Hoàng Hữu Phước, MIB

Các bạn đều đã rõ vì sao tôi lấy bút hiệu Lăng Tần. Thật ra đầy đủ phải là Hải Thoại Lăng Tần. Hải Thoại là lấy theo hiệu của Cang Phong, như người một dạ trung quân, một lòng ái quốc, chỉ biết vì dân, không màng danh lợi phù hoa. Lăng Tần là lấy theo tên Ca-lăng-tần-già tức chú chim trong Kinh Lăng Nghiêm luôn ngậm xâu chuỗi hạt bay theo hầu một bên Phật Bà Quan Âm.

Hôm trước trong bài về Biển Nam Trung Hoa tôi có nói về bút hiệu tiếng Anh của tôi, nên cũng nhân tiện giải thích luôn để các bạn tỏ tường như dưới đây.

Vì Sao Là Tannhäuser Beowulf Thor

 (bài viết của Hoàng Hữu Phước trên Emotino ngày 28-9-2011 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19308/vi-sao-la-beowulf-thor)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Thu Thủy, một sinh viên của tôi đầu những năm 1990, mới từ Mỹ về, nói nhớ hồi xửa hồi xưa có nghe tôi nói trong lớp về bút hiệu Beowulf Thor, nhưng quên hết chi tiết tôi kể, chỉ nhờ gần đây xem các bộ phim Beowulf và Thor bên Mỹ mới sực nhớ đến…Thầy.

Tôi đáp rằng bút hiệu đầy đủ của tôi trên tất cả các văn thơ tôi sáng tác bằng tiếng Anh từ cuối những năm 70 của thế kỷ trước là Tannhäuser Beowulf Thor, và nội dung tôi đã giải thích với học trò như sau:

– Cách tôi chọn tên: phải là của nhân vật cùng nhóm chủ đề (thần thoại), cùng…giới tính (nam), cùng địa dư (châu Âu), cùng tốt đẹp, phải lần lượt có số âm tiết là 1, 2 và 3, phải nêu bật cá tính thực sự của mình và nhất là không thuộc các tên quen thuộc đến độ nhàm chán trong xã hội Âu Mỹ.

– Ý nghĩa tên:  Thor là thần sấm sét, con trai cưng của thượng đế Odin trong thần thoại Bắc Âu, (giống…“thiên lôi” nhưng khác ở chỗ Thor là hoàng thái tử còn “thiên lôi” chỉ ở cấp tương đương…“binh nhì”) nổi tiếng thiện tâm và dũng mãnh, thiện dụng cây búa tạ để bay và để…búa, đồng thời là nhân vật trong bộ truyện tranh nổi tiếng cùng tên của Mỹ những năm 1950; Beowulf tà tổ phụ của dân Anh (giống như Lạc Long Quân của dân Việt nhưng khác ở chỗ cực khổ hơn Lạc Long Quân và có ít …con hơn Lạc Long Quân), nổi tiếng anh hùng trong tiêu diệt rồng dữ và dựng nước trong thiên anh hùng ca cùng tên bằng cổ ngữ Anh, sử dụng thuần thục trường thương; còn Tannhäuser là tên một hiệp sĩ thi sĩ Đức lãng mạn hào hoa và đào hoa, người tình của…Thần Vệ Nữ Venus, sử dụng bảo kiếm chém sắt như chém bùn, trong thần thoại Đức được soạn thành nhiều vở kịch và múa ba-lê, đặc biệt trong tác phẩm opera cùng tên của Richard Wagner (giống truyện Từ Thức nhưng có hậu hơn Từ Thức vì khi Tannhäuser trở lại chốn động đào, được Venus tha thứ cho hưởng nhục dục cùng nàng đến…Ngày Tận Thế, trong khi Từ Thức quay lại tìm không thấy non tiên phải thành ông lão đói nghèo quần áo rách bươm đội nón lá lang thang biệt tích).

 ScreenShot889

Nếu điện ảnh Mỹ gần đây đã làm phim Beowulf và phim Thor, ắt rồi sẽ có phim … Tannhäuser, không phải vì họ nghe danh tiếng… công dân Việt Nam Tannhäuser Beowulf Thor Hoàng Hữu Phước, mà đơn giản vì họ phải lục lọc kiếm tìm những kiệt tác văn học thần thoại dân gian để làm phim nhằm giành giật khách hàng trước sự lấn lướt của trường phái “thần thoại hiện đại” mà đại diện là Harry Potter.

Ngày xưa ấy tôi đã khuyên sinh viên nên luyện tiếng Anh bằng cách đọc những truyện Cổ La Hy, vừa biết nhiều từ, nhiều tích, hứng thú đọc từ đầu đến cuối hơn là đọc tiểu thuyết xã hội, không phải để vận dụng điển tích khi viết luận văn, mà chỉ đơn giản là sau này nếu Hollywood có làm phim (chắc chắn sẽ làm thôi, vì tôi là “tay mơ” mà còn có trong đầu khối truyện để sẵn sàng làm…nhà sản xuất phim đầu tiên của Việt Nam nữa là đại gia Hollywood!), ta thưởng thức thoải mái mà không phải tra tìm xem Loki là ai (em “trời đánh” của Thor “thiên lôi”), Asgard là gì, và những tên gọi khác nhau của từng dân tộc dành cho nhân vật … Thượng Đế (trừ Việt Nam vì người Việt không đặt tên cho Thượng Đế nên không rõ Ông họ gì). Hóa ra qua thế kỷ mới này Hollywood làm phim thật, nhờ vậy, học trò mới sực nhớ đến Thầy một cách muộn màng, vừa gởi về cho Thầy mấy hộp…chocolate made-in-USA và…sợi nha khoa để xỉa răng (khi răng Thầy đã bị kẹo làm hỏng bét mấy chục năm nay phải xài răng giả), vừa hứng thú bắt đầu tìm truyện Tannhäuser đọc trước, mà chẳng ai quan tâm hỏi Thầy xem bao giờ mới có số xuất bản đầu tiên của Tuyển Tập Thơ Văn The Thawing Whiteness – Giá Băng Tàn – của Tannhäuser Beowulf Thor.

T.B.Thor Hoàng Hữu Phước

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Hai bài viết sau đây liên quan đến cách gọi Biển Đông. Xin đăng lại để các bạn đọc tham khảo.

Nhân đọc bài Biển Đông Hay Biển Nam Trung Hoa của Ông La Quang Trí trên Emotino

(Bài post ngày 17-8-2012 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19670/nhan-doc-bai-bien-dong-hay-nam-trung-hoa-cua-ong-la-quang-tri-tren-emotino)

Bài viết Biển Đông Hay Biển Nam Trung Hoa đầy bức xúc của Ông La Quang Trí đăng ngày 21-7 vừa qua trên Emotino khiến tôi rất quan tâm và có nhiều điều muốn viết.

Thủa nhỏ, tôi thấy các bản đồ của Việt Nam Cộng Hòa trong các chương trình học của tôi từ tiểu học đến trung học ở đất Sài Gòn đều ghi là Biển Nam Hải, xuất phát từ cái tên South China Sea trên Atlas thế giới. Thật ra thì đã là tên thì vô nghĩa, tức là vượt qua tất cả các diễn giải mà tự điển có thể chú thích cho mỗi một từ, như tôi đã nói đến trong một bài viết trước đây khi liên hệ đến quốc gia Ivory Coast tức Cote d’Ivoire mà Việt Nam đã hoàn toàn sai khi dịch ra Bờ Biển Ngà, chẳng khác nào gọi nhà tỷ phú Mỹ Knickerbocker là Ngài Quần Đùi hay Ông Tà Lỏn vậy. Thế nên mặc cho các nhà trí thức của đám thực dân ngày xưa có đặt tên biển nọ là Indian Ocean cho vùng biển bao la từ Ấn Độ đến bờ biển Tây Úc và nếu có gọi là Ấn Độ Dương thì cũng không có việc Thái Lan, Myanmar, Pakistan, Indonesia, Úc, v.v, cùng mấy chục nước bờ phía Đông của lục địa Châu Phi sẽ bị Ấn Độ tuyên bố đường lưỡi khủng long chẳng hạn để chiếm đóng. Bọn chúng cũng đặt tên South China Sea cho vùng biển ta gọi là Biển Đông thì cũng chẳng sao, và ngay cả Philippines nếu sau này có thích gọi nó là Biển Tây vì nó ở phía Tây nước ấy cũng chẳng sao, vì South China Sea đã là tên gọi duy nhất từ xưa của giới xuất bản bản đồ.

Việt Nam Cộng Hòa cũng có khi gọi “Biển Nam Hải” là “Biển Đông Hải”, song ta hiện không thể dùng từ Hán Việt để gọi là Đông Hải vì nghĩa tiếng Anh của nó (East China Sea) đã được giới bản đồ dùng gọi vùng biển khác của Trung Quốc, phía dưới Biển Hoàng Hải (Yellow Sea) phía bờ Tây Hàn Quốc-Triều Tiên và thậm chí Biển Nhật Bản phía bờ Đông Hàn Quốc-Triều Tiên cũng có tên là East Sea tức Đông Hải nhưng không có chữ China. Vì vậy, ta cứ gọi là Biển Đông theo ý ta, và có thể bảo đó là cách gọi bằng tiếng Việt của cụm từ South China Sea, chứ đừng “tự ái dân tộc” rồi tự dịch sang tiếng Anh là East Sea vì sẽ “đụng hàng”. Không có bất kỳ một quy luật nào được con người đề ra để ấn định cách diễn nghĩa một tên riêng cả, thế nên chữ China có xuất hiện hay không cũng không vì thế mà phải dịch thành Trung Quốc, và South cũng không có nghĩa là phía Nam. South China Sea là South China Sea, hoặc South China Sea là Biển Đông. Phải chăng mấy đại gia Châu Âu thù ghét nước Nga của Sa Hoàng nên gọi thủ đô nước ấy tiếng Anh là Moscow và tiếng Pháp là Moscou trong khi danh chính ngôn thuận lẽ ra phải là Moskva cho đúng với phát âm của người Nga; song không vì vậy mà người Nga nổi nóng bảo sao lại gắn chữ cow là con bò cái vào tên thủ đô của họ, hoặc tại sao dân Pháp lại gọi là Mót Cu. Tất cả vì họ hiểu rằng đã là tên riêng thì ý nghĩa đen của từng thành tố không còn nữa.

Tương tự, các học giả thời thực dân đã gọi khu vực nước ta và các lân quốc là Indochina tức Bán Đảo Ấn-Trung, mà ta khéo léo gọi trong tiếng Việt là Đông Dương. Ngày nay ta không dùng từ Đông Dương, tức là vứt bỏ từ Indochina vì Indochina bao gồm 5 “nước”: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchina), Campuchia, và Lào, tức vết hằn của một thời Việt Nam bị “chia để trị” cực kỳ thâm độc của thực dân Pháp. Điều này cho thấy Pháp khi gọi Đông Dương là Indochina còn Nam Kỳ là Cochinchina họ cũng đâu có màng đến việc từ China là Trung Quốc, mà chỉ đơn giản lấy Trung Quốc là một điểm mang tính mốc để định phương hướng cho các vùng khác mà thôi. Ta cũng nên nhường cho bọn Tàu nỗi sợ hãi với chứ, vì biết đâu rất nhiều người trong bọn chúng đang khóc thét lên rằng Việt Nam sẽ ngắm nghía nhòm ngó đất Tàu vì China là từ ngữ trước đây đã từng có trong tên gọi của “nước” Nam ta mà.

Nhưng kiểu gọi bãi biển ở Đà Nẳng là China Beach thì lại là vấn đề đáng bị lên án, không vì China có nghĩa là Trung Quốc mà vì một lý do khác. Thời chiến tranh, quân Mỹ và Úc gọi Bãi biển Mỹ Khê ở Đà Nẳng bằng một “nick name” là China Beach và cái tên này thành tựa đề một bộ phim truyền hình nhiều tập của đài ABC TV Hoa Kỳ phát sóng từ 1988 đến 1991. Nếu hiểu nickname chỉ là thứ tên đặt cho vui, hài hước, giễu cợt, hoặc để gọi với ác ý, thì người ta đã không khinh suất đến độ dùng China Beach để gọi bãi biển Đà Nẳng nghe rất đậm chất thất phu thất học thất nhân tâm xấu xa xấu xí xấu hoắc tầm bậy tầm bạ tầm phào đến như thế. Tôi chỉ đặt bút hiệu cho mình sao cho thật quý phái (Tannhauser Beowulf Thor), thật văn vẻ (Hải Thoại Lăng Tần), chứ ngay từ nhỏ đã thù ghét cái gọi là nickname cớt nhã của bọn nhóc Âu Mỹ, và tôi chỉ học tất tần tật các cái hay của Âu Mỹ trong văn chương, học thuật, tư cách và phong cách, còn với mấy trò nickname và sinh hoạt vớ vẩn (như halloween và “cá tháng tư”, v.v.) thì ném ban cho chúng cái nhếch mép cười khinh bỉ khinh miệt khinh khi. Ngay cả Ba tôi cũng đặt tên gọi ở nhà cho tôi là Hoàng Trọng rồi giải thích rằng Ông kỳ vọng tôi sẽ là người được trọng vọng, kính trọng, đồng thời đó cũng là một phần của tên Ông (Hoàng Trọng Cương). Và Hoàng Trọng tất nhiên không thể là một nickname mà chỉ là một “other name”. Tôi cũng dùng tên một vĩ nhân nước ngoài để làm tên gọi ở nhà cho con tôi; tất nhiên, đó không phải là một nickname.

Du lịch lữ hành là ngành cao cấp của văn hóa; do đó, nhất thiết phải do những con người trí hóa cao phục vụ. Tháng trước công tác tại một nước nọ, tôi thấy có hướng dẫn viên bô bô to họng nói tiếng Việt với đoàn du khách Việt về việc vùng đất ấy của người ta mà tổ tiên Việt chiếm đóng, và tôi chỉ muốn vung chiếc búa sấm sét của thần Thor kiêu dũng hay trường thương của anh hùng Beowulf dũng mãnh hoặc đóa hồng của hiệp sĩ Tannhauser tình tứ sẽ giáng vào đôi môi mọng đỏ của người nữ hướng dẫn viên du lịch mất dạy mất nết mất trí đó. Vì vậy, sự tức giận của Ông La Quang Trí rất chính đáng chính danh chính đạo, vì cái ngành du lịch lữ hành ấy đã dám giỡn mặt với Ông cùng những người đoan chính như Ông khi điềm nhiên gọi bãi biển Đà Nẵng là China Beach. China trong nickname không phải là Trung Quốc nên bọn Tàu nếu nói đó là bãi biển của chúng cũng không sao vì chúng điên dại điên rồ điên loạn. Nhưng người Việt “trí hóa” của ngành du lịch lữ hành Việt Nam mà lại dùng China Beach thì đúng là đại ngu si đại ngốc nghếch vậy. E rằng các công ty du lịch lữ hành phải hoặc xé bỏ hết brochure cùng poster và in cái mới, hoặc cứ “vũ như cẩn” nhưng chịu khó bỏ tiền mua nhiều chén chai lọ bình sứ chất đầy bãi biển Đà Nẳng để chữa thẹn rằng “ấy là bãi biển sành sứ mờ, vì china có nghĩa là đồ sứ đấy ông Phước ạ, ông hãy về học lại tiếng Anh đi nhé!”.

Bài Viết Thêm

(Post ngày 22-8-2012 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19671/viet-them)

Cũng nhân đọc lại bài “Nhân đọc bài Biển Đông hay Biển Nam Trung Hoa của Ông La Quang Trí” tôi thấy cần chú thích thêm một nhận xét sau.

Trong bài trên, tôi ghi rằng ta không thể gọi Biển Đông của ta là Đông Hải trong tiếng Việt hay East Sea trong tiếng Anh vì Đông Hải là tên gọi của biển East China Sea còn East Sea là tên của Biển Nhật Bản mà các tên tiếng Anh này do giới địa lý Âu Tây đã áp đặt từ lâu cho toàn thế giới sử dụng. Điều tôi muốn nói ở đây là giới học thuật Việt Nam đã hoàn toàn sai khi gọi East China Sea là Biển Hoa Đông theo kiểu dịch thuật mà các bạn có thể thấy đang được dùng nhan nhản trên báo chí. Tôi bảo sai vì nếu thế phải gọi South China Sea là … Biển Hoa Nam, sao lại là Biển Đông? Cả East China Sea và South China Sea đều do bọn thực dân Âu Tây đặt ra cho toàn nhân loại sử dụng cho đến ngày tận thế, do đó đã “dịch thuật” thì phải dịch cả hai, không dịch chỉ riêng có East China Sea rồi né South China Sea. Như tôi đã nói: đã là tên riêng thì không được dịch. Đó là nguyên tắc cơ bản của dịch thuật. Chỉ được hoặc để nguyên hoặc đặt tên mới theo ngôn ngữ của mình (thí dụ: Russia = Nga, USA = Hoa Kỳ = Mỹ, Spain = Tây Ban Nha,   Afghanistan = Afghanistan, Pakistan = Pakistan). Vì vậy, ta có quyền gọi và nhất thiết phải gọi như sau:

1- South China Sea = Biển Đông (hoặc cứ gọi là Biển Việt Nam)

2- East China Sea = Biển Đông Hải

3- East Sea = Biển Nhật Bản

Hỡi các nhà học thuật Việt Nam, đừng trổ tài dịch Quốc gia Cote d’Ivoire hay Ivory Coast thành Nước Bờ Biển Ngà; đừng trổ tài dịch East China Sea thành Biển Hoa Đông, để rồi mắc nghẹn đối với South China Sea. Xin hãy nhớ: đã là học thuật hàn lâm thì phải xử sự thật học thuật hàn lâm. Và theo học thuật hàn lâm, China là vô nghĩa trong tất cả tên gọi tiếng Anh mang tính lai ghép của địa dư.

Tất cả các nhu cầu sử dụng từ ngữ học thuật hàn lâm tế nhị có liên quan đến an nguy của tổ quốc và dân tộc Việt Nam, xin vui lòng kiểm tra lại bằng cách gởi thư đến tôi để được nhận những lời khuyên miễn phí.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, nguyên giảng viên Anh văn các môn Lexicology, Composition, British & American Literature, British Civilization, Translation & Interpretation, Grammar, Speaking & Debating, và Business Contracts các trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, các Trường Ngoại Ngữ của Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh, v.v.

Nhân Đọc Bài “Ứng Xử Phù Hợp Để Khẳng Định Chủ Quyền Của Việt Nam Đối Với Hoàng Sa Và Trường Sa”

Hoang Huu Phuoc, MIB

 HHPxyz

Ngày 11-5-2012 tôi có đăng trên Emotino.com bài viết sau về Hoàng Sa và Trường Sa. Nay xin đăng lại trên blog này để bạn đọc tham khảo.

Trân trọng.

Nhân Đọc Bài “Ứng Xử Phù Hợp Để Khẳng Định Chủ Quyền Của Việt Nam Đối Với Hoàng Sa Và Trường Sa”

Mục lục

A- Những Cái Sai Của Nhà Báo Kim Trí Trên Báo Thanh Niên

B- Những Điểm Đúng Của Cô Lại Thu Trúc Trên Emotino

C- Một Điều Nhận Thấy Của Lăng Tần Đối Với Vấn Đề

A- Cái Sai Của Nhà Báo Kim Trí Trên Báo Thanh Niên:

Khi đọc bài “Không thể chậm trễ” của nhà báo Kim Trí qua bài viết của Cô Lại Thu Trúc, tôi rất không hài lòng trước nội dung hành văn của nhà báo vì đã phạm những điều sơ đẳng về tư thế người cầm bút như sau:

1) Khẳng định võ đoán khi cho rằng tại Việt Nam không có website chính thức nào cung cấp hệ thống các bằng chứng và lý lẽ của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.

2) Lối mòn tư duy từ chương thủ cựu khi cho rằng các hệ thống thông tin ấy cần phải bài bản, mạch lạc để học sinh có thể lấy đó làm vũ khí lý luận, đấu tranh, vô hình trung cổ súy cho việc học tập thụ động của học sinh, những người không có khả năng tìm tòi, tổng hợp, phân tích, hệ thống các thông tin để tự phục vụ việc học và mở mang kiến thức cùng trí hóa của chính mình, đồng thời ám chỉ Bộ Giáo Dục phải biên soạn các bài để học sinh học thuộc lòng chăng? Và du học sinh nếu cần Bộ Giáo Dục cung cấp các tài liệu soạn sẵn thì bảo đảm một tỷ phần trăm là các du học sinh ấy không thể nào thành những người tài cho đất nước này vì các du học sinh nước khác không thụ động đến như vậy. Còn khi du học sinh phải cần đến các tài liệu đã được dịch sẵn thì e rằng phải xem lại ý nghĩa của hai từ “du học” nghĩa là ra nước ngoài khi ngoại ngữ không thông.

3) Ngủ quên trên thực tế khi dùng từ phóng đại của “vũ khí lý luận, đấu tranh mọi lúc mọi nơi” vì quên rằng không có “vũ khí ngoại ngữ”, “vũ khí hùng biện” và “vũ khí tư duy” thì quyển tài liệu biên soạn sẵn nói trên – nếu có – cũng không bao giờ thành “vũ khí lý luận” cả để mà “đấu tranh mọi lúc mọi nơi”. Chưa kể, việc học bao la nên không thể chỉ cần có tư liệu về Hoàng Sa và Trường Sa, mà cần có cả về cá Ba Sa và hàng tỷ thứ khác để cung cấp cho học sinh ngay trong lớp học chăng?

4) Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, là phủ nhận giá trị bản thân khi viết tài liệu không đầy đủ, nghĩa là nhà báo “người lớn” như Kim Trí cũng không biết dùng công cụ “search” trên Google để tìm hàng trăm tài liệu xưa, mới, tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh về Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi sự suy nghĩ mặc định của độc giả luôn là: hễ là nhà báo tất luôn là người học rộng, biết nhiều, hiểu sâu, chủ động, tích cực, dấn thân, trách nhiệm, sáng tạo, chứ không chỉ là người thấy trước mắt có gì thì ghi lại cái đó, không khác một máy ảnh, mà ngay bản thân máy ảnh cũng ghi lại hình ảnh chất lượng khác nhau tùy vào nhãn hiệu, xuất xứ thấu kính của ống kính, độ rung của đôi tay người chụp hay của mặt đất, và độ ẩm của không khí chung quanh, v.v., đồng nghĩa với sự nhìn thấy của một đứa trẻ và sự nhìn thấy của một bậc trưởng thượng đối với cùng một sự việc.

B- Những Điểm Đúng Của Cô Lại Thu Trúc Trên Emotino

1) Cô Lại Thu Trúc đã nêu những điều rất đúng mà tất cả các “du học sinh” trên toàn thế giới đều có và du học sinh từ Việt Nam lẽ ra đã được mặc định là sẵn có là Phong cách học duy nhất đúng của du học sinh bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – tính chủ động, tích cực trong tìm tòi tài liệu bên ngoài sách giáo khoa, trong tìm hiểu ý nghĩa vấn đề ngay giữa mỗi hai dòng chữ, trong đưa ra nhu cầu yêu cầu giáo viên cung cấp chí ít là tựa đề của tài liệu hoặc đường kết nối đến vấn đề quan tâm, và trong làm chủ khẩu ngữ tiếng nước ngoài, mà trong trường hợp này là mastering American English tức thông thạo nhuần nhuyễn lưu loát tiếng Mỹ.

2- Ngoài ra, vấn nạn mà Cô Lại Thu Trúc nêu lên về sự hồ nghi về trình độ và năng lực học tập của du học sinh ở nước ngoài khi đặt câu hỏi rằng “với cung cách như thế làm sao có thể yên tâm được là bạn sẽ có thể chủ động lĩnh hội được các kiến thức tại học đường xứ người?” mang yếu tố lõi của vấn nạn trầm kha trong đào tạo nguồn nhân lực của ta.

3- Tương tự, sự nhắc nhở của Cô về tính phức tạp của thực trạng có nhiều nước cùng tranh chấp trong vấn đề Biển Đông đòi hỏi sự đấu tranh ngoại giao khéo léo của Chính phủ Việt Nam cùng nhiều hoạt động khác, chứ không chỉ đơn giản bằng các khẩu hiệu hay sự bùng phát phản ứng nhất thời.

C- Một Điều Nhận Thấy Của Lăng Tần Đối Với Vấn Đề

Phản ứng trước sự thành công của người nữ sinh Trung Quốc khi thuyết trình về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, người nữ sinh Việt Nam đã bỏ ăn. Báo không nói là bỏ ăn một bữa ăn, bỏ ăn cả ngày, bỏ ăn cả tuần, hay tuyệt thực một tháng, tất nhiên cũng không thể tránh ý rằng bỏ bữa ăn tức đứng dậy rời bỏ bàn ăn và sau đó sẽ xuống bếp ăn những gì còn thừa lại.

Tôi cho rằng người nữ sinh Việt Nam bỏ ăn vì không nói được tiếng Mỹ.

Khi tôi viết hàng trăm bài bằng tiếng Anh trên Yahoo!360, có nhiều sinh viên ở các trường đại học có sinh hoạt câu lạc bộ tiếng Anh ca ngợi các bài viết ấy. Nhưng khi vài người trong số họ bỏ học nửa chừng để sang Mỹ “du học”, những em này gởi email cho tôi, nói rằng Ông Thầy Việt Kiều đang dạy họ môn tiếng Anh đã phê phán rằng tôi viết sai bét vì người Mỹ không viết cầu kỳ như thế. Tôi mới cho các em ấy biết rằng vì các em không ai viết được tiếng Anh Formal English nên khi ra nước ngoài người ta phải buộc các em học một năm về môn viết tiếng Anh để còn viết assignment liên tục khi học chính thức, mà môn viết tiếng Anh không bao giờ do “giáo sư” Mỹ dạy cả vì đó là môn sơ đẳng, không nhiều thù lao, và đã là “giáo sư” thì về các phân môn quan trọng, vì vậy chỉ có giáo viên trung học hoặc giáo viên Việt Kiều cấp thấp mới dạy môn viết, mà đã cấp thấp thì làm sao không thất kinh trước các bài viết của tôi. Kết luận của tôi là Alan Edgar Poe là nhà văn Mỹ, vậy có người Mỹ nào viết được cầu kỳ như Poe? Mà nếu không viết y như Poe thì có bị gọi là viết “sai bét” không?  Mà nếu sai bét thì chính ông thầy Việt Kiều viết “giản đơn” ấy mới là sai bét trước hết – theo cách lập luận ấu trĩ của ông ta.

Thế thì, người sinh viên Khoa Anh Văn một đại học lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, du học sang Mỹ còn phải tốn tiền học viết, thì cô học trò phổ thông trong bài báo Thanh Niên cách chi mà viết được bài luận về Hoàng Sa-Trường Sa để mà đọc trước lớp, nên phải bỏ ăn thôi.

Nói tóm lại, các bạn trẻ hãy học đúng cách về ngoại ngữ. Và muốn học đúng cách, xin hãy chịu khó tìm đọc các bài viết về chủ đề “học tiếng Anh” của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước trên Emotino, để khỏi phải bỏ ăn, khóc thút thít, và có thể dạy cho bọn cháu chắt chút chít chụt chịt của đám thảo khấu cướp cạn Lương Sơn Bạc biết thế nào là lễ độ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Song Ngữ Việt & Anh (Bilingual: Vietnamese & English)

 Nguyen Quang To 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tháng 11 năm 2011 ngay khi tôi phát biểu thành công vang dội ngăn chặn được việc hấp ta hấp tấp đề ra dự án Luật Biểu Tình, bọn nhà báo hai mang trong nước thì dựng ngay chuyện tôi mắng người Việt Nam dân trí thấp để kích động đám côn đồ hàng trăm tên gởi tin nhắn đe dọa giết tôi, đe dọa đốt nhà tôi, đe dọa nổ bom văn phòng của tôi, còn bọn hải ngoại chống Cộng dựng ngay chuyện một thằng mất dạy bá láp tự xưng là Thầy của tôi nghe tin tôi chống Luật Biểu Tình nên viết ngay bài trường thiên nói tôi đã từng là đứa học trò ngổ ngáo chuyên làm điều xằng bậy. Đại biểu Trần Du Lịch cho tôi hay tin này, còn Đại biểu Đặng Thành Tâm đưa tôi xem điện thoại di động mở web về bài của thằng “Thầy” ấy. Tôi đều dùng một câu duy nhất để trả lời hai vị ấy biết đó là “thằng mất dạy”. Như bất kỳ đấng trưởng thượng khả kính nào nắm trong tay quyền lực tối thượng của chính đạo chính tâm chính nghĩa, tôi lẳng lặng không đòi báo Tuổi Trẻ phải xin lỗi tôi công khai chuyện đã giật tít tầm bậy tầm bạ “Dân Trí Thấp” vì tôi muốn ban cho kẻ duy nhất chịu trách nhiệm về lỗi lầm không thể nào được tha thứ này là Tổng Biên Tập một ân huệ để tự đứng ra xin lỗi tôi (rất tiếc là Tổng Biên Tập đã đại ngu đánh mất cơ hội bằng vàng ấy, đã vậy sau đó còn để yên cho bọn hai mang tấn công tôi tiếp nhân vụ Tứ Đại Ngu, khiến tôi quyết định từ nay sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ sau khi hắn đã bị triệu khẩn cấp về Thành Ủy, bỏ Tuổi Trẻ như rắn không đầu), đồng thời tôi cho đăng bài viết bằng tiếng Việt về Thầy Nguyễn Quang Tô trên Emotino.com ngày 25-11-2011, xem như buộc lòng phải tung bửu bối mà tôi ngỡ sẽ dấu mãi trong hành trang một đời người. Nay tôi xin đăng lại bài viết ấy như dịp Ngày Xuân Tưởng Nhớ Đến Ơn Thầy, để bạn đọc khắp nơi biết tôi đã là học sinh như thế nào và được thọ giáo với những bậc Thầy Cô đạo cao đức trọng tuyệt diệu ra sao. Trong bài tôi có viết Thầy Cô nếu còn cũng đã ở tuổi 80 hay 90 – như một cách gián tiếp mắng thằng mất dạy dám giả danh “Thầy” tôi vì chẳng có ai 90 tuổi mà ngồi ngay vào máy vi tính tung ngay lên mạng bài viết mắng ngay người học trò ngay khi người ấy vừa mở miệng nói xong câu chống cái đề xuất vở vẩn mang tên “Biểu Tình”.

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Hoàng Hữu Phước

Năm ngoái tôi đã định năm nay sẽ viết một bài thật chân thiết về Nhà Giáo với sự khắc khoải về nền giáo dục nước nhà. Nhưng khi ngày Nhà Giáo của năm 2011 đến và nay đã sắp hết tháng 11 rồi mà tôi vẫn chưa sao hạ bút viết nên bài luận dài ấy. Do may mắn luôn được Thầy Cô yêu thương từ bậc tiểu học và suốt 7 năm trung học, và cũng luôn làm trưởng lớp liên tục 12 năm cho đến hết lớp Đệ Nhất (lớp 12), tôi được các Thầy Cô đáng kính tặng rất nhiều những lời động viên mà tôi giữ gìn như báu vật cho đến ngày nay. Tôi đã hình thành nên nhân cách chính mình từ đức độ tài năng của các bậc Thầy Cô ấy, cũng như từ những báu vật này. Chiến tranh đã khiến có nhiều sự chia ly, và tôi đã không còn bạn bè để nhờ kiếm tìm tin tức của Thầy Cô. Năm tháng càng qua đi, sự hy vọng nghe tin các Thầy Cô ấy càng ít dần đi, vì Thầy Cô nay đã ở tuổi 80 – 90. Tất nhiên, không phải là một mặc định rằng tất cả các Thầy Cô đều là người tốt hay đáng kính vì chúng tôi cũng đã gặp nhiều Thầy Cô không tốt và không đáng kính dạy ở các lớp khác, nhưng tôi – và các bạn học cùng lớp – đã may mắn được gặp một số Thầy Cô gương mẫu làm đuốc soi đường cho chúng tôi khắc khổ tự luyện nên người Việt Nam. Tôi hiện chỉ còn hai người bạn học chung trong thời gian 12 năm ấy tại Sài Gòn trước 1975: Hai người thời tiểu học (Trường Phan Đình Phùng, Quận 3) là Nguyễn Sơn Hải đang ở USA, và Hồ Hữu Trung đang công tác tại Sở Ngoại Vụ Tp Hồ Chí Minh. Hải đã cùng tôi và Tống Kim Lan đoạt giải đồng đội Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình khi học lớp 4 (tôi là đội trưởng) thắng đội trường “Tây”, còn Trung thì cứ Chủ Nhật là được Bố Mẹ lái xe đến nhà xin Ba Má tôi cho phép chở tôi, cậu học trò nghèo, đi ăn nhà hàng nổi Mỹ Cảnh và các chốn phù hoa đất Sài Thành vì Mẹ Trung muốn các con của bà gần tôi để theo lời Bà “gần đèn thì sáng”. Chúng tôi vẫn liên lạc với nhau suốt những năm trung học và lần nào gặp ai cũng tự động khoe Thầy Cô của mình mới thật tuyệt vời. Các biến động 1975 đã đẩy Sơn Hải vượt biên sang Mỹ và mất hút mọi liên lạc cho đến vài chục năm sau mới tình cờ nhận nhau tay bắt mặt mừng trên…internet. Còn Trung từ cậu học trò đẹp trai công tử nhà giàu quyền thế và học giỏi phải bỏ dỡ hành trình đại học đi kiếm sống lam lũ chốn thị thành vì Cha của Trung là Đại tá Hồ Hữu Thuận, Chủ bút Báo Tiền Tuyến của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, phải đi học tập cải tạo một thời gian, khiến Mẹ Trung bán dần đồ đạc tư  trang, và bán ngôi nhà 5 tầng trên đường Lê Lai, Quận 1. Cha Trung sau khi ra trại, có làm việc nhiều năm tại Nhà Văn Hóa Quận 1, còn Trung được nhận vào Sở Ngoại Vụ. Nhà nước Cộng sản Việt Nam thật sự có chính nghĩa khi xử sự đàng hoàng với những sĩ quan cao cấp chế độ cũ, người từng bị cho là có tội với nhân dân. Những lời nói dài dòng về người thật việc thật của những “học trò” may mắn còn nhận ra nhau ở trên là khúc dạo đầu về ý nghĩa rằng thời cuộc có đổi thay, chúng tôi vẫn nên người vì chúng tôi được học từ những bậc Thầy Cô đáng kính, mà bài viết sau về Thầy Nguyễn Quang Tô là để tỏ lòng tri ân.

Thầy Nguyễn Quang Tô có học vị cử nhân, nhưng sự xuất chúng của Thầy cứ dường như là chuyện đương nhiên của một nhà giáo, vì phải xuất chúng mới đủ tư cách dạy học trò, được học trò kính nể, được học trò tiếp nối sự nghiệp giáo dục, và được học trò noi theo trong cách sống và hình thành nhân cách. Thầy dạy tôi ở trường Nguyễn Bá Tòng, và học trò kính phục khi nghe tin Thầy đoạt Giải Thưởng Phủ Tổng Thống cho công trình dịch thuật ra tiếng Việt nguyên tác Việt Nam Vong Quốc Sử bằng chữ Nôm của Phan Bội Châu.

Ngay khi có sự xuất hiện của internet và Yahoo!360, tôi đã viết bài bằng tiếng Anh về Thầy và viết nhiều bài khác về các Thầy Cô khác trong đó có Thầy Lê Văn Diệm. Bài về Thầy Nguyễn Quang Tô có đưa đoạn dịch ra tiếng Anh của tôi từ bút phê tiếng Việt của Thầy tặng tôi như sau:

 Nguyen Quang To 2

Nguyên bản tiếng Việt trong lưu bút:

“Thầy mừng ý nghĩ của Thầy đã không sai. Thầy càng mừng hơn khi niềm tin của Thầy đã thành sự thực: sự thành công tuy “giáo bất nghiêm” nhưng không “sư chi đọa” đã có một người học sinh như Phước. Thầy chỉ nhắc Phước cần luôn nhớ lấy phương châm “kim mãn doanh” bất như “nhất kinh”, ít ra là trong đời học sinh. Thầy tin rằng Phước sẽ có một ngày mai tương xứng với tài đức. “Có đâu thiên vị người nào Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai” Nguyễn Du xưa đã nói như thế. Qua Phước, Thầy càng tin như thế Trường Nguyễn Bá Tòng Ngày học cuối cùng niên khóa 1973-1974 Tháng Qu‎ý Xuân Giáp Dần Nguyễn Quang Tô

Bản post trên Yahoo!360:

…. I am overjoyed that whatever I have envisioned of you has not failed me. I am much more overjoyed knowing that my trust in you has been materialized: that despite of my non-strict and yet-committed teaching whatever so it might be, I can still have a student like you, dear Phuoc. The only thing I wish to remind you is that you should always hold on to the guideline that a book (of knowledge) is much worthier than a trunk full of gold, at least throughout your years at school.

I strongly believe that you will have a bright future from your talents and ethical virtues.

Nguyen Du the poet laureate once said,

“God has never shown prejudice to anybody,

(And you are blessed by Him) for both ample talents and fortunate destiny”

Through you Phuoc, I much more believe you are the very one for these.

Nguyen Quang To.

Khi nhận thấy tác dụng tích cực của những lời động viên từ bậc Thầy Cô, tôi đã thực hiện y như Thầy Nguyễn Quang Tô: trong suốt thời gian dạy học hơn 10 năm, dù ở trường chính quy Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh, trường hợp tác như Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, hay các trung tâm như Hội Nghiên Cứu & Dịch Thuật và các trường ngoại ngữ khác, tôi luôn viết rất dài bằng tiếng Anh trong lưu bút của sinh viên, học trò, học viên, để vừa bày tỏ sự trân trọng học trò, vừa cho học trò biết tấm lòng của người Thầy luôn nhận ra những mặt tích cực của học trò và muốn động viên học trò hướng thượng cho một cuộc sống tích cực với tha nhân và đất nước, và cũng vừa tạo nên một tác phẩm như một áng văn thơ làm quà tặng học trò, bất kể có bao nhiêu ngàn em chất trước mặt tôi bao nhiêu núi lưu bút học trò.

Thầy Nguyễn Quang Tô năm nay ắt đã ngoài 90 tuổi. Thấy ở hải ngoại rất trân trọng tôn vinh Thầy ngang với các bậc kỳ tài như A Nam Trần Tuấn Khải, tôi hy vọng các anh các chị là con hay cháu của Thầy sẽ đọc bài viết này để thấy di bút của Thầy, và để biết ở Việt Nam vẫn còn có người học trò năm xưa tôn thờ Thầy, kính trọng Thầy, và dù nay đã gần 60 tuổi vẫn cứ như cậu học trò nhỏ của Thầy, luôn đem theo hành trang cuộc đời những giòng chữ quý báu của Thầy để tự răn mình phải  sống tốt hơn sự kỳ vọng của Thầy.

“Tháng của Nhà Giáo Việt Nam, con kính gởi đến Thầy lòng biết ơn Thầy đã cho con được học nơi Thầy cung cách bậc trưởng thượng hiền nhân. Kính lạy báo cùng Thầy là mãi đến ngày nay con vẫn xem “kim mãn doanh bất như nhất kinh”, để tôn thờ sách thánh hiền chứ không tôn thờ trân châu bảo ngọc, để nhớ lời Thầy dặn cả rương vàng nào có sánh bằng một quyển sách.

Trong quyển sách cuộc đời, con còn lưu giữ bút tích của Thầy, Thầy ơi.”

 Nguyen Quang To 3

Học trò của Thầy,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Nguyên tác tiếng Anh I and Professor Nguyen Quang To đăng trên Yahoo!3600 năm 2008. Bản tiếng Việt để đối phó với bè lũ phản động hai mang được đăng trên Emotino.com ngày 25-11-2011 (http://www.emotino.com/bai-viet/19405/toi-va-thay-nguyen-quang-to). Bản tiếng Việt đăng lại trên blog Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô ngay sau khi web Emotino.com bị bọn phản động đánh phá ngày 12-3-2013 sau khi có bài Tứ Đại Ngu. Hiện không còn bản lưu trọn vẹn của phiên bản gốc Tiếng Anh, trừ bản nháp của đoạn ngắn sau:

Professor of Literature NGUYEN QUANG TO, South Vietnam President’s Award for the Vietnamese Translation of Phan Boi Chau’s History of the Lost Vietnam (Viet Nam Vong Quoc Su), Saigon 1972, wrote as follows in the year-end note-book of his student Hoang Huu Phuoc:

Needless to thoroughly reading the memory-notebook of yours today, I can still very well understand you dear Phuoc, from my responsibility to supervise the pupils of the Class 11C7 whom I have considered my own children.

I am overjoyed that whatever I have envisioned of you has not failed me. I am much more overjoyed knowing that my trust in you has been materialized: that despite of my non-strict and non-committed teaching whatever so it might be, I can still have a student like you, dear Phuoc. The only thing I wish to remind you is that you should always hold on to the guideline that a book (of knowledge) is much worthier than a trunk full of gold, at least throughout your years at school.

I strongly believe that you will have a bright future from your talents and ethical virtues.

Nguyen Du the poet laureate once said,

“God has never shown prejudice to anybody,

(And you are blessed by Him) for both ample talents and fortunate destiny”

Through you Phuoc, I much more believe you are the chosen one for these.

Nguyen Ba Tong High School

The last gathering day of the school year 1973-1974

NGUYEN QUANG TO

****

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

 Truong Tuyet Anh 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tháng 11 năm 2011 ngay khi tôi phát biểu thành công vang dội chặn đứng được việc hấp ta hấp tấp đề ra dự án Luật Biểu Tình, bọn nhà báo hai mang trong nước thì dựng ngay chuyện tôi mắng người Việt Nam dân trí thấp để kích động đám côn đồ nhiều trăm tên gởi tin nhắn đe dọa giết tôi, đốt nhà tôi, nổ bom văn phòng của tôi, còn bọn hải ngoại chống Cộng dựng ngay chuyện một thằng mất dạy bá láp tự xưng là Thầy của tôi nghe tin tôi chống Luật Biểu Tình nên viết ngay bài trường thiên nói tôi đã từng là đứa học trò ngổ ngáo chuyên làm điều xằng bậy ra sao. Đại biểu Trần Du Lịch cho tôi hay tin này, còn Đại biểu Đặng Thành Tâm đưa tôi xem điện thoại di động mở web về bài của thằng “Thầy” ấy. Tôi đều dùng một câu duy nhất để trả lời hai vị ấy biết đó là “thằng mất dạy”. Như bất kỳ đấng trưởng thượng khả kính nào trong tay nắm quyền lực tối thượng của chính đạo chính tâm chính nghĩa, tôi lẳng lặng không đòi báo Tuổi Trẻ phải xin lỗi tôi công khai chuyện đã giật tít tầm bậy tầm bạ “Dân Trí Thấp” vì tôi muốn ban cho kẻ duy nhất chịu trách nhiệm về lỗi lầm không thể nào được tha thứ này là Tổng Biên Tập một ân huệ để tự đứng ra xin lỗi tôi (rất tiếc là Tổng Biên Tập đã đại ngu đánh mất cơ hội bằng vàng ấy, đã vậy sau đó còn để yên cho bọn hai mang tấn công tôi tiếp nhân vụ Tứ Đại Ngu, khiến tôi quyết định từ nay sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ sau khi hắn đã bị triệu khẩn cấp về Thành Ủy, bỏ Tuổi Trẻ như rắn không đầu), đồng thời tôi cho đăng bài viết bằng tiếng Việt về Thầy Nguyễn Quang Tô trên Emotino.com ngày 25-11-2011, xem như buộc lòng phải tung bửu bối mà tôi ngỡ sẽ dấu mãi trong hành trang một đời người. Ngay sau đó, lục lọi thấy tôi cũng có bài viết tiếng Anh về Cô Trương Tuyết Anh trên Yahoo!360bọn chúng bèn sử dụng chiến thuật bôi bẩn theo công thức (thực)+(thực)x(hư) nghĩa là (1)+(1)x(0) lấy tên có thật cộng với sự việc có thật rồi nhân cho zero tức việc xạo để chỉ có người giỏi toán mới biết đáp số là zero còn đa số dốt toán sẽ ngỡ đó là sự thật, nên có hai yếu tố có thật là tên Cô Trương Tuyết Anh và tôi là học trò, còn yếu tố zero là sự việc tôi đã từng lạy lục xin điểm do học dốt và dọa tự tử tại nhà Cô. Tất nhiên, tôi lại phải tung bửu bối của mình ra để trừng trị đám lưu manh mất dạy dám động đến Cô Trương Tuyết Anh, nay tôi xin đăng lại bài viết ấy như dịp Ngày Xuân Tưởng Nhớ Đến Ơn Thầy Cô, để bạn đọc khắp nơi biết tôi đã là sinh viên như thế nào và được may mắn thọ giáo với những bậc Thầy Cô đạo cao đức trọng tuyệt vời ra sao.

Tôi và Cô Trương Tuyết Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Truong Tuyet Anh 0

Tôi luôn cho rằng người học trò hạnh phúc nhất đó là người có được cùng lúc bốn điều tuyệt diệu gồm (1) được thọ giáo những thầy cô vừa tài giỏi nhất nước vừa có tư cách công dân và đạo cao đức trọng, (2) được trở nên giỏi như hoặc giỏi hơn các vị thầy cô này, có tư cách như hay cao hơn các vị thầy cô này và có đạo cao đức trọng như hay cao hơn các vị thầy cô này, (3) được các thầy cô tài giỏi nhất nước có tư cách công dân và đạo cao đức trọng này ca ngợi, và (4) bản thân mình còn lưu giữ các tặng vật của các thầy cô tài giỏi nhất nước có tư cách công dân và đạo cao đức trọng này để ngay khi có thể sẽ viết lưu danh thiên cổ cho các thầy cô tài giỏi nhất nước có tư cách công dân và đạo cao đức trọng này. Tôi không rõ có bao nhiêu người Việt Nam là học trò hạnh phúc theo chuẩn mực trên, nhưng tôi biết chắc chắn rằng nếu thực sự có một danh sách dày cộm những người hạnh phúc ấy thì tên tôi sẽ có trong danh sách ấy.

Thực hiện điều thứ tư ở trên sau khi sở hữu cả ba điều trước đó, tôi ngay từ khi bắt đầu có Yahoo!3600 đã viết (chỉ bằng tiếng Anh) rất nhiều bài (có kèm hình ảnh) về từng người trong thân tộc và về các vị thầy cô tài giỏi nhất nước có tư cách công dân và đạo cao đức trọng như về Thầy Nguyễn Quang Tô (trung học), Thầy Lê Văn Diệm (đại học), trong khi vài thầy cô khác thì tôi không viết do ái ngại rằng tuy người hiểu biết sẽ tấm tắc khen tôi may mắn gặp lương sư, vẫn sẽ có những kẻ ganh tỵ cho rằng tôi khoe khoang (tất nhiên là không khoác lác). Do sự cao ngạo không là độc quyền made-in-china của Tàu với tổ sư là Khuất Nguyên, người đã mắng toàn thể giòng giống dân Tàu là dơ bẩn (tức “thiên hạ đục ngầu cả, chỉ mình ta trong sạch”), tôi thuộc giòng giống Lạc Hồng qu‎ý hóa hơn dân Tàu nên đương nhiên cũng phải có đức tính cao ngạo hơn Tàu ấy, và đây là lý do chẳng bao giờ tôi phí thời gian đọc mấy bài viết vớ vẩn của những kẻ vớ vẩn công kích tôi này nọ trên internet. Song, sự đời không đơn giản như thế. Những kẻ vớ vẩn làm sao mà biết được rằng tôi đang giữ bao báu vật của các Thầy Cô, những thành tích biểu có danh sách và lời phê của tất cả các Thầy Cô của từng năm học các cấp lớp, đặc biệt là vào những năm đầu sau giải phóng ở Đại Học Văn Khoa thì Thầy Cô ban Anh Văn thời chế độ Cộng Hòa chỉ còn lại vỏn vẹn bốn Thầy và bốn Cô, và cuối cùng sau đó một hai năm là chỉ còn lại mỗi Thầy Lê Văn Diệm cùng một Cô. Trong số tám vị này, Chị tôi do học Đại Học Văn Khoa từ năm 1973 nên ắt được thọ giáo đủ các vị, còn tôi chỉ được học với hai Thầy và bốn Cô mà thôi. Trong hai thầy Nguyễn Văn Xiêm và Lê Văn Diệm, tôi chỉ viết về Thầy Diệm, vì Thầy Xiêm tôi rất khinh thường do trình độ Thầy không cao, Thầy dạy môn căn bản (Văn phạm Anh), và Thầy hay vào lớp cho bài tập rồi bỏ ra ngòai sân đi dạo cho đến khi Thầy vượt biên đi mất vào giữa năm 1976. Trong bốn Cô, tôi tôn kính ba vị, trong đó có Cô Trương Tuyết Anh. Lẽ ra hôm nay tôi không viết về Cô Anh nếu như một nhân viên cực kỳ thông minh của tôi đã không cho tôi hay rằng có kẻ nào đó chưa từng được cắp sách đến trường ắt thấy tôi nêu tên Cô Trương Tuyết Anh trong bài “Đạo Văn” trên Emotino nên mừng như bắt được vàng vì nay đã có “tên người thật” và y lập tức đẻ ra lời bù lu bù loa trên mạng rằng tôi đã khóc lóc van nài Cô Trương Tuyết Anh cho thêm điểm vì nếu bị ít điểm tôi sẽ tự tử, v.v.  Thấy bậc đạo cao đức trọng như Cô Trương Tuyết Anh và người học trò đẳng cấp cao duy nhất của Cô bị kẻ bá láp đụng đến tên tuổi, tôi cực chẳng đả phải viết về Cô với những bút phê ố vàng theo năm tháng của Cô như viết về một nhà giáo khả kính tài ba.

Thủa ấy, như một thói quen quý phái, các Thầy Cô chẳng ai tự nêu học vị ra cả, nên chúng tôi chẳng biết ai là Tiến Sĩ, ai là Thạc Sĩ, chỉ gọi chung Thầy Cô là Giảng Sư (dạy đại học) hay Giáo Sư (dạy trung học) mà thôi. Nhưng qua truyền khẩu của Chị Hai của tôi thì Cô Trương Tuyết Anh là tiến sĩ văn học Anh của Đại học Sorbonne (Pháp). Cô là người Bắc di cư. Cô nói tiếng Anh rất nhanh, líu lo, cứ như là đang nói tiếng Pháp vậy. Cô dạy tôi môn Văn Minh Anh và Văn Học Anh. Trong lớp, Cô vui vẻ, tận tình, nhưng ra khỏi lớp là Cô trầm mặc, đi thoăn thoắt về phòng giáo viên, chẳng trò chuyện với ai. Trong thời gian ngắn ngủi được học với Cô, tôi thấy Cô rất giống Thầy Lê Văn Diệm ở chỗ hai vị đánh giá cao các bùng nổ trong tư duy của tôi, chẳng hạn Thầy Diệm giảng luận bài thơ The Tide Rises, The Tide Falls của Henry Wadsowrth Longfellow để rồi khi thấy tôi bình giảng bài thơ theo chiều hướng…bánh xe luân hồi của Phật Giáo, Thầy khen và nói bên Mỹ chưa có luận án tiến sĩ nào có cái nhìn sâu sắc như thế; còn Cô Anh giảng luận ngợi khen ngôn ngữ và tình bạn vĩ đại toát lên từ một bài sonnet của Shakespeare (tôi không nhớ bài nào trong số từ bài sonnet thứ I đến bài CLIV, tức từ 1 đến 154) rồi khi thấy tôi bình giảng viết 96 trang chê bài thơ ấy hình tượng nghèo nàn, ngôn ngữ hời hợt, và mắng Shakespeare là tên bồi bút chỉ làm thơ sonnet để phục vụ các đại quan chốn cung đình để kiếm tiền chứ không có sự rung động tình cảm dành cho gia đình, bạn hữu, người thân, rồi sửa luôn thơ Shakespeare, Cô khen và nói bên Pháp chưa có luận án tiến sĩ nào phê phán Shakespeare chí lý như tôi cả.

Ngoài thí dụ tôi đã nêu trong bài “Đạo Văn”, bài làm sau sẽ cho thấy Cô Trương Tuyết Anh đã đối xử như thế nào với “hiện tượng” người sinh viên tên Hoàng Hữu Phước.

Khi học đến bài England của J.B.Priestley của phân môn Văn Minh Anh, Cô Anh cho lớp làm bài tập tại lớp với hai phần ngôn ngữ (language) và phân tích (comprehension). Phần language đơn giản với yêu cầu hãy cho hai thí dụ sử dụng tính từ có đuôi –likehai thí dụ sử dụng danh từ gốc La-Hy có đuôi –tude. Tôi tự ý sửa lại đề, viết rằng “hãy cho vài thí dụ” để viết thỏa thích đến bốn thí dụ với bốn câu có –like, thành:

– It is reported that in the impenetrable deeps of the jungle in Africa there is still a thought-to-be-extinct eel-like kind of creature.

– Mona Lisa is a famous lifelike portrait painted by Leonardo da Vinci, one of the greatest representatives of Renaissance art and of Italian culture in general.

– This unscrupulous blameworthy woman flew into a tigerlike ferocity with her impeccable husband.

– Students don’t like to live in that dilapidated old boarding-house which lacks a homelike atmosphere.

Đối với bốn câu trên, Cô Anh không phạt vì tôi dám đổi đề và viết nhiều câu hơn yêu cầu. Nhưng Cô tỏ sự ngạc nhiên về chất lượng các câu đến độ Cô phê rằng “your own sentences?” tức “em tự viết mấy câu này à?

 Truong Tuyet Anh  2

Còn đối với yêu cầu hãy viết hai câu có sử dụng danh từ có đuôi –tude, tôi lại tự động đổi đề thành …hãy viết những dòng thơ mô phỏng thể thơ Rondeau có gieo vần bằng các từ tận cùng bằng đuôi –tude, và đã sáng tác ngay tại lớp bài thơ mang tựa đề The Unchained and Chaotic Threnody mà sau này tôi đặt tên khác là O Mater Dolorosa kèm theo các chỉnh sửa từ ngữ theo bút phê gợi ý của Cô Trương Tuyết Anh:

 Truong Tuyet Anh  3

O Mater Dolorosa!

A Rondeaulike Poem by Hoang Huu Phuoc,

March 1978, Hochiminh City, Vietnam

O Mater Dolorosa what is the truth of youth

Of ugly ducklings to whom gold is of the first magnitude

Who lead the common money-chasing life with imbecility

Who sway and sway athwart amongst thunderous plaudits

Of the insane mêlee, of the multitude,

Who jump and jerk and jar and jolt and should

Be proud of themselves with false rectitude

Like omnipresent wastrels with their diablerie?

O MATER DOLOROSA !

On the labyrinth to perdition humbugs go and go without lassitude

Beset in this ridiculous world they love turpitude

And topple over into Inferno, into philosophic tranquility,

Into the opaque darkness of penalty –

That’s a melancholy weariness of platitude.

O MATER DOLOROSA !

Điều tuyệt vời của Cô Anh là ở chỗ nếu Cô không trừng phạt tôi tội sửa đề gia tăng số câu thí dụ cho –like thì đối với bài thơ trên Cô vẫn cho đủ điểm, dù trên nguyên tắc thì một bài thơ rất khác với hai câu thí dụ, nên nếu sinh viên cho hai câu đơn giản mỗi câu có một từ –tude là được đủ điểm thì lẽ ra bài thơ của tôi chỉ được hưởng ½ điểm của phần này, dù bài thơ có chứa đến sáu danh từ gốc La-Hy có đuôi (tiếp vĩ ngữ) –tude, chưa kể Cô đâu có ra đề bắt sinh viên làm thơ bao giờ vì ở Việt Nam làm gì có ai sáng tác được thơ tiếng Anh theo thể loại cổ ngoài thơ tự do! Từ đó, bài tập tại lớp hay bài thi học kỳ nào của Cô, tôi đều mặc sức bay bổng, phá cách, mỗi khi không hài lòng với câu hỏi “thấp” nào là tôi hoặc bỏ không thèm làm, hoặc tự sửa lại để nâng yêu cầu lên cao hơn rồi mới làm, và tôi biết mình ắt đã làm Cô Anh cũng như Thầy Diệm hài lòng vì chẳng bao giờ các vị cho tôi điểm thấp cả, qua đó tôi gián tiếp hiểu rằng đó mới là niềm vui tuyệt vời nhất của bậc thầy tài hoa khi thấy học trò mình thi thố tài năng thay vì học vẹt.

Từ sự trân trọng của Cô Anh và Thầy Diệm (và các Thầy Cô khác) dành cho tôi, tôi đã nhận ra thế nào là cung cách của một nhà giáo thực sự tài giỏi, thực sự có tư cách công dân, thực sự có đạo cao đức trọng, và thực sự có trách nhiệm. Cô Trương Tuyết Anh biến mất khỏi Việt Nam. Thầy Nguyễn Văn Xiêm biến mất khỏi Việt Nam. Nhưng tôi nhún vai khi nghĩ đến Thầy Xiêm, và nâng niu những trang giấy dù ố vàng, bám bụi, gián chuột cắn phá, chỉ vì trên đó là bút phê của Thầy Diệm, Cô Anh, những nhà giáo thực sự tài giỏi, thực sự có tư cách công dân, thực sự có đạo cao đức trọng, và thực sự có trách nhiệm với học trò mỗi khi đứng trên bục giảng.

Khi trở thành nhà giáo, tôi dạy học với phong thái của Thầy Diệm và Cô Anh. Tôi khuyến khích sinh viên viết tiếng Anh và nói tiếng Anh thể hiện cho được “cái tôi tư duy độc lập” của sinh viên đối với các vấn đề mà thiên hạ xúm lại lập đi lập lại những phân tích nhàm chán từ một bài viết, một tác phẩm nào đó ngay cả khi đó là những kiệt tác, thánh thư.

Số lượng tiết học và môn học tôi được học với Cô Trương Tuyết Anh không nhiều và không lâu. Thậm chí tôi không tin Cô còn nhớ đến tên tôi khi Cô rời Việt Nam vượt biên sang Mỹ. Chị Hai tôi theo chồng sang Mỹ và trở thành công dân Hoa Kỳ. Nhưng tin tức về Cô Trương Tuyết Anh vẫn biền biệt. Nếu Cô vẫn còn, ắt nay đã trên 90 tuổi, và sẽ hãnh diện rằng người học trò cao ngạo của Cô đang làm vinh danh Cô qua việc gìn giữ bút tích của Cô, chỉnh sửa thơ ca của mình theo các gợi ý của Cô .

Bài viết này vừa cung cấp cho bạn đọc thông tin về phong cách của những nhà giáo tài ba chân chính ở Sài Gòn trước 1975. Tác phong và cách hành sử tiêu cực vô trách nhiệm của các bậc thầy cô thì luôn giống nhau, bất luận thể chế chính trị, màu da, dân tộc, tôn giáo. Sự khác biệt giữa tài-ba-chân-chính với tài ba hay với chân chính là ở chỗ chỉ có nhà giáo tài-ba-chân-chính mới tạo ra được những học trò chân-chính-tài-ba.

Kính nhớ về Cô, thưa Cô Trương Tuyết Anh.

Học trò của Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Nguyên tác tiếng Anh I and Professor Trương Tuyet Anh đăng trên Yahoo!3600 năm 2005. Bản tiếng Việt để đối phó với bè lũ phản động hai mang được đăng trên Emotino.com ngày 22-3-2012. Bản tiếng Việt đăng lại trên blog Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô ngày 12-3-2013 ngay sau khi web Emotino.com bị bọn phản động đánh phá sau khi có bài Tứ Đại Ngu. Hiện không còn bản lưu trọn vẹn của phiên bản gốc Tiếng Anh.

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Song Ngữ Việt & Anh (Bilingual: Vietnamese & English)

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Le Van Diem 1

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tháng 11 năm 2011 ngay khi tôi phát biểu thành công vang dội ngăn chặn được việc hấp ta hấp tấp đề ra dự án Luật Biểu Tình, bọn nhà báo hai mang trong nước thì dựng ngay chuyện tôi mắng người Việt Nam dân trí thấp để kích động đám côn đồ gởi tin nhắn đe dọa giết tôi, còn bọn hải ngoại chống Cộng dựng ngay chuyện một thằng mất dạy bá láp tự xưng là Thầy của tôi nghe tin tôi chống Luật Biểu Tình nên viết ngay bài trường thiên nói tôi đã từng là đứa học trò ngổ ngáo chuyên làm điều xằng bậy. Đại biểu Trần Du Lịch cho tôi hay tin này, còn Đại biểu Đặng Thành Tâm đưa tôi xem điện thoại di động mở web về bài của thằng “Thầy” ấy. Tôi đều dùng một câu duy nhất để trả lời hai vị ấy biết đó là “thằng mất dạy”. Như bất kỳ đấng trưởng thượng khả kính nào nắm trong tay quyền lực tối thượng của chính đạo chính tâm chính nghĩa, tôi lẳng lặng không đòi báo Tuổi Trẻ phải xin lỗi tôi công khai chuyện đã giật tít tầm bậy tầm bạ “Dân Trí Thấp” vì tôi muốn ban cho kẻ duy nhất chịu trách nhiệm về lỗi lầm không thể nào được tha thứ này là Tổng Biên Tập một ân huệ để tự đứng ra xin lỗi tôi (rất tiếc là Tổng Biên Tập đã đại ngu đánh mất cơ hội bằng vàng ấy, đã vậy sau đó còn để yên cho bọn hai mang tấn công tôi tiếp nhân vụ Tứ Đại Ngu, khiến tôi quyết định từ nay sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ sau khi hắn đã bị triệu khẩn cấp về Thành Ủy, bỏ Tuổi Trẻ như rắn không đầu), đồng thời tôi cho đăng bài viết bằng tiếng Việt về Thầy Nguyễn Quang Tô trên Emotino.com ngày 25-11-2011, xem như buộc lòng phải tung bửu bối mà tôi ngỡ sẽ dấu mãi trong hành trang một đời người. Ngay sau đó, tôi đăng thêm bài tiếng Việt về Cô Trương Tuyết Anh mà năm 2005 tôi đã đăng bản tiếng Anh trên Yahoo!3600 . Và tôi cũng chuyển tải sang tiếng Việt bài viết về Thầy Lê Văn Diệm đăng ngay sau khi bọn phản động đánh phá trang web Emotino.com. Nay tôi xin đăng lại bài viết ấy như dịp Ngày Xuân Tưởng Nhớ Đến Ơn Thầy Cô, để bạn đọc khắp nơi biết tôi đã là sinh viên như thế nào và được thọ giáo với những bậc Thầy Cô đạo cao đức trọng tuyệt diệu ra sao.

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tiến sĩ Lê Văn Diệm là Giảng sư Văn Chương Mỹ tại Đại Học Huế và Đại Học Văn Khoa thuộc Viện Đại Học Sài Gòn trước 1975 và tại Đại Học Văn Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh sau 1975, ngôi trường sau này được đặt lại với cái tên xoàng xĩnh đáng thương hại “Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn” theo kiểu bình dân mà những người Việt Nam mới sính dùng trần trụi, chẳng hạn Cửa Hàng Ăn Uống (thay vì Quán Ăn, Nhà Hàng, Snackbar hay Restaurant) hay Đại Học Mở Bán Công (thay vì dùng một cái tên quý phái như Đại Học Mạc Đĩnh Chi hay một cái tên trung dung như Đại Học Trân Châu, v.v.). Thầy còn là giảng sư thỉnh giảng bộ môn Văn Chương Anh Mỹ tại các đại học Hoa Kỳ trước 1975. Năm 1996, Thầy được Đại Học Boston Hoa Kỳ mời sang Mỹ trong 10 tháng để biên soạn và hiệu đính giáo trình giảng dạy Văn Học Anh Mỹ.

Trong vòng kiềm tỏa đầy hỗn loạn của một môi trường trong đó hầu hết các cán bộ giảng dạy bước chân lên sân khấu giảng đường hoặc chỉ để viết tháo dăm ba chữ gì đấy cho bài tập Anh Văn lên bảng rồi bỏ ra đứng tựa lưng vào cửa, mắt lim dim mơ mơ màng màng thả hồn phiêu lãng theo những kế hoạch vĩ đại đào thoát khỏi quê hương để trở thành hạng mà giới truyền thông phương Tây chế tác tên gọi “thuyền nhân” không chút vẻ vang; hoặc để đột nhiên cầm micro nói to tuôn ra lửa bỏng và suối lệ của lòng ái quốc mang hơi cách mạng chống cuộc xâm lăng của bè lũ Bắc Kinh cuối những năm tám mươi và hăng hái khóc lóc xung phong đòi ra chiến trận dù đang ở lứa tuổi năm mươi cộng; Giảng sư Diệm vẫn giữ cốt cách quý phái, thực hiện thiên chức nhà giáo của mình với đầy đủ tính chuyên nghiệp ở mức độ cực cao tuyệt hảo: trong khi các vị khác một cách vô hồn cào cấu lên bài làm của sinh viên với những tick và tick và tick – tức ngoáy đánh dấu những k‎ý hiệu V chứng tỏ ta đây đã đọc đến đây đến đấy rồi cứ đếm các dấu tick đỏ dơ dáy đó mà cho điểm, tất nhiên bài có điểm cao là bài ít có mấy ký hiệu bùa chú đỏ ấy – thì Giảng sư Diệm cần cù chi li bút phê viết bằng tiếng Anh những lời phê bình sâu sắc, những chỉnh sửa, những đề nghị, bất kể đó là chỗ sai (sửa lại cho đúng) hay chỗ đúng (vẫn sửa lại cho tuyệt vời hơn), ngõ hầu giúp sinh viên hoàn thiện kỹ năng viết luận văn Anh, và bài viết hay nhất, được Thầy cho điểm cao nhất (AA+) là bài nào “bị” Thầy viết đỏ lòm chi chít, tức những bài quá hay, quá tuyệt đến độ Thầy phải bỏ công ra biến nó thành tuyệt tác, như thể người sinh viên viết giỏi được Thầy chỉ giáo để thành một văn hào. Với giọng nói lắp bắp cà lăm trời sinh, Giảng sư Diệm giảng bài kiểu ứng khẩu, phân tích các bài thơ văn như bài thơ Nàng Quạ của Edgar Allan Poe, Hoàng Thủy Tiên của William Wordsworth, Diễn Văn Đọc Tại Gettysburg của Abraham Lincoln, hay thi phẩm Sóng Thoái Triều Dâng của  Henry Wadsworth Longfellow, và bao áng văn thơ kiệt tác khác, mà những lời uyên bác hùng biện trong ý tưởng của Thầy đã khiến sinh viên khó có ai cưỡng lại được sức cám dỗ của lòng mong muốn thấm nhuần tất cả – à, ý tôi là được Thầy truyền thụ bí kiếp.

Đối với tôi, Tiến sĩ Lê Văn Diệm là vị giảng sư tài ba duy nhất tôi kính mang ơn sâu nghĩa nặng. Vào thời buổi bao cấp gian khó của cuối những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi nguồn thực phẩm Nhà Nước phân phối cho cư dân Thành phố Hồ Chí Minh có giới hạn, biết tôi là một hàn sĩ phải nuôi cả gia đình đông người gồm cha mẹ già yếu và một đàn em bằng cách vừa đi học vừa đi dạy kèm lớp sinh viên năm thứ nhất và dạy kèm cả những người sắp là “thuyền nhân”, nhiều hôm Thầy đứng núp sau thân cây to trước Đài Truyền Hình chờ tôi đạp xe ra khỏi trường là Thầy ném vào giỏ trước xe của tôi một bao nào là vài ký bột mì, vài ký ngũ cốc, cùng những nhu yếu phẩm tiêu chuẩn như 10 gram bột ngọt, một ống kem đánh răng nhỏ, 50 gram đường tinh luyện, v.v., rồi bỏ đi, dáng gầy cao lêu nghêu, hai tay chắp sau lưng, dường như sợ bị lãnh đạo Khoa, lãnh đạo trường, và đồng nghiệp bắt gặp rồi kết tội Thầy là tiểu tư sản không thèm nhận phần lương thực Nhà Nước cấp phát. Và cũng nhiều lần Thầy vào thư viện trường, nhìn quanh xem tôi có đang ngồi đâu đó với mấy quyển bách khoa toàn thư khổng lồ nặng chình chịch hay không, rồi vờ như chú mục đọc các bảng tin từ từ tiến gần đến bàn tôi đang tra cứu, Thầy nhanh nhẹn ném một túi to toàn những sách tiếng Anh quý hiếm, có khi là quyển từ điển Webster, trước khi tiến thẳng ra cửa, dáng cao gầy, hai tay chắp sau lưng, dường như sợ bị bắt gặp bởi những vị mà ao ước lớn lao duy nhất của cuộc đời họ là ném tôi, một sinh viên hippie bất trị, ra khỏi Đại Học Văn Khoa. Đây là những việc trong số biết bao điều Thầy dành riêng chỉ cho tôi. Tiến sĩ Lê Văn Diệm: nhà trí thức tuyệt vời với trái tim vàng, vị Giảng sư đã bảo tôi quỳ xuống trên gối trái, hai tay đặt trên gối phải theo phong cách nhà qu‎ý tộc Ăng-lê trong Điện Buckingham, rồi Thầy đặt thanh bảo kiếm lên vai phải rồi vai trái của tôi để phong cho tôi tước Văn Vương Thi Bá của Ban Anh Văn trường Đại Học Văn Khoa thủa ấy.

 Le Van Diem 2

Khi đến một nhà thờ Công Giáo trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, dự lễ tang của Thầy, buổi sáng vẫn còn đang ngái ngủ, tôi có gặp hai nữ tu em ruột của Thầy, đã ở chăm sóc Thầy những năm cuối cuộc đời Thầy. Nước mắt tuôn trào, ôm lấy áo quan của Thầy, tôi thấy mình là thằng học trò vất đi. Tôi dành mọi thời gian cho công việc, thức khuya dậy sớm, nhưng chỉ dành ít phút cho Thầy với thì thoảng một lá thư qua đường bưu điện, mỗi năm một giỏ hoa sang trong đặt ở Mẫu Đơn trên Đại Lộ Nguyễn Huệ, chứ nào có đến thăm Thầy. Một thập niên sau ngày tốt nghiệp, có lần tôi và vợ tôi – cả hai đều là sinh viên của Thầy – đến thăm Thầy, mang theo hoa và quà Tết. Khi các nữ tu em gái của Thầy kêu to ở ngưỡng cửa: “Anh ơi, có học trò đến nè”,  tôi nghe tiếng Thầy nói lắp bắp, run rẩy, yếu ớt, bằng tiếng Việt, từ sau tấm rèm trước cửa phòng Thầy: “Phải Phước không? Chắc là Phước! Chớ có ai tới thăm anh đâu, lúc còn đi dạy cũng không, mà sau khi về hưu cũng không. Chỉ có Phước mới là người nghĩ đến ông già này thôi. Nè, pha trà cho anh đãi khách nhe!” Thầy thật là vĩ đại, vì tôi không thấy bạn học cũ nào của tôi ở đám tang Thầy – cũng có lẽ do tôi là kẻ đến sau cùng, hoặc do họ có lý do bận họp hành ở đâu đó ngoài vùng phủ sóng. Chỉ có Trời mới biết thực hư.

“…Ngày lại sáng, song có còn đâu nữa

Biển đã đưa người lữ khách dạt bờ.

Và sóng thoái lùi trước ngọn triều dâng.”

Phụ trách giảng dạy Luận Văn Anh và Văn Chương Anh tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi cần cù chi li bút phê viết bằng tiếng Anh những lời phê bình, những chỉnh sửa, những đề nghị, bất kể đó là chỗ sai (sửa lại cho đúng) hay chỗ đúng (vẫn sửa lại cho tuyệt vời hơn) trên những bài tiểu luận của sinh viên. Tôi đã trở thành Giảng Sư Lê Văn Diệm đối với học trò tôi; song, lại khiến toàn ban lãnh đạo Khoa và đa số giáo viên ghét bỏ. Trưởng Ban Anh Văn (Cô Thu Thủy) và Tổ Trưởng Công Đoàn Khoa Ngoại Ngữ (Thầy Tấn Phát, giáo viên Anh Văn) phê phán tôi một cách ngu xuẩn và buồn cười rằng việc tôi ghi nhận xét khắp nơi trong từng trang bài viết của sinh viên đồng nghĩa với việc tôi xúc phạm sinh viên, còn việc tôi sửa bài tập cho sinh viên có nghĩa tôi khuyến khích sinh viên học tập thụ động (sinh viên tự làm bài tập, tự mình phải biết mình sai chỗ nào, tự mình tìm cách sửa sai, mới là học…chủ động). Trần Duy, một trong những sinh viên xuất sắc của tôi, rất giỏi viết văn tiếng Anh và sáng tác thơ ca tiếng Anh dưới sự dìu dắt của tôi, đã cùng gia đình đi Hoa Kỳ, mãi mãi không quay về Việt Nam, không tài nào hiểu được vì sao dưới mái trường đại học xã hội chủ nghĩa, những Thầy Cô có bằng Cao Học MA của Mỹ trước 1975 lại xử sự như thế với tôi, và vì sao tôi vẫn điềm nhiên vui vẻ giảng dạy nhẫn nhục chịu đựng sự tra tấn xằng bậy như thế hàng thập niên. (Chỉ có một cô giáo cùng khoa hiểu lý do vì sao tôi vui vẻ tích cực giảng dạy: tôi là học trò Thầy Lê Văn Diệm. Cô giáo này cũng là học trò Thầy Lê Văn Diệm. Và cô sau đó trở thành mẹ ruột của con ruột tôi.)

Le Van Diem 3

Tôi rất tự hào và thấy mình cực kỳ may mắn có được cơ hội học hỏi nơi Giảng sư Lê Văn Diệm cả về kiến thức và đạo đức nghề nghiệp, được Thầy đánh giá cao, được Thầy chăm sóc, được ở gần Thầy là chuyên gia kiệt xuất duy nhất về Anh Văn ở Việt Nam, và được trở thành truyền nhân duy nhất của Thầy đối với những phân môn cao cấp mà Thầy đã từng dạy ở các đại học Việt Nam và Hoa Kỳ.

Tôi mang ơn Trời Phật đã ban cho tôi phúc lành được gần những con người kiệt xuất để trải nghiệm một thế giới có thực của hạnh phúc và niềm tin yêu vào cuộc sống.

Tôi đã có được niềm vinh dự độc tôn được Giảng sư Lê Văn Diệm của Việt Nam đánh giá cao trong cuộc đời này.

Học trò của Thầy,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

1) Trước 1975 tại Việt Nam Cộng Hòa, các danh xưng sau được mặc nhiên sử dụng mà không do sự công nhận hay phong ban bởi Nhà Nước:

Dạy tiểu học: Giáo viên

Dạy trung học: Giáo sư

Dạy đại học: Giảng sư.

Đối với tôi, Thầy Lê Văn Diệm là Giảng Sư, Tiến Sĩ.

Đối với sinh viên của tôi, họ luôn gọi tôi là Professor Hoàng Hữu Phước vì họ cho rằng từ “teacher” và “giáo viên” là dành để gọi tất cả các giáo viên Anh Văn tất cả các cấp ở Việt Nam, không phải dành cho tôi, còn “giáo sư” là của Nhà Nước.

2) Nguyên tác tiếng Anh I and Professor Le Van Diem đăng trên Yahoo!3600 năm 2005. Bản tiếng Việt được đăng trên Emotino.com ngày 16-10-2010. Bản tiếng Việt đăng lại trên blog Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô ngày 12-3-2013 ngay sau khi web Emotino.com bị bọn phản động đánh phá sau khi có bài Tứ Đại Ngu. Nguyên văn tiếng Anh bản chính thức hiện không còn, chỉ còn bản nháp với nội dung chưa chỉnh sửa như sau:

Doctor Le Van Diem was Professor of American Literature at Hue University and at the Faculty of Letters (or Dai Hoc Van Khoa) of the University of Saigon before 1975, and thereafter at the Hochiminh City Faculty of Letters, which was renamed to the HCMC University in 1978. At present it is under the pitifully-poorly-coined name of the University of Social Sciences & Humanity, the common way of new Vietnamese people who prefer displaying the stark-nakedness of lingual components, e.g. Cua Hang An Uong (instead of Quan or Snack-bar, or Restaurant), Dai Hoc Mo-Ban Cong (instead of using a noble or neutral name e.g. Mac Dinh Chi University or Pearl College, or the like).

Trapped in a turmoil environment of most of the teaching team coming to the stage of auditorium just to scribble down onto the chalk board some English exercises, then standing leaning against the door with dreamy eyes and wandering mind on some master plans to flee the country under the notorious coinage of boat people by the mass media of the Western world; or to deliver surprisingly ardent-plus-sobbing speeches of revolutionary patriotism against the Beijing invaders of the last half of the nineteen eighties and to ardently volunteer with tears and sobbing to go to the battlefronts at the age of late fifties plus, Professor Diem remained a noble gentleman performing the professionalism of his profession in a really professional manner: whilst others senselessly scratched out of words and phrases on students’ paper work with a tick and a tick and a tick then counting red dirty scratching to give marks (of course, good marks for paper having less red out-scratching), he industriously toiled to make comments, write correction, give suggestion to all – regardless of whether it was of correct or incorrect wordings – to help improve the English composition writing skill of his students (of course, the work full of densely noted comments and correction in red being given the best marks, i.e. the AA+, by him). With a natural stuttering voice, Professor Diem spoke impromptu about his analysis of Edgar Allan Poe’s The Raven, William Wordsworth’s Daffodils, Abraham Lincoln’s Gettysburg Address, and Henry Wadsworth Longfellow’s The Tide Rises, the Tide Falls, among many others, so profoundly eloquently that students could not resist the temptation to have all details of his speeches well absorbed – well, I mean instilled into.

Personally speaking, Doctor Le Van Diem is the only talented professor I sincerely owe my gratitude to. At the tough time of the late nineteen-seventies when the food subsidy program could hardly provide sufficient stuff to the city dwellers, knowing I was a poor student supporting a huge family of ailing parents and kid brother and sisters by tutoring freshman classes and to-be boat people, he many a time hid himself behind a big tree in front of the HCMC Television Company, waiting for me to come out from the university just to timely throw into the front basket of my mini-bicycle a bag of say one or two kgs of ground wheat, an equivalent quantity of some grains, and other items, e.g. 10gms of MSG, a small toothpaste tube, and 50gms of RE sugar, and the like, before trudging away with his two hands behind his back, for fear of being seen by the revolutionary managers and colleagues and labeled by them the bourgeois who did not need the food offered free from the government. He also many a time went to the university’s library to cast a look around to check if I was there behind piles of old dusty bulky hard-cover encyclopedia, and then pretending to read some posters on the wall he slowly came closer to my desk and “threw” to me his bag full of valuable English books and sometime a Webster dictionary or the like, before going straight to the exit, probably for fear of being seen by any of his colleagues whose only wish in life was to “throw” me out of the university for my being a hippy of an adamant heart. These are some amongst other unique cares reserved to only me by Professor Le Van Diem, the very nice and kind intellectual with a heart of gold, and the noble professor who dubbed me the King of Composition of the English Department of the then Faculty of Letters.

When I came to his funeral at a church on the Nguyen Dinh Chieu Street of Distrct 1, HCMC, the morning was still slumberously snoring. I met his two sisters, the kind Christian nuns who were with Dr Diem almost all those last years of his life. Touching his coffin with tears rolling down over my cheeks, I felt much regretful. I could burn candles at both ends for business but could only send him some letters or flowers once a while instead of coming to meet him more often. A decade after my graduation, once my wife and I came to his house for the first time in my life with some New Year gifts and flowers. As his sisters calling him from the door “Diem! Here come your students“, he spoke out with a trembling ailing voice from behind the curtain to his own room: “Is that Phuoc? It should be him! Not any student has visited me before or from my retirement! Phuoc is the only student who thinks of me and who can make a visit to this old man! Give me tea for my guest, Sis! Please!”. He was so great indeed: I did not see any of my old classmates at his funeral, probably I was the late comer, or whether they took an excuse for some urgent meetings, only God knows.

“…The day returns, but nevermore

Returns the traveler to the shore.

And the tide rises, the tide falls.”

Teaching English Composition and Literature at the HCMC Teachers’ College, I toiled to give comments, corrections, and suggestions to my students’ essays. I became another Professor Le Van Diem in the eyes of the students; however, such performance irritated both the dean and some  colleagues. The Head of the English Department Ms Thu Thuy and the Head of Labour Union of the Foreign Languages Department Mr. Tan Phat foolishly ridiculously blamed me for what they named as my terrible wrongdoings: writing correction into the work of the students meant I did not respect them, and providing corrections or suggestions to the exercises meant I made students passive with their studying. Tran Duy, one of the best students of mine, was excellent in English writing and even composed poems in English under my encouragement and tutoring. He went to the USA for good with his family, failing to understand why the college full of teachers well decorated with US Master Degrees behaved like that to me and why I was still trying to suffer nonsensical torture for nearly a decade unnecessarily.

I am proud and feel lucky to have a unique opportunity to learn from Professor Le Van Diem, both from his knowledge and from his ethical conducts of the profession; to be highly evaluated and taken care of by him, the only expert of the English language in Vietnam; and to become a man as his only descendant of the tough subjects he ever taught at universities.

I wish to thank God for bestowing on me His blessings to live among many excellent people to experience a real world of happiness and trust in life.

It is my sincerely exclusive pride to be highly evaluated by Professor Le Van Diem of Vietnam.

Hoang Huu Phuoc, MIB

Luận Về Tác Động Của Quảng Cáo Tại Việt Nam – On Advertisement Impact in Vietnam

(Bilingual writing: Vietnamese & English)

Song Ngữ: Tiếng Việt và Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Không như nhiều người vào các mạng “chùa” tức mạng miễn phí để thu thập số lượng “likes” tức “thích” hoặc để khoe đã có mấy ngàn hay mấy chục ngàn “followers” tức số lượng người bu, tôi mở blog theo kiểu đã nói trong bài Thùng Nước Đá [1] nghĩa là không cho ai “like” và chẳng để ai “comment” tức phê bình, vì rằng nếu muốn phê bình thì hãy viết đàng hoàng rồi gởi đến tôi qua đường bưu điện (đối với người lạ) hoặc bằng email (đối với người quen, vì nhiều chục năm nay tôi không mở đọc các email của người lạ). Tôi thậm chí đã bỏ Facebook rất nhiều năm nay sau khi mắng cho một trận bọn viết tiếng Việt chửi cha Cộng sản Việt Nam và bọn viết tiếng Anh xúc xiểm một cách ngu xuẩn rằng Chính phủ Việt Nam ngăn chặn cái chùa Facebook; đến độ thỉnh thoảng Facebook gởi tôi một email báo tin rằng đang có mấy trăm người cho đến nay vẫn đang dài cổ chờ tôi cho liên kết trên mạng ấy.

Trên mạng xã hội LinkedIn [2] vốn dành cho doanh nhân trên toàn thế giới, tôi vào xem và viết comment đều đặn suốt nhiều năm qua đối với các ý kiến này nọ của các vị mà đại đa số dùng tiếng Anh. Song, tôi chưa bao giờ “xin” liên kết với bất kỳ ai, mà trái lại phải duyệt rất kỹ từng lời xin liên kết một của các vị doanh nhân ấy của LinkedIn. Cụ thể, tôi đã không chấp nhận lời xin được liên kết với tôi của 426 người

 ScreenShot775

và hiện nay tôi chỉ liên kết với tổng cộng 719 vị có chất lượng cao khiến tôi gián tiếp  được biết đến bởi gần 18 triệu chuyên gia toàn thế giới.

ScreenShot748

Như đã nói trong bài viết trước đây về Nhân Sự [3] mà chỉ sau khi được LinkedIn gởi email trực tiếp mời tham gia viết bài, tôi mới đăng bài viết bằng tiếng Anh của mình, và tiếp theo sau đó là một bài khác cũng bằng tiếng Anh về đề tài lời khuyên dành cho người học tiếng Anh [4]. Gần đây nhất, vào ngày 23-01-2015 tôi đăng bài “Tác Động Của Quảng Cáo Tại Việt Nam”, và đến nay đã có 50 doanh nhân nước ngoài tìm đọc.

ScreenShot749ScreenShot757

Nay tôi xin đăng lại bản tiếng Anh của bài mới này như dưới đây để đáp ứng nhu cầu của sinh viên muốn đọc bài tiếng Anh thể loại khảo cứu nghiêm túc (formal & non-fiction). Kính xin bạn đọc vui lòng xem phần nghĩa tiếng Việt trước. Trân trọng cảm ơn nhiều.

*********

A) Phần Nghĩa Tiếng Việt

(trích từ luận điểm của Hoàng Hữu Phước tại Đại Học Curtin, tháng 8 năm 2006)

Dịch vụ quảng cáo nằm trong số những ngành kinh doanh đem lại lợi nhuận kếch xù trong thế giới hiện đại; tuy nhiên, có những cách thức mới đơn giản hơn nhiều và tốn kém ít hơn rất nhiều nhưng lại có hiệu quả một cách thuyết phục cho các mục đích tương tự, đặc biệt hấp dẫn đối với một số thị trường nhạy cảm như Việt Nam và / hoặc tại thời điểm khi môi trường kinh doanh đang bị bủy vây tứ phía trong sự hỗn loạn của lạm phát, giảm phát, suy thoái kinh tế, và tất cả các cơn sốt bùng nổ bong bóng của nền kinh tế và các quyết định khôn ngoan từ khung cảnh như thế sẽ bao gồm cả việc chi tiêu hợp lý cho khâu quảng cáo. Trên một bình diện nhỏ hơn nhưng cụ thể hơn, các khía cạnh văn hóa sau về phản ứng của người dân Việt nói chung cần được các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam lưu ý trước khi phát sinh bất kỳ ý tưởng thăng hoa nào đối với việc chi cho một quảng cáo tại thị trường đặc biệt này.

Đầu tiên và trước hết, đa số người dân bình thường của Việt Nam coi quảng cáo đăng trên báo chí là sự phí phạm tiền bạc. Trước khi đọc báo, người ta lấy các trang quảng cáo bỏ qua một bên và dùng những trang này khi cần có cái gì đó để gói cái gì đó hoặc phục vụ cho việc gom rác thí dụ như gom thứ mà thú cưng của họ thải ra. Nhiều bà nội trợ sử dụng các trang quảng cáo để bán ký lô cho người thu mua ve chai để có thêm ít tiền nho nhỏ. Tại Tp Hồ Chí Minh, nhiều người thậm chí còn biểu lộ sự bực bội mỗi khi nhận được tờ báo mới vì báo ở đây được bán như mớ hổ lốn với các trang quảng cáo in riêng rẻ nhưng được đút hét vô tội vạ vào tờ báo không theo thứ tự số trang khiến tờ báo cứ như một sản phẩm kỳ quái dù thuộc một ngành cao cấp của công nghiệp truyền thông. Nếu muốn đặt quảng cáo trên báo, sẽ là sự khôn ngoan nếu bạn hoặc đòi mức giá khoảng một phần mười lăm của giá công bố hoặc đòi đăng miễn phí.

Vấn đề tiếp theo là các quảng cáo thông qua các kênh truyền hình. Do hiện nay có rất nhiều kênh miễn phí (gói hàng trăm kênh với giá rẻ mạt) tại Việt Nam, ngay khi người xem nhìn thấy một quảng cáo xuất hiện, họ ngay lập tức sử dụng điều khiển từ xa để lướt qua kênh khác. Điều này trở nên tồi tệ hơn một cách thảm họa hoặc trở thành tồi tệ nhất nếu một quảng cáo sản phẩm chen không đúng lúc vào mạch diễn tiến của một phim truyện ưa thích của người xem, khiến họ giận dữ, làu bàu nguyền rủa cả Nhà Đài và Nhà Sản Xuất Sản Phẩm đang được quảng cáo. Các doanh nghiệp đặt quảng cáo phát sóng truyền hình có thể trong một chừng mực nào đó không đạt được mục tiêu mong muốn; do đó, chi tiêu như vậy sẽ gây hại rất nhiều chứ không chỉ đơn giản là sự lãng phí đầu tư.

Vấn đề thứ ba có thể xảy đến với quảng cáo bằng cái gọi là nhóm phức tạp của nào là bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo trực tuyến, quảng cáo với người nổi tiếng, quảng cáo qua tài trợ, vân vân và vân vân. Việt Nam có biết bao khu vực đô thị đông nghẹt dân cư nơi nảy sinh ra bao ý tưởng quảng cáo lạ lẫm. Tuy nhiên, với hàng triệu xe hai bánh chạy ầm ầm từ mặt trời mới mọc đến lúc mặt trời mọc lại xịt ra khói khiếc nghẹt thở và còi xe kêu inh ỏi một cách thiếu kiên nhẫn giữa ùn tắc ùn ứ ùn ùn giao thông, thì các bảng quảng cáo ngoài trời sẽ khó có ai trong số những người đi xe máy đang tức giận quan tâm. Còn quảng cáo trực tuyến ư? Bạn có thể làm với trực tuyến nếu khả năng của bạn là để bán các mặt hàng nhỏ cho giới thiếu niên, những người mà sáng nào cũng xòe tay xin cha mẹ cho ít tiền mặt. Quảng cáo với người mẫu này nọ cũng không ăn thua, đơn giản vì một tỷ phú ở Việt Nam có thể mua một chiếc Roll-Royce qua việc ký hợp đồng nhập khẩu trực tiếp mà không thèm đến nhìn bất kỳ người nổi tiếng nào; còn các hội chợ triển lãm ô-tô thu hút đám đông thanh thiếu niên đến chỉ để chụp ảnh với người mẫu, thu gom các catalog cùng quà tặng, và đương nhiên sẽ không mua bất kỳ chiếc xe ô-tô nào, bất kể giá cả cao thấp ra sao. Việc quảng cáo qua tài trợ của công ty có thể có tác dụng trong một chừng mực nào đó, thí dụ như trường hợp của LG đã hỗ trợ tài chính một cách bền bỉ  cho gameshow trường kỳ của Đường Lên Đỉnh Olympia giúp quảng bá thành công thương hiệu của Hàn Quốc nói chung ở Việt Nam – tức là tất cả các công ty Hàn Quốc đều được hưởng lợi chứ không riêng gì LG.

Từ những điều nêu trên,  ta thấy ý nghĩa của quảng cáo có thể nói vắn tắt là nó có thể cần thiết nếu dành cho các sản phẩm mới của một nhãn hiệu mới hoặc cho sản phẩm mới của các doanh nghiệp mới. Đây là nói về doanh số bán hàng nhờ quảng cáo, chứ nếu về những gì không-liên-quan-đến-tăng-lượng-hàng-bán thì lại là một câu chuyện khác.

Hãy lấy P&G làm ví dụ, vì công ty này đã đạt kỷ lục đầu tư “khủng” cho khâu quảng cáo và có lợi nhuận “khủng” nhất tại Việt Nam trong năm 2004. Nếu P&G đạt kỷ lục về doanh số bán, đó  không có nghĩa là nhờ họ đầu tư rất lớn vào  quảng cáo, bởi vì cách suy nghĩ như thế là cực kỳ xằng bậy, vì rằng phải chăng nếu là chủ một donah nghiệp thì bạn chỉ cần bỏ tiền ra quảng cáo nhiều hơn P&G để bán được hàng nhiều hơn P&G? Thật là vô lý. Đó cũng là việc sai vì bạn đơn giản hóa một cách tối đa cho rằng ý nghĩa của sự cạnh tranh là đặt hết tầm quan trọng vào tay nhà quảng cáo chứ không vào chất lượng và  sự khả dụng của, cùng công tác hậu mãi dành cho sản phẩm của mình. Thật là hoang đường. P&G thành công đơn giản chỉ vì họ là công ty lớn lớn với sản phẩm thật đa dạng, và hàng của họ bán với giá rẻ “gây sốc” rất phù hợp với hầu hết các bà nội trợ có thu nhập thấp – ắt do theo trào lưu triết thuyết Đáy Kim Tự Tháp hô hào. P&G cũng dành rất nhiều tiền cho quảng cáo. Nhưng hai điều này là hoàn toàn chẳng dính dáng gì với nhau. Đối với các công ty rất lớn, quảng cáo hoàn toàn là một cách đầu tư vào thương hiệu riêng của họ để giá cổ phiếu của họ tốt hơn trong thị trường chứng khoán. Coca-Cola đã không có công bố lãi bất kỳ ở Việt Nam trong hàng chục năm, nhưng lại đầu tư rất hào phóng trong hoạt động quảng cáo với các chiến dịch quy mô toàn quốc và mở rộng kinh doanh cũng trên quy mô cả nước Việt Nam. P&G đã chi nhiều cho quảng cáo, đơn giản là làm cho thương hiệu của mình nổi bật một cách ấn tượng, khiến lu mờ tất cả các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những doanh nghiệp rất nhỏ, siêu nhỏ, trong nội địa. Do đó, quảng cáo thực tế không đóng bất kỳ vai trò quyết định nào trong việc thúc đẩy doanh số bán hàng, trừ việc loại trừ khả năng bán hàng của đối thủ cạnh tranh thuộc bất kỳ “kích cỡ” (nhỏ, vừa, rất nhỏ, siêu nhỏ) nào. Tóm lại, có nhiều cách để một doanh nghiệp để thành công về tài chính mà không cần bất kỳ sụ chi phí triền miên nào cho quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp này, quảng cáo là cần thiết khi các họ mới thành lập hoặc khi họ vừa có sản phẩm mới để giới thiệu đến người tiêu dùng tiềm năng. Đây là tất cả. Chắc chắn là như vậy. Hoàn toàn chỉ có thế. Chỉ có thế, mà không có gì khác cả.

Và cuối cùng song không phải là phần kém quan trọng nhất, ai cũng biết rằng một sản phẩm “đàng hoàng” bao giờ cũng cần rất nhiều thời gian để thử nghiệm lâm sàng hầu có kết quả chính thức được công bố. P&G và các đối thủ cạnh tranh ngang hàng với họ tung ra thị trường hàng ngàn loại dầu gội hoặc sữ tắm hoặc kem chăm sóc da hoặc mặt hoặc làm trắng, hoặc kem đánh răng, hoặc vô thiên lủng thứ tương tự với một tốc độ nhanh chóng đến không tưởng. Thậm chí trẻ em biết chắc chắn rằng quảng cáo luôn có phụ nữ với mái tóc dài xinh đẹp, nhưng những người này được thuê không phải vì họ đã sử dụng hiệu quả các sản phẩm ấy mà do họ đã sẵn có mái tóc đẹp tự nhiên hoặc nhà quảng cáo sử dụng các công cụ như Photoshop hoặc bằng bất kỳ phương tiện khác mà chỉ có Chúa biết còn P&G không bao giờ muốn biết. Kết quả là rất rõ ràng: các quảng cáo đưa thông tin không đáng tin cậy và thông tin bằng cách nào đó vào lúc nào đó ở tại nơi nào đó bị bóp méo hoặc không đúng sự thật (tôi không dám dùng từ xấu của “lừa dối”).

Vấn nạn trên khiến quảng cáo trở thành chủ đề không dễ để tranh luận. Nếu mọi thứ phụ thuộc vào quảng cáo, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam nên đóng cửa công ty của họ và không bao giờ trở lại thế giới kinh doanh. Hãy để các công ty nước ngoài với vốn to và chính sách quảng cáo mạnh mẽ làm tất cả công việc kinh doanh ở đây và chúng ta người bản xứ chỉ nên làm người tiêu dùng. Bất kỳ ai cũng có thể đánh bại P&G và đồng nghiệp của họ một cách dễ dàng và tuyệt đối, nếu người đó cũng quan tâm chế tạo ra dầu-gội-và-đủ-thứ của riêng mình. Đây không phải là bởi vì người ấy có năng khiếu hay tài năng bẩm sinh, nhưng để đánh bại kẻ lãng phí tiền “khủng” để bán sản phẩm giá rẻ trong nhiều thập kỷ, người ấy chỉ cần đừng dao động, có quyết định sáng suốt, đúng thời điểm mà thôi. P&G thành công vì họ “hy sinh” tiền của trong một thời gian ngắn nhờ vào sự chết yểu của các doanh nghiệp địa phương tại bất kỳ quốc gia nào P&G hùng hổ lấn sân vào chinh phục. Nếu những người địa phương cố gắng trụ được lâu hơn, P&G cùng bầy đoàn tương cận như họ chắc chắn sẽ tiêu tùng do không ai có thể lãng phí tiền bạc chẳng hạn trong hai thập kỷ liên tiếp chỉ để bán sản phẩm giá rẻ cho các bà nội trợ của Việt Nam.

Việc chia sẻ ý kiến trên chỉ là để đặt ra một câu hỏi về tầm quan trọng thực sự của quảng cáo và khẳng định các quảng cáo hoành tráng không phải là yếu tố quyết định tác động đến sự thành công của một doanh nghiệp tại Việt Nam. Chẳng  có ai thực hiện bất kỳ cuộc điều tra nào để xem những phương pháp quảng cáo nào mà Khương Tử Nha của Trung Quốc cổ đại của thế kỷ 11 Trước Công Nguyên đã áp dụng để làm cho Cơ Xương dù cách xa hàng chục ngàn dặm vẫn bị thu hút tìm đến túp lều ọp ẹp xiêu vẹo hạ mình thỉnh ông lão hơn bảy mươi tuổi này về làm Tề Thái Công giúp Tây Bá và con của vị này là Chu Vũ Vương đánh tan Trụ Vương xóa sổ triều đại nhà Thương để lập nên nhà Chu kéo dài hơn hơn 800 năm. Đó có phải là cách quảng cáo truyền khẩu chăng? Hay là cách quảng cáo phóng đại nổ liên thanh? Hoặc phải chăng quảng cáo bằng cách dựng bảng ngoài trời, dán áp-phích, treo băng-rôn, phát tờ rơi, vân vân và vân vân, ở cái thời mà truyền hình, phát thanh, tin nhắn điện thoại di động, và email rất cần một cuộc hành trình “quay trở lại tương lai” mới có? Nói theo cách của dân Châu Á, à cũng nói theo thực tế có tham khảo các khía cạnh con người và văn hóa Việt thì con đường đi đến trái tim, tức cảm nhận cảm tình, thì quan trong hơn rất nhiều so với đến đôi mắt và đôi tai, trong khi quảng cáo hiện đại lại chú trọng vào đầu óc vốn bị tác động chỉ bởi  những gì mắt thấy, tai nghe.

Để có các tư duy chiến lược hầu chiếm thị phần lớn đối với một sản phẩm đặc thù tại thị trường Việt Nam trên cơ sở hoạt động ít tốn kém, các bạn có thể tìm đến MYA BizCorp của Việt Nam.

*********

B) Phần Nguyên Tác Tiếng Anh

On Advertisement Impact in Vietnam [5]

(Excerpt from a speech by Hoang Huu Phuoc at Curtin University, August 2008)

Advertisement services are amongst the lucratively profitable businesses in the modern world; however, there come new ways of much simpler and much cheaper but much convincingly effective approach for the same purposes particularly attractive to some sensitive market(s) like Vietnam and/or at a time when the business environment is besieged with chaos of inflation, deflation, recession, and all the boom-bubble-bust fever of the economy and the wise decision thereof and there from includes a sound spending for advertisement. In a smaller but more specific scope, the following cultural aspects of responses of the Vietnamese people in general need be noted by foreign businesses operating in Vietnam before any fancy ideas of placing an advertisement can be generated in this particular market.

First and foremost, the majority of people in the street of Vietnam consider advertisement in prints a waste of money. They remove the ads pages from newspapers before reading the news, and use the removed whenever they need some “things” for wrapping other “things” or for any other hygienic purposes e.g. collecting “things” from their pets. Many housewives use ads pages for selling by kilo to scraps buyers for some extra petty household income. Many people even show their irritation at the fresh newspaper at hand, simply because “all” newspapers in Hochiminh City are being sold in a mess, not in page number order and with ads pages printed separately but inserted into the stuff making each and every newspaper an oddly bulky product though of a so-called high-profiled industry of the mass media. If you want to place an ads on newspapers, it is wise only if it is at one-fifteenth of the announced cost or at no cost at all.

The next issue is of ads via television channels. As there are now so many channels availably free in Vietnam, as soon as viewers see an ads appear, they immediately use remote controls to surf where else. It gets calamitously worse or becomes the worst if a product ads comes improperly intervening the flows of the story of a feature film of viewers’ preference, making them angrily grumbling and using big bad words against both the TV Company and the product manufacturer. The businesses placing orders for advertisement broadcast may to some extent not hit the target expected; hence, such expenditure is much more damaging than just a simple waste of investment.

The third problem may come to ads via the so-called sophisticated groups of billboards, online, celebrity branding, corporate sponsorship, and the like. Vietnam is full of densely populated urban areas whereat fancy advertisement ideas germinate. However, with millions of two-wheelers roaring from sun to sun emitting suffocating smokes and impatient horns laboriously honking in traffic jams, billboard ads seems unnoticeable by these angry motorcyclists. Online may be yes if your capability is to sell small items to teens who beg their parents for petty cash early every morning. Neither celebrity branding is useful, simply because a billionaire in Vietnam may purchase a Roll-Royce under a direct import shipment contracted without the need to see any celebrity; whilst automobile trade fairs attract crowds of teens to come only to take photos with celebrities, to collect catalogues and to grasp giveaways, and obviously not to buy any car regardless of whatever price rate it could be. Corporate sponsorship may work to some extent, e.g. the case of LG and its faithful financial support to the long-lasting game show of The Path to the Peak of Olympia successfully promoting the branding of Korea in general in Vietnam – i.e. all Korean companies get benefited instead of LG individually separately.

In view of all the above, the meaning of advertisement in brief then is that an ads may be required only if it is for new products of established brands or for new products of new businesses. This is about sales. But for non-sales, the story may differ.

Take P&G for an example as it set records of highest ads investment and highest profit in Vietnam in 2004. If P&G makes records on sales, it does not mean this is thanks to their huge investment in ads, because this way of thinking is preposterously inappropriate as it will mean if you are an owner of a business you have to invest much more money than P&G in order to have more sales than P&G do. This does not make sense. It is neither a correct way because it simplifies to the utmost the meaning of competition by putting so much importance into the hand of advertisers rather than in the quality and usability of products and after-sale services. It is imaginary. P&G is successful simply because it is big with diversifying ranges of products at….terribly cheap prices suitable to most low-income housewives – possibly as per the trend speculated in the Bottom of the Pyramid theory. P&G also spends a lot of money for ads. But these two things are absolutely not intertwined. For very big companies, ads is purely a way to invest into their own brands which in return may make their stock prices better in securities markets. Coca-Cola has not been announcing any profit earnings in Vietnam for dozens of years, but it has invested so generously in advertisement activity campaigns countrywide and in expansion of their business also countrywide as well. P&G spends a lot for advertisement simply because of making its brand impressively overshadowing all competitors – particularly the very small domestic ones. Therefore, advertisement practically does not play any decisive role in promoting sales but in eliminating the capability of sales of competitors of whatsoever sizes they are. In a word, there are ways for a business to financially successful without any non-stop advertisement expenditures. To these businesses, ads is required when the businesses are established and when they have new products which they want to introduce to the prospect consumers. This is all. Definitely all. Absolutely all. Only this, and nothing more.

And last but never the least, people know very well that any “righteous” product takes time for clinical testing with officially announced results. P&G and their peer competitors launch to the market thousands of types of shampoos or bath cream or skin care or whitening items or toothpaste or the like at a seemingly imaginary speedy rate. Even kids know for sure that the ads is always with ladies with beautiful long hair but these ladies are hired for photos not because they effectively use such products but just because they either already have beautiful hair naturally or seek for help from tools like Photoshop or by any other means only God knows and P&G never wants to know. The outcome is very clear: ads bring non-reliable information and somehow sometime somewhere distorted or untrue information (I dare not use the bad word of “cheating”).

The above makes the topic of ads a very difficult one for debate. If things depended on ads, all Vietnamese businesses should have closed their companies and never entered the business circles again. Let foreign companies with huge capital and strong ads policies do all the business here and we local people should be consumers only. Anybody can beat P&G and its peers easily and totally, if he or she is interested in establishing a shampoo-and-the-like business of his or her own. This is not because this “anybody” is so gifted or talented, but because to beat a person who wastes huge money for selling cheap products for decades, he will need only a sustainable practice and wise decision at appropriate time. P&G is successful because it “sacrifices” its money just in a short time thanks to the dying-so-soon of local businesses at any country P&G has boldly stepped in to conquer. If local ones try to survive, P&G and the like will definitely be in problems as they can never waste money for say two consecutive decades only to sell cheap products to housewives of Vietnam.

To share the above opinion is just to pose a question of the true importance of advertisement and to affirm fancy advertisement is not the decisive factor influencing the success of a business in Vietnam. Nobody has ever made any survey to see what method of advertisement Jiang Ziya of Ancient China of the 11th century BC had applied to make the King Wen of Zhou dozens of thousands of miles away so much attracted that His Majesty came to the ramshackling hut of the humble seventy-year-of-age man to invite him to be the Royal Prime Minister and the Great Duke to help King Wen then his son King Wu smash then overthrow King Zhou of Shang Dynasty to establish the strong state of the Zhou lasting for more than 800 years. Was it common word-of-mouth advertising? Was it big-mouth advertising? Or was it via billboards, posters, banners, printed media, or flyers, or the like, at the time when TV, radio, SMS, and email were in dire need of a “back-to-the-future” journey? Asia-orientedly speaking, and as-a-matter-of-factly speaking with reference to Vietnam’s people and her cultural aspects, the way to the heart of customers, i.e. the deep feeling, is much more important than to their eyes and ears; whereas modern advertisement’s focuses are on their mind which is under the influence of seeing and hearing only.

Strategic thinking of winning the sizeable market shares for a particular product in Vietnam’s market on the basis of cost-cutting modus operandi is openly available at MYA BizCorp of Vietnam.

Hoang Huu Phuoc

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Hoàng Hữu Phước. 14-7-2014. Blog và Thùng Nước Đá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/14/thung-nuoc-da-va-blog/

[2]  Hoàng Hữu Phước. 14-8-2013. Mạng Xã Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/14/mang-xa-hoi/

[3]  Hoàng Hữu Phước. 16-01-2015. Tips for Learners of English – Lời Hướng Dẫn Dành Cho Người Học Tiếng Anh – bài viết song ngữ Anh và Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/16/tips-for-learners-of-english/

[4]  Hoàng Hữu Phước. 27-8-2014. Luận Về Công Tác Nhân Sự: Thế Nào Là Trung Thực – To Lie Or Not To Lie:It’s An HR Question. – bài viết song ngữ Anh và Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

[5]  Hoàng Hữu Phước.  On Advertisement Impact in Vietnam. Bản tiếng Anh đăng lần đầu trên Yahoo!3600, và đăng lại ngày 19-8-2008 trên http://www.emotino.com/bai-viet/16884/on-advertisement-impact-in-vietnam.

Tips for Learners of English

(Có phần dịch nghĩa tiếng Việt. With the Vietnamese version as enclosed herewith hereafter)

1234

Excerpt from Speech by Hoang Huu Phuoc at Hanoi University of Foreign Languages, Hochiminh City, Vietnam, 1996

If you wish to improve your speaking and writing, the first thing you need do is to – surprisedly and surprisingly – read books in Vietnamese of fairy tales, short stories, novelettes and novels, and particularly non-fiction.

Many a local desperado theory-maker nowadays in our society has taken it for granted that if you want to be good at English (or any other foreign language) you need to start your study of English from the second of the Shakespeare’s Seven Ages of Man, without knowing that such method can only help produce more citizens for the country of the terrible Black Death and Great Fire and the War of Roses.

The righteous thing is that a foreign language is nothing more than a foreign language which may due to some whatsoever reasons and howsoever it is coexist with the mother tongue, the very language a person ever since his first day thrown by All Mighty down onto the very lap of his mother starts to intentionally hear, to intuitively sense, to indefectibly imitate and then to industriously develop. Nobody can be good at any foreign language without first being a good orator of his/her mother tongue. From the attraction of the tales and stories to the drive to look for equivalent expressions in English (or any other foreign language) comes the superb capability of materializing profound thoughts onto spoken words or written presentation. English is not just for saying Hello, asking for direction, or crying for ” Help !”. And when a learner of English can use English to exactly and elaborately and correctly and fully and understandably and a-hundred-more-ly’s express his/her idea, opinion or theory, he/she can say that the target of being good at English is satisfactorily achieved!

Magna Carta and the Stonehenge experience the galloping time’s ruthless erosion; however, words either spoken or written surely appreciate the further enriching by the people exploiting the significant indirect connotation or denotation of the above two marvellous works. Let’s make the rest of the world come to know about Vietnam and its great heritage of practical righteousness by rectifying the wrong and utilizing the good so that one day it will conquer the world with the mightiest weapon of foreign languages. And this is as-a-matter-of-factly as true as steel!

Hoang Huu Phuoc

Reference:

Hoang Huu Phuoc. 27-8-2014. To Lie Or Not To Lie – It’s An HR Question. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

Phần dịch nghĩa tiếng Việt

Trích đoạn từ bài nói chuyện của Hoàng Hữu Phước với sinh viên tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996

Nếu các bạn muốn nâng cao khả năng nói và viết tiếng Anh, thì việc đầu tiên bạn cần làm – tuy rất ngạc nhiên và gây nhiều ngạc nhiên – là hãy đọc sách truyện thần tiên, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu thuyết trường thiên, và đặc biệt là các tác phẩm khảo cứu bằng tiếng Việt.

Thời nay bao kẻ cùng đường thất cơ lỡ vận học đòi l‎ý luận rằng nếu muốn giỏi tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào), bạn cần bắt đầu học tiếng Anh từ giai đoạn thứ nhì trong bài sonnet tựa đề Bảy Giai Đoạn Của Đời Người của Shakespeare, mà không biết rằng học kiểu đó chỉ giúp sản sinh ra thêm những công dân cho đất nước là chủ sở hữu của Trận Dịch Hạch Kinh Hoàng cùng Trận Đại Hỏa Hoạn cũng như Cuộc Chiến Giữa  các Gia Tộc Hoa Hồng.

Điều đúng đắn ở đây là ngoại ngữ là ngoại ngữ không hơn không kém, mà do vì một nguyên nhân bất kỳ nào đó hoặc bằng một cách nào đó song song tồn tại với tiếng mẹ đẻ của một người, thứ ngôn ngữ mà kể từ lúc người ấy được Đấng Toàn Năng ném đúng lên đùi của người mẹ để bắt đầu lắng nghe, cảm nhận, mô phỏng theo, rồi phát triển. Không bất kỳ ai có thể giỏi một “ngoại ngữ” mà không trước hết phải thật giỏi tiếng mẹ đẻ của mình. Từ sự hấp dẫn của các câu truyện, đến khuynh hướng kiếm tìm những diễn đạt tương tự bằng tiếng Anh (hoặc – tất nhiên – bất kỳ “ngoại ngữ” nào khác), người ta có được năng lực tối ưu hiện thực hóa những tư duy sâu sắc thành ngôn ngữ nói hoặc thể hiện bằng chữ viết. Tiếng Anh không phải chỉ để nói “Hê Lô”, hỏi thăm đường sá, hoặc kêu cứu. Và khi một học viên tiếng Anh có thể dùng tiếng Anh để diễn đạt ý kiến, ý tưởng, hay lý thuyết này nọ một cách hay ho, chính xác, súc tích, rõ ràng, và đủ thứ mỹ từ tích cực khác, lúc ấy mới có thể nói người ấy đã đạt được một cách mỹ mãn mục tiêu học giỏi tiếng Anh của mình.

Thiên Magna Carta và kỳ quan Stonehenge đã biết thế nào là sức tàn phá tàn nhẫn của vó câu vùn vụt của thời gian; song, chính những ngôn từ được nói hoặc viết lên mới thưởng lãm được sự phong phú hơn lên do con người khai thác những nội hàm ngụ ý đầy ý nghĩa của hai kiệt tác trên. Hãy làm phần còn lại của thế giới biết về Việt Nam cùng gia sản vĩ đại đầy sự đoan chính thực tiễn của đất nước này bằng cách chỉnh sửa cái chưa đúng và tận dụng cái đúng để có ngày trong tương lai Việt Nam sẽ chinh phục thế giới bằng ngoại ngữ, thứ vũ khí hùng mạnh nhất. Và đây là sự thật vững chắc đương nhiên.

Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 27-8-2014. Hoàng Hữu Phước Nói Về Công Tác Nhân Sự.. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam (Bilingual writing: Vietnamese & English)

Bài viết Song Ngữ Việt và Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot535

Thương hiệu quốc gia là nội dung mang tính thời thượng được nói về rất nhiều và đặc biệt dậy sóng khi Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Việt Nam năm 2007 để rồi không còn được nhắc đến sau đó. Gần đây thấy có bài phỏng vấn Bà Tôn Nữ Thị Ninh về chủ đề này, tôi có nhận xét rằng Bà Ninh cũng như tất cả những phát biểu trước đây của nhiều người khác đều giống y nhau ở điểm nêu miên man những vấn đề trừu tượng, mà đã là trừu tượng thì có ba yếu điểm gồm (a) bản thân người phát biểu không thuộc đẳng cấp nhà tư vấn chiến lược quốc gia, (b) vấn đề được nêu không thuộc phạm trù thực tiễn khả thi khả dụng, và (c) không giúp gì được cụ thể cho phát triển và hiện thực hóa “thương hiệu quốc gia” thậm chí có khi mang nội hàm đổ cho chính phủ và nhà nước phải chịu trách nhiệm duy nhất và tất cả cho việc có hình thành nên được một thương hiệu quốc gia hay không. Khi viện dẫn sai về Nhật Bản, người ta cho rằng chất lượng của tất cả hàng hóa của Nhật đều cao và từ đó hình thành thương hiệu quốc gia của Nhật Bản như xứ sở chế tạo những sản phẩm chất lượng cao, và từ đó Việt Nam cũng nên làm sao cho tất cả các sản phẩm của mình cũng như thế để khi nói đến Việt Nam thì nội hàm chất lượng cao cũng sẽ thành thương hiệu quốc gia tương tự.

Cái sai cụ thể của cách ví von trừu tượng trên là ở chỗ ngay từ đầu hoàng gia và chính phủ Nhật Bản đã không có chủ trương hay chính sách sản xuất nhằm tạo thương hiệu quốc gia. Họ sản xuất chất lượng cao vì đó là tư cách tuyệt đối đúng của bất kỳ nhà sản xuất chân chính nào trên toàn thế giới. Trong bài viết tựa đề Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước được báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng lại ngày 09-9-2008, tôi có nêu cần phải thay đổi tư duy từ “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” sang “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” và có phê phán rằng không hiểu sao đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn “e thẹn” trước yêu cầu mang tính quốc thể này. Ngoài ra, việc các nhà sản xuất ô-tô Nhật Bản (sau này là Mỹ và vài nước Châu Âu) liên tục thu hồi nhiều triệu ô-tô trên toàn thế giới do các khiếm khuyết kỹ thuật nghiêm trọng chỉ cho thấy sự nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường với giá cạnh tranh luôn tiềm tàng nguy cơ chất lượng không thể đảm bảo cao tuyệt đối. Như vậy, phải chăng “thương hiệu quốc gia” của Nhật đã trở thành “chuyên gia thu hồi ô tô”?

Là nhà tư vấn chuyên nghiệp được ít nhất một công ty tư vấn lớn của Mỹ mời tham gia ban lãnh đạo và một công ty tư vấn trung bình của Malaysia mời làm cộng tác viên khu vực ASEAN, tôi luôn có hai việc đồng hành mỗi khi phê phán ai hoặc cái gì là (a) nêu nhận xét về vấn đề và (b) nêu biện pháp giải quyết vấn đề. Đây là cung cách được hình thành từ những năm đại học, mỗi khi chê bai thật chi tiết và thật thuyết phục về chất lượng một bài sonnet của Shakespeare hay Spencer hay Byron hay Shelley, v.v., tôi đều kèm theo một bản chỉnh sửa lại bài thơ thật chi tiết và thật thuyết phục để bài thơ hay hơn, phong phú hơn, chất lượng cao hơn. Khi giỏi đổ thừa, giỏi “giao phó” trách nhiệm về thương hiệu quốc gia cho Nhà nước, lẽ ra cái bộ phận không lớn phát-biểu-viên trong thiên hạ đừng nói về một cõi bao trùm vì đó là điều phi lý, hoang đường, mà nên tập trung về những mặt cụ thể nào mà các vị ấy có thể nghĩ ra được để Nhà nước tham khảo xem có thể cung cấp tài chính cùng các quyết sách kinh tế vĩ mô cụ thể hay không. Và sau đây là bài viết thứ nhất của tôi đề nghị cụ thể một thương hiệu cụ thể cho Việt Nam, thay vì nói miên man về những gì mà ai cũng nói được để rồi đất nước vẫn chẳng có gì. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn.  (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu cụ thể khác cho Việt Nam được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19, sẽ sớm được post lại lên blog này phục vụ bạn đọc có quan tâm đến chủ đề “thương hiệu quốc gia”)

*** BẢN TIẾNG VIỆT – VIETNAMESE VERSION ***

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam

Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới

(bài của Hoàng Hữu Phước bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 trên http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam)

Trong buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8 năm 2007 về Marketing ở Sheraton Hotel với chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới do Philip Kotler, người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới, là diễn giả đặc biệt, đã chậm rãi khoan thai phát âm thật rõ ràng rành mạch những ý tưởng mà nhiều ngày liên tiếp sau đó báo chí Việt Nam cuộn cuồn dậy sóng thông tin, đặc biệt là về “thương hiệu quốc gia” và “bếp ăn của thế giới”.

Thiết nghĩ cần có một khẳng định ở đây là Philip Kotler không hề gợi ý Việt Nam nên là một Bếp Ăn Của Thế Giới với ý nghĩa ẩm thực, mà chỉ đơn giản ngụ ý thế giới chưa biết nhiều về Việt Nam và Việt Nam cũng chưa định vị được uy thế của mình trong lĩnh vực nào để làm marketing thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, và Ông nói với nụ cười hóm hỉnh rằng trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới cũng là điều có thể nghĩ đến. Một thí dụ chứa đựng những ẩn ngữ của một bậc thầy tài hoa cần được giải mã nghiêm túc, chứ không chỉ là trần trụi như nói về phở hay bánh xèo, hoặc nói cho văn hoa bóng bẩy hơn là “ẩm thực”, nghĩa là Việt Nam có “món” nào “ngon” để cung cấp cho thế-giới- kinh-doanh-toàn-cầu-hội-nhập hay không, chứ không phải Việt Nam có “món ăn” nào để kéo thế giới tới ăn nhai uống ực hay không. Có người thậm chí nêu ý kiến cho rằng đã muộn rồi vì dường như con người Philip Kotler quá vĩ đại nên không biết đến chuỵện nhỏ là Thái Lan đã và đang thực hiện chương trình trở thành “Kitchen of the World” (Kim Hạnh, 2007). Một ngộ nhận. Thương hiệu một quốc gia không do chính quốc gia đó tự đặt cho mình khi chưa làm nên gì cả để thuyết phục cả thế giới. Everest là “Nóc Nhà Của Thế Giới” vì bản thân nó là đỉnh núi cao nhất rồi được thế giới đặt tên sau khi đã đo đạc hẵn hoi. Là một đất nước-thị trường với dân số khổng lồ và giá nhân công rẻ, Trung Quốc đã hấp dẫn các công ty nước ngoài đổ xô tìm đến mở nhà máy sản xuất hàng hóa cung ứng cho thế giới và từ đó cái danh “Cơ Xưởng Của Thế Giới” được hình thành. Tương tự, sau vài thập kỷ nổi đình nổi đám thu hút nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, chưa kịp thành Cơ Xưởng Của Thế Giới thì Ấn Độ đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống (www.bhopal.com), và một hướng mới đã mở ra khi đất nước có quá nhiều nhân tài ai-ti (IT, công nghệ thông tin) này cung cấp dịch vụ sao lưu “backup” cho các công ty trên thế giới khiến có cái tên “Văn Phòng Của Thế Giới”. Trong khi đó, Úc là đất nước ít dân nhưng có hệ thống y tế hoàn hảo chất lượng cực cao và nổi danh trong điều trị các bịnh nan y. Song, chưa bao giờ Úc trở thành “Dưỡng Đường Của Thế Giới”, chỉ vì còn thiếu yếu tố hàng đầu, đó là: Úc chăm lo hoàn hảo cho sức khỏe toàn dân còn bệnh nhân nước ngoài có thể đến Úc chữa trị, chứ Úc chưa hề tự tổ chức để đạt được “thương hiệu” đó, cũng như đem dịch vụ của mình bung ra cung ứng mạnh mẽ đến các châu lục khác trên thế giới. Thái Lan tạo nên vài festival với tên tự đặt là “Kitchen of the World” nghe cho vui tai chỉ để giới thiệu ẩm thực Thái như một bổ sung thứ yếu cho ngành công nghiệp du lịch đã phát triển rồi của Thái, kéo thêm du khách đến Thái Lan (vì hàng triệu du khách đến Thái trong thập kỷ qua đã nếm món ăn Thái rồi chứ không phải bây giờ mới trình làng những báu vật còn giấu kín), trong khi để được cái danh Bếp Ăn Của Thế Giới, một quốc gia đúng ra phải như một…tổng công ty cung cấp suất ăn công nghiệp catering, nghĩa là anh phải đáp ứng được nhu cầu ẩm thực cho khách hàng của anh ở bất kỳ đâu trên thế giới, phù hợp với khẩu vị của riêng họ, bằng nguyên vật liệu chất lượng từ hoặc y như của xứ sở họ, và để làm được điều chắc chắn là không tưởng này phải có hệ thống thu mua, nhập khẩu, lưu trữ, bảo quản, vệ sinh tuyệt đối, và hệ thống phân phối cỡ DHL hay TNT, chứ không phải đơn giản giới thiệu món phở hay bánh xèo ngay tại Việt Nam. Thậm chí nếu món phở xoàng xỉnh của Việt Nam mà có nổi danh toàn cầu thì cái thương hiệu quốc gia của Việt Nam ắt là … Đất Nước Của Phở, như Ý là Đất Nước Của Pizza vậy, chứ sao là Bếp Ăn Của Thế Giới được. Nhiều người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam cả chục năm vẫn không thích thú gì khi được đãi các món ăn Việt, dù phở đã, đang, và sẽ mãi ngon đối với một bộ phận lớn người Việt dù không bất kỳ ai ăn phở trừ cơm mỗi ngày trong trọn cuộc đời, nhất là bò điên lở mồm long móng, gà cúm, và rau xanh tưới phân tươi, vệ sinh không kiểm chứng luôn khiến phở thành món ăn kém an toàn hoặc góp phần gây các chứng mỡ trong máu, trong gan, còn những lời khen tặng của ngoại nhân chỉ mang tính xã giao ước lệ. Vì vậy, theo tôi, khi nói về “Bếp Ăn Của Thế Giới”, Philip Kotler đã sâu sắc hàm ý ngay cả điều hiểu theo nghĩa đen thuần túy là cái bếp nấu ăn vẫn là điều chưa nước nào đạt được, hay chưa hiểu được, là bếp dùng để nấu (chứ không phải để mọi người chui vào bếp để ăn), và nấu xong thì bưng ra ngoài cho khách (tức xuất khẩu đến tận tay khách hàng), cho thấy để có được một thương hiệu quốc gia đòi hỏi một hiểu biết cặn kẽ, một tổ chức tổng lực cùng một kế hoạch tổng hợp dài lâu. Cùng trong thế kỷ XXI một số lớn con cháu Lạc Hồng nói phở ngon, tất cả hậu duệ của Đế Chế Inca vẫn thích ăn bánh mì kẹp lúc nhúc giống kiến to đen của họ, còn dòng giống Châu Sơn Cổ của Truyền Thuyết Du-mông mê cháo thằn lằn đến độ khi tổ chức sự kiện thể thao vĩ đại cấp hành tinh chính phủ phải yêu cầu dân chúng ngưng ăn chó và thằn lằn quốc hồn quốc túy đó, nên bảo đảm không ai dám vỗ ngực nói ẩm thực của mình là đứng đầu thiên hạ mà cả thế giới phải ăn. Pizza siêu tuyệt của Ý lan toàn thế giới, còn phở Việt Nam không bao giờ ở đẳng cấp như vậy. Ở đây, tôi xin có ý kiến cụ thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho đất nước của chúng ta, đó là : “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” tức “The Campus of the World”.

Khác xa với nhu cầu ẩm thực vốn tùy vào ý thích riêng từng khách hàng chứ không tùy vào bản thân hàng hóa là món ăn, nhu cầu học tập chú trọng vào bản thân hàng hóa vốn gần như có giới hạn nhất định và đồng nhất, sẵn có; chẳng hạn đã học xong đại học thì đa số mong có điều kiện lấy thêm một cái MBA (Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, vốn đang dần mất sức hấp dẫn về tay MIB tức Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế). Vấn đề là học nơi đâu cho phù hợp túi tiền: học ở Mỹ như mấy nhân vật phim Hàn Quốc mỗi khi thất tình là qua Mỹ du học rồi về làm giám đốc ngay, học ở lân bang cho gần và khỏi bị phỏng vấn trầy trật khi xin visa vào một siêu cường, hay học ở một nước thân thiện có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn cho tương lai của bản thân người đi học. Việt Nam chính là đất nước có quá nhiều những thế ưu việt cho du học sinh nước ngoài theo các phân tích và trình bày ở các phần tiếp theo, thực sự phù hợp cho một chiến dịch quảng bá dành lấy thương hiệu đẳng cấp cao này một cách an toàn tuyệt đối mà không phải tranh cải lung tung về gia vị hay dư lượng chất kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc uớp xác chết làm bánh phở, hoặc đối mặt với án lịnh pháp đình khi có các ca gây ngộ độc thực phẩm cho khách hàng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự quốc gia.

Trước hết, xin được nêu duy chỉ những thế mạnh của Việt Nam cho thương hiệu quốc gia Ngôi Trường Của Thế Giới, vì những phân tích còn lại theo nội dung SWOT và TOWS chỉ cần thiết hơn cho một kế hoạch kinh doanh chi tiết dài ít nhất 100 trang in khổ A4 mà chúng tôi có thể thực hiện nếu được tham gia chương trình quốc gia cho mục tiêu này.

An toàn và an ninh trật tự luôn là điểm nhấn quan trọng khi thế giới nói về Việt Nam, và đây là thế mạnh vững chắc tuyệt diệu để chúng ta sử dụng trong marketing cho một thương hiệu quốc gia. Du học sinh được học tại những ngôi trường chi nhánh của Mỹ, Anh, và nhiều nước khác hoạt động tại Việt Nam, nơi không có những vụ xả súng sát hại bạn học, không có bạo loạn chính trị, không có biểu tình ẩu đả, hay thiên tai, khiến du học sinh và thân nhân của họ có thể an tâm đầu tư cho học vấn. Đó là chưa kể đến các đặc trưng mà du học sinh cảm nhận đựợc duy chỉ có tại Việt Nam : tinh thần hiếu học, tôn sư, trọng đạo của người Việt Nam, mà ngay cả đất nước sản sinh ra Nho Giáo cũng không thấy có. Đây là một giá trị cộng thêm: anh dạy ở nước khác và anh có quyền mặc quần khaki ngắn đưa cẳng chân lông lá, áo hoa hòe hoa sói bỏ ngoài, ngay trong giảng đường đại học, đơn giản vì anh thực hiện hợp đồng phục vụ khách hàng là sinh viên, những người chỉ muốn nhận hàng hóa anh chuyển giao; còn dạy tại chi nhánh cũng của trường ấy nhưng mở Việt Nam anh phải ăn vận chỉnh tề, và tuy cũng thực hiện hợp đồng với trường của anh, anh vẫn sẽ thấy mình là một bậc thầy được sinh viên Việt Nam trân trọng, kính trọng, nể trọng, tri ân, và tất cả sẽ tác động lên sinh viên từ các nước khác, khiến họ cùng học tập sinh hoạt theo nền nếp lạ lẫm nhưng thú vị và đúng đắn không chê vào đâu được, hình thành nơi họ một nhân cách cao hơn, đó là nhân cách nhân bản và văn minh mang tính xã hội cộng đồng tôn ti trật tự thay cho kiểu nhân cách dưới quyền điều khiển của cái tôi bản ngã. Học tại Việt Nam với người Việt Nam và các quốc tịch khác, trong môi trường xã hội văn hóa Việt Nam, đó cũng là một lợi điểm kỳ thú, vì chính những yếu tố văn hóa giữ vai trò tác động lớn lao đối với các kỳ tích về kinh tế, chiếm hơn 50% trong các khác biệt đối với mức tăng trưởng kinh tế (Kotler, Jatusripitak, and Maesincee 1997, 113). Theo giáo sư Werner Soontiens, Khoa Trưởng Viện Đại Học Công Nghệ Curtin của Úc, phát biểu trong buổi hội thảo về Toàn Cầu Hóa Và Các Tiềm Năng Kinh Doanh Giữa Úc Và Việt Nam được tổ chức tại trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh chỉ hai ngày sau cuộc hội thảo quốc tế của Philip Kotler, Việt Nam có một lợi thế lạ kỳ là đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh với sự chiếm đóng và tham gia chiếm đóng của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, v.v., nhưng dường như chỉ khiến người Việt Nam hiểu biết nhiều hơn về đối phương chứ không chồng chất trong mình thêm những mối căm thù và tinh thần bài ngoại. Chính điều này làm những doanh nhân và người dân từ các nước có “vấn đề lịch sử” với Việt Nam cực kỳ thích thú, tự tin, an tâm, và mến mộ Việt Nam hơn, rằng ở giữa người Việt họ không thấy lạc lõng vì được người Việt hiểu biết, cảm thông, hợp tác, đối xử thân thiện, cũng như trân trọng văn hóa riêng của họ; trong khi dân chúng ở vài nước khác trong khu vực nhìn họ với vẻ hoặc hằn học, hoặc tò mò đầy dọ xét, hoặc lạ lẫm, hoặc không thân thiện, khiến họ không sao có được sự thoải mái, an tâm, ngay cả trong một tour du lịch nhiều sao.

Những thế mạnh khác lại hoàn toàn khả thi vì nằm trong tay chính phủ để tạo nên được nét khác biệt độc đáo cho chiến dịch “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” . Trong lĩnh vực đầu tư, nhà nước nhất thiết phải có các chính sách thông thoáng đối với giáo dục-đào tạo, cụ thể là về quy trình cấp phép và ưu ái cấp đất cho tất cả các dự án của các học viện có danh tiếng của nước ngoài thay vì chú trọng đến các sân golf chẳng giúp ích gì về lâu về dài cho quốc gia dân tộc, cộng với các ưu đãi về chuyển lợi nhuận về chính quốc. Trong khi cấp đất cho một công ty sản xuất có thể dẫn đến hệ quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà bản thân Việt Nam cũng không còn “mơ” gì (và đừng nên mơ) đến danh xưng Cơ Xưởng Của Thế Giới mà Trung Quốc đã chiếm hữu, việc cấp đất cho các trường nước ngoài xây dựng campus chỉ giúp tạo nên cảnh quan văn hóa cao, đồng thời lợi nhuận thu được cho quốc gia tất nhiên là lớn tính trên bình diện tương quan chung của các ngành và lĩnh vực của đời sống. Ngoài ra, còn kể đến các chính sách đặc thù như cho phép sinh viên nước ngoài được lao động có thu nhập trong thời gian học tập tại Việt Nam cũng như ưu tiên dành cho họ những công việc họ quan tâm và có khả năng đáp ứng được ngay cả tại các công ty nhà nước Việt Nam sau khi họ tốt nghiệp, mà không phân biệt đối xử, xem họ như đối thủ cướp giật việc làm với người dân Việt Nam. Tất nhiên, chính sách là để chứng tỏ với thế giới ta có sức hấp dẫn như thế nào, chứ bản thân du học sinh nếu chọn Việt Nam là mái trường của thế giới thì họ cũng biết rõ mười mươi là cơ hội việc làm rất lớn cho họ vì ở Việt Nam ngày càng có nhiều công ty nước ngoài tìm đến kinh doanh và đầu tư.

Những lợi thế mà các đối tác là các học viện và trường học nước ngoài có thể có được khi tập trung về Việt Nam để biến Việt Nam thành Ngôi Trường Của Thế Giới, gồm chi phí thấp hơn và điều kiện bành trướng kinh doanh cực kỳ thuận lợi trong tình hình sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo-dạy nghề trên thế giới đã trở nên rất cao. Một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, khi được Việt Nam cấp phép mở chi nhánh, sẽ có được lợi thế trước hết là với “khách hàng” tại chỗ của đất nước 80 triệu dân mà đa số là giới trẻ, ngày càng có nhiều người có điều kiện kinh tế khả quan hơn, và ý thức về học-học nữa-học mãi cho một tương lai tốt hơn là đặc điểm nổi bật so với giới trẻ Âu Mỹ chú tâm nhiều đến việc kiếm “giốp” (job) hơn là cho việc học tập vốn có thể để thư thả về sau. Thứ đến là thay vì phải đến Mỹ với chi phí cao hơn, du học sinh vùng Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, và Bắc Á sẽ dễ dàng bị cuốn hút về Việt Nam để có được mảnh bằng danh giá nhưng với chi phí thấp hơn. Đó là chưa nói đến an toàn trong đầu tư vì rõ ràng là ngày nay mở trường tại những con hổ con rồng lân bang của Việt Nam đã không còn tính hấp dẫn và an toàn. Cuối cùng, các học viện nước ngoài khi đến Việt Nam không nhất thiết phải có làng sinh viên campus vì đặc điểm dân cư và địa lý của Việt Nam sẽ phù hợp hơn cho mô hình trường học với du học sinh cư ngụ bên ngoài tại các nhà trọ, khách sạn nhỏ, hay chung cư, giúp thiết kế được các gói học phí thấp hơn, tạo nên tính cạnh tranh cao hơn trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Nói tóm lại, khi chọn một con đường để theo đuổi, cao nhất và ưu tiên số một vẫn là dựa trên sức mạnh nội tại độc đáo, có bình diện rộng lớn hơn, có lợi thế tâm lý cao hơn trong danh dự và vinh dự của một quốc gia, có số đầu tư không quá lớn, có ít rủi ro hơn, và có nhiều lợi nhuận hơn. Phở, nếu ngon, sẽ chỉ sướng miệng, vì chưa hề có công trình nghiên cứu quốc gia về lợi điểm ưu việt của phở ở khía cạnh dinh dưỡng và sức khỏe (thí dụ như ăn một bát phở-có-đăng-ký-thương-hiệu sẽ có hiệu năng thay thế … một viên viagra), và nếu phải là phở thì sẽ chỉ tạo nên sự bất công đối với những phở-bình-dân-chưa-có-đăng-ký-thương-hiệu, rốt cuộc chỉ có lợi hơn cho cổ phiếu của các đại gia kinh doanh một món ăn nào đó mà thôi. Trong khi đó, Hàn Quốc đã nổ tung trời đất với nghiên cứu khẳng định đầy thuyết phục là món kim chi của họ giúp chống lại cúm gia cầm nên H5N1 không thể tấn công dân Hàn, và các chương trình nấu ăn của họ cực kỳ chuyên nghiệp, đầy ắp thông tin dinh dưỡng, và hấp dẫn hơn Yan Can Cook cả vạn lần, vậy mà họ có thèm làm cái chuyện nặn óc đặt một slogan “Nhà Bếp Của Thế Giới” như mấy anh Thái Lan đâu. Với một kế hoạch chiếm lĩnh vị trí “Ngôi Trường Của Thế Giới”, chúng ta giúp hạn chế “chảy máu ngoại tệ” khi mô hình du học tại chỗ vừa giúp sinh viên-học sinh Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí, vừa không bỏ lỡ cơ hội việc làm cũng như luôn theo kịp những đổi mới của nước nhà để hòa mình nhanh chóng ngay khi tốt nghiệp; việc đào tạo nhân tài, hệ thống đại học và cao học nước nhà có cơ hội cọ xát thực tiễn phát triển mạnh mà không phải tốn kém chi phí lặn lội ra nước ngoài “học hỏi”; lực lượng lao động đẳng cấp cao cung ứng kịp cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân thu ngắn thời gian đưa Việt Nam lên hàng cường quốc; ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch được “ăn theo” khi gia đình và người quen của du học sinh sang Việt Nam thăm nom hoặc du lịch nhờ cách “marketing truyền khẩu” của du học sinh, giúp hình thức kinh doanh du lịch–lữ hành–khách sạn–nhà nghĩ phát triển; và cuối cùng ngay cả những người dân nghèo buôn gánh bán bưng cũng có thể tạo ra nhiều Phạm Công cho xã hội, khiến câu chuyện Phạm Công-Cúc Hoa không mãi là cổ tích, vì rằng cảnh tượng đẹp nhất tôi đã nhìn thấy trên đường Nguyễn Huệ một buổi chiều năm 2006 không phải là Chợ Hoa xô bồ tốn kém vô bổ, mà là một người đàn bà đứng tuổi, tươi vui rạng rỡ ngồi bên gánh hủ tíu mì rong bà đặt xuống gần lề đường trước khách sạn Kim Đô, phe phẩy chiếc nón lá, vui vẻ chờ một chàng da trắng cao gầy ngồi xổm trên vệ đường húp xì xà xì xụp, lóng cóng dùng đũa vớt mấy cọng mì váng mỡ lềnh bềnh trong chiếc tô mẻ. Thật tuyệt diệu nếu đó là một du học sinh, và sẽ tuyệt vời hơn khi hình ảnh như vậy rồi sẽ được bắt gặp như chuyện thường ngày ở huyện tại Việt Nam.

Và tại sao không nghĩ đến một tương lai không xa, khi Ngôi Trường Của Thế Giới đào tạo ra quá nhiều nhân tài đa chủng tộc, những người đã ở lại Việt Nam làm việc sau khi tốt nghiệp, cùng nhân tài Đất Việt giúp Việt Nam trở thành Chất Xám Của Thế Giới đoạt luôn vị trí Văn Phòng Của Thế Giới từ tay Ấn Độ?

*** BẢN TIẾNG ANH – ENGLISH VERSION ***

APROPOS OF A NATIONAL BRANDING FOR VIETNAM

National Branding: Vietnam, the Campus of the world

(posted at 17:42 on 06 August 2008 at  http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world)

Hoang  Huu Phuoc, MIB

PACE has set an exploit in deed!” said a foreign businessman, when we sipped some coffee during one of the tea-breaks at the International Conference on Marketing “New Marketing for New Age” organized on 22 August 2007 at the Sheraton Hotel, Hochiminh City, with Philip Kotler, the founder of modern marketing, as the special speaker. Yes, it is really fantastic PACE could bring to Vietnam one of the four greatest management gurus of all time (i.e. Philip Kotler, Jack Welch, Bill Gates, and Peter Drucker), attracting even many CEOs who flew to Hochiminh City from various countries to be present in the auditorium flocked by a 700-strong army of participants failing the air-conditioning facility of the five-star hotel, and to attentively listen to every word uttered leisurely and clearly by the great personage, the very words that dominated the mass media of Vietnam for days thereafter, particularly on the issues of “national branding” and “the kitchen of the world.”

There should be a slight clarification here that Philip Kotler did not propose Vietnam be a kitchen of the world with a literal meaning relating to gourmets; instead, he simply implied that the world has not known much about Vietnam and Vietnam has not positioned itself in whatsoever field of its utmost strength for a possible marketing campaign for a national branding internationally. With a witty smile he added that the position of a Kitchen of the World could also be considered. This example embodies within itself a riddle to be seriously decoded rather than just a straightforward sticking of a pointblank note of such dishes like “pho” or “banh xeo” or the like; i.e. whether Vietnam has had any “unique thing” to offer to serve the world – not whether Vietnam having any “delicious dish” to invite the world to come to eat or taste. Ironically, there even arises some idea that due to the fact that Philip Kotler is of so great a profile that he fails to be aware of what Thailand has been doing to already acquire the title of The Kitchen of the World (Kim Hanh, 2007). This sounds another misleading reference. A national branding can hardly be attained as a matter of course by a concerned country without achieving any convincing outcome to the world. Everest gets the title of “The Roof of the World” simply because it is the highest acknowledged and certified upon the scientific measurement conducted academically in comparison with the balance peaks of the whole world. As a market-country of a huge population of cheap labour, China welcomes foreign investors who flock to her to set up manufacturing units for products to export worldwide, thus making the country labeled The Factory of the World. Things are similar to India. After some decades successfully attracting foreign manufacturers to come to meet India’s strategy of import substitution but yet attaining the fame of the Factory of the World, India incurred so costly a price when its environment was so seriously devastated, making situations the worst with the leaking of 27 metric tons of the deathly gas of methyl isocyanine from the Union Carbide Plant of the American company Dow Chemical in Bhopal in end 1984, tolling the death of 20,000 inhabitants; 120,000 still suffering from ailments of cancer, brain-damage and birth-defect problems; half a million people still exposed to threats of diseases; and the site not cleaned up for ever (www.bhopal.com). However, a new opportunity comes when this country of numerous talents provides the backup services to corporate customers worldwide, thus becoming the “Office of the World”. Meanwhile, Australia though not a populated country is having an excellent health services known for their capability in successful treatment of critical diseases; however, it has not been labeled “The Clinic of the World” due to the fact that its services have not been aggressively provided towards beyond its borders. Thailand manages its so-called “Kitchen of the World” campaign just to secondarily support the further promotion to its already developed tourist industry, attracting more tourists to visit Thailand to enjoy its dishes which have been already known by millions of tourists during the past decades, i.e. those dishes are not secret treasures of the nation. In order to get the title The Kitchen of the World, a country contestant need somewhat be a general catering corporation, ensuring to meet the gourmet requirements, tastes, and orders of customers worldwide, whereas the food provided must be from ingredients from customers’ countries or equal to qualities of such original ingredients; furthermore, in order to materialize this practically impossible and imaginary project, the country contestant must set up a huge system of procurement, importing, storage, preserving, hygienic conditioning, and DHL-like distribution networks. This is never like the simple work of introduction of Pho or Banh Xeo on site in Vietnam; and even if the Vietnamese Pho were worldwide acclaimed as the best dish, Vietnam then would get the label of The Country of Pho only. A fact is that many foreigners working for years in Vietnam are still reluctant to take Vietnamese dishes, regardless of whether a majority of the Vietnamese people consider their Pho the best. It is therefore assumed that when referring to the so-called the Kitchen of the World, Philip Kotler profoundly implied that even the literal meaning of the phrase could hardly be properly understood. Corporate Kitchens are where food is prepared according to the orders of customers and prepared food is brought out to serve customers. Corporate Kitchens are not where food is prepared according to the fancies of chefs then customers flock into to eat prepared food. Figuratively, unique products of national branding are for export purposes, whilst food of household is offered free to guests. And as the national branding establishment requires thorough understanding of rules, processes, and progresses; a strongly organized enforced mechanism; and a long-term general planning, I wish to propose the following target title for Vietnam: The Campus of the World with details are as follows.

Totally different from gourmet requirement which basically depends on individual customer and not on the food particulars of billions of dishes, the needs for education and training have the focus on a limited and seemingly uniformed list of available fixed goods; e.g. upon graduated from universities, most of people wish to get an MBA (which is losing its priority to the MIB) and the points of concerns are on where to apply affordably and conveniently, away from unnecessary torture at visa application interview process, and well within among friendly environment of much more competitive offerings tangibly and intangibly to the students. Vietnam is the very country of so much affordable convenience and preferential competitiveness to overseas students as per the following analysis, actually really factually practically suitable for an advertisement campaign for this country branding at an absolutely safe level without involving into any dispute or court case due to excessive residue of fatal insecticides or antibiotics or morphine used in making of noodle for “Pho”, or the like, which all so easily damage the country image, prestige, and pride.

Saying Vietnam is the safest haven for business operation is a fantastic emphasis on its high level of security politically, economically, and naturally favourably. Overseas students will find Vietnam an ideal place for admission to universities and colleges of the USA or other countries who operate in Vietnam, without any fear of school massacre shooting, racial discrimination, political chaos, riots, messy demonstration protests, or natural disasters, etc., where their parents and families would release themselves of any anxiety when investing in the schooling of their children in Vietnam. The unique and exclusive pluses to the studying in Vietnam of overseas students and to the teaching in Vietnam of foreign teachers include the traditional environment of desires of learning of Vietnamese people, total respect paid to teachers by students, their families, and the whole community, making positively interesting impacts on overseas students in building a constructive profound personality which prove the cultural factors play an important role in the growth rates of the economy (Kotler, Jatusripitak, & Maesincee 1997, 149). In a speech delivered by Professor Werner Soontiens of Curtin University of Technology of Australia at the seminar on globalization and business potentiality between Australia and Vietnam organized just two days after the Philip Kotler’s international conference, an interesting note was given about a unique advantage of Vietnam to the world that the people of this war-torn country undergoing the torture from invaders from China then France then Japan then the USA with its allies just to experience more the diversifying prototypes of “enemies” to understand them thoroughly, and not for an eventual revenge or a terrible xenophobia . This is why business people from even the countries of past problems with Vietnam flock to the country without any fear of falling victims to vengeance.

To make the country further qualified for the national brand name of the Campus of the World, the government can improve the licensing procedures for campus projects, provide preferential adjustment on profit transfer back home, land use, and even policies to provide job opportunities to foreign students upon graduation. And why it is not possible if together with the local talents, the foreign students who work in Vietnam after graduation will further contribute to the development of the economy of the country, even making it gain the other national branding of The Gray Matter of the World in the long run?

Hoang Huu Phuoc, MIB

References:

Kim Hạnh. n.d. Người Thái Đã Đi Trước. http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

Kotler, P., S. Jatusripitak, & S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

What Happened in Bhopal. http://www.bhopal.org/whathappened.html#_ftn1#_ftn1 (accessed August 24, 2007)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đừng Buông Xuôi, Bạn Hỡi

Hoàng Hữu Phước,MIB

Trong 15 năm (từ 1981-1996) làm giảng viên Anh Ngữ tại trường Cao Đẳng Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh (chuyên trách các bộ môn Btiytish & American Literature, British Civilization, English Lexicology, English Composition, Translation & Interpretation và English Grammar tức các bộ môn Văn Học Anh-Mỹ, Văn Minh Anh, Từ Vựng Học Ngôn Ngữ Anh, Luận Văn Anh, Luyện Dịch & Thông Phiên Dịch, và Văn Phạm Ngôn Ngữ Anh), và Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội (chuyên trách các bộ môn Business English, Business Contract, và Business Interpretation tức các môn Anh Ngữ Thương Mại, Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương, và Biên-Phiên Dịch Thương Mại sử dụng toàn những giáo trình bằng tiếng Anh do tôi tự biên soạn), cũng như tại Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan Hoa Kỳ (giáo trình của riêng Michigan) và các trung tâm ngoại ngữ khác của Hội Nghiên Cứu & Dịch Thuật và Sở Giáo Dục Tp Hồ Chí Minh (giáo trình của riêng các trung tâm này), tôi có sở thích sáng tác thơ ca Tiếng Anh và viết tiểu luận Tiếng Anh. Tôi hay đọc thơ cho sinh viên nghe; khuyến khích họ làm thơ và viết văn rồi giúp họ chỉnh sửa, hiệu đính; truyền cảm hứng cho họ bằng cách mỗi câu thí dụ dùng một từ cho sẵn trong phần Reading Comprehension tôi đều sáng tác kiểu ứng khẩu impromptu viết ngay lên bảng không phải một câu mà là một bài sonnet thập tứ hàng thi hoặc chí ít cũng là một khổ thơ stanza bốn dòng trong đó có sự xuất hiện của cái từ cho sẵn ấy. “Ứng khẩu” vì ở các lớp khác nhau khi dạy cùng một bài tôi đều cho ra những thí dụ hoàn toàn khác nhau dù tất cả đều là bài thơ hoặc khổ thơ [2]. Ngoài ra, mỗi khi có được những bài thơ hay Tiếng Việt, tôi chuyển dịch sang Tiếng Anh [3];  hoặc khi nhận được bài thơ hay Tiếng Anh, tôi chuyển dịch sang Tiếng Việt; hoặc lúc nhận được bài viết rất hay bằng Tiếng Anh nhưng rất kém về ngôn ngữ Anh [4], tôi hoàn thiện, rồi cho tất cả vào sưu tập cá nhân, tặng một số học trò (gồm vài ngàn người) và tặng tất cả thân hữu gần xa (gồm một thân hữu nam cùng ba thân hữu nữ mà một trong số nữ này sau trở thành vợ của tôi[5]).

Khi nhận được bài thơ Don’t Quit của tác giả khuyết danh do Cô Sandy Lu, một người Canada-gốc-Việt-gốc-Hoa gởi tặng, tôi đã dịch ra tiếng Việt rồi đăng năm 2003 trên HR Online của công ty Canada nơi tôi làm Giám Đốc Nhân Sự & Giám Đốc Tuyển Dụng, sau đó tải lên trang Emotino.com của cộng đồng doanh nhân Việt Nam năm 2008[1]. Nay nhân những ngày đầu năm 2015, tôi xin lập lại nội dung hai bản tiếng Anh và tiếng Việt đã đăng, làm quà tặng bạn đọc, nhất là những bạn học sinh – sinh viên và những người quan tâm đến tiếng Anh:

1)  Nguyên bản Tiếng Anh của tác giả khuyết danh:

DON’T QUIT

When things go wrong as they sometimes will,

When the road you’re trudging seems all uphill,

When the funds are low and the debts are high,

And you want to smile, but you have to sigh,

When care is pressing you down a bit,

Rest if you must, but don’t you quit.

Life is queer with its twists and turns,

As every one of us sometimes learns,

And many a fellow turns about,

When he might have won had he stuck it out.

Don’t give up though the pace seem slow,

You might succeed with another blow.

Often the goal is nearer than,

It seems to a faint and faltering man,

Often the struggler has given up

When he might have captured the victor’s cup,

And, he learned too late when the night came down,

How close he was to the golden crown.

Success is failure turned inside out,

The silver tint of the clouds of doubt.

And, you never can tell how close you are,

It may be near when it seems afar,

So stick to the fight when you’re the hardest hit,

It’s when things seems worst that you must not quit

2)  Bản dịch Tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước, 2003:

ĐỪNG BUÔNG XUÔI BẠN HỠI

Lúc trở ngại – phải có thôi, vì khi vầy khi khác,

Đường đời kia có lắm đoạn chông gai,

Thu thì heo hẻo mà nợ lại đầy đầy,

Cười mếu xệch, nghe trào dâng tiếng nấc,

Còn vai gầy hằn gánh nặng âu lo,

Thì bạn ơi, cứ ngừng tay thư giãn,

Nghỉ khoẻ thôi, chứ đừng có buông xuôi

Vì bạn hỡi cuộc đời luôn vậy đấy

Với những khúc quanh thật gắt, những ngõ rẽ thật kỳ.

Khiến bao người phải quay lại rời xa

Mà không biết thành công ắt đến sau lần quỵ ngã

Nếu như mình đã bền chí kiên tâm.

Đừng bỏ dở dù thời cơ chậm đến

Cố nữa lên, vận hội sẽ vào tay.

Không bền chí, không thể nào chạm đích !

Chào thua ư, sau nỗ lực đấu tranh,

Nỡ vứt bỏ cúp vàng người chiến thắng

Rồi ưu sầu lúc đêm khuya thanh vắng

Tiếc vinh quang đã vuột khỏi tầm tay?

Bạn thân mến, thành công thoát thân từ thất bại

Như ánh bạc hừng lên từ giữa đám hỗn vân.

Bạn có thể chẳng bao giờ biết được

Cái vời xa kia lại có thể rất cận kề !

Hãy tiếp tục tiến lên khi va vào gian khó,

Không được buông xuôi khi ngỡ bước đường cùng!

****

Kính chúc các bạn mọi điều tốt đẹp và may mắn. Happy New Year!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-8-2008. Don’t Quit, My Friends! Đừng Buông Xuôi, Bạn Hỡi. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=16930

[2] Hoàng Hữu Phước. 22-3-2012. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/toi-va-co-tr%c6%b0%c6%a1ng-tuy%e1%ba%bft-anh/

[3] Hoàng Hữu Phước. 03-3-2012. Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/11/10/toi-va-nu-si-tue-mai/

[4] Hoàng Hữu Phước. 02-01-2015. Thông Giáng Sinh và Formal English. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/02/thong-giang-sinh-va-formal-english/

[5] Hoàng Hữu Phước. 12-12-2014. Tôi Và Giải Thưởng Thơ Ca Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/

Cần Loại Bỏ Việc Phát Bài Ca Happy New Year của Abba Dịp Tết

Bài Số 2

Hoàng Hữu Phước, MIB Năm 2004 sau khi tôi đăng trên Yahoo!3600 bài Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year Của Abba, rất nhiều người comment rằng họ đồng tình với các phân tích của tôi về ý nghĩa không sao phù hợp của ca từ đối với văn hóa người Việt cổ và người Việt tân, các nhà đài đã không còn sử dụng bài hát này vào các dịp Tết Tây và Tết Ta. Vài năm sau, tức là vào năm 2009 tôi đăng lại bài này trên Emotino.com vì thấy các nhà đài lại tái sử dụng bài hát vào dịp Tết, và các nhà đài lại ngưng không phát bài hát ấy. Gần đây nhất là vào đầu năm 2013 tôi đăng lại trên blog này[1] do thấy dường như những chức sắc đã từng dọc bài của tôi đã nghỉ hưu, còn lớp cán bộ văn hóa thông tin trẻ chưa biết gì về nội dung khẩn thiết ấy của tôi. Nhưng cách nay vài hôm, một nhà đài đã dành cho bài Happy New Year của Abba những ngợi ca mà bản thân bài hát chưa bao giờ nhận được trên toàn thế giới như: sâu sắc, tuyệt đẹp, được yêu chuộng qua nhiều thập kỷ tại các quốc gia trên toàn thế giới, khiến tôi viết bài số 2 này thay vì cứ mãi post đi post lại bài số 1. Trước tiên, xin mời các bạn xem nội dung bài hát Happy New Year của Abba (xin lưu ý: bài có những thành ngữ mà sự dịch thuật rất cần cẩn trọng, thí dụ “feet of clay” không phải là “chân đất sét” mà là “những tì vết, những thấp kém”; còn “Happy New Year” tuy có nghĩa của thành ngữ trọn khối là “Chúc Mừng Năm Mới” nhưng trong tình huống của bài ca lại là cách chơi chữ đay nghiến mỉa mai của nhóm từ đơn lẻ thành “lại thêm một năm vui đấy hạnh phúc đấy”, v.v.; đồng thời xin nói rõ tôi chỉ giải nghĩa lời ca tiếng Anh chứ không dịch thuật vì tôi chỉ dịch nếu dó là kiệt tác [2])

 Happy New Year (1)Happy New Year (2)Happy New Year (3)

Và khi các bạn xem minh họa bởi vieo clip minh họa bài hát này

 Happy New Year (4)Happy New Year (5)

các bạn sẽ thấy rõ ràng bài ca Happy New Year hoàn toàn không để hân hoan đón chào năm mới mà là khúc hát tâm tư buồn chán, nhất là khi nữ ca sĩ cất tiếng hát cụm từ “Happy New Year” với vẻ mặt chán chường, còn clip cho thấy cảnh nàng ngồi trên ghế với xung quanh vương vãi tàn tích một cuộc ăn uống mà ai cũng hiểu không thể kéo dài vì ai cũng còn phải đến thăm hơn một nhà và phải thức sớm để đi làm việc ngay sáng hôm sau, còn người chồng hoặc người tình mặc bộ pyjama đứng nhìn phố phường bên dưới qua khung cửa sổ khi ánh sáng ban mai chưa chi đã rạng rồi, chẳng đoái hoài đến người đang thổn thức hát “Happy New Year”. Còn khi tra cứu tài liệu về âm nhạc, các bạn sẽ thấy bài Happy New Year của Abba chỉ được nhắc đến ở vài nước Châu Âu mà sự xếp hạng cao nhất của bài hát này từ năm 2000 đến 2014 ngay tại quê hương Thụy Điển của Abba là 27-22-4-5-9-42-51-57-54, tại Đan Mạch là 14-16-15-26-38, v.v., nghĩa là chỉ tại bốn hay năm nước Châu Âu bài hát mới được xếp hạng từ 4 (ở Thụy Điển) đến 75 (tại Đức) trong “Top100”, và chưa bao giờ Happy New Year của Abba ở 3 vị trí từ 1 đến 3, do đó không thể phù hợp với kiểu tán dương kiểu thuần Việt: “nổi tiếng nhất và được hát nhiều nhất thế giới”. Tất nhiên, tính độc lập cũng là điều quan trọng, nghĩa là dù bài Happy New Year là thứ vô danh tiểu tốt đối với đại đa số các quốc gia trên toàn thế giới thì điều đó cũng không phải là ta cũng hùa theo. Song, ai ở Việt Nam là người có thẩm quyền tuyên bố đó là bài hát dược ưa thích nhất Việt Nam để từ năm sau trên thế giới sẽ liệt kê Việt Nam vào danh sách ít ỏi những nước có xếp hạng bài hát ấy? Và sự lựa chọn có đã tính đến sự kiêng kỵ dị đoan mà rất nhiều thính giả của đài phát thanh truyền hình quan tâm đến hay không? Ngoài ra, so với thông tin đăng trong bài số 1 thì bài số 2 này thu thập được các cập nhật mới hơn như sau về danh sách của những bài hát gọi là nổi tiếng trên thế giới và trở thành bài hát tiêu biểu không những mỗi độ xuân về mà còn là nổi bật trong năm 2014-2015:

 Happy New Year (6)

Đặc biệt cần lưu ý rằng dánh sách của mỗi năm dù có thay đổi nhưng luôn có hai điều không bao giờ thay đổi là (a) bản dân ca Auld Lang Syne luôn chiếm ngôi quán quân đầu bảng , và (b) chưa bao giờ có tên bài Happy New Year của Abba trong danh sách thế giới – không phải dánh sách của chỉ 3 hay 4 nước Bắc Âu –  suốt mấy thập niên qua. Tất nhiên, trong 18 bài trên có những bài có ca từ không phù hợp với sự kiêng kỵ dị đoan của người Việt, song chúng đều thuộc danh mục những bài đón mừng năm mới được ưa chuộng nhất vì ngay cả khi có ca từ buồn thì cũng không yếm thế mà mang lại hy vọng ngời rạng cho biết bao người cùng tâm trạng hay cảnh ngộ khiến bài hát trở thành tích cực. Đặc biệt bài The Millennium Prayer của Sir Cliff Richard rất thú vị vì dựa trên nền nhạc của nguyên bản bài dân ca Auld Lang Syne mà áp nội dung Kinh Lạy Cha của Thiên Chúa Giáo, vì thế nếu được các ca đoàn ở Nhà Thờ Việt Nam lấy đó làm bài hát cho Chúc Mừng Năm Mới sẽ là điều tuyệt diệu không những đối với người Việt mà còn đối với du khách nước ngoài có mặt tại Việt Nam mùa Giáng Sinh và Tết Tây lẫn Tết Ta. Nhiều bài hát đặc biệt – có cả các bài trong danh sách trên – cũng thường được chọn làm nền cho các slideshow của các trang web dùng cung cấp cho khách hàng dạng ecard hay của các cá nhân dùng chế tác tặng thân hữu bạn bè dịp Mừng Giao Thừa và Mừng Năm Mới như:

Happy New Year (7)

Rất có thể không phải sự xơ cứng của các nhà đài truyền thông không muốn đầu tư thời gian kiếm tìm sự thật về giá trị thích hợp cho người dân Việt và lựa chọn cẩn trọng từ rừng bài hát du dương sôi động tiếng nước ngoài phù hợp với không khí Tết Việt Nam; Rất có thể không phải sự bất khả thực hiện trong tổ chức cuộc thi như đề xuất của Bài Viết Số 1[1] nên cứ bài Happy New Year mà phát rồi tự tiện ngợi ca nó để biện minh cho sự lựa chọn áp đặt của nhà đài; Mà chính là nhiều bài hát mừng năm mới vẫn còn ở dạng phải trả tiền bản quyền rất phức tạp và tốn kém nên nhà đài cứ bài Happy New Year mà phát miễn phí vô tư. Nếu đây là sự thật thì chỉ biết mong sao có “ca sĩ đại gia” bỏ tiền ra mua bản quyền để hát một hoặc những bài đặc biệt trong danh mục cũng như quyền đặt lời ca tiếng Việt, để người Việt không bị ép phải nghe hoài bài Happy New Year của Abba hoặc sợ hết hồn phải bấm remote control chuyển ngay kênh mỗi khi nghe trỗi lên tiếng nhạc não nuột tằng tắng tằng sợ xui xéo cả năm. [Ghi chú: Nhân viên của tôi đã được yêu cầu chuyển ngay bài viết này cho các vị lãnh đạo Nhà nước trong lĩnh vực truyền thông và văn hóa giáo dục, thay vì theo lối cũ hơn chục năm qua cứ đăng trên blog rồi ai muốn đọc thì đọc khiến có sự tái xuất hiện đi tái xuất hiện lại của bài Happy New Year phản văn hóa Việt của Abba cũng như tái lập đi lập lại của Bài Viết Thứ Nhất của Lăng Tần vào dịp Tết thiêng liêng của dân tộc Việt Nam].  Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Tham khảo: [1] Hoàng Hữu Phước. 29-12-2013. Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Happy New Year Của Abba – Bài Viết Thứ Nhất. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/25/nen-co-lua-chon-khac-thay-the-bai-ca-happy-new-year-cua-abba-2/ [2] Hoàng Hữu Phước. 03-3-2012. Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/11/10/toi-va-nu-si-tue-mai/

Thông Giáng Sinh và Formal English

Hoang Huu Phuoc, MIB

 ScreenShot496

Là doanh nhân, tôi hiểu thế nào là tung sản phẩm ra vào dúng thời điểm. Song, người ta thường mặc định “đúng thời điểm nghĩa là vào đúng trước dịp này dịp nọ lễ đó lễ kia”. Tôi cho rằng có nhiều nội hàm cho cụm từ nhỏ “đúng thời điểm”, vì ngoài  nghĩa theo thói thường nêu trên còn có nhiều nghĩa khác như (a) vào lúc ít có sự cạnh tranh nhất, (b) vào lúc giá cả tốt nhất hay không thể tệ hơn, hoặc (c) chưa ai có sản phẩm tương tự, v.v. Việc tôi đăng nội dung bài viết này vào thời điểm sau Noel 2014 và sau Tết 2015 là đáp ứng yêu cầu “vào lúc ít có sự cạnh tranh nhất” do vào dịp Noel thì chẳng ai quan tâm đọc bài về “Giáng Sinh” vốn đã rất ngập tràn, còn dịp Tết thì mọi người lo các chuyện đại sự khác của gia đình.

Bài dưới đây tôi đã post trên Emotino.com ngày 23-12-2010, nay xin post lại để phục vụ những bạn đọc có quan tâm đến tiếng Anh.

Thông Giáng Sinh và Formal English

Quà Tặng Dành Cho Người Yêu Tiếng Anh Cao Cấp

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mỗi khi đến mùa Giáng Sinh, rất nhiều người gởi nhau những cánh thiệp thật đẹp, thật đa dạng, mừng đón Noel, đa số bằng tiếng Anh, bất kể người gởi và người nhận có sử dụng tiếng Anh trong đời sống thường nhật hay không, và có tôn thờ Đức Chúa hay không, đơn giản vì đó là ngày lễ của công chúng chứ không của riêng tôn giáo. Ngày lễ ấy tuyệt diệu vì vào thời điểm tại hầu hết các nơi trên thế giới tiết trời đẹp hơn và Năm Mới đã rất cận kề, khiến ngày Noel thành ngày vui chào đón Tân Niên.

Khi thời đại internet đến, sự tất bật của sinh nhai đã được giải cứu khi người ta thay vì lang thang từng góc phố con đường tìm chọn mua thiệp rồi len lỏi luồn lách giữa giao thông chen chúc để tìm đến một bưu cục tốn tiền gởi xe vào mua tem dán gửi đi, đó là chưa kể phải canh thời gian nhiều ngày trước đó với mong muốn thiệp mừng đến được tay người nhận ở đâu đó trên thế giới bao la hoang dã này kịp lúc, nay lại đơn giản ngồi vào bàn gởi email những giòng chữ do mình sáng tác, những thiệp điện tử do mình sưu tầm, hoặc những thông điệp ai đó đã chuyển đến mình và mình đơn giản chuyển tiếp đi cho hàng trăm người bạn dân cư mạng toàn cầu khác.

Văn ôn võ luyện là việc cực kỳ bình thường của những con người nhận thức đầy đủ được thế mạnh vô song và giá trị vượt bậc của văn và võ trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Tôi có thói quen sửa sai và hoàn thiện tất cả văn thơ của bất kỳ bậc kỳ tài nào của văn học Anh Mỹ, cũng như tất cả những “thiệp điện tử” eCard mà học trò và bạn hữu bốn phương gởi tặng trong những dịp lễ Noel tương tự. Bạn hữu và học trò tôi ở nước ngoài đã hình thành một thói quen tốt là ngoài việc chuyển đến tôi những “sứ điệp chống Cộng” (họ nhận từ đám người u mê để qua các bút chiến phân tích phản đòn của tôi họ hiểu biết thêm về thực tế Việt Nam, chứ họ không chịu xem báo tờ hay báo điện tử của … cộng sản), còn gởi tôi những thiệp mừng lễ mà họ cho là tuyệt hảo để xem tôi có biến cái tuyệt hảo đó của dân Anh Mỹ thành đồ chơi trẻ nít hay không, mà sau đây là ví dụ.

Từ một Cây Thông Noel Một Tầng tiếng Anh do Cô Lê Tâm Hạnh ở Ngân Hàng Deutsche Bank nhận được từ internet gởi tôi mùa Giáng Sinh 2000 có nội dung nguyên văn như sau mà tôi đã phân tích các yêu điểm ở phần ghi chú:

 Thong va Giang Sinh (6)Thong va Giang Sinh (1)

Ghi chú: “Cây thông” này của cư dân mạng nước ngoài viết bằng tiếng Anh, tạo nên với 227 từ trong 17 “câu” (17 “câu” vì có 17 đấu chấm, nhưng đích xác hơn phải gọi là 17 “nhóm chữ”) bao gồm 3 câu hoàn toàn đúng văn phạm và 14 “câu” hoàn toàn sai văn phạm (đích xác hơn phải gọi là 4 câu vỡ vụn và 10 nhóm từ bơ vơ lạc loài) cùng với 20 động từ chia. Ý tứ của các…”câu” bình thường, không có gì đặc sắc.

Và tôi đã viết lại như sau để có một thiệp Cây Thông Noel khác, với chỉ một câu tiếng Anh duy nhất (chỉ có một dấu chấm) hình thành một cây thông lớn hơn, với nội dung sâu sắc hơn và cấu trúc văn phạm tiếng Anh gắn kết thật chặt chẽ gởi tặng ngược lại cho cô Hạnh:

 Thong va Giang Sinh (3)Thong va Giang Sinh (2)

Ghi chú: “Cây Thông” Bốn Tầng này được tạo nên với 281 từ trong chỉ một câu duy nhất bằng tiếng Anh hoàn hảo, có vỏn vẹn 7 động từ chia và không có bất kỳ phần câu vỡ vụn hay nhóm từ lạc loài nào cả. Ý tứ của câu mang âm hưởng thơ, đầy tính tích cực.

Kính chúc các bạn và gia đình năm mới 2015 an vui, hạnh phúc, thành công, nhiều may mắn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Hoàng Hữu Phước. 23-12-2010. Thông Giáng Sinh và Formal English. http://www.emotino.com/bai-viet/18921/thong-giang-sinh-va-formal-english

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

Mở Hướng Kinh Doanh

(bài viết của Hoàng Hữu Phước trên Emotino ngày 23-12-2011)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi do xuất thân giảng dạy Anh Văn và có sở thích sáng tác thơ văn bằng tiềng Anh, tôi cùng vợ tôi thậm chí đã tự thiết kế thiệp cưới của chúng tôi năm 1987 trên nền trích đoạn một khổ stanza từ bài sonnet Epithalamium của tôi và một khổ stanza khác từ bài sonnet Amor Fantasia của vợ tôi như:

 HHP_VTL POST