Category Archives: Triết Học

Nhân Quả Nhà Phật

Bài Viết 2 Chứng Minh Có Tự Do Ngôn Luận Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2019

A) Lời Dẫn

Nhân-Quả là một định luật khoa học, một quy luật bất biến.

Do đặc tính thuần khoa học này mà rất nhiều người trong giới trí thức uyên bác Âu Mỹ đánh giá cao triết thuyết Phật Giáo. Đơn giản vì ngoài Phật Giáo ra, không bất kỳ tôn giáo chính thức nào chính thức nói về “Luật” Nhân-Quả.

Tuy nhiên, thay vì hiểu sâu sắc Nhân-Quả như một hệ quả tất yếu do tác nhân tạo nên xung lực đối với hệ quả/hậu quả/kết quả sinh ra dưới tác động từ xung lực đó, đa số các nhà tu hành Phật Giáo ở Việt Nam lại rao truyền co cụm rằng “gieo nhân nào, gặt quả đấy” tức không trên biện luận sâu sắc khoa học tự nhiên mà trên phương pháp quy chụp áp đặt định hướng dẫn dắt dễ hiểu giữa những nhà nông với những nông dân rằng thu hoạch vụ mùa vào trong tay luôn là trọng tâm của đời sống, khiến việc nên làm lành là để gặt hái được phước đức thưởng ban còn nếu làm ác tất nhận về những báo ứng phạt trừng. Họ không màng đến sự thật là ngay cả cái động lực nhân trộn hai ly nước lọc trong lành trong sạch trong suốt vào nhau cũng gây nên cái phản ứng quả của hoặc làm ly có nhiều nước hơn, hoặc làm ly bị tràn nước, hoặc làm số nước bị tràn ấy ào xuống ổ cắm điện gây ra thảm họa kinh hoàng, v.v.

Từ đó, oái oăm thay, cái triết học Phật Giáo tối thượng cao siêu chinh phục được các nhà trí thức Mỹ Âu lại bị hiểu giản đơn sai lệch nơi mọi người tu hành tu tâm theo Phật pháp. Và khi thất bại không giải thích được vì sao gieo nhân ác vẫn được quả lành, hoặc vì sao gieo nhân ngọt phúc vẫn nhận quả đắng cay, người ta lập tức quỷ biện rằng nhờ ông cha tiên tổ muôn đời phúc đức nên cháu con cứ tha hồ tung tăng làm ác mà vẫn không hề hấn gì do chưa xài hết phúc, hoặc tại tiên tổ cha ông vạn kiếp ăn mặn nên con cháu đạo hạnh mười đời vẫn còn khát nước khô cổ đến thiên thu.

Do vậy, cái thấp đẳng trong mặc định sai về quy luật Nhân-Quả đã tự dưng hình thành trong tư duy người Phật Tử 4 ý niệm hoàn toàn sai rằng:

(a) Bất công phải luôn tồn tại bởi vì bất công mới là …lẽ công bằng, do những tội lỗi đã phạm phải của tổ tiên hoặc của bản thân trong tiền kiếp dù bất công thì rành rành trước mặt mọi người còn tội tổ tiên hay tội tổ tông gì gì đấy thì toàn vô bằng vô chứng vô duyên; vì vậy mà

(b) Hoặc nên thụ động cam chịu mọi bất công hay tai họa do người đời mang đến để mình trả cho hết nợ tiền kiếp của bản thân, hoặc nên tích cực cúng kiến “thỉnh vong giải oan gia trái chủ” mê muội cứ như thể sự liên lạc với cõi âm của các chùa với các sư “tu hạnh thần thông thần lực lan tỏa khắp mười phương nhiều tháng trước Tháng Cô Hồn là chuyện đương nhiên có thật, khiến dìm Phật Giáo xuống ngang hàng với hạng mê tín dị đoan đầy xấu hổ xấu xa xấu xí; để rồi

(c) Hoặc phó mặc tức khuyến khích tiêu cực phát bùng từ gia cư xã hội đến nơi chốn tu hành, hoặc ngang nhiên phấn khởi hồ hởi hân hoan vầy đoàn sướng vui phạm pháp tham nhũng cưỡng hôn cưỡng dâm thả giàn khi thấy gia phả ghi chép bao đời công đức của tổ tiên xây bao chùa lớn cúng bao Phật vàng khắp cõi ta bà; mà chung cuộc thì

(d) Tạo nên cái gọi là tự kỷ – không phải bịnh lý “tự kỷ” Autism – tức là một trong ba trạng thái mà Hoàng Hữu Phước đặt tên khoa học là PD-Egocentrism tiếng Việt tạm dịch là “hội chứng rối loạn nhân cách tự trách kỷ” gồm (i) trách mình đã không có tiền kiếp tốt cho mình hưởng mọi phước kiếp này, (ii) trách mình đã không có tổ tiên tốt cho mình hưởng mọi phước kiếp này, (iii) trách mình đã hoặc đang không có cha mẹ tốt cho mình hưởng mọi phước kiếp này, và (iv) trách mình xui xẻo gặp phải Ông Trời bất công đọa đày vào nơi chốn gia tộc không có tổ tiên cha mẹ nào tốt cho mình hưởng mọi phước kiếp này; dẫn đến có một trong bốn “quả” gồm bi quan yếm thế “tu là cõi phúc/tình là dây oan” bỏ hết mọi sự, “trách mình” nhưng thật ra là đỗ lỗi hết cho mọi người, tức giận nổi loạn “đời đục cả nên ta cùng khuấy bạo thêm cho cùng đục chơi” để “trả thù đời”, hoặc trở nên tàn ác chăm chỉ tìm hại bất kỳ ai dám sống tốt lành tốt đẹp hơn mình.

Bài viết này, do đó tập trung về những gì Hoàng Hữu Phước nhận định và nhận diện được từ các biện giải hòan toàn sai của “Nhà Phật” tức những người tu Phật ở Việt Nam mà tất nhiên trong đó không hề có bất kỳ Đức Phật nào.

B) Năm Loại Nhân Quả Nhà Phật

Làm gì có việc mấy thằng tham nhũng an hưởng cảnh giàu sang nhờ hạ cánh an toàn (như chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh không động gì đến được do hết thời hạn truy cứu trách nhiệm) hoặc đáp xuống sân bay nước khác an toàn mua quốc tịch luôn (mà Việt Nam không đời nào tóm cổ lôi về chịu tội được) là do bố mẹ tiên sư của chúng gieo nhân nhân từ đạo đức muôn ức kiếp thành Phật ráo trọi nên chúng mới được hưởng thành quả cực kỳ mỹ mãn tha hồ giết chóc dâm dục nhũng tham an toàn đến dường ấy! Phải hiểu thế này: khi tham nhũng là “nhân” thì “quả” có thể là 1 trong ít nhất 3 loại “trái” gồm trái ngọt ngào (giàu sang an toàn vĩnh viễn vì toàn bộ chính phủ đều tham nhũng như ở một bộ phận không lớn các nước ở Nam Âu hay Nam Mỹ), hoặc trái bầm giập (giàu sang lận đận do bị phát hiện phải ôm của cải đào tẩu ra nước ngoài), hoặc trái thối giòi (giàu sang oái oăm do nhằm thời đại phát sinh đại cuộc “nhóm lò” phải chịu trừng phạt capital tức capital punishment tức loại khỏi đời sống xã hội), hoặc chín-lần-chín-tám-mốt loại trái khác mà Hoàng Hữu Phước sẽ nêu tiếp nếu quởn lúc nghỉ hưu năm mười-lần-mười-trăm tuổi. Không tham nhũng thì làm sao nếm được một trong ba thứ “quả” chín chính này.

Làm gì có chuyện cha mẹ ông bà tổ tiên của Thị Kính gieo “nhân” nhân từ đạo đức muôn ức kiếp thế mà lại dẫn đến cái “quả” quái gở khi Thị Kính phải liên tục chịu hàm oan, phải bị xử tội hết vì làm con ác phụ đến làm thằng dâm sư khiến điếm nhục gia phong, miệng đời khinh bỉ, phải bị mang danh ô nhục bẩn nhơ cho đến khi thân thể phô bày ngọc khiết băng thanh lúc được tắm rửa liệm khâm! Phải hiểu thế này: chỉ có cái “nhân” là việc Thị Mầu thèm muốn Thị Kính và cái “quả” là tai họa Thị Kính phải gánh chịu từ Thị Mầu. Hoặc phải hiểu thế này: do cái “nhân” là việc “Trời” đòi hỏi nhất thiết phải có các thử thách nghiệt ngã nhất của mới dẫn đến được cái “quả” là Phật Giáo có Phật Bà Quan Âm.

Như vậy nội dung Nhân-Quả đã có vóc dáng một “khủng điểu” Quetzalcoatlus thuộc Kỷ Maastrichtian sải cánh rộng 10 mét, cao 6 mét, nặng hơn nửa chiếc xe ô-tô Renault Twizy, chứ hoàn toàn không phải là chú “chim Sẻ” Paserine thuộc Kỷ Gatesjobsian (Bill Gates + Steve Jobs) tí tẹo như nắm tay để có thể chui vào chiếc lồng tre ngữ nghĩa tí tẹo tèo teo treo dưới hiên mái nhà tranh dột nát.

Dưới đây là vài loại Nhân-Quả theo phân tích định dạng của Hoàng Hữu Phước khi lắng nghe các rao giảng của người đời.

1) Nhân Quả Đinh Đóng Cột (Abacus Type)

Đây là loại nhân-quả mang tính công thức toán học hai-cộng-hai-là-bốn mà bao đời nay người Việt – chỉ người Việt thôi – tin tưởng, rao giảng tôn giáo, mặc nhiên đồng loạt quy chụp thành cái công thức chính xác của nhân-quả, bất kể sự thật là luôn không phải như vậy. Sự quy chụp xằng bậy này được thể hiện rõ nhất với tuyên bố giảng đạo bá láp của một con mụ tu hành ở Chùa Ba Vàng khi nói về Cô Gái Giao  Gà, dù sự quy chụp lại đúng hoàn toàn ở góc độ khác, đó là do cái nhân tuyên bố bá láp của mụ mà dẫn đến cái quả tất yếu toán học bị Hoàng Hữu Phước mắng khinh miệt thị ngu đần cả đám ở chùa từ trên xuống dưới.

Nhân-Quả Abacus là loại Nhân-Quả khống chế tư duy trong tôn giáo kiểu “làm phước được phước” tức kiểu tất-phải-thế, luôn-là-thế, không-thể-sai-được.

2) Nhân Quả Lửng Lơ (Damocles Type)

Như đã từng kể trong một bài viết năm 2015, em gái út của tôi mở một công ty siêu đẳng (nhỏ nhất thế gian) với số vốn chỉ đúng 100 triệu đồng chẵn. Nó là đứa đã viết thư cho Thủ Tướng Đức Helmut Kohl khi còn là sinh viên Đức Ngữ (chắc tại nó tuổi Aries như anh của nó nên nó sính viết thư bằng ngoại ngữ cho các lãnh đạo chính trị hay tôn giáo nước ngoài để cự này phán nọ chọt kia), trở thành giảng viên Đức Ngữ Đại Học Khoa Học Xã Hội-Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh, bị ganh tài bức hại (y chang anh nó) phải bỏ nghề giáo ra làm lãnh đạo Hiệp Hội Thương Mại Đức-Việt, rồi làm sếp Marketing của Kingsmen trước khi làm việc ở nước ngoài và mở công ty kinh doanh tại Việt Nam cho chỉ một mặt hàng mỹ phẩm thiên nhiên của mỗi một nhà sản xuất nổi tiếng ở nước ngoài đó mà chính nó sử dụng trong nhiều năm nên thấy được chất lượng quả là tuyệt hảo mà sao giá lại rẻ đến thế kia quá lợi cho phụ nữ nước non nhà. Thế mà trong chuyến hàng nhỏ xíu gồm 10 thùng cho 10 chủng loại sản phẩm đầu tiên nhập khẩu chính thức về Việt Nam ấy, Hải Quan Sân Bay Tân Sơn Nhất “phát hiện” trên bao bì hộp giấy của 1 loại sản phẩm in đúng tên công ty sản xuất nhưng in địa chỉ nhà máy sản xuất thay vì là địa chỉ văn phòng công ty như trong chi tiết giấy phép của Cục Quản Lý Dược và như in trên tất cả 9 sản phẩm còn lại. Thế là Hải Quan mừng hơn vớ được vàng, vội đẩy sang bạn hữu thân thiết là Phòng Chống Buôn Lậu đang rất cần có việc làm mẫn cán để chứng minh bản thân không hề ngủ gục, và nơi này cũng với tinh thần trách nhiệm cao đã phát ngay văn bản giam toàn bộ lô hàng 10 loại, bắt đóng phạt 30 triệu đồng trong thời hạn mấy ngày. Em gái tôi đến bịnh viện nơi tôi đang nằm dưỡng bịnh suốt nhiều tháng để xin lời giảng dạy về luật pháp. Là nhà lập hiến và lập pháp duy nhất chuyên nghiệp ở Việt Nam, tôi bảo em tôi hãy đến Kho Bạc Nhà Nước nộp phạt ngay theo yêu cầu, rồi tiến hành làm đơn giải bày khiếu nại nội dung “buôn lậu”. Sau nhiều tháng giam hàng trong kho hiện đại nóng hầm hập hơn lò bánh mì khiến hư hỏng chất lượng mỹ phẩm, khi “phát hiện” tôi đang là “nghị sĩ Hoàng Hữu Phước”, các cán bộ mẫn cán Phòng Chống Buôn Lậu của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc trách em gái tôi “sao không nói sớm” và “sao nộp phạt chi vậy, vô tay Kho Bạc là bó tay, bây giờ đâu lấy lại được”, để rồi đền bù thiệt hại cho em gái tôi họ bảo sẽ tích cực can thiệp với bên kho hàng giảm bớt tiền lưu kho và giảm bớt tiền phạt lưu kho đối với số hàng đã hư hỏng nay được phép cho nhận. Đối với một mặt hàng in địa chỉ nơi sản xuất, họ bảo sẽ  “tái xuất” trả lại nhà sản xuất chứ không chụp mũ “buôn lậu”. Em tôi phải giải thích bằng tiếng Việt cho họ hiểu rằng Hải Quan gởi trả lại sẽ làm tốn tiền Hải Quan lắm vì nhà sản xuất nước ngoài sẽ không đời nào chịu nhận lại do chất lượng đã hỏng nên sẽ gởi trả lại Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh, và Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh lại sẽ phải gởi trả lại nhà sản xuất làm tốn thêm tiền Hải Quan, và cái vòng lẩn quẩn này kéo dài qua tận thiên niên kỷ sau cũng vẫn chưa dứt dù hàng hóa đã biến thành tinh do dày công tu luyện ngàn năm. Khi hiểu ra cái vấn đề đơn giản hơn cả hai-cộng-hai-là-bốn ấy, Hải Quan Tân Sơn Nhất và Phòng Chống Buôn Lậu tự đề nghị em tôi ký cho phép họ tiêu hủy cái thùng chứa 1 sản phẩm in sai địa chỉ đó và dĩ nhiên em tôi ký, hoàn toàn không biết rồi nó sẽ được hủy như thế nào. Còn 9 thùng của 9 loại sản phẩm đúng mọi chi tiết bao bì hiện đại nhưng ruột đã hư hỏng vì kho hiện đại của Hải Quan Sân Bay Thành Phố Hồ Chí Minh giam nửa năm thì em tôi tặng hết cho tôi làm tôi rửa chân mỗi ngày bằng sữa mật ong Manuka thượng hạng thế giới suốt từ 2015 đến nay đến độ tôi hết dám bước chân ra đường vì sợ bọn Chống Donald Trump bôi nhọ tôi là  “racist” là “thượng đẳng da trắng” do da bàn chân trắng nõn nà hơn cả da mặt trang tuyệt sắc giai nhơn Catherine Zeta-Jones trước đây từng làm anh hùng Zorro phải mê mẩn vung gươm xoạt lộn thay vì hạ quân thù lại làm y phục nàng đứt hết ráo mọi dây treo tuột luôn xuống đất. Còn em gái tôi sau khi cộng trừ nhơn chia bằng bàn tính Tàu abacus, thấy 100 triệu trừ 30 triệu tiền phạt “buôn lậu”, trừ vài chục triệu công xá với công ty giao nhận, trừ vài chục triệu nửa năm lưu kho và phạt lưu kho, trừ vài chục triệu khiếu nại với “Cục” thông qua văn phòng Luật, cô nàng thở phào nhẹ nhõm phấn khởi hân hoan vì số tiền còn lại vẫn đủ chi trả tiền thuê một cuốc xe taxi chở hết hàng hư hỏng về tặng tôi; sau đó bỏ thêm tiền túi thuê văn phòng Luật khác làm dịch vụ trả giấy phép cho Nhà Nước rồi đóng cửa công ty để hát bài ca tiếng Pháp Au Revior Vietnam thay cho bài Bonjour Vietnam.

Sự thật này cho thấy một thứ Nhân-Quả Lửng-Lơ với thanh gươm Damocles nặng chình chịch sắc bén treo lơ lửng sẵn trên đầu bất kỳ ai bên dưới. Ai cũng thấy thanh gươm ấy. Ai cũng biết ai treo thanh gươm ấy. Kẻ liều mình cứ thế xông pha, chết ráng chịu. Kẻ giữ mình thì rón rén bước đến theo thứ tự bài bản yêu cầu, chết cũng cố chịu. Gươm nặng mà. Treo bằng sợi tơ nhện mà. Có kẻ muốn lập đại công rằng bộ phận Chống Buôn Lậu thành công, đem về Kho Bạc Nhà Nước tới 30 triệu lận, và tạo công ăn việc làm cho kho giam hàng, văn phòng luật, nhân viên hủy hàng, và “Cục”mà! Nước non chẳng mấy chốc sẽ thịnh cường mà! Phong kiến “quân pháp bất vị thân”, còn ta dân chủ thì “quốc pháp tất vị thân” mà! Không “thân” thì có Damocles lơ lửng trên đầu. (Do thanh liêm chính trực, tôi chả nhờ cậy ai, chỉ dựa vào luật pháp, nên tôi đã hướng dẫn em tôi làm đơn tường trình gởi đích danh Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, và tôi viết công văn nêu nhận xét về các bất hợp lý trong gán tội danh “buôn lậu” của trường hợp cụ thể ấy, kèm vào rồi gởi phát chuyển nhanh đến Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đó là lý do vì sao các cán bộ Chống Buôn Lậu ở Thành Phố Hồ Chí Minh rúng động hỏi em gái tôi về tôi, và mới “quốc pháp tất vị thân” bảo rằng sau này nếu có lỡ bị tương tự thì đừng nộp phạt gì hết mà cứ kiếm họ nhắc tên Nghị Phước là sẽ được giải tỏa tất.

3) Nhân Quả Dây Chuyền (Cascading Type)

Đây là loại nhân-quả theo phản ứng nhiệt hạch dây chuyền không dứt dẫn đến chuỗi  badaboum nổ bùm bùm bùm mà dẫn chứng đã nêu ở mục C.2.f.iii của bài Nhân Quả Nhà Nhà tức thí dụ về đại biến mà giới võ lâm kiếm hiệp kỳ tình đặt tên là song sư minh vũ liên hoàn cước (hai nhà giáo Hoàng Phước và Vũ Liên nhảy múa tung chân đá liên hồi tới tấp vào mặt Ban Giám Hiệu Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh) năm 1986 gây sụp đổ hoàn toàn và triệt để cái sự nghiệp dạy và học tiếng Anh của Thành Phố Hồ Chí Minh cho đến tận tháng 8-2019 này đã 33 năm vẫn vô phương cứu chữa hay cứu vãn, cũng như đã tạo thêm một “quả” khác – đó là nay bọn lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ cùng bọn giáo viên Anh Văn và lãnh đạo trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh bị Hoàng Hữu Phước mắng chưởi công khai không dứt trên không gian mạng dù cái trường ấy đã treo bảng mới là “Đại Học” còn đa số bọn bị chưởi đã tụ họp ở A Tỳ Naraka.

4) Nhân Quả Lãng Xẹt (Phooey Type)

Về nội hàm, cả nhân-quả lửng lơnhân-quả dây chuyền đều có lúc lãng xẹt vì chúng không chừa kể cả người không gây nên nhân nào cả mà chỉ có thể chế tạo ra cái nhân lãng xẹt rằng do tại bị vì bởi “sinh ra đời dưới một ngôi sao vớ va vớ vẩn”.

Biện luận nhân-quả lãng xẹt có liên quan đến khái niệm “cộng nghiệp” trong Phật Giáo và về  “uổng tử” cũng trong Phật Giáo. (Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo cũng quy về “cộng nghiệp” khi người sống đạo hạnh tốt lành thánh thiện cuối cùng cũng phải bị lửa Trời giết sạch sành sanh một cách lãng xẹtChương Khải Huyền chỉ để cùng ức ức tỷ tỷ nhơn loại của triệu năm qua “được sống lại” làm zombie đầy bùn đất gớm ghê khủng khiếp sánh vai chen vai cùng vầy đoàn đứng chúc chen trước mặt Chúa Trời nghe phán xét xử phạt phân minh từng người một. Người tốt phải bị giết chết để được sống lại, được hân hạnh đứng chung với các zombie xấu xa để được Chúa Trời vinh danh người tốt).

Cái quả mà Manulife “gặt hái” từ cái “nhân” dám mưu đồ động đến Hoàng Hữu Phước để được an toàn với trò bớt xén lại quả nâng giá công trình xây dựng tòa nhà công ty ở Phú Mỹ Hưng là việc toàn bộ ban lãnh đạo nước ngoài bị sa thải trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi Hoàng Hữu Phước gởi thư tố cáo vài chục trang qua email đến Phó Chủ Tịch Nhân Sự Tập Đoàn Clif Davis, nhưng sau đó dẫn đến sự ra đi như một “quả lãng xẹt” của vài trăm nhân viên ưu tú và vài ngàn đại lý xuất sắc – trong đó có Cô Lại Thu Trúc – chỉ vì những người này tận tụy làm việc cống hiến cho Manulife  chỉ vì Manulife có “Thầy” Hoàng Hữu Phước mà thôi chứ chẳng biết gì về chuyện bớt xén lại quả nâng giá của tập đoàn bầy đoàn Anh-Hồng-Mã-Việt cả.

Cái “biệt nghiệp” công trình tu nhiều kiếp vẫn phải bị điêu đứng vì “cộng nghiệp”. Đó là sự lãng xẹt. Và Hoàng Hữu Phước đặt tên cho loại nhân-quả này là lãng xẹt, tầm phảo, vớ va vớ vẩn, phù phù tà tà phooey phooey phooey.

5) Nhân Quả Khác sẽ được Hoàng Hữu Phước liệt kê tiếp khi quởn.

C) Lời Kết

Tùy theo tiến hóa của nhơn loại mà các lãnh đạo tôn giáo sử dụng ngôn từ và kiến thức hạn hẹp thủa mình xuất hiện để giải thích cho người dân hiểu được một cách ngắn gọn nhất, đơn giản nhất, tác dụng hiệu quả nhất, nhớ lâu nhất. Dụng ý của các lãnh đạo khai sinh ra tôn giáo luôn nhằm làm người dân tốt hơn, mà vào thủa sơ khai  thì đe dọa là hình thức giáo dục hiệu quả nhất. Phật Giáo đề cao sự tu thân, đạo hạnh, đạo đức, nhưng vẫn kèm theo các dẫn dụ về địa ngục và các hình phạt khủng khiếp nhất. Hóa ra khi rao giảng về sự giải thoát ý niệm tự thân trước ngục tù thất tình lục dục và hiếu đạo quý cao thiên tánh, người ta cũng thản nhiên hàm ý chư Phật xây sẵn tù ngục và biến hiếu đạo thành việc phải làm tốt để tránh hình phạt chốn Naraka A Tỳ là tù ngục kinh khủng kinh hoàng kinh khiếp nhất do chư Phật xây dựng và trả lương cho quỷ sứ.

Luôn hãy khôn vì trí huệ có vững, trí hóa có cao, trí tuệ có bao trùm mới may ra có được 9 điều quan trong gồm

(a) không lầm lạc vong thân từ những hiểu không đúng về giáo lý Nhà Phật;

(b) không lầm lạc hại thân từ những mặc định rằng mọi điều các sư sãi phát ngôn đều đúng và đều là của Phật;

(c) nhận ra sự thật rằng Phật chỉ cung cấp lời khuyên dạy chứ không bao giờ ra tay cứu độ bất kỳ chúng sinh nào nên mỗi cá nhân phải khôn ngoan để tự bảo vệ mình và người thân của mình;

(d) nhận ra sự thật rằng thế gian chỉ có hai loài gồm thú săn mồi predator và con mồi prey nghĩa là bản thân ta dù ngây thơ cho rằng ta không bao giờ là predator thì cũng không dược khờ khạo cho rằng chung quanh ta không có vô số predator đang xem ta là prey sẵn sàng tàn hại ta và người thân của ta;

(e) nhận ra sự thật rằng ngụy trang luôn là bản năng thiên phú của muôn loài, nghĩa là bộ quân phục không làm nên người sĩ quan, và chiếc áo cà sa không làm nên nhà sư;

(f) nhận ra sự thật rằng không bao giờ có chuyện những người trần truồng nắm tay nhau vào chốn rừng sâu hiến tặng thân mình làm thức ăn cho những loài dã thú gấu cọp beo linh cẩu đang bị nguy cơ tuyệt chủng và không làm chúng mắc cổ vì quần áo thắt lưng đồng hồ của những con người ấy – nghĩa là không có chuyện “hy sinh cao cả” nào như vậy trong đời sống thực ngay cả của những nhà tu hành;

(g) nhận ra sự thật rằng chưa bao giờ có chuyện những nhà tu hành hiến tạng hiến xác hiến mô để cứu chúng sinh;

(h) nhận ra sự thật rằng không có thứ nhân-quả kiểu “gieo nhân nào, gặt quả nấy” như rao giảng bấy lâu nay của “Nhà Phật”; và cũng đồng thời

(i) nhận ra sự thật rằng cái thâm thúy thâm sâu của triết lý Nhà Phật chính là chứng minh triết lý ngàn năm sau đó của Phương Tây rằng “Cogito, ergo sum” (Ta tư duy, nên ta tồn tại) của René Descartes chỉ là sự lập lại khai thị của Đấng Thích Ca Mâu Ni Siddhārtha Gautama về cách “tự giải thoát” hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi cũng như “tự chấm dứt” khổ đau của bản thân chỉ bằng sức mạnh tu tập thuần ý niệm và ý chí chứ triết lý Nhà Phật hoàn toàn không khẳng định rằng cuộc sống thật của thời gian thật rồi sẽ không có đau khổ cũng như không khẳng định rằng trần gian đời thật với thời gian thật rồi sẽ thanh bình hạnh phúc hoan ca (nghĩa là trong thủa hồng hoang, sự nghèo đói, bịnh tật, chiến tranh, và con-người-dã-thú thống lĩnh địa cầu rắc gieo chỉ thuần là sự tuyệt vọng không-bao-giờ-có-thể-vượt-qua-bằng-sức-mạnh-để-chiến-thắng, thì biện pháp duy nhất ích lợi để con người có thể tồn tại lâu hơn là gạt bỏ tất cả các tham-sân ra khỏi sự vương vấn trong tâm thức, tâm trí, tư duy, bất luận là tham-sân chính đạo như tham vượt qua bịnh tật, tham tìm ra thêm gạo thịt cho mẹ cha đang thoi thóp thở, tham đánh bại giặc thù để cứu nước cứu dân, sân trước sự bạo tàn của kẻ ác đối với nạn nhân, hay sân muốn tiêu diệt quân thù xâm lược, v.v.; cũng có nghĩa rằng (i) trần gian sẽ không bao giờ thanh bình hạnh phúc hoan ca, rằng (ii) Chư Phật không bao giờ có quyền hay có thần lực tác động làm cho trần gian thanh bình hạnh phúc hoan ca, rằng (iii) làm lành là không làm điều tiêu cực sai quấy phạm pháp còn lánh dữ là khôn ngoan lánh xa người xấu/khôn ngoan lánh xa việc xấu/khôn ngoan không sập bẫy người xấu/khôn ngoan không tự nguyện bị biến thành kẻ ngu; cũng như có nghĩa (iv) giải thoát là quy trình thuần cá nhân mà không là ân ban của Chư Phật.

Hãy thiện tốt lành khôn để nhờ cái “nhân” này mà may ra hạn chế được sự sáp vô của “quả” hay “những quả” quái vô (quái lạ + vô duyên).

Hãy thiện tốt lành khôn vì ta là người cao quý chứ không do khiếp sợ Con Đĩ Babylone mà Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo hù dọa hay Huyết Trì Naraka mà Phật Giáo dọa hù.

Hãy thiện tốt lành khôn vì ta thành công trong trữ lưu tôn tạo phát triển cái nhân chi sơ tính bản thiện trong trong cuộc sinh tồn của chúng ta trên cõi đời này.

Hãy thiện tốt lành khôn vì ta thực sự tôn trọng tất cả những con người thiện tốt lành khôn.

Hãy thiện tốt lành khôn vì đây mới là sự thâm thúy nhất từ các lời dạy của Chư Phật.

Nam Mô Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạn Quảng đại Linh cảm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Ca-Lăng-Tần-Già Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Aries: Nguyễn Văn Thiệu Trong Tương Quan Với Những Nhân Vật Lừng Danh Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới  01-5-2019

Cô Gái Giao Gà:  Cô Gái Giao Gà  25-3-2019

Đứa đã viết thư cho Thủ Tướng Helmut Kohl: Em Gái Tôi Và Helmut Kohl, Tôi Và Sigurd Schmitt 05-01-2016

Manulife: Dưỡng Liêm và Nịnh Bợ 21-5-2019

Lại Thu Trúc: Lại Thu Trúc  22-12-2015

Nhân Quả Nhà Nhà: Nhân Quả Nhà Nhà 20-8-2019

Nhóm lò: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng  14-02-2016

Tôn giáo nước ngoài để cự này phán nọ chọt kia: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017 (Nguyên tác: Letter to His Holiness Pope Francis August 1, 2017)

Tu hạnh thần thông thần lực lan tỏa mười phương nhiều tháng trước Tháng Cô Hồn: Nhân Quả Nhà Nhà 20-8-2019

Y chang anh nó: Phá Luật  17-4-2016

Mê Tín Dị Đoan

Những Điểm Gây Tranh Cãi

Hoàng Hữu Phước, MIB

Thứ Hai, 05-3-2018

Cách nay nhiều năm tôi có lần nhận được tin nhắn điện thoại của một bạn đọc nữ (là một phóng viên trẻ không rõ của báo nào), cho biết bài viết của tôi trên Emotino.com về “ngày tốt, ngày xấu” dịp Tết năm trước đó đã được mẹ của cô tin tưởng áp dụng theo và gặp may mắn cả năm, nên có ý chờ đợi bài viết của tôi vào năm tiếp theo, song cho đến ngày cận kề Giao Thừa năm mới rồi mà vẫn chưa thấy bài viết mới của tôi nên nhờ cô chủ động đánh tiếng giúp. Cô thậm chí nói rằng nếu tại vì bị cơ quan chức năng quản lý truyền thông nhắc nhở phê phán “dị đoan” mà tôi cụt hứng không viết nữa thì cô khẩn khoản xin tôi hãy viết gởi riêng cho mẹ cô bằng email đến cô để thỏa mong muốn của bà. Tôi xin lỗi cô vì tôi chỉ viết chơi một lần để thử áp dụng cái nghiên cứu chưa tới nơi tới chốn của mình chứ không tạo chuyên mục chuyên trang xem ngày tốt ngày xấu sao tốt sao xấu vì tôi chỉ giỏi có mỗi về xem người tốt người xấu chế độ tốt chế độ xấu chủ nghĩa tốt chủ nghĩa xấu luận án tiến sĩ tốt luận án tiến sĩ dỡ ẹc mà thôi.

Tuần này, tôi nhận được từ người quen một đường link dẫn đến bài có nhan đề “Cúng sao giải hạn chẳng khác gì vung tiền mua sự an ủi” trên baomoi.com, có chua phát biểu của một số chức sắc Phật Giáo đối với những nội dung mà các vị cho là mê tín dị đoan sai lầm.

Tất cả các ý kiến của các tu sĩ cấp cao như nêu trong bài báo nói trên đều rất yếu kém và dễ gây ra ít nhất 6 tranh cãi sau:

 

1) Điểm Tranh Cãi Thứ Nhất: Nếu nói rằng “trong kinh sách nhà Phật không nói đến nghi lễ cúng sao giải hạn cho phật tử. Đối với Phật giáo, không có ngày xấu, ngày đẹp, sao xấu, sao tốt như người ta lầm tưởng,” thì kinh sách nhà Phật cũng đâu có nói gì về nghi lễ cúng bái cho từng đẳng cấp Phật, cúng đầy tháng/thôi nôi, cúng giỗ tổ tiên, cúng giỗ Vua Hùng, cúng khai trương, cúng Ông Táo Bà Táo, phương pháp phẫu thuật, các công thức thảo dược, các chiến thuật nhằm làm tiêu hao tối đa sinh lực địch, các nhạc lý, những công thức ẩm thực chay, cách thả nọc heo nái, các phương cách gia tăng hạnh phúc tình dục nhằm gia tăng tình yêu của vợ chồng, v.v. và v.v. Vậy phải chăng tất cả những gì không được kinh sách Nhà Phật nói đến đều là những mê tín dị đoan? Ngày xấu, ngày đẹp, sao xấu, sao tốt, là những thuật ngữ của một sinh hoạt thuộc lĩnh vực hoàn toàn khác, thuần dựa theo các truyền khẩu kinh nghiệm dân gian ở theo từng khu vực trên toàn thế giới từ rất lâu trước khi Linh Bạch Tượng khẻ húc vào bụng hoàng hậu Maya khiến bà thụ thai sinh hạ Siddhartha tức Tất-Đạt-Đa hay khi ân điển của Thượng Đế ban vào bụng thôn nữ Mary khiến bà thụ thai sinh hạ Jesus Christ tức Giê-Su Ki-Tô.

Nói khác đi, phải chăng chỉ có những gì được các tu sĩ Nhà Phật ủng hộ mới đương nhiên là thuận theo kinh sách Nhà Phật, từ đó suy ra: các hình phạt tru di cửu tộc của các quân vương Phật Tử trừng phạt các tội khi quân và phản loạn mà không bất kỳ sư sãi nào trong toàn bộ lịch sử tôn giáo bất kỳ dám kiến nghị đổi thay, hoặc cách các tu sĩ lợi dụng những sự việc dù hoàn toàn nằm trong tầm điều chỉnh của pháp luật Việt Nam để xách động biểu tình khi mặc cà sa cầm loa công suất lớn nhảy loi choi cà tưng cà tưng trên nóc xe hơi hô hào cứu “nạn dân” ắt đều tuyệt đối đúng do đã có ghi đầy đủ rõ ràng chi tiết trong Kinh sách Nhà Phật hay sao?

Thế gian chưa hề có bất kỳ bản kinh kệ nào của tất cả các tôn giáo lớn nào do Đức Phật hay Đức Chúa (hay Đức nào khác) trực tiếp hạ bút viết nên, có ký tên, và đóng dấu. Chưa kể, Kinh Sách là để diễn giải những gì của tôn giáo mà các giáo sĩ viết nên có thể phần rất nhỏ dựa theo những gì trực tiếp chứng kiến còn phần lớn dựa vào đức tin, niềm tin, sự hiểu biết, và lòng mong muốn của cá nhân tu sĩ theo kỳ vọng của chính cá nhân tu sĩ ấy nhằm răn đe chúng sinh cho một tương lai tốt đẹp hơn mà cá nhân tu sĩ ấy kỳ vọng, mà ngay cả sự hiểu biết của tu sĩ cũng ắt dựa hẳn vào môi trường hiện có, hiện thấy, hiện ngỡ là, hiện tin sẽ là, của cái xã hội mà trong đó người viết kinh sách lúc ấy đang sống. Vì vậy Kinh Sách không thể và không bao giờ được phép luyến láy để ôm lấy cái thần thái nào đó không thuộc về nó lôi tuột vào trong nó – nghĩa là những gì có trước hoặc có sau sự xuất hiện của “Đạo” Phật (tất nhiên kể cả các “Đạo” khác) thì hoàn toàn thuộc về tài sản chiêm nghiệm và/hay tri thức khoa học/tiền khoa học/cận khoa học/hậu khoa học của những sinh vật hình thành nên các tôn giáo: đó là con người.

Như vậy, nói một cách đơn giản, cúng sao giải hạn hoàn toàn không phải của Phật Giáo nên làm gì có chuyện kinh sách Nhà Phật có ghi về nội dung cúng sao giải hạn. Một Phật Tử khi lấy vợ phải tuyệt đối tuân theo các quy định bởi con người được gọi là các “đấng sinh thành” của cô dâu bất kể các đấng ấy có là Phật Tử hay không, chứ chẳng ai mở tìm trong kinh sách nhà Phật xem phải tổ chức nghi lễ hôn nhân ra sao cho đúng “phe Phật Giáo” cả. Thậm chí cái nghi lễ hôn nhân nào đó nếu có trong “phe” tôn giáo khác cũng không phải do các vị Thượng Đế của cái tôn giáo ấy đã từng phán bảo, chỉ dạy, bày ra.

Nói một cách công bằng, phổ quát, phổ biến, phổ thông và dễ hiểu, thì tu sĩ là giai tầng xã hội có nhiều thời gian cá nhân hơn các chúng sinh khác. Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi đầy ắp ấy của một số tu sĩ cho việc nghiên cứu nghiêm túc hay học tập đàng hoàng là lẽ đương nhiên đúng đắn, đương nhiên khôn ngoan, đương nhiên hữu ích, đương nhiên đáng khích lệ và đương nhiên đáng ngưỡng mộ, nhất là sau đó đem cái sở học đàng hoàng ấy ra góp phần cứu giúp chúng sinh.

Một tu sĩ tìm học thêm về thảo dược và các phương pháp chữa bịnh trong dân gian – thậm chí cả các phương chữa “mẹo” của người thiểu số ở thâm sơn cùng cốc – vốn hoàn toàn không được ghi chép trong Kinh Sách Nhà Phật (hay Nhà Chúa), rồi đem kiến thức ấy chữa lành “thân bịnh” cho chúng sinh thì ấy là đại phúc cho tu sĩ và đại phước cho chúng sinh. Cớ gì lại có thể hê lên rằng tu sĩ chữa bịnh là lang băm trong khi lang băm là sự lừa bịp của kẻ gian chứ chả dính dáng gì đến truyền bá/đào tạo/áp dụng khoa học y học và y thuật trong cứu nhân độ thế của tu sĩ cả. Mà “khoa học y học” thì không phải chỉ là “thuốc con nhộng” và thuốc chích, mà phải gồm cả lá cỏ, đồng tiện, cẩu nhục, đánh gió, giác hơi, và massage, tức những thứ xưa kia các binh đoàn của tổ tiên người Việt đã áp dụng nhờ đó mới có sức khỏe tuyệt luân bảo đảm ngày sau hình thành nên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện đại của ngày nay.

Một tu sĩ tìm học thêm về thiên văn, bấm độn, bói toán, và lắng nghe các kinh nghiệm truyền khẩu của dân gian – dù đó là dân gian miền sơn cước Lumbini quê hương Đức Phật bên Tây Trúc hay trên đỉnh non cao Không Lộ Thiền Sư đứng hét lên một tiếng hào sảng làm lạnh băng cả bầu trời tại Việt Nam – vốn hoàn toàn không được ghi chép trong Kinh Sách, rồi đem kiến thức ấy chữa lành “tâm bịnh” cho chúng sinh vốn kinh sợ trước các siêu lực thiên nhiên của các vì sao, thì ấy là đại phúc cho tu sĩ và đại phước cho chúng sinh. Cớ gì lại có thể hê lên rằng tu sĩ đạo ấy đạo ấy mê tín dị đoan trong khi mê tín dị đoan chả dính dáng gì đến tâm lý tâm linh kiêng dè kiêng sợ thần linh cùng quyền lực siêu nhiên trên cơ sở cực kỳ đơn giản rằng cha mẹ tổ tiên chỉ là người phàm trần mà ta còn cúng vái hành lễ thành tâm tưởng nhớ kính sợ cầu xin phù hộ thì huống chi thần thánh Phật tiên còn cao vời hơn nữa mà ta lại đứng chống nạnh cười khẩy to mồm xỉa xói mắng mỏ “ấy mê tín dị đoan!”

Thậm chí ở Việt Nam Cộng Hòa có người như Nguyễn Văn Trung thuộc “phe” Công Giáo đã trình luận án tiến sĩ triết học tại Đại Học Công Giáo Louvain (Université Catholique de Louvain, Vương Quốc Bỉ) với đề tài Phật Học tựa đề “La Conception Bouddhique du Devenir” (về biến dịch trong Phật giáo Thượng Tọa Bộ Sthaviravâda) cho thấy hành trình khám phá tri thức phải hoàn toàn vô biên giới bất biên cương phi biên…mậu (tiếc là một “giáo sư” Sài Gòn đã bỏ Công Giáo để theo Phật Giáo là Phạm Công Thiện lại viết quyển Phê Bình Luận Án Tiến Sĩ Triết Học Của Nguyễn Văn Trung để hẹp hòi hung hãn phơi bày sự cực đoan chửi bới Nguyễn Văn Trung là “lưu manh nguy hiểm” và ý thức hệ của Nguyễn Văn Trung là “quái thai tạp nhạp”,v.v., trong khi bản thân Phạm Công Thiện không đủ trình độ tư duy nghiêm túc để biết rằng nhà thiên văn học vật lý học toán học triết học Galileo Galilei cùng tác giả của Tư Bản Luận kiêm cha đẻ của Chủ Nghĩa Cộng Sản Karl Marx đều là những con chiên ngoan đạo trí tuệ cực đỉnh của Công Giáo, nên mới chống đối tín đồ Công Giáo Nguyễn Văn Trung trình luận án tiến sĩ triết học về Thượng Tọa Bộ).

Chưa kể, việc cúng sao giải hạn là việc riêng của cá nhân cần vượt qua những lo lắng không nên không có, không dính dáng đến Phật Giáo để bất kỳ ai trong các chức sắc Phật Giáo có thể xúc xiểm với ngụ ý là chúng sinh làm sai vì Kinh Sách Nhà Phật không quy định như thế.

Tương tự, việc vái lạy và “lên đèn” bàn thờ tổ tiên là việc riêng của cá nhân trong tổ chức lễ cưới vượt qua tình trạng đơn thân, không dính dáng đến Phật Giáo để bất kỳ ai trong các chức sắc Phật Giáo có thể xúc xiểm với ngụ ý là chúng sinh làm sai vì Kinh Sách Nhà Phật không quy định như thế.

Tương tự, việc đánh gió giác hơi là việc riêng của cá nhân cần vượt qua tình trạng bần thần mệt mõi như một thứ massage, không dính dáng đến Phật Giáo để bất kỳ ai trong các chức sắc Phật Giáo có thể xúc xiểm với ngụ ý là chúng sinh làm sai vì Kinh Sách Nhà Phật không quy định như thế.

Tương tự, việc bày biện hoa tulip ba màu đỏ tím vàng cùng trái cây nhập khẩu đắt tiền rồi quỳ mọp lạy nguyện cầu trước tượng Phật Bà Quan Âm rực rỡ ánh đèn led chớp nháy hiện đại tân kỳ là việc riêng của cá nhân cần vượt qua tình trạng tâm lý bất an lo cho cha già mẹ yếu, không dính dáng đến Phật Giáo để bất kỳ ai trong các chức sắc Phật Giáo có thể xúc xiểm với ngụ ý là chúng sinh làm sai vì Kinh Sách Nhà Phật hoặc không quy định như thế hoặc quy định phải là năm bông vạn thọ với sáu đèn cầy cùng bảy trái dừa xiêm loại xanh và xá lạy tám lần.

Như vậy, chính quyền và tất cả các vị chức sắc có trách nhiệm, có trí thức, và có tri thức, đều nhất thiết cần phân biệt dị đoanmê tín, chấm dứt gán ghép dính khắng bất rời cụm từ mê tín dị đoan (dù theo lý thuyết Lexicology thì có chấp nhận hiện tượng biến nghĩa và mất nghĩa theo thời gian tức các hiện tượng upgradation, degradationnew coinage), vì mê tín là xằng bậy nhất thiết phải bài trừ triệt để bằng biện pháp hành chính, còn dị đoan là cái mà việc giải quyết hạn chế nó cần thêm một ít thời gian (khoảng vài thế kỷ) thông qua đời sống cao vời vượt bậc, trí hóa vượt bậc cao vời, và giáo dục thành công trên hẳn bậc vượt vời cao, do dị đoan gắn với sự xúc xiểm những tín ngưỡng nào khác với tín ngưỡng của mình. Mê tín nếu gây hại đến sức khỏe người khác, tài sản người khác, an ninh trật tự chung, và quốc thể, thì thuộc phạm trù “vi phạm pháp luật hình sự” để pháp luật trừng trị nghiêm khắc.

Như vậy, các tu sĩ nên tuyệt đối tránh – và vất bỏ nếu có đủ bản lĩnh trưởng thành và lòng can đảm – kiểu tư duy phán xét cực đoan đối với những “dị” biệt, trong đó có dị giáo, và … dị đoan. Cần nhớ rằng cực đoan ngày nay đã biến thiên hòa trộn vào chủ nghĩa khủng bố, và những hành động cực đoan của giới tu sĩ sẽ hoặc do muốn khủng bố giáo dân hoặc do muốn khủng bố chế độ chính trị chính phủ mà cái nào cũng là hành vi hoàn toàn sai, phản quốc và phản đạo.

Ngoài ra, việc nghiên cứu sự tồn tại của các vì sao là việc làm của các nhà khoa-học-không-bằng-cấp-“tiến-sĩ”-không-có-học-vị-“giáo-sư” trên khắp các châu lục trong hàng ngàn năm, từ đó có các môn thiên văn học phương Tây và phương Đông kể cả phương lạ hoắc không dính tới bốn phương tám hướng của Đông-Tây-Nam-Bắc gì sất như phương…Ả Rập hay phương Cổ La-Hy.

Việc ghi nhớ ghi nhận bằng lời nhắc nhở con cháu hoặc bằng chữ viết truyền lưu cho hậu duệ những chiêm nghiệm về các tác động của các vì sao đối với đời sống mùa màng và đời sống cá nhân là việc làm của các nhà-có-sống nghĩa là những ai đã từng thực sự sống, nghĩa là những người thực sự đã từng có trách nhiệm làm lụng cực nhọc nuôi dưỡng hình thành xã hội loài người từ thượng cổ cho đến thời đại rô-bốt, nghĩa là không hề lười biếng buông xuôi mà ghi nhận đầy đủ nhất cử nhất động của chung quanh để truyền lưu cho con cháu với mục đích duy nhất là loài người phải tồn tại, phải tồn tại vượt qua các dọa đe của thiên nhiên, và phải tồn tại tốt nhất có thể được bất kể môi trường sống có đầy phản trắc đến đâu.

Và khi đối mặt trước những quyền lực siêu nhiên con người không bao giờ khắc chế được, người ta đã làm một điều vô cùng đúng theo chuẩn văn minh hiện đại, vô cùng lành mạnh theo chuẩn hiện đại văn minh của đại gia, và vô cùng khôn ngoan cũng theo chuẩn văn minh hiện đại, đó là dựa dẫm vào thế lực siêu nhiên nào mà chính mình đã có kiến thức của hàng ngàn năm để sùng bái các vì sao mà tổ tiên đã nhân cách hóa thành các Vị Thần. Tại sao bảo là đúng chuẩn hiện đại? Đơn giản vì những gì ngoài tầm với đều hãy tìm đến sự hỗ trợ tâm lý tâm linh thay vì tự uất ức, tự giày vò, tự than thân trách phận, tự vô siêu thị Walmart mua một khẩu AR-15 tự nhào vô trường học không phải trường tư tự xả súng vô tư. Cúng sao là một hành vi văn hóa hiện đại đặc thù để hỗ trợ tâm lý tâm linh. Chỉ có sự bày vẽ các yêu cầu món này món nọ dị hợm dị quái để mê hoặc và moi tiền người đang cần hỗ trợ mới là cái việc của bọn tà đạo nhất thiết phải lên án và trừng phạt.

Một thằng tướng Tàu họ Sầm thất trận bị quân Tây Sơn truy sát bỏ chạy đâm sầm vào núi Loa tối tăm mày mặt vướng cổ vào sợi dây thừng treo sẵn còn được Hoàng Đế Quang Trung cho xây đền thờ để Hoa kiều ngàn năm hương khói phụng thờ vái van xin phù hộ kinh doanh phát đạt thành công, thì mấy tinh tú hay chòm sao được người Tàu đặt tên và được người Việt hương khói vái van xin phù hộ cho nạn khỏi tai qua thì sao lại bị xem như dị đoan mê tín?

Cần nhớ rằng nguồn gốc của dị đoan mang nội hàm phỉ báng của kỳ thị tôn giáo. Khi một cao tăng Phật Giáo gọi cúng sao giải hạn là mê tín dị đoan thì vị ấy đã phạm cùng lúc những 3 sai lầm vô cùng sai một cách nguy hại gồm

(a) đặt cúng sao giải hạn vào vị trí một tôn giáo,

(b) biến Phật Giáo mang mặc cảm tự tôn hiếu chiến đầy sát phạt rằng Phật Giáo là thượng đẳng xem các tôn giáo khác là “dị” giáo vốn trong nội hàm khởi thủy của “dị đoan”; và

(c) gián tiếp gây rối loạn xã hội qua khẳng định không được thực hiện những gì không được ghi trong Kinh Sách Nhà Phật trong khi luật pháp quốc gia cũng không được ghi trong kinh sách ấy.

Lời khuyên của Lăng Tần: các nhà tu hành Phật Giáo đừng bao giờ vô tư vô tâm phát ngôn biện luận bằng cụm từ “không có ghi trong kinh sách Nhà Phật” vì dễ tạo điều kiện cho những xúc xiểm rằng phải chăng tại vì Phật chưa từng dạy trong kinh sách nên thiện nam tín nữ Phật Giáo và nhân dân chưa hề thấy bất kỳ nhà sư nào đăng ký hiến tạng hiến mô cứu độ chúng sinh?

 

2) Điểm Tranh Cãi Thứ Nhì: “Phật giáo luôn lên án các hành vi mê tín dị đoan trong đó có cúng sao giải hạn, xem bói, xem ngày tốt xấu.”

Phật Giáo không bao giờ lên án như trên.

Chỉ có “giáo hội” của Phật Giáo, “chùa” này “chùa” nọ của Phật Giáo, “tu sĩ” Phật Giáo, “viện Phật học”, mới ra công văn nêu thế, phát hành bản thông báo dán bảng về thế, hoặc phát biểu cảm tưởng như thế khi bị phỏng vấn mà thôi.

Sẽ rõ ràng là môt nhiệm vụ bất khả thi nếu các “giáo hội” của Phật Giáo, “chùa” này “chùa” nọ của Phật Giáo, “tu sĩ” Phật Giáo, “viện Phật học”, trên toàn quốc Việt Nam bị thách thức hãy đưa ra được bằng chứng giấy trắng mực đen mang tính Phật Pháp và Luật Pháp ghi nhận “cúng sao giải hạn, xem bói, xem ngày tốt xấu” đích thị là “mê tín dị đoan”.

 

3) Điểm Tranh Cãi Thứ Ba: “Khi con người tin rằng trên đời có sao tốt, xấu, ngày đẹp, ngày xấu sẽ đánh mất niềm tin vào luật nhân quả và việc cúng sao giải hạn là một quan niệm sai lầm.”

Cả hai ý “tin vào sao” và “tin vào NhânQuả” không hề có mối liên quan đối chọi bất kỳ, thậm chí còn cực kỳ tương hợp với nhau.

Chỉ có người tin vào luật Nhân Quả mới biết sợ hậu quả sẽ đến do những gì sai quấy bản thân đã phạm phải. Chính sự lo sợ đó khiến người ấy tìm đến “cúng sao” khi cho rằng cái “hạn” nguy hiểm đến cận kề. Và cũng vì biết sợ, người ấy cũng đương nhiên đã tự mường tượng ra trước một hậu quả nào đó ắt sẽ đến do việc cúng sao giải hạn của mình đương nhiên chỉ là sự bám víu hy vọng đơn thuần chứ không bao giờ chắc chắn sẽ có hiệu quả như ý. Việc cúng sao giải hạn về kỳ vọng thì không khác gì sự cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi, mà sự khác biệt duy nhất chỉ là: nó bị phỉ nhổ bằng tên gọi “mê tín dị đoan” vì nó là thực hành tín ngưỡng của dân gian mà đa số là người bình dân nghèo khổ yếu thế, còn cái sự cầu nguyện thì trên đời chả ai dám nói động đến vì thuộc các tôn giáo quá lớn phát triển ở các nước quá hiện đại và hùng mạnh mà thôi.  Và biện luận thêm theo kiểu điền thế tức substitution drill của học tiếng Anh thì phải chăng cúng Phật giải hạn hay cúng Phù Đổng Thiên Vương giải hạn sẽ không là mê tín dị đoan?

Ngay cả khi một người con gái nết na đức hạnh trong sạch khiết thuần thuộc gia đình đạo hạnh lại bị mang oan án giết chồng, bị lăng mạ tà dâm hại đời dân nữ, bị đánh phạt đòn roi thân thể nát tan, bị xua đuổi khỏi chùa lết lê bẩn bụi hồng trần, bị ô uế thân danh cho đến lúc lìa đời trở thành Phật Bà Quan Âm, thì liệu đã có ai trong nhân loại kể cả các tu sĩ dám lộng ngôn bảo đó là Nhân-Quả, chẳng khác nào sở dĩ Thị Kính chịu oan khiên đến thế la tại cha mẹ Thị Kính bất nhân bất mục bất hiếu còn tổ tiên Thị Kính thất đức tàn ác loạn luân?

Đối với người thông tuệ trí hóa cao, Nhân-Quả thuộc phạm trù đa số chứ không thuộc phạm trù tuyệt đối. Trong đa số các trường hợp thuần lý thuyết thì gieo hạt gì sẽ gặt được quả đó. Song, trong tất cả các trường hợp thực tế của thiên tai thì tất cả các hạt giống cực tốt được gieo cho vụ mùa mới cũng sẽ bị cuốn/cháy/hư sạch không thể cho một quả bất kỳ. Thị Kính đã chịu truân chuyên trong đớn nhục ê chề không vì các nhân độc ác bất kỳ mà người đời xảo biện cho là Bà đã gieo trong hiện kiếp hay tiền kiếp. Thị Kính chỉ đơn giản là khối ngọc quý báu mà tảng đá bao bọc lấy khối ngọc ấy buộc phải kinh qua sự đục đẽo cắt cưa bào mài mới lộ ra được hào quang Phật hạnh chói lọi từ Bà, chứ Bà không hề thuộc phạm trù chi phối của Luật Nhân Quả. Do đó, khi nói về Nhân-Quả thì có khi gieo vô số “nhân” tốt nhiều kiếp vẫn không gặt được “quả” tốt nào, vì những gì bản thân làm được gọi là “biệt nghiệp”, trong khi còn có cả “cộng nghiệp”, nghĩa là vào Ngày Tận Thế thì tất cả người ác gian và người hiền đức đều bị tiêu diệt chung trong cùng cơn kinh hoàng của cùng thảm họa.

Vì vậy, hãy tin vào Nhân-Quả vì đó vừa là phạm trù khoa học, vừa là phạm trù tâm linh, để hỗ trợ thêm niềm tin và ổn định tâm lý; còn hãy luôn làm điều thiện vì đó là cách sống duy nhất đúng, vì bản thân luôn toát ra hương thơm của đạo hạnh, vì tâm hồn luôn trong sạch tự thân, muốn trao tặng và đem đến thật nhiều sự tốt lành cho tha nhân, chứ không vì mục đích gặt hái gom hốt về mình thật nhiều sự tốt lành hoặc vì “sợ” một cái “quả” kém chất lượng.

Dùng “Nhân-Quả” để hù dọa thiện nam tín nữ thì nào có khác gì kẻ tà đạo dùng cái sự “cúng sao” để hù dọa cơ chứ!

 

4) Điểm Tranh Cãi Thứ Bốn: Tôi cho rằng đến một thời điểm nào đó cũng cần có một công văn giống như việc cấm đốt vàng mã trong chùa của Giáo hội Phật giáo vừa đề xuất”.

Việc cấm đốt vàng mã trong chùa là việc của các chùa. Giáo Hội Phật Giáo có quyền cấm, sao lại chỉ dám “đề xuất”? Không lẽ đẩy qua cho Nhà Nước để có cớ bảo rằng Nhà Nước động đến tín ngưỡng người dân, tạo điều kiện cho đám nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có việc làm mỗi năm với báo cáo về cái gọi là “nhân quyền”?

Vậy thì, thay vì phát biểu với phóng viên, tốt nhất hãy trực tiếp bàn riêng một cách trưởng thành với Giáo Hội Phật Giáo để chọn cái thời điểm nào đó để ra cái công văn cấm các chùa không được thỏa mãn yêu cầu của thiện nam tín nữ nào van xin nhà chùa nhà sư làm phước giúp đỡ họ cúng sao giải hạn, xem bói, xem ngày tốt xấu, dù cho trên thực tế các nhà sư đã dày công nghiên cứu thành công nhiều chục năm từ kho tàng kiến thức của cổ nhân mà ngay cả người Mỹ cũng phải tôn trọng dày công dịch thuật từ tiếng Hán sang tiếng Anh để nghiên cứu – và kinh doanh – từ rất lâu. Chỉ cần đừng dán hai chữ “đề xuất” vào công văn vì nhà nước và chính phủ không can dự vào niềm tin cá nhân đối với việc cúng sao giải hạn của dân, can dự vào nghiên cứu khoa học thuật bói toán chiêm tinh của các sư và của mọi công dân, hoặc can dự vào việc nghiên cứu về nghiên cứu của cổ nhân đối với ngày tốt ngày xấu của các sư và của mọi công dân đối với tất cả những gì mà luật pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không cấm.

 

5) Điểm Tranh Cãi Thứ Năm: Để vượt qua các nỗi sợ hãi, con người phải tăng cường sự hiểu biết về chân lý, khoa học hiện đại. Càng hiểu biết thì các niềm tin mang tính hù dọa sẽ không đủ sức gây ra nỗi ám ảnh đối với họ.”

Nếu người phát biểu câu trên có học kha khá tiếng Anh ắt nên đọc bài viết nhan đề Những Lợi Ích Của Sự Sợ Hãi (The Benefits of Fear hoặc The Beneficial Roles of Fear) để thấy cuộc sống đời người và cuộc sống kinh doanh luôn cần đến những động năng tích cực và ưu việt có được từ các nỗi sợ hãi.

Vượt qua các nỗi sợ hãi ư? Thế nếu thiên hạ không sợ Địa Ngục, không sợ Nhân-Quả, không sợ Luật Trời, không sợ Luật Pháp, không sợ phạm tội ác thì liệu có cần đến sự tồn tại của tôn giáo không, và phải chăng các chính phủ sẽ mãi đối phó với tội phạm tràn lan tràn ngập?

Chân lý nằm trong tay ai? Và chỉ nội việc trả lời cho câu hỏi này thôi cũng đủ dẫn đến Đệ Tam Thế Chiến.

Còn khoa học hiện đại là gì khi đã gần cột mốc một phần hai của nửa thế kỷ XXI rồi mà Việt Nam vẫn chỉ mới hồ hởi phấn khởi hò reo về việc mở công ty sản xuất xe hơi hiện đại mà không ai biết xe có sẽ có trang bị túi khí hay không, nếu có thì của ai sản xuất vì cái công ty khổng lồ cung cấp túi khí cho công nghiệp xe hơi toàn cầu là Takata thì đã nộp đơn xin phá sản tháng 6 năm 2017 do đã làm nhiều chục triệu xe bị thu hồi do tai nạn do khuyết điểm của túi khí gây ra, mà chỉ trong năm 1995 riêng tại Mỹ đã có tới 8 triệu rưỡi xe bị thu hồi do lỗi của một sản phẩm khác cũng của Takata là dây đai an toàn.

Nếu xe hơi Việt Nam chưa biết sẽ sử dụng đai thắt và túi khí của Delphi, TRW, Daicel, KSS, hay Autoliv trước sự sụp đổ của Takata, thì ai mà biết máy lạnh, lốp xe, dây điện, bình ắc quy, v.v., của xe hơi made-in-Vietnam ấy sẽ được nhập khẩu từ đâu, có phải hạng rẻ tiền từ Trung Quốc không; và cách chi mà có thể nói về cái khoa học hiện đại của hàng tỷ tỷ bộ phận khác của hàng tỷ thứ liên quan đến nền kinh tế quốc dân và nhu cầu đời sống an sinh của quốc dân, để sau cùng thì khi đã hiểu biết tất về khoa học hiện đại ấy, quốc dân sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi?  Chưa kể, các khoa học hiện đại là do ai truyền bá giảng dạy? Các đấng tiến sĩ được phong “giáo sư” một cách hài hước ở Việt Nam ư?

Tóm lại, không có sự sợ hãi các dọa đe của xui rủi, các cầu thủ bóng đá quốc tế lừng danh đã không bao giờ thèm khom mình chạm tay xuống đất một cách đầy…mê tín nhằm cầu xin sự phù hộ an bình khi chạy vào sân thay thế đồng đội, Rafael Nadal không sắp xếp ba chai nước đúng vị trí ngay chân nơi chỗ ngồi một cách đầy…mê tín, và các nhà khoa học không gian NASA đã không cần bổ sung quyển Kinh Thánh cũng như dự kiến hết các phương cách để các phi hành gia tương lai tồn tại được trên địa ngục Hỏa Tinh đầy bất trắc.

Cúng Phật vì tỏ lòng kính Phật và ngỏ lời sám hối trước Phật cho những kém tốt lành của bản thân, chứ không do bị các nhà sư hù dọa rằng Phật sẽ quẳng người không sám hối xuống Chín Tầng Địa Ngục nếm vạc dầu.

Cúng sao vì tỏ lòng tôn trọng cổ nhân và tiền nhân đã dày công nghiên cứu cho ra những khuyên bảo từ kinh nghiệm bao đời của họ; hoặc vì sự bó tay của cái gọi là khoa học hiện đại trong lĩnh vực y học (đối với bịnh nan y); hoặc vì sự bó tay của cái gọi là khoa học hiện đại trong lĩnh vực tự nhiên (tình trạng tuổi già sức yếu gần đất xa trời của mẹ cha); hoặc vì sự bó tay của bản thân (trước án oan, trước cường hào ác bá cường quyền, trước bất công của xã hội, trước chiến tranh, trước nghèo khó cùng cực); hoặc chỉ vì bản thân hiếu thảo muốn làm cha mẹ vui lòng dù bản thân mình không hề tin tưởng nhưng cha mẹ cả đời lao nhọc luôn duy trì cúng sao và do cha mẹ già yếu đang nằm dưỡng bịnh không thể tự thực hiện được việc đốt nhang lễ bái. Cúng sao mang ý nghĩa vì hiếu đạo và triết lý nhân sinh (biết rõ về các giới hạn của con người) cao vời như thế mà bị cho là xuất phát từ sự sợ hãi hay sao?

Sợ, lo sợ, e sợ không là tội lỗi, không là vi phạm pháp luật, và không đồng nghĩa với sợ hãi dù bản thân sự sợ hãi cũng không bao giờ là thứ tình cảm loại “yếu bóng vía” để bị thiên hạ vô pháp vô thiên có quyền lôi ra nhạo chế, bỉ khinh, xiểm xúc.

Cúng sao bị xem là mê tín dị đoan, vậy mặc nhiên trực tiếp khẳng định rằng không cúng sao là có hiểu biết về chân lý, về khoa học hiện đại, đã vượt qua các nỗi sợ hãi và các nỗi ám ảnh; đồng thời gián tiếp mặc nhiên khẳng định rằng việc New Zealand luôn luôn mời các thầy cúng người thổ dân Maori nhảy múa làm phép cúng trấn yểm bình an cho tất cả các tòa nhà Đại Sứ Quán New Zealand ở nước ngoài và cho tất cả các đội tuyển thể thao quốc gia là mê tín dị đoan, không có hiểu biết về chân lý, không có hiểu biết về khoa học hiện đại, không vượt qua các nỗi sợ hãi và các nỗi ám ảnh; và đồng thời khẳng khái dũng cảm nhìn nhận rằng hóa ra bấy lâu nay toàn bộ các chùa và các sư đã mê tín dị đoan và theo tà đạo do không có hiểu biết về chân lý, khoa học hiện đại, nên mới thường xuyên ngang nhiên tổ chức lập danh sách, vô tư thu tiền bá tánh để thực hiện các buổi cúng sao giải hạncúng Tam Tai tự biên tự diễn chứ hoàn toàn không có in trong kinh kệ kinh sách Nhà Phật hay sao?

Xin các nhà sư đừng bày tỏ sự yếu bóng vía trước các phóng viên qua việc cứ mỗi khi phát biểu trả lời phỏng vấn đều cố sức ra vẽ tích cực chống mê tín dị đoan cho đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà Nước, trong khi lại chẳng hiểu cái gì và thế nào mới là mê tín dị đoan để công kích cho đúng.

 

6) Điểm Tranh Cãi Thứ Sáu: Cúng sao giải hạn chẳng khác gì vung tiền mua sự an ủi”, “họ đang bỏ tiền ra mua sự trấn an tâm lý”, và “người nào làm việc tốt, đạo đức tốt thì không bao giờ sợ hãi”.

Tư vấn tâm lý rất quan trọng ở tất cả các cường quốc kinh tế và cường quốc học thuật tri thức. Cơ quan, công ty, trường học, v.v., đều có sự có mặt của các chuyên gia tư vấn tâm lý. Mỗi khi Manulife muốn sa thải một VIP, tác giả bài viết này với cương vị Giám Đốc Nhân Sự bắt đầu tiến trình tiếp cận chuyện trò ở những bữa ăn trưa thân mật tại các khách sạn năm sao trên đường Tôn Đức Thắng hoặc Đồng Khởi, cẩn trọng làm công tác tư tưởng chuẩn bị tâm lý cho đối tượng trước khi để đối tượng nhận biết tình hình nào đang chờ đón mình, rồi bị choáng ngợp trước những khoản tiền bồi thường thật hậu hĩ, sự hỗ trợ tìm việc mới nơi khác cũng ở cấp lãnh đạo, sự gia hạn thêm một tháng sự cư ngụ tại khách sạn năm sao ở Thành Phố Hồ Chí Minh, sự đài thọ chi phí đóng container đồ đạc cá nhân chuyển đến bất kỳ nơi nào trên thế giới, và tất nhiên có cả sự thường xuyên đến thăm hỏi trò chuyện thân hữu thân tình thật rôm rả đầy động viên tích cực của đích thân Giám Đốc Nhân Sự, mà tất cả dường như chỉ để vị VIP ấy đừng đứng trên lầu nhảy xuống ngay hoặc nhảy xuống sau khi xả súng như ở Mỹ.

Việt Nam chưa hề quan tâm đến lĩnh vực hỗ trợ giảm stress như vậy. Tuy nhiên, có thể nói người Việt có thần kinh vững hơn các đồng nghiệp Âu Mỹ, nhờ những hoạt động tương tự như cúng sao giải hạn của họ. Vì tin vào các hạn, họ cúng sao. Để rồi sau thời gian một năm nếu bình an vô sự, họ thở phào nhẹ nhõm, nói rằng cái thành tâm khấn nguyện của họ đã động đến Đấng Thiêng Liêng khiến họ được thứ tha, dẫn đến các hành vi sẽ cố gắng tốt hơn, đàng hoàng hơn, làm việc thiện nhiều hơn, để kỳ sau không phải lo sợ nhiều như lần này. Hoặc nếu như vẫn phải hứng chịu những xui xẻo nào đó, họ cũng tự an ủi là bản thân nhờ có cúng sao nên mới chỉ bị xui như thế như thế chứ nếu không cúng chắc bản thân đã “lên bàn thờ” rồi. Cái thái độ đó, cái tâm thế đó, cho thấy xuất phát từ tâm lý tự tìm lấy cách giải tỏa những bất an căng thẳng một cách rất chủ động, và quả tổ tiên người Việt đã là những bậc thầy về tâm lý thay vì dạy bảo bằng những lời khuyên chẳng hạn như: “chúng mày nên giữ tâm lý cân bằng, tự tin, đừng để stress vì stress nguy hiểm lắm”, mà con cháu chưa chắc chủ động tích cực nhớ gì, họ đã đơn giản lồng ghép các thành quả nghiên cứu của các bậc kỳ tài trong thiên hạ về vị trí các vì sao trên trời vào những sinh hoạt tín ngưỡng vì không gì mạnh mẽ bằng một tâm lý biết kinh sợ trước các nội dung siêu nhiên mãi mãi sẽ không ai có thể giải thích được bằng khoa học ngay của muôn đời sau, và để cái kinh sợ ấy thành chất xúc tác và động năng cho một tích cực tu thân. Cúng sao giải hạn đã trở thành hoạt động phổ biến của đa số người dân Việt đạo đức, đạo hạnh, hiếu hạnh, hiếu thảo, tốt lành, tốt đẹp, chân thật, chân tình. Bảo cúng sao giải hạn là việc làm của kẻ xấu là một phát ngôn hoàn toàn láo xược xúc xiểm đến những cổ nhân Việt nhân hậu tốt lành nhìn xa trông rộng.

Không bao giờ có thể tưởng tượng trên đời lại có kẻ dám dạy rằng “người nào làm việc tốt, đạo đức tốt thì không bao giờ sợ hãi” vì rất ngây thơ và dại dột. Dù là chùa hay nhà thì vẫn luôn phải có các ổ khóa thượng hạng, phải luôn có sự đề cao cảnh giác. Má tôi là một phụ nữ nhân đức, chuyên bỏ việc nhà chạy đi cưu mang cứu giúp các sản phụ trong xóm. Nhưng Bà dạy đi dạy lại ngay từ khi chúng tôi còn nhỏ rằng: “Mấy đứa nhớ nhe:sau này đứa nào lấy vợ thì tuyệt đối không bao giờ cho bạn trai của mình vô ở trong nhà mình vì bảo đảm sẽ mất vợ, còn đứa nào lấy chồng thì tuyệt đối không bao giờ cho bạn gái của mình vô ở trong nhà mình vì chắc chắn sẽ mất chồng. Nếu mấy đứa bạn đó là bạn rất thân, vì gặp tai nạn nên đến gõ cửa xin ở trú qua cơn mưa bão thì đưa tiền cho nó ra khách sạn chứ dứt khoát không để nó vô ngủ trong nhà. Thà mất bạn thân và bạn tốt chứ không để mất vợ, mất chồng, mất con gái, mất mạng mình, mất mạng cả nhà”. Bà dạy thế vì ba lẽ cực kỳ đơn giản gồm (a) Ông Bà Ngoại đã dạy thế, (b) Bà đã thực sự chứng kiến những hậu quả xảy ra y hệt như vậy nơi những người hàng xóm và các bà bạn của Bà, và (c) Bà phải bảo vệ những đứa con quý báu của Bà. Chính vì bản thân tốt, người ta mới ra sức tự bảo vệ mình và sợ hãi các bất trắc có thể xảy đến cho mình và cho những người mình thương yêu hơn cả mạng sống của mình. Chỉ có xem bản thân là thứ vất đi, người ta mới buông xuôi, không biết sợ hãi là gì. Chỉ có thực sự yêu nước, nhà lãnh đạo quốc gia mới tăng cường an ninh biên giới bằng những vũ khí tối tân và các binh đoàn thiện chiến tức thiện nghệ trong tàn sát quân xâm lược. Chỉ có quân mãi quốc cầu vinh mới không dồn phần lớn nhất của ngân sách quốc gia cho an ninh quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang sao cho hùng mạnh nhất tức có năng lực giết giặc cao nhất và khủng khiếp nhất.

Cuối cùng, dịch vụ nào không phải trả tiền?

Ở Mỹ, học phí có luôn khoản để trả cho chuyên viên phụ trách tư vấn tâm lý ngay cả khi người ấy ngồi chơi xơi nước. Mời linh mục tới nhà làm phép trừ tà exorcism (vì thật sự sợ hãi, và cũng vì ma có thật) cũng phải trả tiền, dù theo phim ảnh thì linh mục nào đến giơ thánh giá ra đọc pháp chú trừ tà bằng tiếng La-Tinh cũng đều bị tà trừ. Mời sư đọc kinh đám tang cũng phải trả tiền. Chỉ có các sư ăn mặc giống trang phục sang trọng của diễn viên Đài Loan đóng vai Đường Tam Tạng chứ làm gì có nhà sư đạo hạnh “tụng kinh miễn phí” y như Trần Huyền Trang trong đời sống tín ngưỡng Phật Giáo ở Việt Nam! Và dịch vụ xoa dịu tâm lý miễn phí ngoài đường phố Mỹ thì cũng ở dạng…cho ôm một cái hugging, hoặc bỏ một USD vào thùng rồi ôm ngậm mút môi cô gái xinh đẹp mặc đồ cheerleader đứng sau thùng ấy. Thế nên chân lý luôn là: bỏ tiền mua lấy một tâm lý yên tâm cho một khoảnh khắc, một thời gian, là chuyện bình thường, chuyện đương nhiên, và chuyện lành mạnh. Suy ra, bỏ tiền cúng sao giải hạn (tương đương cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi) là một điều tuyệt đối chẳng nên chẳng làm, vì việc bỏ tiền như vậy rất tự nhiên, rất lành mạnh, rất đúng trên phạm vi toàn cầu vì toàn cầu còn khuya mới có Trần Huyền Trang tái thế đầu thai xuống Việt Nam, vừa giúp giải tỏa stress, vừa nhắc nhở con người nhớ đến những tập quán tốt của mẹ cha, mà chỉ có các sư tà tâm mới làm nó dung tục qua việc bày vẽ đòi hỏi đồ cúng ngập đầy kèm tiền cúng từ thiện nam tín nữ nào muốn cúng sao giải hạn bất kể đó là cúng cho mẹ cha già yếu hay cho bản thân sao cứ miệt mài gieo Nhân cực tốt mà chuyên gặt toàn Quả đắng.

 

Nam-mô A-Di-Đà Phật.

Lăng-Tần Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cúng sao giải hạn chẳng khác gì vung tiền mua sự an ủi. 24-02-2018. https://baomoi.com/cung-sao-giai-han-chang-khac-gi-vung-tien-mua-su-an-ui/c/25040036.epi

Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo  24-10-2017

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis 01-8-2017

Letter to His Holiness Pope Francis 01-8-2017

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-02-2016

 TCThien

Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Tiến Sĩ, Nghị sĩ Khóa XII và Khóa XIII thuộc đoàn Đại biểu Quốc hội Thừa Thiên – Huế, là một nhà sư uyên bác.

Nếu thiên hạ có ai cho rằng đã tu hành thì không “làm chính trị” thì đó chưa là nhận xét chính xác vì (a) điều đó chỉ đúng nếu như là lời nên dành cho các nhà tu hành của “phe” Phật Giáo Ấn Quang hay Việt Nam Quốc Tự thời Việt Nam Cộng Hòa đã từng đấu súng gây đổ máu chốn sân chùa ở Sài Gòn khi tranh giành quyền lực khuynh đảo chính trị, hoặc “phe” Vinh Sơn thời Việt Nam vừa thống nhất khi các linh mục đấu súng sát hại chiến sĩ công an Việt Nam cộng sản trước sân nhà thờ tại Thành phố Hồ Chí Minh; và vì (b) thuật ngữ “làm chính trị” đã được bổ sung ý nghĩa mới với thực tế Việt Nam: đó là “làm chính trị” ngoài ý nghĩa chính quy với tư cách nhà chính trị tham chính tức “chính khách truyền thống” có quyền uy trị quốc, còn được bổ sung thêm nội hàm “làm chính trị” với tư cách “chính khách kiểu Việt” mang trách nhiệm tư vấn trị quốc qua việc chấp nhận làm việc không hưởng lương, không quyền uy trị quốc, chỉ sử dụng thời gian, trí tuệ và lòng thành tâm vì nước vì dân trực tiếp đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật cho quốc thái dân an cũng như tham gia quyết định các việc trọng đại của đất nước theo luật định. Và với tư cách cùng tư thế một “chính khách kiểu Việt”, Thầy Thích Chơn Thiện đã là minh chứng cho tinh thần “nhập thế” của Đức Thích Ca Mâu Ni gắn liền Đạo, Ngộ Đạo, và Hành Đạo với giáo hóa chúng sinh, xây dựng cuộc đời tốt đẹp cho cuộc sống chúng sinh, chứ không “xuất thế” chỉ lo tu thân, phó mặc chúng sinh.

Thầy là nghị sĩ dễ mến, khoan hòa, thân thiện, và trí tuệ, nên bất kỳ ai cũng thích trò chuyện với Thầy nhất là khi bàn về những nội dung hàn lâm triết học.

Năm 2011, báo chí Âu Mỹ liên tục nói đến hình thức chính trị mới mà họ dán nhãn “tốt đẹp tương tự chủ nghĩa xã hội” sau hơn một tháng Chiến Dịch Chiếm Lấy Phố Wall xuất phát từ New York đã lan ra nhiều chục thành phố khắp nước Mỹ, đồng thời dấy lên các phong trào “Chiếm Lấy” khắp các quốc gia tư bản chủ nghĩa, làm lung lay tận gốc rễ nền móng của chủ nghĩa tư bản, đến độ ngay cả Tổng thống Mỹ khi chớm ý tăng thuế các nhà đại tư bản để tự cứu sự sụp đổ của chính phủ và đáp ứng nhu cầu tiền cho phúc lợi xã hội cho dân nghèo theo kiểu chàng thảo khấu Robin Hood, cũng phải cố dùng từ “cân đối toán học” rồi tự biện luận đây chẳng dính dáng gì đến “đấu tranh giai cấp”, cũng cho thấy quá rõ là Obama cùng giới tư bản sợ chết khiếp trước bất kỳ thứ gì dễ gợi cho người dân Mỹ khi bị bóc lột đến độ bần cùng sẽ liên tưởng đến … đấu tranh giai cấp của học thuyết cộng sản chủ nghĩa. Vậy thì cái chủ nghĩa xã hội giới cầm quyền Mỹ luôn ghét bỏ nhưng đang trở thành giấc mơ của dân chúng nước họ có phải là chủ nghĩa xã hội đồng nhất thể giống nhau khắp nơi khắp chốn bất di bất dịch, hay sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội mang tính cá biệt, đặc thù dân tộc, và không ngừng tự điều chỉnh? Hòa thượng Thích Chơn Thiện cho rằng có sự cần thiết phải xây dựng được l‎ý thuyết xã hội chủ nghĩa của riêng Việt Nam. Tôi rất tâm đắc trước lời phán của Thầy, vì bản thân tôi hàng chục năm nay đã luôn ghi trên các trang mạng quốc tế chi tiết khuynh hướng chính trị của tôi là “cộng sản chủ nghĩa dân tộc thiên Khổng”, nghĩa là tôi cho rằng không bao giờ có cái chủ nghĩa cộng sản đại đồng, không bao giờ có xã hội cộng sản đại đồng, mà chỉ có chủ nghĩa cộng sản ý thức hệ mà theo đó các nước dù theo ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa vẫn chỉ luôn đặt quyền lợi của riêng dân tộc mình là trên hết, và ở Việt Nam khi chủ nghĩa yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã thành một nét chấm phá điểm tô cho sức mạnh của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, khẳng định yếu tố dân tộc để tách bạch khỏi khuynh hướng giáo điều xơ cứng hoàn toàn không phù hợp với bản chất Việt, cũng nên hòa trộn với các nền tảng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của tư tưởng Khổng Tử đề cao đạo đức cá nhân đối với bản thân, gia đình, xã hội, như nền tảng cơ bản của các thành tố nhân lực hùng mạnh của quốc gia.

Từ hành trạng tư duy cá nhân như trên và từ những lời minh triết của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, tôi cho rằng dù dân Mỹ có chiếm lấy toàn nước Mỹ chứ không chỉ “chiếm lấy Phố Wall”, xã hội Mỹ vẫn khó thể dựng xây một thể chế chính trị mới theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà báo chí Mỹ liên tưởng, không chỉ vì không bao giờ có thể xảy ra việc vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ, mà còn vì mô hình ấy đã biến dạng, phân nhánh thành nhiều “đẳng cấp” khác nhau, mà mô hình đẳng cấp kiểu Việt có thể đang là:

 CThien2

mà chính do 8 điều dị biệt trên mà Mỹ lâm vào ngõ cụt không thể nào hiện thực hóa được giấc mơ xã hội chủ nghĩa của đa số người dân Mỹ, giúp các nhà tư bản Âu Mỹ dù đang dẫy dụa bên bờ vực sâu hoắm của sự hư mất muôn đời vẫn còn có thêm thời gian vừa đủ để dẫy nẫy nói lớn tiếng tự an ủi với nhau – chứ không với dân chúng của phong trào Chiếm Lấy Phố Wall – rằng: “Thấy chưa, chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản đâu phải là thứ có thể đặt dấu chấm hết cho bọn ta!”

Thầy Thích Chơn Thiện là một nhà tu hành nhập thế theo phong cách “chính khách kiểu Việt” điển hình với trí tuệ của một nhà thần học uyên bác, hiểu biết rõ nhất về duyên nghiệp của chính trị và thể chế chính trị nước nhà, mà điều tối thượng là chúng sinh ở chính đất nước Việt Nam này được các “chính khách truyền thống” Việt Nam đặt lên hàng đầu của vì nước vì dân trong đại cuộc trị quốc bình thiên hạ, mà ý kiến của Thầy khi trả lời phỏng vấn như sau, đã nói bật rõ nhất về (a) chính xác tư tưởng Thích Ca Mâu Ni “làm chi có thượng đế”, và (b) tâm thế của Thầy:

******

Hòa Thượng Thích Chơn Thiện Nói Về Khủng Hoảng Thương Mại Tài Chính Và Lý Thuyết Xá Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(Thực hiện phỏng vấn : Phạm Thúy, Báo Đại Biểu Nhân Dân, số ra ngày 24-10-2011)

Thế giới đang khủng hoảng về thương mại, tài chính, vì những lý thuyết kinh tế đã cũ kỹ và lạc hậu rồi. Thế giới phải cùng nhau nghĩ ra một lý thuyết mới và phải đi từng bước, từng bước, giống như hai bình thông nhau để càng ngày càng cân bằng thì khi đó mới có một lý thuyết hài hòa và hoạt động của khu vực và thế giới mới quân bình được. Cái này gọi là lý thuyết mới về kinh tế, lý thuyết mới về xã hội và cả lý thuyết mới về pháp luật nữa. Lý thuyết mới đó thực sự phải đi vào hướng hòa hợp và hợp tác. Bởi vì chỉ có hòa hợp và hợp tác mới có thể tạo được sự ổn định bền bỉ của nền kinh tế cũng như an ninh của thế giới được.

Việt Nam cũng phải xây dựng được lý thuyết của mình – lý thuyết của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Khi thế giới đưa ra lý thuyết về cộng sản quốc tế thì Hồ Chủ tịch đã bổ sung thêm vào đó chủ nghĩa yêu nước. Thành công của cuộc cách mạng Việt Nam sau này Đảng kết luận đó là phần đóng góp của Việt Nam vào chủ nghĩa xã hội quốc tế. Hướng xã hội chủ nghĩa là đúng hoàn toàn, biện chứng là đúng. Nhưng thời điểm đó, biện chứng của Hegel cũng là đúng nhưng Hegel không tìm ra sự thật, mệt mỏi quá mà đi về duy tâm. Đến Marx thì chuyển qua duy vật nhưng nhớ rằng, tất cả vật chất dưới dạng năng lượng trong mối tương quan ghê gớm lắm. Vậy nên có cả tâm cả vật. Phải dung hòa được cả hai. Việt Nam có sự dung hòa đó nên chủ nghĩa xã hội vào được. Từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cho thấy ý thức cộng đồng của người Việt Nam rất lớn, 50 con lên núi, 50 con xuống biển, khi hữu sự thì đoàn kết, tập hợp lại để lo giải quyết. Ngay từ đầu, chúng ta đã đề cao tinh thần cộng đồng, đoàn kết, lòng vị tha, tình thương, sự cảm thông. Tinh thần đó loại trừ tính vị kỷ. Như vậy, ngay từ đầu, ta đã có cơ sở để đi vô chủ nghĩa xã hội. Năm 1946 mở đầu Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố: mọi người sinh ra đều bình đẳng là bởi dựa vào thực tại và thực tại đó là thực tại chính nó, là thật chứ không phải là ngôn ngữ, không phải là duy ngã. Khi đi vô ngôn ngữ là đặt tên, tách sự vật, con người ra khỏi thiên nhiên. Phương Tây khủng hoảng là vì tư duy tách con người độc lập với thiên nhiên và chế ngự thiên nhiên. Thực ra con người phải hòa mình với thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Đó là triết lý của Việt Nam. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại: mọi người sinh ra đều bình đẳng. Dựa vào đâu để nói điều này? Là dựa vào yếu tố quyết định giá trị mọi vật là thực tại trôi chảy khi ngôn ngữ chưa xen vào, chưa can thiệp vào. Tôi với chị đang ngồi như thế này là thực tại đang trôi chảy. Thực tại không phân biệt chị riêng, tui riêng mà nằm trong hoạt động cảm thông, có sự chan hòa, cảm thông. Đó là lý thuyết của mình. Từ cái gốc đó mới giải quyết được mọi vấn đề. Quốc Hội cùng với Đảng phải tìm ra lý thuyết riêng của mình. Cái gốc là con người và thực tại chứ không có đấng thượng đế nào can thiệp vào được. Làm chi có thượng đế. Trong khoa học là nhân quả. Lý thuyết đạo Phật cũng là nhân quả. Nhân quả là gì? Là một sự vật vừa là nhân vừa là quả. Khi hắn là quả rồi thì đâu có là nguyên nhân đầu tiên được nữa, hắn là kết quả của những cái khác, trong mối tương quan chặt chẽ, có cái trước đâu mà có cái trước nhất. Tương quan hoàn toàn. Vũ trụ khoa học cũng tương tự như vậy, tương quan hoàn toàn. Einstine nói chỉ có đạo Phật mới gặp gỡ được với khoa học là nói thế giới hoàn toàn tương quan.

Con người không bị nô lệ bởi những ý niệm hiện tượng, sống thực sự với cuộc sống và chất liệu sống, sống thực, sống mạnh, sống nhiều chứ không phải là sống bằng ý niệm. Không phải nghĩ về, nói về sống mà là sống với… Còn để ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ đánh giá mọi thứ, nó chi phối sự vật, chia tách, phân biệt rõ ràng cá thể rồi dục vọng mới sinh ra, mới dẫn đến việc đi xâm lược… thành thử làm sao thế giới yên được. Thế giới phải đoàn kết và cùng nhau ngồi lại để bàn. Còn Việt Nam mình thì Quốc Hội Khóa XIII và các Khóa tới nữa cũng đi tới như thế, thực hiện đường hướng của Đảng bằng những nghị quyết, những đạo luật chế ngự lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Phải làm thật, làm cho đến nơi. Ví dụ vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng là làm thực sự, cứ làm những việc đó chứ không có lý thuyết gì cả, nó là như vậy, đi vô thực tại làm vì dân. Rứa là được, là đúng lý thuyết mình nói chứ không có gì trừu tượng cả ”.

******

Tinh thần nhập thế của Nghị Sĩ Thích Chơn Thiện giúp bừng tỏ đạo lý cao vời của Phật pháp.

Con kính chúc Thầy sức khỏe, vạn an.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

hhp 2016

An Thiện Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chống Cộng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong tiếng Anh, tiếp đầu ngữ (prefix) anti được thêm vào trước từ nào là có ngay từ mới mang ý chống lại, ngược với, nội dung của từ ấy (chưa kể anti mang cả nghĩa “thay thế”, chẳng hạn Christ là Chúa Jesus và Anti-Christ được dùng hai lần trong Kinh Thánh mang nghĩa kẻ giả danh Chúa và do đó “cùng phe” với “quỷ”). Vì vậy, thế giới Âu Mỹ mới có các từ anticapitalism, antiglobalism, antisocialism,và antiterrorism (còn được viết theo cách anti-capitalism, anti-globalism, anti-socialism, anti-terorism) mà người Việt do áp đặt một từ duy nhất là “chống” cho đầu anti cộng với một từ duy nhất là “chủ nghĩa” cho đuôi ism nên dịch thành chống chủ nghĩa tư bản, chống chủ nghĩa toàn cầu hóa, chống chủ nghĩa xã hội,chống chủ nghĩa khủng bố. Đây là cách dịch sai vì nếu chủ nghĩa là một triết thuyết thì không bao giờ có những cái chủ nghĩa vừa nêu ấy.

Bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm – kể cả trang mạng hàn lâm – của các giáo sư tiến sĩ từ Novara, Oxford, Portoroz, Bern, Punaauia đến Zürich, v.v., về những nỗi muộn phiền đối với những vấn đề tư duy từ hai thế kỷ nay liên quan đến các tranh luận có trọng tâm chính trị và xã hội nhưng theo cùng khuôn khổ xơ cứng khiến tư duy cứ như trong vòng tròn lẩn quẩn dẫn đến sự nghèo nàn dẫm chân tại chỗ của các ngành khoa học xã hội và nhân văn – như trong trường hợp của chính trị học, xã hội học, và kinh tế học. Nếu dựa vào sự tranh luận hàn lâm của các bậc học giả uyên bác này đối với duy chỉ bốn nhóm đối kháng của Capitalism – Anticapitalism, Globalism – Antiglobalism, Socialism – Antisocialism, và Terrorism – Antiterrorism qua các biên khảo về Các Hình Thái Chủ Nghĩa Nhà Nước thì người ta hoàn toàn không thấy có thêm nhóm nào đứng hàng thứ năm để mang dòng chữ Communism – Anticommunism (tiếng Việt luôn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản và Chống Chủ nghĩa Cộng sản gọi tắt là Chống Cộng) cả.

Trước khi nói về “Chống Cộng”, tôi xin lướt qua về một số khái niệm vừa hàn lâm vừa thực tế lịch sử vừa về ngữ nghĩa chính xác của các thuật ngữ trên như sau, còn nội dung thuần triết học sẽ được đào sâu trong một bài viết khác:

1- Từ “Capitalism” (tiếng Việt hay dùng: “Chủ nghĩa tư bản”) thuộc phạm trù kinh tế chứ không phải thuần chính trị, và không do bất kỳ ai trong ba nhà kinh tế lừng danh của lịch sử nhân loại là Adam Smith, David Ricardo và Karl Marx sáng tạo ra – cho dù Karl Marx trong các tác phẩm vĩ đại của mình thường xuyên dùng các từ “capital” (tư bản) và “capitalist” (nhà tư bản). Cha đẻ của từ capitalism được cho là Werner Sombart qua tác phẩm tựa đề Der Moderne Kapitalismus (Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại) ấn hành năm 1902, nói về căn nguyên của “chủ nghĩa” tư bản từ thời cổ xưa cho đến tận ngày nay, mà ông đã chú giải như một hình thái tổ chức kinh tế trên cơ sở trao đổi theo đó hai nhóm người khác nhau gồm chủ nhân ông của các phương tiện sản xuất và các người lao động không có của cải cùng hợp tác với nhau trong quy trình sản xuất có sự tham dự của thị trường. Từ Capitalism sau đó cũng được ông sử dụng trong các tác phẩm khác như Der Bourgeois năm 1913, v.v.

2- Từ Anticapitalism: người Việt đã dịch sai thành Chống Chủ Nghĩa Tư Bản vì đây hoàn toàn không phải phong trào mang tính ý thức hệ chính trị do các lãnh đạo cộng sản hay những người thân Cộng tạo ra hay xách động, mà những vị này cũng không chống cái gọi là chủ nghĩa tư bản như một thể chế chính trị đối kháng, hoặc như một hệ thống triết thuyết. Anticapitalism được ví như tương đồng với Neo-mercantilism (Tân “Chủ nghĩa” Trọng Thương) và xuất phát từ nội tình chính các nước tư bản. Các cuộc xuống đường bạo loạn căng thẳng ở các nước Tây Âu vài năm qua đều căng biểu ngữ Anticapitalism để chống việc nhà nước bỏ tiền ra cho EU…cưu mang mấy nước thành viên lụn bại phá sản về kinh tế, hoặc khi bị sa thải hàng loạt khiến mất công ăn việc làm. Họ nào có chống cái gọi là chủ nghĩa tư bản. Họ chống chuyện ruồi bu vác tù và hàng tổng của nhà nước.

3- Từ Antisocialism: người Việt đã dịch sai thành Chống Chủ Nghĩa Xã Hội vì đây hoàn toàn không phải phong trào mang tính ý thức hệ chính trị do các nhúm chống chủ nghĩa cộng sản tạo ra hay xách động, mà những vị này cũng không tài cán gì về phương diện hàn lâm để có thể đẻ ra bất kỳ học thuyết dày cộm nào hầu chống lại một chủ thuyết tầm cở như Chủ nghĩa Cộng sản hay…Chủ nghĩa Xã hội. Socialism và Anti-socialism chỉ là sự đối kháng suốt hai thế kỷ XIX và XX giữa các đảng cánh tả và cánh hữu chốn nghị trường quốc hội các nước tư bản. Socialsim khi mang tính thể chế nhà nước độc đoán thì lại liên quan đến các nước tư bản Phát-xít Ý (Italian Fascism) và Quốc Xã Đức (German National Socialism – Chủ Nghĩa Xã Hội Quốc Gia Đức). Ngay tại Hà Lan, phong trào phát-xít của Anton Mussert cũng mang tên Nationaal-Socialistische Beweging. Do đó, từ socialism này rất khác với chủ nghĩa xã hội socialism của Việt Nam. Vậy, Anti-socialism là chống mấy anh tư bản phát-xít và quốc xã hay chống anh cộng sản mà phát-xít và quốc xã đã ra tay tàn sát nhưng thất bại chua cay? Lịch sử hiện đại của hình thái chủ nghĩa nhà nước tại Châu Âu có nêu cặp đối kháng giữa socialismfascism, cho socialism cái danh well-mannered statism (chủ nghĩa nhà nước tốt, “biết điều”) và gán cho fascism cái tên violent statism (chủ nghĩa nhà nước bạo lực). Như vậy có thể kết luận: các nhóm chống Cộng ở hải ngoại chỉ chống phát-xít và quốc xã, chứ không chống Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì chỉ có kẻ ngu đần mới chường mặt ra thanh thiên bạch nhật giương biểu ngữ chống nhà nước well-mannered.

4- Từ Antiterrorism: người Việt đã dịch thành Chống Chủ Nghĩa Khủng Bố. Có điều thú vị là từ terrorism (chủ nghĩa khủng bố) được phe Âu Mỹ sinh ra để dùng thay thế từ commmunism (chủ nghĩa cộng sản) do thấy từ communism không còn có thể bị họ tiếp tục bôi bẩn với các ý nghĩa tàn bạo, cực đoan, hà khắc, lạc hậu, và thất bại, vì sự thật đã hoàn toàn ngược lại: (a) có những quốc gia cộng sản quá hùng mạnh về kinh tế và khoa học, (b) có những quốc gia cộng sản đã hết là cộng sản nhưng Âu Mỹ vẫn chống tới cùng, (c) có những quốc gia cộng sản vẫn đang là cộng sản nhưng có khả năng là những đồng minh đáng nể, và (d) có những quốc gia tư bản trở thành khủng khiếp đối với thế giới Âu Mỹ. Điều này cho thấy Âu Mỹ đã không bao giờ còn dùng đến từ “chống Cộng”. Và trên cơ sở ngữ nghĩa hiện đại của từ ngữ mới toanh terrorism thì giới học giả Âu Mỹ cho rằng việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima (80.000 người chết) và Nagasaki (40.000 người chết) rõ ràng là hành động khủng bố, ngay cả việc rải mưa bom giết người như rạ ở Coventry (Anh Quốc) và Dresden (Đức Quốc) trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng bị gọi đích danh là hành động khủng bố, bất kể đó là do sự tấn công của Đức hay của Mỹ và đồng minh Mỹ dội vào Đức. (Ghi chú thêm về từ gốc Terror tức khủng bố trong tiếng Anh: lịch sử từng dùng từ này như Thời Khủng Bố từ 9-1793 đến 7-1794 tại Pháp đã xử tử 17.000 người theo thống kê chính thức, không kể vô số chết trước khi xét xử; và Cách Mạng Hoa Kỳ cũng không thoát được danh Khủng Bố trong thế giới sử).

Như vậy, có thể nói rằng

1- Chủ nghĩa Cộng sản không nằm trong 4 nhóm đối kháng của các học giả hàn lâm Âu Mỹ nên không có đối trọng của nó là Chống Cộng.

2- Chủ nghĩa Cộng sản không là một hình thái cai trị của nhà nước mà là một đối trọng về kinh tế mới hơn so với hình thái kinh tế tư bản đã có từ lâu trước đó và bộc lộ nhiều khiếm khuyết

3- Thế giới Âu Mỹ không còn chống Cộng vì đã nhận ra (a) nhờ những đấu tranh giai cấphạch tội trong biện thuyết của Karl Marx mà thế giới tư bản rút kinh nghiệm để trở nên tốt đẹp hơn; (b) những miêu tả tiêu cực về phe cộng sản như khát máu, lạc hậu, cực đoan, hà khắc, v.v. đã được chứng minh là sai hoàn toàn; (c) một nước cộng sản dù trở thành tư bản như Nga vẫn mãi là đối thủ Âu Mỹ phải tiêu diệt, vì vậy trên thực chất chỉ có Chống Nga chứ không có Chống Cộng; và (d) chủ nghĩa cộng sản thuộc phạm trù ý thức hệ, do đó chỉ được chống bởi một hệ thống triết thuyết mới hơn, trong khi lãnh đạo Âu Mỹ vừa không thể có khả năng sản sinh ra bất kỳ học thuyết kinh tế mới nào khác, vừa không ngu để ủng hộ sự sinh sản chủ thuyết kinh tế mới nào đó vì nó đồng nghĩa với việc chống cả chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản.

Các nhóm đang tồn tại ở hải ngoại chống Cộng sản Việt Nam phải có can đảm đổi tên thành Chống Việt Nam cho giống với Mỹ Quốc chống Nga chứ không còn chống Cộng sản Nga.

Phải đổi tên vì muốn chống Cộng sản phải có đủ tài trí sản sinh ra một học thuyết kinh tế ưu việt mới để chống lại hệ tư tưởng của Karl Marx. Chống Cộng sản nào phải là vác loa và viết blog nheo nhéo chửi rủa cộng sản, dựng chuyện điêu ngoa bôi nhọ cộng sản. Chống Cộng sản là công việc độc quyền của các triết gia và các nhà kinh tế học ngấp nghé giải Nobel, không bao giờ là của những người không thuộc hàng học giả và chỉ biết chửi tục. Phải can đảm vì khi đổi tên thành Chống Việt, cả thế giới sẽ nhạo báng rằng người Việt mà chống nước Việt thật quả là sự suy đồi tâm thức chỉ có nơi người gốc Việt. Phải đổi tên vì đừng để Âu Mỹ ra tay trừng phạt nhằm diệt trừ hậu hoạn vì tưởng lầm rằng những người chống Cộng ắt đang manh nha cái gọi là học thuyết kinh tế ưu việt mới nhằm lật đổ ngay cả các thể chế kinh tế chính trị hiện nay của các cường quốc Âu Mỹ.

Phải ngưng ngay các cụm từ rẻ tiền, lạc hậu, quê mùa, luôn được các cụ già hải ngoại chống Cộng dùng như điêu linh, khát máu, lạc hậu, bần cùng, tàn ác, v.v., để đừng chọc giận Mỹ vì Mỹ bảo các cụm từ đó Mỹ dành độc quyền cho Khủng Bố, và vì Mỹ đã nhận ra cái tốt đẹp, chơi được, của các nước cộng sản thuộc hình thái nhà nước tốt đẹp biết điều well-mannered statism.

Chống Cộng đã không cón tồn tại trong thế giới văn minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế