Category Archives: Y Tế

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Vận Động Hành Lang Cho Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2018

ScreenShot326

Vận Động Hành Lang là sinh hoạt công (khai) chính (đáng) chốn Nghị Viện trên toàn thế giới. Và tôi, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước của Khóa XIII, là người đầu tiên không chỉ ở 10 sinh hoạt công chính lồ lộ như

(a) Nghị sĩ đầu tiên phát biểu chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình;

(b) Nghị sĩ đầu tiên thuộc phe “tiểu thiểu số” (tự ứng cử)  phát biểu chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình;

(c) Nghị sĩ đầu tiên của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ;

(d) Nghị sĩ đầu tiên thuộc phe “tiểu thiểu số” (tự ứng cử) của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ;

(e) Nghị sĩ đầu tiên của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố;

(f) Nghị sĩ đầu tiên thuộc phe “tiểu thiểu số” (tự ứng cử) của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố;

(g) Nghị sĩ đầu tiên của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố; đã tiếp tục khinh khỉnh hiên ngang tồn tại ngạo mạn ngạo nghễ đến hết nhiệm kỳ và ra tay trừng phạt bằng cách công khai mắng chưởi nguyền rủa báo chí chính thống Việt Nam cho đến tận ngày nay;

(h) Nghị sĩ đầu tiên thuộc nhóm “tiểu thiểu số” (tự ứng cử) của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố; đã tiếp tục khinh khỉnh hiên ngang tồn tại ngạo mạn ngạo nghễ đến hết nhiệm kỳ và ra tay trừng phạt bằng cách công khai mắng chưởi nguyền rủa báo chí chính thống Việt Nam cho đến tận ngày nay; và cũng là

(i) Nghị sĩ đầu tiên của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố; đã tiếp tục khinh khỉnh hiên ngang tồn tại ngạo mạn ngạo nghễ đến hết nhiệm kỳ và ra tay trừng phạt bằng cách công khai mắng chưởi nguyền rủa báo chí chính thống Việt Nam cho đến tận ngày nay; và cũng đã chứng minh năng lực tiên tri thấu thị của một Nhà Lập Hiến và Nhà Lập Pháp duy nhất của Việt Nam thành công trong ngăn chặn hiệu quả tuyệt đối sự ra đời của cái gọi là Luật Biểu Tình trong toàn bộ Khóa XIII (2011-2016) kéo dài cho đến tận ngày nay; đồng thời cũng là

(j) Nghị sĩ đầu tiên thuộc nhóm “tiểu thiểu số” (tự ứng cử) của toàn bộ lịch sủ Quốc Hội Việt Nam ngay sau khi phát biểu xong chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” với giọng sấm sét rền vang, nội dung hùng biện dữ dội đập đỗ hoàn toàn ngay tại Nghị Trưởng luận cứ hối thúc hình thành Luật Biểu Tình, đã được gần 500 nghị sĩ vỗ tay hoan nghênh ủng hộ; sau đó đã bị liên minh đoàn kết chặt chẽ của báo chí chính thống Việt Nam phối hợp với báo chí Chống Cộng hải ngoại cùng báo chí du thủ du thực ăn mày ăn xin đầu đường xó chợ tập trung tấn công, đe dọa, làm nhục, bôi nhọ, khủng bố; đã tiếp tục khinh khỉnh hiên ngang tồn tại ngạo mạn ngạo nghễ đến hết nhiệm kỳ và ra tay trừng phạt bằng cách công khai mắng chưởi nguyền rủa báo chí chính thống Việt Nam cho đến tận ngày nay; và cũng đã chứng minh năng lực tiên tri thấu thị của một Nhà Lập Hiến và Nhà Lập Pháp duy nhất của Việt Nam thành công trong ngăn chặn hiệu quả tuyệt đối sự ra đời của cái gọi là Luật Biểu Tình trong toàn bộ Khóa XIII (2011-2016) kéo dài cho đến tận ngày nay;

 

mà còn ở các sinh hoạt công chính bí mật trong đó có cuộc vận động hành lang cho Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến như kể dưới đây.

 

Là người nghiêm túc nghiêm trang nghiêm khắc nghiêm nghị ngay từ lúc học lớp mẫu giáo cho đến tận ngày nay, tôi luôn nguyền rủa, khinh miệt các bỡn cợt, cớt nhã dù trong ngôn từ hay hành động hành vi; và khi lớn lên biết nguyền rủa, khinh miệt những hành vi hành động phản dân hại nước của giới tham quan ô lại cầm quyền.

Là nhà hùng biện chính đạo bẩm sinh, tôi tuyệt đối ít nói, chỉ phát biểu trường thiên khi cầm micro nói trước đám đông không được dưới 100 người như đã luôn thể hiện tại tất cả những nơi tôi thuyết trình hay làm việc. Cứ mỗi 100 chuyến xe đi chung với Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh thì có tối đa một lần tôi có mở miệng trả lời một câu hỏi hình như là “Sáng nay sao không thấy anh xuống canteen ăn cơm?” (Tất nhiên, câu trả lời ngắn gọn hình như là “hơi mệt” dù trong đầu có lời đáp khác dài hơn một tí là “tôi không ưa ăn chung với Đoàn”).

Vì ít nói, mỗi khi dự yến tiệc tại các cơ quan Trung Ương và các Bộ ở Hà Nội, tôi chỉ thưởng thức sơn hào hải vị, lắng nghe và quan sát.

Vào trước kỳ họp chót Nhiệm Kỳ Khóa XIII trong Quý I năm 2016 ở Hà Nội, tôi nắm được các thông tin “truyền khẩu” nội bộ rằng đang có sự vùng lên chạy chọt của các Thứ Trưởng Bộ Y Tế để được một ghế trong Trung Ương Đảng để nắm chắc chức Bộ Trưởng Y Tế nhiệm kỳ mới dưới trướng vị “Tân Thủ Tướng” do Quốc Hội Khóa XIII trong đó có tôi bỏ phiếu bầu lên. Tất nhiên, các Thứ Trưởng này có hai thế mạnh gồm (a) Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã phải đối mặt với biết bao sự việc tiêu cực của ngành y tế mà Bà là Tổng Tư Lệnh phải chịu trách nhiệm và hứng chịu gạch đá của phe “tổng hợp ta+thù+lạ” như đã nêu ở trên, và (b) sự tấn công của báo chí truyền thông chính thống dành cho Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến những quả đấm cứng hơn thép.

Trước tình hình “dầu sôi lửa bỏng” trên, tôi quyết định phải ra tay vì nước vì dân bằng cách dù chưa hề nói chuyện với Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, tôi vẫn:

1) Tự mình đăng ngay blog bài viết hết mực công tâm về Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, nêu những tình thế và tình huống Bà phải đơn phương độc mã chống đỡ giữa đám đông chức sắc bất tài, vô dụng, vô trách nhiệm lúc nhúc quanh Bà, mà tôi có bằng chứng từ những chịu đựng của cô em gái út của tôi lúc đó đang là một chủ doanh nghiệp ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

2) Tự mình gởi ngay đường link bài viết trên cho tất cả các nghị sĩ nào đã tập hợp quanh tôi ngay sau khi tôi trở thành nghị sĩ như kể ở các phần a, b, c, d, e, f, g, h, i, j ở trên, nhắn họ chuyển tiếp cho các nghị sĩ khác trong các nhóm địa phương của họ.

3) Tự mình tiến hành trò chuyện tại hành lang vào giờ trước họp/giải lao/sau họp hay vào ngày nghỉ với càng nhiều nghị sĩ càng tốt về hai nội dung rằng (a) đa số các vị Thứ Trưởng là quân bất tài vô trách nhiệm vì nếu có tài và có trách nhiệm thì đã không để xảy ra các bầy hầy khiến Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến phải đơn thương độc mã hứng chịu các búa rìu dư luận; rằng (b) đa số các vị Thứ Trưởng là quân vô hạnh vì mỗi khi chiêu đãi Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh là hay bưng rượu lã lơi ngã ngớn đến cụng ly cụng chén với các nữ nghị sĩ; rằng (c) các vị Thứ Trưởng mà lên làm Bộ Trưởng thì tiêu tan tiêu tùng nền Y Tế nước nhà; rằng (d) chính Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến mới là người nên được cho thêm một nhiệm kỳ trên cơ sở chính Bà đã rõ đâu là những khâu yếu nhất của Bộ, đâu là đòi hỏi khắc nghiệt của phục vụ y tế toàn dân để tập trung chấn chỉnh đáp ứng kỳ vọng, và trên hết là Bà phải nổ lực vì danh dự của Bà đã bị xúc phạm mà Bà phải hoặc chuộc lỗi hoặc chứng minh qua cơ hội cuối cùng này thanh danh đạo đức tài năng của Bà luôn ngời sáng.

Kết quả: Không bất kỳ ai ở Bộ Y Tế được trúng cử vào Trung Ương Đảng, và Bà  Nguyễn Thị Kim Tiến tiếp tục làm Bộ Trưởng Y Tế nhiệm kỳ mới của Quốc Hội Khóa XIV.

Khi thấy tôi lúc tan họp chậm rãi chống gậy ra về và được Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến cầm tay dìu đỡ bước xuống các bậc tam cấp trơn trợt sau cơn mưa để ra xe, một nghị sĩ Đoàn Hà Nội đã nói vui sau đó với tôi rằng: “Bộ Trưởng quý lòng tốt ủng hộ của anh lắm đấy!” Và tôi đã đáp ngay: “Không đâu! Chị ấy xem tôi như một người dân yếu thế mà Chị quen gặp mỗi ngày do chức nghiệp cứu người của Chị ấy. Chị đích thân đỡ dìu tôi ra xe thay vì kêu viên sĩ quan cận vệ, là vì Chị ấy là một vị y sĩ.. Thế còn anh có sẵn lòng giúp cho tôi tỳ lên cánh tay anh để lên lầu họp ngày mai không?”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII

Tham khảo:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến 15-02-2016

Ghi chú:

Với tâm đoan chính vì nước vì dân, khi tôi bị trò gian manh gian lận gian trá loại khỏi buổi hiệp thương bầu cử Quốc hội Khóa XIV, dù sau đó em gái út của tôi bị thói quan liêu và cung cách tổ chức xằng bậy mọi rợ của Cục Quản Lý Dược hành hạ cho điêu đứng,  tôi vẫn không hề “cầu cứu” Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, đến độ cuối cùng em gái tôi phải uất ức mà đóng cửa công ty, trả lại giấy phép kinh doanh, dù đã hơn 5 năm hoạt động với bao tâm huyết.

Advertisements

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2017

(Bài này đã đăng trên Emotino ngày 29-3-2010, tại http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-3-2010

Cách nay gần 20 năm tức khoảng năm 1990, ngay khi lần đầu đọc thấy có bài viết về cái gọi là “rượu tỏi” trên các báo và tạp chí liên quan đến thuốc và sức khỏe của Việt Nam  – và gần đây thấy trên trang web của Bộ Y Tế cũng có trích đăng lại nguyên văn bài “rượu tỏi” ấy – tôi đã thấy có rất nhiều những điều khả nghi, nay xin ghi lại để bạn đọc tỏ tường, đồng thời cung cấp thêm nhiều chi tiết quan trọng khác có liên quan đến “rượu tỏi”.

A) Những Điểm Khả Nghi

1- Thời điểm xuất hiện bài viết về “rượu tỏi” trùng với giai đoạn có nhiều tài liệu chuyền tay từ Việt Kiều gởi về đưa nhiều đồng bào vào vòng Niệu Liệu Pháp, tức là thi nhau chế biến nước tiểu thành thần dược chửa bá bệnh (sau này còn có các “phương thuốc” khác in thành sách dày cộm như “Canh Dưỡng Sinh”, v.v., còn mấy năm trở lại đây là internet đã thành pháo đài bay B52 dội hàng tấn email về “sức khỏe” xuống cư dân mạng nước nhà).

Tất cả dẫn đến nghi vấn thứ nhất: tác giả là ai đó trong cộng động Việt Kiều hải ngoại muốn “chơi khăm” đồng bào cộng sản.

2- Nội dung bài viết “nhá nhá” tên Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO của Liên Hiệp Quốc để thêm trọng lượng và các bác sĩ Việt Nam bị sập bẫy, thậm chí viết bài giới thiệu hào hùng rằng nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến mà không có nổi một trích dẫn số lưu chiểu của cái công trình mà WHO bị cho là đã phổ biến ấy, trong khi đối với những ai đã tốt-nghiệp-y-khoa-có-thực-sự-làm-luận-văn-hay-luận-án-tốt-nghiệp-hẳn-hoi ắt phải biết rằng chi tiết dẫn chứng tham khảo dứt khoát phải được nêu ra đầy đủ.

Tất cả dẫn đến nghi vấn thứ nhì: tác giả có thể là một người Việt nội địa, có phương thuốc rượu tỏi “bí truyền” hiệu nghiệm, nhưng vì mặc cảm tự ti sợ đưa ra cho đồng bào dùng theo chẳng ai tin nên phải lợi dụng thời mông muội của công nghệ thông tin để phủ tấm bình phong WHO che dấu thân phận của hàng nội địa của chính mình.

3- Gần như cái-gì-cũng-đem-ngâm-rượu-làm-thuốc là một nét đặc trưng của Việt Nam chứ không phải của dân các Châu Lục khác; thậm chí người Tàu cũng chào thua người Việt vì họ làm gì có rượu ngâm cả con chim bìm bịp lông lá rậm rạp đầy đủ móng vuốt, hay rượu con bửa củi, hoặc bộ phận to đùng sản sinh chất liệu truyền giống của một con vật đực khét tiếng như dê chẳng hạn, v.v. Tất cả dẫn đến nghi vấn cuối cùng: tác giả là từ nhóm số 1 hoặc nhóm số 2 nêu trên, hoặc cả hai.

B) Những Yếu Điểm Của Bài “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

1- Khi nói vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, tác giả nào sáng tạo ra bài Rượu Tỏi tức là đã lăng mạ đất nước của các Kim Tự Tháp.

Dù cho hết bị Đế Quốc Ottoman xâm lược vào Thế Kỷ XVI đến Đế Quốc Pháp của Napoleon chiếm đóng cuối Thế Kỷ XVIII, và cuối cùng là Đế Quốc Anh đầu Thế Kỷ XIX cho đến khi có được độc lập giữa Thế Kỷ XX (năm 1953),  Ai Cập vẫn không thể là nước nghèo với vị tổng thống vĩ đại Gamal Abdel Nasser, người đã đưa Ai Cập làm một trong những quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc ngay từ ngày đầu tổ chức này được thành lập, thẳng tay quốc hữu hóa Kênh Đào Suez của các đại tư bản Pháp-Anh, lãnh đạo toàn khối Ả Rập, dựng xây Chủ Nghĩa Xã Hội Ả Rập, tiến hành cuộc Chiến Tranh Tiêu Hao chống Do Thái, dám khiến hai siêu cường Mỹ và Nga vào thế bạng duật tương trì để rồi với tư thế ngư ông đắc lợi công khai bắt tay hữu hảo với Liên Xô, v.v.

Ngoài ra, nhóm từ “khí hậu sa mạc khắc nghiệt” ắt được viết với tâm lý thuần Việt vì phản ứng tự nhiên khi nghe nói nước nọ có sa mạc là viết ngay từ “khắc nghiệt”, trong khi Ai Cập có hai mùa rõ rệt gồm mùa Đông mát dịu từ tháng 11 đến tháng 4,  và mùa Hạ nóng từ tháng 5 đến tháng 10; với dao động từ 14 độ C vào mùa Đông đến tối đa 30 độ C vào mùa Hạ chứ có nóng bức khắc nghiệt tí nào đâu? Chỉ riêng vùng sa mạc mới có tính “khắc nghiệt” (mùa Hạ nhiệt độ đêm 7 độ C, ngày 43 độ C; mùa Đông nhiệt độ đêm 0 độ C, ngày 18 độ C) nhưng dân chúng không ai…xây nhà của phố thị ở trong sa mạc cả nên cũng đâu ai kinh qua cái nghiệt khắc đó!

2- Khi nói “sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao”, nghĩa là WHO đã tiến hành nghiên cứu nhiều năm, lấy số liệu thống kê hẵn hoi mới có thể cho ra một khẳng định như thế, cũng mặc nhiên hiểu rằng nếu thực sự đã có nghiên cứu rồi thì cũng đã phải biết luôn về “rượu tỏi” rồi, chứ sao lại phải xin xỏ Tổng Thống Nasser cho vô điều tra nghiên cứu thêm những 10 năm mới thấy “nhà nào cũng có hủ rượu tỏi”?

Dường như người viết cho rằng WHO ăn không ngồi rồi nên mới vì nhân loại mà đổ xô vào Ai Cập nghiên cứu chăng. Sao không vào Việt Nam nghiên cứu xem dân ở xứ ấy ăn uống cái giống gì mà Bắc Phạt, Nam Bình, Tây Chinh, Đông Trấn (phạt Tống phương Bắc, bình định phương Nam, tảo trừ phương Tây, trấn thủ biển cả phương Đông), vĩnh viễn chặn đứng sự bành trướng của Trung Hoa xuống Đông Nam Á, nhấn chìm Đế Quốc Pháp xuống bùn nhơ không bao giờ còn có thể ngóc đầu lên với thiên hạ, biến Đế Quốc Anh thành thân phận kẻ hèn theo đóm ăn tàn, chứng kiến sự diệt vong tủi nhục của Quân Phiệt Nhật, và mãi mãi vùi chôn niềm kiêu hãnh đại siêu cường quốc Hoa Kỳ, để may ra có báo cáo hẵn hoi về rượu-chim-bìm-bịp-đầy-lông-lá hay rượu-bửa-củi hoặc rượu “dế dai” cho đúng sự thật hơn?

C) Những Phát Hiện Có Liên Quan

Qua kiểm chứng các tài liệu đầy dẫy trên internet, tôi có thể khẳng định rằng:

1- Chưa bao giờ dân Ai Cập có thứ rượu tỏi như các thông tin bấy lâu nay thấy nhan nhản trong các tài liệu y học xằng bậy lếu láo in ấn ở Việt Nam.

2- Người Ai Cập cổ đại đã chế tạo ra bia và rượu vang những hơn ba ngàn năm trước Công Nguyên và tử thời cổ đại đã xem rượu vang làm từ nho (có 5 loại rượu vang của người Ai Cập xưa là cất từ các nhóm nho, nhóm chà là, nhóm cọ, nhóm lựu, và nhóm các thứ quả khác không ngon bằng) là thức uống thần thánh, dùng rượu vang ngâm với nhiều thứ thảo dược để làm thuốc nhưng chưa bao giờ dùng tỏi, và một điều khác biệt là rượu vang không là rượu mạnh như rượu đế của Việt Nam và rượu vang hiện nay được xem như hữu ích cho tim mạch chứ không vô danh đầy tai hại như rượu đế Việt Nam. Người Ai Cập cổ đại đã xem rượu vang như thứ thuốc bổ, được pha trộn thêm với cây rau mùi (coriander), bạc hà (mint), lá thơm (sage), cây hương thảo (rosemary), nhựa thơm (balm) hay nhựa thông (pine resin), v.v., và tùy từng thứ được đem “ngâm” mà “rượu” ấy dùng để khử trùng, trị ho, ăn ngon miệng, giảm sốt, băng bó vết thương, hoặc an thần cho phụ nữ lúc chuyển dạ sinh con, v.v. Song, tỏi không có trong danh mục thảo dược của dân Ai Cập.

3- Người Ai Cập dùng tỏi như một thứ gia vị trong rất nhiều món ăn dân gian của họ.

4- Rượu tỏi (garlic wine) là một thứ nước sốt được chế biến theo nhiều công thức khác nhau để trộn món salad hay để nấu ăn, với lời khuyến cáo quen thuộc “garlic wine is not for sipping” trên các trang dạy nấu ăn của Phương Tây, nghĩa là “rượu tỏi không phải là thứ để nhâm nhi nhậu nhẹt”. Đặc biệt, Rượu Tỏi không bao giờ là kiểu lấy tỏi cho vào trong rượu vang (wine) mà là dùng tỏi cùng nhiều thứ khác trộn với men để làm hỗn hợp đó thành thứ họ gọi là wine mà tiếng Việt máy móc dịch là “rượu”.

D) Kết Luận

Do trên thế giới và tại Việt Nam chưa đâu có – và thậm chí chưa bắt đầu có – bất kỳ một nghiên cứu nào về rượu tỏi, và do trên thế giới và Việt Nam đã có các nghiên cứu – hoặc dịch lại nghiên cứu của nguồn khác – về tác dụng dược l‎ý của tỏi, người Việt Nam có thể an tâm ăn thật nhiều tỏi, hoặc uống bổ sung các viên tỏi dạng con nhộng được các viện bào chế dược phẩm trong nước chế tạo hay nhập khẩu, thay vì uống rượu tỏi theo số lượng “giọt” mà nhiều vị thầy thuốc dốt nát dám bảo là WHO đã “dày công nghiên cứu”.

Tuy nhiên, do

(a) Tỏi là sản vật tốt lành của thiên nhiên,

(b) Từng cá nhân có thể đã quen với việc uống mấy giọt rượu tỏi trong hơn 15 năm qua kể từ khi bùng phát thông tin tưởng tượng về rượu tỏi và thấy có tác dụng gì gì đó, và

(c) Vấn đề tâm l‎ý cộng với niềm tin giữ vai trò quan trọng trong việc biến rượu tỏi thành “đã có công hiệu” cho bản thân,

thì vẫn có thể tiếp tục ngâm và dùng; song, đừng nên lưu thông tin kỳ quặc đó trên các trang web y học để giữ gìn danh dự y học quốc gia và không nên chuyển tải những thông điệp sai lệch thiếu nghiêm túc về rượu tỏi đến những người quen khác.

Garlic Wine là một thứ dấm sốt sản phẩm ẩm thực của Ai Cập và Âu Mỹ để ăn với món salad tức rau trộn.

Rượu Tỏi (tạm dịch là…Garlic Whisky hay Garlic…Đế) là một thứ rượu cực nặng của người Việt, tức giống dân có thói quen quái lạ cái gì cũng đem bỏ trong rượu đế, từ tỏi đến hạt tiêu, rắn rít, chim muông, cọp beo, kỳ đà, kỳ lân, khủng long, khổng tượng, phượng hoàng, v.v.; để tự trị các bịnh sinh ra do việc ăn rắn rít, chim muông, cọp beo, kỳ đà, kỳ lân, khủng long, khổng tượng, phượng hoàng, v.v., gây ra.

Người dân xứ Wales của Vương Quốc Đại Anh & Bắc Ái Nhĩ Lan có câu: “Tháng Ba ăn hành (hoặc tỏi tây), tháng Năm ăn tỏi (tỏi ta), là mấy tháng còn lại sẽ thấy thầy thuốc ngồi chơi xơi nước” –  Eat onions in March and garlic in May, then the rest of the year your doctor can play – thậm chí còn có cả lễ hội Gilroy Garlic Festival ở Hoa Kỳ vào tháng 7 hàng năm để ghi công trạng của tỏi; trong khi người Tiệp Khắc có câu “Tỏi tốt bằng mười bà mẹ”, với ý nói tỏi – chứ không phải “rượu tỏi” tốt cho sức khỏe chung, mặc sức ăn nhai thả dàn chứ không uống “giọt” huyễn hoặc hoang đường.

Muốn viết viết ghi ghi chép chép gì đó về “rượu tỏi” thì cứ vỗ ngực tự xưng là ghi theo bí kíp khẩu truyền của tổ tiên nhà mình, chứ đừng có lôi dân Ai Cập vào kẽo các Mummy lồm cồm ngồi dậy chui khỏi các Kim Tự Tháp lũ lượt bay qua Việt Nam gây bão cát trừng trị tội điêu ngoa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Caroline Seawright, 2001. Rượu Thời Ai Cập Cổ Đại

Jennifer Viegas, 2009. Rượu Thảo Dược Chữa Bệnh Người Ai Cập Cổ Đại. Bản tin Discovery. http://dsc.discovery.com/news/2009/04/14/egyptian-wine.html

Marisa Clark. Công Thức Chế Biến Rượu Tỏi. http://winemaking.jackkeller.net/reques24.asp

Menna El-Dorry. Làm Rượu Thời Ai Cập Cổ Đại. http://www.arabworldbooks.com/egyptomania/wine.htm

Mike và Janet Wood, 1995. Các Công Thức Món Ăn Ai Cập Cổ Đại. www.ancientnile.co.uk

Ngâm thảo dược vào rượu vang: cách người Ai Cập cổ đại pha chế thuốc chữa bịnh cách nay 5000 năm. http://www.dailymail.co.uk/news/article-1169803/Mixing-herbs-wine-Ancient-Egyptians-dispensed-sick-5-000-years-ago.html

Người Ai Cập Cổ Đại Dùng Rượu Vang Làm Thuốc. 2009. http://www.telegraph.co.uk/science/science-news/5148120/Ancient-Egyptians-used-wine-as-medicine.html

Rượu Vang Ai Cập. http://www.mnsu.edu/emuseum/prehistory/ancienttech/egypt.wine.html

Rượu Thảo Dược Của Người Ai Cập Cổ Đại. 2009. http://egyptblogreview.com/talking-pyramids-ancient-egyptian-pyramids-news/

Tammy D. Motteshard. Những Lợi Điểm Khi Dùng Tỏi Trong Các Pha Chế Thảo Dược. http://www.herballegacy.com/Motteshard_History.html

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-8-2017

Bài 3:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Kính mời đọc lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ đăng ngày 23-8-2013 tại  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/23/loi-khuyen-danh-cho-gioi-bac-si/ trên blog này của WordPress.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ  – 2013

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-8-2017

Bài 2:

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

(Bài đăng lần đầu ngày 05-4-2010 ở http://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang trên Emotino)

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-4-2010

Y Tế Bài 2

A- Dẫn Nhập: Ba Điều Bốn Chuyện

Trong một bài viết gần đây tôi có nêu lên ba điều rõ ràng tối cần thiết trong xã hội mới, thời đại mới, những ràng buộc nhân-quả mới, cực kỳ khắc nghiệt và nghiêm trọng nhãn tiền, để mong ai cũng hiểu rằng chính mình đang kinh doanh – nếu đang sống thực sự, làm việc thật sự, có trí hóa thật sự, và có giáo dục thật sự – và hiểu cái đạo l‎ý kinh doanh thực sự phải như thế nào, đó là

(a) không ngừng chăm chút tuyệt vời cho sản phẩm chào bán,

(b) xem khách hàng là vua, và

(c) thu được lợi nhuận chân chính để tự lo có được cuộc sống bản thân và gia đình tốt hơn .

Với ba điều ấy, tôi dẫn ra bốn chuyện trong đó có nói về giới y bác sĩ cũng như những hậu quả khôn lường từ sự chưa bao giờ đặt ra đúng ý nghĩa cho những “ngày tôn vinh” nghề nghiệp, trong đó có một ngày liên quan đến sinh mạng vật chất của con người, và có một ngày liên quan đến sinh mạng tinh thần cũng của con người, mà phạm vi bài này xin chỉ nói về những Thiên Thần Áo Trắng, chưa nói gì đến các vị Thiên Thần Phấn Trắng Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Cũng Vi Sư tuốt.

B- Lương Y: Phân Định Lại Từ Ngữ Cho Đúng

Trước khi nói về các Thiên Thần Áo Trắng – tạm cho là danh từ đặc biệt này do người đời đặt cho thày thuốc dù cán cân nặng hơn nghiêng về hướng … các thầy thuốc tự gọi mình như thế để tự tôn vinh mình, hệt như … Thiên Thần Mũ Đỏ “tự phong” của quân Nhảy Dù chế độ Cộng Hòa – tôi thấy nhất thiết phải làm rõ một điều bất hợp l‎ý trong sử dụng từ ngữ: “bác sĩ” là tên gọi cho thầy thuốc Tây Y và “lương y” cho Đông Y và Nam Y.

Lương y như từ mẫu là câu thường được nghe nói đến, có nghĩa “thầy thuốc lương thiện tốt lành có lương tâm luôn chăm sóc bịnh nhân kỹ lưỡng như người mẹ hiền chăm sóc con thơ”; như vậy, nếu dùng “lương y” để gọi riêng thầy thuốc Nam hay thuốc Bắc tức Đông Y thì phải chăng Tây Y không … “lương thiện”? Thêm vào đó, nhiều thầy thuốc gia truyền cây nhà lá vườn không có học vị nên không thể xưng danh bác sĩ, phải núp sau từ “lương y” để hoạt động khám chũa bệnh. Ngoài ra, cách gọi “lương y” mang ý phân biệt đối xử, bên trọng, bên khinh, cứ như thể đã qua thế kỷ hai mươi mốt rồi mà các “bác sĩ” Việt Nam vẫn còn mông muội cho rằng chỉ có họ mới được đào tạo bài bản hàn lâm, còn đồng nghiệp Đông Y vẫn còn theo lối cũ truyền khẩu hay gia truyền hay sao?

Vì vậy, cách duy nhất đúng cho chức nghiệp này nên là “bác sĩ Tây y” và “bác sĩ Đông y” để từ đó mới phân định bác nào hữu lươngbác nào bất lương qua cách từng bác đã và đang làm gì với chức nghiệp cụ thể, với bịnh nhân cụ thể, và với cái lương tâm trừu tượng.

C- Vấn Đề Trang Phục: Trắng – Xanh – Trần

1- Trắng: 

Trước đây y bác sĩ Phương Tây hay mặc áo trắng mà mục đích thật sự chỉ là để làm nổi bật màu máu bịnh nhân. Sự mất vệ sinh này là điều tệ hại có thật, không là sự bôi nhọ y tế Âu Mỹ cận đại.

Trong cuối thế kỷ XIX,  25% sản phụ tại Mỹ chết ngay sau khi sinh vì chứng sốt sản hậu puerperal fever mà sau này được phát hiện là do khuẩn Streptococcus pyogenes gây ra. Vào năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (có con trai là Oliver Wendell Holmes Jr. sau làm Chánh Án Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ) phát hiện tỷ lệ cao các sản phụ chết do sản hậu có thể được làm giảm đi đáng kể nếu ông rửa tay tay sạch sẽ sau mỗi lần đỡ đẻ. Ông vội vàng viết một bài gởi đăng trên Tạp Chí Tam Cá Nguyệt Dược Phẩm & Phẫu Thuật New England, để rồi bị đồng nghiệp khắp nơi chống đối, phỉ báng, đe dọa xóa tên khỏi Viện Hàn Lâm Y Học do dám biến những bác sĩ đáng kính thành những tên giết người dơ dáy do họ sau mỗi ca phẫu thuật hoặc thực tập trên tử thi xong là chùi đôi tay vấy máu mủ tanh hôi lên áo rồi quay sang đỡ đẻ hay giải phẫu cho người khác, xem chiếc áo trắng đầy máu mủ tanh tưởi là chứng tích của sự tận tụy của một thiên chức cao qu‎ý lịch lãm hàn lâm. Song, ông còn may mắn hơn một đồng nghiệp khác là bác sĩ Ignaz Philipp Semmelweis người Áo gốc Hungary vốn về sau được tôn vinh là ân nhân của sản phụ toàn thế giới (…phương Tây), “nổi tiếng” hơn cả Holmes.  Semmelweis trong cùng thời gian trên do đau lòng trước tỷ lệ tử vong quá cao của sản phụ đã dày công tìm hiểu và chế ra một dung dịch sát trùng, yêu cầu các bác sĩ dùng rửa tay ngay sau mỗi lần giải phẩu tử thi hay bịnh nhân, nhưng ông bị công kích, tấn công, tẩy chay, trừng phạt, đến độ ưu uất, tinh thần sa sút trầm trọng, rồi qua đời trong nghèo khó và im lặng với chỉ đôi ba người đưa đám, không có đến một lời cáo phó hay thông tin của bất kỳ bịnh viện hay viện hàn lâm nào trên báo chí. Làm con người ai cũng có cái đức tính thiên phú để phân biệt người và thú là lòng biết ơn, do đó bịnh nhân rất có thể đã xem y bác sĩ như vị thần cứu mạng của mình, gọi họ là những thiên thần áo trắng, không màng đến việc tấm áo trắng ấy thật ra rất rằn-ri đỏ hay lốm đốm đỏ hay chằng chịt hoa văn đỏ chứ không tinh thuần, khiết trắng.

2- Xanh:

Tuy nhiên, theo thời gian thì chân l‎ý bao giờ cũng lấy lại được giá trị tự thân, và bác sĩ Tây Y của thế kỷ hai mươi bắt đầu học cách vệ sinh y như bác sĩ Đông Y thời…trung cổ (ngay ở Việt Nam các “bà mụ đỡ đẻ” ở nông thôn từ ngàn xưa cũng đã biết rửa tay bằng nước trà hoặc nước pha rượu hay nước nấu với thảo dược, trước khi đưa bàn tay vào cơ thể sản phụ), khiến màu trắng trở thành sự tinh khiết, “vệ sinh” vốn rất cần thiết đối với môi trường y tế. Nhưng cũng theo thời gian, người ta thâm thúy hơn, hiểu biết hơn, lịch sự hơn, tâm l‎ý hơn, và chuyên nghiệp hơn nên biết rằng màu áo trắng trong khung cảnh trắng toát của bịnh viện trở nên đáng sợ, tang tóc, lạnh lẽo, gây tâm l‎ý bất an nơi bịnh nhân, cũng như màu đỏ của chữ thập luôn nhắc nhở đến máu me và tai họa. Nhiều nước tiên tiến đã điểm trang bộ mặt y tế của mình khác đi, với tường bịnh viện màu xanh lá, áo y bác sĩ màu xanh lá, và xe cứu thương có chữ thập màu xanh lá (hoặc xanh dương, và bỏ luôn “chữ thập” vốn được nhiều tỷ người cho là hình tượng của …nghĩa trang, hoặc “né” bằng cách thay chữ thập bằng ngôi sao sáu cánh hình thành từ 3 miếng băng cá nhân); thậm chí các y bác sĩ cũng vì màu xanh tâm l‎ý thân thiện với bịnh nhân mà không đeo vắt vẻo cái ống nghe stethoscope khi không đang trực tiếp khám bịnh tại bàn làm việc của riêng mình; lúc nào cũng cố ra dáng khoan thai, dịu dàng, thay vì lúc nào cũng vắt ống nghe trên người ra vẻ khẩn trương, bận rộn, tất tả, dù chỉ là đi qua lại trong hành lang, gợi thiên hạ nhớ lại thời kỳ nhiều thế kỷ các vị cần mẫn tận tụy trét đầy máu mủ trên người.

Nhưng đó là ở nước ngoài. Người Việt ta giá như cũng quan tâm đến chất lượng của những người đang nhận tiền của mình để làm dịch vụ khám chữa bịnh cho mình thì ắt đã có quyền gọi những thầy thuốc phục vụ tốt với tên mới là Thiên Thần Áo Xanh Lá từ lâu.

3- Trần:

Thế nhưng sự đời lại không chỉ phức tạp ở cái sắc cái màu, mà còn ở cái ngữ nghĩa của bản thân từ “thiên thần” nên khiến thêm rách việc, vì thậm chí có cả Thiên Thần Không Áo, tức Thiên Thần Trần tức Thiên Thần Truồng, làm thành ngữ Thiên Thần Áo Trắng có khi phải bị méo nghĩa theo quy luật rất bình thường của bài bản Lexicology, mà xin độc giả vui lòng đọc hồi sau sẽ rõ.

D- Xóa Nhòa Ranh Giới Thiện – Ác

“Thiên Thần Trần” là hình ảnh những thiên thần trong bộ phim hoành tráng Legion đang được chiếu tại các cinema sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh. Các thiên thần này vẫn còn lịch sự vì hình ảnh các thiên thần trong các bức danh họa từ xưa đến nay thì không chỉ “trần” mà còn đánh đố thiên hạ xem ai có nhìn thấy quần của thiên thần màu gì không. Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu như trong Thánh Kinh Cựu Ước (Genesis 19) có đoạn kể về các thiên thần chắc là rất đẹp đẽ có cánh chim bồ câu bay vào hai thị trấn Sodom và Gomorrah  để giết sạch nam phụ lão ấu – ngoại trừ Lot cùng vợ và hai cô con gái – thì Legion cho thấy ngoại hình kinh khủng và kinh dị của các thiên thần có cánh dơi do Thượng Đế hạ chỉ sai xuống trừng trị loài người sa đọa, để …  thây chất thành núi máu chảy thành sông.

Như vậy, đã có ngày càng nhiều những bất lợi cho giới y bác sĩ Việt Nam khi cái từ “thiên thần” đã không còn duy chỉ mang ý nghĩa lương thiện và nhân hậu, và nhất cử nhất động của các vị trái với “lương thiện và nhân hậu” đều luôn bị đánh giá nghiêm khắc. Phim ảnh chỉ dùng mỗi chữ “angel” để chỉ các thiên sứ, dù đó là thiên thần mang phần thưởng của Thượng Đế hay thiên thần làm nghiệm vụ một thiên lôi; trong khi đó phần thuyết minh tiếng Việt cho phim Legion phải nói rõ là “ác thần” để chỉ các “angel” kinh khủng kinh dị kinh hoàng làm công tác thiên lôi ấy.

Ác Thần Áo Trắng sẽ là thành ngữ mới nếu sự suy đồi y đức lại đến từ các “Thầy” chốn đại học đường y dược của nước nhà, do chẳng có cách chi mà tin rằng 100% các “bác” ra trường do các “Thầy” ấy đào tạo lại miễn nhiễm với “thầy nào, trò nấy”.

E- Kết Luận: Legion Nightingale

Cho dù thiên sứ quấn vải trắng có cánh chim bồ câu vung gươm nhuốm máu ngay cả trẻ thơ thuộc những gia đình sa đọa như ghi trong kinh thánh, hay những thiên thần ở trần có cánh dơi trong phim Legion, thì các thiên thần ấy cũng còn làm theo lịnh vị chủ tể minh quân muốn trừng trị những sinh linh mà chủ tể ấy liệt vào hàng xấu xa trụy lạc; trong khi một số thiên thần áo trắng ở Việt Nam ra tay giết hại không gươm không đao những đồng bào nghèo khổ qua việc kê đơn thuôc vô tội vạ để hưởng hoa hồng từ nhà sản xuất thuốc, vui hưởng có khi đến vài trăm triệu đồng mỗi tháng. Xem ra cái y đức là điều lạ lẫm của những người hùng hục khí thế tham gia góp phần đẩy giá thuốc lên cao chót vót, “tàn sát” nam phụ lão ấu, tự biến mình thành những kẻ bất nhân làm điếm nhục gia phong vì đã mặt dày mày dạn dám thốt lời thề nguyền Hippocrates y học thiêng liêng trong khi thực chất bản thân lại khác gì bọn Hypocrite trụi trần, ghiếc gớm.

Ngày Thầy Thuốc lẽ ra chỉ nên là ngày các y bác sĩ Tây Y và Đông Y nghiêm khắc nhìn lại màu áo của mình, và có khi còn để xem rõ mình có còn mặc áo che thân giữa đám đông hay không; vì rằng người Việt không cần có Ngày Thầy Thuốc mới biết ơn những lương y, và thầy thuốc “hữu lương” đâu cần có một ngày “tôn vinh” chức nghiệp của mình và…mình. Thầy thuốc “hữu lương” ắt ít ai muốn có Ngày Thầy Thuốc vì biết nó cũng sẽ là danh thơm cho thầy thuốc “bất lương” hưởng sái.

Suy cho cùng, sự công bằng nên được dựng xây trong lòng tác nghiệp y tế qua việc đề ra thêm Ngày Bịnh Nhân đễ các Thiên Thần Áo Trắng tỏ sự biết ơn sâu xa những Thiên Thần Áo Ngũ Sắc, những người đã đến từ nhiều thành phần khác nhau của xã hội, giàu có, nghèo có, mặc áo đủ thứ màu khác nhau, mức độ lành lặn và thơm khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một điểm là trả tiền sòng phẳngtrực tiếp bằng tiền mặt hay gián tiếp qua chế độ bảo hiểm y tế luật định thậm chí do các tổ chức hay cá nhân cưu mang từ thiện – để không làm thầy thuốc thất nghiệp.

Và khi ai cũng là…Thiên Thần ráo trọi thì bịnh nhân nghèo nếu ăn cắp ống nghe của bịnh viện sẽ chẳng làm chết thầy thuốc nào, trong khi y bác sĩ giàu nhờ ăn cắp sức khỏe bịnh nhân sẽ làm bịnh nhân túng quẫn hơn và sinh mạng bị đe dọa; tuy nhiên, nếu cả hai tên cắp này bị đánh đồng cho cùng là “thần” ở trần hay ở truồng, có cánh dơi, thì người trước (ăn trộm ống nghe của bác sĩ) vẫn nhẹ tội hơn vì có khi họ chưa hề nghe nói về anh Robin Hood ở Anh Quốc tốt đẹp hơn 208 gã Tàu ở Lương Sơn Bạc cả tỷ lần, nhưng dứt khoát nhiều tỷ phần trăm là kẻ sau (ăn trộm sức khỏe bịnh nhân) biết mình mãi ở dưới gót giày của nữ y tá Florence Nightingale cũng của Vương Quốc Anh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-Doanh Quốc-Tế

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2017

Bài 1:

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2013

Kính gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh

Nơi nhận bản sao:

– ĐBQH Nguyễn Thị Kim Tiến (Bộ trưởng Bộ Y Tế)

– ĐBQH Huỳnh Thành Lập (Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh)

– Tổ Đại biểu Quốc hội, Đơn vị 1 (Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Phó đoàn ĐBQH  Tp HCM Trần Du Lịch)

 

Kính thưa Đại biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc Hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, xin trình bày với Đại biểu các nội dung sau:

A) Thuốc Phối Hợp Lạ:

Là người trong thời gian 1985-1995 công tác tại công ty xuất nhập khẩu nước ngoài cung ứng cho Việt Nam từ nhà máy, thiết bị, đến nguyên liệu sản xuất đa ngành trong đó có cả dược phẩm và bulk drug, tôi có sự hiểu biết nhất định về y dược qua tiếp cận các tài liệu cũng như qua tiếp xúc với các chức sắc của các công ty dược lớn – đặc biệt là của Ấn Độ, và do đó tôi rất ngạc nhiên khi quá nhiều loại thuốc đã và đang được nhập từ những nhà sản xuất hạng vô danh tiểu tốt của Ấn Độ dẫn đến việc thỉnh thoảng Bộ Y Tế phải có thông báo thu hồi thuốc này thuốc nọ của hãng đó hãng kia mà đa số của Ân Độ. Gần đây báo chí có loạt bài viết về vấn đề nhập khẩu thuốc có “hàm lượng lạ” nhưng chưa có ai đề cập đến vấn đề khác nghiêm trọng hơn, đó là thuốc có “phối hợp lạ”. Bằng một cách nào đó tại vài bịnh viện nhà nước đã xuất hiện thuốc Dianorm M do Ấn Độ sản xuất từ sự kết hợp của 80mg Gliclazide với 500mg Metformin trong mỗi viên, và được kê đơn cho bịnh nhân theo liều lượng mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 30 phút trước bửa ăn sáng, trước bửa ăn trưa, và trước bửa ăn chiều. Theo phác đồ cổ điển và “lành mạnh” giống nhau trên thế giới thì liều thuốc bình thường điều trị bệnh tiểu đường là Gliclazide uống mỗi ngày trước lúc ăn sáng 30 phút, còn Metformin uống sau 2 hoặc 3 bửa ăn chính bình thường trong ngày; trong khi đó, Dianorm M  đưa vào cơ thể người bệnh Việt Nam lượng thuốc Gliclazide cả ba buổi trong ngày, và đưa Metformin vào trước bửa ăn. Đây là phác đồ điều trị hiện đại, hay đây là kiểu phối hợp lạ nhằm thắng thầu vào Việt Nam bằng mọi giá.

Tôi cho rằng sự giám sát nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm minh, của Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh – và Bộ Y Tế Việt Nam – có thể biết rõ hơn về những loại thuốc “phối hợp lạ” nào đã len được vào hệ thống y dược nước nhà, ngoài thứ Dianorm M nói trên mà tôi tình cờ biết được (do tôi không bao giờ cho phép bất kỳ ai trong gia đình được mua sử dụng ngay thuốc sau khi khám bệnh được kê đơn – trừ trường hợp cấp cứu – vì phải chờ tôi kiểm tra dược điển MIMS, và nhờ vậy 15 năm trước tôi đã phát hiện vị bác sĩ chức sắc ở Trung Tâm Tai-Mũi-Họng trên đường Trần Quốc Thảo đã kê đơn trị bệnh viêm họng cho con tôi với loại thuốc có chứa chất dùng trong cấp cứu trụy tim mạch, và tôi đã quyết định đi mua Amoxcicillin cho con tôi uống thay thế “thuốc trụy tim” và cháu hết bệnh sau một tuần) để có viện pháp hữu hiệu ngăn chặn vấn nạn đáng xấu hổ này.

B) Kê Đơn Thuốc Không Để Chữa Bệnh:

Vừa qua (22-6-2013), vợ tôi bị vấn đề về mắt (xuất huyết đỏ sậm màu máu). Như một phản ứng tự nhiên, tôi đưa vợ tôi đến Bệnh Viện Mắt Thành Phố ở 280 Điện Biên Phủ. Kết quả chẩn đoán là XHPKM mà tôi phải dùng đến khả năng bói toán mới hiểu được gần 50% ý nghĩa (XH phải chăng là “xuất huyết”?). Thuốc được cho trong đơn thuốc trị giá 120.656 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Systane, Noflux, và Vitamin C. Vấn đề là thuốc nhỏ mắt Systane là thứ “dầu nhờn” để trị khô mắt. Hộp thuốc không chứa toa, bên ngoài ghi tên nhà sản xuất Alcon của Mỹ, với dòng chữ hoàn toàn bất ngờ là Printed in USA (“In Tại Hoa Kỳ”). Ngoài việc cho những loại thuốc không dính dáng gì đến tình trạng mắt “XHPKM” của bệnh nhân, vấn đề tôi không thể chấp nhận là thuốc nhập này không ghi nơi xuất xứ (thí dụ: Made in USA) mà lại ghi nơi in hộp. Với thứ thuốc không rõ xuất xứ như vậy, tôi cho rằng

(a) nhất thiết phải tịch thu toàn bộ,

(b) hủy bỏ toàn bộ,

(c) trừng phạt những con người cụ thể có liên quan đến việc đưa loại “dầu nhờn” này vào Việt Nam,

(d) tăng cường chuẩn hóa nội dung bó buộc phải có về thông tin của dược phẩm trên bao bì, và

(e) nâng cao trình độ ngoại ngữ của các cơ quan chức năng phụ trách cấp phép và giám sát của ngành y tế đối với dược phẩm ngoại nhập.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau 2 tuần tuân thủ nghiêm túc “y chỉ” (tức lời phán của bác sĩ) lại thấy tình trạng bệnh mắt của vợ tôi chỉ thêm trầm trọng, tôi vội đưa vợ tôi trở lại Bệnh Viện Mắt Thành Phố ngày 06 tháng 7, và được định bệnh bằng bí chú mới là “VKM CẤP GM TY” với đơn thuốc trị giá 175.350 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Medflocin, Eporon, Noflux, và Gireba, với hai loại đầu là thuốc nhỏ mắt của Hàn Quốc.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau vài ngày sử dụng tuân thủ nghiêm túc “y chỉ”, tình trạng của vợ tôi trầm trọng hơn, buộc tôi phải tra cứu dược điển MIMS, và phát hiện sự tồi tệ sau:

–  Thuốc nhỏ mắt Medflocin trị viêm giác mạc/kết mạc nhiễm khuẩn do chủng vi khuẩn nhạy cảm sau;

– Thuốc nhỏ mắt Eporon trị viêm kết mạc và giác mạc nhưng không được dùng khi bệnh giác mạc/kết mạc do virus gây ra.

Như vậy

– Bác sĩ đã cho hai loại thuốc nhỏ mắt kỵ nhau để dùng chung;

– Bác sĩ đã không nói gì, không ghi gì trong toa thuốc cái điều mà dược điển MIMS nhắc đến, đó là nếu phải dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt nào đó với nhau thì phải nhỏ thuốc này sau thuốc kia 15 phút.

Tôi đã quyết định không cho vợ tôi dùng tiếp các loại thuốc trên, và thay vào đó tự đi tìm mua ở hiệu thuốc tư nhân hai loại của Việt Nam là thuốc mỡ Tetracycline (rất quen thuộc ở Sài Gòn từ trước 1975), và Colflox, sau đó là thuốc nhỏ mắt Coll Tobradex của Bỉ. Sau hai tuần, vợ tôi đã hết bệnh.

Như vậy, việc khám bệnh kê đơn không để chữa bệnh, mà để tạo cơ hội cho những kẻ phá hoại có cơ hôi để bêu rếu y tế Việt Nam, đặt điều bôi nhọ chẳng hạn như bán dồn dập các loại “dầu nhờn” và thuốc nhỏ mắt đối kháng để nhằm (a) giải phóng kho thuốc ngoại nhập đã lỡ nhập, và (b) làm bệnh nặng hơn để phải nhập viện và phẫu thuật để tạo công ăn việc làm cho các phòng ban khác.

C) Kê Đơn Thuốc Bất Minh:

Cũng trong sự cố nêu trên với Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi có ghi tên thuốc Gireba. Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau nhiều tuần vợ tôi vật vả với bệnh đau mắt, tôi buộc phải tìm hiểu MIMS về tất cả các loại thuốc trong toa bịnh viện, và phát hiện Gireba là thuốc của Hàn Quốc sản xuất từ Ginkgo Biloba, tức Cao Bạch Quả, tức tương đương với Hoạt Huyết Dưỡng Não và vô số các thuốc tương tự dùng trong phòng ngừa tai biến mạch máu não. Vấn đề ở đây là không phải không nên dùng thứ ấy để chữa bệnh xuất huyết mắt, mà là trình độ hiểu biết hoặc đáng ngờ, hoặc vô y đức của bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ lẽ ra phải biết

(a) rằng rất nhiều người Việt Nam từ trung niên đã quan tâm sử dụng cao bạch quả để phòng ngừa tai biến mạch máu não,

(b) rằng rất nhiều người Việt Nam bị cao huyết áp nên đã thường sử dụng cao bạch quả, và

(c) rằng cái gọi là “thực phẩm chức năng” kiểu hiểu biết hoặc kiểu phê phán ở Việt Nam hoàn toàn đi ngược với kiểu các bác sĩ dinh dưỡng Hoa Kỳ nói về “thực phẩm chức năng” nghĩa là chúng có tác dụng của chúng và phải uống đúng liều lượng.

Cao bạch quả không phải khan hiếm đến độ phải nhập khẩu, xem thường ngay cả y lệnh của Bộ Y Tế trong ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Cao bạch quả không phải là thứ “thực phẩm chức năng” vô hại để dấu diếm tên biệt dược của nó để bịnh nhân về nhà uống Hoạt Huyết Dưỡng Não tức ginkgo biloba của Việt Nam trị tai biến mạch máu não cộng với uống Gireba tức ginkgo biloba của Hàn Quốc để trị…đau mắt, gây nên nạn đưa vào người bệnh lượng cao bạch quả nhiều hơn cần thiết. Việc kê đơn kiểu của Bệnh Viện Mắt Thành Phố là do hoặc vì vô đạo đức, hoặc do kém chuyên nghiệp, hoặc tại thiếu hiểu biết, hoặc bởi yếu chuyên môn, hoặc cả bốn, mà chỉ cần vướng một trong bốn điều này là đã không đủ tư cách tồn tại trong ngành y.

D) Kiến Nghị Vĩ Mô Về “Y Đức”:

1- Từ sự việc trên, tôi đề nghị ngành y tế Thành phố nên nghiên cứu một chuẩn mực mới có thể dưới tên gọi GPP tức Good Prescription Practice, quy định chuẩn hóa quy trình kê toa chuẩn mực của bác sĩ, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – ghi định bệnh rõ ràng, đọc được, và khi ghi tên thuốc nhất thiết phải chua thêm tên chung để bệnh nhân biết và nhận diện xem họ có đang sử dụng cùng thứ ấy (dưới tên khác) hay thuốc ấy đang có sẵn ở nhà (cùng tên hay cùng loại dưới tên khác) để tránh bị tăng lượng thuốc vào cơ thể và để tránh lãng phí, thực hành tiết kiệm, thí dụ ghi thật chi tiết như sau:

Gireba (tức ginkgo biloba hay cao bạch quả): 20 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau bửa ăn.

Người bệnh sẽ nhờ đó có quyền chính đáng đương nhiên được biết mình bịnh gì, uống loại thuốc gì, và có thể sẽ quyết định không mua Gireba tại bệnh viện để ra ngoài tìm mua Hoạt Huyết Dưỡng Não hoặc thứ tương tự của viện bào chế khác dưới tên Việt hay Hán Việt hay tên Tây khác với giá rẻ hơn, hoặc họ có quyền chính đáng đương nhiên mua thuốc Tanakan của Pháp đắt tiền hơn, uy tín hơn Gireba – nếu muốn, thay vì bị che dấu sự thật dưới cái tên kỳ bí Gireba trên vĩ thuốc còn dòng chữ ginkgo biloba in bằng cỡ chữ cực nhỏ bằng mực xanh lá mờ nhòe chỉ có thể thấy được dưới chiếc kính lúp.

2- Cần thay đổi tư duy kiểu “ban ơn” trong tất cả các ngành nghề, không riêng gì ngành y. Tính chuyên nghiệp cao nhất là trong phục vụ, nghĩa là trên nền nhận thức “khách hàng là vua”. Chính vì kiểu “biết ơn thầy cô” mà sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam xuống cấp. Chính vì kiểu “biết ơn y bác sĩ” mà sự nghiệp y tế ở Việt Nam phải mãi nhức đầu về cái gọi là “y đức”. Vì theo cơ sở “biết ơn” mà người trong ngành x ngành y ngành z thấy họ ở tư thế “ban ơn” và từ đó không lo trau giồi đạo đức nghề nghiệp (tức hầu hạ, phục vụ khách hàng) và chuyên môn nghiệp vụ (để thể hiện tốt nhất đạo đức nghề nghiệp) cũng như tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao cho mình). Đây là vấn đề lớn, khó thể trong một sớm một chiều có thể thay đổi được; tuy nhiên không thể không có những bước đầu tiên nhằm uốn nắn kiểu tư duy “thọ ơn” bằng cách chẳng hạn như:

a) tập trung nói nhiều về và ngợi ca tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao);

b) giảm bớt tần suất nói về sự cao quý của nghề mình – vì theo lẽ công bằng thì tất cả các nghề chính quy đều cao quý mà không có bất kỳ phân biệt đối xử nào trong xã hội thực sự văn minh, do dần dần không ngành nào nói về sự cao quý của nghề mình – trừ quân đội (công khai, y như ở các quốc gia khác) và an ninh (không công khai, y như ở các quốc gia khác); và

c) đánh thức “ý thức” của nhân sự ngành mình bằng những thông tin rằng sự bất cẩn của nhân sự một ngành như ngành y chẳng hạn, gây hại đến sức khỏe hay sinh mạng của khách hàng có thể khiến nhân sự ấy cùng gia đình trở thành đối tượng cho một vụ thảm sát báo thù như thường thấy trong phim ảnh, tiểu thuyết, phóng sự điều tra thực ở nước ngoài.

Tôi sẽ nhờ nhân viên của tôi tìm in các bài viết của tôi trên các blogs từ năm 2008 đến nay có liên quan đến y tế (thí dụ như “Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi”, “Hỡi ơi những thiên thần áo trắng”, v.v.) để gởi Đại biểu tham khảo các ý kiến tỏ sự quan tâm của tôi đối với ngành y.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Đại biểu.

Kính chúc Đại biểu sức khỏe, an khang, thịnh vượng, thành công.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Đoàn Tp HCM

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Bài Thơ Tản Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-6-2016

Tôi có đến ba điều may mắn mà biết chắc chắn là số người cùng có một lúc cả ba điều này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, đó là (a) được ba tôi cho đọc truyện kiếm hiệp cùng dã sử Tàu “từ nhỏ” tức lúc 6 tuổi, (b) nhận ra ngay cốt lõi vấn đề “từ nhỏ” ngay lúc đọc các truyện kiếm hiệp cùng dã sử ấy tức vào lúc 7 tuổi, và (c) quyết định quẳng các quyển kiếm hiệp và dã sử đó qua một bên lúc tuổi còn trong giai đoạn “từ nhỏ” ấy tức vào lúc 8 tuổi; nghĩa là nhờ đọc từ nhỏ nên say mê đọc ngấu nghiến khiến hết các pho, nhờ phát hiện vấn đề từ nhỏ nên khôn hơn người lớn ở chỗ quẳng tất từ nhỏ để không phí phạm thời gian cho những điều vô bổ, tai hại khôn lường cho kiến thức mai sau, đặc biệt trong sùng bái lộn bọn người Tàu, hoặc tâm trí tẩu hỏa nhập ma. Hôm nay xin sẻ chia cùng các bạn sự thật về võ thuật Tàu và y dược Tàu để các bạn chặn ngăn chuyện cho con cái luyện võ Tàu và dùng thuốc Tàu chữa bệnh vốn cực kỳ nguy hiểm lắm đó đa.

Trước hết, cần lược qua mấy cái tên gọi của những cái gọi là môn phái võ thuật của Tàu, mà từ ngàn xưa đã cho thấy tổ tiên họ đã cực kỳ…tiến bộ đối với vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhân quyền nên mới đẻ ra các môn phái dành cho giống đực như Võ Đang, giống cái như Nga My, giới ăn mày ăn xin như Cái Bang, và giới tu hành như Thiếu Lâm mà bọn nào dù nam hay nữ, ăn mày hay tu hành, cũng giết người như ngóe; ngoài ra còn thêm mấy môn phái có tên trong Tiếu Ngạo Giang Hồ như Hoa Sơn, Thái Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, và Hành Sơn, với bí kíp Tịch Tà Kiếm Phổ của Hoa Sơn dành cho giống trung tính, khiến các phái hệ võ thuật Tàu đủ loại cho mọi hạng người, thượng cám mà hạ cũng cám. Điều này chỉ nêu bật một điểm quan trọng: tổ tiên Tàu toàn thuộc loại sát cuồng, dù tu hay tục vẫn đeo gươm xách gậy nhởn nhơ, lấy đánh nhau và chém giết làm kế sinh nhai hay tranh giành ngôi võ lâm bá chủ: kẻ cùng đường mạt vận thì mang danh cướp cạn, kẻ thắng thế chiếm gom nhiều kim ngân châu báu lấy thịt người làm nhân bánh bao thì được tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc, bọn chuột nhắt thời Tống loạn thì tự phong Ngũ Thử, lũ theo đóm ăn tàn thì có danh Thất Hiệp truyền lưu, khiến rối loạn cương thường, đem điều xạo sự tung hê thành hiệp nghĩa. Do bản sắc dân tộc Tàu là man trá, cha chiếm vợ của con, hoàng tử sát hại phụ vương, anh em tranh đoạt ngôi vua, luân thường đạo lý đảo đảo điên điên, khiến xú khí nồng xông thượng giới buộc trời sinh ra một Khổng Khâu, những mong thánh nhân dẫn dắt nẽo chánh đường ngay, nào hay dân tứ xứ ngày càng thêm loạn dữ. Người biết chữ thì nhiều như sao đêm Trừ Tịch, kẻ gian ngu lại ít như cát sa mạc Tân Cương, nên thầy-trò chỉ là cái sự ghi ghi chép chép tại sách kinh, chứ thực tế nào đâu tồn tại, khiến trò thường xuyên làm phản, còn thầy kia phải lo thủ thế phòng thân, có mười chiêu chỉ dạy có bảy rưỡi tám đường, đem diếm một hai để phòng trò đảo chính. Võ thuật mà như thế thì truyền lưu theo thế kỷ, có còn chi những chưởng lực, nội công; phi thân kia là chuyện xạo thế nhân, thần công lực còn thua môn đấm bốc. Để có đủ học trò nuôi cái miệng, thầy phải chế bao thế võ quái kỳ, khiến học trò ngẩn ngẩn với ngơ ngơ, rồi thầy phán: ấy nhập ma tẩu hỏa. Thế mới biết võ Tàu là xạo sự, giỏi sao lại tan tác trước súng Tây? Bát quốc kia gồm Anh, Mỹ, Đức, Ý, Nga; cùng nước Nga, nước Pháp với Áo-Hung, đánh một trận Võ Đang cùng Thiếu Lâm còn không phi thân trốn kịp, khiến Bắc Kinh bị dày xéo bởi những người không môn phái, chẳng chưởng lực nội công gì sất.

Chuyện tương tự cũng xảy ra trong y thuật, thế nên mới có nhiều thầy toàn tự học mà nên, còn học trò chỉ để vặt sai, đứa có chí cũng phải mày mò hiểu tìm hay chôm chỉa mà thôi. Bọn ngự y thì chỉ chuyên phục dịch chuyện dục dâm dù vua là nữ hay nam, nên thần phương ắt chỉ giỏi lấy dâm dương hoắc trộn ngâm cùng bửa củi.

Nói tóm lại, từ nhỏ người viết bài này đã đặt ra nhiều câu hỏi: bọn hiệp khách hành làm nghề ngỗng chi mà cứ vào quán rượu là ném ra đỉnh vàng nén bạc, hay chỉ toàn bảo kê vũ trường tửu điếm hoặc hộ tống thương đoàn bỏ học hành lang bạc đó đây, nào phải gương học hỏi của thanh niên; võ sư chưởng môn diếm bớt bí kíp võ công, thì cách chi còn gì cho hậu thế! Còn chuyện dạy võ cho môn sinh người Việt ắt là chuyện tiếu lâm, không những vì Tàu có còn chi mà dạy, mà còn vì ác tâm tàn diệt giống nòi Việt ta, nên có dạy ắt toàn những chiêu làm nhập ma tẩu hỏa.

Nói tóm thêm lần nữa, người viết bài này sang Bắc Kinh vào thời điểm Tàu chuẩn bị tiếp nhận Hong Kong, có đến thăm một “viện Đông Y”, nơi các “thần y” trẻ măng mắt nhìn láo láo liêng liêng khách nữ, tay bắt mạch, miệng phán lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng. Qua phiên dịch mới biết các “thầy” phán cả đoàn người Việt ông nào cũng bị tim mạch, tiểu đường, mỡ máu ngập tràn, thận suy làm dương liệt; còn các chị ai cũng đều âm hư thận hỏng, khiến da kia ắt sẽ sớm xạm đen, còn xương nọ thế nào cũng loãng lỏng le. Người viết tức cười ngoe nguẩy bỏ ra ngoài, bị một “thầy” chạy ra cự nự, hỏi vì sao đến mà chỉ đứng xem không chịu khám bịnh bốc thuốc thần y, nhìn bộ tịch giống báo tình (…tình báo) từ xứ Việt, rồi gây sự lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng, khiến anh phiên dịch phải hù nói với “thần y” rằng người viết bài này là võ sư chưởng môn nhân của Việt Phước Đạo nên dáng người to cao vậm vỡ 84 ký mà thịt toàn nạc không chút mỡ mòng, không dùng chất tạo nạc, chẳng cần đến dâm dương hoắc mần chi, khiến “thần y” khiếp sợ bị 84 ký đè, e thuốc thánh của Tàu cũng bó tay đành bỏ cuộc. Tôi về nước Việt, bảo nhân viên mình rằng nước Tàu rất đẹp, rằng họ nên nhanh chân lẹ tay qua đó mà thăm, vì sau chừng từ 2 đến 4 năm, nơi ấy sẽ không còn ai đoan chính.

Nay ngẫm lại xứ mình có bao xưởng bịnh, với bảng treo “Phòng Khám Trung Y”. Bạn hãy tin vào thảo dược nước nhà, chứ Tàu họ có còn gì đâu mà tin với tưởng. Thầy của họ có sách chi mà để lại, cỏ cây nguyên liệu họ có còn lành còn tốt gì đâu, có khi lá với rễ cây cũng toàn chế từ cao su cao áp, nên đừng để tiền mất tật mang, đem của cải tặng dâng phường xạo sự.

Đôi dòng tâm huyết viết theo thể tản văn, dưới trời cao vằng vặc ánh trăng sao, để ngâm vịnh nhận chân giá trị: rằng bất cứ gì thuộc y với võ, đừng rớ vô mấy cái của Tàu, giản đơn vì chúng chỉ toàn dóc tổ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 17-6-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2016

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

(Đã post ngày 29-01-2009 trên Emotino.com)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm mới nói về những người của thế hệ y khoa trước, về những nhân tài hiếm hoi không phải ai cũng còn nhớ đến sau những cơn giông ba bão táp của thời gian và dưới lớp bụi mờ của lãng quên. Bác sĩ Đặng Minh Chiếu, Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô, và Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa của Sài Gòn hoa lệ, và Bác Sĩ Ngươn của Thành phố Hồ Chí Minh cường thịnh. Những cái tên không thể nào quên với gia đình họ Hoàng chúng tôi.

ScreenShot1147

Bác sĩ thì ai lại không có phòng mạch riêng. Đó là cách nghĩ của người trong cuộc và người đời. Song, có hai thực tế tại Sài Gòn trước 1975 là (a) bác sĩ có phòng mạch riêng là những bác sĩ tài danh thực thụ vì chẳng có tài danh thực thụ thì chẳng bịnh nhân nào tìm đến, mà “tài danh” ấy không do quảng cáo hay do treo bảng hiệu hoành tráng; (b) xem việc mở phòng mạch không bao giờ là để kiếm thêm thu nhập mà chỉ để đem tài ra “cứu nhân độ thế” như những bậc thầy của chính mình đã luôn học, luôn sống, và luôn làm theo lời thề thiêng liêng của chức nghiệp; và không những thế (c) không nhất thiết phải có phòng khám riêng, đơn giản vì còn tận tụy dành trọn thời gian quy định tại bịnh viện nơi làm việc chính.

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô là nguyên khoa trưởng Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, có phòng mạch tại 39C đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn, nay là tòa nhà dường như hai năm trước trở thành Kinh Đô Bakery. Nha Sĩ Mô chỉ khám chữa răng buổi sáng, còn buổi chiều do nha sĩ Đoàn Ân phụ trách, còn phòng răng 39C Cao Thắng ấy là tư thất của gia đình nha sĩ Đoàn Ân. Đó là một phòng chữa răng trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ như máy lạnh và máy chụp quang tuyến X. Nha sĩ Mô không có trợ tá mà tự mình làm tất cả mọi việc kể cả việc chụp hình răng bằng máy quang tuyến ấy. Bác sĩ Mô đến phòng mạch bằng xe Mercedes đen, tự lái, đậu trong sân (vì nhà nào ở mặt tiền đường cũng luôn xây thụt vào trong khoảng 5 hay 10 mét để chừa khoảng không khoáng mát phía trước để đậu xe, chứ không như bây giờ ai cũng xây áp sát đường để nhà rộng lớn hơn, cảnh quang tầm thường hơn, đường chật chội xấu xí hơn, còn ô tô thì hoặc đậu nơi lòng đường, trên lề đường, hoặc chui tọt vào bên trong căn nhà).

Khi em trai tôi lên 6 tuổi, có một răng cửa hàm trên bị sâu; như thường lệ đối với thành viên toàn gia đình, Má tôi đưa em đến Nha Sĩ Mô để nhổ răng, tất nhiên rồi – và tất nhiên có tôi đi kèm theo. Nha sĩ Mô nhẫm hát là lá la một đoản khúc nhạc cổ điển dường như là Fantasia của Liszt Ferenc. Ông nhìn chiếc răng rồi bảo Má tôi rằng Ông nhất thiết phải đưa em tôi vào Đại Học Nha Khoa giải phẫu cho sinh viên học tập, vì đây là một ca hiếm theo y văn thế giới. Theo Ông, răng cửa trên bị hỏng không do bị sâu, chẳng do bị răng khác mọc chêm mà tiếng trong Nam gọi là “lòi xỉ”, mà Ông nhìn là biết ngay do răng khác mọc thẳng hàng vào giữa chân răng đang tồn tại, nghĩa là có răng khác ẩn ở dưới “ngạc” tức vòm miệng, và phải rạch để gắp ra, cứu răng cửa. Ông trấn an Má tôi rằng đấy là chuyện nhỏ. Với sự lo âu vì một khi đã là “ca hiếm” phải giải phẫu biểu diễn dạy các sinh viên đại học thì đúng là đại sự hiểm nguy và tốn kém, Má tôi rụt rè hỏi về chi phí, Ông bật cười, nói (giọng Bắc) rằng Ông đài thọ  toàn bộ chi phí, và khôi hài nói thêm rằng lẽ ra Ông phải trả thật nhiều tiền để Má tôi cho phép Ông đuợc giải phẫu ấy chứ, vì em tôi cho Ông có cơ hội bằng vàng dạy cho sinh viên Nha Khoa biết thực tế một ca mà chỉ có thể bắt gặp trong một trong các pho tài liệu tiếng Pháp dày cộm trong thư viện trường mà thôi! Và em trai tôi được lên lịch giải phẫu tại Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, tất nhiên cuộc giải phẩu có kết quả tốt đẹp. Tôi vẫn còn giữ hai chiếc răng mọc sâu bên trong “ngạc” của em tôi.  Thật là một nha sĩ đại tài, thay vì nhổ ngay răng sâu, chỉ cần nhìn cách mà răng bị sâu là đã biết ngay đó không là sâu răng: răng sâu không bị nhổ bỏ mà hai răng thủ phạm ẩn núp trong “ngạc” khiến chặn đường dinh dưỡng làm răng giống như bị sâu thì được gắp ra! Phòng khám tư của Ông treo khoảng sáu văn bằng y khoa của Mỹ, Anh và Pháp. Nhiều trang thiết bị hiện đại thời ấy, kẻ cả máy chụp X-quang nha khoa. Nhưng Ông đã không dùng máy X-quang khi định bệnh cho em tôi. Ông không nhổ phức chiếc răng sâu của chú bé 6 tuổi, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông cũng sẽ làm. Ông không thu một xu chi phí, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông và đặc biệt thời nay không ai làm thế, trái lại họ có thể thu tiền cao nếu bịnh nhân trực tiếp đến phòng khám của họ, hoặc nếu bịnh nhân tìm đến bịnh viện công nơi nha sĩ công tác thì nha sĩ thường sẽ thuyết phục họ hoặc đến phòng mạch tư của ông ta, hoặc ra một bịnh viện tư để nha sĩ này sẽ đến đó phẫu thuật giúp – tất nhiên nhằm thu tiền nhiều hơn sau khi trả hoa hồng cho bịnh viện tư ấy, thay vì để bịnh viện nhà nước “hưởng” còn bản thân chỉ có chút ít phụ cấp theo quy định. Đơn giản: Ông là Nguyễn Tư Mô, một Nha Sĩ tài danh, một Nha Sĩ đích thực, một bậc Thầy luôn xem việc phục vụ y học là mục đích cuộc sống và việc đào tạo ra cho đời những nha sĩ giỏi là ý nghĩa cao trọng nhất của sự nghiệp một bậc thầy.

Giá như Ông ở lại với đất nước Việt Nam thống nhất, đừng ra hải ngoại ngày 30-4-1975, Ông đã có thể giúp ngành Nha Việt Nam và “người” Nha Việt Nam tốt đẹp và phát triển mạnh đến dường nào, vì Ông là tấm gương.

Không có gương báu và gương sáng để soi, người ta sẽ chẳng biết mình sáng và tốt  ra sao để mà chỉnh đốn mình cho đẹp, răn mình có được thứ gọi là “y đức” mà trước đây tự nhiên ai cũng có tự thân và tự nhiên, còn ngày nay trở thành thứ trang sức lệ thuộc tuyệt đối vào giáo dục ý thức mà cái sự giáo dục ấy thường được chứng minh là tương đối có hiệu quả.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Nếu Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô cứu một chiếc răng cửa cầu kỳ của em trai tôi, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cứu mạng em gái Thúy Hồng của tôi ngay tại phòng mạch – cũng là tư gia của Bà – tại biệt thự xinh đẹp cây cối um tùm hoa giấy đỏ ngay đầu ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện Vuờn Tao Đàn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Do em gái tôi bị sốt dài ngày, Ba và Má tôi đưa em tôi đến nhiều phòng mạch bác sĩ tư để đem về bao thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, thuốc viêm họng, thuốc viêm phổi, mà em tôi vẫn không thuyên giảm. Má tôi chợt nhớ tới Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và tất cả lập tức đưa em tôi đến phòng mạch của Bà, tất nhiên có tôi đi kèm. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là một phụ nữ tuyệt đẹp, dáng người không cao, nhưng phong thái quyến rũ, dịu dàng. Bà mặc đầm hồng phấn khi khám bịnh. Khi nhìn thấy em tôi, Bà chợt mím môi, tức giận, nói lớn tiếng: “Sao ai lại ác vậy? Khám vậy mà khám! Chết đứa nhỏ còn gì! Đây là bịnh thương hàn!” Bà lập tức viết toa thuốc trong lúc nói chuyện hướng dẫn Ba tôi bằng tiếng Pháp, rồi dặn Má tôi bằng tiếng Việt phải nấu súp gì cho em tôi uống, tuyệt đối không được ăn gì, v.v. và v.v. Em tôi được cứu sống chỉ với cái nhìn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà không cần thử máu hay chụp hình gì cả!

Sau đó gia đình tôi nghe tin Bà vào Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau 1975, chúng tôi mừng vui thấy Bà là Bộ Trưởng Y Tế. Nhưng chúng tôi không có dịp gặp lại Bà, và Bà cũng đâu có nhớ thằng bé tên Phước đã đứng lặng trân chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bà. Sau này không còn tin tức gì về Bà, cho đến ngày Bà mất. Một bác sĩ đại tài, tự mình nghe bịnh, tự mình khám bịnh, và tự mình chỉ định chính xác bịnh án cùng phác đồ điều trị, chứ không sai bảo bất kỳ ai trong số hai y tá phục vụ tại phòng mạch riêng ấy.

Bác sĩ Đặng Minh Chiếu

Trong khi đó, bác sĩ Đặng Minh Chiếu có phòng mạch tư và biệt thự gần rạp hát Long Phụng (trên đường Gia Long, ngày nay gọi là đường Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh), lừng danh về phụ khoa tại Sài Gòn. Ông đã tư vấn cho Ba Má tôi phải bảo vệ thai nhi thế nào mỗi khi Má tôi mang thai một đứa con. Mỗi khi theo Má tới phòng khám của Bác sĩ Chiếu, tôi thấy có nhiều sản phụ nước ngoài cùng chồng ngồi chờ ngoài sảnh. Nói tiếng Pháp điêu luyện, Ông có tài làm tất cả mọi người an tâm, vui vẻ, bình yên, hạnh phúc, xem như thai sản là chuyện dễ dàng, tự nhiên, trong một giai đoạn thời đại mà những ân cần chi tiểt như vậy vẫn chưa là tiêu chuẩn cả trời Âu. Tất cả những chỉ dẫn của Ông dành cho Má tôi đã được gia đình áp dụng cho đến sau ngày giải phóng, khi các em tôi lập gia đình và trở thành sản phụ đều được Má tôi lập lại những lời dặn dò của vị bác sĩ đại tài Đặng Minh Chiếu. Đặc biệt, những căn dặn của Ông là tổng hợp của kiến thức uyên bác Tây Y trên cơ sở không phản bác kinh nghiệm dân gian nào Ông cho là lành mạnh đáng tin cậy dù không bao giờ được Tây Y nghiên cứu. Chúng tôi không còn nghe tin về Ông sau ngày 30-4-1975, ắt Ông đã theo dòng thác người cuồn cuộn di tản của thời biến động ấy.

Bác Sĩ Ngươn

Bác sĩ Ngươn, trưởng khoa ngoại thần kinh Bịnh Viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh, lại là một trường hợp khác. Sau 1975, lúc Việt Nam vẫn còn chịu đựng sự cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, tôi công tác tại Văn phòng đại diện Công ty CIMMCO International thuộc tập đoàn Công-Thương-Kỷ Birla lừng danh toàn Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh. Có lần tôi đưa Trưởng Đại Diện người Ấn Độ của CIMMCO đến Chợ Rẫy khám bịnh tim mạch. Bác Sĩ Ngươn lúc ấy phụ trách khoa khám ngoại kiều. Tài năng chẩn định bệnh và khẩu ngữ tiếng Anh của Bác sĩ Ngươn làm Ông Trưởng Đại Diện ngạc nhiên, thán phục. Ông nói với tôi là Việt Nam thực sự có bác sĩ giỏi đến thế sao! Thậm chí, khi thấy sự chậm chạp của con rùa hành chính của bịnh viện với hàng chục lần thân nhân phải liên tục chạy xuống lầu đóng tiền lấy hàng chục biên nhận đóng tiền cho những xét nghiệm khác nhau, có thể gây phản cảm nơi bịnh nhân nước ngoài, bác sĩ Ngươn đã “phá luật”, viết lịnh tay để Ông Trưởng Đại Diện được xét nghiệm ngay lập tức, nghĩa là việc thanh toán thì tôi từ từ thực hiện trọn gói sau, và cũng nghĩa là nếu tôi không thực hiện thì bác sĩ Ngươn sẽ phải bị kỷ luật thật nặng! Để có thể “đền ơn”, tôi hỏi xin địa chỉ phòng mạch thì Bác sĩ Ngươn nói Ông và vợ Ông cũng là một bác sĩ đều không có phòng mạch riêng và không bao giờ muốn có phòng mạch riêng. Tôi xin số phone nhà thì bác Sĩ Ngươn bảo nhà không có phone. Tôi xin địa chỉ nhà, thì Bác sĩ Ngươn nói hai vợ chồng thường xuyên vắng mặt. Ông Trưởng Đại Diện nhờ tôi đến Chợ Rẩy tìm bác sĩ Ngươn để trao tặng vợ bác sĩ Ngươn một món nữ trang bằng vàng theo thói quen của người Ấn, thì bác sĩ cười bảo với tôi rằng “Tôi không nhận đâu. Tôi làm vì danh tiếng Chợ Rẩy và vì danh dự một bác sĩ. Anh Phước mà đặt vấn đề đền ơn nữa là tôi không coi anh là bạn đâu. Chúng tôi không mở phòng mạch vì đã dành hết sức lực phục vụ bịnh nhân ở bịnh viện, còn đâu hơi sức mà lo phòng mạch. Với lại vợ chồng tôi nhất trí không để danh tiếng bị tổn hại vì nếu mở phòng mạch sẽ bị tai tiếng là không tận tụy với bịnh viện và dẫn dụ bịnh nhân của bịnh viện về phòng khám tư của mình. Thành ra, chỉ biết lui về nhà với gia đình sau khi ở bịnh viện về thôi Anh Phước ạ. ” Tôi trả lại Trưởng Đại Diện chiếc hộp nhung đỏ với món nữ trang bên trong, thuật lại nội dung. Hai vợ chồng ông tần ngần hồi lâu, cảm động, rồi cười to: “Tưởng chỉ có Ông từ chối vàng, bây giờ biết thêm Ông ấy là hai!” Sau này ông Trưởng Đại Diện làm Chủ tịch Hội Hữu Nghị Ấn-Việt, còn vợ ông giảng dạy tiếng Anh tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh. Còn bác sĩ Ngươn, vị bác sĩ tài ba ấy, vì áy náy trước sự ân cần kính trọng thái quá của người nước ngoài đã phải buộc lòng phá lệ khi lịch sự nhận lời chạy xe máy Honda đến dùng cơm tối tại nhà ông Trưởng Đại Diện trên đường Phùng Khắc Khoan. Tôi cũng có mặt, vì đó là sự đương nhiên ở CIMMCO, và vì bác sĩ Ngươn bảo cần có tôi để có chứng nhân rằng Ông không nhận bất kỳ vật chất nào của ông Trưởng Đại Diện cả. Con người thanh liêm đức độ ấy chỉ đến ăn cơm cà ri và trò chuyện.

Có lẽ Bác sĩ Ngươn đã nghỉ hưu. Tôi thậm chí không nhớ tên đầy đủ của Ông sau 16 năm đằng đẵng vì Ông không cho danh thiếp chắc vì không in danh thiếp. Một vị bác sĩ tài ba, tận tụy với nghề đến nỗi không sao còn dư thời gian để có phòng mạch tư dù cũng để cứu người.

 

Cung cách sống đặc biệt của những bậc y khoa tài hoa ấy, luôn xem Lời Thề Hippocrate trước Thần Chữa Bệnh Apollon, Thần Y Học Esculape, Thần Hygie và Panacée cùng các nam nữ thiên thần là lời thề của con tim và từ khối óc, để cứu nhân độ thế, và vì danh dự chức nghiệp cao trọng của một đời.

Chúng tôi – và hy vọng là chúng ta – gọi họ là những con người thanh liêm, những y sĩ có y đức; vì rằng y đức không phải là một chủ đề cho một lời kêu gọi hay một kế hoạch đầy tốn kém để giáo dục và dựng xây – nhất là nơi khởi xướng nếu lại là từ Ngành Y thì quả là sự nhức nhối khôn khuây với muôn đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Không Quên Và Không Chê

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-3-2016

Cách nay hơn một phần tư thế kỷ, vợ tôi sinh khó phải mổ, lúc ấy vào tháng 12, trời Thành phố Hồ Chí Minh lạnh ngắt chứ không như bây giờ nóng quanh năm suốt tháng. Sau khi đưa vợ và con tôi về ngôi nhà nhỏ xíu ở Phú Nhuận mà tôi vẫn đang cư trú tại đấy cho đến tận ngày nay, tôi một mình lo toan mọi việc mà người đàn ông lập gia đình ra ở riêng nào cũng phải gánh vác trong hoàn cảnh tương tự.

Không quên và không chê lời dạy của Má tôi về chăm sóc sản phụ – đúc kết từ kinh nghiệm dân gian bao đời nay – tôi đã phối hợp với kiến thức Tây học để thực hiện việc sau:

Nếu kinh nghiệm dân gian nói về việc sản phụ nên “nằm than”, còn Tây học nói bếp than sinh ra khí carbonic cực kỳ độc hại cho sản phụ và hài nhi, tôi phối hợp bằng cách đặt bếp than hồng ngoài sân, đưa úp hai bàn tay của mình hứng lấy sức nóng của than, rồi chạy nhanh vào phòng trong, thử úp sơ bàn tay vào hai bên mặt của mình để yên tâm về độ nóng ấm vừa phải trước khi đặt hai bàn tay lên ngực vợ tôi, ôm từng bầu sữa một. Xong, tôi lại chạy ra chạy vào như thế, để ấp hơi ấm lên ngực vợ tôi, hai bầu sữa của vợ tôi, lên bụng vợ tôi, cũng như nhè nhẹ trên vết khâu đường giải phẫu. Sau đó, tôi lại tiếp tục việc chạy ra chạy vào để ấp ấm lên người, tay và chân của con tôi.

Má tôi đã truyền lại kinh nghiệm dân gian ấy mà Bà ngoại của tôi đã dạy Má tôi thủa sắp về nhà chồng, rằng khi sinh con, phải nằm than, không được nằm trước gió, không được tắm gội ngay cả tắm gội bằng nước ấm, mà nếu cần chỉ được lau mình qua loa bằng khăn thấm nước ấm, vì rằng nếu không thì sẽ thấy hậu quả nhãn tiền: chỉ cần vừa bước qua tuổi 30 là người phụ nữ sẽ phải luôn mặc áo ấm vì luôn thấy ớn lạnh dù trưa hè nóng bức, cũng như không thể chịu nỗi lúc trái gió trở trời. Còn việc ấp tay lên bộ ngực sản phụ để kích thích tiết sữa, lên bụng để vừa ấm bụng vừa săn chắc da bụng vừa ổn định tình hình dạ con đang bị tổn thương bên trong bụng.

Thế là sau khi cho vợ ăn sáng, cho con bú bình, ấp vợ ấp con xong, tôi chạy đi làm, để trưa quay về làm tiếp công việc y như sáng, và lại chạy đi làm đến chiều. Chưa kể, để vợ tôi ngủ yên, tôi đêm khuya bế con ra chốn thư phòng (tức nơi có một cái bàn, bốn chiếc ghế và một tỷ quyển sách) vừa cho con bú bình, vừa nói chuyện với nó bằng tiếng Anh, kể nó nghe tôi yêu nó biết bao, và mong muốn nó ngày sau hãy cố gắng hiếu thảo với mẹ, hãy là công dân tốt, và hãy thay tôi mà hết lòng chăm sóc mẹ của nó, người đã chấp nhận làm vợ một hàn sĩ như bố của nó để rồi phải trãi qua thử thách khắc nghiệt hiểm nguy để sinh nó ra đời.

Hơn nửa thế kỷ nay, Má tôi ở khu Bàn Cờ  Quận 3 vẫn đánh gió cho các con cũng như cho hàng xóm. Còn tôi ra Hà Nội họp Quốc Hội bao giờ hành trang vẫn có chai dầu khuynh diệp và dụng cụ đánh gió, để khi trái gió trở trời nhức đầu mõi cổ tôi có thể tự mình đánh gió sau gáy. Ngay cả khi không cần đến cái gọi là dụng cụ đánh gió, tôi vẫn có thể dùng ngón tay cái thấm dầu khuynh diệp để miết tới miết lui sau gáy như một cách đánh gió massage.

Phóng sự quốc tế cho thấy nhiều người Âu Mỹ ngồi xếp hàng chầu chực ở các cơ sở y học dân tộc bên Hàn Quốc chờ đến phiên được vào để được đánh gió, giác hơi. Còn tại Việt Nam thì bác sĩ thay vì nói “đánh gió là một kiểu massage tốt, đặc biệt nếu các bạn không bị cao huyết áp”, thì lại nói “đánh gió rất nguy hiểm nếu bạn bị cao huyết áp”.

Quên hết và chê hết những tinh hoa của dân tộc gần như là một đặc điểm thường thấy nơi những con người Việt Nam hiện đại. Nhưng lẽ nào người Hàn Quốc không hiện đại hay sao?

Tôi không quên và không chê những gì đã luôn được dùng để chăm sóc hiệu quả cho các chiến binh Việt trên đường Phạt Tống, Bình Chiêm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-02-2016

 Nguyen Thi Kim Tien

Tại Đại Hội Đảng XII vừa qua, ngành Y Tế không có lãnh đạo nào được bầu vào Trung Ương Đảng, kể cả Bộ Trưởng Y Tế đương nhiệm Nguyễn Thị Kim Tiến.

Với khát vọng quá lớn lao vì nước, vì dân, ngay từ ngày đầu giải phóng Miền Nam tiến tới thống nhất đất nước, mặc cho đất nước điêu tàn, kho tàng cạn kiệt, lòng người còn phân tán, xã hội còn lắm ly tan, Đảng và chính phủ Việt Nam đã cho áp dụng ngay lập tức các phúc lợi xã hội đồng đều, rộng khắp, từ giáo dục miễn phí đến y tế miễn phí cho toàn dân. Những nỗ lực vung tay quá trán vì nước vì dân này, cộng với việc đổ máu xương chống chọi với cuộc xâm lăng của Trung Quốc và cuộc xâm lược của Campuchia nhằm tiêu diệt nhanh gọn một Việt Nam ngỡ đâu đã suy tàn sau cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp và đánh Mỹ để rồi cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chính nghĩa duy nhất trên thế giới này cứu cả một dân tộc khỏi nạn diệt chủng lại bị Mỹ chụp mũ là xâm lược Campuchia để áp đặt lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc, khiến toàn bộ hệ thống giáo dục và y tế ngày càng lạc hậu, xuống cấp, thiếu thốn. Trong lúc ngay tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh vị Khoa Trưởng Khoa Ngoại Ngữ có học vị Thạc Sĩ Mỹ phải “phát huy sáng kiến” chế tạo giáo cụ trực quan bằng cách lấy bao bố đựng gạo dệt bằng sợi đay đem nhúng nước cho ướt sũng, treo lên bảng đen, rồi lấy mấy hình vẽ cắt trên giấy cứng đính lên vải bố để bị dính nước không rơi xuống đất, dạy sinh viên cách dạy học sinh trung học nhìn hình mà nói tên vật dụng bằng tiếng Anh, thì tại các bịnh viện lớn như ở Bịnh Viện Bịnh Nhiệt Đới ở Thành phố Hồ Chí Minh các y tá đẩy xe thuốc đên từng giường bịnh nhân viêm gan siêu vi không để vào dịch truyền, không để tiêm thuốc, không để phát thuốc trong vĩ, mà để rót từ chiếc bình thủy tinh khổng lồ trên xe ra ly một dung dịch đen đặc chiết xuất từ thân lá rể củ A-ti-sô cho bịnh nhân uống, kèm với vài viên thuôc trị bá bệnh Xuyên Tâm Liên từ trong bao nylon lớn tương tự chiếc bình A-ti-sô bên cạnh. Và giữa cái thế giới cả bạn lẫn thù đều ra sức bóp chết đất nước Việt Nam, chính người dân Việt Nam trở thành nạn nhân gánh chịu các đòn trừng phạt đó; đã vậy, biết bao vị bác sĩ hoặc vượt biên hoặc thất thời thất chí bất mãn bất phục bất hợp tác càng làm cho tình hình chăm sóc sức khỏe người dân càng không còn lối thoát.

Ấy vậy mà từng bước Đảng và Chính phủ Việt Nam vừa gượng dậy về kinh tế vừa tự lực cánh sinh khẩn trương đào tạo lớp cán bộ y tế bổ sung, vừa gia tăng chất lượng và số lượng cơ sở y tế đến tận phường xã. Đến nay thì mọi việc đã khá hơn về chất với số lượng các bịnh viện có yếu tố nước ngoài đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của người dân có thu nhập cao, cũng như với số lượng thuốc ngoại nhập khổng lồ mà tất cả các viện bào chế trên toàn thế giới đều đổ vào Việt Nam như nơi đến lý tưởng nhất để kinh doanh dược phẩm. Và Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhận lấy trách nhiệm trong một hoàn cảnh nền y tế không còn bi đát nhưng nảy sinh nhiều hệ lụy ấy cả về cơ sở vật chất, giá thuốc, sản xuất thuốc, dịch bệnh, và tác nghiệp của cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền.

Về cơ sở vật chất, do chủ trương chính sách từ ngày đầu giải phóng, các cơ sở y tế được mở ra đồng loạt hằng hà sa số đến tận từng phường, từng xã, trên phạm vi cả nước, khiến ngân sách dàn trải, không cơ sở nào không thiếu thốn, dẫn đến ngân sách cho các bịnh viện lớn “tuyến trên” tức tại các thành phố lớn cũng thiếu hụt, làm hạ tầng cơ sở ngày càng xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh, không có trang thiết bị y khoa hiện đại, còn y đức khó được trau giồi mãi trên nền duy ý chí. Khi điều kiện kinh tế đã khá hơn quá nhiều như hiện nay thì khó khăn mới lại càng đeo bám Bộ Trưởng Y Tế nhiều hơn: trong khi cơ sở y tế được xây dựng lớn hơn, nhiều hơn, sung túc hơn, hiện đại tối tân hơn, với số giường bệnh gia tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu săn sóc sức khỏe toàn dân, v.v., thì y đức hầu như đã thành vật xa xỉ quý hiếm nơi giới y bác sĩ. Thực tế xã hội này khiến Bà Nguyễn Thị Kim Tiến dù đã luôn hết lòng kêu gọi, nhắc nhở, thanh sát giám sát, vẫn phải chịu búa rìu dư luận khi vẫn xảy ra các hành xử vô văn hóa của cán bộ y tế đối với bịnh nhân nghèo, trình độ chữa trị đầy sai sót của các bác sĩ đẫn đến manh động của thân nhân bịnh nhân, cũng như việc kê toa của bác sĩ thường nhằm vào việc nhận hoa hồng nhiều hơn nơi công ty nhập khẩu cung ứng dược phẩm khiến bịnh nhân bịnh hơn và nghèo hơn, v.v. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về giá thuốc, đây là vấn đề từ tàn dư của chính sách sai lầm của các quan chức tiền nhiệm. Tác giả bài viết này từng cung cấp thuốc nguyên liệu bulk drug và thuốc thành phẩm cho Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ. Chất lượng thuốc luôn theo tiêu chuẩn Anh Quốc, công ty sản xuất luôn là công ty lớn, và chưa bao giờ có chuyện bất kỳ xảy ra về chất lượng thuốc và giá thuốc. Việc nhập khẩu là việc của các doanh nhân có quan hệ và kinh nghiệm với các nhà sản xuất dược nước ngoài, còn các doanh nhân này sử dụng đội ngũ chuyên viên dược là chuyện riêng của họ, cũng như các lô hàng họ cung ứng cho các cơ quan y tế đều luôn theo thử nghiệm của các cơ quan này đối với hàng mẫu thuốc và theo giá cả chính thức của hai bên. Thế mà Việt Nam bắt đầu quy định chủ nhân các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc phải có bằng cấp dược sĩ hay bác sĩ, khiến xã hội ồ ạt xuất hiện nhiều doanh nghiệp do số lượng đông sinh viên y khoa dược khoa tốt nghiệp ồ ạt kinh doanh dược phẩm, mạnh ai nấy tìm nguồn cung ứng giá thấp nhất rồi bán với giá cao nhất, tạo điều kiện làm giàu nhanh chóng cho các nhà sản xuất vô danh tiểu tốt ở nước ngoài, còn người dân Việt Nam thì chịu đựng chất lượng thuốc không cao, nơi sản xuất khả nghi, giá cả cao hơn, và báo chí thì lâu lâu lại đăng công bố của Bộ Y Tế thu hồi các lô thuốc nhập khẩu do có vấn đề về chất lượng. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không khoanh tay trước vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi đối với một sự việc mà căn cơ của nó đã bén rể thành cổ thụ qua bao thập kỷ. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về sản xuất thuốc, trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đề ra kế sách về thuốc generic, một việc mà nhiều thập kỷ nay đã chưa từng có vị Bộ Trưởng Y Tế nào trước Bà từng xem như một sách lược mang tầm chiến lược quốc gia. Đối với thuốc sản xuất trong nước thì như tôi đã từng viết blog, Việt Nam thay vì tập trung nghiên cứu các tư liệu cổ truyền dân gian để đưa vào sản xuất hiện đại chào bán ra nước ngoài, thì chỉ biết lo sao chép câu vớ vẩn của Cục Dược Phẩm Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA để ghi trên bao bì tất cả các “thực phẩm chức năng” sản xuất tại Việt Nam. Còn một nữ tiến sĩ dược được đưa lên tivi mấy ngày Tết Bính Thân 2016 để ngợi ca tài đức vì đã chế ra thuốc Trinh Nữ Hoàng Cung – dù Trinh Nữ Hoàng Cung là dược liệu từ thư tịch y học cổ và được sản xuất bởi nhiều cơ sở dược nhiều chục năm nay – cho thấy sự bối rối, dẫm chân tại chỗ của ngành dược đến độ buộc phải kiếm cho bằng được một vị để cho có đủ đầy các ngành cho mấy ngày Tết. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không phải không hiểu biết vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một xã hội mà sinh viên vào ngành Dược là để sau khi có bằng cấp là xin mở ngay hiệu thuốc để tham gia thị trường bán thuốc để được tiếp cận bởi các trình dược viên của các nhà sản xuất nước ngoài chứ không ai vào ngành Dược vì tâm niệm sẽ làm nên điều kỳ vĩ chế tạo thuốc cứu người, cứu đời. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và trước cái gọi là ý chí của sinh viên dược Việt Nam ngày nay đối với kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về dịch bệnh, trong nhiệm kỳ của Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, thế giới đã phải đương đầu với những bịnh tật triền miên. Tại Việt Nam, việc lạ vẫn xảy ra đối với Sốt Xuất Huyết. Nếu như vài tháng sau ngày giải phóng, đứa em gái áp út xinh đẹp Hoàng Thị Cẩm Thúy của tôi mất vì Sốt Xuất Huyết năm 1976 lúc mới 7 tuổi và chúng tôi chẳng hiểu đó là gì vì chưa từng nghe thấy ở Việt Nam Cộng Hòa, và chỉ thời gian ngắn sau đã nghe phác đồ điều trị của Bộ Y Tế rằng chỉ cần uống nhiều nước, uống nhiều nước chanh đường, giữ chế độ dinh dưỡng đầy đủ là sau một tuần sẽ khỏi, thì sau 40 năm tôi lại thấy tin tức dồn dập trên tivi và báo chí sự xuất hiện bùng phát dập dồn của Sốt Xuất Huyết, thậm chí với phim phóng sự nêu rõ sự “thờ ơ” của người dân không làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương, v.v. Như tôi đã từng nêu trong nhiều bài blog, cái sai của chính quyền là hay lạm dụng cụm từ “tuyên truyền giáo dục người dân” và “kêu gọi ý thức tự giác của người dân” vì tuyên truyền giáo dục không phải là phương pháp áp dụng cho tất cả mọi nội dung, mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi; thay vào đó, biện pháp chế tài nghiêm khắc mới là ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất như minh chứng ở Singapore. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng nếu ngay cả Sốt Xuất Huyết mà 40 năm qua vẫn không “tuyên truyền giáo dục” thành công thì nói gì đến các nguy cơ đại dịch khác; song, Bà khó thể làm gì được vì Bà chỉ có thẩm quyền đối với ngành Y Tế trong khi những thứ vĩ mô mang tính thực hành chung thì đến từ trung ương mà Bà không thể tự mình vượt qua được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn còn nhiều việc để làm để chấn chỉnh, chẳng hạn đối với Cục Quản Lý Dược là cơ quan đầy ắp quyền lực nhưng cạn khô trách nhiệm. Cục Quản Lý Dược là cơ quan quyền lực tột đỉnh đối với tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu dược và mỹ phẩm. Cục Quản Lý Dược là bộ mặt của Bộ Y Tế để chứng minh Bộ Y Tế có thừa hành đúng chỉ đạo của Đảng và chỉ thị của Chính Phủ trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh doanh kinh tế kinh tài hay không. Thí dụ dưới đây qua công văn số 18709/QLD-MP ngày 02-10-2015 khi một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh bị Hải Quan tạm giữ lô hàng mỹ phẩm do có các chi tiết không đúng 100% với chi tiết ghi trong giấy công bố sản phẩm do Cục Quản Lý Dược cấp, thay vì trả lời là lô hàng ghi chữ A và B và C theo như chi tiết D và E và F doanh nghiệp nêu trong công văn là chấp nhận được, thì Cục Quản Lý Dược lại dẫn Chương nào của Thông Tư nào quy định như thế nào. Để tránh trách nhiệm mang tính khẳng định cụ thể, Cục đã phải mất nửa tháng mới tìm ra Thông Tư đó để trả lời doanh nghiệp, vừa giúp Hải Quan có thêm thời gian thu thêm phí lưu kho của doanh nghiệp, vừa đá trái bóng qua Hải Quan để Hải Quan thay vì cho giải tỏa lô hàng của doanh nghiệp lại phải dành thời gian để đọc xem câu cú của Cục nên được hiểu như thế nào đối với danh mục mấy tá chủng loại hàng của doanh nghiệp; chưa kể công văn của doanh nghiệp có dẫn chứng về biên bản của Hải Quan nhưng Cục chỉ trả lời cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp phải sao y rồi trình cho Hải Quan xem, mà Hải Quan khó thể chấp nhận một bản photocopy không có dấu đỏ của Cục. Tất cả quy trình tránh né này dễ khiến doanh nghiệp tự hiểu ra rằng tốt nhất phải có “phong bì” đút lót cho Cục hoặc cho Hải Quan. Việc Bộ Trưởng Bộ Y Tế nên làm là (a) giao thực quyền cho các vị Cục Trưởng để họ phải bị xử lý nếu sai phạm hoặc để có sai phạm ở cơ quan họ trong tiến trình cải cách hành chánh, thay vì bám gấu áo của Bà, núp sau cái bóng của Bà để Bà phải gánh chịu mọi búa rìu dư luận trong khi họ vinh thân phì gia hoạnh họe doanh nghiệp mà Bà không biết đến; và (b) ra lịnh thay đổi cung cách ra văn bản vì Hải Quan và doanh nghiệp nói trên đều có trong tay các thông tư của Bộ Y Tế nên không lý do gì Cục lại dẫn ra các thông tư ấy, vì cái mà doanh nghiệp nêu là tại sao một tá mặt hàng mà họ cho là hợp lệ ấy lại bị Hải Quan tạm giữ và yêu cầu Cục cho biết một tá mặt hàng đó cái nào đạt, cái nào không đạt.

 qld

Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng cải cách hành chánh là một tiến trình gian nan đặc biệt với một Bộ như của Bà phải đối phó cùng lúc với nhiều vấn đề quan trọng và nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe toàn dân và y tế y học nước nhà, chưa kể lề lối làm việc thâm căn cố đế kiểu “con ông cháu cha” hoặc “anh anh em em kiểu Anh Hai Anh Năm Chị Sáu Chị Bảy” luông tuồng không thể một sớm một chiều có thể thay đổi được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước cung cách làm việc của “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi về quản lý. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Sẽ là một sự công bằng nếu như Chính phủ do Quốc Hội chuẩn y trong khóa XIV tiếp tục bổ nhiệm Bà Nguyễn Thị Kim Tiến làm Bộ Trưởng Y Tế thêm một nhiệm kỳ để Bà tiếp tục hoàn thành các dự án của Bà đối với sản xuất thuốc; mở rộng nâng cấp và hiện đại hóa các bịnh viện; hữu hiệu hóa cơ chế đảm bảo lượng vắc-xin chất lượng cho toàn dân; tối ưu hóa cơ chế chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo, dân chúng vùng sâu vùng xa, vùng hải đảo, chốn biên thùy; và trên hết là nâng lên được cao nhất y đức mà bản thân Bà đã trong suốt nhiệm kỳ qua đã gắng sức thể hiện tôn tạo tôn vinh. Sự nghiệp y tế nước nhà cần người trưởng ngành như Bà vì Bà có kinh nghiệm quản lý nhà nước, có kinh nghiệm đối phó với các vấn đề liên quan đến y tế toàn dân, có kinh nghiệm đề ra sách lược sản xuất thuốc theo công thức ngoại thay cho nhập khẩu để dân có thuốc chất lượng cao với giá không cao, và có uy tín chuyên môn y học với nước ngoài, nên hơn ai hết Bà cần tiếp tục vị trí đầu ngành để thực hiện kế sách Bà đã tâm huyết hoạch định vì nước vì dân.

Làm việc càng nhiều, giải quyết càng nhiều việc, đảm đương đa dạng phong phú các lĩnh vực trách nhiệm trên quy mô quá rộng lớn và liên quan đến tất cả các công dân của đất nước này thậm chí kể cả các công dân tương lai còn trong bụng mẹ, Bà càng là đích ngắm của các công kích, dèm pha, chê bai, bôi nhọ, mỗi khi có một sai sót nào đó đến từ bất kỳ ai thuộc ngành Bà quản lý.

Tôi tin tưởng rằng người dân sẽ nhận ra hiệu quả làm việc của Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nếu Bà tái cử vào vị trí tư lệnh ngành y tế Việt Nam.

Hiệu quả ấy sẽ là thứ y đức mà bản thân Bà dâng cho người dân Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

hhp 2016

A) Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Thực Phẩm Chức Năng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/30/thuc-pham-chuc-nang/

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

14-02-2015: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/14/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong/

Thực Phẩm Chức Năng

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot472

Trong bài có nói về các blog sắp có của mình [1], tôi có viết rằng sẽ có thêm vài blog chuyên đề trong đó có một blog về kinh doanh.

 ScreenShot465ScreenShot466

Trong ngàn bài viết của tôi bằng tiếng Anh trên Yahoo!3600 từ 2005 và bằng tiếng Việt trên Emotino [2] từ 2008, có khoảng 300 bài liên quan đến kinh doanh và tư vấn phát triển kinh doanh. Do quỹ thời gian eo hẹp, tôi chưa thể lục tìm trong tàng thư cá nhân các bản thảo của các bài viết ấy để upload hết lên blog phát triển kinh doanh. Trong khi chờ đợi các bạn thân của tôi giúp thu thập lại các bài theo cách đầy đủ nhất có thể được cho blog phát triển kinh doanh, tôi sẽ chọn đăng lại một hoặc hai bài đã tìm được để làm thí dụ trên blog nghị sĩ này, vừa (1) đáp ứng yêu cầu tối thượng của bạn đọc đối với trình độ khoa bảng thực thụ + kinh nghiệm đẳng cấp lãnh đạo thực thụ đối với lĩnh vực nói đến của một thạc sĩ kinh doanh quốc tế “chính hiệu” và “thực thụ”; vừa (2) đánh vào cái yếu điểm trầm kha của giới “chuyên nghiệp” Việt Nam là thường vô tư, hay máy móc lập lại một cách mặc định rằng những gì của Âu Mỹ thì đương nhiên đúng; vừa qua đó (3) giới thiệu cách nhận xét, phân tích, tổng hợp, tư vấn tích cực, chuyên nghiệp, độc lập, chất lượng, đặc thù, riêng biệt, của tôi, nhà tư vấn phát triển kinh doanh thực thụ. Được chọn đăng lại trên blog này là bài viết về Thực Phẩm Chức Năng. Kính mời các bạn đọc tham khảo.

Trân trọng.

Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng [3]

Hãy Là Chính Mình & Vượt Lên Chính Mình

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino 06-01-2012

Mục Lục

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng?

B) Thế Nào Là “Thuốc”

C) FDA: Ông Là Ai?

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

F) Hãy Nhìn Vào Ta

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình và Vượt Lên Chính Mình

 ScreenShot471

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng ?

Khi tham dự tiệc tất niên 2010 do Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, tôi được ban tổ chức đến bàn tiệc ngỏ ý mời tôi lên phát biểu sau bài phát biểu của Ông Từ Minh Thiện, Giám đốc Trung tâm. Vì là ứng khẩu nên tôi bắt đầu tập trung lắng nghe bài phát biểu của Ông Thiện để nắm bắt và khai thác các ý nào phù hợp với sự quan tâm của tôi, và chi tiết rằng Thành phố sẽ có hướng phát triển ngành thực phẩm chức năng trở thành tâm điểm được tôi quyết định chọn để sau đó phát biểu ứng khẩu hùng biện về thực phẩm chức năng, và rồi các nhà báo phải tiu nghỉu khi đến tôi hỏi mượn bài phát biểu (do thấy tôi có cầm mấy tờ giấy lên sân khấu, còn họ thì biếng lười không chịu lắng nghe và ghi chép) mới biết đó chỉ là tờ chương trình buổi tiệc mà ban tổ chức phát cho các đại biểu. Vậy thực phẩm chức năng là gì, vì sao tôi quan tâm thiết tha đến thực phẩm chức năng, và hôm nay lại muốn nói đến thực phẩm chức năng? T

hực Phẩm Chức Năng hay Thực Phẩm Dinh Dưỡng Bổ Sung là những khái niệm ngoại lai, không phải của Việt Nam, được Việt Nam nhập khẩu, sử dụng đại trà, tự mình trói mình, tự mình nhường sân chơi lớn cho nước lớn, tự mình chối từ ưu thế kinh nghiệm vĩ đại của ông cha mình. Trong một tài liệu nước ngoài, người ta có cách giới thiệu rất hài hước như sau về lịch sử của thực phẩm chức năng:

– Năm 2000 trước Công Nguyên: Thầy Mo phán: Này, hãy nhai rễ cây này sẽ hết bệnh.

– Năm 1000 sau Công Nguyên: Thầy Pháp phán: Nhai rễ cây ấy rất lạc hậu, tà đạo, dốt nát. Hãy lập lại lời thần chú sau sẽ hết bệnh.

– Năm 1850 sau Công Nguyên: Ngự Y tâu: Khải tấu Đức Kim Thượng, việc chúng dân hay cúng bái bùa chú khi có bệnh là việc mê muội dị đoan. Chúng Ngu thần ở Ngự Y Viện đã chưng cất được loại thuốc nước này giúp dân hết bệnh

– Năm 1940 sau Công Nguyên: Y Sĩ phán: Mấy thứ thuốc lang băm đó là dầu rắn rít đấy! Hãy uống viên thuốc này sẽ hết bệnh.

– Năm 1985 sau Công Nguyên: Bác Sĩ phán: Thuốc viên ấy có hiệu nghiệm gì đâu! Hãy uống thứ kháng sinh này sẽ hết bệnh.

– Năm 2000 sau Công Nguyên: Nhà sản xuất xanh-sạch-lành nói: Thứ kháng sinh ấy là đồ nhân tạo trái tự nhiên. Hãy nhai thứ rễ cây này sẽ hết bệnh.

Vì nhiều lý do khác nhau như “thuốc tây” có giá cao, không thể chữa hết tất cả các bệnh, và phong trào “ăn lành”, “ăn sạch”, “trở về với Mẹ Thiên Nhiên”, “tiêu chí an toàn không phản ứng phụ”, và xuất hiện các phương pháp trị bệnh mang tính “truyền thống dân gian” từ sự giao thoa văn hóa của toàn cầu hóa, người dân Âu Mỹ ngày càng quan tâm đến thực phẩm dinh dưỡng bổ sung và các loại thảo dược. Nhu cầu này của “người tiêu dùng” đương nhiên được hăng hái đáp ứng bởi các nhà sản xuất, dẫn đến – theo số liệu năm 2001 – sự thật là có 42% dân số người lớn ở Mỹ dùng các thứ đa sinh tố và thực phẩm dinh dưỡng chức năng, và các liệu pháp thảo dược trị bệnh cho thấy người tiêu dùng Mỹ đã chi từ 3,5 tỷ USD năm 1997 nay đã lên hơn 5 tỷ USD mỗi năm, với số lượng hơn 20.000 sản phẩm thảo dược bán tự do không cần toa (OTC – Over-the-counter).

Khi người tiêu dùng quan tâm đến kho tàng tri thức Đông Phương, từ sự sửng sốt trước những sách cổ thư vĩ đại bằng tiếng Sanskrit về tình dục như Ananga RangaKama Sutra mà thế giới Âu Mỹ nhận ra rằng những cái họ gọi là hưởng lạc dục tình trong Thế Kỷ XX hóa ra đã tồn tại nhiều ngàn năm trước đó tại Phương Đông, những kỹ thuật huyệt đạo nền tảng của giải phẫu học và châm cứu của Trung Quốc cùng các thảo dược thần diệu ở Đại Hàn và khắp vùng Châu Á từ thời thượng cổ, đến thực tế đắng cay rằng nếu xưa kia vấn đề vệ sinh tồi tệ của y học Âu Mỹ vĩ đại đã từng gây ra các cơn đại dịch như Black Death tàn phá Anh Quốc và Châu Âu, và rằng y học cận đại bị vết nhơ do xử tội vị y sĩ duy nhất giữ vệ sinh rửa tay sạch sẽ khi khám bệnh, đến sự thật là ngày nay thuốc Tây Y vẫn còn bó tay trước nhiều căn bệnh hoặc gây ra những phản ứng phụ tai hại, họ quan tâm – và có quyền quan tâm cũng như yêu cầu được phục vụ – đến các phương pháp bí ẩn của Đông Phương trong lĩnh vực y tế tức chữa bệnh, phòng bệnh, và cải thiện sức khỏe. Đó là l‎ý do cho sự trỗi dậy của cái mà chúng ta đặt tên theo sự thống trị ngôn từ của phương Tây là: thực phẩm chức năng hay thực phẩm dinh dưỡng bổ sung, tức những thứ mà ta bị buộc phải ghi dòng chữ vô nghĩa vô duyên vô lý:‎ “không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh thay thuốc”.

Vậy, thế nào là “thuốc”? Xin xem hồi sau sẽ rõ.

B) Thế Nào Là “Thuốc”

Chẳng ngôn ngữ nào tối ưu so với các ngôn ngữ còn lại. Tiếng Anh chỉ có chữ You dành cho đối tượng trực tiếp ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều, trong khi tiếng Việt có cơ man nào là chữ, chẳng hạn như Em, Anh, Chị, Ông, Chú, Bác, Thím, Dì, Bố, Mẹ, Ba, Má, Thầy, U, Dượng, Mợ, Tổng Thống, Mầy, Ngươi, Nhà Ngươi, Tụi Bây, Chúng Mày, Các Anh, Các Chị, Quý Vị, v.v. Ngược lại, tiếng Anh có medicine, medicament, medication, drug, druggery, medicinal drug, potion, nostrum, dope, elixir, lincture, linctus, electuary, v.v. dùng cho từng loại khác nhau hay trong ngữ cảnh khác nhau cho ý nghĩa của “thuốc”, trong khi tiếng Việt ta chỉ có mỗi chữ thuốc xuất hiện mọi lúc mọi nơi cho mọi thứ và mọi ngữ cảnh từ thuốc Tây đến thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Đông, thuốc bổ, v.v. để cứu người, đến thuốc độc, thuốc chuột, v.v. để không cứu người, thậm chí cả khi chẳng liên quan gì đến cứu hay không cứu, như… “hết thuốc chữa” với nghĩa “bó tay” hay “chào thua”.

Chính bởi tiếng Anh có sự phân định rạch ròi nghĩa của medicine là thuốc dùng để chữa bệnh, phòng bệnh, gia giảm triệu chứng của bệnh, trong ngành khoa học y dược chuyên nghiệp về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh, nên mới có việc Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ (US Food and Drug Administration, FDA) cùng với đạo luật DSHEA 1994 (Luật Giáo Dục và Chế Độ Thực Phẩm Bổ Sung) quy định những thứ không là sản phẩm của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh thì không được phép dùng chữ medicine để gọi mà phải dùng chữ khác. Đó là nguyên nhân ra đời của cụm từ mới tinh mà ngàn xưa không ai dùng đến: nutritional supplement hay dietary supplements hay herbal supplement hay functional foods hay nutraceuticals hay những cách gọi khác mà ở Việt Nam gọi chung là thực phẩm chức năng. Thế giới Âu Mỹ luôn chứng minh người ta chỉ có tiếng nói mạnh hơn nếu là đại gia tài chính, và khi các nhà sản xuất thực phẩm chức năng biến ngành công nghiệp thực phẩm chức năng thành ngành kinh tế trị giá gần chục tỷ USD/năm, họ có quyền giằng lấy từ medicine về phía mình, và phát sinh ra cụm từ alternative medicine (mà giới hóa học gia của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh chịu thua nhưng vẫn trề môi khinh bỉ khi nghe ai nói đến) với nghĩa đen trần trụi là thứ thay thế thuốc, nghĩa là thuốc được dùng cho thực phẩm chức năng dù chưa chính quy chính thức chính đạo.

Thế thì tại sao Việt Nam lại tự trói mình, tự phủ nhận mình, không dám gọi đó là thuốc như tổ tiên Việt Nam đã dùng, mà phải gọi là thực phẩm chức năng và ghi cái dòng chữ vô duyên cứ như FDA của Mỹ chủ đạo đứng đầu và có quyền sinh sát với ngành y dược cổ truyền của Việt Nam. Trước khi phân tích về điều này, ta hãy xem FDA là ai mà thiên hạ khiếp sợ thần uy đến thế. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

C) FDA: Ông Là Ai?

FDA là Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ, thuộc Bộ Y Tế & Phục Vụ Nhân Dân (US Department of Health and Human Service HHS). Nhưng do bài viết này nhằm làm lợi cho độc giả Việt Nam chứ không tiếp tay đánh bóng thương hiệu FDA, nên những người quan tâm có thể vào trang web của họ để biết họ lớn như thế nào với hàng ngàn phòng thí nghiệm ở nhiều châu lục và tỷ tỷ tỷ USD ngân sách, có quyền sinh sát ra sao, và luôn bị giới tỷ phú ngành thực phẩm chức năng nhạo báng, tranh cãi, bút chiến, khẩu chiến, và nắm cổ lôi xềnh xệch ra tòa nhiều quan chức FDA vì ăn hối lộ và tham nhũng, v.v.

Nói vắn tắt một cách bình dân về sự “quản lý” của FDA đối với thực phẩm chức năng là như thế này: chúng tớ quản lý thuốc drug và thực phẩm theo tên gọi cơ quan chúng tớ ấy mà; vậy nếu các cậu là thuốc drug thì tất nhiên phải theo các quy trình cực kỳ chặt chẽ do chúng tớ ban hành, và nếu các cậu là thực phẩm thì cũng y như vậy; nhưng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên chúng tớ không có quyền đụng vô để thông qua hay không thông qua; song tiếc là do quy định của… “ở trên” nên buộc phải ra “thần uy”quản lý nhà nước một tí bằng cách đề nghị các cậu chịu khó ghi dòng chữ rằng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên cách chi mà chúng tớ có phôi biểu mẫu để cấp chứng thư cơ chứ; và nếu ghi như thế ngoài hộp thì cả hai ta đều có lợi ở chỗ khẳng định chúng tớ đâu có công nhận gì đâu nên không chịu trách nhiệm còn các cậu khỏi bị người tiêu dùng kiện tụng nếu uống cả đời vẫn không thấy si-nhê hay ép-phê hoặc hiệu nghiệm gì sất.

FDA là như vậy đấy. Quy định về thực phẩm chức năng là cũng vì vậy đấy. Nếu ai đó muốn bán thực phẩm chức năng vào nước Mỹ thì phải ghi câu ấy – nhưng dường như chỉ có desperado tức kẻ liều mạng mới có ý định kinh doanh thực phẩm chức năng vào nước Mỹ! Ấy vậy mà có nhiều nước xem FDA là Thượng Đế của thế giới y dược nên ra quy định sản phẩm thảo dược nước mình, của Ông Cha mình, của tiên tổ mình, là thực phẩm chức năng, đồng thời phủ nhận luôn đặc thù dược tính chữa bệnh của nó, cứ như thể hoặc “thuốc Tây” đã có mặt tại nước ta nhiều ngàn năm trước, hoặc tổ tiên ta chẳng biết bịnh là gì bao giờ. Con Rồng, Cháu Tiên mà!

Thế mới biết cái lợi của siêu cường: lời anh nói ra đương nhiên là chân lý. Song, do FDA to quá nên sau khi có vài lời nhẹ nhàng trên, thiết nghĩ nên tha cho FDA để tiến ra thế giới cho mở rộng thêm tầm mắt trong khi lẽ ra thiên hạ phải đến nước ta để mở rộng tầm mắt. Xin mời xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

Thật không thể buột miệng nói “tiếc quá các bạn ơi” như người dẫn chương trình Ô Cửa Bí Mật trên VTV3 ngày Chủ Nhật được, vì khi xem phim tài liệu của TV Discovery mới bán tín bán nghi, nửa tin nửa ngờ, trước điều mắt thấy với kính 3D, tai nghe với âm thanh qua hệ thống loa 12 chiếc: hàng đoàn người Âu Mỹ, đa số là người cao tuổi, đa số đi có vợ có chồng cùng đi, thiểu số do con cái đưa đi, và tất cả đều ngời rạng niềm hy vọng không ai có thể dấu diếm được trên gương mặt khi ngồi thoải mái trong sảnh sáng sạch đẹp của một “bịnh viện dân tộc” tại Hàn Quốc chờ đến phiên vào… đánh gió, giác hơicắt lễ! Đánh gió với miếng gỗ nhúng vào “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng. Giác hơi kiểu mới với ống thủy tinh hút chân không hình trụ (sau đó, Discovery còn phát phim tài liệu khác cho thấy cảnh “dữ dội” hơn tại Mỹ chiếu cảnh mấy anh Mỹ da trắng trần trùng trục cười khoái trá mãn nguyện khỏe khoắn sau khi được thử giác hơi bằng ống thủy tinh hình cầu y như của Việt Nam trước đây và dùng que nhúng vào cồn để đốt bên trong lòng ống giác hơi trước khi úp lên lưng y như kiểu dùng que nhúng vào dầu lửa của người Việt Nam trước đây!). Cắt lễ kiểu vừa cũ vừa mới: sử dụng cụ tân kỳ, tiệt trùng, có thoa “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng, để thực hiện việc cũ (đâm nhẹ vào vùng mặc định có vấn đề để trích ra một giọt máu).

Cảnh trên này thấy quen quen. Alexandre Dumas Cha có viết trong Ba Chàng Ngự Lâm việc hễ đau ở đâu thì đâm vào đó nặn ra cả chén máu. Ông Bà Việt Nam tiết kiệm nên tinh tế trích ra có một giọt máu để chữa bệnh cứu người. Người ta đọc Ba Chàng Ngự Lâm, buột miệng nói: thấy mà ghê! Bác sĩ Tây Y Việt không bao giờ không chỉ trích đánh gió, giác hơi, cắt lễ, với ý khẳng định rằng đánh gió làm vỡ mạch máu nên lưng có lằn y như roi quất, rằng giác hơi làm phồng dộp da lưng cùng nguy cơ cháy phỏng, và rằng cắt lễ rất mất vệ sinh gây ra nhiễm độc máu. Người Việt thì tất nhiên vừa nghe lời bác sĩ Tây Y, vừa thần phục y học Âu Mỹ, nên không cho phép bà nội, bà ngoại, hay mẹ già được đụng vô mình với mấy thứ “vũ khí” ghê rợn đó khi mình bị … trúng gió. Đến khi không thể phủ nhận tác dụng trị liệu của “đánh gió” như một thứ massage nhất là khi đánh gió với dầu khuynh diệp, bác sĩ Tây Y mới phán một cách khôn ngoan rằng đánh gió rất nguy hiểm đối với người bị cao huyết áp, nghĩa là cứ áp cái hù dọa và tính từ tiêu cực cho đánh gió, thay vì nói đánh gió có tác dụng tích cực đối với những người khỏe mạnh. Đến khi thấy Trung Quốc và Hàn Quốc chào bán dụng cụ giác hơi chân không, các bác sỹ Tây Y thôi không nói gì về giác hơi, vừa không muốn đụng chạm đến giới y dược các nước ấy do ở nước họ Tây – Đông phối hợp hòa thuận mà các hãng đưa vào Việt Nam cơ man nào là thuốc Tây với chiết khấu hậu hỉ cơ mà. Đến khi thấy cắt lễ tự động biến mất, các bác sĩ Tây Y ở Việt Nam không nói gì thêm về phương pháp chữa bệnh này.

Thế là những người giàu có muốn sống lâu, những người Âu Mỹ tuyệt vọng trước thuốc Tây, và những người chẳng có vấn đề gì về sức khỏe nhưng bị mê hoặc bởi các lời đường mật do chính các hãng thực phẩm chức năng của Âu Mỹ soạn ra để tiếp thị “thần dược Đông Phương made-in-USA”, đổ xô đến Hàn Quốc, chờ được “chữa”, rồi mua biết bao “thần dược” thực phẩm chức năng cho vào ba-lô trước khi lên đường chu du đến thăm bao danh lam thắng cảnh xứ Hàn, khiến đất nước của Nàng Đê-Chang-Kưm (giai nhân điện ảnh cực hiếm trên toàn thế giới vì vừa đẹp tuyệt trần, vừa đúng là ngôi sao thực thụ của nền điện ảnh thực thụ, vừa có văn hóa cao học lực cao và học thức cao) hừng hực tiến mạnh phát triển du lịch, hốt bạc từ y dược truyền thống dân gian (có nghi vấn: không biết Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn khi tháo chạy từ Việt Nam Cộng Hòa về nước, có đem theo “kinh nghiệm” của người Việt đánh gió, giác hơi, và cắt lễ biến thành của … tổ tiên Hàn?), và qua đó biến văn hóa đời sống, ẩm thực, văn minh, con người, vang danh toàn thế giới.

Sau khi tiếc ngẩn tiếc ngơ trước những gì Hàn Quốc làm để vinh danh tài sản trí tuệ của Ông Cha của họ (hay copy của tổ tiên người Việt), ta nên quay trở lại Mỹ để biết cái tài sản trí tuệ Đông Phương cũng được các nhà tư bản “xem trọng” ra sao qua những chiêu thức nhanh nhạy, chuyên nghiệp, đẳng cấp cực cao của họ. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

Hầu như có rất nhiều người Việt có thân nhân ở các nước Âu Mỹ, và “quà cáp” họ thường nhận với số lượng “khủng” là thực phẩm chức năng vì chỉ có thực phẩm chức năng mới là thứ đóng vai trò thể hiện tình thương, đạo hiếu, tình cảm của người Việt xa quê dành cho thân nhân và người thân thương ở Việt Nam. Tất cả cho thấy hàng năm ngoài số lượng nhập khẩu chính thức để bán tại “nhà thuốc”, siêu thị, và các công ty đa cấp, ắt có hàng triệu lọ thực phẩm chức năng đổ bộ vào Việt Nam qua hàng quà biếu hay trong va-li của Việt Kiều, từ đa sinh tố (như Centrum có vài chục sinh tố từ A đến Z, hay như Kirkland trộn Calci với hai sinh tố D và K) đến đơn sinh tố (chỉ một loại sinh tố, như Kẽm Zinc), và … nghiền hạt của trái nho làm “thuốc” bổ tim

 ScreenShot468

Và qua bàn tay điêu luyện chuyên môn của các nhà chuyên môn tiếp thị PR, viết nên những câu chuyện thần bí thần kỳ ở những xứ miền Anh-đô-nê-diêng hay đảo quốc đã từng tồn tại hay sắp bị biến đổi khí hậu nước biển dâng nhấn chìm, biến những quả ngon ngọt đầy dẫy ở Việt Nam (như măng cụt hoặc trái nhàu có mùi khai gai góc mà dân Việt dùng nuôi dê) thành thần dược thần diệu mà nói theo cú pháp của mấy ông đạp xe bán dạo keo dính chuột là: “không có thứ trái cây nào có thể so sánh được”.

ScreenShot469

Thậm chí sau khi đã dùng hết tên các địa danh huyền thoại, cũng như đã hết “nguồn” của cải “quả”, “lá”, “rễ”, “cành” và…“từ ngữ”, các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Mỹ nhanh tay sử dụng luôn những thứ như… dầu dừa (thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, phụ nữ các tỉnh vẫn còn dùng dầu dừa để vuốt tóc cho óng mượt, nuôi dưỡng tóc cho dài, chắc, dày; còn sau ngày 30-4-1975 thì mấy nhà máy SEP tức trích ly dầu thực vật do… công ty tôi cung cấp cho các tỉnh như Bến Tre thì nhằm sản xuất dầu dừa làm dầu ăn) làm viên nang mềm cực đẹp và tinh tế mà chẳng thèm làm PR marketing cũng như chẳng ghi công dụng tốt cho “chức năng” nào của cơ thể, đồng thời phớt lờ chẳng in cái câu mà FDA yêu cầu!

 Supplement (17)

Những việc trên cho thấy thực phẩm chức năng là đối tượng của một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận tại Hoa Kỳ. Siêu lợi nhuận vì thoát được những ràng buộc khắt khe của “thuốc”, tất nhiên trừ yêu cầu về cGMP (Current Good Manufacturing Practices) và chịu sự điều chỉnh của đạo luật DSHEA 1994 (Dietary Supplement Health and Education Act of 1994) dưới cơ chế quản lý nhà nước của FDA như đối với tất cả các nhà sản xuất dược phẩm và thực phẩm khác. Sự phát triển rầm rộ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng tại Mỹ cho thấy người tiêu dùng Mỹ quay sang loại “thuốc thay thế” này, khiến có các khuyến cáo kêu gọi người dân Mỹ hãy bình tĩnh đừng mặc định rằng những gì của thiên nhiên không có hóa chất là đương nhiên tốt hơn thuốc tây (tân dược), và chỉ nên mua thực phẩm chức năng “hàng hiệu” để yên tâm hơn về chất lượng.

Nếu như thập kỷ cuối cùng của Thế Kỷ XX là thời hoàng kim của sự bùng nổ ngành kỹ nghệ thảo dược Hoa Kỳ, thì sụt giảm về doanh số bán trong thập kỷ đầu tiên của Thế Kỷ XXI này chỉ cho thấy ngành thảo dược đã phát triển quá nóng với sự bon chen vào sân của các đối thủ từ Châu Âu, kể cả từ các nước Đông Âu khối xã hội chủ nghĩa cũ. Tuy có điều oái oăm là các nước Châu Á chỉ bắt đầu vào sân chỉ sau khi đột nhiên thấy những “thứ” của Ông Cha mình đang làm giàu cho các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Âu Mỹ, song sự có mặt của họ như những nhà sản xuất của các nước có nền y học cổ truyền hưng thịnh cũng khiến ảnh hưởng đến doanh số của các nhà đại tư bản Âu Mỹ. Tức giận, người ta đổ lỗi cho mọi thứ, chẳng hạn như Mark Blumenthal, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành Hiệp Hội Thảo Mộc Hoa Kỳ ở Bang Texas, đồng thời là chủ bút tờ báo về thảo dược HerbalGram, đã chỉ trích các phương tiện truyền thông đại chúng cứ nói lung tung linh tinh công kích thực phẩm chức năng khiến thị trường sút giảm, chẳng hạn cứ nói kiểu đó là ngành kỹ nghệ phi luật lệ làm người tiêu dùng hết tin vào sự chuyên nghiệp của ngành và sản phẩm, thậm chí việc cơ quan chính phủ không chịu công nhận dược tính thảo dược đối với công tác phòng bệnh cũng làm gia tăng tiêu cực kinh doanh. Trong khi đó, một cách ôn hòa hơn, Ông Greg Ris, phó tổng giám đốc kinh doanh của Indena USA ở Bang New Jersay, nhìn nhận rằng chính thị trường phát triển bùng nổ phải chịu trách nhiệm vì nhu cầu tăng quá nhanh dẫn đến áp lực về giá bán thành phẩm giảm và giá mua thảo mộc nguyên liệu tăng. Đơn cử một thí dụ như đinh hương (clove) được Mỹ thu mua cả quả và thân nhánh từ các nước Madagascar, Singapore, Pháp, Sri Lanca, Indonesia, Tanzania, Moldova, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, v.v., mỗi năm gần 2.000 tấn do thiếu hụt nguồn cung trong nước, kể cả ở nước ngoài do số lượng nhà sản xuất thì tăng nhưng diện tích đất trồng thì không tang.

Sự cạnh tranh trong nội bộ thị trường Mỹ cho người ta thấy ngành kỹ nghệ này rất chính danh tương tự bất kỳ ngành công nghiệp lớn và quan trọng nào khác của nền kinh tế quốc dân. Brian Stephenson cho rằng người dân Mỹ khi hàng năm chi nhiều tỷ USD cho thực phẩm chức năng nhưng trước số lượng gần như vô tận các nhà sản xuất và nhà thuốc thực phẩm chức năng mọc lên hơn nấm, thì người dân Mỹ của ông cần lưu ý đến 3 điều sau:

– Không có sự khác biệt giữa “thuốc” và “thực phẩm chức năng” vì cả hai đều có tác dụng nếu dùng đúng cách. Sự khác biệt sở dĩ có là tại FDA xem những “thứ đó” như thể chúng là “thực phẩm”, từ đó FDA bày ra cách giải thích kỹ thuật rằng “chúng” là những sản phẩm dùng bằng đường miệng, có chứa chất liệu nhằm bổ sung cho khẩu phần ăn, trong khi “thuốc drug” là những sản phẩm được định nghĩa theo pháp luật là những chất liệu được dùng nhằm khám bệnh, chữa bệnh, hay phòng bệnh. Hóa ra thực phẩm chức năng bị FDA xem chẳng khác nào như viên kẹo ngậm cho mát cổ họng.

– Do “thực phẩm chức năng” cũng là thuốc, nên đừng vội tin rằng đó là “thực phẩm” mà dùng vô tư. Phải có tham vấn của bác sĩ, vì không nên dùng cùng lúc hai loại … “thuốc” này với “thuốc tây”.

– Nên mua “hàng hiệu” vì không phải cứ sản phẩm thiên nhiên, không sử dụng hóa chất, là mặc định rằng “thuốc” ấy (thực phẩm chức năng) đương nhiên tốt, vì rằng chính do là sản phẩm thiên nhiên nên có khi lại dính thuốc trừ sâu bệnh, vi khuẩn ngoài trời, khoáng chất kim loại nặng rất độc hại của thiên nhiên, và sự gia giảm hàm lượng để gia tăng lợi nhuận của nhà sản xuất cạnh tranh không chân chính.

Như vậy, siêu cường Hoa Kỳ đã chứng tỏ họ là siêu cường cả về thảo dược mà cơ quan FDA của họ gọi là “thực phẩm chức năng”. Điều cần lưu ý ở đây là: cơ quan FDA gọi đấy là “thực phẩm chức năng” không vì nó không có dược tính, không vì ý muốn ngôn từ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng, các bác sĩ chữa bệnh bằng thảo dược, và không vì mong muốn của bệnh nhân Mỹ, người tiêu dùng Mỹ. Vậy ở Việt Nam xử sự thế nào với thảo dược? Nếu thực phẩm chức năngthực phẩm, liệu người tiêu dùng có cho là họ bất bình thường khi bỏ tiền ra mua với giá cao những viên mà trái cây ngon ngọt thơm lừng họ có thể mua với giá rẻ hơn để… ăn tươi nuốt sống? Xin mời xem hồi sau sẽ rõ.

F) Hãy Nhìn Vào Ta

Có thể người Việt ta ham học hỏi, thậm chí có bạn trẻ khi dự phỏng vấn xin việc ở công ty nước ngoài lại nói rằng bản thân ham học hỏi và muốn vào để học hỏi hoặc sẽ học hỏi để khắc phục những năng lực còn chưa đạt, mà không biết rằng đối với nhà phỏng vấn chuyên nghiệp đẳng cấp cực cao thì một dấu X to tướng đã xuất hiện gạch chéo ngang hồ sơ trước mặt ngay khi tai vừa nghe thấy từ “học hỏi” vì người ta chỉ muốn tuyển dân chuyên nghiệp đã qua đào tạo chứ không tuyển…học viên. Anh phải nhuần nhuyễn, tôi mới tuyển. Anh còn phải học hỏi thì cứ về học cho xong, vài năm nữa quay lại để phỏng vấn tiếp nhé. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy kẻ khác ở nước ngoài là Thầy ta. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy bản thân chẳng có gì hay ho để đem ra dạy người khác. Chính vì ham học hỏi mà người ta nói đi học tiếng Anh để tiếp thu văn hóa nước ngoài chứ chẳng ai như nhà giáo Hoàng Hữu Phước nói học thật giỏi tiếng Anh để dạy cho đại học Mỹ các môn lịch sử Việt Nam và Văn Học Việt Nam, hoặc học tiếng Anh để dạy môn Ngôn Ngữ Học Tiếng Việt cho sinh viên Anh Mỹ. Cứ thế mà giới y khoa gọi bác sĩ Tây Y là “bác sĩ” chứ không xem trọng bác sĩ Đông Y nên không gọi họ là “bác sĩ” mà gọi hết sức xằng bậy về ngữ nghĩa là “lương y” thay vì phải gọi là bác-sĩ-Tây-Y và bác-sĩ-Đông-Y; còn bác sĩ Tây Y đeo ống nghe (chẳng biết để làm chi) để rồi cằn nhằn người mẹ hay người vợ của người bệnh khi thấy lưng người bệnh có mấy đường cạo gió hay mấy mặt trăng tím bầm của giác hơi, rằng làm vỡ mạch máu, v.v. và v.v., phủ nhận nhiều sự thật rằng tổ tiên Việt Nam đã dùng “thực phẩm chức năng” để chữa bệnh từ ngàn xưa để ra sức thần uy Phạt Tống, Bình Chiêm, Trừng Minh, Trị Thanh, Đuổi Xiêm, Rượt Phỉ; rằng danh tiếng của “cạo gió” đã theo chân người lính Mỹ về đến Hoa Kỳ với những tác phẩm hồi k‎ý không phải nhớ mấy em bán dâm mà nhớ mấy lần say xỉn trúng gió được mấy ẻm đè ra cạo gió nhờ vậy còn sống đến ngày rút quân; và rằng bà mụ đỡ đẻ Việt Nam từ xa xưa đã biết rửa tay bằng nước ấm pha gừng trước và sau khi đưa hài nhi ra khỏi cửa mình người mẹ, chứ không như giới Tây Y ngay thời cận đại còn “đì” một ông bác sĩ làm ông bị tống cổ ra khỏi viện hàn lâm y học rồi chết trong nghèo khổ đơn độc mà kẻ đưa ma chỉ là một chú chó trụi lông chỉ vì ông ấy dám đề nghị mọi người rửa tay với xà phòng trước và sau khi khám mỗi sản phụ và bệnh nhân để may ra không làm nhiễm bệnh cho bệnh nhân tiếp theo.

Như trong bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương [4] , nhiều chùa cũ ở Việt Nam bị các sư cho đập bỏ để xây chùa bê-tông lớn hơn, sát mặt đường hơn cho rộng nơi ở hơn, không phí dù một khoảnh nhỏ nào để trồng cây xanh bóng mát, hầu như những y sĩ Việt Nam cũng theo tâm lý chung ấy rằng cái mới ắt tốt hơn, đáng tin cậy hơn. Tất nhiên ai cũng công nhận chùa bê tông khó cháy hơn chùa gỗ. Tất nhiên ai cũng công nhận ngành phẫu thuật và vi phẫu thuật của Tây Y không bao giờ là thế mạnh của Đông Y cũng như các thuốc và vắc-xin quan trọng sống còn với sự sinh tồn của nhân loại. Nhưng cho rằng toàn bộ kinh nghiệm dân gian về các loại thảo mộc dùng trong chữa bệnh là thứ vất đi thì lại là một thứ cực đoan kỳ lạ, lẽ ra chỉ xuất hiện ở nước nào chưa từng có các kinh nghiệm ấy, chứ không tại xứ sở luôn viết lời vinh danh những nào là “thần y” này, “ngự y” nọ, đồng thời gây hoang mang vì lớn tiếng phủ nhận rằng “thứ đó” không có tác dụng trị bệnh thay thuốc. Vậy các danh y và thần y ấy được ca ngợi ắt không do chữa bệnh chăng? Song, dù không cần tranh luận thắng hay thua, vẫn phải công nhận một điều rằng ta đã không làm điều như Hàn Quốc đang làm, và ta đã làm điều FDA của Mỹ làm chứ không làm điều giới phát triển thực phẩm chức năng Mỹ làm là tranh đấu đòi trả lại tác dụng chữa bệnh của thực phẩm chức năng.

Ta có cơ may nào đưa sản phẩm thực phẩm chức năng vào thị trường Mỹ không? Không. Vậy tại sao phải buộc ghi câu phủ nhận lên sản phẩm của Việt Nam cho thị trường Việt Nam? Phải làm sao, đó là câu hỏi mà câu trả lời khi xem ở hồi sau sẽ rõ.

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình Và Vượt Lên Chính Mình

Thay vì dựa vào … “sách thuốc” của các … thần y và ngự y “nội” để nghiên cứu phục vụ nhân dân, các dược sĩ ta đa số mong tốt nghiệp để mở tiệm thuốc tây hay cho người khác thuê văn bằng để mở tiệm thuốc tây. Thậm chí có vị quan tâm đến thảo dược trong “sách thuốc” chỉ sau khi ở nước ngoài có người (kể cả có Việt Kiều) nghiên cứu chế tạo như trường hợp của Trinh Nữ Hoàng Cung trong khi các doanh nhân Việt thì nhanh tay làm…trà túi lọc Trinh Nữ Hoàng Cung cũng ghi xa xa ám chỉ về “dược tính” nhưng ghi to đùng dòng chữ phủ nhận dành cho thực phẩm chức năng…Mỹ. Hoặc quan tâm đến thảo dược chưa hề có trong “sách thuốc” nước mình chỉ khi thấy nước ngoài chế tạo rùm beng như trường hợp Dây Thìa Canh, cũng bắt chước sản xuất theo với lời vinh danh kiểu kẻ cướp rằng đã tự dày công nghiên cứu phát hiện Dây Thìa Canh ở vùng núi những tỉnh nào ở Việt Nam và thử nghiệm lâm sàng phát hiện dược tính nào nên nay cho ra đời sản phẩm sau, v.v. và v.v., tất nhiên có ghi thêm kiểu “nói thế mà không phải thế” với câu tự phủ định rằng đây chớ phải là thuốc, rằng đây chớ trị được bịnh, và đây chớ được dùng thay thế thuốc.

Ta hãy là ta! Đây là “thuốc” Nam của ta! Nếu “Nước Nam là của dân Nam” thì “thuốc Nam là của dân Nam”, sao lại hổ thẹn mà tự phủ nhận? Nếu như một người nước ngoài nào đó nói như sau :

Tui là người nước ngoài quan tâm đến thảo dược Đông Phương, nếu nước anh có, thì tui sẽ tìm đến; còn nếu anh chỉ có thuốc tây thì tui đến làm chi? Bọn nước ngoài tụi tui đánh giá cao về vệ sinh, nên nước nào có nền y học cổ truyền hiệu nghiệm thì tụi tui kính trọng vô cùng vì đó đích thị là văn minh, là trí tuệ, là nhận thức nghiêm túc của người xưa ở nước ấy. Bạn hỏi tui làm sao biết “hiệu nghiệm”ư ? Chắc bạn hỏi chơi chứ ai chẳng biết là nếu như ngành y học cổ truyền ấy đang được vinh danh, phát triển, và được chính người dân nước ấy sử dụng ngay cả trong thời hiện đại này, thì đó là dấu hiệu chứng minh các phương “thuốc” và cách chữa trị của người xưa đã rất hữu hiệu. Bọn tui phải nhanh tay nhanh chân đổ xô tìm đến ngay, cứ như là cuộc đổ xô tìm vàng thời miền Viễn Tây Hoa Kỳ ấy chứ lị!

thì các bạn nghĩ sao ?

Người dân Việt vẫn gọi mấy thứ sinh tố là thuốc bổ, và không có hình thức phạt hành chính nào áp dụng đối với ai không gọi viên sinh tố là viên thực phẩm chức năng. Vậy tại sao cứ mặc định rằng chữ “thuốc” phải mang ý nghĩa duy nhất tương đương “medicine” hay drug của tiếng Anh?

Ghi dòng chữ phủ nhận cho thực phẩm chức năng, phải chăng muốn nói rằng chỉ có thuốc tây mới trị được bệnh? Thuốc tây trị được bịnh là một mặc định không đúng sự thật. Ngoài ra, y học nước Mỹ có cả các “bác sĩ” ngành thảo dược, và các vị này có những công trình nghiên cứu cho thấy thực phẩm chức năng cũng là “thuốc”, vì vậy không nên tự ý dùng chúng như… “thực phẩm” cùng lúc với uống “thuốc tây”; còn giới kinh doanh thì đặt ra tên mới cho thực phẩm chức năng là nutraceutical (nutrition + pharmaceutical = dinh dưỡng + dược phẩm) hoặc alternative medicine (sản phẩm dùng thay thế thuốc) nghĩa là giành cho bằng được nội dung “thuốc” chữa bệnh của thực phẩm chức năng. Sẽ thật là kỳ lạ nếu vẫn chưa có bác sĩ hay dược sĩ nào của Việt Nam viết bài công kích mấy ông Mỹ ấy. Và cũng sẽ thật là kỳ lạ nếu Việt Nam cho phép mấy công ty của mấy ông Mỹ ấy vào kinh doanh hàng thực phẩm chức năng với giá trên trời của hình thức đa cấp, cho phép các công ty dược nhập khẩu thực phẩm chức năng của mấy ông Mỹ ấy với nào là viên tỏi, viên gừng để tích cực phục vụ nhu cầu của người dân Việt.

Nhất thiết phải bỏ câu phủ định trên các sản phẩm thảo dược Việt Nam. Dân chúng tôi uống để trị bệnh, nên nếu quý vị ngoại kiều tin thì cứ đến Việt Nam mua mà dùng, chẳng ai ép, chớ ai dụ, và hà cớ gì chúng tôi phải ghi mấy dòng chữ của FDA mà chính các vị đang phản công bên nước các vị. Ngoài ra, lợi thế của thảo dược là phải dùng lâu dài, phải kiên nhẫn, và người tiêu dùng có tri thức đều nhận biết điều này cũng như hiểu rõ rằng cả thuốc tây và thảo dược đều không là “thần dược” vì còn tùy vào nhiều yếu tố khác như cơ địa và tình trạng sức khỏe thực sự của mỗi người, nên khi sử dụng sẽ không có chuyện bù lu bù loa đòi lại tiền như trẻ nít hay chửi bới như người ngoài hành tinh. Đến với thảo dược truyền thống dân gian tức là đến với niềm tin cũng như hy vọng vào thứ gần như là cuối cùng. Sự tự phủ nhận là cách xử sự rất kỳ quái đối với người tiêu dùng, tước đi của họ sự hy vọng ấy. Trên đời này không có nhà kinh doanh nào làm như thế, trái lại họ luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhất là khi khách hàng ấy đang còn niềm hy vọng cho bản thân hay người thân.

Thực phẩm chức năng ư ? Không phải!

Câu cần in ngoài bao bì nên là: Đây không phải là thuốc tây hóa chất nên không mang tác dụng chữa bịnh của thuốc tây hóa chất. Sản phẩm này được sự cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam. Không có câu này, hóa ra Bộ Y Tế phó mặc sức khỏe và sinh mạng người dân sao?

Thứ giết người và giết chuột thì được phép dùng chữ thuốc để thành thuốc độcthuốc chuột. Vậy thứ giúp cải thiện sức khỏe và chức năng này nọ trong cơ thể con người lại bị nghiêm cấm bằng câu vô duyên không phải là thuốc ư ?

Đó là thuốc từ nguồn thực vật thiên nhiên truyền thống và hữu hiệu của Việt Nam. Câu đúng phải ghi – nếu muốn tỏ lòng thần phục bái phục FDA của Mỹ – phải là : đây không phải là thuốc Tây hóa chất và không thể dùng thay thế thuốc Tây hóa chất trong chữa bệnh.

Bằng không, phải sửa lại sử sách để ghi rằng từ ngàn xưa nước Việt đã có thuốc Tây và nhờ vậy đã đánh thắng tất cả các giặc ngoại xâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Trang Emotino.com của cộng đồng doanh nhân đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý III năm 2014.

[3] Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng.http://www.emotino.com/bai-viet/19471/mo-huong-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang-hay-la-chinh-minh-vuot-len.

[4] Hoàng Hữu Phước. 11-5-2010. Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/02/nen-cu-lau-dai-bong-tich-duong-luan-ve-bao-ton-bao-tang/ .

Emotino.com có nhiều bài của Hoàng Hữu Phước viết về y tế và y học. Ba bài sau sẽ được chọn đăng lại trên blog.com:

Giới Thiệu Một Thức Uống Quý Tộc Thời Dịch Bệnh. 29-5-2009.  http://www.emotino.com/bai-viet/17823/gioi-thieu-mot-thuc-uong-quy-toc-thoi-dich-benh-pernod

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của Phương Thuốc Rượu Tỏi. 28-3-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

Luận Về Trái Cây Việt Nam. 24-05-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18619/luan-ve-trai-cay-viet-nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhân thấy đang có sự “bầy hầy” trong ngành y tế, từ sự sinh sản vô tính vô tư vô tâm vô đạo đức vô giáo dục của kết quả xét nghiệm, sự bất lực bất tài đối với vấn đề liên hoàn giá thuốc và đấu thầu thuốc, sự bó tay đối với vấn nạn chữa trị không với tay nghề bác sĩ và kê toa với tay nghề bán lẻ thuốc ngoại và thực phẩm chức năng ngoại, cho đến những sự thật mang tính thời sự thời thượng thời nay đang được phơi bày trên báo chí truyền thống chính quy cũng như về cái gọi là “y đức”;

Nhận thấy bài viết Lời Khuyên Dành Cho Các Nhà Giáo (tức bài Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai, post ngày 07-9-2012 trên Emotino, đăng lại tại  http://hhphuoc.blog.com/?p=81 và trên http://hoanghuuphuocteachers.blog.com) đã được nhiều học trò cũ của tôi đang phục vụ trong ngành giáo dục gởi email ủng hộ;

Tôi xin đăng lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ mà tôi đã post lên Emotino ngày 13-9-2011, và vừa in gởi vài lãnh đạo ngành y tế trong tháng 7 năm 2013 vừa qua. Mong rằng khoảng  cách thời gian 2 năm đã không khiến bài viết dưới đây mất thời gian tính và giá trị cảnh báo của nó; đồng thời sẽ giúp xã hội có thêm một vài vị bác sĩ biết vì nước, vì dân. Vì nước, có nghĩa là tác nghiệp với ý thức đầy đủ rằng bản thân không được dính vào các “bầy hầy” của tay nghề và tiêu cực tài chính làm hoen ố, bôi tro trát trấu vào ngành y tế Việt Nam và nền y học nước nhà; qua đó giữ gìn quốc thể đối với quốc tế. Vì dân, có nghĩa là tác nghiệp tận tâm, tận tụy, tận tình, nhiệt tâm, nhiệt thành, nhiệt huyết, với tay nghề cao nhất từ kiến thức cao nhất, để tỏ rõ tính nhân đạo, nhân văn, nhằm phục vụ bịnh nhân hiệu quả nhất, đầy đủ nhất.

Image

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

(Bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 13-9-2011)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi đã rất rất nhiều năm nay muốn ngỏ đôi lời kính gửi quý bác sĩ Việt Nam (ở đây, như trong bài viết khác tôi đã lập luận rằng ở Việt Nam nhất thiết nên dùng thuật ngữ “bác sĩ Tây Y” và “bác sĩ Đông Y”, gọi chung là “bác sĩ” để nâng cao tầm chất lượng chuyên môn của các y sĩ, vì “lương y” nghĩa là thầy thuốc có lương tâm chứ khó thể chấp nhận cách dùng hạn hẹp gán ép cho thầy thuốc Đông Y), do thật không dễ dàng gì khi phải nêu sự thật khó nghe cho người Việt vốn có tính cách dân tộc đặc thù là luôn dị ứng khủng khiếp với những gì không là lời khen tặng. Nhưng sự cố thân nhân bệnh nhân sát hại một bác sĩ vừa qua đã làm tôi băn khoăn, quyết định nói lên một sự thật, dù sự thật này rất có thể chỉ là cá biệt, hiếm hoi, và tất nhiên không ám chỉ hay liên quan gì đến vụ sát hại vị bác sĩ ấy, thủ phạm hay nạn nhân.

Năm 1993 khi con tôi lên ba tuổi, cháu bị sốt, và vợ chồng tôi đưa cháu vào Bịnh Viện Nhiệt Đới. Do tôi là người tôn trọng vợ, ngay từ đêm động phòng đã tuyên bố với vợ tôi rằng từ nay tất cả sản nghiệp, lương tiền, bổng lộc của tôi đều phải do nàng làm chủ, đứng tên tất tần tật. Tôi chỉ xin nàng mỗi ba việc gồm (a) tuyệt đối không được động đến những núi sách vở tài liệu bản thảo của tôi mà trong đó có cả những quyển nhật ký tôi viết về những người tôi yêu và yêu tôi, (b)  tuyệt đối không được mua sắm bếp gas mà chỉ được xài bếp điện, và (c) tuyệt đối không được cho con uống thuốc mới lạ mà phải chờ tôi kiểm tra dược điển. Tôi phải kiểm tra dược điển vì đó là điều bình thường, vì kiểm tra là công đoạn luôn áp dụng mọi lúc mọi nơi đối với mọi việc quan trọng trong bất kỳ ngành nào, việc nào. Ai đó bảo giám sát kiểm tra không cần thiết, dứt khoát đó là người cẩu thả chây lười sợ bị phát hiện tiêu cực; tương tự, bác sĩ kê toa mà giận dỗi khi bị kiểm tra dược điển thì đích thị đó là bác sĩ được đào tạo với kết quả học tập khả nghi.

Trở lại việc con tôi bị sốt lúc lên ba tuổi năm 1993. Khi nhận được toa của bác sĩ, thấy ghi viêm họng, và thuốc có loại Zinnat rất lạ, tôi mua hết các loại trong toa tại nhà thuốc bịnh viện rồi lên xe Toyota Crown ra về. Lúc kiểm tra dược điển, tôi tá hỏa tam tinh vì Zinnat là loại kháng sinh mới xuất hiện, mà lời khuyên của sách vở y học là đừng bao giờ sử dụng các thuốc kháng sinh mới, dễ sinh ra lờn thuốc trong khi phải nhiều năm mới có chủng loại thuốc mới. Tôi quyết định đi bộ ra nhà thuốc gần đấy mua Amoxicilline là thứ trụ sinh quen thuộc bấy lâu nay Bịnh Viện Nhi Đồng hay cho con tôi uống mỗi khi bịnh viêm họng. Và con tôi bình phục sau đó ít ngày. Tôi vất các vỉ thuốc Zinnat to đùng vào sọt rác, và 16 năm sau, tôi được bác sĩ cho uống…Zinnat vì tôi bị thương không nhẹ ở chân có dấu hiệu nhiễm trùng. Tất nhiên, tôi uống ngay, khỏi cần tra dược điển vì đã biết Zinnat là gì hồi…thế kỷ trước.

Một sự cố khác là năm con tôi lên sáu năm 1996, cháu bị dị ứng, sau lưng nổi những lằn đỏ dưới da. Vợ chồng chúng tôi đưa cháu đến nhà (đường Sư Vạn Hạnh nối dài) một bác sĩ khoa trưởng da liễu nổi tiếng hay lên tivi phát biểu về bịnh ngoài da. Tôi ngạc nhiên thấy ông dùng tay trần khám bịnh cho nhiều bịnh nhân, hết người này đến người khác, mà không hề rửa tay. Tôi định tháo chạy thì đã muộn. Ông chả hiểu con tôi bịnh gì, và ông phán rằng con tôi không bị dị ứng gì sất mà do vải jean “cào da” (trong khi hai cha con tôi chúa ghét vải jean nóng nực nên làm gì có chuyện mua mặc quần áo jean), và ông chứng minh bằng cách dùng móng tay cào lên lưng con tôi để so sánh sắc màu của các lằn đỏ. Sau khi trả tiền công khám, suốt đường về nhà tôi đã làm một việc khiến anh tài xế tên Kha ngạc nhiên vì nhiều năm thấy tôi như cha xứ nay lại không ngớt nguyền rủa dữ dội thóa mạ cay độc tên bác sĩ khoa trưởng bất tài, rất có thể sẽ lây bịnh gì đó cho con tôi từ móng tay dơ bẩn của y.

Một sự cố khác (kể đủ 3 sự cố vì …“sự bất quá tam”) xảy ra năm 2004 khi con tôi 14 tuổi bị ho nhiều. Tôi và vợ tôi đưa cháu đến Trung Tâm Tai-Mũi-Họng (bịnh viện “công”) trên đường Trần Quốc Thảo, Quận 3. Thế kỷ XXI có khác! Toa được in vi tính (tránh việc bác sĩ viết chữ quái đản như cua bò hay lò xo xoắn không ai đọc được dù lẽ ra bác sĩ phải là người có đôi bàn tay mềm mại dịu dàng khi không thuộc ngành nha khoa). Lại có tên thuốc lạ là Donase của nhà sản xuất Hanbul (Hàn Quốc), dù chẩn đoán của bác sĩ…trưởng khoa (khám dịch vụ ngoài giờ ngay tại trung tâm) lại ghi là….viêm họng! Về đến nhà, tôi tra dược điển, dựa theo hai dược chất ghi trên vỉ thuốc Donase gồm  Streptokinase và Streptodornase. Thông tin khủng khiếp tra được là:

1- Streptokinase thuộc danh mục Thuốc Độc Bảng B, dùng cho nhồi máu cơ tim cấp, huyết khối động mạch vành, nghẽn mạch phổi, chứng huyết khối tĩnh mạch sâu nghẽn cầu nối động tĩnh mạch, tắc động mạch mạn tính, huyết khối mạch võng mạc, v.v., ở người lớn, có tính kháng nguyên mạnh nên khi bịnh nhân dùng thì bịnh viện phải sẵn sàng túc trực các phương tiện để cấp cứu kịp thời nếu xảy ra dị ứng. Tác dụng không mong muốn rất có thể là xuất huyết nội tạng nặng ở đường tiêu hóa, sinh dục, tiết niệu, sau màng bụng hoặc các vị trí trong não và dẫn đến tử vong, rét run, sốt, hạ huyết áp nặng, loạn nhịp tim, dị ứng, buồn nôn, phát ban ở da, mày đay hoặc ngứa, khó thở hoặc thở khò khè, sưng mắt, sốc phản vệ, v.v., thậm chí tử vong. Nói chung: đây không phải là thuốc cho trẻ em, và không bao giờ là thứ được dùng cho viêm họng!

2- Streptodornase là một thứ enzyme dùng kháng dị ứng.

Tuy nhiều viện bào chế trên thế giới đã phối hợp streptokinase và streptodornase thành thứ dược phẩm chuyên trị chống viêm sưng sau phẫu thuật, giảm phù nề do bịnh trĩ, giảm đau do viêm,  chấn thương hàm mặt, áp-xe sau nhổ răng, viêm nha chu, hen, lao, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm mào tinh hoàn, sau chấn thương mắt, v.v., trong đó có tăng cường phân hủy và bài tiết đàm nhớt, viêm xoang, viêm mũi cấp và mãn tính, polyp mũi, viêm tai giữa cấp và mãn tính, viêm hầu họng, sau phẫu thuật cắt amidan, sau nạo xoang, thì cũng không vì vậy mà bác sĩ lại kê toa cho một trẻ em uống trị viêm họng. Tôi cất các vỉ thuốc và toa thuốc có tên vị bác sĩ trưởng khoa kia, định dùng làm bằng chứng gởi Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh tố giác việc bất cẩn của vị bác sĩ này. Vợ tôi phải can ngăn tôi lại vì sợ ông trưởng khoa mang nhục mất chức trong khi tôi sợ con cái người khác bị cho uống thuốc dành cấp cứu trụy tim khi mang bịnh cảm sổ mũi. Rốt cuộc, tôi thở dài ngao ngán, hậm hực đi bộ ra hiệu thuốc gần nhà mua hai vỉ… Amoxicilline. Tất nhiên, sau ba ngày con tôi khỏe cho đến khi thành một thanh niên mới có lần bị cảm ho trở lại năm 2010 mà tôi trị bằng cách ra hiệu thuốc Tây lựa chọn mua nhiều thứ thuốc thảo dược Việt Nam (của các xí nghiệp dược phẩm lớn) cho con tôi uống, cho ngậm kẹo thảo dược (với sự tích cực tham gia ngậm kẹo suốt ngày của tôi, một mình một ngày hết một hộp trăm viên loại không đường), xoa dầu khuynh diệp, đánh gió (bằng dầu khuynh diệp), xông dung dịch nước muối sinh lý (bằng máy xông khí dung), bổ sung viên đa sinh tố, thức uống dinh dưỡng (trà Dr Thanh), thức uống dân gian…Mỹ (hai quả chanh vắt nước vào một lon Coke hay Pepsi), và… Amoxicilline.

Kể tất cả các việc trên, tôi mong các bác sĩ hãy thay đổi tư duy rằng Ngày Thầy Thuốc Việt Nam là ngày các bác sĩ (a) tỏ lòng biết ơn bịnh nhân tức khách hàng vì mọi nghề nghiệp đều hướng đến một công việc duy nhất là “phục vụ” chứ không phải “ban ơn”, nhằm đến một đối tượng cụ thể, để nhận thù lao cụ thể từ đối tượng ấy từ cơ quan chi trả theo luật định, và (b) sinh hoạt sẻ chia rút kinh nghiệm nội bộ về nghiệp vụ, tay nghề, tính chuyên nghiệp, và công trình nghiên cứu khoa học y dược, v.v. chứ không là ngày cực kỳ bất công để các vị chờ đón những lời xưng tụng, tôn vinh và quà cáp từ nhà nước hay thân nhân bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ luôn tận tâm tận tụy khi cứu chữa bịnh nhân mà mình phục vụ, dịu dàng lễ độ với bịnh nhân mà mình phục vụ, cảm thông ngọt ngào với thân nhân của bịnh nhân mà mình phục vụ. Khi thực hiện một công việc và hàng tháng nhận lương, người có học, có hiểu biết, có đào tạo thực thụ về chuyên môn nghiệp vụ cao cấp không ai cho rằng mình đang ban ơn, đang làm phúc, đang cứu nguy, mà chỉ đơn giản là đang làm tròn phần việc của một nhà chuyên môn cao cấp khi phục vụ khách hàng. “Phục vụ” không phải là từ ngữ mặc định quy về nhiệm vụ của những người cấp dưới như y tá, y công. Đối với ngành y, bịnh nhân là khách hàng mà bác sĩ phải phục vụ đến nơi đến chốn, không vì lý do mệt mỏi, quan liêu do thứ bậc, mà quên thân phận người phục vụ của bản thân mình. Tính chuyên nghiệp cao độ còn đòi hỏi sự thể hiện phù hợp của ngôn ngữ cử chỉ mà nét mặt và ánh mắt đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Hết lòng phục vụ bịnh nhân: đó là tôn chỉ duy nhất đúng của một bác sĩ thực thụ, được đào tạo bài bản, hiểu rõ thế nào là đạo đức nghề nghiệp, và thành công ở phương Tây.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ phải không ngừng nghiên cứu y dược, không vì khoản tiền hoa hồng của các công ty dược mà dại dột kê đơn vô tội vạ, xâm hại sức khỏe và tính mạng bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng bổn phận của mình không những luôn nêu gương sáng bản thân mà còn không ngừng răn đe, giám sát, giáo dục tập thể nhân viên y tế dưới quyền tại đơn vị phải luôn đặc biệt chăm sóc tất cả các bịnh nhân, lễ độ với thân nhân bịnh nhân, và thể hiện tính chuyên nghiệp cao nhất trong sự phục vụ của mình.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng việc nêu “đồng lương không đủ sống” hay thiếu kinh phí gì gì đó để rồi sự phục vụ trở nên bầy hầy, yếu kém, làm xấu hổ ngành y chỉ là cái cớ của những kẻ không có lòng tự trọng hay danh dự vì nếu không chấp nhận hoàn cảnh hãy nghĩ việc để nhường chỗ lại cho những bác sĩ, y sĩ, y tá, mới ra trường.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng những bộ phim Hollywood không chỉ đơn thuần là giải trí khi nêu những cốt truyện trả thù đẫm máu và khủng khiếp kinh hoàng của thân nhân người bịnh đối với y bác sĩ nào đã tắc trách trong chữa trị dẫn đến tử vong hay tàn phế của người thân yêu của họ, mà là lời cảnh báo về tinh thần trách nhiệm, sự cẩn trọng trong tác nghiệp của những người làm công việc đầy khó khăn và nhạy cảm của ngành y.

Kính mong quý bác sĩ hãy vì sự an nguy của bản thân và gia đình mà hết lòng chăm lo cho sự an nguy của bịnh nhân và gia đình bịnh nhân, để ngay cả khi kết quả của sự tận tâm là sự bó tay của y học thì vị-bác-sĩ-tận-tâm-với-đôi-dòng-nước-mắt vẫn được gia định bịnh nhân quá cố nể trọng, gần gũi, kính phục, vinh danh.

Tham khảo những bài viết cùng chủ để y tế:

– Hoàng Hữu Phước. 28-3-2010. Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

– Hoàng Hữu Phước. 04-4-2010. Hỡi ơi những thiên thần áo trắnghttp://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế